KIỀU TIẾN DŨNG : Học Phương Tây và Triết Lý Phương Đông


Khoa Học Phương Tây và Triết Lý Phương Đông
October 13, 2017

22519407_1499665703457428_2627835873032052138_n.jpg

22539820_1499665763457422_8543760303430818485_n
Lời mở đầu
Tôi bắt đầu đam mê toán học và nhất là vật lý hồi từ còn nhỏ. Không nhớ chính xác là từ lúc nào, chỉ còn nhớ cái động lực đã thúc đẩy tôi để cố gắng vượt bao khó khăn, để chấp nhận hy sinh nhiều thứ khác. Động lực đó đã theo đuổi và giúp tôi từ những giải nhất toàn trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, đến huy chương vàng toàn đại học và văn bằng tiến sĩ ở xứ người, và nó vẫn còn thôi thúc tôi mãi đến ngày hôm nay sau bao năm dài tháng rộng.
Động lực đó không đến từ đâu khác hơn là từ cái mơ ước được đóng góp cho đất nước qua khả năng, kiến thức khoa học của mình. Ước mơ cho một Việt Nam bớt nghèo khó có lẽ đã đi vào tiềm thức của tôi từ cuộc sống xa cha mẹ, rày đây mai đó của một thời thơ ấu. Tôi được sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, được nuôi dưỡng bằng dòng sữa mẹ thì ít mà phần lớn là bằng sữa đặc có đường mà mẹ tôi, một nữ quân nhân, đã mua được từ cửa hàng quân tiếp vụ. Rồi thằng bé lưu lạc qua nhiều vùng đất nước để phải chứng kiến tận mắt một quê hương đắm chìm trong khói lửa, vô cùng nghèo khó.
Tôi vẫn còn nhớ rõ một giờ vật lý ở trung học đã định hướng toàn bộ cuộc đời mình. Thầy tôi nói về hiện tượng siêu dẫn (superconductivity) khi dòng điện được chuyển lưu không bị cản trở gì cả, và do đó năng lượng không bị thất thoát trên đường tới nơi tiêu dùng. Vấn đề là hiện tượng siêu dẫn đó chỉ có thể có được ở một nhiệt độ rất thấp (chỉ cao hơn nhiệt độ zero tuyệt đối, âm 273 độ C, vài độ mà thôi) nên không thể áp dụng được cho các đường dây dẫn điện ngoài đường. Vậy nếu nhiệt độ siêu dẫn được nâng lên cao hơn thì ích lợi bao nhiêu! Chính cái nhận xét và ước muốn ngây thơ, đơn giản này đã chọn cho tôi con đường khoa học từ ngay lúc ấy.
Vào khoảng mười năm sau đó, vào năm 1986 các nhà khoa học người Đức đã tìm được các chất siêu dẫn ở nhiệt độ cao (high critical temperature). Nhưng mãi cho tới nay vẫn chưa có một lý thuyết thỏa đáng cho hiện tượng ở nhiệt độ cao này. Đây là một cơ hội cho giấc mơ thời thơ ấu, nhưng nhìn lại mình với tài hèn sức mọn không những chưa thể góp công gì trong thuyết siêu dẫn mà cũng chưa thể đóng góp được gì trực tiếp cho quê hương:
Bao nhiêu năm muộn lời thề
Bao nhiêu năm lẻ bên lề quê hương
Thế giới khoa học và toán học còn là một thế giới thanh bình, an toàn cho thằng bé tôi co mình nương náu. Nó khác hẳn với cái thế giới ngoài kia thằng bé đã sống với chiến tranh từng ngày, bom đạn từng đêm, tang thương từng giờ. Nó có ý nghĩa, có trình tự logic của tiền đề, định lý và hệ quả. Nó không như những gì tôi chứng kiến trong ngày 30/4/1975 với bao hỗn loạn chia lìa, với bao đòn thù giáng trên đầu những người cùng huyết thống, với bao lọc lừa và dối trá –những lừa lọc và dối trá vẫn còn tiếp diễn mãi hơn 40 năm sau.
Từ khoa học, nhất là khoa học vật lý, đi đến triết học cũng rất gần, nhưng tôi đã không có cơ hội để học hỏi nhiều về các triết học đông phương khi còn ở Việt Nam. Khi tôi mới lớn thì các môn triết đã bị cấm tiệt, ngoại trừ bộ môn gọi là triết học Marx-Lenin. Ngay đến cả sách vở cũng không được phép lưu giữ. Nhiều sách đã bị đốt cũng chỉ vì chúng được in trong chế độ cũ, chỉ vì chúng chứa đựng những tư tưởng bị coi là nguy hiểm, là kẻ thù của giai cấp, chỉ vì chúng không tuân theo giáo điều cộng sản.
Đốt sách để tiêu diệt văn hóa là việc làm của kẻ xâm lăng, vào năm 1414 nhà Minh đã tiêu hủy bao ấn phẩm của nước Nam hòng triệt tiêu văn hóa ta. Thì chính người cộng sản Việt Nam cũng đã đốt bao tập sách vào những năm 1954 và 1975, nguyên nhân cũng chẳng ngoài sự lo sợ những tư tưởng nhân bản. Họ đốt sách cũng chẳng ngoài mục đích ngu dân, viết lại lịch sử, và tìm cách tuyên truyền lấp liếm sự thật những gì nhà cầm quyền đương thời đã và đang làm.
Nhưng họ đã sai lầm, như Tần Thủy Hoàng đã từng sai lầm. Sách dễ đốt, người có thể nhốt, nhưng tư tưởng và nhất là tinh thần và ý chí con người thì không.
*
Qua tới xứ người tôi mới có thể tìm đọc về triết lý đông phương, phần lớn qua các sách ngoại ngữ, và đã phải ngạc nhiên và vô cùng thích thú với những tương đồng với khoa học tây phương, giữa hai hệ thống cách biệt nhau rất xa về thời gian lẫn không gian này.
Dĩ nhiên chúng vẫn có những dị biệt, nhất là từ điểm khởi đầu, từ trong phương pháp lý luận, từ cách phân tích toán học và tổng hợp suy luận. Nhưng chúng lại có không ít những tương đồng; nhất là những tương đồng ở ngay trong căn bản, cốt lõi và nền tảng.
Kinh Dịch, Lão Học và Phật Học của triết học đông phương đã có một lịch sử lâu dài hàng mấy nghìn năm nay. Trong khi đó cái ta gọi là khoa học phương tây hiện đại chỉ mới được bắt đầu khoảng 500 năm trước đây. Tuy có khởi đầu khác biệt; nhưng cả hai đều cùng song song trên con đường đi tìm sự thật. Nếu có một, và chỉ một, sự thật sau cùng thì chúng trước sau gì cũng phải có những điểm hội tụ và phải được phản ánh qua các điểm tương đồng.
Họa sĩ Vũ Khải Cơ đã giúp tôi trình bày ý tưởng liên kết Đông Tây này ở bìa cuốn sách với hình ảnh một cây cầu nối liền hai kiến trúc Đông và Tây. Cây cầu lại cùng kết hợp với chính hình bóng phản chiếu của mình trên dòng sông, một thực một hư, để vẽ nên con số tám nằm ngang; và đây cũng chính là biểu tượng vô tận của toán học để nói lên cái vô cùng của sự học và cái bao quát của một chân lý sau cùng.
Những bài viết trong tập sách này là nhằm để trình bày và chia sẻ những nhận xét cá nhân, cùng với ước muốn được trao đổi và học hỏi thêm từ người đọc. Phần chính là 14 bài viết về những tương đồng của hai hệ thống Đông và Tây ở nhiều khía cạnh khác nhau. Phần lớn các bài đã được phát thanh trên làn sóng Hồn Việt Radio tại Úc Châu vào năm 2013. Tôi cũng muốn nhân đây chuyển đạt lời chân thành cám ơn anh Quốc Việt Trần Như Hùng đã góp ý và động viên rất nhiều. Phần phụ lục của tập sách bao gồm một số bài viết có các chủ để khác nhau, nhưng cũng được gom lại nơi đây để phản ảnh một số ý kiến riêng tư của tác giả.
Nếu không có sự sự hổ trợ và khuyến khích của rất nhiều bạn hữu và gia đình về mọi mặt thì chắc chắn đã không có tập sách này. Tôi chân thành tri ân tất cả. Nhưng dĩ nhiên mọi khiếm khuyết và sai sót không tránh được ở đây là của riêng cá nhân tôi mà thôi.
Tuy biết sức mình nhỏ bé nhưng tôi vẫn mong góp nhặt nơi đây những suy nghĩ thiển cận như những viên gạch lót một con đường vô tận, như một nhịp trên cây cầu nối liền Đông và Tây. Với đề tài rộng lớn của hai lãnh vực khoa học phương tây và triết lý phương đông mênh mông, chắc chắn tôi còn vướng mắc nhiều sai sót. Nhưng đây là điều không tránh khỏi trong quá trình nghiên cứu học hỏi; và chính đó lại cần thiết cho ta có thể nhích gần hơn nữa tới chân, thiện, mỹ. Xin được đón nhận mọi góp ý để sửa sai và cùng học hỏi.
Kiều Tiến Dũng
Mùa Đông 2016
Melbourne, Úc Châu
(Chú ý: Ra Mắt Sách Oct 28, 2017.)
Tác Giả: Kiều Tiến Dũng
Bìa Mềm
Số Trang: 340
Kích Thước: Cao 8.5″ x Rộng 5.5″ x Dầy 0.8″
Trọng Lượng: 1.1 lbs
Sách có bán tại các tiệm sách địa phương, tại tòa soạn Nhật Báo Người Việt hoặc trên online www.nguoivietshop.com.
————————————————————————————————–

THƯ MỜI

TRÂN TRỌNG KÍNH MỜI

Qúy Ông/Bà
_________________________________

tham dự chương trình giới thiệu tác phẩm:

“Khoa Học Phương Tây và Triết Lý Phương Đông”
của Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng
Gs Vật Lý Lý Thuyết

Từng làm việc tại các trường đại học
Swinburne University, University of Melbourne (Úc Châu),
Oxford University, University of Edinburgh (Vương Quốc Anh)
và nghiên cứu ở nhiều đại học tại Hoa Kỳ như
MIT, Princeton IAS, Columbia University, qua Fulbright Fellowship

Từ 1:00 giờ chiều đến 4:00 giờ chiều
Ngày thứ Bẩy 28 tháng 10 năm 2017

Tại Hội Trường Việt Báo
Số 14841 Moran Street, Westminster, CA 92683

Với các diễn giả:
GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
GS TS Orchid Lâm Quỳnh

Đại diện Ban Tổ Chức:
Phiến Đan (714) 548 2281

Sự hiện diện của quý vị là niềm khích lệ cho Ban Tổ Chức,
và vinh hạnh lớn lao cho tác giả đến từ Úc Châu

Aucun texte alternatif disponible.
L’image contient peut-être : texte

TRẦN VIỆT HẢI : CÁC “MIỆT” TẠI MIỀN NAM


CÁC “MIỆT” TẠI MIỀN NAM

Miền Nam là phần lảnh thổ sau cùng và tận cùng về phía nam của nước ta. So với hai miền kia, quả có nhiều khác biệt. Khác biệt về nhiều thứ như: con người miền Nam với tánh tình hiền hoà, chơn chất, phóng khoáng hiếu khách. Đó là về mặt tích cực, về mặt”tiêu cực” (theo một nghĩa nào đó) thì người miền Nam thích hưởng nhàn, sống hơi an phận, không thích tranh đấu, bon chen, và vì vậy không biết nhiều mưu mô, mánh khoé. Và có lẽ vì vậy, mà thưòng bị thua kém phần nào so với đồng bào nói chung của hai miền kia. Chỉ xin lạm bàn đôi điều, mà chúng ta đã nhận ra với biết bao thấm thía… Riêng xét về mặt hình thể, địa thế, mảnh đất miền Nam cũng khác, khác khá nhiều. Đây là một vùng bình nguyên, thế đất đa phần bằng phẳng, chỉ một ít có những thế đất cao, như đồi, trảng, giồng. Tuy nhiên, cũng phải kể một vài tỉnh vơí những ngọn núi không cao lắm, chỉ khoảng dưới ngàn mét như: Chứa Chan, Bà Đen,núi Dinh,Thị Vải và cụm dãy núi Thất Sơn. Điểm đặc biệt hiếm có của miền Nam là sông nước mênh mông, do hai hệ thống sông Đồng Nai và Cửu Long. Thêm vào đó còn có cả những kinh đào, là đặc trưng không có ở miền khác. Về cư dân, dĩ nhiên cũng có phần khác biệt, vì nơi nầy vốn xưa có cư dân gốc Cam Bốt, Chàm, người Stiêng, Mạ, Mnông… cùng là nhóm ngưòi Tàu không nhỏ theo làn sóng đi khai phá do các lãnh đạo của họ là Mạc Cửu, Trần Thưọng Xuyên… Tất cả đã hoà quyện thành một “ngưòi Nam” như chúng ta đã biết. Riêng về địa danh, chúng tôi đã sưu tập, phân tích đúc kết có sàng lọc ,một sự sưu tập chắc hẳn còn quá nhiều thiếu sót, phiến diện. Về địa danh thì miền Nam với những đặc trưng như: nhiều tên mang chữ “cái”, nhiều tên mang chữ kinh, rạch, xẽo, nhiều tên mang âm hưởng ngôn ngữ bản địa (nhứt là từ tiếng Cam Bốt), cũng như vì kỵ húy hay ước vọng hoà bình, mang tên “đẹp” như “phú, mỹ, lợi, hưng…”. Và điểm đặc biệt khác của miền Nam, về địa danh, còn có ‘miệt’, mà chắc chắn không có tại hai miền kia.

Phần tài liệu nầy, chúng tôi trích ra từ một sưu tập khá dài, chỉ với mục đích góp vui cùng quý đồng hương trong dịp ngơi nghĩ, cuối tuần. Riêng với các bạn trẻ, cũng là một dịp đễ biết thêm đôi chút về quê nhà. Thú thiệt, chúng tôi chỉ âu lo, hay đúng hơn là đau đớn vì biết đâu một ngày nào đó ”Việt Nam tôi đâu, còn hay đã mất”… Và chắc hẳn, không ai còn quan tâm đến mảnh đất hình cong chữ S nằm ngạo nghễ trên bờ biển Đông, còn chi mà biết ‘miệt trên, miệt dưới hay miệt vưòn..’. mà tài liệu đuợc trình bày ngắn gọn sau đây.

Theo nhà học giả Paulus Của, trong quyển “Đại Nam Quốc Âm Tự Vị,” định nghiã miệt là: nhỏ mọn, xứ miền, dảy đất. Theo một giải thích khác, miệt có thể phát xuất từ hiện tượng đọc “trại ra”, tức biến âm, từ miền đọc trại thành “miệt”
Tại miền Nam có bao nhiêu miệt, còn tùy theo sự phân chia của vài tác giả. Trước tiên, theo tác giả Nguyễn Vĩnh Long Hồ (Người Long Hồ), trong tài liệu trường thiên mang tên “Đất Phương Nam” (dài trên 2000 trang khổ lớn) đã phân ra các miệt như sau :

– miệt Đồng Tháp : gồm Tân An, Mộc Hóa và Cao Lảnh.
– miệt Vườn : gồm Sa Đéc, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ và Long Xuyên.
– miệt Biển : gồm Gò Công, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng và Bạc Liêu.
– miệt Thất Sơn : gồm Châu Đốc và Bảy Núi (Thất Sơn).
– miệt Thứ U Minh : gồm Cà Mau, Chương Thiện và Rạch Giá.
– miệt Hà Tiên : gồm Hà Tiên, Giàng Thành (Kiên Giang) và Phú Quốc.

Miệt vườn với biết bao cây trái thơm ngon như cây dừa xiêm với bao buồng trái nặng trĩu.

Theo một nghiên cứu khác, nhà văn Sơn Nam chia ra các miệt như sau:

– miệt trên : gồm Biên Hòa, Gia Định,Bà Rịa.
– miệt Cao Lảnh : gồm vùng Cao Lảnh ngày nay.
– miệt Đồng Tháp Mười : gồm vùng lòng chảo ĐTM
– miệt Mỹ Vãng : gồm Mỹ Tho, Vĩnh Long.
– miệt Dưới : gồm Rạch Giá,Cà Mau.
– miệt Chợ Thủ, ông Chưỏng : gồm nơi sông Hậu,sông Tiền,Long Xuyên.
– miệt Xà Tón,Bảy Núi : gồm vùng Thất Sơn, Tri Tôn.

Cũng cần ghi nhận là vùng miền Đông Nam Phần hầu như ít xếp vào các miệt, có chăng là chỉ được gọi chung là “miệt trên” mà thôi. Trong dân gian, người ta còn thoãi mái, đặt thêm những miệt nữa, thí dụ người dân ở miệt miền Tây, có thể gọi vùng từ Sài gòn trở lên là “miệt trên”, hay ngược lại. Thêm nữa, sự phân chia miệt cũng chỉ tương đối, như xếp tỉnh Bến Tre vào ”miệt biển“ cũng không hoàn toàn chính xác, vì tỉnh nầy phần giáp biển, nhưng cũng là tỉnh có những vườn trái cây nổi tiếng như Cái Mơn. . .

Ngoài ra, cũng còn một cách chia đơn giản các miệt như sau:
a/ Miệt vườn : gồm gọi chung các nơi cao ráo,có vườn cây ăn trái ven sông Tiền, sông Hậu thuộc tỉnh Sa Đéc, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Cần Thơ.
Đề cập đến miệt vườn, người ta không thể không kể sơ qua về những trái cây rất thơm ngon, hầu như cả miền Tây và một vài tỉnh miền Đông, nơi nào cũng có không ít thì nhiều. Ngày nay, tại “xứ người” đã xuất hiện nhiều cây ăn trái giống hệt như tại quê nhà, nhưng mà, dường như cũng còn gì đó khan khác thật khó tìm thấy, có phải chăng đó là hương vị quê nhà… Sau đây là một số vườn khá nổi tiếng, ta hãy nhìn lại một vài cây ăn trái thân quen mà bao năm qua ít có dịp nhìn lại

Vườn trái cây An Bình thuộc huyện Long Hồ (Vỉnh Long).

Tại tỉnh Vỉnh Long, khá nhiều vuờn cây ăn trái như ở Cái Vồn, An Bình. Tại những khu vưòn nầy, cũng có đủ các loại cây trái thơm ngon, như : chôm chôm, xoài, và đặc biệt có giống bưởi Năm Roi, bưởi da xanh. Nhắc đến tên Long Hồ, người ta bỗng như nghe văng vẳng đâu đây những câu ca ngọt lịm của ”ông Cò quận Chín’.

Vườn trái cây Mỹ Khánh, huyện Phong Điền-Cần Thơ

Đi từ Cần Thơ về hướng Sóc Trăng, chỉ khoảng 6 km.Các vườn vùng nầy có trồng trên 20 loại trái cây như mận, xoài, chôm chôm, dâu… và đặc biệt quít đường. Nhìn hình bên dưới, khách du có còn nhìn những chùm quít vàng tươi, hay gương mặt trăng trắng xinh xinh của gái miệt vườn.

Đặc biệt đây có loại vú sửa Lò Rèn, trái tròn căng, vỏ mỏng, thơm ngọt. Ngoài ra còn sầu riêng, chôm chôm, bưởi. . . Xin lạm bàn về vú sửa và cách ăn vú sửa, trước tiên về phân lọai, có vài loại khác nhau như: trái màu tím, hay màu mở gà vàng ươm, trái tròn căng hay hơi thon dài; nhưng mà cho dù màu sắc hay hình dáng có khác, bên trong vú sửa cũng cùng tràn đầy sửa ngọt. Đặc biệt, cách ăn vú sửa đúng nhứt là phải… xoa bóp vài lượt và nắm kéo cái cuống núm, xong kê miệng vào nút từ từ. Nhớ đừng nút nhanh và mạnh quá, không khéo coi chừng sửa tràn ra dính cả mồm. Đấy, ăn vú sửa có cái thú là vậy.

Cũng nhân đây, cần ghi nhận đôi chuyện xưa và nay thật vô cùng đáng nhớ. Chuyện xưa là cũng tại gần vùng nầy có con sông “Rạch Gầm”, nơi vua Quang Trung đã đánh tan đội quân Xiêm La (Thái) với 50.000 quân. Chuyện nay, chỉ cách đây khoảng trên 40 năm, tại gần nơi nầy có căn cứ Đồng Tâm, bản doanh của sư đoàn 7/BB Việt Nam Cộng Hoà. Vào trưa ngày 30/4/1975, chuẩn tướng Trần văn Hai, tư lệnh sư đoàn đã anh dũng tuẩn tiết. Trước khi nổ súng tự sát, ông đã nhờ người mang về cho mẹ số tiền lương khoảng 75.000 đồng VN thời đó. Thật là một vị tướng anh hùng, thật là một đứa con hiếu thảo ngàn đời đáng mến mộ tôn thờ (Xin xem chi tiết cũng trong thiên tài liệu nầy)

Vườn trái cây Cái Bè – Tiền Giang.

Tỉnh Tiền Giang, Mỹ Tho hay Định Tường cũ, là nơi đồng bằng sông nước. Tại nơi nầy, cây trái vườn tược sum xuê, đặc biệt nơi Cái Bè, nhiều loại trái cây thơm ngon, đặc biệt có xoài cát Hoà Lộc. Chỉ cách Sài gòn trên dưới 70 km, đây là vựa trái cây lớn nhứt đồng bằng sông Cửu.

Vườn trái cây Cái Mơn – Chợ Lách – Bến Tre

Vốn được bao bọc bởi 4 bề sông nước (sông Cổ Chiên và Hàm Luông) với biết bao cây trái thơm ngon, đặc biệt là giống sầu riêng cơm vàng hạt lép. Đây được đánh giá là nơi sản xuất cây giống lớn nhứt Việt Nam. Cũng nên nhắc lại, Cái Mơn là sinh quán của một nhân vật thật vô cùng nổi tiếng. Đó là nhà bác học Trương Vĩnh Ký, ông là người có công hiệu đính, hoàn thiện hơn chữ quốc ngữ, để được trở thành một thứ chữ tiện lợi cho chúng ta. Riêng về chuyện cây trái, theo tài liệu có ghi, ông họ Vĩnh khi sang học tại các nơi nơi tu viện tại Cam Bốt, Mã Lai… khi đi về đã mang một số cây giống, gíúp cải thiện cây trái tốt tươi và thom ngon của miệt Cái Mơn.Cũng nhân đây, lại nói về công lao và sự “bất công” của văn học sử miền Nam. Tại miền Nam, qua một thời gian dài, chẳng hiểu do đâu mà nhiều nhân tài văn học ,trong đó đặc biệt văn hào Trưong Vĩnh Ký và nhà văn Hồ Biểu Chánh đã bị “đối xử bất công”, đã bị “cho việt vị” hàng nhiều thế hệ. Công lao và văn tài của hai vị miền Nam nầy đã chỉ được giảng dạy rất hạn chế và “sơ sài” trong giới học sinh trung học và cả đại học.

Vườn trái cây Lái Thiêu – Thuận An – Bình Dương

Chỉ cách Sài gòn khoảng 20 cây số,rất tiện đi về trong ngày. Tại khu vực nầy, khá nhiều vườn với những trái cây thơm ngon như: xoài, dâu, chôm chôm, sầu riêng, măng cụt… Du khách có thể vào vườn, tự hái trái hoặc nhờ cả những chủ vườn cung cấp cho mình những bữa ăn đồng quê… Tóm lại, đi vườn trái cây Lái Thiêu là một buổi picnic vô cùng thú vị.

Dâu Lái Thiêu

Ngoài những vườn vừa nêu, cũng còn nhiều nơi khác như miệt Long Thành. (Long Khánh), Kế Sách (Ba Xuyên).Nha Mân (Sa Đéc). . .

b/- Miệt đồng (ruộng): gồm các vùng tương đối thấp, ít có vườn, và nhiều đồng ruộng như: Sóc Trăng, Long Xuyên, Chương Thiện…

c/- Miệt thứ : gồm vùng “lâm sắc”(theo sách Đại Nam Nhứt Thống Chí) mà dân địa phương gọi là miệt thứ, là vùng ven u minh ,gồm Rạch Giá, Cà Mau và phần nào Bạc Liêu.Gọi là miệt thứ, vì vùng nầy có 10 con rạch mang thứ tự từ thứ số một…, con rạch thứ 10 chảy ra biển. Đây là vùng xa xôi, hiền từ, quê mùa.

Vào thời xa xưa, con gái miệt vườn, gả về miệt thứ U Minh, ngồi buồn nhớ quê nhà, cất lên lời ca áo não.

Đêm đêm ra đứng hàng ba,
Trông về quê mẹ, lệ sa buồn buồn
Sương khuya ướt đẩm giàn bầu
Em về miệt thứ bỏ sầu cho ai.

Ngày nay, phương tiên giao thông rộng mở, miệt thứ không còn là nơi “muổi kêu như sáo thổi. . “, nhưng xin hỏi mấy ai không mềm lòng,buồn chết được, khi nghe ca sĩ Phi Nhung nỉ non bài “em về miệt thứ”. Người ta không biết ,”em” Phi Nhung về miệt thứ có ai cùng về;nếu chưa chắc không ít người tình nguyện về theo. Đề cập đến miệt, người dân miền Tây có suy nghĩ khá ngộ, từ ”miệt đồng” đôi khi cũng dùng để chỉ những dân “quê mùa”, nhưng chỉ với hàm ý đùa cợt, không phải quá khinh khi.

Trong một tác phẩm mang tên ”Văn Minh Miệt Vườn”, tác giả nhà nghiên cứu Sơn Nam cũng đề cập nhiều khía cạnh về nét văn minh nầy. Được biết tài liệu trên xuất bản trước năm 1975, và sau nầy có tái bản với vài thay đổi, kể cả những “thay đổi” ngay con người của ông ấy. Thật đáng tiếc vô cùng. Bỏ qua những “xu thế” đáng tiếc nơi con người Sơn Nam, tác giả đã nêu lên một nhận xét mà chúng ta dễ dàng chấp nhận, là những “cáí hơn” của miệt vườn (so với miệt đồng). Đó là:

– miệt vườn có nhiều huê lợi hơn (làm vườn khoẻ, nhẹ nhàng. . ), nhưng thu lợi nhiều hơn
– đất vườn cao hơn đất ruộng là lẽ đương nhiên vì phải cho cây trái không bị úng thủy.
– và đặc biệt con gái miệt vườn đẹp và trắng hơn, vì không phải lội xuống bùn xình,dải dầu mưa nắng. Cụ thể như con gái thuộc vùng Nha Mân (Sa Đéc) đẹp có tiếng. Đây chỉ là trên cơ bản, nhiều khi con gái miệt ruộng lại “rắn rỏi, mặn mà“ hơn. Riêng những chàng trai nông dân, đặc biệt miền Tây sông nước, ngày xưa cách đây khoảng nửa thế kỷ, đa số chỉ quên với ruộng vườn. Nơi miệt đồng, miệt ruộng như Sóc Trăng, trai lớn lên chỉ biết làm ruộng mà thôi. Tánh tình thiệt thà chơn chất trong mọi thứ, kể cả chuyện “ghẹo gái’ như một chàng trai miệt Ngả Năm với lời tỏ tình thật dễ thương, qua bài:

GHẸO NGƯỜI DƯNG

Sông Ngả Năm chải dìa năm ngả
Tui dí em chắc có lươn diên
Mới gặp đả thấy thuông liền
Mến người dân dả, chớ gái thị thiền thiếu chi.
Nói ga, chỉ xợ em cười
Tui đây chỉ thích những người gái quê
Mùi dầu dừa,tui gất mê
Mê luôn cả mái tóc thề của em.
Gái thị thiền,tui hổng ham
Cưới dìa hỏng biết chịu làm… guộng không ?
Hay là chỉ biết ngồi không
Lo xửa bóng xắc, buồn lòng tía tui.
Em ơi, đây có mấy lời,
Tui ti ít học, nhưng người xiêng năng
Mần guộng dỏi nhứt chong làng,
Mấy thằng chạc tủi, hổng bằng tui đâu.
Em mà ưng chịu làm dâu,
Tía má xẻ xắm mâm chầu hỏi ngay.
“Cưới dợ thì cưới liền tai,
Chớ để lâu ngày,thiên hạ dèm pha”
Ga diên xẻ thưa má ba,
Đến gặp thầy Xáu, coi ga tốt ngày
Tía má tui tính lâu nay,
Tui là con út, “phần mầy hưởng chung”.
Guộng dườn còn xáo chục công
Em dìa hai đứa mình cùng chung lo.
Tía má theo ông theo bà,
Căn nhà thừa tự, xẻ là của tui.
Đây đã kể gỏ đầu đui,
Đó làm chồng dợ, đề gồi đẻ con
Chỉ chừn phản một chục chơn,
Có nếp, có tẻ, thì còn dì dui.
Em ôi, xao hỏng chả lời
Thò lỏ con mắt nhìn tui mà cười???

(Bài thơ trên là “tâm tình” của một cậu dân quê tại Ngả Năm(Sóc Trăng),mà cũng cả miền Nam, vào khoảng thập kỷ 1950. Lời lẽ mộc mạc, phát âm sai chánh tả. . . Sau đây là nguyên bài đúng giọng và chánh tả.

GHẸO NGƯỜI DƯNG

Sông Ngả Năm chảy về năm ngả
Tui với em chắc có lương duyên
Mới gặp đã thấy thương liền
Mến người dân dả, (chớ gái) thị thiền thiếu chi(1)
Nói ra chỉ sợ em cười
Tui đây chỉ thích những người gái quê
Mùi dầu dừa, tui rất mê (2)
Mê luôn cả mái tóc thể của em.
Gái thị thiền,tui hổng ham
Cưới dìa hỏng biết chịu làm ruộng không?
Hay là chỉ biết ngồi không,
Lo sửa bóng sắc,buồn lòng tía tui.
Em ơi, đây có mấy lời
Tui tuy ít học, nhưng người siêng năng.
Mần ruộng giỏi nhứt trong làng
Mấy thằng trạc tuổi hổng bằng tui đâu.
Em mà ưng chịu làm dâu,
Tía má sẽ sắm mâm trầu hỏi ngay
Cưới vợ thi cưới liền tay
Chớ để lâu ngày thiên hạ dèm pha
Ra giêng sẽ thưa má ba,
Đến gặp thấy Sáu, coi ra tốt ngày.
Tía má tui tính lâu nay,
Tui là con út,“phần mầy hưởng chung”.
Ruộng vườn còn sáu chục công,
Em dìa hai đứa mình cùng chung lo.
Tía má … theo ông theo bà,
Căn nhà thừa tự, cũng là của tui.
Đây đã kể rõ đầu đuôi,
Đó làm chồng vợ, để rồi . . đẻ con.
Chỉ chừng khoản một chục trơn,
Có nếp có tẻ, thì còn gì vui
Em ơi, sao hổng trả lời
Thò lỏ con mắt, nhìn tui mà cười
Hoài Việt

(1)- Thị thiền là thị thành, (2)thời xưa, các cô thưòng dùng dầu dừa chải tóc cho óng mưọt. Ước gì, tui trẻ lại như khoảng 1960, và được một lần ngửi mùi dầu dừa trên mái tóc của một cô thôn nữ Sóc Trăng quê mình.

PS: Vì đây là tài liệu trích ra từ bài biên khảo khác, chúng tôi đã không ghi phần tài liệu tham khảo, cùng những chú thích khác. Chúng tôi sẽ cố gắng cho ra mắt baì biên khảo về “Miền Nam.”

L’image contient peut-être : nourriture
L’image contient peut-être : 1 personne, sourit, plein air
L’image contient peut-être : 1 personne, sourit
L’image contient peut-être : plante, arbre, fleur, nature et plein air
L’image contient peut-être : 3 personnes, personnes souriantes, personnes debout, plante, arbre, ciel, plein air et nature
+9

 

CẢI LƯƠNG VIỆT | Phát biểu của GS Trần Văn Khê


CẢI LƯƠNG VIỆT | Phát biểu của GS Trần Văn Khê

Published on Oct 26, 2016
Chào cả nhà cải lương việt nam với tiêu chí bảo tồn và phát huy cội nguồn dân tộc.Kênh được lập ra để giúp kết nối những người yêu ca cổ tình quê hương xích lại gần nhau hơn.Với đầy đủ những video kinh điển thuộc thể loại cải lương xã hội,cải lương tuồng cổ nhằm phục vụ mọi người xem,sở thích mỗi người.Rât mong mọi người luôn ủng hộ ca cổ tình quê hương. ♫ Fanpage Cải Lương Việt Nam: https://goo.gl/RV2Xtp ♫ Google + : https://goo.gl/AhGpxi ♫ Tuyển tập cải lương xã hội hay nhất : https://goo.gl/Svg9sx ♫ Đăng kí kênh để cập nhật những bộ phim cải lương mới nhất: https://goo.gl/0jTDQd ♫ Hát Văn, Chèo Tuồng Tuyển Chọn : https://goo.gl/YUyef8 ♫ Nhạc Quê Hương Tuyển Chọn : https://goo.gl/kPEm6C ♫ Cải Lương Hồ Quảng Sân Khấu Dân Gian : https://goo.gl/SfrmS5 ——————- ► Copyright © 2015 BH Media Corp

VĂN LAN/NGƯỜI VIỆT : LỄ GIỖ TỔ HÁT BỘI 2017 đầy bản sắc dân tộc, tại Little Saigon, Calif, Hoa Kỳ


Little Saigon: Lễ Giỗ Tổ Hát Bội 2017 đầy bản sắc dân tộc

Văn Lan/Người Việt

Gio-to-hat-boi-2017-01.jpg
Các nghệ sĩ trước bàn thờ Lễ Giỗ Tổ Hát Bội 2017. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

WESTMINSTER, California (NV) – Lễ Giỗ Tổ Nghiệp do Câu Lạc Bộ Văn Học Nghệ Thuật Hát Bội, với sự hướng dẫn của nghệ sĩ Ngọc Bầy, vừa trình diễn mừng tổ nghiệp hàng năm, vào lúc 1 giờ trưa Thứ Bảy, 30 Tháng Chín, tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt.

Tiếng trống chầu, tiếng trống con, các loại nhạc cụ đờn tranh, đờn cò, đàn kìm huyên náo cả thính phòng, làm mọi người nhớ lại thời trước, với những ngày Lễ Kỳ Yên, hoặc cúng đình đầu năm.

Chín tiếng trống khai chầu vang lên, nghệ sĩ Ngọc Bầy dẫn đầu đoàn nghệ sĩ, trong trang phục cổ truyền, mỗi người cung kính mang trước ngực một chậu hoa vàng nhỏ tượng trưng lòng thành kính, trang nghiêm tiến lên sân khấu dâng hương, và dàn nhạc trỗi lên cúng tổ.

Đặc biệt, lễ cúng tổ hôm nay có Giáo Sư Trần Văn Chi cầm chầu đánh trống. Trước khi trình diễn, giáo sư có phần diễn giải cho khán thính giả hiểu về ý nghĩa của việc cầm chầu.

Giáo Sư Trần Văn Chi giải thích về cách cầm chầu, đánh trống chầu tại Lễ Giỗ Tổ Hát Bội 2017. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Giáo Sư Chi giải thích đi coi hát bội, không đơn thuần là chỉ thưởng thức bộ môn nghệ thuật, mà đó là cả một nền văn hóa, và cúng tổ nghiệp là để nhớ công ơn người sáng tổ, uống nước nhớ nguồn, cho người nghệ sĩ có được ngày hôm nay.

“Ngày xưa hát bội không có tờ chương trình phát sẵn như bây giờ, các điệu múa hát rất là biểu tượng, mang tính ẩn dụ, người thì vẽ mặt xanh đỏ trắng vàng, điệu bộ rất chuyên môn, lời ca tiếng hát thì dùng chữ Nho, khán thính giả không hiểu hết. Do đó hát bội phải được duyệt một cách nghiêm túc, và người cầm chầu thường là người đại diện cho địa phương đó, phải có sự hiểu biết và có uy tín. Khi nghe hát, đánh một tiếng trống là khen được, ba tiếng trống là khen hay, đánh liên hồi nhiều tiếng trống là xuất sắc, còn dở quá thì nhận được tiếng gõ đánh ngang hông trống, chỉ nghe tiếng lốc cốc mà thôi. Nghệ sĩ trình diễn được nhiều tiếng trống khen thưởng sẽ được thưởng tiền nhiều và mời đi diễn nhiều nơi nữa.”

Giáo Sư Chi cũng cho biết dân gian có câu “Ở đời có bốn cái ngu. Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu” là để chỉ cho việc cầm chầu rất khó thuyết phục, ông thì cho rằng diễn hay quá mà chỉ thưởng có một tiếng trống, bà thì ý kiến rằng hát tệ quá mà thưởng nhiều là không đúng. Nội dung tuồng tích hay là một chuyện, còn người diễn có nghệ thuật, chiếm cảm tình khán thính giả lại là chuyện khác. Do đó phải có người am hiểu, có uy tín và công bằng giữ nhiệm vụ đánh trống, coi hát bội phải có người diễn giải bằng tiếng trống để hướng dẫn người nghe là như vậy.

Kỳ này có một cải tiến rất mới trong khi hát cúng tổ, theo soạn giả Phạm Văn Phú cho biết, đó là một màn hình TV rất lớn đặt dưới sân khấu, giúp cho các nghệ sĩ mới vào nghề đứng trên sân khấu, có thể nhìn vào đó để nhớ lời mà hát. Đó là hình thức nhắc tuồng ngày xưa cho đến hôm nay vẫn còn áp dụng, vì lời diễn tuồng đôi khi bằng chữ Nho, rất khó nhớ, người diễn có khi thao thức suốt cả đêm để học bài cho thuộc.

Tiết mục mở màn là trích đoạn “Quang Trung Bắc Tiến” do các nghệ sĩ Thanh Long, Hồng Nga, và giáo sư Ngọc Bầy thủ diễn, nhận được từng tràng tiếng trống chầu khen thưởng, và tràng pháo tay nồng nhiệt, cùng khán thính giả thưởng tiền trong những màn trình diễn độc đáo.

Tiếp theo là trích đoạn “Trưng Trắc Tiễn Thi Sách” do Ái Liên và Lam Phương.D thủ diễn. Xen kẽ trong chương trình còn có các màn tân cổ giao duyên, với trích đoạn “Đêm Mê Linh”, Đình Hiếu và Ngọc Hà diễn, trích đoạn “Chiêu Quân Cống Hồ”, những bài tân nhạc, cùng dàn nhạc do các nhạc sĩ Hai Chơn (đờn kìm), Phương Nghi (đờn tranh), Ngọc Thanh (guitar cổ nhạc), Hoàng Thanh (ketboard) cùng dàn âm thanh, đã góp phần cho buổi diễn hết sức thành công, với tiếng trống chầu khen thưởng dồn dập, tiếng vỗ tay tán thưởng trong không khí hết sức vui vẻ rộn ràng của ngày giỗ tổ.

Ông Lê Văn Đảo, cư dân Westminster, đi dự lễ cúng tổ hát bội hôm nay mà nhớ lại thời xa xưa, khi hát bội còn thịnh hành, vào những dịp cúng đình ở quê vào đầu năm mới, hoặc Lễ Kỳ Yên, có khi kéo dài suốt ba đêm, bà con tấp nập hương hoa trà bánh dâng cúng, có cả nguyên con heo quay, và hát bội dĩ nhiên là màn trình diễn không thể thiếu được.

“Tui là dân Bình Minh, thuộc tỉnh Vĩnh Long. Thời đó ba tôi được mời cầm chầu, đánh trống trong những dịp cúng đình. Tôi còn nhỏ, chưa biết thưởng thức nghệ thuật hát bội, chỉ đi theo lượm quạt giấy khán giả quăng lên sân khấu, trong đó có kẹp tiền thưởng nghệ sĩ trình diễn cho những đoạn hát hay. Thưởng tiền là một tục lệ tốt đẹp, bởi vì người nghệ sĩ chỉ biết đem hết tài nghệ ra trình diễn cúng tổ, còn thù lao thì có tính toán gì đâu. Nhứt là mọi người đi xem hát đều được mời bữa ăn trưa, cùng nhau hưởng lộc Tổ, giống y hệt hồi xưa,” ông Đảo hào hứng kể.

Các nghệ sĩ trong trích đoạn “Đêm Mê Linh” tại Lễ Giỗ Tổ Hát Bội 2017. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Cô Huê Mỹ, người đi xem, cho biết “hồi nhỏ ở xóm Bùi Viện, Quận 1 Sài Gòn, nơi có nhiều đào kép cư ngụ.”

“Hát bội và cải lương đã thấm vào lòng từ hồi nào, hồi nhỏ má tôi hay dẫn đi coi hát, bà nói ông vẽ mặt đen dữ lắm, còn ra bộ như đi ngựa. Ông xã tôi lúc trước thích tân nhạc, nhưng bây giờ lại mê vọng cổ và hát bội, ông nói những bộ môn này quá hay, nó đi sâu vào lòng người, dễ cảm mến và rất gần gũi với tâm hồn Việt. Hôm nay đi nghe chương trình này, tui thấy thấm vô cùng, rất cảm phục cô Ngọc Bầy cố ráng giữ nền văn hóa cổ truyền bao năm nay, ra tới hải ngoại vẫn tiếp tục dạy học trò bộ môn này,” cô Huê Mỹ kể lại chuyện xưa đã hơn 50 năm rồi.

Giáo Sư Trần Văn Chi cho biết, ông Quốc Thái, tổng giám đốc đài truyền hình Vstar sẽ cố gắng thiết lập một chương trình hát bội hàng tuần, để phát hình cho bà con thuởng thức những tuồng tích hay, cũng là để giới thiệu đến công chúng, nhất là các em nhỏ sinh ra và lớn lên tại Mỹ, hiểu được loại hình nghệ thuật này, cũng là bảo tồn văn hóa cổ truyền dân tộc, rất đáng trân trọng.

Cô Ngọc Hiền, cư dân Westminster, nghệ sĩ trẻ nhất trong đoàn, học trò của giáo sư Ngọc Bầy được hơn 3 tháng nay, cho biết: “Hiện nay bộ môn hát bội ở Mỹ bị mai một, lớp trẻ chúng em muốn truyền bá cho thế hệ trẻ ở đây nét tinh hoa văn hóa của dân tộc, bộ môn này được tiếp nối như là nghệ thuật cao cấp của cung đình. Để tiếp cận và phổ biến bộ môn này, em xin thọ giáo cô Ngọc Bầy, cũng nhờ được học kịch nghệ từ trước nên mạnh dạn hôm nay đóng vai Bùi Thị Xuân để góp mặt cùng các anh chị trong đoàn.”

Giáo Sư Dương Ngọc Bầy ngỏ lời cảm ơn đến nhật báo Người Việt đã ủng hộ phòng hội của báo cho Lễ Giỗ Tổ. Giáo Sư Trần Văn Chi cũng ngỏ lời cảm ơn đến tất cả đồng hương, vì lòng trân quý với bộ môn hát bội mà đến xem diễn. Ông nói tuồng tích diễn có hay cách mấy mà không có người coi thì kể như không có ý nghĩa gì.

https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/little-saigon-le-gio-hat-boi-2017-day-ban-sac-dan-toc/?utm_source=NV+Newsletter&utm_campaign=6a6bc64094-EMAIL_CAMPAIGN_2017_10_03&utm_medium=email&utm_term=0_cf5f0a479c-6a6bc64094-157443129

This blog is focused on Trân Quang Hai