HAPPY BIRTHDAY TO BACH YEN MY BELOVED WIFE (09.06.2020)


 

What do you want to do ?

New mailCopy

HAPPY BIRTHDAY TO BACH YEN MY BELOVED WIFE (09.06.2020)

HAPPY BIRTHDAY TO BACH YEN MY BELOVED WIFE

WITH JOY AND HAPPINESS during her special day 09.06.2020

JOYEUX ANNIVERSAIRE À MA BIEN AIMEE BACH YEN

QUE CETTE JOURNEE SPECIALE LUI APPORTE JOIE ET BONHEUR 09.06.2020

Một bài thơ con cóc tặng người vợ đã chung sức với tôi trên 40 năm qua

Hôm nay mừng đón ngày sinh

Của người vợ quý mà mình cưng thương

Một ngày hạnh phúc yêu đương

Vợ chồng sát cánh trên đường dân ca.

Limeil Brevannes 09.06.2020

Trần Quang Hải

TRƯỜNG VŨ trổ tài nấu món Triều Châu | Món ngon nhà làm


What do you want to do ?

New mailCopy

TRƯỜNG VŨ trổ tài nấu món Triều Châu | Món ngon nhà làm

854,961 views
Premiered Mar 10, 2020

10K 442 Share

TRƯỜNG VŨ TRỔ TÀI NẤU MÓN TRIỀU CHÂU | MÓN NGON NHÀ LÀM #truongvu #truongvusinger #monngonnhalam *** Đăng ký kênh để đón xem những video mới nhất từ Trường Vũ nhé! Chúc tất cả các bạn luôn vui, khỏe và an lành!

 

Trương Như Bá – Kyluc.vn: Đặng Văn Khai Nguyên – Người kế vị “vua đàn môi” Việt Nam


 

What do you want to do ?

New mailCopy

Đặng Văn Khai Nguyên – Người kế vị “vua đàn môi” Việt Nam

12-08-2016

(Vietkings) Mới ngoài 20 tuổi Đặng Văn Khai Nguyên đã chơi được 25 loại Đàn môi, sở hữu 600 chiếc Đàn môi và đi biểu diễn loại đàn này ở nhiều nơi trong nước và châu Âu. Anh là học trò xuất sắc của GS.TS.Trần Quang Hải – người được tôn vinh là “vua muỗng” và “vua Đàn môi” của Việt Nam. Khai Nguyên được xem là người kế vị xuất sắc của GS.TS.Trần Quang Hải.

Qua e-mail GS.TS Trần Quang Hải từ Pháp với nội dung giới thiệu về một cậu học trò chơi đàn môi“Cậu Khai Nguyên năm nay 25 tuổi, là học trò đàn môi của tôi từ nhiều năm qua. Hiện Khai Nguyên chơi đàn môi giỏi hơn tôi và đã trình diễn ở nhiều chương trình truyền hình Việt Nam từ năm 2015”, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã tiếp nhận hồ sơ, xem xét, thẩm định và chính thức công bố xác lập kỷ lục Việt Nam đến chàng trai Đặng Văn Khai Nguyên.

Cổng Thông tin kỷ lục Việt Nam đã có cuộc trò chuyện cùng Khai Nguyên xung quanh chuyện sử dụng “chiếc Đàn tỏ tình” của các thanh niên dân tộc vùng cao Việt Nam này:

Chào anh, được biết anh là một trong số những môn sinh ưu tú về Đàn môi của GS.TS Trần Quang Hải, anh cho biết cơ duyên nào đã đưa anh đến với Thầy Hải và anh đã học “nghề” này trong bao lâu?

Đặng Văn Khai Nguyên: Cơ duyên đến với Đàn môi của tôi cũng rất tình cờ, khoảng 6 năm trước tôi được xem một chương trình Văn hoá nghệ thu�����t trên đài truyền hình, có giới thiệu GS.TS Trần Quang Hải từ Pháp về Việt Nam biểu diễn nghệ thuật Đàn môi và đánh muỗng, tôi rất ấn tượng những loại hình âm nhạc dân tộc độc và lạ này. Tôi tự tìm mua 2 cây Đàn môi H’mông đầu tiên để tập chơi và thời gian ngắn sau đó, tôi trực tiếp liên lạc qua email với GS.TS Trần Quang Hải để nhờ sự hướng dẫn chuyên môn và được ông hướng dẫn rất nhiệt tình, đồng thời nhận tôi làm học trò. Từ đó, hai thầy trò thường xuyên trao đổi với nhau qua email và các video clip hướng dẫn và thực hành, tính đến nay đã được 5 năm.

Màn biểu diễn đàn môi mang tên “Sơn ngôn” của Đặng Văn Khai Nguyên – Kỷ lục gia Việt Nam với kỷ lục Người chơi được nhiều loại đàn môi nhất.

Trước khi học Đàn môi, anh có học qua những loại Đàn nào chưa?

Đặng Văn Khai Nguyên:  Như đã nói ở trên, cái duyên đến với Đàn môi của tôi thật sự tình cờ, vì từ trước tôi không theo đuổi bất kỳ bộ môn nghệ thuật nào cũng như chơi một loại nhạc cụ nào khác.

Hiện nay anh chơi được tất cả bao nhiêu loại Đàn môi?

Đặng Văn Khai Nguyên: Hiện tại tôi chơi được hơn 25 loại Đàn môi của Việt Nam và trên thế giới, tiêu biểu nhất là Đàn môi H’mông Việt Nam, Đàn môi Morchang của Ấn Độ, Khomus của Yakutia-Nga, Karinding của Indonesia, Maranzano của Italia…

Vậy theo anh Đàn môi nào khó chơi nhất? Đàn nào là dễ chơi nhất?

Đặng Văn Khai Nguyên: Theo đánh giá chung của những người chơi Đàn môi thì Đàn môi đồng Kou Xiang của Trung Quốc là loại khó chơi nhất, ngoài ra còn có Đàn môi tre. Còn loại Đàn dễ chơi nhất có lẽ là Đàn môi H’mông Việt Nam, loại Đàn này nhỏ gọn, đặt lên miệng khảy là có thể tạo ra âm thanh, rất dễ tập chơi.

Vậy trước đây, Đàn môi chủ yếu được dùng như một phương tiện tỏ tình của các chàng trai cô gái ở vùng cao, thì ngày nay loại nhạc cụ này được sử dụng như thế nào?

Đặng Văn Khai Nguyên:  Hiện nay một số nhạc sĩ, nghệ sĩ chuyên nghiệp dùng Đàn môi để độc tấu hay hòa tấu với những nhạc cụ khác, ứng dụng Đàn môi trong âm nhạc điện tử, lồng tiếng, nhạc nền cho phim..sử dụng Đàn môi đang dần phổ biến hơn trước.

GS.TS Trần Quang Hải và trò cưng (Ảnh FB)

Đàn môi thường hòa tấu với các loại nhạc cụ nào?           

Đặng Văn Khai Nguyên: Ở Việt Nam, những người nghệ sĩ đã chuyển hóa và làm mới âm thanh của Đàn môi qua việc kết hợp với những nhạc cụ dân tộc khác để tạo một giai điệu mới lạ, hấp dẫn. Còn trên thế giới thì từ lâu Đàn môi được trình diễn độc tấu, song tấu hay tập thể, ngoài ra còn kết hợp với những nhạc cụ hiện đại như: trống, piano, organ, violon, didgeridoo (một loại sáo châu Úc) Hang (trống làm bằng kim thép), Beatbox (trống miệng)…

Anh chơi Đàn môi theo bài bản có sẵn (của nhạc sĩ sáng tác) hay tự phát từ cảm hứng của mình?

Đặng Văn Khai Nguyên: Hiện nay tôi vẫn chưa tìm được một bản nhạc nào dành riêng cho Đàn môi, mà Đàn môi chỉ được kết hợp với một số những nhạc cụ khác để tạo nên một tác phẩm hoàn chỉnh.

Hiện tại anh có tất cả bao nhiêu loại Đàn môi trên thế giới?

Đặng Văn Khai Nguyên: Về số lượng Đàn môi, hiện tôi có 600 cây Đàn (gọi là “cây Đàn” nhưng thực ra cây Đàn lớn nhất chỉ chừng 2 gang tay và cây nhỏ nhất chỉ bằng ngón tay út hoặc nhỏ hơn nữa), trong đó có hơn 100 cây của 25 nước trên thế giới (trên tổng số 30 nước có Đàn môi).

 

Bộ sưu tập đàn môi của Khai Nguyên

 

Nguyên nhân nào đưa anh đến với khán giả nước ngoài ở Italia, Nga? Cảm xúc của họ như thế nào khi nghe anh biểu diễn?

Đặng Văn Khai Nguyên: Qua một số thông tin từ báo chí, tôi có cơ hội được tập luyện một số tiết mục có Đàn môi trong chương trình âm nhạc dân tộc Việt Nam ở sự kiện triển lãm thế giới Expo Milano 2015. Ngoài ra do có kỹ thuật chơi Đàn môi Khomus (Yakutia-Nga) theo đúng truyền thống người Yakutia nên tôi đã được mời góp mặt vào một số chương trình truyền hình và báo chí của đất nước Italia, Nga. Khi biểu diễn xong, những tràng pháo tay nồng nhiệt của khán giả đã nói lên tất cả tình cảm mà họ đối với tôi cũng như tiếng đàn môi.

Đặng Văn Khai Nguyên trong một lần biểu diễn đàn môi (Ảnh Internet)

Nắm vững những nguyên tắc kỹ thuật, nghệ thuật của Đàn môi, anh đã chế tạo ra những chiếc Đàn môi nào của riêng anh chưa?

Đặng Văn Khai Nguyên: Hiện tại tôi đã sáng tạo ra được các loại Đàn môi tre với đủ kỹ thuật chơi là “Khảy”, “Gõ” và “Giật dây”. Tôi là nghệ nhân Đàn môi đầu tiên trên thế giới sáng chế và thực hành thành công loại Đàn môi tre có từ 1 đến 4 lưỡi, ngoài ra còn tạo thêm một số loại Đàn môicó hai đầu (Đàn môi hai đầu với hai kỹ thuật chơi khác nhau) và Đàn môi tre bé bằng đầu đũa…Cũng xin nói thêm, vừa qua một Viện Bảo tàng chuyên Sưu tập các loại Đàn môi trên thế giới (đặt tại Nga) có lời mời tôi gửi vào Bảo tàng ấy một bộ Đàn môi tre do tôi sáng chế. Có lẽ trong năm nay, Bộ Đàn môi tre của tôi sẽ hiện diện ở một khu trưng bày nào đó của Bảo tàng này.

 

Khai Nguyên nhận bằng xác lập kỷ lục Việt Nam trong Hội ngộ Kỷ lục gia Việt Nam lần thứ 31

Cho biết cảm tưởng khi được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục: “Người chơi được nhiều loại Đàn môi nhất”?

Đặng Văn Khai Nguyên: Tôi thật sự vui mừng vì những cố gắng của mình trong việc sưu tầm, nghiên cứu và chơi được nhiều loại Đàn môi đã được cộng đồng người yêu nhạc, yêu văn hóa truyền thống Việt Nam biết đến. Xin chân thành cảm ơn người Thầy yêu quý của tôi là GS.TS Trần Quang Hải đã hướng dẫn, dìu dắt tôi để tôi có được ngày hôm nay. Cám ơn Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu, thẩm định để công nhận kỷ lục Việt Nam cho tôi với danh hiệu: “Người chơi được nhiều loại Đàn môi nhất”.

 

Cám ơn tài năng trẻ, chúc anh luôn vui khỏe và thành công trên bước đường nghệ thuật.

Clip Khai Nguyên biểu diễn đàn môi:

Trương Như Bá – Kyluc.vn

Trân Quang Hải : Một vài hình ảnh của Quái Kiệt Trần Văn Trạch , 2008


 

What do you want to do ?

New mailCopy

Trân Quang Hải : Một vài hình ảnh của Quái Kiệt Trần Văn Trạch , 2008

Một vài hình ảnh của Quái Kiệt Trần Văn Trạch

Hình ảnh
Trần Văn TrạchHình ảnhHình ảnh
Trần Văn Trạch & Bạch Yến , Saigon, 1963.Hình ảnh
Trần Văn Trạch & Hoàng Thi ThơHình ảnh
Trần Văn Trạch & Trần Quang Hải, Paris

Hình ảnh
Trần Văn Trạch hồi còn trẻ

Hình ảnh
Trần Văn Trạch & Đức Quỳnh, Saigon

 

Hình ảnh
Trần Quang Hải trước mộ Trần Văn Trạch, Valenton, 2003.

Tran Viet Hai: Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi.


Subject: Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi.Gia đình của nhạc sĩ Phạm Duy đã thông báo danh ca Thái Thanh, người được mệnh danh là Tiếng hát vượt thời gian, đã qua đời tại Mỹ vào lúc 11 giờ 20 ngày 17-3 (giờ địa phương). Hưởng thọ 86 tuổi.——————————————————————————–Also ref link:https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/tieng-hat-vuot-thoi-gian-danh-ca-thai-thanh-qua-doi-huong-tho-86-tuoi/————————————–Xin Thành Kính Chia Buồn cùng Tang Quyến.Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian: Trần Mạnh Chi, Pham Hồng Thái, Nguyên Hồng, Bùi Quỳnh Giao, Lâm Dung, Quốc Sĩ, Duy Nhật, Vương Trang, Ngọc Quỳnh, Minh Châu, Paul Phú, Mai Hương, Thanh Thanh, Henry, John Tạ, Ngọc Cường, Ngô Thiện Đức, Ngọc Tú, Thanh Châu, Kim Nga, Tâm Bùi, ThụyVy, Minh Coeur, Mộng Thủy, Bích Trâm, Bích Ty, Mindy Lưu, Kim Lý, Lý Tòng Tôn, Thanh Thanh, Lưu Anh Tuấn, Yên Sơn, Thụy Lan, Hồng Anh, Khánh Lan, Hồng Tước, Mạnh Bổng, Trọng Nghĩa, Phạm Đăng Khải, Thanh Mỹ, Hoàng Vinh, Quyên Di, Trần Huy Bích, Dương Viết Điền, Đặng Quý Mão, Nhật Uyên, Gina Nga, Katherine Lê, Nguyễn Quang, Lệ Hoa, và Trần Việt Hải, Thân hữu văn nghệ sĩ: Lam Phương, Cung Trầm Tưởng, Trần Quang Hải, Bạch Yến, Thái Tú Hạp, Ái Cầm, Kiều Chinh, Thanh Thúy, Thanh Châu, Thanh Tuyền, Cao Mỵ Nhân, Hồng Vũ Lan Nhi, Kim Tước, Thanh Tước, Bích Huyền, Cát Ngọc, Trần Phong Vũ Ngọc Vân, Bồ Đại Kỳ, Nguyễn Bá Thảo, Vũ Đức Âu Vĩnh Hiền, Vương Trùng Dương, Nguyễn Ngọc Chấn, Nguyễn Thanh Huy, Thanh Thương Hoàng, Vũ Hoài Mỹ, Trần Trung Đạo, Trường Sa, Hoàng Sa, Mỹ Chương, Lê Văn Khoa, Ngọc Hà, Khiếu Long, Nhược Thu, Thúy Anh, Nguyên Vũ, Vũ Hương Thơ, Tha Nhân, Ông Như Ngọc, Trần Quốc Bảo, Lê Đình Hải, Phạm Quốc Bảo, Phạm Kim, Võ Ý, Nguyễn Xuân Vinh, Phiến Đan, Nguyễn Văn Liêm, Phạm Gia Đại, Phạm Gia Cổn, Kiều Hạnh, Cát Biển, Lê Thị Hoài Niệm, Diễm Chi, Trần Quảng Nam, Trịnh Nam Sơn, Võ Tá Hân, Kim Châu, Kiều Mỹ Duyên, Ngọc Hoài Phương, Vũ Uyên Giang, Phan Bá Thụy Dương, Hà Nguyên Du, Đỗ Bình Paris, Phương Oanh Paris, Hà Phương Hoài, Hà Huyền Chi, Vũ Xuân Hùng, Huỳnh Kỳ Phát, Trung Nghĩa, Túy Vân MS, Nguyễn Thiện Lý, Vân Khanh SJ, Mỹ Trâm, Nguyễn Đăng Dũng, Michelle Mỹ Thanh NY, Phạm Ngọc Mai và Bích Phương Hạ Đỏ.Đồng Thành Kính Phân Ưu.————————————————————————–Thái Thanh – Những Tình Khúc Hay Nhất Thập Niên 90 Của Tiếng Hát Vượt Thời Gian Thái Thanh:https://www.youtube.com/watch?v=CJBIroCwfzA——————————————————————————–THÁI THANH : Tiếng Hát Tuyệt Vời (Việt Hải Los Angeles)Sáng thứ bảy một hôm khi thức dậy tôi nghe chuông điện reo, bên đầu giây bên kia là chị nhà thơ Vũ Hoài Mỹ (VHM) hớn hở khoe với tôi là tối hôm qua chị nghe nhạc, trong một CD có bài hát “Nửa Hồn Thương Đau”, nhạc của Phạm Đình Chương và do ca sĩ Thái Thanh (TT) hát, chị cảm thấy rất “phê”. Chị VHM lập đi lập lại câu nói: “Giọng Thái Thanh tuyệt vời, Thái Thanh thật tuyệt vời!”. Đoạn chị đọc tôi nghe bài thơ chị vừa làm khi cảm xúc nẩy ra khi nhớ về một nữ hoàng của nền ca nhạc Việt Nam. Tôi biết nàng thơ VHM, chị có biệt tài làm thơ rất nhanh và nhuyễn. Ngày hôm nay chị là người góp ý niệm khi đọc cho tôi nghe bài thơ mới cảm tác của chị về cô Thái Thanh qua đề tựa của bài thơ là:“Thái Thanh: Tiếng Hát Tuyệt Vời”:” Thái bình, mà tiếng ngậm ngùi.Thanh âm xưa ấm lòng người ngàn phươngTiếng êm mượt ướp trầm hươngHát ru day dứt “nửa hồn thương đau”Tuyệt tình, không vướng lụy “Sao”Vời trông đất Mẹ dạt dào tự do. “Chị VHM giải thích là sau năm 75, TT chán nản không trở lại nghiệp ca hát, không chạy theo luồng gió mới của buổi giao mùa. Câu thứ 5 chị ám chỉ sự kiện dứt khoát lập trường với chế độ mới trong buổi giao thời đầy “trăng sao”, tức thời buổi đầy nghi kỵ của chế độ cờ đỏ “sao” vàng.Tôi cảm nhận sự kiện “phê, phê” lại đến với tôi, tôi bắt ý khi đọc bài thơ của chị xong, tôi quyết định viết lên những cảm nghĩ riêng của mình bằng lời lẽ thay vì bằng những vần thơ như chị. Bài viết này mang cùng tên với bài thơ của chị vì đây là sự kiện thật sự, một true fact theo ý nghĩ của tôi. Trước đây có vài thân hữu khuyến khích tôi viết ghi nhận các ca nhạc sĩ có những đóng góp cho lãnh vực âm nhạc, tôi ngần ngại vì khi không đủ dữ kiện thì viết không trung thực được. Riêng về ca sĩ TT tôi rất muốn viết từ lâu rồi. Vì những ai sống tại miền nam Việt Nam trước năm 75 ít nhiều cũng biết TT và những nhạc phẩm mà cô hát. Rất nhiều người như các bạn tôi đều thú nhận trong đời họ, họ có những kỷ niệm riêng tư với tiếng hát TT. Và tôi cũng như họ. Tôi vội ghi bài thơ của VHM lên trang bià một tờ báo với hàng chữ hý hoáy, và liền leo vào “người tình hi-tech”, một đặc ngữ mà nhà tôi ám chỉ cái computer của tôi, tôi quý nó vì nó gắn liền với cái nội tâm tri giác của tôi.Tôi nhớ một chương trình trên đài truyền hình số 9 về quê hương của những năm trước mùa di tản năm 75, giọng hát TT được dùng làm nhạc đệm mở đầu chương trình khi chạy bài hát bài “Tình Ca” của nhạc sĩ Phạm Duy:“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơiMẹ hiền ru những câu xa vờiÀ à ơi! Tiếng ru muôn đờiTiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vuiKhóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơiTiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôiThoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi…”Rồi đậm đà hơn về tình ca quê hương, giang sơn gấm vóc cho con tim tôi thêm rung động qua giọng ca mà làn hơi ngân dài của tiếng hát vượt dòng thời gian này xuôi theo khắp nẽo đường đất nước, theo nhiều biến cố, vận nước nổi trôi để chúng ta còn nhớ mãi:“Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanhRuộng đồng vun sóng ra Thái BìnhNhìn trùng dương hát câu no lànhĐất nước tôi ! Dẫy Trường Sơn ẩn bóng hoàng hônĐất miền Tây chờ sức người vươn, đất ơiĐất nước tôi ! Núi rừng cao miền Bắc lửa thiêngLúa miền Nam chờ gió mùa lên, lúa ơiTôi yêu những sông trườngBiết ái tình ở dòng sông HươngSống no đầy là nhờ Cửu LongMáu sông Hồng đỏ vì chờ mongNgười yêu thế giới mịt mùngCùng tôi ôm ấp ruộng đồng Việt NamLàm sao chắp cánh chim ngànNhìn Trung Nam Bắc kết hàng mến nhau…”Giọng ca TT thanh thoát, xao xuyến tâm tư người nghe về đất nước, quê hương mến yêu. Kỷ niệm cũ đó vẫn mãi mãi ngự trị trong tâm hồn tôi khi tiếng ca mang những tình tự rất quê hương đưa người dân Việt phiêu du tâm hồn qua ba miền đất nước. Hoà lẩn bài “Tình Ca” này trong hồn tôi là bài “Tình Hoài Hương”, nhạc cũng do Phạm Duy:“Quê hương tôi, có con sông dài xinh xắnNước tuôn trên đồng vuông vắnLúa thơm cho đủ hai mùaDân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê.Quê hương tôi có con sông đào ngây ngấtLúc tan chợ chiều xa tắpBóng nâu trên đường bước dồnLửa bếp nồng, vòm tre non, làn khói ấm hương thôn!Ai về, về có nhớ, nhớ cô mình chăng?Tôi về, về tôi nhớ hàm răng cô mình cười!Ai về mua lấy miệng cườiĐể riêng tôi mua lại mảnh đời, thơ ngây thơ…!Mấy anh em họ Phạm thành lập một ban hợp ca lấy tên là ban THĂNG LONG (tên này đã được dùng làm bảng hiệu cho quán phở gia đình ở Chợ Đại, Chợ Neo trước đây). Rồi cũng trong tâm trạng lưu luyến dĩ vãng rất gần, Phạm Đình Viêm lấy tên là Hoài Trung (nhớ Khu 4 chăng ?), Phạm Đình Chương lấy tên là Hoài Bắc (1). Cô em út trong gia đình, Băng Thanh đổi tên là Thái Thanh để đi đôi với tên chị Thái Hằng.Một bản nhạc hay là điều cần thiết để thành công cho người nhạc sĩ. Tuy nhiên, cái yếu tố khác không kém phần quan trọng là người ca sĩ chuyển đạt bài hát đó có khả năng thuyết phục sự rung cảm đến người nghe bản nhạc đó hay không. TT hát với sự khéo léo vận dụng âm thanh theo tiết tấu của bài hát và diễn tả lời bài hát trong một kỹ thuật giao thoa đồng điệu của năng khiếu thiên bẩm. Tôi nhớ lại khi xem hoặc nghe TT diễn tả một cách thật truyền cảm và thật điêu luyện những nhạc phẩm mà TT đã trình bày như: Kỷ Vật Cho Em, Mùa Thu Chết, Nghìn Trùng Xa Cách, Trả Lại Em Yêu, Bà Mẹ Gio Linh hay Bên Cầu Biên Giới, Ngàn Thu Áo Tím,… Tôi cho là vô cùng tuyệt vời:“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lạiXin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime,Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã,Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngảAnh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa,Anh trở về trên chiếc băng caTrên trực thăng sơn màu tang trắng.Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lạiXin trả lời xin trả lời mai mốt anh về.Anh trở về chiều hoang trốn nắngPoncho buồn liệm kín hồn anhAnh trở về bờ tóc em xanhChít khăn sô lên đầu vội vã… Em ơi!Em hỏi anh. Em hỏi anh bao giờ trở lạiXin trả lời, xin trả lời mai mốt anh vềAnh trở lại với kỷ vật viên đạn đồng đenEm sang sông cho làm kỷ niệmAnh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗAnh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân.Em một chiều dạo phố mùa Xuân,Bên nguời yêu tật nguyền chai đá…”Lời bài hát “Kỷ vật cho em” buồn thảm, thê lương, giọng ca cao vút như ai oán của TT khiến tôi rung cảm cho người chinh phụ trong bài hát đối diện với cái rủi ro oan nghiệt của chiến tranh cho hạnh phúc đời nàng. Lần đầu tiên tôi nghe giọng TT ca bài hát này nó đã in sâu cái cảm xúc xoáy vào nội tâm tôi hay một sự chấp nhận mặc nhiên tiên khởi trong hồn tôi cho tới nay. TT cho âm thanh bài hát ngân nga lên xuống theo cung điệu nhịp hát, khi cô phát âm ngôn từ “Em ơi!”, tôi nghe rỏ và thích khúc này, sự kiện cho ta chút bùi ngùi, chút tình tứ cảm thông. Đây là bài hát phải do TT ca và vì cái tần số thính giác đã quen thuộc trong tiềm thức như là một định kiến khuôn mẫu có sẵn trong tôi.Tiếng hát của Thái Thanh với riêng tôi, tôi có những kỷ niệm thật êm đềm. Năm 1967-68, tôi thường đến nhà 2 cô bạn Mỹ Trâm và Mỹ Xuân trong hẻm lối vào kế bên hông đại học Vạn Hạnh, hai cô này học nhạc từ lò luyện tập ca hát của nhạc sĩ Nguyễn Đức, có nhiều lần tôi chứng kiến 2 cô đang tập dượt hát tại nhà, tôi ngồi xem khi hai cô nghe máy hát phát ra những bản nhạc của Phạm Duy do Thái Thanh hát, Mỹ Xuân hát giọng trầm, Mỹ Trâm có giọng hát cao trong trẻo, cao vút khi nàng bắt chước giọng TT. Tôi nghĩ có lẽ không thể nào sánh bằng, nhưng những hậu duệ vẫn lấy giọng ca TT làm chuẩn hay thước đo của sự tiến triển của giọng mình qua các bài như bài “Tiếng Đàn tôi”, nhịp điệu Tango:“Đời lạnh lùng trôi theo giòng nước mắt,Với bao tiếng tơ xót thương đời.Vì cuộc tình đã chết một đêm nao.Lúc trăng hãy còn thơ ấu!Dù đời tàn trên cánh nhạc chơi vơi.Thoáng nghe tiếng ai khóc ai cười.Người đẹp về trong lúc mùa thu rơi.Tiếng chuông tiễn đưa đến tôi.Mênh mông lả lơi!Đàn trầm xa lánh cõi đời.Mênh mông lả lơi!Lạnh lùng em đã rời tôi.Khoan, khoan, hò ơi!Người về xa tắp không lời.Khoan, khoan, hò ơi!Lệ sầu rụng xuống đàn tôi…”Bài ca khác qua giọng hát TT được 2 cô tập dượt mà tôi còn nhớ là “Ngày đó chúng mình”, một bài tình ca với nét nhạc trữ tình, nhẹ nhàng, du dương, giọng ca TT bắt đầu:“Ngày đó có em đi nhẹ vào đờiVà mang theo trăng sao – đến với lời thơ nuốiNgày đó có anh mơ lại mộng ngờiVà se tơ kết tóc – giam em vào lòng thôiNgày đôi ta ca vui tiếng hát vói đường dàiNgâm kẽ tiếng thơ, khơi mạch sầu lơiNgày đôi môi đôi môi đã quyết trói đời ngườiôi những cánh tay đan vòng tình áiNgày đó có ta mơ được trọn đờiTình vươn vai lên khơi – tới chín trời mây khóiNgày đó có say duyên vượt biển ngoàiTrùng dương ơi! Giữ kín cho lâu đài tình đôi …”Một bài hát khác của nhạc sĩ Phạm Duy là bài “Tiếng Sáo Thiên Thai”, một ca khúc chứa đựng nhiều lời thanh thoát ca tụng vẽ đẹp thiên nhiên, khi TT cất tiếng hát thì hồn tôi có cảm giác thật “thiên thai”, khúc nhạc mang âm thanh thư thái:“Xuân tươi!Êm êm ánh xuân nồng,Nâng niu sáo bên rừng,Dăm ba chú Kim đồng…Tiếng sáo,Nhẹ nhàng lướt cỏ nắng,Nhạc lòng đưa hiu hắt,Và buồn xa buồn vắng,Mênh mông là buồn!Tiên nga, buông lơi tóc bên nguồn,Hiu hiu lũ cây tùng,Ru ru tiếng trên cồn…Mây ơi!Ngập ngừng sau đèo vắng,Nhìn mình cây nhuộm nắng,Và chiều như chìm lắng,Bóng chiều không đi…”Rồi một bài hát mà giọng ca TT đã làm lòng tôi dâng lên nỗi buồn man mác là bản “Hoa Rụng Ven Sông”:“Giờ đây trên sông hoa rụng tơi bờigiờ đây em ơi cơn mộng tan rồilòng anh tan hoangthôi vỗ tình ơingày như theo sôngbóng xế tàn rơiCòn đâu em ơi còn đâu ánh trăng vàngcòn đâu ánh trăng vàngmơ trên làn tóc rốicòn đâu em ơi còn đâu bước chân ngườicòn đâu bước chân ngườimơ trên đường chiều rơiCòn đâu đêm sang lá đổ rộn ràngcòn đâu sương tan trăng nội mơ màngcòn đâu em ngoantóc rối ngổn ngangtuổi em đôi mươixuân mới vừa sang…”Tôi nhận xét trong lịch sử âm nhạc Việt Nam thì nhạc Phạm Duy và tiếng hát Thái Thanh có sự liên hệ mật thiết, bất khả phân ly, vì nhiều bài ca của Phạm Duy được sáng tác ra chỉ để giọng ca TT đem lên đỉnh cao đúng vị trí của nó, và ngược lại nhạc Phạm Duy cũng đem tiếng hát TT vào sự đam mê, ngưỡng mộ, thần tượng cô nhiều hơn đối với hàng nhiều, thật nhiều người, trong đó có nhiều ca sĩ tập sự như Mỹ Trâm, Mỹ Xuân,… Nhiều bài viết đã nói nhiều về tương quan giữa nhạc Phạm Duy và tiếng hát Thái Thanh, và đó là tương quan hai chiều bổ sung lẫn nhau.Qua nhiều bài hát từ các bài vừa nói trên hay Ngày Xưa Hoàng Thị, Tiễn Em, Dòng Sông Xanh, Nụ Tầm Xuân, Tìm Nhau, Giết Người Trong Mộng, Em Lễ Chùa Này, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng,… hay Đừng Xa Nhau mà Mỹ Trâm nghe nhiều lần học kỹ thuật ca của TT:“Đừng xa nhau! Đừng quên nhau!Đừng rẽ khúc tình nghèoĐừng chia nhau nỗi vui niềm đau.Đừng buông mau! Đừng dứt áo!Đừng thoát giấc mộng đầu,Dù cho đêm có không bền lâu.Đời phai mau, người ghen nhau,Lòng vẫn cứ ngọt ngào,Miệng ru nhau những ân tình sâu.Đừng xôn xao, đừng khóc dấu,Đừng oán trách phận bèo,Vì sông xa vẫn trung thành theo…”Tôi biết tôi có viết về giọng ca Thái Thanh, dù là ghi nhận lại hay quảng bá giọng ca này là độc đáo hay xuất chúng thì cũng bằng thừa, nhưng vì có vài người bạn thân khuyến khích tôi nên viết ra những cảm nghĩ của mình và bạn bè về giọng ca vàng Thái Thanh đã làm mưa, làm gió, tung hoành trong vườn ca âm nhạc Việt Nam trong bao năm qua. Tôi nẩy ra ý nghĩ đi gom góp ý kiến của các bạn, rồi đúc kết những ý nghĩ của họ lại trong một bài viết về người ca sĩ của sự mến mộ chung này của quần chúng. Phần kế tiếp tôi xin trích các emails được phúc đáp từ một số thân hữu trong giới thi, văn và nhạc để tìm hiểu xem giọng ca TT có kỷ niệm nào với họ hay họ nghĩ sao về giọng hát này. Nào, chúng ta hãy xem sự ghi nhận của các bạn qua những lời nhận xét sau đây:Nhạc sĩ trẻ Nguyễn Thiện Doãn cung cấp cho tôi những lời tận đáy lòng của anh về tiếng ca của Thái Thanh:“Vào thuở 18 tuổi khi vừa lớn, Thiện Doãn vẫn thích nhất bài Khi Tôi Về do Phạm Duy sáng tác và Thái Thanh trình bầy. Lời và nhạc, đối với Thiện Doãn, đã quá hay, nhưng nếu không có giọng hát của ca sĩ Thái Thanh thì chưa chắc đã làm NTD phải chú tâm mà ưa thích trong lúc cái tuổi đời mình chưa đủ để phải cưu mang và suy tư (Tam thập nhi lập, Tứ thập nhi viễn chi). Tuy lúc đó còn trong lứa tuổi mới lớn, yêu đương bồng bột, sá gì đến chuyện chiến chinh và thanh bình, nhưng không hiểu sao cứ mỗi lần nghe ca sĩ Thái Thanh cất lên với giọng trong veo, vút tầng mây để rồi giọng ca ấy lẽn vào tâm tư mình với nhiều hình tượng và mơ ước: “Khi tôi về, con chim bồ câu nằm trong tổ ấm khi dây thép gai đã hết rào quanh đồn phòng ngư. Và người lính đã trở về bờ ruộng nương đã một lần hoang phế và hôm nay anh cày đám ruộng xưa khi anh về đường đồng quê lối cũ. Con diều bay hồn nhiên, đùa bay trong chiều lộng gió thanh bình. Ôi, chốn quê nhà trên thảm cỏ xanh… Chắc chắn là mơ ước về một quê hương thanh bình, hiền hoà của miền quê mộc mạc, của quê hương đầy ắp tình tự và thâm thúy qua lời nhạc, tiếng ca được gói ghém trong bài “Khi Tôi Về. Con cò lại bay trên đồng ruộng xanh Tre già bảo nhau cúi đầu trầm ngâm Cùng mùi khói lam quen thuộc…”.Đến những năm cuối thập niên 80’s thì lại được dịp nghe những bài Đạo Ca của nhạc sĩ Phạm Duy qua giọng hát tuyệt vời quen thuộc của nữ ca sĩ Thái Thanh. Giọng ca của ca sĩ Thái Thanh đã để lại trong tâm hồn Thiện Doãn một ấn tượng miên man, to lớn. Bên cạnh những dòng nhạc thanh thoát của nhạc sĩ Phạm Duy, những hòa âm điêu luyện của nhạc sĩ Duy Cường, lời thơ nỗi tiếng của thi sĩ Phạm Thiên Thư, tiếng hát thánh thót như chim sơn ca của ca sĩ Thái Thanh đã chuyên chở những vàng son về ý niệm của dòng nhạc và lời ca rót vào lòng người nghe mà trong đó có Thiện Doãn là một ví dụ điển hình. Tuy tuổi đời còn trẻ so với những bậc trưởng thượng, TD vẫn xin được ghi nhận nơi đây lòng kính phục và trân qúy đến với nữ ca sĩ Thái Thanh nói riêng, và các nhạc sĩ đóng góp nhạc cho ca sĩ Thái Thanh ca nói chung.”, Thiện Doãn, San José.Với nhạc sĩ Phan Ni Tấn từ Canada, cho ý kiến của anh:“Nói về giọng hát Thái Thanh, bắt tôi lựa ra một hay hai bài thì tôi e sẽ không đủ, nhưng đã hỏi thì tôi xin nêu ra nhé. Tôi xin chọn bài Đường Chiều Lá Rụng vì lời như thơ, được giọng ca thánh thót cất lên trong âm thanh âm nhạc tạo nên hình ảnh một không gian mênh mông, bao la của buổi chiều lá rụng. Khi tâm tư tôi đang định cư nơi nhiều rừng núi của Canada này mà hồn nghe thấy lá mùa thu rơi để dễ đồng cảm hơn những hình ảnh cô liêu, tàn tạ hay héo úa của cảnh chiều hoang phế…”, Phan Ni Tấn, Toronto.Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng cho biết anh thích nhiều bài hát qua giọng ca của Thái Thanh, một ví dụ điển hình là bài “Bà Mẹ Gio Linh”. PAD, Santa Maria.Mẹ Gio Linh tượng trưng cho hằng triệu bà mẹ khác khắc khổ trong chiến tranh, hy sinh thân phận mình để nuôi con ra chiến trận, họ bám víu lấy quê hương tội nghiệp như thân phận chính mình, nhạc Phạm Duy qua sự diễn đạt như lời tâm sự rất tình tự của giọng ca Thái Thanh:“Mẹ già cuốc đất trồng khoaiNuôi con đánh giặc đêm ngàyCho dù áo rách sờn vaiCơm ăn bát vơi bát đầyHò ơi ơi ới hò! Hò ơi ơi ới hò!Nhà thì nó đốt còn đâyKhuyên nhau báo thù phen nàyMẹ mừng con giết nhiều TâyRa công sới vun cầy cấyHò ơi ơi ới hò! Hò ơi ơi ới hò!Con vui ra đi, sớm tối vác súng vềMẹ già một con yêu nước có kém chiĐêm nghe xa xa có tiếng súng lắng vềMẹ nguyện cầu cho con sống rất say mê.Mẹ già tưới nước trồng rauNghe tin xóm làng kêu gàoQuân thù đã bắt được conĐem ra giữa chợ cắt đầu…”Nhạc Sĩ Anh Vũ biên cho tôi đôi dòng nhận xét của anh như sau:“Với tôi, ca sĩ Thái Thanh hát bài nào cũng tuyệt vời vì giọng hát của cô là cả sự điêu luyện và thiên phú. Điêu luyện ở chỗ cách chuyển tông (tone), luyến, láy, rung, ngân cơ hồ như những bất cứ nhạc cụ nào mà người nhạc công tài ba đang xữ dụng. Thái Thanh không những áp dụng lối ép hơi từ bụng, thanh quản trong kỷ thuật thanh nhạc, mà cô còn áp dụng cả một vùng trời nghệ thuật bằng cách đem cả trái tim, tâm hồn gởi gấm theo từng ý nghĩa âm ba nhịp điệu, cuờng độ trải rộng bát ngát hay sâu thăm thẳm trong khoảng không gian, thời gian cơ hồ yên tĩnh… Tôi vốn thích nhất là bài -Trường ca- Con đường cái quan.” Anh Vũ, Orange county.Nhạc sĩ Trần Đại Phước cho dòng ghi nhận của anh về TT:“Theo kinh nghiệm và cảm nhận riêng, tôi nghĩ Thái Thanh có một giọng hát cùng một cung cách hát vô cùng điêu luyện một cách cực kỳ sắc sảo, không có giọng nữ nào trong giới ca sĩ Việt Nam có thể vượt qua nổi.Sự sắc sảo này không chỉ nằm trong âm sắc (timbre) mà còn ở trong việc diễn tả cao độ của âm thanh nữa. Sắc giọng của Thái Thanh bén nhọn, mạnh mẽ nên có tính cách xoáy sâu vào tâm tư của người nghe. Do đó, chỉ có giọng Thái Thanh mới có thể đi đôi với hai sắc giọng khác trong ban Thăng Long, một rất “rền” (Hoài Trung) và một rất “nhựa” (Hoài Bắc). Cũng có thể nói là tiếng hát Thái Thanh mang tính chất opera, nhưng do thiên phú chứ không phải do đào luyện nên nghe tự nhiên, dễ chịu. Tuy nhiên, tôi xin thêm rằng nghe Thái Thanh hình như cũng phải cần đến một “tâm lực” hùng hậu, vì có hơn một người quen đã nói với tôi rằng khi nghe Thái Thanh hát, họ cảm thấy “sợ”.Cũng nhờ sắc sảo – chính xác và uyển chuyển – trên độ cao của nốt nhạc, Thái Thanh đã phần lớn có thể diễn tả vượt trên những ký âm thông thường của một ca khúc, đôi khi còn có thể tạo nên những “glissandi” mà cũng chỉ có Thái Thanh mới thể hiện được, ví dụ chữ “lướt” trong “Buồn Tàn Thu”. Người khó tính về chuyện hát thật sát với ký âm có thể không hài lòng, nhưng theo tôi, đó cũng là quyền diễn xuất của một ca sĩ trong việc đơn ca, mình chỉ nên nhận xét về hay hay dở, xuất sắc hay tầm thường, mà ở Thái Thanh, hầu như luôn luôn chỉ có xuất sắc.”, TĐP, Dallas.Nhạc sĩ Hiếu Anh cho tôi ý nghĩ của anh khi nghe TT hát:“Rất hân hạnh biết anh và lại được anh nhắc tới ca sĩ THÁI THANH, một ca sĩ có giọng ca thánh thót ngọt nào và truyền cảm, một giọng ca mà nhiều người đã phải nhìn nhận rằng: “GIỌNG CA VƯỢT THỜI GIAN và KHÔNG GIAN”. Những bản TÌNH CA của Phạm Duy mà THÁI THANH đã hát sau này ít có ai qua mặt được THÁI THANH như bài Đố Ai, NỤ TẦM XUÂN,… hay HỘI TRÙNG DƯƠNG của Phạm Đình Chương, và cả những tác phẩm của các nhạc sĩ khác như bài MÙA THU KHÔNG TRỞ LẠI của Phạm Trọng Cầu, mà THÁI THANH đã hát rất hay.Tuy vậy, sở thích và trình độ thưởng thức của mỗi người mỗi khác… nhưng tựu trung hầu như đa số đều mến mộ giọng ca THÁI THANH như một GIỌNG CA VÀNG hiếm có.Sau cùng, tôi có một kỷ niệm rất khó quên với giọng ca THÁI THANH là tôi đã rơi nước mắt khi nghe THÁITHANH ca bài BIỆT LY của DZOÃN MẪN trong cái đêm của ngày cuối cùng mà tôi phải biệt ly người vợ vừa cưới để ngày mai lên đường nhập ngũ vào trường Bộ Binh Thủ Đức… vì nó xảy ra đúng tâm trạng sắp tạm biệt gia đình và người vợ mới cưới.”, Hiếu Anh, Louisville, Kentucky.Nhạc sĩ Hàn Sĩ Nguyên góp ý của anh như sau:“Anh hỏi về ca sĩ Thái Thanh, Nguyên biết trả lời sao bây giờ? Thái Thanh nổi tiếng quá rồi. Thôi thì vắn tắt như thế này nhé :Có nhiều yếu tố tác động, vun đắp, hình thành nên một nhân cách, một tâm hồn…– Một là Ca dao VN– Hai là Thơ Kiều của Nguyễn Du– Ba là nhạc Phạm Duy đi đôi cùng tiếng hát Thái Thanh, mà Nguyên nghĩ hai thành phần này theo Nguyên là không thể tách rời nhau.Chính Nguyên là một trong số những người chịu ảnh hưởng nặng nề của cả 3 yếu tố ấy, ngay từ tấm bé, cho đến bây giờ, mãi mãi về sau này. Vì vậy, tình cảm của Nguyên là “vô cùng biết ơn những người nghệ sĩ ấy”.Nói riêng về Thái Thanh thì… bài nào cũng thích, nhưng nếu phải chọn thì Nguyên đặc biệt thích thì 2 bài:1- “Ngày đó chúng mình”, gamme Re trưởng: là bản nhạc đầu tiên Nguyên tập chơi đàn năm 16 tuổi.2- “Tình cầm”, đặc biệt thích khi mình… không còn trẻ nữa, vì nó quá tuyệt vời!”, Hàn Sĩ Nguyên.Nhạc sĩ Trần Quốc Sỹ cho ý kiến của anh về Thái Thanh:“Theo tôi, hai nhạc phẩm mà Thái Thanh đã làm rung động người nghe nhất là bài “Áo anh sứt chỉ đường tà” và bài “Kỷ vật cho em”. Có lẽ ít ca sĩ nào có thể trình bày hai nhạc phẩm này hay hơn Thái Thanh.Nghe Thái Thanh trong bài “Áo anh sứt chỉ đường tà” và bài “Kỷ vật cho em”, thính giả có thể có cảm tưởng như mình đứng giữa những gì đang xảy ra của cuộc chiến buồn vơi…”, Trần Quốc Sỹ, Hungtington Beach, nam Cali.Từ bên Úc châu, nữ nhạc sĩ Quách Nam Dung ghi những nhận xét về Thái Thanh như sau:“Thái Thanh được coi là giọng ca hàng đầu của nền âm nhạc Việt Nam, giọng ca oanh vàng này đã chiếm một khoảng thời gian dài, nhất là từ thập niên 50’s đến giữa 70’s, trong không gian Việt Nam, đặc biệt là tại miền nam khi nhiều nhạc phẩm của nhạc sĩ Phạm Duy và nhiều nhạc sĩ khác được cô cất tiếng ca mình chuyên chở đến đám đông. Trong nhiều bài ca cô hát, QND thích nhất bài “Giết Người Trong Mộng” của Phạm Duy.”, Quách Nam Dung, Melbourne.Nhạc sĩ Đỗ Duy Thụy đóng góp quan điểm của anh về giọng ca vàng Thái Thanh:“Nói đến giọng ca Thái Thanh, phải nói đến nhạc Phạm Duy, cũng như Khánh Ly với nhạc Trịnh Công Sơn. Những bản nhạc rất hay lại càng truyền cảm hơn nên rất dễ thu hút tâm hồn người nghe, cộng thêm sắc thái độc đáo của giọng ca nên rất dễ trở thành huyền thoại.Tôi đã rất yêu thích giọng hát của Thái Thanh nhưng nếu phải chọn bài hát nào hay nhất qua giọng hát của chị, thì hình như sự ưa thích đó đã đổi thay theo tâm trạng của tôi trong từng hoàn cảnh sống của mình. Nói như vậy, vì tôi còn nhớ cách đây đã lâu, ngày tôi cùng bao nhiêu thanh niên khác đã từ bỏ học đường theo tiếng gọi của non sông lên đuờng nhập ngũ vào thời điểm chiến tranh bộc phát mãnh liệt trong mùa hè đỏ lửa, để lại sau lưng cả một tuổi trẻ đầy mơ ước, rời xa những người thương yêu, và quên đi một tương lai nhiều hứa hẹn. Ngày đó, bước chân chiến đấu trên con đường vô định, tôi đã rất say mê những nhạc phẩm như “Trả Lại Em Yêu” và “Kỷ Vật Cho Em” của Phạm Duy. Và những nhạc phẩm này mà được nghe qua tiếng hát ray rứt cao vút của Thái Thanh thì tuyệt vời cho tâm trạng của tuổi trẻ lớn lên trong một quê hương đầy lầm than máu lửa.Nhưng sau này, từ khi ra đi làm thân viễn xứ trưởng thành nơi đất lạ, nỗi nhớ quê hương có lẽ đã thay thế cho sự khổ đau của chiến tranh và những dằn vặt mất mát của tuổi trẻ, nên tâm trạng của tôi cũng đổi thay khác đi. Bây giờ, có những buổi trưa hè nóng bức chợt nghe văng vẳng tiếng hát cải lương vọng từ đài phát thanh Việt Ngữ, tôi bỗng có một cảm giác rất gần gũi, rất thân thương với văn hoá của đất mẹ. Một cảm giác như mình đã mất mát tuổi trẻ, lớn lên trong trống vắng, và bây giờ tìm lại được dĩ vãng của chính mình.Vì vậy, tôi đã rất thích và xúc động mỗi khi nghe nhạc phẩm “Tiếng Nước Tôi” và phải với giọng hát Thái Thanh cao vút và ngân dài mới diễn tả trọn vẹn sự yêu thương một ngôn ngữ mà tôi đã dùng từ lúc chào đời.Tôi không biết giải thích tại sao bây giờ tôi lại yêu thích giọng hát của chị Thái Thanh qua nhạc phẩm này như vậy. Có thể vì nợ áo cơm phải dùng ngoại ngữ mà tôi vẫn không hấp thụ hoàn toàn. Có thể về già nên nặng lòng hoài hương chăng? Có thể vì tôi hoạt động trong lãnh vực Việt Ngữ được nhìn thấy các em nhỏ đang cố gắng học tiếng mẹ đẻ. Có thể vì tiếng Việt tôi đã xử dụng để cảm thông tận cùng với ông bà cha mẹ, anh chị em, vợ con, bạn bè v.v… Có thể vì ngôn ngữ này tôi đã diễn tả hoàn hảo hơn ý nghĩ và tâm hồn tôi, thông hiểu hoàn hảo hơn nhưng bài viết, bài thơ, bài nhạc của người cùng quê hương, Có thể tiếng Việt đã thấm vào trong dòng máu của tôi lúc chào đời từ trên môi mẹ.Vì lý do nào đó, tôi vẫn bâng khuâng cảm xúc mỗi khi nghe giọng hát của Thái Thanh cao vút: “Tôi yêu tiếng nước tôi… Từ khi mới ra đời à ơi…”, ĐDT, Houston.Nhà thơ Bích Khuyên đưa ra cảm nghĩ của chị là:“Tôi say mê giọng ca Thái Thanh từ khi mới lớn, bài hát thích nghe qua giọng ca Thái Thanh thì rất nhiều. Ví dụ bài Nửa Hồn Thương Đau, Ngậm Ngùi hay Giết Người Trong Mộng, tôi thấy lời ca vang cao vút của Thái Thanh tạo cho người nghe một nỗi buồn tê tái trong tâm hồn. Tôi nghĩ cái giá trị của giọng ca này sẽ vô cùng hiếm quý và sẽ đứng vững trong vườn hoa lịch sử âm nhạc Việt Nam.”, Bích Khuyên, Oklamoma city.Nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi bày tỏ tâm tình về Thái Thanh và kỷ niệm của chị:“Mỗi lần nghe đến “Tiếng Hát Vượt Thờì Gian” là tôi lại nghĩ liền đến Thái Thanh. Từ năm ngoái, tôi dã gặp chị Thái Thanh 2 lần, trong buổi họp mặt taị nhà anh chị bác sĩ Đỗ Xuân Giụ. Anh chị Đỗ Xuân Giụ có một tâm hồn rất văn nghệ, cho nên anh chị đã tổ chức ít ra là 2 lần trong năm, và quy tụ những thành phần cũng yêu văn nghệ như anh chị. Mỗi lần họp mặt như thế, cũng ước chừng một đám đông 60 người. Và lần naò cũng có chị Thái Thanh hát, và anh Nghiêm Phú Phi đàn. Tôi nhớ 2 lần gặp chị Thái Thanh, dáng ngươì cao cao, gầy gầy, và rất ít son phấn, có thể nói là chị trang điểm rất nhẹ, đến nỗi tôi có cảm tưởng chị không trang điểm Tôi ngồi bên chị và hỏi thăm xã giao. Chị nói chuyện cởi mở, và dễ thương. Chị ăn mặc giản dị, trẻ trung… Ăn uống xong, thì đến phần ca nhạc. Bao giờ thì cũng những ngươì bạn hát trước, có người ngâm thơ, và sau vài ba ngươì, thì Thái Thanh sẽ “bị” mời lên. Hình ảnh chị hôm nay, khác với những ngày xưa chỉ là khi hát, chị phải đeo kính trắng để đọc những lời. Còn lại thì không có chi thay đổi, cử chỉ nhún nhẩy, lốí hát vui tươi, hay buồn sầu cũng vẫn được thể hiện trên khuôn mặt của chị. Chị hát rất say sưa, và tôi nghe với hết cả tâm hồn. Đứng trước micro, chị tâm sự là chị thích hát nhạc Phạm Duy và Phạm Đình Chương, ngoài ra, chị cũng thích hát nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng chưa nhiều. Tuy nhiên, chị hát rất nhiều của nhiều tác giả khác nhau. Nhìn Thái Thanh, ắt hẳn, ai cũng nhớ đến bài Tình Ca của Phạm Duy, mà tôi đã nghe từ năm 1952, khi còn ở Huế, và còn là nữ sinh Đồng Khánh, cuả lớp đệ Thất B3. Vào thời đó, Ban Hợp Ca Thăng Long cũng có ra Huế để hát một chương trình đặc biệt, và tôi tuy chỉ khoảng 12, 13 cũng được gia dình mua vé cho đi xem. Rồi những bài Hội Trùng Dương của Phạm Đình Chương, Dòng sông Hồng, Dòng sông Hương và Dòng sông Cửu Long… Tôi còn nhớ khi có chương trình nhạc phụ diễn ở các rạp ciné do anh Trần văn Trạch đề xướng, tôi vẫn nhớ Ban Thăng Long với bài Ngựa Phi Đường Xa… mà Hoài Trung đã hí giống ngựa hí như đúc. Và Thái Thanh trong bài Dòng Sông Xanh, tiếng hát cao vút, khiến người nghe cảm thấy rộn ràng, xao xuyến. Khi tôi nghe Thái Thanh hát bài Hương Xưa của Cung Tiến mà nhớ cả một trời xưa thơ mộng. Nếu kể ra những bài tôi thích thì sẽ nhiều lắm. Nguyên những loạt bài của Phạm Duy như Nghìn Trùng Xa Cách, Đừng Xa Nhau, Ngày Xưa Hoàng Thị, Phố Núi Cao… sẽ nhiều rồi, và tiếng hát Thái Thanh đước các đài radio mãi rả rích một ngày không biết bao nhiêu lần. Và bài Dìu Nhau của Phạm Duy có lẽ tôi chỉ nghe Thái Thanh hát mà thôi . Tuy nhiên, Thái Thanh còn làm tôi nhớ đến bài Tuôỉ 13 của Nguyên Sa và Ngô Thụy Miên. Tôi thích tiếng hát Thái Thanh trong baì Em Dến Thăm Anh Một Chiều Mưa của Tô Vũ, gợi trong tôi những ngày ở Huế mưa dầm dề, mưa Cả tuần không ngớt, và tôi di trong mưa, nghe qua radio nhà ai bài Em Dến Tham Anh Một Chiều Mưa… trong lứa tuổi 13 đó, mà cũng thấy buồn chi lạ. Nỗi buồn man mác… Thái Thanh sinh ra để làm loài chim sơn ca hay họa mi, chỉ cho người đời lời ca tiếng hát, và hát nhiều bài của nỗi nhớ không nguôi, mà bài nào cũng cho người nghe một tâm trạng khác nhau, hoặc buồn, hoặc vui… Nhắc đến Thái Thanh, tôi muốn nói nhiều đến giọng hát đặc sắc của chị. Giọng hát có lúc nhõng nhẽo như khi chị hát lúc tuổi 13, có lúc tha thiết day dứt như khi chị cất tiếng hát: “Em hỏi anh, em hỏi anh, bao giờ trở lại. Xin trả lời, xin trả lời, mai mốt anh về…”. Có lúc trữ tình, lãng man, như trong bài Hương Xưa: “Người ơi, một chiều nắng tơ vàng hiền hoà hồn có mơ xa… Người ơi, đường xa lắm con đường về làng, diù mấy thuyền đò… Còn đó, tiếng tre êm ru, còn đó bóng da hẹn hò, còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mang nghe sáo vi vu…”. Tôi ngồi trong một góc, để nghe tiếng Thái Thanh đang vang lên trong căn phòng ấm cúng tại nhà anh chị Đỗ Xuân Giụ, mà lòng như bềnh bồng trôi về một thủa nào xa tít tắp, của một thời Huế xưa, một thời Sài Gòn trong dĩ vãng,… Nhất là thời của Trưng Vương, khi ở vào lứa tuổi đẹp nhất của những năm là học trò đệ Nhị, đệ Nhất ở trường Trưng Vương. Tiếng hát Thái Thanh đã gợi nhớ trong tôi bao nhiêu là kỷ niệm thật êm đềm, khiến nhiều khi nghe chị hát, mà ngỡ như nghe tiếng hát từ dĩ vãng vọng về, cuả những ngày xưa thân ái, để luyến tiếc thêm, và hoài niệm về những ngày xa xưa mà thôi.”, HVLN, Orange county.Chị HVLN nhắc tôi bài “Tuổi 13”, tôi có kỷ niệm với bài nhạc này khi viết bài văn “Mùa Thu Cho Em”. Tôi kể cho anh Ngô Thụy Miên nghe, bài “Tuổi 13” là thơ của Nguyên Sa, nhạc của Ngô Thụy Miên, nhưng phải do Thái Thanh hát, vì chỉ có giọng ca này mới diễn tả trọn vẹn nét dấu yêu với một chút e ấp, một chút nũng nịu, một chút thơ ngây, và một chút nhõng nhẽo của lứa tuổi 13 thần tiên trong cái cảm giác của tôi khi mãi nghe đi nghe lại bài này, và chỉ có Thái Thanh hát “Tuổi 13” mới thật sự “phê” trong cái đam mê hay ý thích của tôi mà thôi.Thi sĩ Nhược Thu cho tôi phần ý kiến của anh:“Tôi nghe Thái Thanh ca “Năm năm tình lận đận”, tôi hiểu nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên nhiều hơn. Giọng ca Thái Thanh diễn tả bài hát thật rung động tim tôi. Dù những ngày ở sân trường đại học văn khoa, hay khi đi vào quân ngũ, rồi bị bắt đi “học tập”, bao bài tình ca do Thái Thanh hát vẫn mãi sống trong tôi. Cám ơn “Trả lại em yêu”, cám ơn “Hẹn hò”:“Một người ngồi bên kia sôngim nghe nước chảy về đâuMột người ngồi đâytrông hoa trôi theo nước chảy phương nàoTrời thì mưa rơimưa rơi không ngưng suối tuôn niềm đauNgười thì hẹn nhau sang sôngmong cho chóng tạnh mùa Ngâu…”,Cám ơn “Tôi đi giữa hoàng hôn”, Cám ơn “Giã Từ Đêm Mưa”, Cám ơn “Biệt ly”,…, và cám ơn tiếng hát Thái Thanh sẽ còn mãi trong tôi.”, Nhược Thu, San Diego.Nhạc sĩ Nguyễn Đăng Tuấn đưa ra cảm nghĩ của anh:“Tiếng Hát Thái Thanh đã tung hoành ngang dọc trong suốt những thập niên sáu mươi và bảy mươi của thế kỷ hai mươi\. Hàng đầu\. Thái Thanh nổi tiếng với nhiều ca khúc khác nhau\. Từ nơi các người viết nhạc trước vào sau thời kỳ “toàn quốc kháng chiến”, hay trước và sau thời “tiền chiến”.Giọng hát Thái Thanh được vang trong khắp các đài phát thanh Sài Gòn, và đài phát thanh Quân Đội tại miền nam Việt Nam tự do\. Và bị tắt tiếng sau ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản. Để rồi ngậm ngùi “đâu rộn ràng giọng hát Thái Thanh”.br> Tiếng hát Thái Thanh trải suốt. Từ những ca khúc đầy mơ mộng như Suối Mơ của Văn Cao, Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong, Ngọc Lan của Dương Thiệu Tước, Hoài Cảm của Cung Tiến, Suối Tóc của Văn Phụng, hay những ca khúc đượm tình quê hương như Đôi Mắt Người Sơn Tây của Phạm Đình Chương, Tình Quê Hương của Đan Thọ, Hòn Vọng Phu của Lê Thương, Tình Hoài Hương của Phạm Duy, hay ca khúc âm vang trời Âu như Paris Có Gì Lạ Không Em của Ngô Thụy Miên,v.v.tiếp theo và hếtĐương nhiên tiếng hát Thái Thanh trải rộng cả trăm ca khúc khác nhau, nếu không nói là nghìn bài là con số có được\. Tiếng hát rộng, mỏng, uốn éo, và thích nét làm dáng của Thái Thanh khi ca trên sân khấu hoặc trên màn ảnh ti vi. Tôi nghe TT ca mà tâm tư xao xuyến khi gợi về quê hương như bài Tình Hoài hương. Hẳn Thái Thanh đã có riêng một số lượng thích giả đông đảo.”, NĐT, New Jersey.Từ Sydney nhà thơ Tăng Đức Sơn cho nhận xét của anh:“Thời gian thịnh hành của nhạc tiền chiến là những năm đầu của thập niên 60 trở đi. Gọi là nhạc tiền chiến vì giới sáng tác như những nhạc sĩ cũng như ca sĩ đa số thuộc lớp thế hệ của trước khi chấm dứt chiến tranh Việt Pháp và chia đôi đất nước năm 1954, hay trước cuộc nội chiến nam bắc. Cuộc di cư vĩ đại đưa số nhân tài từ bắc vào nam đã mang theo luôn cái “gia tài” Thái Thanh ấy nam tiến. Kể từ sau cuộc giao duyên nam- bắc 1954 đó âm nhạc miền nam khởi sắc, mà cái “gia tài” Thái Thanh là một giọng ca hiếm có ít ai phủ nhận nó.Khi một người nổi tiếng, có danh vọng thì quần chúng có khuynh hướng bắt chước hay nhái theo, ví dụ như tại xứ Mỹ có truyền thống bắt chước bao nhiêu người giả bộ dạng Micheal Jackson, giả giọng, giả lối ca, tướng đi, áo quần, giả Elvis Presley, giả John Lennon, giả Ricky Martin hay thậm chí giả luôn cả ban nhạc bốn người trong ban nhạc ABBA v.v.… Tiếng hát hiếm có, trong sáng vượt thời gian, không gian từ tiền chiến cho đến 1975 của TT cũng không thoát ngoại lệ nầy. Một số ca sĩ địa phương nơi tôi ở hay nữ sinh trung học đều cố gắng luyện có một giọng cao vút trong trẻo như thế; có một dạo còn là đề tài tuyển lựa giọng ca gần giống TT nhất. Thí sinh cũng chỉ luyện hát những bản “ruột” cho giống TT nhất ca để phân biệt hơn thua giữa các ứng viên thi hát.Với tôi bài “Nghìn Trùng Xa Cách” cho tôi nhiều kỷ niệm khi tôi vượt biên ra đi lênh đênh trên biển cả, khi con tàu vượt bao con sóng biển, trùng dương ra khơi nhìn quê hương bỏ lại hơn bao giờ hết giọng ca TT chất chứa nỗi bùi ngùi khi tôi ly hương:“Trả hết cho người, cho người đi,trả hết cho ai, ngày tháng êm trôi,đường ta đi , trời đất yên vui,rừng nắng ban mai, đường phố trăng soi,trả hết cho người, cho người đi.Trả hết cho ai,trả những chua cay,ngày chia tay, lặng lẽ mưa rơi,một tiếng thương ôi, gữi đến cho người,trả hết đôi môi giựơng cười…”Một đặc điểm của giọng hát Thái Thanh ngân cao thánh thót, giọng ca opera thì cho dù vài bài nhạc người nghe không thích cho lắm, nhưng khi nghe TT ca thì bài nhạc trở thành quý phái, thanh cao mang âm hưởng giá trị nghệ thuật mà thính giả sẽ thích thú hơn khi thưởng thức.Khoảng mấy tháng trước tôi nghe TT xuất hiện trong một buổi phỏng vấn ngắn trên một đài phát thanh Việt Ngữ ở Cali. Giờ thì Cô tuổi tác cao, hơi lãng tai và giọng nói khàn khàn. Ôi! cũng là định luật tự nhiên chung đó thôi. Mấy thập niên vang tiếng của ngôi sao Hồng Hà, thánh thót một thời ngày xưa vẫn còn sống mãi trong lòng mọi người, trong lòng tất cả người Việt Nam, trong lòng thính giả nghe được tiếng Việt Nam. Tiếng hát TT cất lên mở đầu trong các chương trình hội thảo về ngôn ngữ, giáo dục văn hóa hay trong các buổi truyền thanh, truyền hình ở nơi nào có mặt của người Việt qua bài ca muôn đời mến yêu “Tôi yêu tiếng nước tôi”. Chúng ta yêu tiếng Việt, và ngày nào chúng ta còn ấp ủ nói ngôn ngữ mẹ Việt Nam thì bài Tình Ca qua tiếng hát TT sẽ mãi mãi rung động tâm tư chúng ta:“Tôi yêu tiếng nước tôi,từ khi mới ra đời,mẹ hiền ru những câu xa vời.Tiếng nước tôi,Bốn ngàn năm….”, Tăng Đức Sơn, Úc châu.Nhận xét của Nhạc sĩ Hoàng Thy về Thái Thanh như sau:“Người ta không ngạc nhiên khi nghe Thái Thanh ca bất cứ một nhạc phẩm nào trong quá khứ và nhạc phẩm được đó được xem là hay, tôi nghĩ chị chọn lựa bài và tập cho mình một phong thái riêng khi hát nó. Những ca khúc được chị ca đều vượt trội khi chị chuyên chở ý tưởng hay lời ca của bản nhạc. Thêm vào đó, cung cách trình diễn linh động như tôi còn nhớ khi xem chị trình bày các ca khúc Kỷ Vật Cho Em, Mùa Thu Chết hay Nghìn Trùng Xa Cách. Ngày nay quay về dĩ vãng cũ của Sài Gòn trước năm 75, hình ảnh hay giọng ca của chị là một kỷ niệm đẹp trong tôi.” Hoàng Thy, San Diego.Nhạc sĩ trẻ Minh Luân cho những dòng kỷ niệm chân thành của anh về giọng ca Thái Thanh như sau:“Nhắc đến nữ danh ca Thái Thanh thì chúng ta không thể nào không nhắc tới đại tác phẩm “Buồn Tàn Thu” của nhạc sĩ Văn Cao. Có lẽ tôi suy diễn hơi xa khi cho rằng nhạc sĩ Văn Cao sáng tác nhạc phẩm này chỉ dành riêng cho giọng hát Thái Thanh mà thôi. Quả thật là như vậy mỗi khi nghe Thái Thanh hát dạo câu đầu của bài “Buồn Tàn Thu” là hồn tôi rung cảm ngây ngất vì nó quá tuyệt vời… xin mời các bạn thưởng thức tại đây:“Ai lướt đi ngoài sương gióKhông dừng chân đến em bẽ bàngÔi vừa thoáng nghe emMơ ngày bước chân chàngTừ từ xa đường vắngĐêm mùa thu chếtNghe mùa đang rớt rơi theo lá vàngEm ngồi đan áoLòng buồn vương vấnEm thương nhớ chàngNgười ơi còn biết em nhớ mongTình xưa còn đó xa xôi lòng…”Văn Cao viết lên lời tình tự, nhưng lời tự tình này lại được cất vang từ giọng hát điêu luyện về ngàn trùng âm vang vọng nhớ, về dĩ vãng buồn bã của mùa thu tàn lụi:Tôi đã mở đi mở lại bài này cả trăm lần nghe mãi mà cũng không thấy chán… Giọng ca Thái Thanh, theo ý tôi, quả thật là tự cổ chí kim rất khó tìm. Ca sĩ Ngọc Hạ mặc dầu có một giọng ca có thể hát lại những đại tác phẩm của các bậc tiền bối, nhưng cũng không thể nào thay thế nổi vị trí của Thái Thanh trong bài “Buồn Tàn Thu”.”, Lê Minh Luân, San José.Nhà thơ Ngọc Anh GL cho nhận xét của chị khi nghe giọng ca Thái Thanh:“Có thể nói tiếng hát Thái Thanh đã làm say mê bao lớp người Việt Nam, đặc biệt là lớp người tha hương, sống viễn xứ, Thái Thanh làm say mê bao người trong những thập niên 40’s, 50’s, 60’s, 70’s, 80’s , 90’s và vẫn còn tiếp. Tôi thích nghe ca sĩ Thái Thanh hát chung với Ban hợp ca Thăng Long có Hoài Trung, Hoài Bắc như bài Xóm Đêm, Ngựa Phi Đường Xa, Giã Từ Đêm Mưa, hay Tiếng Đàn Tôi.”, NAGL, Los Angeles.Nhà thơ Trang Điền Morita gửi tôi phần cảm nghĩ của anh:“Thái Thanh được mệnh danh là “Tiếng hát vượt thời gian”, tôi nghĩ không ngoa từ khi chị tham gia phong trào Toàn quốc Kháng chiến đến khi chị ra hải ngoại, cho đến khi chọn lối sống ẩn dật, nhưng qua bao bài hát và giọng ca của chị vẫn được người đời nhắc nhở và hâm mộ. Tôi thích nhiều nhạc phẩm do chị ca, đan cử vài bài như: Ngậm ngùi, Mùa thu chết, Nửa hồn thương đau, Giết người trong mộng, Còn một chút gì để nhớ, Mùa thu Paris,… hãy nghe và nhớ mãi tiếng ca này.” Trang Morita, Northridge.Từ vùng tây bắc Mỹ, nơi tuyết và mưa nhiều hơn nắng, nhà thơ Đạm Thủy góp ý:“Cám ơn Việt Hải đã cho tôi cơ hội đóng góp vài nhận xét về tiếng hát Thái Thanh. Khi tham khảo ý tưởng của nhiều người về một giọng ca đã nổi tiếng “vượt thời gian” từ cả một thế hệ, chắc hẳn VH đã cảm thấy không thấy THỪA. Chính lý do đó mà Đạm Thủy không ngại đóng góp vài giọt nước trong một cái bể sẵn có, cái bể đập sóng ca ngợi một thiên tài.Ngoài những kỹ thuật rất điêu luyện của giọng ca mà nhiều người đã mô tả, giọng ca của nàng trong trẻo nhưng không chua, mà thánh thót nhưng không vắt vẻo, rất xứng đáng để người ta ca tụng mãi mãi, ngày nào còn nghe được nàng ca, dù rằng qua CDs hay DVDs đi nữa. Tôi gọi ca sĩ Thái Thanh là “nàng” chỉ vì sự trân quý, âu yếm như trân châu mà thôi, dù rằng tuổi của “nàng” có thể làm cô, dì của tôi. Thực ra như thế cũng giống như sự thể người ta sẽ không gọi thiên tài Thái Thanh là “bà Thái Thanh” được, vì tiếng hát Thái Thanh vốn gần gũi với quần chúng, và nó sẽ sống mãi với quần chúng.Về kỹ thuật, bản Buồn Tàn Thu của Văn Cao mà chúng ta được nghe Thái Thanh hát: Nàng bắt đầu chữ “Ai…” ngân dài một đỗi như treo lửng lơ cái thắc mắc người nào không rõ trong cơn gió mưa bên ngoài, xong rồi mới diễn tả động từ “lướt” một cách gợi hình. Cái hay là điểm độc đáo đó.Sau năm 1975, người ta lăng xê ra một ca sĩ trẻ tên là Ánh Tuyết chuyên hát những bài mà Thái Thanh xưa đã hát như Thiên Thai, chẳng hạn. Tôi bèn mua vài cuốn băng nghe thử. Nhưng nghe kỹ kỹ thuật ca không thể bằng được. Mặc dù, tôi tự kiểm điểm lại cho chính mình chọn sự vô tư. Lúc đó tôi mới thấy rõ cái dấu mộc hay rỏ hơn thì là cái giá trị kỹ thuật khi ngân vang tiếng hát mà Thái Thanh đã ấn lên từng bài hát của nàng. Nàng hát rồi là bản đó của nàng. Thế thôi.Xét cho cùng phải nhìn nhận là giọng hát Thái Thanh đã là một lằn ranh xác định mức tối hảo, để là một cái thước để đo lường nghệ thuật và định chẩn chân giá trị âm nhạc mà “yếu tố Thái Thanh” như một quy luật định phẩm.Nếu nhạc Việt về thể loại tiền chiến còn được sáng tác và các ca sĩ trong tương lai khởi sự chọn hát, tôi nghĩ tiếng hát Thái Thanh là sự tham khảo rất lợi ích cho họ vậy.”, ĐT, Seattle.Thi sĩ Nghiêm Xuân Cường góp phần nhận xét của anh:“Thực ra có quá nhiều nhạc phẩm đã đóng góp cho tên tuổi Thái Thanh. Tôi yêu giọng ca Thái Thanh vì cái nông nàn của làn hơi cũng như của sự diễn tả. Theo tôi thì hai bài Tình Ca và Tình Hoài Hương của Phạm Duy thì không ai có thể hát hay hơn Thái Thanh. Khi chị Thái Thanh cất tiếng hát bài Tình Ca: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi. Mẹ hiền ru nhung câu xa vời. À à ơi tiếng ru muôn đời…” tôi nghe như có cái gì rưng rưng ở trong lòng và, muời lần như một, là nuớc mắt tràn lên mi.Những cái lên xuống, ngắt câu, những chỗ diễn tả chua xót, ngọt ngào, buồn bã,v.v… mà chỉ có Thái Thanh mới làm được, và đem hết được ý của câu nhạc đi thẳng vào lòng nguời nghe. Thí dụ như khi nghe chị hát bài Thôi của Y Vân: “Thôi, em đừng khóc nữa mà làm gì. Kỷ niệm buồn ân tình cũ xa xôi, thôi, em đừng tiếc, em đừng tiếc. Đừng tiếc nữa mà làm gì. Kiếp này đành LỠ duyên rồi”. Chữ LỠ được phát âm láy và có một sự chua xót lẫn đắng cay mà phải nghe mới thấy được cái điêu luyện của giọng ca tuyệt vời này.Cũng vậy ,trong Hội Trùng Dương của Phạm Đình Chương giọng của chị lúc nhanh, lúc chậm, lúc vui buồn, lúc lên xuống: “Ngày vui, tan đao binh. Mẹ bồng con sơ sinh. Chiều đầu xóm, hân hoan đón người trường chinh…” như những giòng sông của quê hương tuy đã xa, rất xa mà vẫn còn chẩy mãi trong lòng người tha hương…”, NXC, Michigan.Nhạc sĩ Dương Viết Điền viết về Thái Thanh như sau:“Tôi nghe tiếng hát của Thái Thanh qua hai bài hát chất chứa đầy tình tự quê hương, đó là các bài Tình Ca và Tình Hoài Hương, chị làm tôi nhớ nhà, nhớ dĩ vãng, nhớ cố hương thêm. Khi tôi di cư vào từ bắc vào miền trung, rồi miền trung vào miền nam, rồi những năm tháng dài tù đầy “cải tạo” tại miền bắc, rồi ly hương sang Mỹ, những lời ca của ca sĩ Thái Thanh qua hai bài hát bất hủ này của nhạc sĩ Phạm Duy mang hồn tôi trở về những kỷ niệm tình tự quê hương ngày xưa. Cám ơn giọng ca thiên phú của chị Thái Thanh và cám ơn Việt Hải cho tôi góp tiếng nói cùng các bạn hữu.”, Dương Viết Điền, Los Angeles.Kế tiếp là cây bút mê âm nhạc, thích viết về âm nhạc Minh Thanh, cô cũng là người say mê giọng ca Thái Thanh:“Giọng hát Thái Thanh đã được nhiều người yêu thích vì cô có nhiều bài hát lắm. Kể về các bài hát thì Thái Thanh không phải chỉ nổi tiếng với nhạc Phạm Duy mà còn rất nhiều bài hát của các nhạc sĩ khác, như bài hát của Nguyễn Ánh 9, Ngô Thụy Miên, Văn Cao, Hoàng Trọng, Dương Thiệu Tước, Phạm Đình Chương. Cũng có thể nói về Thái Thanh cho nét đặc biệt thích hợp tuyệt vời hơn là khi cô trình bày các bài sau 75, ví dụ như bài Rong Ca của Phạm Duy “Hẹn Em Năm 2000”:“Hẹn em nhé, năm 2000 sẽHai bên cửa hé, cho anh trở vềTừ ngày đi, theo cuộc tỉnh mêTrăm năm nhỏ bé, trăm năm bộn bề…”Bài Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn (phổ thơ Du Tử Lê) nhạc Phạm Đình Chương, Bài Đêm Màu Hồng (trước 75), Suối Mơ, Dòng Sông Xanh, Hoài Cảm, Đôi Mắt Người Sơn Tây, rồi Quán Bên Đường (Phạm Duy phổ thơ Bình Nguyên Lộc), Thái Thanh diễn tả thật tuyệt vời.Bài Em Lễ Chùa Này, Đưa em tìm Động Hoa Vàng (Phạm Duy, phổ thơ Phạm Thiên Thư),… và còn quá nhiều để kể ra đây.”, Minh Thanh, nam Cali.Nhà thơ Lê Duyên Thùy Trang đóng góp ý của cô như sau:“Nhạc do Thái Thanh ca đến với tôi vào những năm đẹp nhất của khuôn viên sân trường đại học trong cuối thập niên 60’s và đầu thập niên 70’s. Khi mà tôi tìm thấy nơi Thái Thanh một giọng ca đượm nét quyến luyến, rất trữ tình, tôi thích các bài tình ca do cô hát như: Trả lại em yêu, Áo lụa Hà Đông, Tuổi 13, Từ giọng hát em, Muà thu trong mắt em, Mùa thu không trở lại,…”, LD Thùy Trang, Boston.Trong một buổi điện đàm thăm hỏi ca sĩ Mai Hương, tôi có hỏi chị với tư cách một người thưởng ngoạn nhạc Thái Thanh hát và cũng là người thân của cô Thái Thanh thì chị có nhận xét như thế nào về TT là một ca sĩ và TT là một người thân trong gia tộc. Chị Mai Hương cho biết là tiếng hát Thái Thanh điêu luyện về kỹ thuật, có nhiều kinh nghiệm về âm vực. Bên cạnh đó cô Thái Thanh là người mẹ tuyệt vời lo lắng cho các người con cô.Tôi có dịp học một lớp với Lê Việt con trai thứ của cô TT tại đại học Cal State Northridge, sau này tôi được biết Việt học lấy đủ loại bằng cấp từ kỹ sư rồi chuyển sang ngành bác sĩ. Lê Việt là một thanh niên rất thông minh. Em trai út của Việt là Lê Đại tốt nghiệp ngành âm nhạc tại trường Cal State Long Beach, với minor ngành computer science. Lê Đại rất khá về lãnh vực web design. Cô TT theo sát và khuyến khích các con trên bước đường học vấn. Thiết nghĩ tiến triển nghề nghiệp và bổn phận gia đình thông thường là 2 yếu tố tương phản, lắm khi có cái này thì không có cái kia. Trong tuổi đời mừng sinh nhật cổ lai hy cô đã hoàn thành cả hai. Đây là điểm son về vai trò làm mẹ của cô Thái Thanh, song song bên hào quang âm nhạc của cô. Ngoài ra, Lê Việt còn có hai chị em là hai ca sĩ thành danh Ý Lan và Quỳnh Hương, thỉnh thoảng tôi nghe trên radio 2 cô tham dự vào các hoạt động từ thiện xã hội, cộng đồng.Sau đây là đồi dòng cảm nghĩ của nhà thơ Sương Mai nuối tiếc về sự nghỉ hưu, sống ẩn dật của ca sĩ TT:“Tiếng hát Thái Thanh là một tiếng hát tuyệt vời, Thái Thanh lại biết chọn bài hát. Những bài hát của Thái Thanh hát là những bài có tầm vóc và giá trị dài lâu về nhạc cũng như lời, khi Thái Thanh góp vào tiếng hát, làm cho bài hát bốc lên bay cao như cánh hạc, Thái thanh hát bằng cả tâm hồn và bằng sự rung động của trái tim chính mình, cho nên khi hát Thái Thanh đã để cho mình bay bổng theo điệu nhạc, ai nghe Thái Thanh hát mà không xao xuyến, không mê man, hay không đắm say nỗi lòng?Sương Mai thích Thái Thanh hát bài “Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng” cuả nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ thơ thi sĩ Phạm Thiên Thư và bài “Ngàn Thu Áo Tím” cuả nhạc sĩ Hoàng Trọng và Lưu Thị Vĩnh Phúc:“Ngày xưa xa xôi em rất yêu màu tímNgày xưa xa xôi em sống trong trìu mếnChiều xuống aó tím thường thướt thaBước trên đường gấm hoa…Từ khi yêu anh anh bắt xa màu tím…”Tiếc là đời người ngắn ngủi và chóng tàn, Thái Thanh theo luật tuần hoàn của vũ trụ, giờ đây đã về hưu ẩn dật, không còn đứng trên sân khấu trước chúng ta, để hát cho chúng ta nghe nữa.Sắc đẹp, tiếng hát rồi cũng sẽ tàn lụn theo dòng thời gian, có chăng chỉ là những dư âm tiếng hát còn đọng lại cho ngàn sau…”, Sương Mai, Sacramento.Ngoài ra tôi có dịp đọc nhiều bài báo sau năm 75 tại hải ngoại kể về giai đoạn giao mùa khi CS xâm chiếm miền nam, ca sĩ Thái Thanh tỏ thái độ bất hợp tác với chính quyền mới. Bài viết của tác giả Thụy Khuê đưa ra nhận xét lý thú:“Ngay cả khi cô im tiếng 10 năm trong chế độ Cộng Sản (1975-1985) để bày tỏ thái độ chống đối một cách bất bạo động, tiếng hát Thái Thanh vẫn được yêu mến hàng đầu trong băng nhạc của nhiều gia đình người Việt xa xứ. Ngày nay cô đã ngưng hát, coi như “nghỉ hưu”, nhưng có thể nói số người thưởng ngoạn vẫn nhớ và thương giọng hát đó cũng vẫn rất đông đảo.Thái Thanh thường trả lời những người mến mộ muốn nghe cô cất tiếng lại: “Khi nào có hội nghị Diên Hồng hay có đại nhạc hội hồi hương trong tự do (chắc còn lâu!), thì cụ Thái Thanh này, dù có phải chống gậy lụ khụ, cũng sẽ tự động ra sân khấu, không cần ai mời cũng vẫn lên tiếng hát mừng quê hương tôi, mừng người nước tôi”.”Nhạc sĩ Minh Thao, Phạm Phú Minh hiện cư ngụ tại Bergen, Na Uy, kể lại chuyện cũ của buổi giao thời năm 75, thiết nghĩ bài viết của anh là nguồn tài liệu lịch sử nêu lên cái phong cách đáng kính của kẻ sĩ không ngã lòng, không a dua theo thời cuộc, không phục tòng sức mạnh trước những biến đổi đau thương của đất nước:“Ca sĩ Thái Thanh đối với tôi là ca sĩ hàng đầu tại Việt Nam thời cô còn sinh hoạt ca hát. Cho nên bài hát mà cô đã trình bày xuất sắc thì nhiều vô kể, rất khó thống kê. Tuy nhiên, có những bài hát đến với người nghe trong hoàn cảnh đặc biệt thì nó hay vô cùng, không có gì so sánh được. Xin được kể anh Việt Hải nghe một câu chuyện, nếu anh cảm thấy được thì tuỳ nghi xử dụng cho bài viết của anh nhé:Thời gian đầu giao mùa khi CS vào tiến chiếm miền nam, nếu tôi nhớ không lầm là vào tháng 8 năm 1975, CS chuẩn bị cho cuộc đổi tiền lần thứ nhất vào tháng 9 cùng năm, nên bọn chúng cho tập trung dân chúng lại để học tập chánh trị tại địa phương (không nêu ra đề tài đổi tiền, chúng chỉ nêu ra đề tài chánh quyền cải cách thống nhất đất nước, để chúng lót đường cho sự độc tài, hòng sang đoạt của cải của người dân về sau này).Nhà cô Thái Thanh ở trên đường Lê Thánh Tôn, gần Trung Tâm Văn Hoá Pháp, cũng gần bệnh viện Grall (tức nhà thương Đồn Đất), thuộc phường Bến Nghé, quận Nhất Sài Gòn. Cho nên cô cũng “được” mời đi học tập chánh trị thuộc khu vực được tổ chức tại hội trường đại học Dược Khoa, trên đường Cường Để…Nói là học tập chánh trị, nhưng CS cũng muốn khoe “cái văn hóa ưu việt” trước cái dân ngụy ở ngay trung tâm Sài Gòn. Cho nên chúng cho tổ chức buổi văn nghệ “tự phát” gần như thi đua giữa đám thanh niên địa phương chúng tôi với đám bộ đội lúc đó đóng tại building đối diện toà Đại Sứ Mỹ cũ. Và hôm đó bọn chúng bị bẽ bàng, sượng mặt. Tất cả cũng nhờ cô Thái Thanh… (và cũng từ đó về sau tôi không còn chứng kiến sự hợp tác văn nghệ theo cái kiểu… rất “bộ đội” và khích dân chúng “hồ hởi” cùng làm).Câu chuyện thế nầy:Phần thứ nhất do nhóm văn công bộ đội phụ trách, gồm các tiết mục đơn, hợp ca và cả độc tấu sáo, mandoline… Chúng cố lám ra vẻ chuyên nghiệp, người trình diễn nào cũng đánh tí phấn, tô tí son môi, dù chúng chỉ là đám đực rựa thuộc đơn vị bộ đội tại đó nên càng xem càng thấy ngô nghê và buồn cười.Nhóm thanh niên địa phương chúng tôi thời đó còn máu tư sản nên con gái còn mặc áo dài, con trai áo trắng bỏ trong quần xanh hoặc đen. Nhưng vì mới mất nước, thấy bộ đội sắt máu quá nên không ai trang điễm gì hơn.Rồi tình cờ có một người bạn nhận diện cô Thái Thanh đang là khán giả “bị mời” đang ngồi phía dưới. Chúng tôi đến nhờ cô giúp một tay. Và dù không nói ra, nhưng chúng tôi và cô ngầm hiểu phải “dạy” cho bọn ngố nầy một bài học để xem cái ưu việt nào hơn cái ưu việt nào. Dù không có sự chuẩn bị nào về chương trình và phần nhạc đệm chỉ có một cây guitar thùng, do một tay đàn còn… dưới mức tài tử mấy bực. Nhưng Cô Thái Thanh vẫn hăng hái nhận lời mở đầu phần thứ nhì (tức là phần của thanh niên địa phương chúng tôi). Cô lên tự giới thiệu hát bài Tình Ca của Phạm Duy là một tác giả bị cấm triệt để lúc đó. Trước bọn cán ngố cô bình tĩnh giới thiệu sẽ hát bài hát đầy tình tự yêu nước nhất mà cô biết và cô cất giọng…“Tôi yêu tiếng nước tôiTừ khi mới ra đời… người ơi…”Giọng cô cao vút và trong vắt, mặc kệ cho dàn âm thanh “phường khóm”, mặc kệ tiếng đệm đàn vụng về… Cô dẫn dụ người nghe về một cõi thần thiên của quê hương, mới bị tan hàng có mấy tháng mà tưởng đâu đã xa nghìn trùng… Đám bộ đội ngồi sững sờ, cũng chết lặng theo vì bị cô thu phục, mê hoặc hoàn toàn…“Tiếng nước tôiTiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi…Tiếng nước tôi…”Khi cô hát có những đôi mắt xung quanh nhoà lệ, trong đó có đôi mắt của tôi trong nỗi xúc cảm vô biên… một kỷ niệm thật khó quên trong đời tôi vì hậu quả tâm lý ngược lại do vấn đề nhân tính và tình cảm thiêng liêng của con người đối với quê hương và văn hóa dân tộc. Thế là phe bộ đội thua to.Từ trước tôi đã mê nghe cô hát… Và cho đến giờ tôi vẫn còn mê giọng hát của cô, nhất là trong bài “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” do nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ Màu Tím Hoa Sim của thi sĩ Hữu Loan. Nhưng đối với tôi cho đến tận giờ phút nầy của thế kỷ 21 bản TÌNH CA vẫn là bài hát hay nhất trong tâm hồn tôi, vì nó cho tôi kỷ niệm đáng nhớ từ cô Thái Thanh.Có lẽ tôi không cần kể thêm những bài tôi vẫn hằng yêu mến khi nghe cô hát như Còn Chút Gì Để Nhớ, Hẹn Hò,… Hoặc ngay cả những bài Em Hiền Như Ma Sơ, Trả Lại Em Yêu,… mà tôi hằng ưa thích do ca sĩ Thái Thanh cất giọng lên và cuối cùng vẫn là ca sĩ hát những bài hát đó “tới” nhất, tuyệt vời nhất theo cái thính giác hay âm nhĩ của tôi. Bởi vì chỉ với một baì Tình Ca trong hoàn cảnh giao mùa đó đã đủ cho hình tượng cô sống mãi trong tâm hồn tôi rồi. Cô mãi mãi nêu lên tinh thần bất khuất của kẻ sĩ trong cơn đổi đời bi thãm của lịch sử Việt Nam nói chung, hay lịch sử âm nhạc Việt Nam nói riêng.Thêm một chuyện bên lề nữa là khi “gian hàng cà phê” của cô mở ra ở vĩa hè đường Tự Do có một lần không biết vô tình hay cố ý bọn Công An tạo vở kịch bắt cướp đã xả súng AK bắn thẳng vô, khiến một cô gái bị thương (hình như đó là người giúp việc cho cô). Chúng tôi đến thăm cô tại nhà. Cô tiếp chúng tôi một cách niềm nở, hiền hoà, và chân tình như người hàng xóm với nhau. Cô đâu có biết là cô đang tiếp những người hết sức aí mộ cô như thần tượng, không những trong lãnh vực ca hát mà còn trong nhân cách sống của người nghệ sĩ trước bạo quyền.Lần đó cô có giới thiệu với tôi em Quỳnh Dao (hay Quỳnh Giao ?) là con gái của cô, đang học piano tại phòng khách. Không biết cô đó bây giờ có tiếp tục theo đuổi nghệ thuật âm nhạc hay không mà tôi không được nghe nói tới.Gởi anh Việt Hải bài viết theo ký ức đã trôi qua gần 30 năm. Nếu dùng được cho bài viết của anh thì tốt, nếu không thì xin anh giúp tôi forward lá thư nầy nầy đến cô Thái Thanh như cách tôi biểu lộ lòng ngưỡng mộ, tri ân chân thành nhất đối với cô vậy.”, Minh Thao, Phạm Phú Minh, Bergen, Na Uy.Lời Kết:Mỗi con người đều phải dính dáng hay liên hệ với ba yếu tố trong cuộc sống, đó là: Gia đình, Xã hội hay Cộng đồng chung quanh và Tổ quốc trên cao. Ngày xưa khi tôi học về cụ Nguyễn Đình Chiểu, tôi được thầy tôi dạy về tấm gương của cụ đồ nho phong bất khuất này. Khi chính quyền thực dân Pháp kêu gọi những thành phần thanh niên Việt ra làm tay sai cho chúng, cụ từ chối, mà chỉ chọn nếp sống ẩn dật làm thơ và dạy học. Khi các nghiã binh nổi dậy chống Pháp bị thực dân bắt đem đi xử tử, cụ viết Văn Tế Nghiã Sĩ Cần Giuộc khóc cho bản án của họ như một hình thức tri ân. Cụ cũng là nhà thơ nổi tiếng qua tác phẩm Lục Vân Tiên, cụ đào tạo rất nhiều thế hệ trẻ hành trang cho họ lòng yêu nước, trong đó có người con gái của cụ là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh. Bà SNA hoạt động ngầm quyên tiền cho phong trào Đông Du gửi du học sinh Việt Nam ra xứ ngoài du học, bà còn xuất bản tờ Phụ Nữ Chung tranh đấu cho quyền phụ nữ dưới thời Pháp thuộc. Nói như vậy để thấy rằng cụ Nguyễn Đình Chiểu quý trọng việc rèn luyện, dạy dỗ thế hệ mai hậu, là một vị thi hào của xứ sở và là một kẻ sĩ yêu nước, thương nòi.Tương tự như thế, người công dân Thái Thanh trong nhãn quan của tôi đã sống gương mẫu với cái bất khuất của kẻ sĩ trong giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử miền nam năm 75, cô là một ca sĩ thượng hạng của nền âm nhạc Việt Nam và cô đã thành công nuôi dưỡng những người con trưởng thành đóng góp cho cộng đồng và cho xã hội vậy. Bài viết nầy do nhiều anh chị em thuộc thế hệ đi sau cô gom góp những suy tư về những đặc điểm được xem là di sản Thái Thanh để lại cho ngàn sau.Việt Hải, Los Angeles.* VH chân thành cám ơn các anh chị thân hữu đóng góp ý trong bài nay. Mùa tưởng niệm, 30-04-2004.Link: : https://thanhthuy.me/2014/08/13/thai-thanh-tieng-hat-tuyet-voi-viet-hai/———————————————————————————–‘Tiếng Hát Vượt Thời Gian,’ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi:https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/tieng-hat-vuot-thoi-gian-danh-ca-thai-thanh-qua-doi-huong-tho-86-tuoi/THÁI THANH – NHỮNG Tình Khúc Hải Ngoại Để Đời CỦA DANH CA « TIẾNG HÁT VƯỢT THỜI GIAN »:https://www.youtube.com/watch?v=01Z89fXdFYsBAN HỢP CA THĂNG LONG – THÁI THANH: https://dotchuoinon.com/2015/08/23/tan-nhac-viet-nam-ban-hop-ca-thang-long/:

TRẦN VIỆT HẢI : CẢM NGHĨ VỀ GS TRẦN QUANG HẢI


Chapeau intro:
Cách đây không lâu tôi tình cờ được biết tin không vui là GS. TS. Trần Quang Hải bị vướng chứng bịnh ung thư. Anh là một nhân tài về ngành nhạc dân tộc học (ethnomusicologie /ethnomusicology), ngành học được giảng dạy tại các đại học trên thế giới, hầu phổ biến, lưu truyền về các loại nhạc cổ truyền của các dân tộc trên thế giới bao gồm nhiều thể loại, trong đó nhất là có dân ca, và nghệ thuật sử dụng các khí cụ âm nhạc hay về nghệ thuật âm nhạc, một sắc thái văn hóa độc đáo nào đó của một dân tộc hay một quốc gia..
.
Link: https://www.youtube.com/watch?v=anypfOH7mRI&t=860s

  1. TS. Trần Quang Hải, cũng như thân phụ của anh, GS. NS. Trần Văn Khê là những học giả am tường và nghiên cứu sâu xa về âm nhạc ở đẳng cấp quốc tế công nhận, tên tuổi được thế giới biết đến. Trần Quang Hải mang cá tính xuề xòa, dung dị, dí dỏm, có lẽ phần nào như chú 3 Trần Văn Trạch. Và cũng có lẽ ít ai biết nhạc sĩ Trần Quang Hải là cháu của dũng tướng Nguyễn Tri Phương.

Trong tâm tình với đàn anh đồng môn cùng sân trường Petrus Ký, tôi cầu xin Chúa Phật phù hộ cho sức khỏe của anh Trần Quang Hải được tai qua nạn khỏi, khi mà khoa học tiến bộ trên thế giới càng tiến gần đến việc khắc phục để chế ngự các căn bịnh nan y hiểm nghèo như ung thư. Đây là 2 chữ khó ưa đối với tôi. Tôi chúa ghét nó, vì chính tôi cũng bị dính búa với nó, tuy chưa ngủm củ tỏi, nhưng hơi ơn ớn xương sống vậy.

Cher anh Trần Quang Hải,
Nous prions toujours pour vous, et nous serons sûrement avec vous à travers la profonde vallée de la tristesse jusqu’au grand espoir de la montagne, …
Que Dieu vous bénisse!

Phan Anh Dũng, Trần Mạnh Chi, Phạm Hồng Thái và Trần Việt Hải/ Nhóm NATV & TTG.

Mystères des voix du monde (VF):
https://www.youtube.com/watch
———————————————————————————————————
Dân tộc nhạc học là gì?, GS. TS. Trần Quang Hải (Paris):
http://minhtrietviet.net/dan-toc-nhac-hoc-la-gi/

Mes mots d’intro du Prof. Tran Quang Hai…
Dr. Tran Quang Hai est un professeur renommé dans le domaine de l’ethnomusicologie et de l’étude de la musique folklorique dans le monde entier, ainsi que le professeur Tran est excellent dans l’interprétation et l’enseignement des instruments, musiques traditionnelles, … VHLA
——————————————————————————————————
Subject: Viet Nam musique traditionnelle – Prof. Tran Quang Hai
From: Pham Hong Thai
To: VietHai Tran, Tran Manh Chi
cc: Tran Quang Hai, Nghiem Phu Phuc, Phan Anh Dung
Mar 28 at 2:41 AM
Link: https://www.youtube.com/watch?v=anypfOH7mRI&t=860s

Yêu Nhau Cởi Áo Cho Nhau – bài Hưng Yên.

rfviet.com- Cũng chịu ông thật, mới nằm xuống chừng mươi, mười lăm phút là đã ngáy được ngay, trong khi “người ta” thì trằn trọc mãi đến một, hai giờ sáng mà vẫn chưa chợp mắt được!

– Ờ ờ dễ ngủ thế đấy, nhưng cũng chỉ được vài ba tiếng đồng hồ rồi hai mắt lại thao láo chứ có ngủ tiếp được đâu, sau đó thì thấy đêm sao mà nó dài quá!

Đó là câu “than thở” mà đôi vợ chồng già này thường hay thở vắn than dài với nhau như thế đấy các vị ạ! Nói ra thì lại sợ bị chê là già rồi mà còn không nên nết, hay sẽ bị bà xã cằn nhằn cho là vạch áo cho người xem, lưng chứ ở với nhau đã 52 năm, con đàn cháu đống rồi mà chẳng khi nào phải sống xa nhau, trừ cái đận trên 6 năm ở tù cải tạo của Việt Cộng là nằm khác giường, chứ ngoài ra bao giờ cũng chỉ “chung một giường” thôi. Nó quen đi rồi, không nghe thấy tiếng thở của nhau, hay là lâu lâu không đụng vào nhau một tí thì cứ thấy nó trống vắng làm sao ấy, không ngủ được, âu cũng là cái tật!

Nằm chung giường, nhưng một người thì trằn trọc đến một, hai giờ sáng vẫn chưa ngủ được, còn một người thì đặt lưng xuống mới chỉ mươi, mười lăm sau đã ngáy khò khò. Vâng, thế nhưng mà có phải là ngáy khò khò rồi thì “làm một phát” cho tời sáng đâu? Chỉ hai, ba tiếng đồng hồ sau là hai mắt lại thao láo, nên mới thấy sao mà đêm nó dài quá?

Đêm nó dài quá, không ngủ được nên đầu óc cứ nghĩ lung tung, hết chuyện nọ rọ chuyện kia, mới thấy như là: Ngày xưa các cụ ta hình như không có cái gọi là “tiếng sét ái tình” thì phải? Bởi nếu không “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” thì lấy nhau cũng là do bà mai, ông mối chứ chẳng phải tự nhiên mà nên vợ nên chồng đâu. Bởi thế mới có câu: “Ở đời có 4 cái ngu, làm mai lãnh nợ gác cu cầm chầu”! Đẹp tốt thì chúng hưởng, còn nếu chẳng ra gì thì cứ ông mối bà mai chúng chửi, như thế có phải là nghề mai mối là nghề bạc bẽo nhất không?

Vâng, nếu chỉ nghĩ phớt qua thì nó vậy, nhưng nếu chịu khó đi sâu vào tục ngữ, ca dao của ta một chút thì lại thấy các cụ ta ngày xưa chẳng những đã yêu nhiều mà còn có những cử chỉ tỏ lộ tình yêu rất đẹp, nếu không thì làm sao lại có những câu như thế này:

“Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay”

“Yêu nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua”

“Yêu nhau chẳng lọ chiếu giường
Chỉ một tầu lá che sương cũng vừa”

“Yêu nhau trăm sự chẳng nề,
Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”

Và còn rất nhiều câu có nói đến chữ “Yêu” nữa, thí dụ như: “Yêu nhau cau bảy bổ ba, ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười”. Hoặc: “Khi yêu trái ấu cũng tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo”. Hoặc: “Khi yêu yêu cả đường đi, khi ghét ghét cả tông ti họ hàng…!” Một hôm chỉ có hai vợ chồng già với nhau, tôi hỏi bà xã: Theo mình thì câu “Yêu nhau cởi áo cho nhau, về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay” là người con trai cởi áo cho người con gái, hay người con gái cởi áo cho người con trai?

Cũng cần phải nói cho rõ ràng ba chữ “cởi áo cho” ở đây có nghĩa là người này cởi áo mình đang mặc “đưa” hoặc “khoác” cho người kia, chứ không có nghĩa “mập mờ” như sự giải thích trong một bài phiếm của một vị mà chúng tôi đọc được ở trên “net” là người này cở áo của người kia ra để làm sự gì đó?

Nghe tôi hỏi là người con trai cởi áo cho người con gái hay người con gái cởi áo cho người con trai? Bà xã tôi trả lời ngay không cần nghĩ ngợi: “Rõ ràng là người con trai cởi áo đang mặc ra khoác cho người con gái chứ người con gái cởi áo của mình ra thế nào được”! Tôi cho là câu trả lời chính xác, rồi trong đầu lại hình dung ra cảnh:

Một buổi chiều mùa thu đất Bắc, gió se se lạnh, chàng với nàng cùng đi trên con đường vắng, thấy nàng phong phanh chỉ một manh áo mỏng, run rẩy vì rét thương quá đi thôi! Thế là mặc dù cũng chỉ mặc một tấm áo, chàng vẫn cởi ra khoác lên người nàng. Còn “Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay” chỉ là một câu nói dối thậm vô lý nhưng lại rất có duyên. Trời rét căm căm thế này thì áo mặc trên người chứ cởi ra vắt vai hay sao mà “qua cầu gió bay” được? Không nói thì mẹ cũng biết thừa là đã cho ai rồi?!

Một điều nữa khẳng định hành động “cởi áo” là hành động của người con trai bởi hầu hết là người nam “đô” con hơn người nữ, nên người nữ mặc được áo của người nam chứ người nam không thể mặc vừa áo của người nữ được. Chẳng cần nói đâu xa, cứ ngay như vợ chồng già này thôi, áo của bà xã, tôi xỏ một cánh tay cũng không lọt chứ nói chi đến mặc cả một cái lên vào người. Các vị cứ tưởng tượng đi, một người nặng trên 160 pounds có thể mặc vừa áo của một người mà khi có da có thịt nhất cũng chỉ nặng không quá 115 pounds không? Thế nào chả có vị không đồng ý, hỏi rằng: Thế ca dao (hay là dân ca) ta cũng có những câu như thế này:

“Bồng bồng cõng chồng đi chơi
Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng
Ông ơi cho tôi mượn cái gầu sòng
Để tôi tát nước đem chồng tôi lên!”

Thế không phải là “chàng” nhỏ con hơn “nàng” hay sao?

Dĩ nhiên, nhưng trong trường hợp này dù “nàng” có cởi áo đưa cho “chàng” mặc thì cũng không thể ứng với câu “Yêu nhau cởi áo cho nhau” được!

Tuy tình yêu của các cụ ta xưa không ồn ào, không một sống hai chết như ngày nay, nhưng cũng không kém phần lãng mạn, những câu sau đây nói lên sự lãng mạn đó:

“Ước gì sông hẹp một gang
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”

“Ước sao ăn ở một nhà
Ra vào gặp mặt kẻo mà nhớ thương”

“Ước gì có cánh như chim
Bay cao lượn thấp đi tìm người thương”

Tình yêu chẳng những đã lãng mạn mà lại còn rất đẹp, hứa hẹn những điều chẳng biết có thực tế và có thực hiện nổi hay không:

“Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây tím chung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch bát tràng về xây
Xây dọc anh lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân”

Tình yêu tuy lãng mạn như thế, nhưng kết thúc lại hiếm khi vượt ra ngoàt vòng lễ giáo của gia đình. Dù có yêu nhau thế nào đi nữa cũng vẫn phải được sự chấp thuận của đôi bên cha mẹ, vẫn phải qua mọi thủ tục, đủ mọi lễ nghi mới nên vợ nên chồng được. “Nhà có nóc, áo mặc không qua khỏi đầu”! Đó là những câu nói tỏ rõ sự tôn kính và uy quyền của cha mẹ đối với con cái. Cũng chính vì thế mà khi đã kết hợp lại thành vợ, thành chồng rồi thì hình như nó có một sự ràng buộc tuy vô hình nhưng rất bền vững. Xã hội Việt Nam ta ngày xưa hầu hết có nếp sống tập trung như những đại gia đình. Không phải chỉ con cái tuy đã lập gia đình rồi mà vẫn ở với cha với mẹ mà có khi ông bà, cha mẹ, con cái, cháu chắt đến 3, 4 đời vẫn sống quây quần, ràng buộc lấy nhau trong một khu nhà, vì thế mà tôn ti, trật tự rất được coi trọng. Con cái, cháu chắt làm điều sai quấy chẳng những sợ làm ông bà, cha mẹ buồn lòng, mà có khi còn sợ bị ông bà, cha mẹ quở mắng, trách phạt.

Người con gái ngày xưa đi lấy chồng là gánh cả giang sơn nhà chồng. “Thân gái 12 bến nước, trong nhờ đục chịu”. “Đàn bà như hạt mưa sa, hạt rơi xuống giếng hạt ra ngoài đường”. Và còn có những câu:

“Có chồng phải luỵ cùng chồng
Đắng cay phải chịu mặn nồng phải theo
Lên non cũng phải lên theo
Tay vịn chân trèo hái trái nuôi nhau”

Khi người con gái đã lấy chồng rồi thì coi nhà chồng mới là nhà của mình, coi cha mẹ chồng có khi còn quan trọng hơn cả cha mẹ đẻ ra mình, vì thế nên mới có câu: “Con gái là con người ta, con dâu chính thực mẹ cha mua về”, và mới có hai chữ “gả bán”.

Người con gái thì thế, còn người con trai, có gặp phiền toái gì khi muốn lấy vợ không? Dĩ nhiên là có, chúng ta hãy nghe những câu than vãn sau đây:

“Trời mưa cho ướt lá khoai
Công anh làm rể đã hai năm ròng
Nhà em lắm ruộng nhiều đồng
Bắt anh tát nước cực lònh anh thay
Tháng Chín mưa bụi gió may
Cất lấy gầu nước hai tay rụng rời”

Còn nữa, một anh khác lại than:

“Công anh làm rể chương đài
Đến nay đã được mười hai năm tròn
Sức anh ngày một hao mòn
Dù có cố gắng chẳng còn mấy hơi”

Con gái thì đi làm dâu còn con trai thì đi ở rể, tuy vậy mà dù lấy nhau vì yêu hay chỉ do sự định đoạt, “gả bán” của cha mẹ mà một khi đã trở thành chồng, thành vợ rồi thì cũng thuỷ chung, cũng ăn ở với nhau suốt đời suốt kiếp. Mấy câu thơ trong bài “Tình già” của ông Phan Khôi cho ta thấy 2 chữ “Thuỷ chung” đó:

“Hay! nói mới bạc làm sao chớ
Buông nhau làm sao cho nỡ
Thương được chừng nào hay chừng nấy
Chẳng qua ông trời bắt đôi ta phải vậy
Ta là nhân ngãi đâu có phải vợ chồng mà tính việc thủy chung?”

Ý nghĩa thật rõ ràng “buông nhau làm sao cho nỡ, thương được chừng nào hay chừng nấy” vì ta mới chỉ là nhân ngãi “đâu có phải vợ chồng mà tính việc thủy chung?”

Ngày xưa các cụ ta chẳng thấy nói tới tiếng sét ái tình, chẳng có nặng lời thề thốt, chẳng có mấy tháng, mấy năm tìm hiểu. Ngày xưa các cụ ta làm gì có cảnh anh dẫn em đi ăn nhà hàng, rồi đưa em đi shopping, rồi nay tặng bông, mai tặng nhẫn, mốt tặng kim cương, hột xoàn… Có chăng là khoác cho nhau manh áo cũ nặng mùi mồ hôi (cởi áo cho nhau) với những lời ước mơ nghe như viễn vông, không thực tế: Anh lấy được nàng, anh mua gạch bát tràng về xây, “xây dọc anh lại xây ngang, xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân”! Ấy thế mà khi đã thành vợ, thành chồng rồi thì chung thuỷ với nhau cho đến già, đến chết, sinh con đẻ cái, làm nên một dòng họ vững bền cho tới mãi về sau.

So sánh với thời các cụ, chúng ta bây giờ sướng hơn nhiều. Chúng ta được tự do lựa chọn người chúng ta sẽ lấy. Chúng ta yêu nhau, tìm hiểu nhau chán chê rồi cưới hay không cưới là do mình quyết định, chẳng cha mẹ nào ép buộc. Ngày cưới, sự có mặt của cha mẹ đôi khi chỉ có tính cách lễ nghi hay chỉ như một sự trang trí chứ không có tính cách quyết định, bởi vì có mặt cha mẹ hay không thì người ta cũng vẫn cứ cưới nhau. Còn “làm dâu” với “ở rẻ” thì hầu như đã trở thành truyện cổ tích. Bây giờ có khi mẹ chồng còn phải sợ nàng dâu chứ “bà cô bên chồng” là cái thá gì? Có nàng dâu còn ra điều kiện không cho mẹ chồng ở chung nhà. Có cặp đã mua hay thuê nhà sẵn rồi “cưới nhau xong là đi “, năm thỉnh mười thoảng anh chị mới dẫn nhau “đáo” về nhà cha mẹ chồng một lần cho phải phép.

Chúng ta có “tiếng sét ái tình”, có tình yêu lý tưởng như thế và cũng đã có thời gian tìm hiểu nhau kỹ càng như thế, ấy vậy mà sao mới chỉ sau có mấy năm thì đã chán nhau như chán cơm nếp nát? Đã chẳng có thiếu gì các anh, các chị học hành đỗ đạt bằng nọ bằng kia và tuổi đời cũng mới chỉ quá 40 một tí đã mấy lần thay vợ, đổi chồng, hay cho như thế mới thật sự là văn minh? Rồi còn con cái chúng ta nữa, đã có không thiếu những đứa trẻ có mẹ mà thiếu cha hoặc có cha mà không có mẹ. Có thể vật chất chúng không thiếu, nhưng tinh thần của chúng thì sao? Đã có một lúc nào chúng ta ngồi bình tâm suy nghĩ và giật mình vì thấy là mình chẳng những đã quá ích kỷ lại còn thua xa các cụ ta ngày xưa hay không?

Source: MachSongMedia.
———————————————————————————————————
Un peu parler de Tran Quang Hai et Bach Yen…

Fils de l’éminent Professeur Tran Van Khé, récemment disparu, musicien et musicologue, Tran Quang Hai déploie une impressionnante palette de techniques vocales et instrumentales alliées à une créativité sans faille.
Il forme avec son épouse, la chanteuse Bach Yen, un duo complémentaire aux riches rebondissement et saveurs toujours à découvrir.

Tran Quang Hai anime aussi régulièrement des stages de chant diphonique au Centre Mandapa. A l’occasion de son 40ème anniversaire, le Centre Mandapa a le plaisir d’accueillir à nouveau de nombreux musiciens, danseurs et conteurs, qui ont enrichi de leur présence l’histoire du lieu, ou qui souhaitent à leur tour rendre hommage à ceux qui ne sont plus, au fil des temps forts de ces soirées et de cette programmation exceptionnelle, qui prendra cours jusqu’en juillet 2016.

En 2009, Bui Xuan Quang a réalisé pour Paris Vietnam Productions des Variations sur la musique vietnamienne par le musicologue TRAN QUANG HAI avec la voix de BACH YEN. Nguyen Van Dong est à la caméra, Blandine Brière a assuré le son.

https://www.youtube.com/watch?v=anypfOH7mRI&t=860s

Qua Cầu Gió Bay
Tác giả: Dân Ca

Yêu nhau cởi áo ối à trao nhau
Về nhà dối rằng cha dối mẹ a à a á a
Rằng a ối a à qua cầu, tình tình tình gió bay
Rằng a ối a à qua cầu, tình tình tình gió bay

Yêu nhau cởi nón ối à cho nhau
Về nhà dối rằng cha dối mẹ a à a á a
Rằng a ối a à qua cầu, tình tình tình sứt quai
Rằng a ối a à qua cầu, tình tình tình sứt quai

Yêu nhau cởi nhẫn ối à trao nhau
Về nhà dối rằng cha dối mẹ a à a á a
Rằng a ối a à qua cầu, tình tình tình đánh rơi
Rằng a ối a à qua cầu, tình tình tình đánh rơi..

Ref.link: https://www.facebook.com/langquanho/videos/1670913859796684/
——————————————————————————————————–
Mystères des voix du monde (VF)
https://www.youtube.com/watch?v=7Cvd2W-b840

Le célèbre ethnomusicologue Trân Quang Hai nous invite avec humour à un extraordinaire tour du monde des timbres de voix. Un voyage initiatique en quelque sorte ! Il lève le voile sur les techniques de travestissement vocal des sorciers africains, sur le chant diphonique mongol ou encore sur la voix extrêmement grave des moines bouddhistes tibétains.
© Patrick Kersalé 2012

Prof. Tran Quang Hai, un musicien Vietnamien maîtrisant le chant diaphonique mongol (« cette technique consiste pour une personne à produire plusieurs sons simultanément en réalisant principalement un bourdon vocal guttural et une mélodie d’harmoniques.
Dans la technique vocale du chant diphonique connu surtout en Asie centrale, une seule personne chante à deux voix : un bourdon (une note grave) constitué par le son fondamental, et une mélodie superposée formée par des harmoniques sélectionnées dans la cavité buccale.
Tran Quang Hai, ethnomusicologue et musicien, enseigne cette technique dans un atelier d’initiation. Des images radiologiques et spectrales, en temps réel et son synchrone, permettent de visualiser les procédés vocaux du point de vue physiologique puis acoustique. Deux artistes mongols sont interviewés et filmés lors d’un concert à Paris.

Le chant diphonique, et la notion d’Harmoniques.
Le phénomène sonore est très complexe. Des physiciens étudient l’acoustique et les sons, et grâce aux machines apparues au XXè siècle on a pu confirmer physiquement, et scientifiquement que la constitution d’un son est l’addition de plusieurs fréquences. Elles sont exprimées en Hertz (Hz). Une fréquence FAIBLE, est un son GRAVE. Une fréquence ELEVEE est un son AIGU.

Une note est simplement une fréquence fondamentale, avec au-dessus, d’autres fréquences. Ces fréquences sont entendues à certaines intensités bien plus faibles (volume). Ce qui fait que nous distinguons le son du piano, d’un saxophone par exemple, vient du fait que ces fréquences ne sont pas entendues aux mêmes intensités. C’est ce qu’on appelle LE TIMBRE.

Pour comprendre et approfondir cette notion physique, je vous invite à découvrir un site remarquable, avec des extraits sonores explicites : CLIQUEZ ICI : Découverte de la notion de Timbre

En Mongolie, et d’autres pays d’Asie (Tibet…), les moines bouddhistes en particulier ont développé la technique du chant diphonique, qui leur permet de mieux entrer en communication avec leurs Dieux. Outre la Mongolie, l’Inde et l’Afrique du sud comptent également des chanteurs diphoniques. Certains moines tibétains pratiquent également ce chant et vont même jusqu’à se briser les cordes vocales volontairement pour obtenir un timbre de voix plus grave.

Le chant diphonique fait partie intégrante de la vie musicale en Mongolie et au Touva. Pratique vocale ancestrale, il est lié par tradition à la nature et aux forces qui l’animent. Il est chargé de rythmer les évènements de la vie quotidienne (imitation du vent, cris d’animaux…). On le rencontre également dans d’autres régions du monde comme au Tibet où les moines Gyuto l’utilisent dans leur pratique spirituelle ainsi que chez les femmes de la tribu Xhosa en Afrique du Sud.

Cette pratique vocale a commencé à susciter de l’intérêt chez les musiciens occidentaux depuis la fin des années 60 avec K. Stockhausen (Stimmung), David Hykes, Tran Quang Haï…

Cette technique, très difficile demande un travail vocal rigoureux. Elle consiste à chanter un bourdon (une note tenue dans le registre grave), et en formant des voyelles spécifiques, et en plaçant astucieusement sa langue, placer une mélodie au-dessus de ce bourdon. Cette mélodie correspond aux harmoniques. Le chanteur aura réussi à sélectionner des fréquences d’harmoniques, en sachant quelle voyelle, et quelle placement de la langue il devait utiliser pour faire « sonner » ou « sortir » l’harmonique voulue.

website: http://tranquanghai.info
blog: https://tranquanghai1944.wordpress.com
http://www.overtone.cc/profile/TRANQU

Data References:
https://haidiphonie.com/category/tran-quang-hai-2/

http://seem.paris-sorbonne.fr/…/l_ethnomusicologie_en_franc…

https://www.google.com/search

 

TQH1TQH2TQH3TQH4TQH5TQH6TQH7TQH8TQH9

BĂNG HUYỀN: Chiều văn học nghệ thuật ra mắt sách Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt


Chiều văn học nghệ thuật ra mắt sách Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt

GS Quyên Di thay mặt bà khoa trưởng trao tặng bằng vinh danh GS. TS Trần Quang Hải. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Bài BĂNG HUYỀN

Trưa Chủ Nhật, ngày 10 tháng 2, 2019 tại phòng hội của Đại Học Cal State Long Beach (CSULB) thuộc Phân Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ Gốc Á Châu (Asian & Asian American Studies) đã diễn ra buổi “Chiều Văn Học Nghệ Thuật” năm thứ III do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức.
Chương trình này rất đặc biệt, là buổi ra mắt sách “Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian kết hợp cùng Nhóm Văn Thơ Lạc Việt tại San Jose thực hiện, và vinh danh Giáo Sư Tiến Sĩ (GSTS) Trần Quang Hải. Ông là con trai đầu của cố Giáo sư Tiến Sĩ Trần Văn Khê và cháu của “quái kiệt” Trần Văn Trạch.

GS.TS Trần Quang Hải diễn thuyết và trình diễn hát Đồng Song Thanh và đàn Môi. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Ông là một thuyết trình viên, nhạc sĩ sáng tác và là người thầy nổi tiếng về sư phạm âm nhạc. Ông đã có hàng nghìn cuộc nói chuyện, giới thiệu âm nhạc Việt Nam khắp nơi trên thế giới. Ông không chỉ chuyên về nhạc dân tộc Việt, mà còn là chuyên gia về nhạc cụ và âm nhạc của các nước châu Á. Ông sống tại Paris, Pháp, đã thực hiện rất nhiều công trình vĩ đại với nhiều sáng tạo đầy màu sắc nghệ thuật độc đáo.
Giáo sư Quyên Di là giảng viên Phân Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ Gốc Á Châu của Đại Học Cal State Long Beach và là thành viên của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Giáo sư Quyền Di cho biết, “Đây là chương trình thường niên lần thứ ba Chiều Văn Học Nghệ Thuật của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức, dưới sự bảo trợ của Khoa Nghiên Cứu về Người Mỹ gốc Á Châu của Đại Học Cal State Long Beach. Tôi sẽ đại diện cho phân khoa và bà khoa trưởng, Giáo Sư Tiến Sĩ Teri Yamada, hiện đang công tác tại Ấn Độ, nên không thể có mặt trong chương trình lần này, để trao giải thưởng cho Giáo sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải và tôi cũng đại diện chương trình tiếng Việt của trường, trao cho ông giải thưởng. Giải thưởng ghi nhận sự đóng góp không biết mệt mỏi của Giáo sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải vào gia tài âm nhạc Việt Nam.

Cùng nhau hát “Và Con Tim Đã Vui Trở Lại” (Băng Huyền/ Viễn Đông)

“Giáo sư Trần Quang Hải có nhiều công trình lắm, ngoài những công trình về sáng tác âm nhạc, công trình về thu thanh thu hình âm nhạc và trình diễn. Ông còn là một người nghiên cứu rất sâu về âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Cuốn sách Trần Quang Hải 50 năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt, tập hợp rất nhiều bài nghiên cứu của ông. Trong quyển sách này đặc sắc nhất và tôi được học hỏi nhiều là bài Nguồn Gốc Âm Nhạc Việt Nam.”

Ông Trần Mạnh Chi, trưởng Ban Tổ Chức và là đại diện cho Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, bày tỏ, “Chúng tôi hân hạnh đón tiếp mọi người đến dự ra mắt sách của Giáo sư Trần Quang Hải từ Pháp qua. Nhạc sư đã bỏ công 50 năm nghiên cứu về âm nhạc nghệ thuật Việt Nam. Đây là niềm hãnh diện cho người Việt Nam khắp nơi trên thế giới. Tất cả những chương trình mà nhóm đã tổ chức trong quá khứ và sắp tới, chúng tôi mong mỏi vinh danh những nhà văn học, nhà văn hóa nghệ thuật, những ai đóng góp công sức cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam. Hôm nay đặc biệt còn có một buổi triển lãm tranh mini của các họa sĩ Hoàng Vinh, họa sĩ Hồ Thành Đức, họa sĩ Beky, họa sĩ Lưu Anh Tuấn… bên ngoài phòng hội trước khi diễn ra chương trình chính.”

GS. TS Tahara (người đầu tiên từ trái qua) hát Qua Cầu Gió Bay chung với Thụy Vy và Hậu Nguyễn. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Giáo sư Tiến sĩ Trần Quang Hải có mặt từ rất sớm để ký tặng sách cho mọi người, cùng xem tranh của các họa sĩ triển lãm bên ngoài phòng hội và chụp hình lưu niệm với bạn hữu, thân hữu, những khán giả yêu mến tài năng của ông. Nói về cảm xúc của mình, Giáo sư Trần Quang Hải chia sẻ, “Đây là chương trình rất đặc biệt và vinh dự cho tôi, là một người từ phương xa đến. Sự tiếp đãi rất nồng hậu, tất cả những cảm tình, sự tiếp đón của anh em trong cộng đồng đem lại cho tôi niềm vui, để tôi thấy rằng người Việt Nam vẫn còn yêu thương nhau. Đây là buổi giới thiệu quyển sách, là công trình nghiên cứu của tôi về nhạc dân tộc Việt trong 50 năm qua, như lĩnh vực hát đồng song thanh, không những phổ biến giọng hát, phổ biến dùng giọng hát để chữa bệnh, giúp những người câm có thể nói chuyện được mà không phải mổ, đó là những đóng góp rất nhỏ không chỉ trong âm nhạc mà nó liên hệ đến nhiều lĩnh vực khác nhau, và được gặp gỡ người đồng hương tại vùng Nam Cali sau 13 năm tôi mới trở lại gặp những người Việt sống tại đây.

GS. TS Trần Quang Hải chụp lưu niệm tại triển lãm tranh mini (Băng Huyền/ Viễn Đông)

“Tôi rất lấy làm vui mừng và hân hạnh được tiếp đón ở trường Đại Học Cal State Long Beach, là niềm vui cho tôi và tôi cũng chia sẻ niềm vui đó với cộng đồng người Việt tại California nói riêng và cho tất cả những người Việt của cộng đồng Việt Nam tại đất Mỹ này nói chung. Sự vinh danh này chỉ là cá nhân thôi, nhưng điều tôi thấy trường Đại Học Mỹ bắt đầu chú trọng về văn hóa Việt, đó là điểm son do sự đóng góp của rất nhiều những vị giáo sư mà chúng tôi được hân hạnh gặp và một số vị đã đóng góp một cách trực tiếp hay gián tiếp trong công trình xây dựng văn hóa Việt Nam ở hải ngoại.”

Các thành viên trình diễn tiết mục thời trang. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Sau khi thức khai mạc trang trọng với sự điều hợp của MC Thụy Vy, Ban Hợp Ca nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã gợi nhắc bao nỗi bồi hồi trong tim khán giả qua ca khúc Nắng Đẹp Miền Nam (Lam Phương) và bồi hồi nhiều suy nghiệm về cuộc đời về tình thương giữa người với nhau qua ca khúc Phút Chan Hòa (Thơ Trần Việt Hải, nhạc Hồng Tước).

Phần nghi thức vinh danh GS. TS Trần Quang Hải với GS Quyên Di của trường Cal State Long Beach, Bà Nguyễn Thế Thủy đại diện của Học Khu Westminster trao bằng tưởng lục đến GSTS Trần Quang Hải. GS Dương Ngọc Sum là cố vấn Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian cùng các cựu học sinh của trường Petrus Ký tặng quà lưu niệm cho GS Trần Quang Hải, là một cựu học sinh của Petrus Ký. Vài thành viên Nhóm Văn Thơ Lạc Việt tại San Jose đã tặng GS. TS Trần Quang Hải hai cuốn sách “Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” tiếng Việt và tiếng Anh do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian kết hợp cùng Nhóm Văn Thơ Lạc Việt tại San Jose thực hiện,

Những tiết mục phụ diễn văn nghệ đặc sắc

Những người mẫu không chuyên của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã trình diễn tiết mục Thời Trang Áo Dài Việt Nam Theo Dòng Thời Gian, dưới sự dẫn dắt dí dỏm của Giáo sư Quyên Di và cô Thủy Vân đã giới thiệu tên gọi, thời gian ra đời của từng bộ áo dài Ngũ Thân, áo dài Lemur/Cát Tường, áo dài Tứ thân/ Lê Phổ, áo dài Raglan/ Trần Kim, áo dài Trần Lệ Xuân…

GS Quyên Di giới thiệu ba sinh viên của mình lần lượt đọc lá thư của bà khoa trưởng gửi đến GS. TS Trần Quang Hải về lý do bà không có mặt trong buổi vinh danh. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Chương trình càng thêm đậm đà phong vị dân tộc với giọng hát của dược sĩ Thanh Mai qua ca khúc Rất Huế của Võ Tá Hân sáng tác, do chính nhạc sĩ Võ Tá Hân đệm guitar cho giọng hát của Thanh Mai. Giọng ca ngọt ngào của Ngọc Quỳnh hát “Dạ Cổ Hoài Lang” và nét duyên dáng, luyến láy, nhấn nhá từng câu chữ của ca sĩ Thúy Anh (Là – xướng ngôn viên, biên tập viên của chương trình radio Chiều Thứ Bảy) hát bài Mình Ơi Em Chẳng Cho Về của nhạc sĩ Anh Bằng, với tiếng đàn guitar của anh Nguyên Vũ.

Giáo sư Tiến Sĩ Hiroki Tahara, phó giám đốc Trung Tâm Giáo Dục Ngôn Ngữ Học tại đại học APU Nhật, không những nói, viết tiếng Việt rất lưu loát mà anh còn am hiểu văn hoá Việt rất sâu. Trong bộ áo dài cách điệu, anh cùng với MC Thụy Vy và ông Hậu Nguyễn là thành viên trong Ban Tổ Chức đã hát rất tình bài hát Qua Cầu Gió Bay.

Anh Hiroki Tahara đã tiết lộ với người viết, cách nay hơn 20 năm, hồi còn là sinh viên năm thứ nhất Cử nhân ngoại ngữ học tiếng Việt tại trường Đại Học Ngoại Ngữ Tokyo, anh đã từng tập hát bài Qua Cầu Gió Bay, hát chung với các sinh viên khoa tiếng Việt. Lần này tham dự trong chương trình, ban tổ chức đề nghị anh hát bài này, anh đã tập lại trong một tuần để hát. Anh rất thích bài hát này nên dù hai mươi mấy năm rồi vẫn chưa quên. Lúc còn sinh viên, anh hát nhưng hoàn toàn không hiểu ý nghĩa bài hát. Dù vậy bài hát để lại ấn tượng đẹp để anh nhớ hoài, anh rất thích câu hát “Tình tình tình gió bay… tình tình tình gió bay, vì âm điệu nên thơ.

Những giọng ca tài tử của các ca sĩ khách mời góp vui cho chương trình, bằng tài năng và sự duyên dáng của mình, họ đã giúp người nghe có mặt trong buổi diễn càng yêu cái chất thơ tinh tế vô cùng của dân ca, ca khúc mang âm hưởng dân ca của các nhạc sĩ, càng nghe lại càng thấm cái ý nhị đẹp đẽ trong nội dung câu hát, cái thanh lịch nhẹ nhàng, cái tình rất nồng đượm mà không vồn vã của người Việt Nam.

Diễn thuyết và trình diễn

Có lẽ tiết mục đặc biệt và nhận được những tràng pháo tay cùng những lời ngợi khen, hâm mộ từ những người tham dự nhiều nhất, chính là tiết mục diễn thuyết kết hợp trình diễn của Gíao sư Trần Quang Hải trong khoảng 20 phút.

Với lối nói chuyện hài hước và phong thái giản dị, mộc mạc, GS. TS Trần Quang Hải đã chia sẻ súc tích những nghiên cứu của ông về Nhạc Dân tộc xoay quanh hai công trình: Hát đồng song thanh, và đàn môi. Trong hai công trình ấy, Hát đồng song thanh là công trình mà ông dày công nghiên cứu nhiều nhất. Hát đồng song thanh, còn được biết đến trên thế giới với cái tên Tuvan Throat Singing, Khoomei (Khơ mây), Hooliin Chor.

Là một biến thể đặc biệt của hòa âm giọng hát, được hình thành và phát triển từ Mông Cổ, Nội Mông, Tuva và Siberia. Nó được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể năm 2009 dưới cái tên Nghệ thuật hát Mông Cổ, Khơ mây. Trong kĩ thuật hát này, người trình diễn sẽ tạo ra một cao độ cơ bản và đồng thời tạo ra thêm một cao độ khác cao hơn cùng lúc.

GS TS Trần Quang Hải ký tặng sách. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Công trình nghiên cứu Hát đồng song thanh của GS.TS Trần Quang Hải là một quá trình nghiên cứu, từ vị trí phát âm và các kỹ thuật hát của mỗi dân tộc trên thế giới, cho đến các lối hát đồng song thanh của các nước Tây Á và kiểu thức cầu kinh của các vị Lạt Ma- Tây Tạng. Từ cơ sở đó, ông phát triển và sáng tạo lối hát Đồng song thanh theo kiểu của riêng ông, mà hiện nay không những để biểu diễn âm nhạc mà còn ứng dụng vào lĩnh vực Y khoa.

Đây còn là cách điệu trị học cho các căng bệnh đứt dây thanh quản và khuyết tật về phát âm. Song song với diễn thuyết ông còn thể hiện tài nghệ độc đáo của mình minh họa các giọng hát bằng giọng ngực, minh họa bằng hát một đoạn ngắn opera. Giọng mũi, minh họa bằng hát bài nhạc cổ truyền Nhật Bản. Giọng óc, minh họa hát đoạn kinh kịch.

Giáo sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải giới thiệu cây đàn Môi của người Mông là một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Ông cho biết ông đã giới thiệu cây đàn Môi của người Mông cách nay 45 năm khắp nơi trên thế giới. Ông đã ngậm chiếc kèn nhỏ bé, bàn tay thoăn thoắt gảy kèn, đôi môi run run theo cảm xúc tạo nên những âm thanh trầm bỗng vang lên, rền rền thánh thót, tạo nên những âm thanh thật thú vị, mới mẻ về giai điệu, tiết tấu khiến mọi người hải trầm trồ thích thú.

Lúc đầu ông đánh đàn môi đơn giản trình diễn bài Happy Birthday To You, sau đó ông đàn lại bài này nhưng thêm tiết tấu vô, khiến bài hát nghe đặc sắc hơn. Ông còn dùng đàn môi để nói chuyện, ông nhép miệng nói không phát ra tiếng, nhưng thông qua đàn môi tiếng nhép miệng câu nói đó phát ra tròn câu rõ ràng, làm cho không khí cả khán phòng sôi động hẳn lên và không ngớt vang lên những tràng pháo tay thán phục. Kết thúc phần trình diễn của mình, ông nhận lời đề nghị của MC Thụy Vy, đã nhái lại giọng của người chú là nghệ sĩ Trần Văn Trạch, hát lại bài Sổ Xố Kiến Thiết Quốc Gia trong tiếng vỗ tay giòn giã của khán giả.
Có mặt trong chương trình, GS Lê Văn Khoa đã chia sẻ với nhật báo Viễn Đông, “Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian là nhóm tập hợp một số anh em yêu thích nghệ thuật và văn chương, không phải là những nhà văn lớn, những nghệ sĩ lớn, nhưng họ yêu thích và đã làm được. Đây là điều rất quý. Anh Việt Hải là người sáng lập ra nhóm, rất có lòng, đã thúc đẩy anh em làm nhiều sách. Họ đang có danh sách dài để ra mắt sách suốt năm tới, chứ không chỉ trong năm nay thôi đâu. Đây là điều mừng.

“Người Việt ra nước ngoài cũng có ước vọng làm sao để văn hóa, nghệ thuật của mình vươn lên, thành ra họ tiếp tục sinh hoạt. Mình ở ngoài nước, vẫn làm được. Thì như vậy, theo tôi, văn hóa và nghệ thuật Việt Nam sẽ càng rộng lớn hơn, và nó không nằm dưới một chiêu bài, sự chỉ huy của người nào cả. Vì đó là dân tộc, chứ không phải là cá nhân. Đây là ý của tôi. Còn anh Trần Quang Hải thì tôi có biết anh lâu rồi, thỉnh thoảng gặp nhau mỗi lần anh bên Pháp qua, thỉnh thoảng chúng tôi có gặp nhau.

“Thân phụ của ông Trần Quang Hải là Trần Văn Khê, là người tôi rất kính quý, là người có tâm hồn về nhạc chính thống Việt Nam và họ muốn phát huy. Nhưng cái mình làm rộng rãi hơn hết, đem nhạc Việt đi phổ biến trong những buổi diễn thuyết khắp thế giới, thì tôi nghĩ người Việt không có ai làm được tương xứng như anh Trần Quang Hải đâu.

“Chúng ta rất hãnh diện có những nhân tài đó trong cộng đồng Việt Nam chúng ta và tôi hy vọng mọi người sẽ tiếp trợ, làm sao để thế hệ sau này còn vươn xa nữa, để đưa nhạc Việt chúng ta đi rộng ra trên thế giới.”
Giáo sư Tiến Sĩ Hiroki Tahara thì bày tỏ, “Tahara rất vui vì được ngồi chung với những bạn Việt Nam của cộng đồng người Việt hải ngoại tại Nam Cali. Bản thân tôi rất thích hát bài Qua Cầu Gió Bay, và được hát trước mặt Giáo sư Tiến sĩ Trần Quang Hải là một vinh dự đối với tôi.”

Anh cũng nêu lên suy nghĩ và mong ước của mình, “Điều hơi buồn là sao chương trình này toàn người già, tôi năm nay 47 tuổi, không phải người trẻ. Đáng lẽ chương trình như thế này phải có thanh niên ngoài 20, dự thật đông. Lẽ ra phải có thanh niên tham gia vào ban tổ chức để rút kinh nghiệm cách tổ chức, cách tiếp khách, cách biểu diễn. Vì không có người trẻ sẽ không có người kế thừa, vì người già đến tuổi phải về hưu, nghỉ ngơi, không có người trẻ kế thừa thì tiếc lắm.”

Kết thúc buổi diễn, các thành viên trong ban Hợp Ca, Ban Tổ Chức, GS. TS Trần Quang Hải, GS Dương Ngọc Sum… và các khán giả đã cùng hát vang ca khúc “Và ConTim Đã Vui Trở Lại” (Đức Huy) như một sự cổ vũ về sự lạc quan, phấn khởi và luôn trong tư thế chủ động hướng đến sống tích cực, là thông điệp ca khúc của nhạc sĩ Đức Huy gửi đến người nghe và cũng là điều mà Ban Tổ Chức mong muốn GS. TS Trần Quang Hải và một vài thành viên trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đang bị bệnh nan y. Mong các vị ấy sẽ sớm chữa trị thành công, hồi phục và vui khỏe để tiếp tục những công trình văn hóa nghệ thuật đang thực hiện, góp vào vườn hoa Việt Nam những bông hoa tươi thắm.

Link: http://m.viendongdaily.com/chieu-van-hoc-nghe-thuat-ra-mat-…
———————————————————————————-

Ra mắt sách 10 tháng 2, 2019 tại trường đại học CSU-Long Beach, California, USA.
Ban Biên Tập chúng tôi thật hân hạnh thay mặt cho liên nhóm NVNT và TTG đứng ra thực hiện Tuyển Tập Trần Quang Hải mang tên là « Trần Quang Hải : 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt »; để vinh danh và tri ân người nhạc sĩ đã có những đóng góp quý giá vào kho tàng dân tộc nhạc thế giới và đã đào tạo nhiều môn đệ tiếp nối bước chân ông ở nhiều đại học trên thế giới.

Nhạc sĩ kiêm giáo sư tiến sĩ Trần Quang Hải đã đưa chi nhánh âm nhạc Việt Nam trong dòng dân tộc nhạc học góp mặt ở khắp năm châu. Với cuộc sống ở nước ngoài gần nửa thế kỷ, GS. Hải luôn muốn đưa cái hay của Việt Nam ra dòng chính thế giới. Ông làm phiên dịch viên khi soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống mà còn chủ trương nỗ lực bảo tồn nó. Ông góp mặt tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của dân tộc Việt Nam. Ngoài ra ông đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại. Giáo sư Trần Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc về các loại như thanh nhạc ca hát và âm nhạc dựa vào các nhạc cụ truyền thống Việt Nam. GS. Hải còn viết nhiều bài biên khảo,về những nghiên cứụ và tham luận về âm nhạc dân tộc học cho nhiều tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc
Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết này của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được ghi nhận lại trong từ điển New Grove. Trong phạm vi dân tộc nhạc học GS. Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (ở Mỹ và Pháp). Giáo sư Trần Quang Hải còn là thành viên SACEM (Society of Authors, Composers and Publishers of Music) và ông cũng được trao tặng bảo quốc huân chương (Ordre National de la Légion d’Honneur) của Pháp.

Do vậy Ban Biên Tập chúng tôi hoàn thành tập sách này với mục tiêu ghi nhận sự đóng góp quý báu của GS/TS Trần Quang Hải. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian mong rằng quyển sách này sẽ được quý độc giả các nơi đón nhận như một tác phẩm tham khảo trong kho tàng văn hóa Việt Nam về người nhạc sĩ độc đáo của chúng ta, với công trình tích cực là duy trì và bảo tồn văn hóa Việt, hầu truyền đạt đến những thế hệ tiếp nối bản sắc dân tộc Việt cho ngày sau. Trong tinh thần đó, Ban biên tập chúng tôi chân thành tri ân ông: GS/TS Trần Quang Hải.
Thay mặt,

GS. Dương Ngọc Sum, Cố vấn.
NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN.

________________________________________________

Khi nói đến Trần Quang Hải, rất nhiều người trong chúng ta đều biết anh là con trai Gs.Ts.Trần Văn Khê; nhưng có lẽ ít ai biết anh là một Giáo sư về Dân tộc Nhạc học, một Nhạc sĩ chuyên về Nhạc cổ truyền Việt Nam, một nhà nghiên cứu về Âm nhạc truyền thống Dân tộc. Sinh ra trong một gia đình Nhạc sĩ Nhạc cổ truyền từ hơn 150 năm, là đời thứ 5 trong gia đình họ Trần, Trần Quang Hải được hấp thụ hai nền âm nhạc Đông Tây. Sau hơn 50 năm nghiên cứu, anh đã hệ thống hóa và phát triển các kỹ thuật về hát Đồng song thanh, Gõ muỗng, và Đàn môi. Hơn nữa, Trần Quang Hải cũng đã cùng người vợ, nữ danh ca Bạch Yến, thực hiện được hơn 3,000 buổi giới thiệu và trình diễn ở nhiều quốc gia trên thế giới, về những nét độc đáo và đa dạng của nền âm nhạc Dân tộc Việt Nam.

Ngoài danh hiệu được UNESCO công nhận “kiệt tác Văn hóa phi vật thể” qua nhạc Cung đình (năm 2003), Cồng chiêng (2005), Ca trù và Quan họ (tháng 10/2009) ; cũng như nhiều bộ môn khác như : Hát xẩm, Hát chèo, Hát xoan, Đờn ca tài tử… đang được tuyên dương, và được thế giới biết đến. Gs.Ts. Trần Quang Hải quan niệm “Đâu cần phải đợi UNESCO xác nhận giá trị của di sản Nghệ thuật Dân tộc, chính người Việt phải biết nâng niu, gìn giữ trước khi các di sản phi vật thể đó mất đi…”. Đối với anh, bảo tồn Nhạc Dân tộc là công việc của nhiều thế hệ. “Giáo dục một thế hệ, không phải chỉ là vấn đề văn hóa, mà còn là giáo dục về âm nhạc. Đó là cách thức có thể mang tới sự sống còn của Nhạc Dân tộc”.

Quyển sách “Trần Quang Hải: 50 Năm nghiên cứu Nhạc Dân tộc Việt” được thực hiện để tri ân người Nhạc sĩ đã dành gần trọn cuộc đời nghiên cứu và đóng góp cho nền âm nhạc Dân tộc Việt Nam cũng như nền âm nhạc của thế giới, với thành quả thật đáng trân quí.

Xin trân trọng giới thiệu đến quý độc giả.

Gs. Dương Ngọc Sum, Cố vấn

Nhân văn Nghệ thuật & Tiếng Thời Gian

Tiểu sử Trần Quang Hải
Nhân Văn Nghệ Thuật

(Theo tài liệu do Gs. Ts. Trần Quang Hải cung cấp)

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã, tỉnh Gia Định, miền Nam nước Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê (sinh ngày 24 tháng 7, 1921) và bà Nguyễn Thị Sương (sinh ngày 19 tháng 9, 1921), cựu giáo sư Anh văn trường nữ trung học Gia Long.

Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17 tháng 6, 1978 tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc ngoại quốc Tây phương lúc đầu của sự nghiệp cầm ca. Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải, Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng với chồng phổ biến nhạc dân tộc trên khắp thế giới.

Trần Quang Hải xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời và anh là nhạc sĩ đời thứ năm. Ngoài ra, anh là Nhà nguyên cứu Nhạc dân tộc (Ethnomusicologist – Ethnomusicologue) chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, vừa là thuyết trình viên, nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, và thành viên của Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học Pháp. (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique). Theo gót cha anh, GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu Nhạc dân tộc, anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc theo ngẫu hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh.

Gia Đình Nhạc Sĩ (NS) Cổ Truyền

NS Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ của Trần Quang Hải là Quan án sát, theo Phan Thanh Giản sang Pháp để thương thuyết nhưng thất bại, treo ấn từ quan, vào Nam, cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. Rất giỏi về Nhã nhạc Cung đình Huế.
NS Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố của Trần Quang Hải là người Đàn tỳ bà rất hay, được gởi ra thành nội Huế để học nhạc Cung đình, chuyên về Đàn tỳ bà. Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho Đàn tỳ bà, nhưng rất tiếc tất cả tài liệu đó đã bị thất lạc vì chiến tranh.
NS Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội của Trần Quang Hải là người Đàn kìm rất giỏi, trong giới cải lương có biệt hiệu Bảy Triều, đã đặt ra cách lên dây Tố Lan cho Đàn kìm, để đàn lên những khúc nhạc buồn ai oán. Hiện nay chỉ còn một số rất ít nhạc sĩ Cổ nhạc biết đàn dây này (như Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, GS Trần Văn Khê).
GSTS Trần Văn Khê (1921- 2015), thân phụ củaTrần Quang Hải là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng Quốc tế, làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới trong lãnh vực trình diễn cũng như nghiên cứu. Con trai trưởng trong gia đình có ba người con (GS Trần Văn Khê, Quái kiệt Trần Văn Trạch, và Trần Ngọc Sương từng nổi tiếng là ca sĩ Tân nhạc vào đầu thập niên 50), GS Trần Văn Khê đã hăng hái trong phong trào Tân nhạc lúc trẻ (cùng thời với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Phạm Duy) và quay về Cổ nhạc khi soạn luận án tiến sĩ tại Pháp. Từng là giáo sư nhạc Đông phương tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), giám đốc nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (Paris, Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, và từng giữ chức Phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO. Ông nghỉ hưu từ năm 1987, nhưng vẫn tiếp tục nghiên cứu và đóng góp một vai trò lớn cho hai nghiên cứu Nhạc Cung đình Huế (được danh hiệu “Kiệt tác văn hóa phi vật thể” UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (Kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Ông hồi cư về Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và là cố vấn cho công việc nghiên cứu Ca Trù để đệ trình lên UNESCO cho năm 2007, và nghiên cứu Đờn ca tài tử Nam bộ cho năm 2011, dành cho kiệt tác văn hóa phi vật thể. Ngày 24 tháng 6 năm 2015, ông từ trần tại quận Bình Thạnh, TP HCM, Việt Nam.
Trần Quang Hải (1944 –), cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp Trường Quốc gia Âm nhạc Saigon với bộ môn Vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), đi sang Pháp năm 1961 và học nhạc tại trường đại học Sorbonne, và Nhạc dân tộc ở trường Cao đẳng Khoa học Xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). Trần Quang Hải bắt đầu làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với đội ngũ nghiên cứu tại Viện nhạc dân tộc của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới 2009 về hưu). Anh đã có trên 3,500 buổi trình diễn tại 70 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác hơn 400 bản nhạc dành cho Đàn tranh, Đàn môi, muỗng, hát đồng song thanh, nhạc ngẫu hứng, đương đại. Anh cũng đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Dân tộc Việt Nam, hoàn tất ba quyển sách, 4 DVD, 4 bộ phim, và hội viên của trên 20 Hội nghiên cứu thế giới. Con đường nghiên cứu của anh nhắm về sự giao lưu giữa các loại nhạc cổ truyền với các loại nhạc trên thế giới (World music), pha trộn nhạc ngẫu hứng, jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại quốc gia âm nhạc hoàn toàn mới lạ.
SỰ NGHIỆP

1955-1961: Học tại Saigon, tốt nghiệp Vĩ cầm (Lớp GS Đỗ Thế Phiệt).
1954-1961: Học trường trung học Pétrus Ký, Saigon.
1963-1970 : Học tại Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (CEMO – Centre d’Etudes de Musique Orientale – Center of Studies for Oriental Music, Paris), học các loại nhạc truyền thống Ba Tư, Ấn độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia, Đông Nam Á, Việt Nam.
1963: Học tại trường Ecole du Louvre, Paris.
1965: Chứng chỉ Anh văn (Certificate of Proficiency in English), University of Cambridge, Anh quốc.
1965: Chứng chỉ văn chương Pháp (Certificat de Littérature Française), Université de Sorbonne, Paris.
1967: Cao Học Dân Tộc Nhạc Học trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội, Paris.
1969: Chứng chỉ Âm Học (Certificat D’acoustique Musicale), Paris.
1970: Văn bằng Cao Đẳng Nhạc Việt Trung Tâm Nghiên Cứu Nhạc Đông Phương, Paris.
1973: Tiến Sĩ Dân Tộc Nhạc Học trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội, Paris.
1989: Văn bằng Quốc Gia Giáo Sư Nhạc Truyền Thống, Paris.
Từ năm 1965 tới 1966: Theo học lớp Nhạc điện (Musique Electro-Acoustique) với GS Pierre Schaeffer, người sáng lập loại Nhạc điện tử ở Pháp.

Từ năm 1968 tới 2009: Làm việc tại Viện Dân tộc Nhạc học của Viện Bảo Tàng Con Người (Département d’Ethnomusicologie du Musée de l’Homme) ở Paris (Pháp).

Từ năm 1968 tới 1987: Làm việc ở Viện Dân tộc Nhạc học của Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Và Truyền Thống Dân Gian (Département d’Ethnomusicologie du Musée des Arts et Traditions Populaires) ở Paris (Pháp).

Từ 1970 tới 1975: Giáo sư Đàn tranh của Trung Tâm Nghiên Cứu Nhạc Đông Phương, Paris.

Trần Quang Hải là Nghiên cứu sư của Trung tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học (CNRS) ở Paris từ năm 1968. Và từng là thành viên của nhiều đội ngũ nghiên cứu (RCP 178 – Recherche coopérative sur programme từ 1968 tới 1973; ER 65 – Equipe de recherche từ 1974 tới 1981; Laboratoire Associé từ 1974 tới 1987; UPR 165 – Unité Propre de Recherche từ 1982 tới 1985; UMR 9957 – Unité Mixte de Recherche từ 1986 tới 1997; UMR 8574 – Unité Mixte de Recherche từ 1997 tới 2004; UMR 7173 – Unité Mixte de Recherche từ 2005 trở đi).

Trong suốt thời gian 55 năm hành nghề nhạc sĩ chuyên nghiệp (1962 -2017), anh đã trình diễn trên 3,500 buổi cho khán giả Tây phương, và trên 1,500 buổi diễn cho học trò trên thế giới do các cơ quan chính thức của Na Uy (Rikskonsertene), Bỉ (Jeunesses Musicales de Belgique), Thụy Sĩ (Jeunesses Musicales Suisses), Pháp (Jeunesses Musicales de France, Association départementale pour diffusion et initiation musicale – ADDIM).

Từ 1971: Làm 15 dĩa 30cm / 33 vòng và 8 CD về nhạc cổ truyền Việt Nam, đặc biệt là về Đàn tranh. Nhiều sáng tác của anh đã được thu vào dĩa và được đăng trong các quyển tự điển Who’s Who in Music (từ năm 1987), Who’s Who in the World (từ năm 1981), và Who’s Who in France (từ năm 1997).

Về sáng tác nhạc, Trần Quang Hải có viết 12 ca khúc Thiếu nhi với sự cộng tác của nhà văn Duyên Anh năm 1984. Anh đã sáng tác trên 400 nhạc phẩm đủ loại với các ca khúc viết tiếng Việt, Pháp, Anh; và nhạc cho Đàn tranh, Đàn bầu, muỗng, Đàn môi, và hát Đồng song thanh. Ngoài ra, anh còn viết nhạc cho phim « Long Vân Khánh Hội»của Lê Lâm vào năm 1980, phim « Le Chant des Harmoniques » (Bài Ca Bồi Âm) vào năm 1989, và cho phim « La Rencontre du Coq et du Dragon » (Cuộc hội ngộ giữa Gà và Rồng) vào năm 1998.

Với tư cách nhà nghiên cứu Dân tộc nhạc học, Trần Quang Hải đã viết nhiều bài cho các tập san nghiên cứu nhạc học như « The World of Music » (UNESCO), « Journal of Asian Music Society (Cornell University, Hoa Kỳ), « Yearbook of the International Council for Traditional Music –ICTM, Hoa Kỳ), « Cahiers de Musiques Traditionnelles » (Thụy Sĩ), « Koukin Journal » (Tokyo, Nhật Bản).

Anh có viết một bài về nhạc Campuchiacho New Grove Dictionary of Music and Musicians, ấn bản lần thứ 1 (1980) (20 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa vài nhạc cụ Việt Nam cho New Grove Dictionary of Music, ấn bản lần thứ nhì (2001) (29 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa cho trên 200 từ nhạc cụ của Việt Nam, và Đông Nam Á cho New Grove Dictionary of Musical Instruments, London, Anh quốc, Ấn bản lần thứ nhất (1984) (3 quyển).

Trần Quang Hải viết lịch sử nhạc Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan cho quyển tự điển Algemeine Muziekencyclopedia (1082-1984, Hòa Lan), và nhiều bài cho tự điển Encyclopaedia Universalis (1984, 1986, 1988, 1990, 1991, Paris).

Anh đã làm 4 DVD về giọng, và hát đồng song thanh: « Le Chant diphonique » với CRDP (Trung Tâm Địa Phương Tài Liệu Sư Phạm và Hàn Lâm Viên La Réunion, 2004), « Le chant des Harmoniques » (CNRS – Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học, 2005), « La Voix » với nhà xuất bản Lugdivine (2006, Lyon, Pháp), và « The Song of Harmonics » với CNRS, Paris, 2006.

Ngoài ra, nhà nghiên cứu Nhạc Dân tộc, cùng đạo diễn Pháp Patrick Kersalé đã thực hiện hai chương trình video « Mystères des Voix du Monde » (Sự huyền bí của các giọng thế giới) (2012), và « Le Chant des Harmoniques » (Bài ca bồi âm) (2013), trong đó Trần Quang Hải là nhân vật chính của hai video này.

Link: https://nhanvannghethuat.com/206-2/
———————————————————————————
Đại Học Cal State Long Beach, California
vinh danh GS Trần Quang Hải

NGUỒN https://vietbao.com/ – 21/02/2019
Trịnh Thanh Thủy thực hiện
Từ lúc nghe tin Trần Quang Hải, giáo sư tiến sĩ ngành Dân Tộc Nhạc Học (Ethnomusicology) mắc một bệnh nan y là ung thư máu, các anh chị em trong nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian” rất xúc động và có ý định làm một cái gì đó cho ông. Ngày 10 tháng 2, 2019, hai chi nhánh Bắc và Nam Cali của nhóm đã đồng phối hợp thực hiện một buổi chiều văn hoá nghệ thuật và ra mắt sách cho Trần Quang Hải.

GS Quyên Di trao bằng tưởng lục cho GS Trần Quang Hải

Bà Frances Thế Thủy trao bằng cho GS TQHải

Cuốn sách “Trần Quang Hải: 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt” là một tổng hợp các công trình nghiên cứu về âm nhạc của ông đã được góp mặt cùng kho tàng tài liệu âm nhạc VN. GS Hải đã từ Paris bay qua để dự buổi hội ngộ và ra mắt sách hy hữu này. Ngoài một số sinh viên của hai trường đại học Cal State và Fullerton, khoảng gần 200 thân hữu và đồng hương người Việt nghe tin đã về tham dự.

Nguyên GS TQHải là chồng của nữ danh ca Bạch Yến, con trai của cố GS Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu văn hoá và âm nhạc cổ truyền rất nổi tiếng ở VN. GS Hải lấy bằng Tiến sĩ âm nhạc dân tộc người Việt tại Pháp, làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con người ở Pháp (Musée de l’Homme). Ông đã có những nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực Dân tộc âm nhạc học như: hát đồng song thanh, phát triển gõ muỗng. Ông được tôn xưng danh hiệu “vua muỗng” và Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Ông là người trình diễn đàn môi Mông (Hmong) tại nhiều quốc gia nhất thế giới.” Ông cũng là thành viên của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế. Ông và danh ca Bạch Yến đã thực hiện hơn 3000 buổi giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở 70 nước trên thế giới…(Theo Wiki)

Ban đại diện nhóm NVNT&TTG

Ban hợp ca

Nhân dịp buổi ra mắt sách được tổ chức tại Đại học Cal State Long Beach, CA, USA, bà Teri Yamada, khoa trưởng Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ gốc Á đã vinh danh GS TS TQHải.

Thật tiếc, bà Teri Yamada đã không được gặp mặt giáo sư vì giờ cuối bà phải bay qua Ấn Độ dự một buổi lễ hội về văn hoá, nên bà viết một lá thư rất chân tình gởi ông. Bà cáo lỗi và ủy nhiệm GS Quyên Di thay bà chào mừng, vinh danh và trao bằng tưởng lục cho ông.

GS Quyên Di dạy ở đây và cũng là thành viên trong khoa nghiên cứu này cho biết thêm, “Đây là một vinh dự cho Cộng đồng VN vì hiếm khi Khoa trưởng Yamada viết một lá thư trân trọng như thế này. Tôi đã từng dự nhiều buổi vinh danh nhưng chưa bao giờ tôi thấy bà viết một lá thư như thế. Trước đó bà đã đọc tất cả các tài liệu viết về GS, cả những tài liệu của GS viết, nghiên cứu rồi đúc kết lại thành bức thư nói trên và trân trọng trao bằng tưởng lục cho GS. Bà thay mặt Đại học Cal State Long Beach vinh danh GS Hải đã có công phi thường đóng góp vào kho tàng âm nhạc VN qua các công trình nghiên cứu âm nhạc, văn hoá, nghệ thuật dân tộc qua thời gian, qua các thế hệ.

Hàng đứng: Nhóm NVNT&TTG, Hàng ngồi: GS Tahara, GS TQHải, TT Kiều Chinh, NV Nguyễn Quang, NV Quyên Di

Quan Khách

Ngoài ra bà Frances Thế Thủy, Ủy viên giáo dục học khu Westminster cũng lên trao bằng tưởng lục cho ông. Hiện diện trong buổi lễ có tài tử Kiều Chinh, GS Tahara Hiroki, BS Steven Le, nhà văn Nguyễn Quang (phu quân NV Minh Đức Hoài Trinh), NS Lê Văn Khoa và phu nhân, NS Võ Tá Hân và phu nhân, BS Phạm Gia Cổn và phu nhân, bà quả phụ Lê Trọng Nguyễn, Nhạc Trưởng Bùi Quỳnh Giao..v..v…

Sự có mặt của GS người Nhật Tahara Hiroki hôm nay đã khiến tôi rất ngạc nhiên. Ông là người Nhật 100% mà nói và viết tiếng Việt rất sành sõi, thích ăn nước mắm, thích nhạc Việt Bolero. Tôi hỏi ông duyên cớ nào ông lại có mặt ở đây hôm nay. Ông nói ông hâm mộ tài năng của GS TQ Hải mà bay qua Mỹ để được gặp GS Hải. GS Hải rất nổi tiếng ở bên Nhật vì GS đã có nhiều đề tài nghiên cứu về âm nhạc và làm việc chung với các nhà nghiên cứu âm nhạc của Nhật Bản về nhạc cung đình Huế và nhạc dân tộc VN nói chung. GS Tahara cũng nghe tiếng của cố GS Trần Văn Khê là cha của GS Hải nhưng tiếc quá không được gặp cụ vì cụ đã qua đời.

Tôi hỏi thêm là GS Tahara thích nhạc Bolero vậy GS có thấy nhạc cổ truyền VN có gần gụi với nhạc Bolero VN không? Ông bảo ông thấy nhạc Bolero VN gần giống với nhạc Tanka của Nhật hơn, nhưng khác ở chỗ Tanka không có tố chất ngọt ngào còn Bolero phải hát ngọt ngào, mượt mà, đầy cảm xúc mới được.
Ông bà GS Lê Văn Khoa, Nguyễn Hùng và NV Việt Hải (ngồi)

Trình diễn thời trang áo dài Bà Nhu

GS Trần Mạnh Chi là trưởng nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng thời gian”, đồng thời là Trưởng ban tổ chức đã lên giới thiệu các thành viên Bắc và Nam Cali của nhóm, có nhà văn Trần Việt Hải là cố vấn. GS Quyên Di và Thụy Vy là 2 MC chính của buổi vinh danh.

GS TQHải được mời lên và ông xuất hiện với một vóc dáng rất khoẻ mạnh, giọng nói thì hùng hồn, sang sảng. Ông cám ơn BTC đã thực hiện buổi rms này và nói về quá trình hoạt động của ông ở hải ngoại.

Ông qua Pháp năm 1961 tới nay đã 58 năm. Thời gian đầu để học nhạc Tây Phương và nghiên cứu về nhạc học. Sau đó ông đi tìm hiểu thêm và khám phá ra âm nhạc VN không chỉ đơn thuần có Hò, Xang, Xê, Cống, đàn cò, đàn tỳ bà, độc huyền hay hát chèo, cải lương. Nhạc VN còn có nhạc của 53 sắc tộc khác của những dân tộc ở cao nguyên Trung phần như Ba na, Gia Rai, Êđê, Xê đăng… Ở phía Bắc có người Thái, Tày, Thổ, Nùng, Dao…. cũng có nhạc. Nghĩa là nhạc VN có thiên hình vạn trạng do sự phối hợp của nhiều loại. Trong số các nhạc cụ được sáng chế ngày nay có 3 cây đàn là niềm tự hào cho cái đẹp của VN. Đó là đàn T’rưng của người sắc tộc Gia Rai, đàn K’ni 2 giây và cây đàn đá. Ông đã đi khắp nơi trên thế giới để giới thiệu những cái hay cái đẹp của âm nhạc VN, như nhạc Cung Đình Huế, nhạc của đồng bào thiểu số, các loại Hát Tuồng, hát Chèo, Ca Trù, Ca Huế, Đàn Ca Tài Tử Nam Bộ. Ông giới thiệu cho toàn cầu biết sự phong phú đa dạng của nhạc VN.

Triển lãm tranh

Ông đã giới thiệu và trình diễn lối hát Đồng Song Thanh và biểu diễn Đàn Môi khiến các cử toạ kinh ngạc và vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt. Trong quá trình nghiên cứu ông khám phá ra loại hát Đồng Song Thanh của người Mông Cổ vùng Tây Bá Lợi Á tức là hát 2 giọng cùng một lúc, có thể đổi từ giọng chính thành giọng cao. Để cải tiến, ông đã tạo ra phương pháp hát Đồng Song Thanh mới. Hơn thế nữa, có thể dùng phương pháp hát này để trị bệnh cho những người bị đứt thanh quản có thể nói được mà không phải phẫu thuật. Lúc nghiên cứu ông đã chấp nhận để người ta chiếu quang tuyến X trong một thời gian dài để thí nghiệm, nhằm biết được hoạt động của các thớ thịt ở cổ họng khi không dùng đến dây thanh quản mà vẫn tạo ra được tiếng nói. Các bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo ông có thể bị ung thư cổ họng nhưng ông đã sẵn sàng ký vào biên bản cam kết, biến mình thành “con vật” thí nghiệm cho những nghiên cứu của mình bất chấp cả tính mạng.

Để buổi ra mắt sách đầy tính văn hoá nghệ thuật thêm đặc sắc, BTC đã trình diễn một màn “Thời trang với áo dài qua thời gian” với sự góp mặt của các anh chị em trong nhóm cùng sự tham gia của Hội Ái Hữu Sinh Viên VN Fullerton. Những chiếc áo dài từ cổ truyền, Lemur Cát Tường, Bà Nhu, Bà Ba, cho tới cách tân qua các thời đại đã làm khán giả thích thú và kinh ngạc. Những hoạ phẩm nghệ thuật cũng được triển lãm do các hoạ sĩ đóng góp như: Lưu Anh Tuấn, Lê Thúy Vinh, Hồ Thành Đức, Bé Ký, Hoàng Vinh, Đàm Quốc Cường, Lương Nguyễn, Nguyễn Thái Bình… Các màn hợp ca, song ca mang đầy tính dân tộc do các nhạc sĩ, ca sĩ đồng trình bày đã góp phần phong phú cho buổi rms.

Tôi được tiếp xúc với GS Lê Văn Khoa và xin ông chia sẻ cảm nghĩ về âm nhạc cổ truyền khi ông là một nhạc trưởng chuyên về âm nhạc Tây Phương. Ông nói “Âm nhạc là ngôn ngữ không lời khi con người không hiểu nhau thì âm nhạc giúp để hiểu nhau. Cho nên dù là nhạc cổ truyền hay tây phương nó cũng vẫn là âm nhạc. Từ lâu người Việt cổ súy và bảo vệ tối đa nhạc truyền thống, không muốn nó lai nhạc Tây Phương. Người theo nhạc Tây phương thì cho rằng phương thức làm việc của Tây phương có hệ thống ngon lành hơn, nên coi thường nhạc cổ. Như vậy thì thiệt hại quá, tôi dung hoà cả hai bằng cách dùng dân ca VN viết cho nhạc cổ truyền của người Ukraine và họ rất ngạc nhiên. Họ nói lần đầu tiên trên thế giới mới có người làm như vậy. Tôi dùng đàn tranh, đàn t’rưng bằng tre cho hoà tấu với dàn nhạc Tây Phương mới trình diễn ở Houston tháng 11/2018 khiến ai cũng ngạc nhiên hết. Họ thấy thích thú vì cả hai đều hoà điệu. Mục đích của tôi là làm sao phổ cập để cho cả 2 hoà nhịp.”

Trịnh Thanh Thủy thực hiện
Orange County, CA.

Link: http://cothommagazine.com/index.php…

Lê Lộc e thẹn hỏi ‘vua đàn môi’ Khai Nguyên cưới vợ chưa và được chàng thổi tặng làn điệu tỏ tình😍


Lê Lộc e thẹn hỏi ‘vua đàn môi’ Khai Nguyên cưới vợ chưa và được chàng thổi tặng làn điệu tỏ tình😍

5 593 vues
14 avr. 2018

12 6

Partager

1,63 M abonnés
Lê Lộc e thẹn hỏi ‘vua đàn môi’ Khai Nguyên cưới vợ chưa và được chàng thổi tặng làn điệu tỏ tình😍 ✅ Fanpage chính thức: http://bit.ly/FanpageGIAIMAKYTAI ► Playlist các tập GMKT: http://bit.ly/Playlist-GMKT 🎬 NỘI DUNG: Đặng Văn Khai Nguyên hiện đang sở hữu 600 cây đàn môi được sưu tập từ nhiều loại của các quốc gia trên thế giới. 🌟THÔNG TIN KHÁCH MỜI: Kỉ lục gia vua đàn môi Đặng Văn Khai Nguyên.

This blog is focused on Trân Quang Hai