HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Cần sớm khẳng định ‘chủ quyền’ với đàn bầu


07:16 AM – 13/08/2016 Thanh Niên
Biểu diễn đàn bầu trong chương trình Duyên dáng Việt Nam 20 tại Anh /// Ảnh: Ngọc Hải
Biểu diễn đàn bầu trong chương trình Duyên dáng Việt Nam 20 tại Anh
Ảnh: Ngọc Hải
Theo một số nghệ sĩ và nhà nghiên cứu âm nhạc, đàn bầu chỉ mới được Trung Quốc lưu tâm đến không đầy 20 năm sau này, vì trước đó không thấy dạy đàn bầu ở các nhạc viện Trung Quốc.
Mới đây trên website của mình, GS-TS âm nhạc Trần Quang Hải (đang ở Pháp) đã có bài viết bày tỏ lo lắng về việc nếu không sớm có những động thái phù hợp, VN có thể bị “mất quyền sở hữu” cây đàn bầu – nhạc cụ dân tộc đặc trưng của VN.
Theo GS-TS Trần Quang Hải thì cây đàn bầu là nhạc cụ “đặc hữu” của VN từ rất xa xưa. Trong Đại Nam thực lục tiền biên (bộ sử của nhà Nguyễn) ghi cây đàn bầu đã được sáng tạo từ năm 1770. Cây đàn bầu cũng từng được các nghệ sĩ mù ở Hà Nội dùng phụ đệm hát xẩm ở các chợ trời từ cuối thế kỷ thứ 19. Do đó đàn này còn được gọi là “đàn xẩm”. Đàn bầu được đưa vào dàn nhạc cung đình Huế từ cuối thế kỷ 19 và xuất hiện trong dàn nhạc tài tử Nam bộ từ năm 1930…
Người Trung Quốc chơi và học đàn bầu
Cần sớm khẳng định 'chủ quyền' với đàn bầu - ảnh 1

Hình trên trang web China Daily với chú thích “Hàng trăm người dân tộc Kinh thiểu số chơi đàn độc huyền cầm”

Theo GS Hải, từ vài năm nay ở Trung Quốc đã có những festival nhạc dân tộc với những màn biểu diễn đàn bầu. Ông cũng gửi cho Thanh Niên trang web China Daily USA đăng bài cùng hình ảnh của Xinhua với chú thích “Hàng trăm người dân tộc Kinh thiểu số cùng chơi đàn độc huyền cầm” trong một lễ hội truyền thống ở Trung Quốc. Bài viết nói rằng tộc người Kinh (Jing) này đã di cư từ VN sang Trung Quốc từ khoảng 500 năm trước, và hiện tộc người này có khoảng 22.000 người. Ông Hải cho biết thêm những năm gần đây, Trung Quốc đã gửi nhạc công sang VN học đàn bầu, mời một số nhà nghiên cứu sưu tầm tài liệu để viết về đàn bầu và đưa lên mạng thông tin đàn bầu rất được người dân tộc Kinh (ở Trung Quốc) yêu thích.

Trò chuyện với nhạc sĩ Đức Trí, người đã nhiều năm theo học đàn bầu, ông giật mình: “Thông tin từ GS Hải làm tôi chợt nhớ, cách đây 10 năm, tôi tình cờ xem được trên kênh truyền hình CCTV của Trung Quốc một chương trình hòa tấu nhạc dân tộc và đã rất kinh ngạc khi thấy có cây đàn bầu trong dàn nhạc dân tộc Trung Quốc. Đây là điều chưa từng thấy trước đó”.
Nhạc sĩ Đỗ Lộc cho biết: “Năm 1967, Đoàn múa hát Quân giải phóng miền Nam VN sang Bắc Kinh biểu diễn. Tiết mục biểu diễn đàn bầu của nhạc sĩ Đức Nhuận thật sự xuất sắc vì đàn bầu là của VN mà Trung Quốc không có nên họ ngỏ lời xin học, VN đồng ý. Nghệ sĩ Điền Xương của Trung Quốc đi theo đoàn VN suốt thời gian đoàn lưu diễn để được thầy Đức Nhuận chỉ dẫn về đàn bầu…”.
Nghệ sĩ đàn bầu Nguyễn Tiến kể: “Cuối năm 2013, tôi đã từng nói chuyện và biểu diễn minh họa về lịch sử phát triển cây đàn bầu VN tại Học viện Quảng Tây (Trung Quốc), nơi cũng có một khoa giảng dạy đàn bầu. Cả hội trường vô cùng ngạc nhiên và khâm phục. Trưởng khoa đàn bầu (và là người chỉ huy dàn nhạc của học viện) là Thái Ương đã nói với tôi: Nghe anh nói chuyện cả buổi sáng nay tôi mới hiểu được hết cái hay và cái đẹp của cây đàn bầu VN. Học viện chúng tôi có khoa đàn bầu là vì có một số học viên là người dân tộc Kinh có nhu cầu nên chúng tôi dạy thôi. Hiện nay cũng có học sinh Trung Quốc đang học tại Học viện âm nhạc quốc gia VN về đàn bầu. Có cô gái Trung Quốc tên là Tôn Tiến cũng từng gặp tôi để học hỏi về đàn bầu”.
Theo một số nghệ sĩ và nhà nghiên cứu âm nhạc, đàn bầu chỉ mới được Trung Quốc lưu tâm đến không đầy 20 năm sau này, vì trước đó không thấy dạy đàn bầu ở các nhạc viện Trung Quốc.
“Phải sớm hành động”
GS-TS Trần Quang Hải kể lại, ông từng tham dự một hội thảo tại Seoul (Hàn Quốc) năm 2012, tại đó Hàn Quốc đã đưa ra những lập luận để phản bác việc Trung Quốc dự định đề xuất UNESCO công nhận bản nhạc Arirang là di sản văn hóa phi vật thể của Trung Quốc vì bản nhạc này được sắc tộc người Triều Tiên sinh sống ở Trung Quốc chơi. Bản Arirang sau đó đã được UNESCO nhìn nhận là của Hàn Quốc vào năm 2014.
Ông cho biết thêm trước đó Mông Cổ cũng đã phản đối kịch liệt việc Trung Quốc đã trình UNESCO xin công nhận kỹ thuật “hát đồng song thanh Khoomei” của Mông Cổ là di sản văn hóa phi vật thể của Trung Quốc. Mông Cổ cho rằng kỹ thuật này phát nguồn từ vùng Tây Bắc của xứ Mông Cổ chứ không thể có ở vùng tự trị Nội Mông (Trung Quốc) như Trung Quốc tuyên bố. Năm 2010, Mông Cổ trình hồ sơ hát đồng song thanh Khoomei cho UNESCO và đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của Mông Cổ.
Từ những dữ kiện trên, GS Hải cho rằng VN phải nhanh chóng có những hành động “xác lập chủ quyền” đối với cây đàn bầu. “Việc làm trước tiên là phải trình UNESCO nhìn nhận đàn bầu là di sản văn hóa của VN như đã từng làm cho quan họ, ca trù, hát xoan Phú Thọ, đờn ca tài tử Nam bộ…. Đây là việc làm khẩn cấp và phải làm ngay từ bây giờ để đánh dấu sự hiện hữu của nhạc cụ này trong nhạc dân tộc VN. Đồng thời kêu gọi những nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tìm kiếm tài liệu qua sách vở xưa để minh chứng đàn bầu đã có đời sống liên tục, lâu bền trong cộng đồng người Việt ở VN. Ngoài ra các cơ quan nghiên cứu âm nhạc VN cũng nên xúc tiến việc xác định nguồn gốc cây đàn bầu”.

Hà Đình Nguyên

http://thanhnien.vn/van-hoa/can-som-khang-dinh-chu-quyen-voi-dan-bau-733339.html

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

This blog is focused on Trân Quang Hai