KRZYSZTOF STACHYRA : The silence is a part of music therapy…: An interview with Stefano Navone from Italy


By Krzysztof Stachyra

alt text

Dr. Stefano Navone. Email: musicoterapia@istitutomusicaleveneto.it

I met Dr. Stefano Navone at the music therapy conference in Poland. I found his presentation interesting, but there was something more. During the presentation and our short conversation I had the feeling that I was talking to a person who is very committed to music therapy. He is that special kind of maturity in his understanding of music therapy. Stefano Navone is a musician and music therapist. He graduated in Musicology from the University of Bologna and in Psychology from the University of Padova. He received his degree in Music Therapy from the Assisi school, and specialized at the Catholic University of the Sacred Heart of Rome in Music Therapy and Psychiatry. He has been active in the field of music therapy since 1989, especially in psychiatric and disability areas. Presently he works as a music therapist in Service Centre in Montecchio Precalciano, Vicenza (Italy). He also also part of the Board of A.I.M. (Italian Professional Association of Music Therapy) and is Italian country representative for EMTC and nominated Coordinator for South Europe. I asked him to tell something about his music therapy experiences.

Krzysztof Stachyra: Why music therapy?

Stefano Navone: Without exaggerating, but for me Music Therapy is not just a job but a lifestyle choice. It is the possibility to combine passion for music and helping relationship. Freud explained that three professions were impossible: the Government, the Education and the Psychoanalysis. If he had known Music Therapy he would have certainly added the fourth! In any case for me it is the best profession in the world!

K.S.: I feel a passion in your words. That is great! What is your music therapy background?

S.N.: My theoretical approach is an psychodynamic-relational Music Therapy that provides an operational methodology based on the criteria of non-directivity towards the patient and an attitude of observation and listening, related to the concepts of neutrality and countertransference as in the traditional psychoanalytic work. From an operational point of view, in this methodological context, the music therapist implements all the strategies to promote the expression of the patient and his creativity, thereby facilitating a real expression of the self: a musical improvisation technical linked to non verbal approach will be the peculiar style of this type of intervention. Another important issue in my Music Therapy approach is the definition of a temporal-spatial structure, along with the set of rules defining the therapeutic setting: these two elements, acting together, acquire a fundamental importance as facilitators of therapeutic actions, and as a consequence, of changes for better.

K.S.: I had the pleasure of taking part in your presentation about your work with a patient with autism. I must tell you that I was impressed by it. Is the work with people with autism the main point of your interest?

S.N.: Beyond the patients with autism, I have been working for many years in psychiatric and disability area with adults. From a couple of years I collaborate with a Community for rehabilitation of young with drugs addiction; it is a new and exciting experience for me, which forced me to reconsider many aspects of my theoretical approach and get back in “the game” completely as a therapist.

K.S.: Do you remember the patient who surprised you the most? What happened?

S.N.: I still remember with much pain a young psychotic girl who had suffered several sexual violence; after a year of treatment she began to express her feelings with me reviving those moments; I think that this experience has changed my life and the value that I gave to our discipline.

K.S.: Yes, such experiences can change not only patients, but also a therapist’s life… Music, patients and a therapist are the triad in the process of music therapy, so we, as therapists, are in the process too. We often talk about the music, but I feel that also sometimes moments of silence in the therapy sessions can be as important as music. Do you agree with this? What do you think about the role of silence during music therapy sessions?

S.N.: The silence for me it is not just a technical way of work but a mental condition that the Music therapist must acquire to develop and to promote his non-verbal communication for an better adherence to the pathological situation of the patient. I think that the nonverbal approach in psychiatric disorders, and especially in schizophrenia (as in other diseases with an impairment of the communicative functions), it is a viable hypothesis for the possibility of reactivating and expanding the archaic expressive and relational nonverbal abilities that persist across the individual’s life span as modes of interpersonal experience. Through nonverbal behavior and sound-music performances, the patient conveys his/her emotions and feelings, establishes an ”affect attunement” with the music therapist and is stimulated to modify the global emotional and affective status. The Music Therapy aims to achieve a positive patient’s adaptation to the social environment through the establishment of a harmonious inner condition.

K.S.: Do you have any advice for your music therapy friends who are just at the beginning point of their music therapy work with people with autism?

S.N.: The first thing that I would advise to young music therapists it is to work on their own anxiety and on desire to get something at all costs; with patients with autism, in my opinion, it is very important to act for “subtraction”, it is more important to know what not to do more than to know what to do.

Finally, even if it is banal, I would suggest to work with love, thinking at first to the patients and then to the music and to our skills.

K.S.: Thank you very much!

https://voices.no/index.php/voices/article/view/619/498

 

 

Voices: A World Forum for Music Therapy (ISSN 1504-1611)

PHẠM CÔNG LUẬN : Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương


13/10/2016 10:56 GMT+7

TTO – Giới ca nhạc Sài Gòn thuật lại rằng trước năm 1975 có hai nhạc sĩ cùng họ Huỳnh được bạn bè trong nghề yêu mến gọi là anh Hai và anh Ba. Anh Ba là nhạc sĩ Huỳnh Anh, còn anh Hai là nhạc sĩ Huỳnh Háo.

Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương 
Nhạc sĩ Huỳnh Hiếu độc tấu trống tại vũ trường Đại Nam, Sài Gòn Ảnh: Tư liệu gia đình nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu

Huỳnh Háo là tên gọi thân mật của nhạc sĩ Huỳnh Thủ Hiếu, gọi tắt là Huỳnh Hiếu. Sau khi sinh ra Huỳnh Hiếu năm 1929 tại Cần Thơ, nghệ sĩ Kim Thoa sinh liên tiếp vài người con nữa nhưng chỉ sau ba tháng mười ngày, như lời kể lại trong gia đình, những đứa em của Huỳnh Hiếu đều mất. Ông bà Tư Chơi – Kim Thoa tìm mọi cách để giữ con.

Lúc thì làm lễ cúng gửi con cho thầy pháp, lúc thì cải sang đạo Thiên Chúa… đều không giữ được đứa nào. Đến khi sinh cô con gái út, bà Kim Thoa phải đổi con từ họ Huỳnh của cha sang họ Phạm của mẹ thì mới sống. Cô là Phạm Thị Mỹ Ngọc, tự Marie. Tuy nhiên, việc đổi họ này đã nảy sinh mâu thuẫn giữa hai vợ chồng. Phải chăng ông Tư Chơi liên tưởng đến việc đổi họ của cô con gái đầu của ông với bà Phùng Há?

Do sinh trong gia đình nghệ sĩ nên từ nhỏ Huỳnh Hiếu đã có năng khiếu về âm nhạc, được tự do theo đuổi chí hướng của mình. Suốt thời tuổi nhỏ và mới lớn, Huỳnh Hiếu học âm nhạc với các nhạc sĩ Philippines trong ban nhạc của đoàn Kim Thoa. Họ lành nghề, đàn hay hát giỏi, năng khiếu âm nhạc rất mạnh. Nhờ có họ trong đoàn, năm 8 tuổi, Huỳnh Hiếu bắt đầu học ký âm pháp và đàn banjo với nhạc sĩ Bénito Cruz.

Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương 
Ban nhạc Music Makers của Huỳnh Hiếu thường chơi tại các vũ trường Crystal Palace, Vân Cảnh năm 1972. Từ trái sang phải: Vương Minh, trống; Trần Vĩnh, saxo alto – được xem là thổi saxo hay nhất thời đó Ảnh: Tư liệu gia đình nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu

Từ Nam Vang 
đến Sài Gòn

Năm 1945, lúc 16 tuổi, Huỳnh Hiếu theo đoàn Kim Thoa của cha mẹ lên Nam Vang lưu diễn. Đợt diễn này không gặp thuận lợi, đoàn không có tiền trả lương cho đào kép, nhân viên và không có tiền về nước. Đang khó khăn thì gặp may mắn, có một người phụ nữ giàu có người Việt có chồng làm nhà Đoan đồng ý bao giàn trong một tuần (sau này Huỳnh Hiếu trở thành con rể của bà).

Một điều may nữa là trong tuần lễ đó, Huỳnh Hiếu gặp lại thầy cũ trước kia đã truyền giao bí quyết môn đánh trống cho ông là nhạc sĩ Ringo – tay trống số 1 của Sài Gòn thập niên 1940. Ông ta đề nghị Huỳnh Hiếu ở lại thay chỗ của ông ở vũ trường tại Nam Vang, nếu nhận lời thì tiền hợp đồng sẽ đủ trang trải cho đoàn về nước.

Huỳnh Hiếu đồng ý ở lại biểu diễn, trả nợ cho cha mẹ, đồng thời rèn tay nghề cùng các nhạc sĩ ngoại quốc bên đó. Đoàn Kim Thoa trở về Sài Gòn và rã gánh luôn do chiến cuộc. Huỳnh Hiếu ở lại Nam Vang hai năm, vừa biểu diễn vừa học hòa âm với nhạc sĩ Nick Abelardo – 
người Pháp gốc Nam Mỹ.

Năm 1946, sau một năm ở lại Nam Vang, Huỳnh Hiếu tham gia cuộc thi đánh trống dành cho các tay trống Đông Dương trong một cuộc đấu xảo tổ chức ở thành phố này. Lúc đó, một người thầy dạy ông đánh trống là Ramola cũng dự thi và cuối cùng Huỳnh Hiếu đoạt danh hiệu “Tay trống đệ nhất Đông Dương”. Tuy được giải, ông không vui vì sợ thầy mình buồn và không bao giờ nhắc đến giải thưởng đó nữa.

Năm 1948, ông trở về Sài Gòn tham gia ban nhạc Nguyễn Văn Dung ở vũ trường Kim Sơn. Từ đó là thời gian hoạt động sôi nổi của Huỳnh Hiếu. Ông được các ban nhạc tranh nhau mời hợp tác biểu diễn. Ông tiếp tục tham gia các ban nhạc: ban nhạc Pháp George de Bruyne ở vũ trường Palis de Jade tại Sài Gòn do nhạc trưởng Larry Czifra, người Hungary điều khiển.

Ông còn được mời sang Bangkok năm 1955 để chơi trong ban nhạc George Meritan. Từ năm 1956, ông thành lập ban nhạc riêng chơi ở các vũ trường Tour D’Ivoire và Tabarin tại Sài Gòn. Ông cũng là tay trống của ban nhạc Lê Văn Thiện ở vũ trường Đại Nam.

Nghệ sĩ đa tài

Huỳnh Hiếu luôn được ca ngợi trong giới biểu diễn ca nhạc trước năm 1975 ở Sài Gòn. Trên báo Kịch Ảnh số 458 ấn hành trước năm 1975, nhạc sĩ Tùng Giang, cũng là một tay trống, nhận xét: “…Hiện anh là một tay trống thần sầu thuộc hàng sư tổ của những tay trống trẻ ngày nay (điều này không ngoa vì chính những tay trống học trò đầu tiên của anh đã là những người đào tạo ra nhiều tay trống xuất sắc cho giới trẻ…)”.

Hữu Thạnh nhớ lại cha anh kể rằng thời Tây, ông chủ xếp lương cho nhạc công tới 8 bậc khác nhau, trong đó nhạc công người Việt đứng hàng thứ 6, nhạc trưởng người Việt thứ 5, nhạc công người Phi thứ 4, nhạc trưởng người Phi thứ 3, nhạc công người Pháp thứ 2 và nhạc trưởng người Pháp thứ 1. Huỳnh Hiếu là người Việt nhưng mức lương là bậc 1, ngang với nhạc trưởng người Pháp.

Để được như vậy, Huỳnh Hiếu vừa say nghề vừa ham học. Ông luôn tìm tòi học hỏi chuyên môn của mình, thường nghe đĩa nhạc nước ngoài để tìm hiểu về kỹ thuật đánh trống của những tài danh về trống trên thế giới, trong đó có hai tay trống ông ngưỡng mộ là Buddy Rich và Shelly Mane. Ông còn sử dụng được đàn guitar, piano và đàn bandonéon (một loại phong cầm sử dụng nút bấm, không xài phím piano).

Ông khiến mọi người ngạc nhiên vì chỉ học trong một tuần đã có thể chơi được bandonéon vốn được xem là khó sử dụng. Ông còn thích hòa âm, sáng tác. Năm 1949, khi mới 20 tuổi, ông đã lập một ban nhạc 10 người lấy tên là ban ABC trình diễn tại rạp Nguyễn Văn Hảo chơi các bản nhạc tự hòa âm. Ông còn sáng tác nhiều ca khúc từng được trình bày trên đài phát thanh và sân khấu ca nhạc như Nhớ người phương xa, Tiếng đàn trong gió đông, Vì ai, Hương quê… Giọng hát của ông là giọng nam kim nhẹ (Ténor Léger) thường trình bày nhạc ngoại quốc.

Sau khi chia tay người vợ đầu là mẹ của nhạc sĩ Huỳnh Hữu Thạnh, Huỳnh Hiếu đi bước nữa với người vợ gốc Hoa, sống cuộc đời an bình cho tới khi mất năm 1994. Người vợ này cũng giúp lo an táng cha ông, nghệ sĩ Tư Chơi năm 1964.

Về người cha thân thương đã mất năm 1994, hình ảnh Hữu Thạnh nhớ mãi là một buổi tối năm 1962, ông Huỳnh Hiếu đi biểu diễn ở khu giải trí Đại Thế Giới về. Lúc đó, mẹ của Hữu Thạnh đã ra đi và ông đang cảnh gà trống nuôi con.

Ông mở cái cặp, từ trong đó có những con dế than, dế lửa bò ra. Sau buổi diễn, ông đã đi lòng vòng khu Đại Thế Giới để bắt dế cho đứa con trai bé nhỏ chơi. Lớn lên, Hữu Thạnh sớm lập gia đình, ra ở riêng. Nhớ một buổi sáng, anh ngủ say vì đêm trước diễn khuya và giật mình tỉnh dậy khi thấy cha đứng lù lù trước mặt đang nhìn mình. Anh hỏi: “Ủa, cha đi đâu vậy?”.

Ông mỉm cười: “Cha thấy nhớ con nên ghé qua thăm, thấy con đang ngủ nên nhìn vậy thôi!”. Thiếu vắng tình yêu thương gần gũi của song thân, Huỳnh Hiếu dồn hết tình thương cho đứa con trai duy nhất.

Hữu Thạnh tự hào về họ, dù sao họ đã sống trọn vẹn đời nghệ sĩ, tận tình với nghệ thuật và cũng đã biết yêu thương hết mình. Họ đã là những ngôi sao thật sự trong lòng của anh.

Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương 
Hai cha con nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu (Huỳnh Háo) và Huỳnh Hữu Thạnh trước một buổi diễn năm 1990 – Ảnh: Tư liệu gia đình nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu

Tự hào và xót xa

Nhớ lại hai người thân là ông nội, soạn giả Huỳnh Thủ Trung – Tư Chơi, và cha, nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu – Huỳnh Háo, anh Huỳnh Hữu Thạnh có nhiều cảm xúc lẫn lộn. Anh vừa tự hào, vừa xót xa cho người ông tài hoa nhưng cuộc đời nhiều lúc điên đảo, lận đận.

Ông Huỳnh Hiếu thường kể con nghe về ông nội, dù thích uống rượu, khi tỉnh táo làm việc rất nghiêm túc, sức sáng tác mạnh mẽ, số tuồng viết ra rất nhiều. Khi điều hành đoàn Kim Thoa, ông dành thời gian trao đổi việc với nhân viên hằng ngày, yêu cầu nhân viên mang giày bata, đồng phục khi làm việc… là điều lạ đối với thời mà nhiều người còn quen đi chân đất.

Bình Luận

NGÀNH MAI : Giám đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc nói về nghệ sĩ cải lương Việt Nam


Từ trái sang: Nghệ sĩ Kim Xuân, Lan Phương, Ái Liên và Kim Chung.

Từ trái sang: Nghệ sĩ Kim Xuân, Lan Phương, Ái Liên và Kim Chung.

Courtesy photo

Giáo Sư Nguyễn Phụng, giám đốc Trường Quốc Gia Âm Nhạc & Kịch Nghệ Sài Gòn, trong buổi hội thảo tại tòa soạn báo Văn Đàn vào Tháng Ba 1963, thảo luận về tình trạng và đời sống của nghệ sĩ sân khấu nước nhà.

Giáo Sư Nguyễn Phụng, nguyên là sinh viên du học, theo học trường nhạc bên Pháp, từng tiếp xúc học hỏi ngành kịch nghệ của nhiều quốc gia Âu Châu.

Khoảng 1957 sau khi tốt nghiệp, ông được mời về làm giám đốc Trường Quốc Gia Âm Nhạc. Thời gian sau trường mở thêm lớp kịch nghệ, và thời điểm này một số nghệ sĩ cải lương, nhạc sĩ kỳ cựu được mời dạy cổ nhạc và diễn viên sân khấu. Trong số có các nghệ sĩ tiền phong Năm Châu, Phùng Há, Năm Nở, Duy Lân. Các nhạc sĩ kỳ cựu Hai Khuê, Chín Trích…

Thiên về tài lợi hơn là nghệ thuật

Thuyết trình về tình trạng và đời sống của nghệ sĩ sân khấu, có đoạn Giáo Sư Phụng nói:

“Những khuyết điểm về đời sống nghệ sĩ sân khấu là do chủ gánh quá thiên về tài lợi hơn là nghệ thuật, hoặc quá câu nệ cái nhất thời, không lưu tâm đến cái trường cửu. Chúng tôi không muốn so sanh với các nước tiên tiến, không đòi hỏi một trình trạng y như ở các nước Ý, Pháp, Đức hay Mỹ, cái gì ở đời cũng tương đối mà thôi.

Ở đây, làm thế nào ngày nay chúng ta còn một Năm Châu, một Phùng Há, cũng là điều đáng mừng lắm rồi. Tại sao tôi nói “đáng mừng”?

Bởi vì theo đà sinh hoạt hiện thời, một anh kép, một cô đào hát suốt trong 1 tháng, đêm nào cũng hát đến 12 giờ, chưa nói đến chuyện vãn hát còn đi ăn uống, tôi dám chắc không có nghệ sĩ nào trên thế gian này có thể chịu đựng lối sinh hoạt đó. Ở các nước, khi người nghệ sĩ ký hợp đồng với chủ gánh, bầu gánh, thì hợp đồng nêu rõ rằng trong một mùa trình diễn, chủ gánh sẽ đem ra diễn mấy vở tuồng? Người nghệ sĩ ký hợp đồng đó đã thương lượng với ông chủ gánh rằng mình sẽ đóng trong mấy vở và đóng vai gì?

phungha04-305.jpg
Nghệ sĩ Phùng Há trong vở tuồng Mộng Hoa Vương.Ảnh tư liệu gia đình

Để bảo vệ sức khỏe nghệ sĩ, người ta phải sắp đặt cho anh kép này, cô đào kia, hát xong thì trong vòng ba đêm liên tiếp hoặc một tuần mới diễn lại được, chứ không thể nào như ở nước ta. Tôi dám chắc rằng dù cho nghệ sĩ Đức quốc là những người to tướng như quí vị từng thấy mấy người soprano, hay ténor, to lớn khổng lồ, mà nếu họ phải sinh hoạt theo nền nếp của nghệ sĩ Việt Nam mình, thì trong vòng một tuần là họ đi vô nhà thương, hoặc vô nhị tì.

“Chúng tôi nhận thấy đó là khuyết điểm lớn nhất, và tai hại rất lớn cho nghệ sĩ mà vô tình nghệ sĩ không màng tới. Nghệ sĩ ta sống một cách quá nhất thời: “Lúc nào tôi còn ca được sáu câu vọng cổ, tôi còn ăn khách, thì tôi vẫn sống. Tôi không nghĩ đến ngày mai”!

Giáo Sư Nguyễn Phụng làm giám đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc & Kịch Nghệ cho đến năm 1970 thì ông mất chức. Ông có quốc tịch Pháp, tên là Michel. Không biết ông về Tây trước hay sau 1975, nhưng rất thường gởi thơ về thăm bạn bè và người cộng tác cũ.

Nghe nói sau phần thuyết trình của giáo sư Nguyễn Phụng, thì có người nói rằng nghệ sĩ bên trời Tây, bên Âu Châu nghỉ hát họ cũng ăn bơ sữa đâu có đói. Chớ còn nghệ sĩ Việt Nam mình chỉ một buổi chiều tối trời đổ mưa, không có khán giả phải nghỉ hát thì mọi người đều buồn ra mặt.

Bởi nghỉ hát một bữa là thiếu hụt rồi, chớ một đêm hát rồi nghỉ 5, 7 ngày thì chắc phải húp cháo chớ làm gì có cơm mà ăn.

Đúng vậy, mấy bữa trời mưa ai ở gần rạp hát thì thấy bữa cơm hội của đào kép công nhân chỉ có rau luộc, nước mắm là thường.

Vào khoảng 1952 – 1953 gánh hát Thanh Minh của bầu Lư Hòa Nghĩa – Năm Nghĩa thường hay hát ở rạp Đông Vũ Đài trong khuôn viên Đại Thế Giới, và rạp Thành Xương gần sòng bạc Kim Chung Sài Gòn.

Khán giả của đoàn Thanh Minh lúc bấy giờ đa số ở miền Lục Tỉnh, họ đi ghe chuyên chở hàng hóa nông phẩm lên đậu ở Bến Hàm Tử và Cầu Ông Lãnh chờ lên hàng. Trong thời gian chờ đợi bán hàng cho các chủ vựa, mỗi tối họ đổ lên hai rạp nói trên mua vé coi cải lương, mà phần đông nói rằng để nghe Út Trà Ôn ca vọng cổ. Và người ta nói suốt năm Út Trà Ôn không vắng mặt buổi hát nào. Vậy mà Cậu Mười vẫn mạnh khỏe, đúng như nhận định của Giáo Sư Nguyễn Phụng vậy.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/vnm267-07012016134458.html

QUỐC DŨNG : Đem đờn ca tài tử đến Little Saigon


Đem đờn ca tài tử đến Little Saigon

Nghệ sĩ tài tử Quế Anh hát phục vụ khán giả. (Hình: Quốc Dũng/Người Việt)

Quốc Dũng/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Buổi họp mặt giới đờn ca tài tử lần đầu tiên tổ chức tại Little Saigon vào sáng Chủ Nhật, 9 Tháng Mười, tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, Westminster, tuy không đông tài tử giai nhân tham dự, nhưng đón được khá nhiều bạn tri kỷ tri âm đồng điệu quan tâm đến nghệ thuật này.

don-ca-tai-tu-1

Ông Lê Quang Thế, trưởng ban tổ chức, cho biết: “Đây là lần đầu tiên Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại tổ chức buổi họp mặt đờn ca tài tử. Lý do là vì vừa qua chúng tôi có trở về Việt Nam để tìm hiểu thêm về đờn ca tài tử sau khi loại hình này được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Chúng tôi mong muốn sau buổi họp mặt này sẽ tạo một phong trào đờn ca tài tử tại hải ngoại.”

Ông Ngành Mai, hội trưởng, cho hay: “Hôm nay không có cây đờn nào hết, nhưng là dân đờn ca tài tử thì không cần đờn cũng có thể hát được, không trở ngại gì hết. Mục đích của chúng tôi là như vậy, vì nếu mướn người đờn thì sẽ như cải lương, không còn là tài tử nữa. Đờn ca tài tử có điểm chính là bất cứ mọi giới ai thích thì cứ vào, không từ chối ai hết. Mọi người hát vì yêu thích thú vui tao nhã này, nên không bao giờ đặt chuyện tiền bạc, công cán hay câu nệ về trang phục khi tham gia đờn ca tài tử.”

Đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể thứ tám của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hóa đại diện của nhân loại và được bảo vệ ở cấp độ quốc tế, thể hiện sự trân trọng và ngưỡng mộ của cộng đồng quốc tế đối với loại hình nghệ thuật độc đáo này của Việt Nam. Bởi vì phạm vi của nghệ thuật này tương đối nhỏ, chủ yếu trong sinh hoạt gia đình, tại đám cưới, đám giỗ, sau khi thu hoạch mùa vụ, và thường được biểu diễn vào những đêm trăng sáng ở xóm làng. Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại này được công nhận vào ngày 5 Tháng Mười Hai, 2013.

Soạn giả Yên Lang, chia sẻ: “Tôi là soạn giả cải lương nên biết chút ít về đờn ca tài tử, bởi vì sự nghiệp của tôi bắt đầu từ năm 1960, còn bộ môn cải lương đã thành hình từ những năm 1917-1918, trong khi nhạc tài tử có trước đó nữa.”

“Nhạc tài tử bắt nguồn từ đâu, bây giờ chưa ai xác định rõ ràng được, và chưa có quyển sách nào tra cứu một cách minh bạch được. Chỉ biết rằng vào khoảng thời gian vua Hàm Nghi rời kinh thành để kêu gọi kháng chiến chống thực dân Pháp thì có một số trung thần theo vua, trong đó có ông Nguyễn Quang Đại, tự Ba Đợi, là một người coi về nhạc lễ của triều đình Huế. Ông vào định cư ở Đồng Nai, rồi sau về miệt Cần Giuộc, Cần Đước lập đội cổ nhạc để tập luyện,” ông nói.

Mời độc giả xem video Điểm tin buổi sáng Thứ Hai, ngày 10 tháng 10 năm 2016

“Sau đó ông lập bộ môn tài tử dạy cổ nhạc ở miền Cần Đước, Chợ Lớn, Quận Tám… và cùng thời gian này ở miền Tây có ông Trần Quang Quờn cũng là một nhạc sĩ lỗi lạc lập khối cổ nhạc ở miền Tây. Đến khoảng năm 1900, lúc đó nhạc tài tử thành hình và đờn ca nổi tiếng khắp nơi thì ở Mỹ Tho có ông Nguyễn Tấn Triều, Bạc Liêu có ông Lê Tài Khị, tự Hai Khị, lập ban cổ nhạc và dần dần thành hình các hội chơi cổ nhạc tài tử,” ông nói tiếp.

Soạn giả cho hay: “Thời điểm đó đờn ca tài tử phát triển mạnh là vì trong những ngày khai hoang, lập ấp, người dân quê sau công việc đồng áng, cày cấy ban ngày thì chiều về uống trà, tụ tập nghỉ ngơi để nói chuyện. Mà nói chuyện không thì buồn, nên đờn ca tài tử nổi lên với mục đích chỉ để phục vụ nghe chơi với nhau giữa một số người trong một hoàn cảnh nhất định. Dần dà thu hút thêm những đối tượng khác cùng tham gia và không gian cũng mở rộng hơn.”

“Vì vậy mà lúc đầu chỉ có đờn, sau xuất hiện hình thức ca bên cạnh hình thức đờn, nên gọi nôm na là đờn ca. Còn ‘tài tử’ có nghĩa là người chơi nhạc có biệt tài, giỏi về cổ nhạc, chứ không có nghĩa là nghiệp dư,” ông nói thêm.

don-ca-tai-tu-2

Soạn giả Yên Lang nói về đờn ca tài tử Nam Bộ. (Hình: Quốc Dũng/Người Việt)
Soạn giả Yên Lang nói về đờn ca tài tử Nam Bộ. (Hình: Quốc Dũng/Người Việt)

Qua các tài liệu ghi chép lại thì đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật xuất xứ từ nhạc cung đình Huế, nên bài bản dựa trên các bài có sẵn của ca nhạc Huế rồi cải biên, sáng tác ra nhiều loại bài bản mang âm hưởng quê hương, hoặc dựa theo các tác phẩm, tích truyện phổ thông thời bấy giờ. Vì vậy đây là loại nhạc “tâm tấu” (tâm tình của người xa xứ), mang tính ngẫu hứng sáng tạo.

Nghệ sĩ tài tử Quế Anh cho biết: “Tôi không hát sân khấu, chỉ đi hát tài tử. Tôi thích đờn ca tài tử từ khi còn bé, nhưng không có cơ hội phát huy. Tới lúc 12 tuổi có bao nhiêu tiền thì tôi dành hết tiền quà bánh để mua bài ca. Tới 16 tuổi thì được quyền tự do chút, nên tôi đi tới nhà văn hóa để học hỏi. Hôm nay đang làm việc nhưng nghe có buổi đờn ca tài tử này nên xin chủ đi vài tiếng để tham dự, và hát thật hăng để phục vụ các tài tử giai nhân có mặt tại đây.”

Bà Trương Thị Đào, cư dân Garden Grove, tâm sự: “Tôi đến buổi họp mặt này để ủng hộ cho nền nghệ thuật nước nhà và ôn lại những bản nhạc ngày xưa, thời thập niên 1940, 1950. Tôi biết đờn ca tài tử từ lúc 6-7 tuổi, hồi thập niên 1950. Bởi vì lúc đó tôi hay theo mấy ông chú coi đánh đờn. Mấy ông chú tôi quê ở Gò Công đi đờn cho mấy gánh lớn ở Sài Gòn, nhưng cứ vào dịp hội hè mỗi năm, nhất là ra Tết người ta chưa làm nông, khắp xóm lúc nào cũng có đờn ca tài tử vui lắm nên mấy ông chú về chơi nhạc.”

“Cứ vào dịp hội hè thì dân trong xóm, trong làng tự tập và hát thôi. Vì vậy mà tôi thích lắm các bản như Tôn Tẫn Giả Điên, Tống Tửu Đơn Hùng Tín, Tần Quỳnh Khóc Bạn… Thời đó đờn ca tài tử cũng có khi hát tuồng, như Phạm Công Cúc Hoa, Lâm Sanh Xuân Nương… nữa,” bà cho hay.

Ông Vũ Trần, cư dân Westminster, nói: “Mình là kẻ xa xứ nên nhớ quê hương, mà đờn ca tài tử thì gắn liền với quê hương đất nước của mình. Tôi nhớ không khí ngày xưa vào những buổi đờn ca tài tử ở quê mình, vào buổi tối họp nhau, đêm trăng ngồi trên sân phơi lúa, rồi bạn bè tụ họp đờn ca vui lắm. Đờn ca tài tử hay cải lương tôi đều thích, vì đó là cổ nhạc nên dễ vào lòng mình lắm. Âm nhạc vốn đã hay rồi, nhưng cổ nhạc thì gần với mình hơn. Trong khi cải lương phải có tuồng tích, kịch bản, đạo diễn… thì đờn ca tài tử lại tự do hoàn toàn, chỉ cần ngồi trên một bộ ván hoặc chiếu để biểu diễn với phong cách đờn ca thảnh thơi, lãng đãng. Có lẽ vì vậy mà đờn ca tài tử được thế giới công nhận hơn so với cải lương.”

—–

Liên lạc tác giả: truong.dung@nguoi-viet.com

http://www.nguoi-viet.com/newarticle/little-saigon-xa-que-huong-van-quan-tam-don-ca-tai-tu/

HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Báu vật đờn ca tài tử – Kỳ 3: Nguyễn Vĩnh Bảo – đệ nhất danh cầm


 vinh-bao
09:10 AM – 19/02/2014
Nhạc sư Vĩnh Bảo là một nhân vật đã sống trọn vẹn cuộc đời cho đờn ca tài tử Nam bộ qua việc dạy học, diễn giảng, biểu diễn, đóng đàn, sáng tạo nhạc cụ và các loại lên dây (tunings), cùng với kỹ thuật diễn tấu cũng như tư duy mỹ quan âm nhạc Việt Nam.

>> Báu vật đờn ca tài tử – Kỳ 2: Bạch Công Tử bị bỏ quên
>> Báu vật’ đờn ca tài tử

 

Báu vật đờn ca tài tử - Kỳ 3: Nguyễn Vĩnh Bảo - đệ nhất danh cầm

Nhạc sư Vĩnh Bảo – Ảnh: nhân vật cung cấp

Năm 1972, GS-TS Trần Văn Khê và nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo đã thực hiện cho Ocora (Radio-France) một đĩa nhạc Tài tử Nam bộ. Đĩa này đã khiến cho UNESCO chú ý và cơ quan này đã mời 2 người thực hiện thêm đĩa Collection UNESCO (Musical Sources, hãng Philips của Hà Lan sản xuất) với Trần Văn Khê (đàn tỳ bà), Nguyễn Vĩnh Bảo (đàn tranh) hòa tấu các bản Bình bán, Kim tiền, Tây Thi, Cổ bản. Riêng nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo còn độc tấu đàn tranh các bản Nam xuân, Nam ai, Đảo ngũ cung và Tứ đại oán. Ít tháng sau đó, UNESCO đã điều đình với GS-TS Trần Văn Khê để xin mua đứt bản quyền đĩa này.

Tiếng đàn tranh của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo đã in đậm trong trí nhớ của GS-TS Trần Văn Khê, nên hơn 20 năm trước đây, ông Khê từng phát biểu tại Hà Lan: “Nếu ngày nào đó nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo mất đi thì thế giới sẽ mất đi tiếng đàn liêu trai, phù thủy độc nhất vô nhị…”, và ông đã xưng tụng nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là “Đệ nhất danh cầm”.

18 năm về trước, người viết bài từng đến nhà nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo ở trong con hẻm nhỏ bên hông nhà thờ Gia Định (đường Bùi Hữu Nghĩa, Q.Bình Thạnh, TP.HCM) phỏng vấn khi ông gần 80 tuổi. Tại lễ đón nhận Bằng UNESCO tôn vinh đờn ca tài tử diễn ra vào ngày 11.2 tại Hội trường Thống Nhất (TP.HCM), lại thấy ông xuất hiện (rất âm thầm) bên cạnh GS-TS Trần Văn Khê, soạn giả Viễn Châu. Nhìn một ông già mái tóc dài bạc trắng, “tiên phong đạo cốt”, dáng điệu nhanh nhẹn, tôi không tin nổi ông đã… 97 tuổi!

Nguyễn Vĩnh Bảo sinh năm 1918, tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Từ nhỏ ông đã học đờn với các thầy Hai Lòng (Vĩnh Long), Sáu Tý, Năm Nghĩa (Trà Ôn)… nhưng nếu tính theo “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” thì ông đã học với gần 200 “thầy” trên khắp ba miền Nam Trung Bắc. Ông sở trường về “đờn ta” (đàn tranh, kìm, cò, gáo, bầu…) nhưng cũng rất thuần thục “đờn Tây” (mandoline, guitar, violon, piano…). Năm 1935, ông sáng chế ra dây Tỳ và dây Xề trên cây đàn gáo. Năm 20 tuổi (1938), ông được hãng đĩa BEKA mời đàn cho cô Ba Thiệt (chị của cô Năm Cần Thơ) ca. Năm 1955, ông cải tiến cây đàn tranh từ 16 dây thành đàn 17, 19 và 21 dây rất tiện lợi để có thể đờn các loại “hơi, điệu” mà không cần phải sửa dây, kéo nhạn. Cây đàn tranh này đã được chấp nhận, các tiệm đóng đàn cũng theo khuôn mẫu của ông. Từ đó cây đàn tranh 16 dây không còn được sử dụng tại Việt Nam đến tận ngày nay.

Từ 1955 tới năm 1964, ông được bổ nhiệm chức vụ Trưởng ban cổ nhạc miền Nam ở Trường Quốc gia âm nhạc Saigon. Năm 1963, ông được mời tham dự hội nghị về âm nhạc với 11 nước Đông Nam Á tại Singapore. Năm 1969, ông đã thực hiện hai cuốn băng nhạc đờn ca tài tử do ông Nam Bình sản xuất và do ông điều khiển chương trình với sự cộng tác của 11 nhạc sư đờn tài tử lúc bấy giờ. Tất cả đã ra người thiên cổ ngoại trừ ông và nhạc sĩ Bảy Bá (tức soạn gia Viễn Châu) còn sống. Năm 1970, ông được Đài truyền hình NHK của Nhật Bản mời sang Tokyo để thuyết trình về nhạc cổ truyền Việt Nam với phần minh họa đàn tranh.

Có thể nói, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là một trong những người tiên phong trong việc dạy đàn cho người nước ngoài qua phương pháp hàm thụ. Từ những năm 1960 đến 2004, ông đã ghi âm tiếng đàn vào băng cassette gửi ra nước ngoài qua đường bưu điện. Sau này những học trò của ông đã trang bị cho thầy dàn máy vi tính, Mp3, máy in… để ông chuyển sang dạy trực tuyến (online) cho học trò nước ngoài. Tới nay dù ở tuổi 97, nhạc sư Vĩnh Bảo vẫn tiếp tục dạy đờn trên mạng internet cho một số người Việt hay ngoại quốc (Pháp , Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ, Mỹ…).

Năm 2006, tại hội thảo Dân tộc nhạc học thế giới lần thứ 51 ở Honolulu (Hawaii, Mỹ), GS-TS Nguyễn Thuyết Phong qua bài tham luận Considering the Fate of Tài tử Music: Nguyễn Vĩnh Bảo, the Last Guardian of the Tradition (Nỗi quan tâm đến vận mạng của đờn ca tài tử: Nguyễn Vĩnh Bảo, người bảo vệ sau cùng của truyền thống) đã đề nghị tôn vinh nhạc sư Vĩnh Bảo là một trong sáu nhạc sư của thế giới có công đóng góp cho nhạc dân tộc và nổi tiếng nhất trong nước. Năm 2008, Tổng thống Pháp tặng ông huy chương văn học nghệ thuật (médaille des Arts et des Lettres) bậc “officier”. Ở Việt Nam chỉ có hai người được huy chương bậc này là GS-TS Trần Văn Khê và nhạc sư Vĩnh Bảo.

HÀ ĐÌNH NGUYÊN