BẾN TRE XƯA TUYỆT ĐẸP QUA NHỮNG HÌNH ẢNH HIẾM HOI


BẾN TRE XƯA TUYỆT ĐẸP QUA NHỮNG HÌNH ẢNH HIẾM HOI

Published on Apr 24, 2018

Theo Nghị định ngày 22 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đổi tên tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt (Sở tham biện) Bến Tre trở thành tỉnh Bến Tre (chỉ gồm có cù lao Bảo và cù lao Minh, có bốn quận: Châu Thành, Ba Tri, Mỏ Cày và Thạnh Phú; đến năm 1948 cù lao An Hóa thuộc Mĩ Tho mới được chính quyền cách mạng nhập vào phần đất Bến Tre.)[9] Năm 1912, tỉnh thành lập 4 quận là Ba Tri, Sóc Sải, Mỏ Cày, Thạnh Phú. Từ ngày 1 tháng 1 năm 1927, quận Sóc Sải được đổi tên thành quận Châu Thành. Từ ngày 22 tháng 10 năm 1956, tỉnh Bến Tre đổi tên thành tỉnh Kiến Hòa và gồm 9 quận là Ba Tri, Bình Đại, Châu Thành, Đôn Nhơn, Giồng Trôm, Hàm Long, Hương Mỹ, Thạnh Phú, Trúc Giang. Tỉnh lị tỉnh Kiến Hòa đổi tên là Trúc Giang. Tuy nhiên, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công nhận tên gọi tỉnh Kiến Hòa mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Bến Tre. Tháng 2 năm 1976, tỉnh Kiến Hòa đổi thành tỉnh Bến Tre. Cuối năm 2004, tỉnh Bến Tre bao gồm thị xã Bến Tre và 7 huyện: Ba Tri, Bình Đại, Châu Thành, Chợ Lách, Giồng Trôm, Mỏ Cày, Thạnh Phú.

Tổng hợp 50 món ăn đặc sản ngon nhất khắp vùng miền Việt Nam


Tổng hợp 50 món ăn đặc sản ngon nhất khắp vùng miền Việt Nam

Ajoutée le 8 oct. 2017

Tổng hợp những món ăn ngon nhất việt nam, những món đặc sản việt nam được ưa chuộng nhất, món ăn ngon, món ăn đường phố, món ăn đặc sản,ẩm thực Việt 50 món ăn đặc sản nổi tiếng Việt Nam – Synthetic 50 best dishes Vietnam Phở Hà Nội, Chả cá Lã Vọng (Hà Nội), Bún chả (Hà Nội), Bún thang (Hà Nội), Bánh cuốn Thanh Trì , Lợn “cắp nách” 6 món Lai Châu, Thịt trâu khô Điện Biên, Phở chua Lạng Sơn, Chả mực Hạ Long Quảng Ninh, Gà Tiên Yên,Bún cá rô đồng, Bánh đa cua Hải Phòng, Bánh cuốn thịt nướng Phủ Lý Hà Nam, Bún đũa Nam Định, Dê núi Trường Yên 6 món Ninh Bình, Cơm cháy , Súp lươn, Chắt chắt , Bún bò Huế, Bánh bèo, Cơm hến, Bánh bột lọc nhân tôm, Bánh khoái Huế, Bánh tráng cuốn thịt lợn 2 đầu da, Mì Quảng Quảng Nam, , Bê thui Cầu Mống, Cá bống sông Trà, Món don , Bún chả cá Quy Nhơn, Yến sào, Bánh căn, Lẩu thả , Gà nướng KonPlông, Canh atiso hầm giò lợn

Ngọc Ánh : Giáo sư Trần Quang Hải: Người đưa âm nhạc Việt Nam đến khắp các châu lục


Giáo sư Trần Quang Hải: Người đưa âm nhạc Việt Nam đến khắp các châu lục

Tác giả:
Ngọc Ánh

Hơn 40 năm làm việc, nghiên cứu tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con Người ở Paris (Pháp) và tham gia giảng dạy tại nhiều trường đại học trên thế giới, Giáo sư Trần Quang Hải đã có những đóng góp lớn trong việc giới thiệu, quảng bá âm nhạc Việt Nam ra nhiều nước trên thế giới. Ông cũng là người sáng tạo ra nghệ thuật gõ muỗng độc đáo, người truyền dạy cho mọi người cách chơi đàn môi của dân tộc Mông…

Sinh ra trong gia đình có nhiều đời hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật-âm nhạc, lại là con trai trưởng của cố GS.TS âm nhạc Trần Văn Khê (1921-2015), Giáo sư Trần Quang Hải sớm được cha định hướng đi theo con đường nghiên cứu âm nhạc cổ truyền của dân tộc. Tốt nghiệp khoa violin tại Trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, ông sang Pháp tiếp tục học nâng cao về violin, sau đó đổi sang học các loại nhạc cụ dân tộc và lấy bằng Tiến sĩ âm nhạc dân tộc của người Việt tại Pháp.

Giáo sư Trần Quang Hải biểu diễn kèn môi.

Trong thời gian làm việc, định cư ở Pháp, Giáo sư Trần Quang Hải tham gia hoạt động trong nhiều tổ chức âm nhạc, đặc biệt là Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Pháp và Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương-nơi cha ông từng công tác. Từ vị thế này, ông có điều kiện đưa âm nhạc dân tộc của Việt Nam đến với công chúng hơn 70 nước trên thế giới; đặc biệt là môn nghệ thuật gõ muỗng và đàn môi của dân tộc Mông.

Từ những chiếc muỗng bình thường vốn được làm ra để phục vụ nhu cầu ẩm thực, qua bàn tay tài nghệ và cách xử lý nhạc học độc đáo của mình, Giáo sư Trần Quang Hải mang đến cho người xem những cung bậc kinh ngạc rồi thán phục. Để giúp mọi người tiếp cận dễ dàng với nghệ thuật gõ muỗng, GS.TS Trần Quang Hải đã tận tình hướng dẫn từ kỹ thuật căn bản như bẻ hai muỗng hơi cong, cho chúng đối đáy vào nhau, lấy ngón trỏ để vào chính giữa hai cán và nâng lên để hai chiếc muỗng luôn giữ một khoảng cách 2,5mm để tạo nên cao độ. Từ những kỹ thuật ban đầu này, những chiếc muỗng được sử dụng thành nhiều cách gõ khác nhau với các ngón tay, rồi kéo lên hết cánh tay hay đánh lên đùi, đánh lên miệng, đánh thành bài bản…

Ngoài gõ muỗng, Giáo sư Hải còn truyền dạy cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài cách chơi đàn môi của dân tộc Mông. Ông giải thích, đàn môi là một loại nhạc cụ độc đáo có mặt ở 30 nước trên thế giới chứ không phải chỉ có ở Việt Nam. Ở châu Âu, đàn môi rất thông dụng với nhiều tên gọi khác nhau. Ở Anh người ta gọi đàn môi là jew’s harp, Pháp là guimbarde, ở Đức và Áo được gọi là maultrommeln…. Đàn môi có nhiều hình dáng và chất liệu khác nhau nhưng đều có hai bộ phận chính là khung cố định và lưỡi gà di động. Đàn môi ở các nước châu Mỹ được làm bằng thép, sắt, đồng hoặc nhôm, kiểu dáng giống nhau. Còn tại châu Á, tùy theo truyền thống và bản sắc từng dân tộc mà đàn môi ở mỗi nước có độ dài ngắn khác nhau với tên gọi rất đa dạng: mukkuri (Nhật Bản), genggong (Bali), kubing (Philippin). Ở Việt Nam, đàn môi là một trong những nhạc cụ được đồng bào các DTTS ưa chuộng. Thời xa xưa, đàn môi của dân tộc Jrai được làm bằng kim khí, của dân tộc Mông làm bằng đồng thau và dân tộc Ba Na, Ê-đê được làm bằng tre…

Năm 2017, nhân chuyến về nước, ông đã trao tặng cho Viện Âm nhạc Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam 40 kiện gồm: 1.000 quyển sách, từ điển, 500 đĩa nhạc cùng một số tư liệu khác của tất cả các tác giả nghiên cứu về âm nhạc dân tộc ở các nước trên thế giới. Giáo sư Trần Quang Hải chia sẻ: “Tôi đã làm công việc mà ba tôi đã từng trao gửi, để góp phần với quê hương, để lại những gì tốt đẹp nhất cho âm nhạc dân tộc thông qua những công trình nghiên cứu của tôi”.

Để gìn giữ và phát triển nhạc cổ truyền dân tộc, Giáo sư Trần Quang Hải cho rằng, điều cấp thiết nhất là cần có sự đào tạo tốt tại Việt Nam, làm thành một phong trào để có nhiều người tiếp nối, giảng dạy, theo nghề. Nên tổ chức những hội thảo, phác họa chương trình giáo dục âm nhạc trong nhà trường, quan tâm đến việc giáo dục âm nhạc từ nội thành đến vùng sâu, vùng xa, để ngay từ nhỏ các em học sinh đã có một kiến thức căn bản về âm nhạc Việt Nam, sau đó học thêm về nhạc cổ điển Tây phương và các nước láng giềng…

Bên cạnh đó, các đài truyền hình nên thực hiện những chương trình giáo dục âm nhạc, định hướng âm nhạc, giới thiệu những nét tinh hoa, độc đáo, tiêu biểu của nhạc truyền thống dân tộc Việt Nam và các nước trên thế giới đến với công chúng cả nước.

Tác giả: Ngọc Ánh

http://www.hoinhacsi.vn/giao-su-tran-quang-hai-nguoi-dua-am-nhac-viet-nam-den-khap-cac-chau-luc-0

Thúy Cải – Thúy Hường | Những Ca Khúc Dân Ca Quan Họ Bắc Ninh Mê Mẩn Lòng Người


Thúy Cải – Thúy Hường | Những Ca Khúc Dân Ca Quan Họ Bắc Ninh Mê Mẩn Lòng Người

Ajoutée le 11 juil. 2017

Thúy Cải – Thúy Hường | Những Ca Khúc Dân Ca Quan Họ Bắc Ninh Mê Mẩn Lòng Người

Vĩnh biệt nhạc sĩ Tô Thanh Sơn (1949-2018)


to thanh son (1949-2018).jpg

Vĩnh biệt nhạc sĩ Tô Thanh Sơn
Nhận được tin buồn trong tối chủ nhật, người nhạc sĩ có bài hát nổi tiếng “Chút kỷ niệm buồn” – Tô Thanh Sơn đã ra đi đột ngột, để lại nhiều thương tiếc cho những ai yêu thích ca khúc trữ tình này.
Nhạc sĩ Tô Thanh Sơn sinh năm 1949 tại Hồng Ngự, Đồng Tháp. Ông là em của nhạc sĩ Tô Thanh Tùng – người cũng vừa qua đời cách đây không lâu trong sự thương tiếc của nhiều khán thính giả yêu âm nhạc.
Gần 30 năm sáng tác, nhạc sĩ Tô Thanh Sơn vẫn mang nặng nỗi buồn của người nhạc sĩ nghèo, viết ca khúc không ai hát. Tưởng chừng ông hết hy vọng thì vào năm 1999, một người bạn nghe được ca khúc “Chút kỷ niệm buồn”, thấy hay nên mang đi giới thiệu giúp, không ngờ được khán thính giả trong và ngoài nước yêu thích. Từ đó, các sáng tác khác như “Thầm lặng”, “Ba năm anh yêu em âm thầm”, “Giọt mưa đêm”, “Vùi chôn kỷ niệm”, “Một lần gặp em”, “Đêm tiễn biệt”, “Đi tìm dĩ vãng”, “Chờ em trong mưa”, “Giọt mưa đêm”… đã được công chúng biết đến rộng rãi.
Tang lễ của nhạc sĩ Tô Thanh Sơn được tổ chức tại tư gia (số : 171 Điện Biên Phủ, An Thạnh, TX. Hồng Ngự, Đồng Tháp). Lễ động quan lúc 11giờ ngày 23-4, sau đó an táng tại đất nhà.
Thắp nén hương tưởng nhớ đến nhạc sĩ Tô Thanh Sơn. Tiễn đưa ông về đất mẹ, khán giả vẫn mãi yêu thích những sáng tác của ông.
#tothanhson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia : Hát then


Hát then

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Hát then là một thể loại ca nhạc tín ngưỡng của người Tày, Nùng. Mang trường ca, mang màu sắc tín ngưỡng thuật lại cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin Ngọc hoàng giải quyết một vấn đề gì đó cho gia chủ.

Mục lục

Nhạc cụ và lời hát

Âm nhạc là yếu tố xuyên suốt cuộc hát then. Hát then có nhiều bài bản, làn điệu. Người Tày, người Nùng không kể tuổi tác, giới tính, những người mê tín cũng như không mê tín rất thích nghe hát then. Một vài tộc khác như người Mông, Việt ở trong vùng cũng tiếp nhận thể loại hát này trong đời sống tinh thần của mình.

Lời hát theo hình thức diễn xướng tổng hợp ca nhạc Đàn tính, múa, diễn với nhiều tình huống khác nhau. Đảm nhiệm chức năng của một diễn viên tổng hợp. Họ vừa hát, tự đệm, vừa múa và diễn để thể hiện nội dung câu hát, đôi khi còn biểu diễn cả những trò nhai chén, dựng trứng, dựng gươm…

Trong hát then mỗi làn điệu then thì sắp xếp các đoạn khác nhau.có thể hiểu là đi theo những đường khác nhau hay dùng những lời hát khác nhau nhưng đều tuân theo một bài bản và kết thúc đều có kết quả giống nhau, đường đi giống nhau.Trong tất cả thể loại hát then đều qua cùng những chỗ đường đi như nhau.Lúc thì lên rừng núi non thượng ngàn,khi thì lên thiên.Thường là vạn lấy hồn lấy vía siêu lạc ở các chốn về.Hay săn bắt bắn lấy những con thú trên rừng về để giải hạn,khao tổ tiên,khao mẫu sinh hay mẹ sinh(mẫu ban lộc sinh đẻ).Đến đọan cuối cùng là qua hải hay còn gọi là khảm hải:là cửa ải cuối cùng vượt qua đây là đến được những nơi cần đến như:cửa mẹ sinh,vua cha ngọc hoàng hay vài chỗ quan trọng khác…tùy loại then.xong việc hồi lại binh mã trở về bàn sơn hay bàn thản gốc pháp,khao binh rồi tổ tiên gia chủ là xong việc(khao lao).Tất cả các thể loại then với đội quân binh hùng hậu đều trải qua những chỗ quan trọng sau:1 sắp xếp binh sắp xếp mã chuẩn bị lên đường xế lễ.2 xuất pháp để điều khiển binh lính.3 khao binh.4 kính thầy kính pháp chứng kiến con hiệu đệ tử xê pang.5 xê lễ đến thổ công rồi vào cửa thổ công xét(thổ công nhập vào đồng và phán cho gia chủ biết về đất đai vận hạn)6xê lễ đến bếp (táo quân)rồj vào cửa xét,cửa này có thể 1số loại then không cần vào.7xê lễ đẳm cha(tổ tiên gja chủ)rồi vào cửa xét.8xê lễ tiếp lên nàng sliên(cửa thánh cửa tiên cửa này ăn chay hoặc ăn mặn tùy vào luật lệ nhà gja chủ và đặc biệt cửa này chỉ có ở người nùng,tày không có nếu có thì được gọi là cửa tướng cửa pật(then)theo cách gọi của người tày.9xê lễ qua nàng sliên rồi lên rừng pắt mèng pắt ngoạn(bắt một loại công trùng gần giống với ruồi về để cởi lời thề câu tội và cầu bình an cho trẻ con trong nhà)10 đón vía ở cây lạng rồi đến cây vạt trên trời về.11 lên chợ Đinh Trung trên trời để vui chơi và mua đồ còn thiếu mua tài lộc về cho gja chủ.12 xê lễ đến chỗ mượn gậy yêu tinh để đi lên rừng săn hươu nai.13 xê lễ qua đoạn cầu khắc cầu hai(chỗ mà dành cho những bọn làm then hay làm thầy không kiêng kị được bị chết oan ở đây để dọn đường dọn xá cho các binh mã xê lễ)14 khao binh mã rồi lên rừng săn hươu nai(sau khja săn được hươu nai sai lính lấy xuống cửa sông cửa hải để làm rửa sạch rồi làm thịt và sắp cỗ 30 cỗ tạp và 40cỗ chay.15 khảm hải xê lễ qua biển qua hải để tống sao hạn xuống sông và vạn lấy vía về nếu là then nùng thì còn có thêm đoạn hát sli mượt mà để vạn lấy hồn vía về.16 xê lễ đến nơi cần đến và giao lễ cho các thần,vậy là nhjệm vụ của nhà thầy nhà thánh,binh mã đã trọn vẹn,thong thả hồi lại binh mã trở về.vậy là cuộc hành trình dài lên rừng xuống núi,lên thiên xuống biển đã hoàn thành.tiếng hát then thần kì đến mức người đang ốm đau chỉ nghe thấy thôi coi như thấy nhẹ lại người.(then có nhiều tác dụng:chữa bệnh,giải hạn,cầu tài cầu lộc,thể hiện một nền văn hoá đa dạng của dân tộc.trên đây là tóm tắt về 1 thể loại then phổ biến của dân tộc nùng phàn slình. Thế Quan Âm

Các vùng hát then

Có ở 5 tỉnh miền núi Việt Bắc: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang. Hiện tại đã xuất hiện ở Tây Nguyên khi người Tày và người Nùng di cư đến. Mỗi vùng làn điệu then lại có những nét độc đáo riêng:

  • Then Cao Bằng dìu dặt tha thiết
  • Then Lạng Sơn tươi vui, rộn Ràng
  • Then Tuyên Quang dồn dập như thúc quân ra trận
  • Then Hà Giang nhấn nhá từng tiếng một
  • Then Bắc Kạn như chuyện kể thầm thì

Chú thích

Tham khảo

https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A1t_then