All posts by tranquanghai1944

Ethnomusicologist, composer and vietnamese traditional musician

TRAN QUANG HAI practises the deep and low voice with sub fundamental, 21.02.2021 in Valenton


TRAN QUANG HAI practises the deep and low voice with sub fundamental, 21.02.2021 in Valenton

13 views•Feb 21, 202120ShareSaveQuangHai Tran 6.73K subscribers TRAN QUANG HAI practises the low and deep voice with the sub fundamental . This is his own style .

NHẠC SƯ NGUYỄN VĨNH BẢO từ trần tại Cao Lãnh, Việt Nam vào ngày 07 tháng 1, năm 2021


CÁO PHÓ

nhạc sư NGUYỄN VĨNH BẢO

Thành Ủy Hội đồng nhân dân, UBND, UBMTTQ VN thành phố Cao Lãnh và gia đình vô cùng thương tiếc báo tin NHẠC SƯ HENRY NGUYỄN VĨNH BẢO Sinh ngày 19/8/1918 Từ trần lúc 18g50 phút, ngày 07/01/2021 Đại thọ 104 tuổi.

Lễ viếng bắt đầu từ 10g sáng ngày 08/01/2021 đến 10g sáng ngày 10/01/2021, tại Câu lạc bộ hưu trí thành phố Cao Lãnh (số 209, đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường 1, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp).

Di quan vào lúc 10g, ngày 10/01/2021; hỏa táng tại Nghĩa trang Quản Khánh, thành phố Cao Lãnh.Ban Tổ chức lễ tang và gia đình kính báo.

(* Cáo phó này đã được gia đình Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo cho phép thông báo trên Fb)

nhạc sư NGUYỄN VĨNH BẢO và phu nhân

TRƯỜNG KỲ :Ca Sĩ Bạch Yến – với 50 năm tận tụy trong nghệ thuật


TRƯỜNG KỲ :Ca Sĩ Bạch Yến – với 50 năm tận tụy trong nghệ thuật

Với 50 năm góp mặt trong lãnh vực nghệ thuật, Bạch Yến rất xứng đáng được coi là một nữ nghệ sĩ có quá trình hoạt động lâu dài nhất cho đến ngày hôm nay. Với những thăng trầm trong cuộc sống cũng như trong nghề nghiệp, tên tuổi của chị vẫn là một tên tuổi lớn trong việc giới thiệu nền văn hoá Việt Nam với khán giả năm châu qua nhạc dân ca cổ truyền hiện nay cũng như từng góp mặt trong giới “show business” tại Hoa Kỳ trong một thời gian dài.

Giọng hát trầm đặc biệt đó cũng đã trở nên quen thuộc với khán giả Việt Nam từ rất nhiều nãm qua, mặc dù âm sắc (timbre) rất trầm nhưng giọng hát chị thuộc loại “mezzo soprano”, đã góp phần không ít trong việc tạo cho nhạc phẩm “Ðêm Ðông” trở thành bất hủ.

Lần xuất hiện gần đây nhất của Bạch Yến trước khán giả người Việt đã diễn ra tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, trong một buổi trình diễn do Câu Lạc Bộ Văn Hoá vùng Washington, D.C. tổ chức. Số khán giả tham dự đông đảo trong buổi trình diễn đó đã không ngờ một nữ nghệ sĩ năm nay đã ngoài 60 mà thể cách trình diễn cũng như giọng ca vẫn còn dồi dào phong độ khi đã trình bày 20 nhạc phẩm trong suốt chương trình, với sự phụ hoạ dương cầm của nhạc sĩ Jean Louis Beydon, giám đốc viện âm nhạc Vanves (ngoại ô Paris).

Trước đó, Bạch Yến cũng đã có dịp đến với khán giả Việt Nam tại tiểu bang Washington trong dịp Tết Quý Mùi vừa qua với những chương trình nhạc thính phòng và dân ca. Trong năm 2002, Bạch Yến cũng đã có dịp phô diễn tài nghệ của mình trước cộng đồng người Việt ở nhiều thành phố lớn tại Hoa Kỳ như Houston, Phoenix, San Jose, vv… và đã mang lại cho khán thính giả nhiều thích thú. Cô bé nhi đồng từng nổi tiếng với phần trình diễn mô tô bay ngày nào hẳn cũng đã không ngờ định mệnh đã đưa đẩy đến sự thành công trong lãnh vực nghệ thuật âm nhạc trong suốt mấy chục năm sau đó.

Bạch Yến tên thật là Quách Thị Bạch Yến, sinh năm 1942 ở Sóc Trăng. Thân mẫu chị thường về Việt Nam mỗi khi gần sanh nở vì luôn muốn sinh con tại quê ngoại. Bạch Yến là con áp út trong một gia đình gồm 8 người con, 3 gái, 5 trai; nhưng 4 trong 5 người con trai trong gia đình đều mất sớm. Thân phụ chị là người Tiều Châu và là bạn của người cậu ruột, tỏ ra rất khó khăn trong việc để con cái theo con đường văn nghệ do quan niệm “xướng ca vô loài”, trong khi thân mẫu chị lại là một người say mê âm nhạc và luôn tỏ ra gắn bó với nền văn hoá Việt Nam.

Năm 9 tuổi, Bạch Yến được gia đình đưa về Cần Thơ để theo học tiểu học ở đây, cùng một lúc hoạt động trong ca đoàn của nhà thờ Cần Thơ nên nhờ đó đã sớm có được một căn bản nhạc lý, dù chỉ trong một thời gian ngắn ngủi. Năm 1952 sau đó, Bạch Yến lại theo bố mẹ và các anh chị vào Sài Gòn để rồi ghi tên dự thi cuộc tuyển lựa ca sĩ dành cho những giọng ca nhi đồng do đài phát thanh Pháp Á tổ chức. Sau những vòng sơ khảo và bán kết, qua năm 1953 Bạch Yến đã oanh liệt đoạt được Huy Chương Vàng trong vòng chung kết và liền sau đó được mời cộng tác với chương trình ca nhạc nhi đồng của đài phát thanh dưới sự điều khiển của Pháp. Nhưng không lâu sau, đài này đã ngưng hoạt động khi người Pháp phải rời khỏi Việt Nam (1955). Sau đó Bạch Yến tìm đến với những đài phát thanh Quân Ðội và Sài Gòn để xin hát cho những chương trình dành cho thiếu nhi nhưng đều bị từ chối.

Mẹ chị đã quyết định chia tay với bố chị khi được ông cho biết sẽ đem cả gia ðình về sống vĩnh viễn ở Nam Vang vì bà muốn ở lại Việt Nam để các con không bị mất gốc và có thể lập gia đình với người đồng hương. Mặc dù bố chị là một doanh thương giàu có, nhưng mẹ chị do tự ái đã cương quyết không nhận sự giúp đỡ tiền bạc của ông sau khi ly dị để nhẫn nhục chịu đựng sự vất vả ở lại Việt Nam nuôi nấng con cái, lúc đó đã lên tới 5 chị em. Sự tận tụy và hy sinh đó nơi người mẹ thân yêu vẫn luôn ở trong tâm hồn Bạch Yến, dù mẹ chị đã qua đời cách đây gần 10 năm.

Gia đình Bạch Yến lâm vào sự túng quẫn sau khi bố mẹ đường ai nấy đi, đã sống chen chúc với nhau trong một căn nhà nhỏ trong một ngõ hẻm trên đường Cao Thắng. Không những thế, một trận hoả hoạn đã xẩy ra thiêu rụi cả nơi nương náu của một gia đình vốn đã gặp rất nhiều khó khăn này. Người cậu ruột của Bạch Yến từ Cần Thơ sau khi nghe tin, đã lên Sài Gòn thăm hỏi gia đình chị. Trước tình trạng bi đát này, ông đã nẩy ra ý định thành lập một đoàn mô tô bay thiếu nhi để đi lưu diễn khắp nơi.

Không còn sự chọn lựa nào khác, mẹ chị đành lòng chấp nhận để các con gia nhập đoàn mô tô bay dù biết trước có rất nhiều nguy hiểm. Từ đó, cô bé Bạch Yến theo chị ruột, em trai và em bà con để theo đoàn đi vào tận các làng xã, từ Quảng Trị xuống tới Cà Mau trình diễn những pha mô tô bay nguy hiểm, trong khi vào thời điểm đó vấn đề an toàn không được mấy lưu tâm. Tuy nhiên đối với Bạch Yến, đó là những kỷ niệm khó quên về quê hương khi có dịp gia nhập vào những sinh hoạt thuần tuý đồng quê một cách rất hồn nhiên.

Nhưng chẳng may, một tai nạn rất nặng đã xẩy ra với Bạch Yến trong một buổi biểu diễn tại giải trí trường Thị Nghè. Khi đang bay mô tô, chân chị đã đạp phải thắng nên cả người và xe bị tụt xuống đâm ngay xuống nền gỗ bị mô tô đè lên người. Với tai nạn này, Bạch Yến đã bị dập một số xương sườn và màng tang trái khiến phải điều trị trong một thời gian khá dài. Cũng từ tai nạn này, đoàn mô tô bay của người cậu cũng bị cấm hoạt động khi bị giới hữu trách khám phá là đã thu nhận những thành viên không đủ số tuổi ấn ðịnh là 17 khi hành nghề xiệc (cirque).

Một lần nữa, gia đình Bạch Yến lại lâm vào một tình trạng thê thảm và nheo nhóc. Do lòng thương mẹ và anh chị em và với một sự quyết tâm mạnh mẽ, Bạch Yến, khi đó mới là một cô gái 14 tuổi, đã phải cải trang cho giống một thiếu nữ vào tuổi đôi mươi với một chiếc áo dài cùng với lớp son phấn trang điểm cho ra vẻ người lớn. Dưới lớp cải trang đó, Bạch Yến lần mò đến những vũ trường và phòng trà để xin hát hầu có tiền phụ giúp gia đình. Phòng trà mang tên Trúc Lâm trên đường Phạm Ngũ Lão do hai nhạc sĩ Mạnh Phát và Ngọc Bích khai thác. Ðây là nơi thu nhận chị đầu tiên trong vai trò ca sĩ với một số tiền thù lao khiêm nhượng.

Nhờ khi còn nhỏ được học một thời gian nơi trường La Providence của các dì phước nên Bạch Yến đã có khả năng hát được những nhạc phẩm lời Pháp như Tango Blue, Étoile Des Neiges, vv… nên được khán giả dành cho nhiều cảm tình. Ngoài ra chị cũng đã cố gắng trình bày được một số nhạc phẩm Việt Nam như Bến Cũ hoặc Gái Xuân, vv… Sau khi rời khỏi phòng trà Trúc Lâm, Bạch Yến tìm đến với phòng trà Hoà Bình, rồi lần mò vào tận Chợ Lớn để xin hát tại vũ trường Mélodie với đa số khán giả là người Hoa. Dần dần chị đã xin hát được ở nhiều vũ trường khác như Ðồng Khánh, Ðại Kim Ðô, vv…

Trong suốt thời gian này chị không đuợc một ai hướng dẫn về nhạc, ngoài việc bắt chước hát theo đĩa cho thật giống với lời ca được tự phiên âm theo từng chữ rất vất vả. Sau khi phiên âm xong, chị mới đọc cho một giáo sư Anh Văn nghe và viết lại cho đúng nghĩa và giảng giải về nội dung nhạc phẩm để dễ dàng diễn tả. Từ năm 1957 trở đi, tên tuổi Bạch Yến mới bắt đầu được nhắc nhở tới nhiều sau khi về cộng tác với vũ trường Kim Sơn, với sự phụ hoạ của dàn nhạc Ely Javier. Thời gian này nhạc phẩm Ðêm Ðông đã được trình bày một cách đặc biệt bởi Bạch Yến để sau đó trở thành một nhạc phẩm gắn liền với tên tuổi chị.

Vào thời kỳ này một vũ trường khác cũng đang rục rịch khai trương, trong khi ông giám đốc của vũ trường này đi tìm những giọng ca đặc biệt. Ðó là vũ trường Tự Do, là nơi đã xuất phát nhiều tiếng hát nổi danh của làng tân nhạc Việt Nam. Và chủ nhân vũ trường này là ông Ngô Vãn Cường, một người từng sống nhiều nãm bên Pháp và có một tâm hồn yêu văn nghệ và quý trọng nghệ sĩ. Trong một lần đến Kim Sơn nghe Bạch Yến trình diễn, ông Cường đã mời chị cùng với cả giàn nhạc Ely Javier về hợp tác với một số thù lao cao hơn nhiều so với những nơi chị từng cộng tác trước đó. Dĩ nhiên nhạc phẩm “Ðêm Ðông” cũng theo Bạch Yến về đây để cùng với những nhạc phẩm của Patty Page, Connie Francis, DaliDa, Edith Piaf, Ella Fitzerald, Peggy Lee, Rosemary Clooney, Pat Boone, Elvis Presley, Paul Anka, và the Platters, vv… khiến khán giả say mê theo dõi. Bạch Yến lúc bấy giờ được nổi tiếng nhiều qua những nhạc phẩm Rock ‘n’ Roll và Mambo tuy cũng được thích qua những ca khúc điệu Slow.

Sau khi dành dụm được một số tiền trong thời kỳ tên tuổi lên cao nhất khi cộng tác với vũ trường Tự Do, Bạch Yến cùng với mẹ lên đường sang Pháp vào năm 1961 với ý định học phương pháp hát của Tây phương. Chị may mắn được thu nhận vào hát tại một nhà hàng sang trọng do ông Phạm Vãn Mười làm chủ trên đường rue de l’Echelle ở quận 1 Paris. Nhà hàng La Table Du Mandarin tuy nhỏ, chỉ chứa tối đa được khoảng sáu bẩy chục chỗ, nhưng là nơi lui tới của những khách hàng lịch lãm.

Trong thời gian ở Pháp, Bạch Yến đã được hãng Polydor mời thâu, cùng một lúc đi trình diễn tại một số quốc gia Âu Châu như Ðức, Áo, Bỉ, Hoà Lan và nhiều thành phố trong nước Pháp. Tuy nhiên Bạch Yến cho biết sự việc đã diễn ra không nhý ý vì chị đã nổi tiếng ở Việt Nam mà sang Pháp chị chỉ là một nghệ sĩ ngoại quốc xa lạ. Trước kết quả không được như ý này, Bạch Yến đã quyết định quay trở lại VN vào cuối năm 63 để tiếp tục hợp tác với vũ trường Tự Do và thỉnh thoảng trình diễn tại vũ trường Kim Ðô với một số kinh nghiệm về nghệ thuật trình diễn cũng như kỹ thuật hát học hỏi ở ngoại quốc.

Khi vừa trở lại quê hương vào cuối 63, nhiều sĩ quan cố vấn Mỹ – là những khán giả thường đến với Tự Do – đã tỏ ra yêu thích tài nghệ của chị nên đã tìm cách giới thiệu một tài năng trẻ của Việt Nam với chương trình ca nhạc truyền hình nổi tiếng “Ed Sullivan Show”. Sau nhiều lần thuyết phục chị nhưng chị nhứt quyết từ chối nên có ý nghĩ buộc họ mời mẹ thì chị mới nhận lời đi. Chị nghĩ rằng với điều kiện này sẽ không được chấp thuận vì trong thâm tâm không thích qua Mỹ vì cho đó là một quốc gia “kỳ thị chủng tộc”.

Nhưng vào đầu năm 1965, cả hai mẹ con Bạch Yến nhận được vé máy bay để cùng lên đường sang Mỹ. Với chuyến đi này, Bạch Yến trở thành người Việt Nam đầu tiên và duy nhất xuất hiện trên chương trình Ed Sullivan Show với 35 triệu khán giả cũng như được tham dự trực tiếp vào giới “show business” Hoa Kỳ. Với nhạc phẩm “Ðêm Ðông” bất hủ và một nhạc phẩm Mỹ nổi tiếng “If I Have A Hammer”, Bạch Yến đã tạo được khá nhiều tiếng vang nõi khán giả truyền hình qua chương trình “Ed Sullivan Show” cũng là chương trình có sự xuất hiện của ban nhạc quốc tế đang trong thời kỳ nổi bật nhất là the Rolling Stones.

Ðáng lẽ Bạch Yến chỉ lưu lại Hoa Kỳ 12 ngày theo đúng giao kèo, nhưng định mệnh đã đưa đẩy chị ðến với những hoạt động ca nhạc tại đây trong suốt 12 năm! Sự quyết định ở lại Hoa Kỳ của Bạch Yến được thân mẫu chị chấp thuận sau khi đã bắt chị phải tuân theo 3 điều kiện: không được mặc bikini, phải để tóc dài không được cắt và nhất là không được lấy chồng ngoại quốc! Thân mẫu chị yên tâm trở về thăm Việt Nam, trong khi Bạch Yến chọn miền Nam California để cư ngụ tại vùng Beverly Hills, một khu vực gồm toàn những nghệ sĩ lừng danh trong lãnh vực điện ảnh và ca nhạc. Cũng do đó Bạch Yến được coi là người ca sĩ Việt Nam đầu tiên đến với California – lúc đó chỉ mới có khoảng một ngàn người Việt trên khắp nước Mỹ! – trýớc khi một phần của vùng đất này trở thành Little Saigon, trung tâm của những sinh hoạt ca nhạc Việt Nam hải ngoại sau năm 75.

Trong suốt thời gian từ 1965 đến 1978, ngoài việc trau dồi tài nghệ bằng cách trau dồi kỹ thuật hát, nghệ thuật trình diễn và Anh Vãn, Bạch Yến cũng là nghệ sĩ Việt Nam đầu tiên và duy nhất có cơ hội trình diễn trên cùng một chương trình với những tên tuổi nổi tiếng Hoa Kỳ như Bob Hope, Bing Crosby, Pat Boone, Frankie Avalon, Jimmy Durante, Joey Bishop, Mike Douglas, Liberace, vv.. Cũng trong thời gian này, chị cũng đã học thêm tiếng Tây Ban Nha để có thể trình bày một cách suông sẻ những ca khúc viết bằng ngôn ngữ này khi diễn ở Trung Mỹ và Nam Mỹ… Chỉ tiếc một điều sau khi đi lưu diễn tại khắp 46 tiểu bang Hoa Kỳ bằng những giao kèo ký kết với các cơ quan truyền thông ABC, CBS, vv…, Bạch Yến đã không có dịp phô diễn tài nghệ của mình trước khán giả người Việt. Có chăng là ngoài một vài người hiếm hoi mà chị tìm thấy tên trên một cuốn sổ điện thoại nhỏ do một vị linh mục soạn, để chị gọi tới mời tham dự.

Cũng như nhiều năm trước đó, Bạch Yến thường từ Mỹ quay về Pháp vào mỗi dịp hè. Nhưng năm 1978 là một dịp nghỉ hè định mệnh, đã đưa đến sự chung sống giữa Bạch Yến và Trần Quang Hải. 17 năm trời đã qua kể từ ngày gặp biết nhau lần đầu tiên năm 1961, hai người không ngờ lần gặp lại nhau ở Paris để đi tới một sự kết hợp đẹp đẽ đã kéo dài được 25 nãm, tính đến ngày 17 tháng 6 năm 2003.

Sau khi chính thức thành hôn với Trần Quang Hải, Bạch Yến ở luôn tại Pháp. Và cũng từ đó, chị “quay về nguồn” với sự chú tâm lớn vào âm nhạc cổ truyền Việt Nam để “cùng với anh Hải đem nhạc Việt Nam đến với khán giả trên khắp thế giới”. Với sự chuyển hướng này của chị, trung bình mỗi năm cặp nghệ sĩ Trần Quang Hải -Bạch Yến đã trình diễn trước khán giả Âu Mỹ từ 120 đến 150 buổi! Bạch Yến cho biết thực sự rất sung sướng trong việc giới thiệu âm nhạc Việt Nam với khán giả ngoại quốc, tuy rằng “làm văn hoá mà đâu có tiền bạc gì lắm!”, nhưng bù lại “khi khán giả đến với mình là người ta đến để chỉ muốn nghe nhạc Việt Nam thôi”.

Với những bài hát ru con, Bạch Yến rất được khán giả tán thưởng, tuy chị tự nhận giọng chị không được mềm dịu như những nghệ sĩ khác, xuất thân từ nhạc cổ truyền, nhưng do sự dầy công nghiên cứu chị đã trình bày một cách không hề có sự sai sót. Ngoài vai trò làm chồng, Trần Quang Hải còn đóng vai người thầy chỉ dẫn cho Bạch Yến từng ly, từng tí “nên mỗi lần cần biết điều gì – từ cách luyến láy cho đến các câu hò hoặc những thể loại ru con – đều được anh Hải chỉ dẫn và cho ý kiến”.

Vào năm 1983, một vinh dự lại đến với chị khi cùng với Trần Quang Hải đoạt giải thưởng lớn nhất dành cho một đĩa nhạc dân ca cổ (Grand Prix Du Disque de l’Académie Charles Cros), do quyết định của một ban giám khảo gồm toàn những nhà nghiên cứu âm nhạc.

Ðến nay Bạch Yến đã cùng với Trần Quang Hải thực hiện được trên 10 CD về âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Riêng chị Bạch Yến đã thu thanh tiếng hát của chị trên một CD do trung tâm Tú Quỳnh ở nam California thực hiện, 2 băng cassettes cho trung tâm Playasound và một CD do chị tự thực hiện với tựa đề “Souvenir”. Bạch Yến tự nhận là rất ngại vào studio để thu thanh nên số tựa CD của chị không nhiều. Nhưng khi trình diễn trên sân khấu thì “như cá gặp nước” như câu nói nhiệt tình của chị, vì “với khán giả có được sự “contact direct” nên hứng thú hơn. Nhất là khi người nghe mang CD về nhà để nghe từng chữ, từng câu nên sợ lắm!”.

Những năm gần đây với quan niệm “khi mất sức khỏe là mất tất cả”, nhất là hiện chị đã bước vào lớp tuổi 60 nên đã hạn chế nhiều trong việc đi lưu diễn. Tuy vậy hàng năm chị vẫn xuất hiện trong 60 buổi trình diễn trước khán giả ngoại quốc, trong khi với khán giả người Việt trung bình hàng năm cũng còn từ 5 đến 10 buổi. Với một quá trình tận tụy với âm nhạc, trải qua những thăng trầm trong nghề nghiệp cùng với những thành quả đã gặt hái được, Bạch Yến xứng đáng được coi như một nghệ sĩ đã mang lại nhiều vinh dự cho nền âm nhạc Việt Nam sau 50 năm theo đuổi con đường nghệ thuật.

Nguồn: TVTS Úc châu

THEO WALL STREET JOURNAL: PHỞ VIỆT NAM qua cái nhìn của một phóng viên Mỹ


Mới đây, tờ tạp chí kinh doanh nổi tiếng của Mỹ – Wall Street Journal đã cho đăng tải một bài viết khen ngợi món phở Việt Nam. Bài viết có những nhận định, so sánh sâu sắc về món ăn nổi tiếng của người Việt.Bằng giọng văn hài hước, dí dỏm và chân thành, phóng viên của tờ Wall Street Journal đã có một bài viết thú vị về phở Việt:

Đáp máy bay đến Hà Nội trong một buổi sớm se lạnh, khi cảm giác lâng lâng, say say của máy bay vẫn còn khiến đầu óc “nửa mê nửa tỉnh”, tôi bước vào một quán ăn nhỏ ven đường, tỏa ra mùi hương ngào ngạt, quyến rũ. Tôi đã ở đây rồi, nơi tân cổ giao duyên, nơi Đông Tây gặp gỡ – Hà Nội, thủ đô ngàn năm văn hiến của Việt Nam.

“Ông ăn ngay đi nhé!”, cô phục vụ lấy tay ra hiệu chỉ vào bát phở vừa mới đặt xuống trước mặt tôi. Trông cô nghiêm nghị như một vị tướng chỉ huy cấp dưới, nhưng đó chỉ là sự so sánh hài hước của tôi thôi. Thực ra, cô đang thể hiện sự quan tâm, có lẽ trông tôi không khỏe và cô đang lo lắng cho người khách phương xa.

Bát phở đặt trước mặt tôi – món ăn thương hiệu của ẩm thực Việt Nam đây rồi, trông thật giản dị: những sợi phở trắng bơi trong bát nước dùng, rải đều trên mặt là những lát thịt bò thái mỏng. Đi kèm bên cạnh là một đĩa bày rất khéo những thức rau sống, giá đỗ, miếng chanh cắt nhỏ, lát ớt chỉ thiên…

Phở, tôi đã ăn nhiều lần. Đó luôn là món ăn đặc biệt đối với tôi. Kể từ lần đầu tiên được nếm thử hương vị phở ở đất nước quê nhà cách Việt Nam nửa vòng trái đất – nước Mỹ, tôi đã biết mình sẽ không bao giờ có thể quên món ăn này.

Tôi cũng không bao giờ có thể miêu tả hương vị phở, nó quá sâu sắc và phức tạp, chẳng dễ nói bằng lời được. Bởi lẽ, để có tô phở đặt trước mặt tôi đây, người chủ quán đã phải chuẩn bị cầu kỳ từ trước đó nhiều tiếng đồng hồ.

Nguồn gốc của phở thật bí ẩn. Người thì bảo phở là món lai Pháp, người lại bảo nó xuất xứ từ Trung Hoa, có người lại quyết bảo vệ: phở là của Nam Định. Bất kể phở xuất xứ từ đâu, người Việt Nam các bạn vẫn luôn bảo rằng phở là linh hồn ẩm thực của Hà Nội.

Ở thành phố miền Bắc đông đúc này, mặt trời lên là đường phố bắt đầu hối hả, mặt trời lặn là ai về nhà nấy, đến đêm thì không gian được trả lại sự tĩnh lặng. Tôi thường thấy những người bán hàng rong đạp xe xung quanh thành phố với những thúng mủng đựng chanh, ớt, tỏi… Và tôi cũng thường thấy các quán phở có khách từ sáng đến đêm, đó là món ăn mà có lẽ người ta có thể ăn từ ngày này sang ngày khác, từ bữa này sang bữa khác không chán, tôi nghĩ vậy.

Phở là món quà đặc sản của Hà Nội, một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam- Thạch Lam từng viết như vậy hồi thập niên 1940. Điều này vẫn không thay đổi cho tới tận hôm nay. Phở là đặc sản Hà Nội không phải bởi chỉ người Hà Nội mới biết nấu phở mà bởi ở Hà Nội, hương vị phở thơm ngon đặc biệt, một thứ vị riêng có.

Hai thúng hai đầu và một dải quang gánh ở giữa nối liền, ai đó đã miêu tả hình ảnh đất nước Việt Nam như vậy. Miền Bắc với Hà Nội ở một đầu quang và miền Nam với thành phố Saigon ở đầu còn lại. Đến với thành phố Saigon , tôi cũng dùng phở và nhận thấy hương vị hai nơi thật khác nhau, phong cách nấu ở hai thành phố này có những khác biệt thú vị.

Tôi muốn kể cho các bạn nghe về trải nghiệm đầu tiên của tôi với phở. Nó bắt đầu từ một nhà hàng ở tận thành phố Cambridge, bang Massachusetts, Mỹ. Ở những năm 1990, khi đó, phở vẫn còn chưa được nhiều người Mỹ biết tới. Một đầu bếp Mỹ có tên Didi Emmons đã mở quán phở đầu tiên trong bang. Có lần ghé qua ăn thử và quá ấn tượng với món này, cậu sinh viên trẻ là tôi khi đó đã ngay lập tức xin được làm thêm tại cửa hàng.

Tôi đã từng làm việc ở nhiều cửa hàng ăn suốt thời đi học nhưng chưa có món nào gây ấn tượng với tôi như phở. Tôi khâm phục cách người ta sáng tạo ra nước dùng của phở, cách người ta thái và chẻ những cọng hành, cách đập gừng làm sao để miếng gừng vừa đủ độ dập và tiết ra hương thơm không quá nhạt cũng không quá nồng.

Rồi hằng hà sa số những thứ thảo mộc tinh tế mà người ta dùng để chế vào nồi nước phở. Có những đêm tôi được người chủ quán ở Cambridge giao trông nồi nước dùng, tôi đã say sưa ngắm những bong bóng phập phồng trong nồi nước. Hít hửi hương thơm tỏa ra, tôi tin rằng đây là thứ nước dùng tinh tế nhất trong thế giới của các loại nước dùng.

Hương vị phở ở Hà Nội giản dị và cổ điển, nước dùng thanh và trung thành với những gì truyền thống – những lát thịt bò thái mỏng, những cọng hành tươi thái nhỏ và một vài chiếc lá rau thơm…

Những quán phở ngon nổi tiếng ở Hà Nội lại tập trung ở những con phố hẹp và đông đúc nằm trong khu phố cổ. Hàng quán ở đây san sát nhau, người dân “luồn lách” trong dòng xe đông đúc một cách rất “cơ động” bằng những chiếc xe máy nhỏ gọn.

Đường phố thì thế nhưng người dân ở đây vẫn giữ được sự thư thái, thoải mái mỗi khi ngồi xuống ăn quà. Nhiều khách du lịch khi sang Việt Nam không dám ngồi xuống những hàng quán vỉa hè và họ đã tự tước đi quyền thưởng thức sự tinh túy của ẩm thực Hà Nội. Sự tinh tế đó lại nằm ở chính những hàng quán ven đường này.

Phở ở thành phố Saigon có hương vị nồng đượm. Ở đây nước dùng đậm đà, hơi đục chứ không trong và thanh như nước dùng ngoài Hà Nội. Ở đây, phở có nhiều sáng tạo, cải biên thú vị với những nạm, tái, gầu, bò viên… thơm nức, mềm mại. Người yêu phở ở thành phố Saigon vì thế có nhiều lựa chọn “phi truyền thống” hơn.

Theo tôi, phở có thể được coi là một “thức ăn nhanh” của người Việt. Các nguyên liệu thường được chủ quán bày sẵn ra các khay và chế biến rất nhanh, chỉ vài phút sau khi gọi món, bát phở nóng sốt, thơm lừng đã được đặt ngay trước mặt thực khách.

Ở Việt Nam có những quán phở mở từ tờ mờ sáng, thậm chí có cả quán mở xuyên đêm. Những nồi nước dùng ở đây to khổng lồ tới mức tôi tưởng tượng mình… có thể bơi trong đó. Chưa tới 2 đô la, du khách đến Việt Nam đã có thể thưởng thức món ẩm thực tinh tế đỉnh cao của Việt Nam – một ưu đãi quá lớn.

Sau khi đã thưởng thức phở ở cả miền Bắc và miền Nam, tôi nhận ra rằng phở ở Hà Nội thanh và truyền thống còn phở ở thành phố Sài Gòn đậm và “tân thời”. Đối với cá nhân tôi, tôi thích phở của thành phố Sài Gòn Hồ hơn bởi tôi yêu vị ngọt đậm trong tô phở Sài Gòn.

Trước khi bước ra khỏi quán, cô phục vụ thân thiện hỏi tôi: “Ông đã no bụng chưa?”. Tôi chỉ cười. Làm sao có thể no được khi phở Việt Nam ngon đến vậy? Dù đã ăn hết cả tô nhưng tôi vẫn luôn thấy thòm thèm, đúng như người Việt vẫn nói: No bụng đói con mắt. Chắc chắn tôi sẽ còn nhiều lần ăn phở, ngay cả sau khi đã trở về Mỹ. Người Mỹ giờ đây cũng đã có nhiều người “nghiện phở” như tôi.

Theo Wall Street Journal

TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI : tiếng Việt (cập nhựt 17/10/2020)


TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI : tiếng Việt (cập nhựt 17/10/2020)

TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI : tiếng Việt

Tran Quang Hai

Tiểu sử TRẦN QUANG HẢI (Tran Quang Hai’s biography in Vietnamese)

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã , tỉnh Gia Định, miền Nam nước Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê (sinh ngày 24 tháng 7, 1921) và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn trường nữ trung học Gia Long (sinh ngày 19 tháng 9, 1921).Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ danh ca Bạch Yến ngày 17 tháng 6, 1978 tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc ngoại quốc Tây phương lúc đầu của sự nghiệp cầm ca . Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải , Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới .Trần Quang Hải xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời và anh là nhạc sĩ đời thứ năm . Ngoài ra anh là dân tộc nhạc học gia (ethnomusicologist – ethnomusicologue) chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, thuyết trình viên , nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, và thành viên của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique)

Vài dòng về khuôn mặt Trần Quang Hải. Anh đã theo gót cha anh , GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu dân tộc nhạc học. Anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh .

Gia đình nhạc sĩ cổ truyền

1. Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ của tôi là quan án sát, theo Phan Thanh Giản sang Pháp để thương thuyết nhưng thất bại , treo ấn từ quan , vào Nam , cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. Rất giỏi về nhã nhạc Huế .

2. Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố của tôi là người đàn tỳ bà rất hay , được gởi ra thành nội Huế để học nhạc cung đình và chuyên về đàn tỳ bà . Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho đàn tỳ bà , nhưng tiếc thay là tất cả tài liệu đó bị thất lạc vì chiến tranh .

3. Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội của tôi là người đàn kìm rất giỏi, biệt hiệu Bảy Triều trong giới cải lương, đã đặt ra cách lên dây TỐ LAN cho đàn kìm để đàn những bài buồn ai oán. Hiện nay chỉ còn một số rất ít nhạc sĩ cổ nhạc biết đàn dây này (như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo , GS Trần Văn Khê)

4. Trần Văn Khê (1921 – ), ba của tôi là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng quốc tế và làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới ở địa hạt trình diễn cũng như nghiên cứu . Con trai trưởng trong gia đình có ba người con (ba tôi GS Trần Văn Khê, chú ba tôi là Quái kiệt Trần Văn Trạch, cô tư tôi là Trần Ngọc Sương từng nổi tiếng là ca sĩ tân nhạc vào đầu thập niên 50) , ông đã hăng hái trong phong trào nhạc mới lúc trẻ (cùng thời với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Phạm Duy) và quay về nhạc cổ khi soạn luận án tiến sĩ tại Pháp . Từng là giáo sư nhạc Đông phưong tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Paris , Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, và từng giữ chức phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO . Hưu trí từ năm 1987, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu và đóng góp một vai trò lớn cho hai hồ sơ Nhạc cung đình Huế (được danh hiệu kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Ông định cư ở Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và là cố vấn cho hồ sơ Ca Trù để đệ trình lên UNESCO cho năm 2007 và cho hồ sơ Đờn ca tài tử nam bộ cho năm 2011 dành cho kiệt tác văn hóa phi vật thể. Ngày 24 tháng 6 năm 2015 , ông từ trần tại quận Bình Thạnh, TP HCM, Việt Nam . .

5. Trần Quang Hải (1944 – ) , cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Saigon với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), đi sang Pháp năm 1961 và học nhạc học tại trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở trường cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). Tôi bắt đầu làm việc cho trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với ê-kíp nghiên cứu tại Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới 2009 thì về hưu). Trình diễn trên 3,500 buổi tại 70 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác nhạc hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng , hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại . Đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 4 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới .Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng , jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ .SỰ NGHIỆP1. 1955-1961 trường quốc gia âm nhạc Saigon, tốt nghiệp vĩ cầm (lớp GS Đỗ Thế Phiệt)2. 1954-1961 trường trung học Pétrus Ký, Saigon.3. 1963-1970 Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (CEMO – Centre d’Etudes de Musique Orientale – Center of Studies for Oriental Music, Paris) , học các truyền thống nhạc Ba Tư (Iran), Ấn độ (Inde), Trung Quốc (Chine), Nhật Bổn (Japon), Nam Dương (Indonesie), Đông Nam Á (Asie du Sud-Est), Việt Nam (Vietnam)4. 1963 trường Ecole du Louvre, Paris5. 1965 certificate of proficiency in English (chứng chỉ Anh văn) , University of Cambridge, Anh quốc6. 1965 certificat de littérature française (chứng chỉ văn chương Pháp), Université de Sorbonne, Paris.7. 1967 cao học dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xã hội, Paris8. 1969 chứng chỉ âm thanh học (certificat d’acoustique musicale) , Paris9. 1970 văn bằng cao đẳng nhạc Việt trung tâm nghiên cứu nhạc đông phương , Paris10. 1973 tiến sĩ dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xà hội, Paris11. 1989 văn bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống , Paris.Từ năm 1965 tới 1966 theo học lớp nhạc điện thanh (musique électro-acoustique) với GS Pierre Schaeffer, người sáng lập loại nhạc điện tử ở Pháp .Từ năm 1968 tới 2009, tôi làm việc tại Viện dân tộc nhạc học của Viện Bảo Tàng Con Người (Département d’Ethnomusicologie du Musée de l’Homme) ở Paris (Pháp) . Từ năm 1968 tới 1987, tôi làm việc ở Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng nghệ thuật và truyền thống dân gian (Département d’Ethnomusicologie du Musée des Arts et Traditions Populaires) ở Paris (Pháp)Nghiên cứu sư của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS) ở Paris từ năm 1968. Từng là thành viên của nhiều ê-kíp nghiên cứu (RCP 178 – Recherche coopérative sur programme từ 1968 tới 1973 ; ER 65 – Equipe de recherche từ 1974 tới 1981 ; Laboratoire Associé từ 1974 tới 1987 ; UPR 165 – Unité Propre de Recherche từ 1982 tới 1985 ; UMR 9957 – Unité Mixte de Recherche từ 1986 tới 1997 ; UMR 8574 – Unité Mixte de Recherche từ 1997 tới 2004 ; UMR 7173 – Unité Mixte de Recherche từ 2005 trở đi)Từ 1970 tới 1975 : giáo sư đàn tranh của Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương , ParisTrong suốt thời gian 55năm hành nghề nhạc sĩ chuyên nghiệp (1962 -2017) tôi đã trình diễn trên 3.500 buổi cho khán giả Tây phương , và trên 1.500 buổi diễn cho học trò trên thế giới do các cơ quan chính thức của Na Uy (Rikskonsertene), Bỉ (Jeunesses Musicales de Belgique), Thụy Sĩ (Jeunesses Musicales Suisses), Pháp (Jeunesses Musicales de France, Association départementale pour diffusion et initiation musicale – ADDIM).

Từ 1971 tôi đã làm 15 dĩa 30cm / 33 vòng và 8 CD về nhạc cổ truyền Việt Nam , đặc biệt là về đàn tranh. Nhiều sáng tác đã đưọc thu vào dĩa và được đăng trong các quyển tự điển Who’s Who in Music (từ năm 1987) , Who’s Who in the World (từ năm 1981 ), và Who’s Who in France (từ năm 1997).Về sáng tác nhạc, tôi có viết 12 ca khúc nhi đồng với sự cộng tác của nhà văn Duyên Anh năm 1984. Tôi đã sáng tác trên 400 nhạc phẩm đủ loại với ca khúc viết tiếng Việt, Pháp, Anh và nhạc cho đàn tranh, đàn bầu, muỗng, đàn môi và hát đồng song thanh . Ngoài ra còn viết nhạc cho phim « Long Vân Khánh Hội »của Lê Lâm vào năm 1980, phim « Le Chant des Harmoniques » (Bài ca bồi âm) vào năm 1989, và cho phim « La Rencontre du Coq et du Dragon » (Cuộc hội ngộ giữa Gà và Rồng) vào năm 1998 .

Với tư cách nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học, tôi đã viết nhiều bài cho các tập san nghiên cứu nhạc học như « The World of Music » (UNESCO), « Journal of Asian Music Society (Cornell University, Hoa Kỳ), « Yearbook of the International Council for Traditional Music –ICTM, Hoa Kỳ), « Cahiers de Musiques Traditionnelles » (Thụy Sĩ ), « Koukin Journal » (Tokyo, Nhật Bản). Tôi có viết một bài về nhạc Cao miên cho New Grove Dictionary of Music and Musicians, ấn bản lần thứ 1 (1980) (20 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa vài nhạc cụ Việt Nam cho New Grove Dictionary of Music, ấn bản lần thứ nhì (2001) (29 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa cho trên 200 từ nhạc cụ của Việt Nam, và Đông Nam Á cho New Grove Dictionary of Musical Instruments, ấn bản lần thứ nhứt (1984) (3 quyển, London, Anh quốc)Tôi viết lịch sử nhạc Việt Nam, Lào, Cao Miên và Thái Lan cho quyển tự điển Algemeine Muziekencyclopedia (1082-1984, Hòa Lan), và nhiều bài cho tự điển Encyclopaedia Universalis (1984, 1986, 1988 , 1990, 1991, Paris)

Tôi đã làm 4 DVD về giọng và hát đồng song thanh : « Le Chant diphonique » với CRDP (trung tâm địa phương tài liệu sư phạm và Hàn lâm viên La Réunion, 2004), « Le chant des Harmoniques » (CNRS – Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học, 2005), « La Voix » với nhà xuất bản Lugdivine (2006, Lyon, Pháp), và « The Song of Harmonics » với CNRS, Paris, 2006.Ngoài ra Pierre Ravach có làm một cuốn phim  (TRẦN QUANG HẢI : parcours d’un musicien vietnamien / Trần Quang Hải : hành trình của một nhạc sĩ việt nam ), Bruxelles, Bỉ vào năm 2005. Bùi Xuân Quang và Paris Vietnam Productions thực hiện một cuốn video « Variations sur la musique vientamienne par Trần Quang Hải et Bạch Yến / các biến thể về nhạc việt với Trần Quang Hải & Bạch Yến) Paris, 2009.   Nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học cũng là đạo diễn Pháp Patrick Kersalé đã thực hiện hai chương trình video « Mystères des Voix du Monde » (Sự huyền bí của các gịong thế giới) (2012), và « Le Chant des Harmoniques » (Bài ca bồi âm) (2013) với tôi là nhân vật chính của hai video này .

Giảng dạy ở các trường đại học , viện bảo tàng và trung tâm nghiên cứu trên thế giớiTôi đã từng được mời dạy và thuyết trình tại nhiều trường đại học, trung tâm nghiên cứu và viện bảo tàng ở khắp năm châu :

Mỹ : University of Hawaii (1977), University of Berkeley (1977), University of Maryland (1980), Columbia University (1983), Museum of Modern Art (MOMA ở New York, 1984), University of California, San Diego (UCSD, 1990), Cornell University (1994), Thomas University (Minneapolis, 1996), Foundation of the Voice, Philadelphia (1997), Wisconsin University, Madison (1998), George Mason University (2000), California State University Long Beach (2019)

CANADA : Université de Montréal (1991), York University, Toronto (1994), University of Toronto (1994), Royal Museum of Ontario, Toronto (1994),.Saint John’s University, Saint John’s, Canada (2011)

BRAZIL : Âm nhạc viện, Rio de Janeiro (1983), University of Rio de Janeiro (1998, 2006), University of Recife (1998), Faculty of Music , Rio de Janeiro (2006)

Nam Phi : University of Cape Town (1984, 1997), Stellenbosch University, Cape Town (1984), University of Fort Hare, Fort Hare (2011)

Úc Châu : Monash University, Melbourne (1986), Sydney University, Sydney (1986), Western Australian University, Perth (1986), College of Advanced Education, Melbourne (1988), University of Canberra (1995)

Đại Hàn : National Seoul University (1981), National Institute of Performing Arts, Seoul (1994), Academy of Korean Studies, Seoul (2006)

Nhật Bản : Royal Academy of Music (1981), University of Hiroshima, Hiroshima (1999), Osaka University of Fine Arts , Osaka (2000).

Đài Loan : University of Taiwan, Taipei (2000), National Center of the Arts , Taipei (2000, 2002)

Thái Lan : University of Mahasarakham (1986), Chulalongkorn University, Bangkok (2012, 2019)

Việt Nam : Viện âm nhạc Hà nội, Hà nội (2002, 2006, 2017 ), Trung tâm văn hóa Pháp, Hà Nội (2006), Âm nhạc viện thành phố HCM (2006), Học Viện Âm nhạc quốc gia, Hà nội (2017)

Trung Quốc : Âm nhạc viện Thượng Hải (2012)

Lebanon : CLAC (Centre de lecture et d’animation culturelle – trung tâm văn hóa), ở các tỉnh Barja, Mansoura, Kfar Debyan, Amioun (2002)

Đức : Volkekunde Museum, Berlin (1985), Musik Hochschule , Detmold (1994), Institute of Psychotherapy, Heidelberg (1997), Musik Hochschule, Stuttgart (2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006,2013 ), Musik Hochschule, Hanover (2003), Aachen Universitet, Aachen (2003), Erfurt University (2004)

Belarus : Music Academy of Belarus, Minsk (1996)

Bỉ : Institute of Musicology , Louvain (1976), Royal Museum of Central Africa, Tervuren (1976), Royal Instrumental Museum, Brussels (1980, 2001), University of Anwerpen (1981), Institute of Living Voice , Anverpen (2001), Royal Museum of Mariemont, Mariemont (2002), Conservatory of Music, Mons (2006)

Đan Mạch : Musikhistoriska Museum, Copenhagen (1972), Institute of Danish Folk Archive, Copenhagen (1972), Odin Teatret (Laboratorium of NordicTheatrical Researches), Holstebro (1998), Laboratory of theatrical experimental researches Cantabile 2, Wordingborg (2000).

Tây Ban Nha : Summer University, Madrid (1990)

Pháp : Paris : Université de Paris X-Nanterre (1985-92), Université de Paris VIII –Saint Denis (1991, 1993), Université de Paris IV-Sorbonne (1989), Centre d’Etudes de Musique Orientale (1970-1975), Ecole Nationale des Langues Orientales Vivantes – ENLOV (1991, 2006), Laboratoire d’Acoustique Musicale (1971, 1974), IUFM, Université de Cergy (1996, 1997, 1998, 1999, 2001)Nice : Université de Nice (1990), Musée des Arts Asiatiques (1999, 2000, 2003)Tours : Université de Tours (1975)Montpellier : Université de Montpellier 3 (1996, 1997, 1998, 1999, 2000, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006)Toulouse : Université de Toulouse (1985, 1991, 1995, 1997)Marseille : Conservatoire National de Musique (1987)Strasbourg : Conservatoire National Régional – CNR (1995, 1997, 1998)Mulhouse : Ecole Doctorale (2000), Université de la Haute Alsace (2005)Rennes : Conservatoire de Musique (1980), Université de Rennes (1999, 2000, 2001, 2004), IFMI de Rennes (2005)Poitiers : Université de Poitiers (2000)Bordeaux : Université de Bordeaux 2 Victor Segalen (2001)Lille : Université de Lille (2004)

Vương quốc Anh : Horniman Museum , London (1972), University of Durham (1985), University of London (1991), City University, London (1992), SOAS – School of Oriental and African Studies, London (1998), University of Reading, Reading (2004, 2005) Queen’s University, Belfast (1984),

Ái nhĩ lan : University of Limerick, Limerick (2004, 2005, 2017), University of Cork, Cork (2005),

Ý đại lợi – Italy: Institute of Musicology, Bologna (1979), University of Bologna (2000, 2003), Foundazione San Georgio Cini , Istituto Interculturale di Studi Musicali Comparati (1979, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006), Santa Cecilia Nazionale Academia, Roma (1994), University of Roma (1994), Institute of Musicology and Linguistics, Venezia (1996), Teatro La Fenice , Venezia ( 1995, 1996, 1997), Academy of Music, Sienna (1999), Institute of Musictherapy, Padova (2001, 2016).

Lituania : Music Academy of Lituana, , Vilnius (1997)

 Na Uy – Norway : Institute of Musicology, Trondheim (1976, 1980, 1981), University of Oslo (1979), Music Academy Grieg, Bergen (2004), Conversatory of Music, Oslo (2005, 2006)

Hà Lan – Holland : Jaap Kunst Centrum, Amsterdam (1974), Gemeente Museum, Den Haag (1980), Tropen Museum, Amsterdam (1992, 1998), University of Leiden , Leiden (2000), University of Groningen , Groningen (1998)

Ba Lan – Poland : Summer University, Warsaw (1997), University of Wroclaw (2013, 2016)

Nga – Russia : Âm nhạc viện Chaikowsky , Moscova (1993), Institute of World Music Research , Moscova (1993, 2012), International Centre of Khoomei, Kyzyl, Tuva (1995)Slovakia : Music Academy, Nitra (1997)

Thụy Điển – Sweden : Lund University , Lund (1976), Stockholm University, Stockholm (1976), Music Museet , Stockholm (1981), Royal Music Academy, Stockholm (1985)

Thụy Sĩ – Switzerland : Ethnographical Museum, Basel (1969), Music Academy, Basel (1993, 1995).

Yugoslavia : Music Academy, Sarajevo (1991)

Slovenia : Music Academy of the University in Ljubljana (2006, 2011)

Croatia: Institute of Ethnology and Folklore Research in Zagreb (2006)

ĐẠI HỘI LIÊN HOAN VÀ HỘI NGHỊ QUỐC TẾ

Trong vai trò nhạc sĩ , tôi đã trình diễn tại hơn 130 đại hội liên hoan nhạc truyền thống sau đây:

1970 :*Festival International du Son (Nhạc hội quốc tế về âm thanh), Paris, Pháp-France

*Festival of Arts – Chiraz / Persepolis (Nhạc hội về nghệ thuật), Chiraz, Ba Tư-Iran

1971 :*Cinq Journées de Rencontre avec le Groupe de Recherches Musicales (5 ngày gặp gỡ với Nhóm Nghiên cứu nhạc), Paris, Pháp –

 FranceSemaine culturelle indochinoise (Tuần lễ văn hóa Đông Dương), Geneva, Thụy Sĩ (Switzerland)

*Oriental Music Festival (Đại hội liên hoan nhạc đông phương), Berlin, Đức – Germany .

*Festival de Musique d’Ajaccio (Đại hội liên hoan âm nhạc tại Ajaccio), đảo Corsica, Pháp

*15 Jours de Musique Traditionnelle avec le Folkclub Le Bourdon (15 ngày nhạc truyền thống với hội dân nhạc Le Bourdon), Geneva, Thụy sĩ – Switzerland .

1972 :*Pampelune Music Festival (nhạc hội tại Pampluna), Pampluna, Tây ban nha – Spain

*La Geolette d’Or , Knokke le Zoute , Bỉ – Belgium

*Festival of Traditional Music in Vesdun (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Vesdun, Pháp-France

*SIGMA 8 : Festival de musique contemporaine (đại hội nhạc truyền thống), Bordeaux, Pháp-France.

1973 :*Festival de musique de Royan (nhạc hội tỉnh Royan), Royan, Pháp – France

*Festival international de Musique Traditionnelle (nhạc hội quốc tế nhạc truyền thống), Le Havre, Pháp – France

*Festival international de Cultures et Jeunesses (Nhạc hội quốc tế về văn hóa và tuổi trẻ), Presles, Pháp – France .

1974 :*Festival de Musiques Traditionnelles (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Bezon, Pháp-France

*Festival international de Musique Folk (Nhạc hội quốc tế nhạc dân gian), Colombes, Pháp-France .

*Festival de Musique du Haut Var (Nhạc hội vùng Haut Var), Pháp – France

*Musicultura (Văn hóa âm nhạc), Breukelen, Hà Lan – the Netherlands

1975 :*Trois jours de musique folk (3 ngày dân nhạc), Conflans Sainte Honorine, Pháp – France

*5ème Festival de Musique contemporaine (Nhạc hội nhạc đương đại lần thứ 5), Bourges, Pháp – France .

*La Geolette d’Or, Knokke le Zoute, Bỉ – Belgium

*Festival de Musique de Tradition orale (Nhạc hội truyền thống truyền miệng), Châlon sur Saône, Pháp-France

*Festival international de musique (nhạc hội quốc tế), Olivet , Pháp – France

1976 :*Le Printemps des Peuples Présents (Mùa Xuân của các dân tộc hiện tại), Paris, Pháp-France

*Festival de Musique d’Eté (Nhạc hội hè), Chailles, Pháp-France

*Festival du Marais (Nhạc hội khu Marais), Paris, Pháp-France

*Journées Musicales Internationales (Ngày nhạc quốc tế), Vernou, Pháp – France

*Un mois d’Arts Asiatiques (Một tháng nghệ thuật á châu), Laon, Pháp-France

*Oriental Music Festival (Nhạc hội nhạc Đông phương), Durham, Anh quốc – United Kingdom

*Festival de Musique de l’Asie du Sud-Est (Nhạc hội Đông Nam Á), Laon, Pháp- France

1977 :*Journées Musicales Internationales (Ngày Nhạc quốc tế), Vernou, Pháp-France

*World Music Festival (Nhạc hội nhạc thế giới), Berkeley, Hoa Kỳ -USA

*World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC), Honolulu, Hawaii, Mỹ – USA

1978 : *Journées Musicales Internationales (Ngày Nhạc quốc tế), Vernou, Pháp-France

*Festival de Musique Traditionnelle, Lugano, Thụy sĩ- Switzerland

*Fête de la Saint Jean (Lễ thánh Jean), Dieppe, Pháp-France

1979 :*Oriental Music Festival (Nhạc hội nhạc Đông phương), Durham, Anh quốc-United Kingdom

*Festival International de Musique Contemporaine (Nhạc hội quốc tế nhạc đương đại), Clichy, Pháp-France

*World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC), Oslo, Na Uy – Norway

1980 :*Festival d’Automne (Nhạc hội mùa thu), Paris, Pháp-France

*Festival International de Musique traditionnelle (Nhạc hội quốc tế nhạc truyền thống), Sarajevo, Nam tư-Yugoslavia1981 :

*Asian Music Festival (Nhạc hội Á châu), Seoul, Đại Hàn- Republic of Korea*World Conference of the IFMC (Hội nghị thế giới IFMC) , Seoul, Đại Hàn, Korea

1982 :*Chamber Music Festival (Nhạc hội nhạc thính phòng), Kuhmo, Pháp-France

*Polyphonix : Poésie et Musique (Nhạc hội về Thơ và Nhạc), Paris, Pháp-France

1983 :*First World Music Festival (Nhạc hội nhạc thế giới lần thứ nhất), Rio de Janeiro, Ba Tây – Brazi

l*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), New York, Mỹ – USA

1984 :*Polyphonix : Poetry and Music (Nhạc hội về Thơ và Nhạc), New York, Hoa Kỳ -USA

*Folk Music Festival (Nhạc hội dân nhạc) , Kaustinen, Phần Lan-Finland

*New Music Festival (Đại hội nhạc mới), Vitaasarii, Phần Lan-Finland

*Chamber Music Festival (Đại hội nhạc thính phòng), Kuhmo, Phần Lan-Finland

*Festival of World Musical Cultures (Đại hội văn hóa nhạc thế giới), Cape Town, Nam Phi- South Africa

1985 :*First World Festival of Traditional Music (Đại hội thế giới nhạc cổ truyền lần thứ nhất), Belfast, Bắc Ái nhĩ lan – Northern Ireland, United Kingdom

*Festival international de musique(đại hội quốc tế âm nhạc), Langeais, Pháp-France

*Festival estival (đại hội mùa hè), Paris, Pháp-France

1986 :*Festival de Musique des Trois Continents (Đại hội nhạc ba lục địa), Nice, Pháp-France

*Festival de Musique Traditionnelle – Nord/Sud (Đại hội nhạc truyền thống -Bắc/Nam), Paris, Pháp-France

*Festival de Musiques des Immigrants (Đại hội nhạc di dân), Paris, Pháp-France

1987 : *Polyphonix : Poésie et Musique (Đại hội Thơ và Nhạc), Paris, Pháp-France

*Festival de Musique Folk (Đại hội dân nhạc), Ris Orangis, Pháp-France

1988 :*Premières Rencontres d’Expressions Vocales (Cuộc gặp gỡ đầu tiên về Giọng hát), Abbaye de Fontevraud, Pháp-France

*World Music Festival (đại hội nhạc thế giới) , Melbourne, Úc châu – Australia

*People’s Music Festival (đại hội nhạc dân chúng), Milano, Ý-Italy

*Festival de Musique asiatique (đại hội nhạc Á châu), Estampes, Pháp-France

1989 :*Bicentenaire de la Révolution Française (Đại hội nhạc kỷ niệm 200 năm cách mạng Pháp), Paris , Pháp-France

*Festival international de Saint Herblain (đại hội quốc tế âm nhạc tỉnh Saint Herblain), Saint Herblain, Pháp-France

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Schladming, Áo quốc-Austria

1990 :*Music Festival « Bloomed Sounds, Floating Song »( Đại hội âm nhạc “âm thanh nở, ca khúc trôi”), Osaka, Nhật Bản-Japan

 *First Forum of Pacific and Asian Arts (Đại hội nhạc Á châu và Thái bình dương lần thứ nhất), Kobe, Nhật Bản-Japan

.*Asian Music Festival (Nhạc hội Á châu), Tamba, Nhật Bản-Japan.

*Festival de Musique Traditionnelle (Nhạc hội nhạc cổ truyền), Arzila, Maroc – Morocco

*Berlin Music Festival (Nhạc hội thành phố Berlin), Berlin, Đức – Germany

*Vox Populi (Nhạc hội về Giọng), Bruxelles, Bỉ-Belgium

1991 : *700 ans de Suisse (Nhạc hội 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ), Lausanne, Thụy Sĩ-Switzerland

*Festival de Musique de Saint Denis (Nhạc hội tỉnh Saint Denis), Saint Denis, Pháp-France

*String Music Festival (Nhạc hội đàn dây), Berlin, Đức-Germany

*Voice Festival (Đại hội Giọng), Rotterdam, Hà Lan – the Netherlands

1992 :*4ème Rencontre de Chants Polyphoniques (Gặp gỡ lần thứ 4 Hát Đa âm), Calvi, Corse, Pháp

*Festival autour de la Voix (Đại hội quanh về Giọng), Argenteuil, Pháp-France

*Festival sur l’esprit des Voix (Đại hội về Giọng), Périgueux, Pháp-France

*Festival de Musique de Montréal, (đại nhạc hội kỷ niệm 350 thành lập xứ Canada), Montréal, Canada .

1993 :*Festival de Musique Folk (Đại hội nhạc dân gian), Ris Orangis, Pháp-France

*Voice Festival (Đại hội về Giọng), Volterra, Ý – Italy

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Berlin, Đức – Germany

1994 :*Festival de Musique Traditionnelle (Đại hội nhạc cổ truyền), Azrilah, Maroc-Morocco

*Festival de Musiques du Monde (Đại hội nhạc thế giới), Nantes, Pháp-France

*First Festival and International Conference of the Pacific / Asian Society for Ethnomusicology (Đại nhạc hội và hội nghị quốc tế lần thứ nhất ), Seoul, Hàn quốc-Korea

1995:*Giving Voice : A Geography of the Voice (Đại hội về Giọng), Cardiff, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom

*2nd International Festival of Throat Singing Khoomei (Đại hội quốc tế lần thứ 2 về Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga – Russia

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Canberra, Úc chậu – Australia

1996:*Voice Festival (Đại hội về giọng), Grosetto, Ý-Italy

*Giving Voice: A Geography of the Voice (Đại hội về Giọng), Cardiff, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom

*4th World Festival of Choral Music (Đại hội thế giới lần thứ 4 về nhạc hợp xướng), Sydney, Úc châu – Australia

*1st World Meeting of Vietnamese Music (Gặp gỡ thế giới lần thứ nhất về nhạc Việt), Minneapolis, Mỹ – USA

1997:*International Festival of Music (Đại nhạc hội quốc tế), Cape Town, Nam Phi – South Africa

*Festival de Musique Folk (Đại hội nhạc dân gian), Ris Orangis, Pháp – France

*Giving Voice : An Archeology of the Voice (Đại hội về Giọng), Aberyswith, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom

*Festival Régional de Musiques Traditionnelles (Đại hội địa phương nhạc cổ truyền), Montpellier, Pháp – France

*World Conference of the ICTM (Hội nghị quốc tế ICTM), Nitra, Slovakia

1998 : *International Festival of Stringed Instruments (Đại hội quốc tế đàn dây), Amsterdam, Hà lan – the Netherlands

*International Festival of Mediterranean Music (Đại hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý – Italy

*Asian Music Festival in Europe (Đại hội nhạc Á châu ở Âu châu), London, Anh quốc – Great Britain

*Printemps pour la culture vietnamienne (Mùa Xuân cho văn hóa Việt), Paris, Pháp-France

*Festival de la Voix (Đại hội về Giọng), Auch, Pháp-France

*3rd World Jew’s Harp Festival (Đại hội thế giới lần thứ 3 về Đàn Môi), Molln, Áo quốc-Austria

*Bela Bartok Festival of Contemporary Music (Đại hội Bela Bartok nhạc đương đại), Szombathely, Hungari – Hungary

*Asian Music Festival (Đại hội nhạc Á châu), Firenze , Ý-Italy

*International Voice Festival (Đại hội quốc tế về Giọng), Rio de Janeiro, Braxin- Brazil

1999 :*Festival d’Auch (Đại hội về giọng thành phố Auch), Auch , Pháp – France

*Festival international de Musique de Saint Chartier (Đại hội quốc tế nhạc cổ truyền), Saint Chartier, Pháp-France

*Giving Voice : A Divinity of the Voice (Đại hội về Giọng), Aberyswith, Wales, Vương quốc Anh – United Kingdom

*Bela Bartok Festival of Contemporary Music (Đại hội Bela Bartok nhạc đương đại), Szombathely, Hungari – Hungary

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Hiroshima, Nhật Bản – Japan

2000:*Festival Printemps musical de Pérouges (Nhạc hội mùa xuân tỉnh Pérouges), Pérouges, Pháp-France

*Fête de la Musique (Ngày lễ âm nhạc), Paris, Pháp-France

*International Jew’s harp Festival (Đại hội quốc tế Đàn môi), Moll, Áo quốc-Austria

*Festival of Dances and Folk Music (Đại hội múa và nhạc dân gian), Rudolstadt, Đức – Germany

*Festival de Musiques des 5 continents (Đại hội nhạc 5 châu), Mauléon, Pháp-France

*International Festival of Extreme Voices (Đại hội quốc tế về Giọng), Genova, Ý-Italy

*International Festival of Qin music (Đại hội quốc tế về nhạc đàn tranh), Amsterdam, Hà Lan – the Netherlands

*Festival de Voix d’Hommes (Đại hội Giọng Nam), Bretagne, Pháp – France

*Festival of Traditional Music (Đại hội nhạc cổ truyền), Đài Bắc, Đài loan – Taiwan

2001 :*Colloque de la Voix chantée (Hội nghị về Giọng ), Lyon, Pháp – France

*Festival de Musique Traditionnelle (Đại hội nhạc cổ truyền), Denain, Pháp-France

*City London Music Festival (Đại nhạc hội thành phố London), London, Anh quốc –England

*Fête de la Musique (Lễ âm nhạc), Paris, Pháp – France

*Festival « Performato » (Đại nhạc hội Performato), Rio de Janeiro, Braxin – Brazil

*International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế nhạc hợp xướng), Singapore

*Festival “1000 Facettes de la Voix” (Đại hội 1000 bộ mặt của Giọng), Village du Lac, Pháp-France

*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Rio de Janeiro, Braxin – Brazil

2002 :*International Voice Festival (Đại hội quốc tế về Giọng), Genova , Ý –Italy

*Fête de la Musique (Lễ âm nhạc), Beirut, Liban – Lebanon

*International Congress of Yoga (Hội nghị quốc tế về Yoga), Vogüe, Pháp – France

*6th World Symposium of Choral Music (Đại hội thế giới lần thứ 6 về nhạc hợp xướng), Minneapolis, Mỹ – USA

*4th World Jew’s Harp Festival (Đại hội thế giới lần thứ 4 về Đàn Môi), Raudal, Na Uy- Norway

*International Congress of Polyphony (Hội nghị quốc tế nhạc đa âm), Tbilissi, Georgia

2003*International Music Festival of Telemark (Đại hội quốc tế âm nhạc ở Telemark), Bo, Na Uy – Norway

*Festival de culture vietnamienne (Đại hội văn hóa Việt), Lausanne, Thụy Sĩ – Switzerland

*International Congress of Psychotherapy (Hội nghị quốc tế tâm lý điều trị học), Hanover, Đức – Germany

*International Festival “Voice of the World” (Đại hội quốc tế “Giọng thế giới”, Bologna, Ý- Italy

2004:*World Conference of the ICTM(Hội nghị thế giới ICTM), Fuzhou, Trung quốc – China

*International Festival “Making New Waves” (Đại hội quốc tế nhac đương đại), Budapest, Hungari – Hungary

*International Congress of Musical Acoustics (Hội nghị quốc âm thanh nhạc học), Nara, Nhật Bản – Japan

*International Congress of Acoustics (Hội nghị quốc tế âm thanh học), Kyoto, Nhật Bản – Japan

*International Congress of Yoga (Hội nghị quốc tế về Yoga), Vogüe, Pháp – France

*International Festival of Mediterranean Music (Đại hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý – Italy

*3ème Festival “Le Rêve de l’Aborigène » (Đại hội nhạc đàn môi, didjeridu và hát đồng song thanh lần thứ 3), Poitiers, Pháp – France

*International Congress of Shamanism (Đại hội quốc tế về đồng bóng), Trường đại học Donau, Krems, Áo quốc – Austria

*Manifestations scientifiques et musicales dans le cadre “Lille, Ville européenne Culturelle

 *2004 (Sinh hoạt khoa học và âm nhạc trong khung cảnh « Lille, thành phố Âu châu văn hóa 2004), Lille, Pháp – France

*International Seminar on Voice (Hội nghị quốc về Giọng), Reading, University of Reading,, Anh quốc – England.

*International Symposium of Sung and Spoken Voice (Hội nghị quốc tế về giọng hát và giọng nói, Stuttgart, Đức – Germany

.2005:*International Festival of Avant Garde Music “Making New Waves” (Đại hội quốc tế ậm nhạc đương đại), Budapest, Hungari – Pháp

*International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế về hát hợp xướng), Erfurt, Đức – Germany.

*International Festival of Choral Music (Đại hội quốc tế về hát hợp xướng), Arnheim, Hà Lan – the Netherlands

*International Festival of Mediterranean Music (Nhạc hội quốc tế nhạc Địa Trung Hải), Genova, Ý-Italy

*Sunplash Festival (Nhạc hội nhạc Reggae), Ý – Italy*World Conference of the ICTM (Hội nghị thế giới ICTM), Sheffield, Anh quốc

.*MELA Festival (Đại nhạc hội MELA về nhạc thế giới), Oslo, Na Uy – Norway.

*1st World Festival of Marranzanu (Đại hội thế giới về Đàn môi lần thứ nhất), Cantania, Sicily, Ý – Italy

*International Symposium of Voice (Hội nghị quốc tế về Giọng), Stuttgart, Đức – Germany

*“30 ans d’existence de l’Université en Haute Alsace” (Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập trường đại học Haute Alsace), Mulhouse, Pháp – France

*International Festival of Traditonal Music (Đại hội quốc tế nhạc truyền thống), Limerick, Ái nhĩ lan – Ireland.

2006:*Tết in Seattle (Đại hội âm nhạc Tết tại Seattle), Seattle, Mỹ – USA

*2ème Rencontre sur la parole chantée (Cuộc gặp gỡ thứ nhì về lời hát), Rio de Janeiro, Braxin- Brazil

.*Festival « La Semaine du Son » (Đại hội tuần lễ âm thanh), Châlon sur Saône, Pháp – France

*International Seminar on Ca Trù (hội thảo quốc tế về Ca Trù ), Hà Nội, Việt Nam

*Festival international des Musiques Sacrées (Đại hội quốc tế nhạc tôn giáo), Fribourg, Thụy Sĩ – Switzerland.

*5th International Jew’s Harp Festival (Đại hội quốc tế Đàn môi lần thứ 5), Amsterdam, Hà Lan – the Netherlands

*MELA Festival (Đại hội quốc tế nhạc thế giới), Oslo, Na Uy – Norway

*International Meeting of the ICTM (Hội thảo quốc tế ICTM), Ljubliana, Slovenia

*International Congress of Applied Ethnomusicology (Hội nghị quốc tế về dân tộc nhạc học áp dụng ), Ljubljana, Slovenia

.*International Symposium of Voice (Hội nghị quốc tế về Giọng), Stuttgart, Đức – Germany

*International Meeting “Music as Memory” (Hội thảo quốc tế “Nhạc như là Trí Nhớ), Oslo, Na Uy – Norway.

*The Global Forum on Civilization and Peace (Hội thảo về văn minh và hòa bình), Seoul, Đại Hàn – Republic of Korea.

2007 *“Bilan du film ethnographique” (Đại hội liên hoan phim nghiên cứu), Paris, France (march)

*“Voice Festival / 9th session of the ILV/ CETC”, (đại hội liên hoan về giọng) Buenos Aires, Argentina (march)

*“Symposium on music therapy”, (hội thảo về âm nhạc điều trị học) Sao Paulo, Brazil (april)

*“Bergen International Music OI OI Festival”, (Đại hội liên hoan quốc tế tại Bergen) Bergen, Norway (may-june)

*“Homage to Demetrio Stratos” (Lễ hội kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

*“39th World conference of the ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM), Vienna, Austria (july)

*“PEVOC 7 – International Congress on Voice”, (PEVOC , hội nghị quốc tế về Giọng) Groningen, the Netherlands (august)

*“International Doromb Jew’s Harp Festival” (đại hội liên hoan quốc tế về đàn môi), Hungary (september)

2008 *“A Week of Sound Festival, Lyon”, (Đại hội liên hoan một tuần về âm thanh) France (january)

*“Unesco Congress of World Heritage”(Hội nghị UNESCO về di sản thế giới), Canberra, Australia (February “

*“Giving Voice” (Đại hội liên hoan về Giọng), Aberystwith, New Wales (march)

*“Bergen International Music OI OI Festival”( đại hội liên hoan quốc tế về nhạc tại Bergen) Bergen, Norway (may/june)

*“Homage to Demetrio Stratos” (đại hội nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

* »A Voix Haute » Festival, (đại hội liên hoan về giọng hát) Bagnères de Bigorre, France (august)

*“MELA music festival” (Đại hội liên hoan quốc tế nhạc dân tộc MELA) , Oslo, Norway (august)

*“International Voice Festival” (Đại hội liên hoan giọng hát quốc tế), Dresden, Germany (september)

2009 *“Voice Festival” (đại hội liên hoan về Giọng), Switzerland (may)

*“Homage to Demetrio Stratos” (đại hội nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

*“40th World conference of the ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM), Durban, South Africa (july)

*“International Congress of Voice Teachers”(hội nghị quốc tế các giáo sư dạy giọng), Paris, France (july)

*“MELA Music Festival” (đại hội liên hoan nhạc dân tộc quốc tế MELA), Oslo, Norway (august)

2010 *“Homage to Demetrio Stratos” (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

 *“International of Sound” (đại hội liên hoan âm thanh quốc tế), Saint John’s, Canada (july)

*“ICTM 2 study groups meeting”j hội thảo ICTM về nhạc sắc tộc và dân tộc nhạc học ứng dụng) , Hanoi , Vietnam (july)

*“Vietnamese Guiness Record Ceremony” (Lễ trao giải kỷ lục Việt Nam), Ho Chi Minh city, Vietnam, (december)

2011 *“International Symposium on Don Ca tai tu Nam bo”(hội thảo quốc tế về đờn ca tài tử nam bộ), Ho Chi Minh city (January)

*“International colloquial about 400 years of the birth of Phu Yen city” (hội thảo quốc tế về 400 năm thành phố Phú Yên được sinh ra ), Phu Yên, Vietnam (april)

*“Le Vietnam à Lorient”, (Việt Nam tại tỉnh Lorient , Pháp) Lorient, France (may)

*“World Jew’s Harp Festival” (Đại hội liên hoan đàn môi thế giới )in Yakutsk, Yakutia (june)

*“Homage to Demetrio Stratos”( đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone di Cento, Italy (june)

*“International Festival of Mediterranean Music” (đại hội liên hoan quốc tế nhạc địa trung hải), Genova, Italy (july)

*“41stWorld Conference ICTM” (hội nghị quốc tế ICTM) in Saint John’s , Canada (july)

*“World Symposium of Choral Music” (hội thảo thế giới nhạc hợp xướng), Puerto Madryn, Argentina (august)

*“Spring Festival of South African Music” (đại hội liên hoan mùa xuân nhạc Nam Phi), Fort Hare, South Africa (september)

 *“International Festival of Humour and Music” (đại hội liên hoan hài hước và nhạc) , Stavanger, Norway (september)

*“Peace Festival” (đại hội liên hoan về hòa bình), Wroclaw, Poland (october)

*“30th International Ethnographical Film Festival” (đại hội liên hoan phim ảnh nghiên cứu quốc tế), Paris, (november)

 *“International Conference of Arirang” (hội nghị quốc tế về bản nhạc dân ca Arirang), Seoul, Korea (December

)2012 *Festival d’Auch (đại hội liên hoan về giọng tại tỉnh Auch), Auch, France (april)

*Festival Music Night (đại hội liên hoan nhạc ban đêm), Munich, Germany (april)

2013 *Festival de la Voix (đại hội liên hoan về giọng) Colombes, France (may)

*42nd ICTM WORLD CONFERENCE (hội nghị quốc tế ICTM) , Shang Hai , China (july)

 *Festival Les Nuits du Monde “Vietnam Style” (đại hội liên hoan Đêm thế giới), Geneva, Switzerland (November)

 *Exhibition VOICE – « Voices of the World » (triển lãm GIỌNG – Giọng của thế giới), City of Sciences, Paris, France (december 2013 – september 2014)

*Congress “Biomedical Signal Processing & Control (Elsevier) devoted to the workshop MAVEBA (hội y khoa về Giọng), Florence, Italy (december)

*World Marranzano Festival (đại hội liên hoan thế giới đàn môi) , Catania, Sicily, Italy (december)

2014 *Festival “Pauses Musicales” (đại hội liên hoan giải lao âm nhạc), Toulouse, France (February)

*“Promenade Vietnam” (Đi dạo Việt Nam), City of Music, Paris, France (march)

*International Conference “Safeguarding & Promotion of Folk Songs in the Contemporary Society” (hội nghị quốc tế về bảo vệ và quảng bá dân ca trong xã hội đương đại), Vinh city, province of Nghệ An, Vietnam (may)

*Ancient Trance Festival – Jew’s harp world festival, (đaị hội liên đàn môi thế giới) Taucha, Germany (august)

*10 Internationale Stuttgarter Stimmtage, (hội thảo quốc tề về goịng) Stuttgart, Germany (october)

 *Opening ceremony of the World Vocal Clinic / Deutsche Stimmklinik (lễ khai mạc về giọng khía cạnh y khoa), Hamburg, Germany (october)

*Festival « Il teatro vivo », (đại hội liên hoan nhà hát linh động) Bergamo, Italy (november)

2015 *Omaggio a Demetrio Stratos (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone, Italy (june)

*43rdICTM World Conference (hội nghị quốc tế ICTM) , Astana, Kazakhstan (july)

 *Festival of Hát Then Nùng Thái (đại hội liên hoan hát then nùng thái), Việt Bắc , Vietnam (september)

*Convegne, Concerti e master class dedicati al « canto sardo e canto armonico nel mondo » (hội thảo, khóa dạy hát đồng song thanh”, Sorso , Sardinia, Italy (october)

2016 *Festival of Chầu Văn (Vietnamese music of possession ) (đại hội liên hoan chầu văn), Nam Định, Vietnam (january)

*Voice Encounters : Voice Pedagogy, (Cuộc gặp gỡ về giọng – sư phạm giọng) Wroclaw, Poland (april)

*International Meeting A GRAN VOCE (gặp gỡ quốc tế về giọng) , Vicenza , Italy (may)

*Omaggio a Demetrio Stratos 2016 (đại hội liên hoan nhạc kỷ niệm ca sĩ Demetrio Stratos), Alberone, Italy (june)

*Ancient Trance Festival , (đại hội liên hoan nhạc dân tộc)Taucha, Germany (August)

*12th international Voice Symposium « BRAIN & VOICE » (hội thảo quốc tế về gịong ), Salzburg , Austria (august)

2017 *44th ICTM World Conference (hội nghị quốc tế ICTM), Limerick, Ireland (july)

*Congress “Voci e Soni “Di Dentro e Di Fuori” (hội nghị về Giọng và Âm thanh), Padova, Italy (october)

 *Congress La Voce Artistica (hội nghị về Giọng nghệ thuật) 2017 XI edìtion, Ravenna, Italy (october)

2018“ Fontefina Festival  (đại hội nhạc dân gian ), Folignano, Italy (july)

2019 *10th Marranzano World Festival (đại hội thế giối đàn môi), Catania, Italy (June)

*45th ICTM World Conference ( hội nghị quốc tế ICTM), Bangkok, Thailand (July)

*29th Festivale Musicale del Mediterraneo (đại hội liên hoan quốc tế nhạc địa trung hải), Genova, Ialy (September)

*Umbria in Voce 5 (đại hội liên hoan về giọng), Gubbio, Italy (November)

2020 * La Voce Harmonica (đại hội liên hoan giọng bồi âm), Gubbio, Italy (February)s

Tôi đã sáng tạo một số kỹ thuật mới cho muỗng được thấy ở Việt Nam vào cuối thập niên 40 (gần 70 năm).Ngoài ra tôi khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh từ năm 1969 và hiện nay được xem như chuyên gia có được nhiều giới nghiên cứu về dân tộc nhạc học, âm thanh học, nhạc đương đại, y học biết tới khắp nơi trên thế giới .

Tôi đã thể nghiệm nhiều loại nhạc với tư cách nhạc sĩ. Tôi đã từng chơi nhạc Free Jazz với nhóm Alain Brunet Quartet), nhạc pop, nhạc điện thanh (electro- acoustical music) qua bài Về Nguồn (soạn chung với Nguyễn Văn Tường được trình bày lần đầu tiên năm 1975 tai Champigny sur Marne, Pháp), nhạc tùy hứng (hợp tác với Arlette Bon vũ sư đương đại năm 1972, với Muriel Jaer, vũ sư đương đại nhiều năm từ 1973 tới 1980, qua bài Shaman với Misha Lobko vào năm 1982, Paris).

Tôi đã cộng tác trình diễn trong các dĩa CD như với Philip Peris (tôi chơi đàn môi và hát đồng song thanh hòa với kèn thổ dân Úc didjeridu năm 1997), với các nhạc sĩ đàn môi qua hai CD về đàn môi năm 1999 và một CD đàn môi với John Wright, Leo Tadagawa và Svein Westad năm 2000. Dĩa VIETNAM / TRAN QUANG HAI & BACH YEN do hãng SM Studio sản xuất tại Paris năm 1983 đã đưọc giải thưỏng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1983, và dĩa LES VOIX DU MONDE do hãng Le Chant Du Monde sản xuất năm 1996 tại Paris cũng được giải thưởng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1996.

Hội Viên các hội nghiên cứu

• Society for Ethnomusicology (Hội Dân tộc nhạc học), Hoa Kỳ, từ 1969

• Asian Music Society (Hội Nhạc Á châu), Hoa Kỳ, từ 1978

• ICTM (Hội đồng quốc tế nhạc truyền thống), Hoa Kỳ, từ 1976(đưọc bầu làm thành viên của ủy ban chấp hành – member of the Executive Board từ 2005-2017)

• Société Internationale de Musicologie (Hôi quốc tế nhạc học), Thụy Sĩ, từ 1977

• International Association of Sound Archives (IASA) (Hội quốc tế âm thang viện), Úc châu từ 1978

• Association of the Foundation of Voice (Hội về Giọng), Hoa Kỳ từ 1997

• Société de Musicologie (Hội nhạc học), Pháp, từ 1980

• Société Francaise d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Pháp) từ 1985 (sáng lập viên)

• CIMCIM (Unesco) từ 1983

• Séminaire Européen d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Âu châu), Thụy Sĩ , từ 1983

.• Association Francaise d’Archives sonores (Hội âm thanh viện Pháp) từ 1979

• Centre d’Etudes de Musique Orientale (Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương), Paris, từ 1962 (giáo sư của trung tâm từ 1970 tới 1975)

• Centre d’Etudes Vietnamiennes (Trung tâm nghiên cứu Việt học), Pháp ,từ 1987

• Association Francaise de Recherche sur l’Asie du Sud-Est (Hội nghiên cứu Đông Nam Á Pháp), Pháp từ 1986.

• Société des Auteurs , Compositeurs et Editeurs de la Musique (SACEM) , Pháp, từ 1980

• International Center of Khoomei (Trung tâm quốc tế Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga từ 1995.

• International Jew’s Harp Society (Hội quốc tế Đàn Môi) , Áo quốc, từ 1998 (sáng lập viên)

• Scientific Association of Vietnamese Professionals (Hội khoa học chuyên gia Việt Nam) (hội viên danh dự) , Canada từ 1992.

• Vietnamese Institute for Musicology (Viện Âm nhạc Hà nội), Việt Nam từ 2004, (hội viên danh dự)

• American Biographical Institute and Research Association (ABIRA) , Hoa kỳ, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)

• International Biographical Association (IBA), Anh quốc, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)

• Encyclopaedia Universalis Tự điển, Pháp, từ 1985 (cố vấn cho giải thưởng Diderot)

• American Order of Excellency, Hoa Kỳ, từ năm 1998 (sáng lập viên)

• World Wide Library, Hoa Kỳ (thành viên)

.• Vietnamese Public Library of Knowledge (ViPLOK) (founding member of the editorial board), Hoa Kỳ từ 2006.

NHỮNG QUYỂN SÁCH CÓ TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI

Sau đây là những quyển tiểu sử Who’s Who và các quyển sách khác có đăng tiểu sử của tôi :

• Dictionary of International Biography, ấn bản thứ 15, Anh quốc

• Men of Achievement, ấn bản thứ 5, 6, và 7, Anh quốc

• International Who’s Who in Music, từ ấn bản thứ 8 cho tới hiện nay (2020), Anh quốc

• Who’s Who in Europe, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc

• Men and Women in Distinction, ấn bản thứ 1 và 2, Anh quốc

• International Register of Profiles, ấn bản thứ 4 và 5 , Anh quốc .

• International Who’s Who of Intellectuals, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc

• The First Five Hundred, ấn bản thứ nhất, Anh quốc

• Who’s Who in the World, từ ấn bản thứ 5 tới nay (2020), Hoa Kỳ

• 5,000 Personalities in the World, ấn bản thứ nhất, Hoa kỳ

• International Directory of Distinguished Leadership, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• International Book of Honor, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• Who’s Who in Entertainment, ấn bản thứ 3, Anh quốc

• Who’s who in France, từ ấn bản thứ 29 tới nay (2020), Pháp

• Nouvelle Dictionnaire Européen, từ ấn bản thứ 5 tới ấn bản thứ 9, Bỉ•

Who’s Who in International Art, ấn bản thứ nhất, Thụy Sĩ

• Vẻ Vang Dân Việt – The Pride of the Vietnamese, quyển 1, ấn bản thứ 1 và 2, Hoa Kỳ

• Fils et Filles du Viet Nam , ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• Tuyển tập nghệ sĩ (Selection of Artists), quyển 1, Canada

• Guide du Show Business, từ 1986 tới nay (2020), Pháp

• The Europe 500 Leaders for the New Century, Barons Who’s Who, Hoa Kỳ

• QUID, từ 2000 tới (2017) , Pháp

• 500 Great Minds of the Early 21st Century, Bibliotheque World Wide, Hoa Kỳ

• Officiel Planète,từ năm 2000 tới nay (2020), nhà xuất bản IRMA, Pháp

NHỮNG GIẢI THƯỞNG

• 1983 : Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn Lâm viện dĩa hát Charles Cros) cho dĩa hát “Viet Nam / Tran Quang Hai & Bach Yen” do hãng SM Studio sản xuất tại Paris, Pháp

• 1986 : Médaille d’Or (Huy chương vàng) của Hàn lâm viện văn hóa Á châu, Paris, Pháp

• 1987 : D.MUS (Hon) (tiến sĩ danh dự) của International University Foundation, Hoa Kỳ

.• 1988 : International Order of Merit của International Biographical Centre, Cambridge, Anh quốc.

• 1989 : Ph.D.(HON) (Tiến sĩ danh dự) của Albert Einstein International Academy Foundation, Hoa Kỳ

• 1990 : Grand Prix du Festival International du Film Anthropologique et Visuel (Giải thưởng tối cao của đại hội quốc tế phim nhân chủng và hình ảnh) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do tôi là tác giả, diễn viên chánh và viết nhạc cho phim, Parnü, Estonia.

• 1990 : Prix du Meilleur Film Ethnomusicologique (Giải thưỏng phim hay nhất về dân tộc nhạc học) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do Hàn lâm viện khoa học cấp, Parnü, Estonia

• 1990 : Prix Spécial de la Recherche (Giải thuởng đặc biệt về nghiên cứu) của Đại hội quốc tế điện ảnh khoa học dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Palaiseau, Pháp.

• 1991 : Grand Prix Northern Telecom (Giải thưởng tối cao Northern Telecom) của Đại hội quốc tế Phim khoa học lần thứ nhì của Québec dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Montréal, Canada .

• 1991 : Prix Van Laurens (Giải thưởng Van Laurens) của British Association of the Voice và Ferens Institute của London tặng cho bài tham luận của tôi mang tên là “Discovery of overtone singing” (Khám phá hát đồng song thanh), London, Anh quốc .

• 1991 : Alfred Nobel Medal (Huy chương Alfred Nobel)của Albert Einstein Academy Foundation, Hoa Kỳ

• 1991 : Grand Ambassador (Huy chương Đại sứ lớn) của American Biographical Institute, Hoa kỳ

• 1991 : Men of the Year (Người của Năm 1991) do American Biographical Institute tặng, Hoa kỳ

• 1991 : Men of the Year (Người của Năm 1991) do International Biographical Centre tặng, Cambridge, Anh quốc.

• 1994 : Men of the Year (Người của Năm 1994) do American Biographical Institute tặng , Hoa kỳ

• 1994 : Gold Record of Achievement (Kỷ lục vàng về thành đạt) do American Biographical Institute tặng, Hoa Kỳ

• 1995 : Giải thưởng đặc biệt về hát đồng song thanh tại Đại hội liên hoan hát đồng song thanh, Kyzyl, Tuva, Nga

• 1996 : Médaille de Cristal (Huy chương thủy tinh) do Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học tặng cho 25 năm nghiên cứu hát đồng song thanh, Pháp

• 1997 : Grand Prix du disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn lâm viện Charles Cros) cho dĩa hát “Voix du Monde » (Giọng Thế giới), Pháp

.• 1997 : Diapason d’Or de l’Année 1997 (Dĩa vàng năm 1997) cho dĩa hát « Voix du Monde », Pháp

• 1997 : CHOC de l’année 1997 (Ấn tượng mạnh nhất trong năm 1997) cho dĩa hát « Voix du Monde », Pháp

• 1998 : Médaille d’Honneur (Huy chương danh dự dành cho công dân danh dự) của thành phố Limeil Brévannes (nơi tôi cư ngụ), Pháp

.• 1998 : Giải thưởng đặc biệt của Đại hội thế giới về Đàn Môi, Molln, Áo quốc

• 2002 : Chevalier de la Légion d’Honneur (Hiệp sĩ Bắc đẩu bội tinh), huy chương tối cao của Pháp, Pháp .

• 2009 : Huy chương lao động hạng đại kim (Médaille du Travail, catégorie Grand Or), bộ lao động Pháp

.• 2015 : Bằng cấp danh dự của Viện Bảo tàng đàn môi, Yakutsk, xứ Yakutia

• 2017 : Huy chương sáng lập viên hội dân tộc nhạc học Pháp, Paris, Pháp

SÁCH DO TRẦN QUANG HẢI VIẾT

• Biên Khảo Nhạc Việt Nam , nhà xuất bản Bắc Đẩu, 362 trang , 1989, Paris, Pháp

• Musiques du Monde (Nhạc thế giới) : với sự hợp tác của Michel Asselineau và Eugène Bérel, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1993, Courlay, Pháp• Musics of the World (Nhạc thế giới) : nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1994, Courlay, Pháp . Bản dịch tiếng Đức được xuất bản năm 1996, bản dịch tiếng Tây Ban Nha xuất bản năm 1998.• Musiques et Danses Traditionnelles d’Europe (Nhạc và vũ truyền thống Âu châu) : với sự hợp tác của Michel Asselineau, Eugène Bérel và FAMDT, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 380 trang, 2 CD, 1996, Courlay, Pháp

*TRẦN QUANG HẢI : 50 năm nghiên cứu nhạc Việt dân tộc, nhà xuất bản Nhân văn nghệ thuật, California, Hoa Kỳ,  462 trang, 2019

*TRẦN QUANG HẢI : 50 years of research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing, nhà xuất bản Nhân Văn Nghệ thuật, California, Hoa Ky , 414 trang, 2019

.DVD do TRẦN QUANG HẢI biên soạn

• Le Chant Diphonique, (Hát đồng song thanh) 27 phút, với 2 bản (tiếng Pháp và tiếng Anh), nhà xuất bản CRDP của đảo Réunion, 2004. Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Luc Souvet

*HAI : parcours d’un musicien vietnamien (HẢI : hành trính của một nhạc sĩ Việt Nam), đạo diễn Pierre Ravach, , phim video 52 phút , máu, Bruxelles, Bỉ, 2005

• Le Chant des Harmoniques (Bài hát bồi âm), 38 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2005, Meudon, Pháp . Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Hugo Zemp• The Song of Harmonics, (Bài hát bồi âm) 38 phút , bản tiếng Anh, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2006, Meudon, Pháp. Đồng tác giả : Trần quang Hải và Hugo Zemp

• Thèm’Axe 2 LA VOIX (Giọng), 110 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản Lugdivine, Lyon, 2006 . Tác giả : Patrick Kersalé với sự hợp tác của Trần Quang Hải

*Variations sur la musique vietnamienne par Tran Quang Hai & Bach Yen (Những biến thể về nhạc Việt với Trần Quang Hải & Bạch Yến, đạo diễn Bùi Xuân Quang , sản xuất Productions Paris Vietnam, 52 phút,  Paris, 2009

.NHỮNG BIẾN CỐ QUAN TRỌNG TRÊN THẾ GIỚI

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên tham gia trình diễn tại những biến cố lịch sử quan trọng trên thế giới

• 1988 : 200 năm thành lập xứ Úc

• 1989 : 200 năm Cách mạng Pháp

• 1991 : 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ

• 1992 : 350 năm thành lập thành phố Montréal, Canada

• 1992 : 500 năm khám phá Mỹ châu của Chritophe Colombus

• 1994 : 600 năm thành lập thủ đô Seoul, Đại Hàn

• 1996 : 50 năm vua Thái Lan trị via

• 2000 : 100 năm thành lập âm thanh viện Berlin, Đức

• 2004 : Genova , thành phố văn hóa Âu châu, Ý

• 2004 : Lille , thành phố văn hóa Âu châu, Pháp

• 2005 : 100 năm xứ Na Uy được độc lập .

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam tham gia nhiều nhất Ngày Lễ Âm nhạc do Pháp đề xướng từ lúc đầu tiên vào năm 1982, rồi năm 1984, 1985 , 1987, 1989 tại Paris, rồi năm 1991 tại đảo La Réunion, rồi năm 2000, 2001 tại Paris, năm 2002 tại Beirut (Lebanon)

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đàn nhạc phim của các nhà viết nhạc phim của Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit , và trình diễn những nhạc phẩm đương đại của các nhà soạn nhạc như Nguyễn Văn Tường, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard.

Tôi là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3.500 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 quốc gia từ năm 1966, 1.500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy tại hơn 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8.000 người theo học hát đồng song thanh .

Liên lạc : TRẦN QUANG HẢI điện thoại di động :+33 (0)6 50 25 73 67

email: tranquanghai@gmail.com

trang nhà : https://tranquanghai.com

địa chỉ: 12 RUE GUTENBERG , 94450 LIMEIL BREVANNES, FRANCE

STEPHANE LAGARDE : Tran Quang Hai, 52 ans, ethnomusicologue, est son propre cobaye pour ses recherches sur la voix. L’empire des sons, Journal LIBERATION 10.10.1996


Portrait

Tran Quang Hai, 52 ans, ethnomusicologue, est son propre cobaye pour ses recherches sur la voix. L’empire des sons.

Par Stéphane LAGARDE

Tout commence par un embouteillage. «Je chantais coincé sur le

périph’ lorsque, tout à coup, en prononçant la lettre L, j’ai entendu un sifflement. J’ai couru à la maison et je me suis enregistré.» Tran Quang Hai ­ Océan illuminant ­ n’a rien d’un illuminé. Pourtant, quand en 1971 il perce le mystère des voix mongoles, ses collègues chercheurs s’étonnent. La technique a de quoi surprendre: elle permet à l’interprète de produire deux sons en même temps à des niveaux différents.

Tran est depuis vingt-six ans son propre sujet de recherche. De concert en colloque, son chant enchante le monde entier. L’an passé, au Tuva, il a obtenu non sans fierté la carte de membre du Khoomei, distinction réservée aux chanteurs de gorge professionnels. «Si vous trouvez quelqu’un qui chante mieux que moi, dites-le, on fera un duo.» Passé maître du chant triphonique, Tran fredonne la Neuvième de Beethoven d’un seul souffle. Debout, le corps tendu, la tête en arrière, tout son être se met à vibrer. Un son échappe, venu de nulle part. C’est l’Hymne à la joie! Les visiteurs n’en reviennent pas: «Ce type est une chorale à lui tout seul!» Deux harmoniques sur une base fondamentale, soit trois voix en une seule gorge. Cela valait bien une médaille.

Dans son petit bureau saturé d’appareils de mesure, Tran ne participe guère au branle-bas qui agite le musée de l’Homme depuis la décision présidentielle de transférer certains objets au Louvre. Juste le temps pour un état des lieux furieux sur le manque de moyens, le manque d’envie d’un musée sans subventions. Les huit mille instruments de la réserve d’ethnomusicologie, recouverts de plastique, le désolent. Il plaisante en imitant le timbre métallique du synthétiseur. C’est lui qui doublait Nono le petit robot dans le dessin animé japonais des années 80. «Je dois mon talent au travail et à mes ancêtres.» Avec un arrière-arrière-grand-père musicien de cour, un grand-père joueur de luth et un père vice-président du Conseil international de musique à l’Unesco, on a la musique dans la peau. Sa fille chante à deux voix depuis l’âge de 5 ans. Auteur de plusieurs disques à la vièle chinoise, à la cithare vietnamienne ou encore à la vina indienne, il compose également pour le cinéma.

Les enregistrements qu’il archive au musée de l’Homme servent de base à sa recherche: «Je préfère le travail de bureau aux grands espaces.» Quand l’émission Envoyé spécial lui propose une semaine de tournage en Mongolie, il refuse. L’aventure est ailleurs. A Paris, par exemple, lorsqu’il expose ses cordes vocales aux rayons X pendant 10 minutes. La science réclame du concret, et la radiographie permet de constater directement les effets de son travail. Le résultat est probant (le Chant des harmoniques, un film plusieurs fois primé), mais pas sans danger. «C’est l’équivalent de 6 000 radios des poumons. Je sacrifie ma vie à mes recherches, heureusement Dieu est là.» Quand Tran chante, il ferme les yeux. Et il chante partout: en voiture, sous la douche, au bureau. Ses collègues admirent ce regard intérieur, «cette force de concentration que n’ont pas les Occidentaux».

Quand on lui parle de sérénité, il sourit. Se rallume une beedie, bredouille deux trois trucs sur les arts martiaux et reparle musique. Avec les années, sa voix est devenue plus grave. Il a commencé baryton, désormais il se consacre à l’étude du chant des moines tibétains. Le «O» de la prière, la fameuse harmonique n$10 qui demande tellement de travail et n’a rien à voir avec le «snobisme» des club de zen pour stressés occidentaux. Il en fait la preuve. Sur le sonographe, Tran voit sa voix, elle oscille entre 35 (très grave) et 2 000 Hz (aigu). Le «O» moyen est de 185 Hz, on est loin de l’harmonie universelle.

Hors du CNRS, le chercheur devient médecin. De gentil docteur Jekyll, il se transforme en un Mister Hyde doux rêveur. Tran veut changer la vie par le chant. Une voix dans tous ses éclats, utilisée jusqu’à l’accouchement sans douleur. A l’écouter, les problèmes conjugaux sont solvables dans l’air. Il conseille le «faux baiser de Rodin» aux couples en péril: les amants enlacés se font face, bouche à bouche. Pendant que l’un chante, l’autre remue les lèvres et produit la mélodie. Il s’amuse: «30% des disputes peuvent être résolus par cette méthode.» Il songe même à repeupler l’Europe.

Mais derrière le côté savant fou se dissimule l’humoriste. Physique d’opérette, ventre rond et grande bouche, il peut jouer Pop Corn avec n’importe quel instrument traditionnel. «Je suis le virtuose de la guimbarde, lance-t-il, fier de son effet. Je fais de la musique comme d’autres de la cuisine, en mélangeant les ingrédients.» Un opéra bouffe revendiqué sérieux. Avec des élèves du bac option musique, il monte un orchestre de 100 cuillères et décroche le titre de professeur au Conservatoire. La cuillère à café comme la louche deviennent de véritables instruments rythmiques et mélodiques. D’ailleurs la mélodie est partout, y compris dans les langues. Il en parle une dizaine, reproduit leurs intonations, parfois sans les comprendre. Car depuis l’en- fance, Tran jalouse les imitateurs. Il les connaît tous, de Le Luron à Leeb, en passant par «ce Canadien formidable qui imite 120 personnes dans son spectacle.» Modeste, il déclare: «Je ne peux pas chanter comme France Gall, mais j’arrive à reproduire les accents de l’opéra de Pékin.» Dans le bruit et la fureur du monde, Tran Quang Hai reprend le chant des autres avec enthousiasme. Son bras bat la mesure, il entonne Marinella de Tino Rossi, suivi d’un jodel des montagnes suisses. Les Voix du monde, une anthologie des expressions vocales à laquelle il a collaboré, sortira fin septembre.

Un vaste chant des possibles reste encore à explorer. Dans son laboratoire, Tran se met à rêver: «Mon prochain but, jusqu’à ma mort, c’est de chanter à quatre voix.» Il a bon espoir. Le petit homme sait que, comme le cygne, on ne meurt pas en chantant.

photo LAURENT MONLAÜ Tran Quang Hai en 6 dates 1944 Naissance à Linh Dông Xa, au Viêt-nam 1968 Intègre le départe-ment ethno-musicologie du musée de l’Homme 1984 Rencontre du chanteur mongol Sundui, qu’il considère comme son maître 1989 Sortie du film le Chant des harmoniques 1995 Président du jury d’un festival de chant au Tuva 1996 Reçoit la médaille de cristal du CNRS.

Stéphane LAGARDE

LỜI NGỎ CỦA TRẦN QUANG HẢI nhân dịp lễ tổ chức sinh nhựt thứ 99 của cố GS TRẦN VĂN KHÊ tại VIỆT NAM 24.07.2020


LỜI NGỎ CỦA TRẦN QUANG HẢI nhân dịp lễ tổ chức sinh nhựt thứ 99 của cố GS TRẦN VĂN KHÊ tại VIỆT NAM 24.07.2020

Kính chào quý vị ban tổ chức và quan khách,

Tôi tên là TRẦN QUANG HẢI, trưởng nam của cố GS TRẦN VĂN KHÊ, xin thành thật cám ơn ban lãnh đạo trường đại học VĂN LANG, chị THẾ THANH, chị KIM CƯƠNG, anh NGUYỄN ĐẮC XUÂN, chú BÁ THÙY và cô HỶ KHƯƠNG , anh NGUYỄN NHÃ, anh LÊ QUỐC ÂN, các em SĨ HOÀNG, HUỲNH KHẢI , THANH HIỆP và cháu NGỌC HÂN đã tận tình tổ chức ngày sinh nhựt lần thứ 99 của thân phụ tôi đã quá vãng 5 năm nay.

Vì  đang điều trị bịnh ung thư máu , bịnh tiểu đường khá nặng và bịnh suy thận, thêm vào đó bịnh dịch COVID-19 lan tràn khắp thế giới tôi không thể trở về Việt Nam để tham dự chương trình này.

Tôi trân trọng chúc buổi lễ thành công như ý và tin rằng thân phụ tôi sẽ ngậm cười nơi chín suối trước tấm lòng  ưu ái của những người bạn còn thương nhớ thân phụ tôi.

Nay kính

TRẦN QUANG HẢI

TRẦN QUANG HẢI & TRẦN VĂN KHÊ
TRẦN QUANG HẢI (23.07.2020)

HAPPY BIRTHDAY TO BACH YEN MY BELOVED WIFE (09.06.2020)


 

What do you want to do ?

New mailCopy

HAPPY BIRTHDAY TO BACH YEN MY BELOVED WIFE (09.06.2020)

HAPPY BIRTHDAY TO BACH YEN MY BELOVED WIFE

WITH JOY AND HAPPINESS during her special day 09.06.2020

JOYEUX ANNIVERSAIRE À MA BIEN AIMEE BACH YEN

QUE CETTE JOURNEE SPECIALE LUI APPORTE JOIE ET BONHEUR 09.06.2020

Một bài thơ con cóc tặng người vợ đã chung sức với tôi trên 40 năm qua

Hôm nay mừng đón ngày sinh

Của người vợ quý mà mình cưng thương

Một ngày hạnh phúc yêu đương

Vợ chồng sát cánh trên đường dân ca.

Limeil Brevannes 09.06.2020

Trần Quang Hải

This blog is focused on Trân Quang Hai