Category Archives: ARTICLES ON VIETNAMESE MUSIC

LINH ĐOAN : Hội ngộ tài năng cải lương và nỗi nhớ của kiếp tằm…


Hội ngộ tài năng cải lương và nỗi nhớ của kiếp tằm…

25/08/2017 11:00 GMT+7

TTO – Tối 23-8, khán phòng rạp Công Nhân đã có một đêm thật đông vui, với không khí chộn rộn của những người mộ điệu chờ mong các nghệ sĩ mà họ yêu mến trong những trích đoạn cải lương kinh điển… của đêm toàn nữ ban.

Từ trái qua: Lê Thanh Thảo (vai Lý Đạo Thành), NSƯT Phượng Loan (vai nguyên phi Ỷ Lan) và nghệ sĩ Thanh Loan (vai Thượng Dương hoàng hậu) trong trích đoạn Câu thơ yên ngựa - Ảnh: GIA TIẾN
Từ trái qua: Lê Thanh Thảo (vai Lý Đạo Thành), NSƯT Phượng Loan (vai nguyên phi Ỷ Lan) và nghệ sĩ Thanh Loan (vai Thượng Dương hoàng hậu) trong trích đoạn Câu thơ yên ngựa – Ảnh: GIA TIẾN
“Nghệ sĩ không được đứng trên sân khấu, không được khóc cười cùng nhân vật như con tằm không được nhả tơ, nhớ nghề dữ lắm!
Nghệ sĩ Phượng Loan

Thanh Hằng vai Thi Sách, Phượng Hằng vai Trưng Trắc trong trích đoạn Tiếng trống Mê Linh – thực hiện: Gia Tiến

1. Theo kế hoạch, đêm diễn sẽ là sự hội ngộ của 5 gương mặt nữ nghệ sĩ cải lương tài sắc vào những năm 1990 như Thanh Hằng, Phương Hồng Thủy, Thoại Mỹ, Phượng Hằng, Phượng Loan.

“Toàn nữ ban” là đêm diễn chỉ toàn nữ và sẽ có những nghệ sĩ nữ đảm nhiệm vai kép. Thế nhưng kế hoạch đã bị phá sản khi sáng 23-8, NSƯT Phương Hồng Thủy vì huyết áp đột ngột tăng cao, phải bất ngờ nhập viện.

Khi bác sĩ “phát lệnh” không cho Phương Hồng Thủy biểu diễn để đảm bảo sức khỏe thì các nghệ sĩ Thanh Loan, Tú Sương, Quỳnh Hương được… cầu viện để thay thế tức tốc các vai diễn mà Phương Hồng Thủy đã tập chỉ trong vài giờ trước lúc sân khấu mở màn.

Thương là các nghệ sĩ đều nhận lời mà không nề hà. Thế nên có thể đêm diễn đầu tiên không trọn vẹn, còn nhiều chỗ bị rối, bị động, nhưng điều đọng lại vẫn là cái tình nghệ sĩ.

2. Hội ngộ tài năng ra đời trong một lần NSƯT Hữu Quốc gặp gỡ các nghệ sĩ đàn chị như Thoại Mỹ, Phương Hồng Thủy, Thanh Hằng, Phượng Loan, Phượng Hằng… Không ai bảo ai, nhưng tất cả đều chung nỗi niềm nhớ nghề và thèm được diễn.

Vậy là họ quyết định xúm lại, mỗi người một tay tổ chức ít nhất một đêm diễn mỗi tháng, dàn dựng các tiết mục, vở diễn cải lương hay, có tập dượt đàng hoàng và cam kết hát sống để phục vụ khán giả.

Trong đêm diễn đầu tiên, điều cam kết đó đã được thực hiện. Nhiều tiết mục đòi hỏi khả năng ca diễn nhuần nhuyễn như Tiếng trống Mê Linh, Câu thơ yên ngựa (lớp Xử án Thượng Dương hoàng hậu), Dòng đời, Duyên kiếp… đã được các nghệ sĩ thể hiện bằng hết tâm sức của mình.

Người ta có thể nghe được tiếng thở mệt, những nốt hụt hơi ở những trường đoạn căng thẳng, nhưng khán giả vẫn hào hứng vì họ tiếp nhận được những cảm xúc thật. Cảm xúc thật đó có khả năng lay động trái tim người mộ điệu hơn là sự nuột nà, trơn tru từ… máy được nhép!

Lê Thanh Thảo vai Lý Đạo Thành trong trích đoạn Câu thơ yên ngựa – Thực hiện: GIa Tiến

3. Chẳng có tiết mục nào hay nếu nghệ sĩ không chịu khó tập luyện, mày mò sáng tạo. Nghệ sĩ Hồng Nga từ Mỹ trở về đúng dịp này được ban tổ chức mời tham gia như khách mời đặc biệt.

Bà hát sống liền một lúc bốn bài Sương lạnh chiều đông, Đêm đông, Kiếp cầm ca và Nếu có yêu tôi.

Có cả tân và cổ nhạc, với phong cách linh hoạt, bà khuấy động không khí khán phòng và được khán giả vỗ tay nồng nhiệt.

Để hát được một lèo trơn tru bốn bài hát đó, bữa nào bà cũng lên sớm tập dượt. Hễ mỗi lần thay cảnh trí sân khấu để tập tiết mục mới, bà rề rề lại dàn đờn biểu:

“Tụi bây đờn cho má tập bài coi”. Bà nói: “72 tuổi rồi, lúc nhớ lúc quên, nên phải ráng tập dượt để trình diễn trước khán giả cho ngon lành!”.

Nghệ sĩ Thanh Hằng được phân hai vai kép nặng ký trong chương trình là Thi Sách (Tiếng trống Mê Linh) và Lương Sơn Bá (Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài).

Nữ diễn vai kép cực kỳ tốn sức vì cả điệu bộ, trình thức biểu diễn lẫn hơi ca đều phải vang, hào sảng. Bởi vậy, phần chị luôn phải tập nhiều hơn người khác. C

hị cứ phải luôn miệng nhắc hậu đài trong lúc tập: “Cây kiếm của chị đâu? Phải đưa chị tập chị múa hoài cho quen, chớ không ra sân khấu diễn bị lai, diễn kép mà múa kiểu đào là hổng giống ai đó!”.

NSƯT Phượng Loan đợt này được đạo diễn cho… cưa sừng làm nghé! Chị diễn vai Út Chằn 14 tuổi trong Dòng đời và vai nguyên phi Ỷ Lan trong Câu thơ yên ngựa.

Chị chia sẻ: “Mấy bữa trước học tuồng gần chết. Trong chương trình này có những trích đoạn mới, có những trích đoạn cũ dựng lại nhưng nghệ sĩ sẽ được thể nghiệm vai mới, có thể không phải là sở trường của mình.

Bởi vậy ai nấy đều phải ôm cuốn tuồng mà học. Tập tuồng mà bà nào cũng khều nhau hỏi: thuộc tuồng chưa? Tếu lắm!”. Các nghệ sĩ tên tuổi trong chương trình này ai nấy đều có kinh nghiệm mấy chục năm theo đoàn, biểu diễn trên sân khấu.

Nhưng khi sân khấu cải lương gặp khó khăn, họ trở thành những nghệ sĩ tự do, rất nhiều năm rồi họ không được hưởng không khí cùng tập dượt, biểu diễn trong đoàn hát.

Phượng Loan cười buồn: “Không có đoàn hát, không có đất diễn, mỗi lần đi show tụi tui chỉ ca salon. Nhiều khi thấy buồn lắm, thấy mình như bị thụt lùi.

Chương trình này chúng tôi khởi xướng ra với mong muốn được làm nghề nên không ai đặt nặng chuyện tiền bạc. Dù ai cũng cực, vất vả nhưng chúng tôi đều vui vì được sống với đam mê của mình!”.

LINH ĐOAN

Trần Hữu Ngư: Boléro và chỉ có boléro mới làm người nghe thỏa mãn được những câu chuyện tình


25/01/2017 20:13

Boléro và chỉ có boléro mới làm người nghe thỏa mãn được những câu chuyện tình

Những bài tình ca giai điệu boléro mang đậm dấu ấn quê hương một thời làm thổn thức biết bao trái tim trước năm 1975, nay được hát lại. Những người yêu mến boléro bây giờ thấy những bài tình ca ấy như những con chim trở về tổ ấm véo von bù đắp lại một thời đã xa.

SỨC SỐNG MÃNH LIỆT

Nếu nhạc sĩ Hồng Vân viết “Đồi thông hai mộ” bằng một giai điệu khác mà không phải boléro thì chắc rằng bản nhạc này đã chết từ lâu rồi. Cũng như bài thơ “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan có 3 nhạc sĩ phổ nhạc nhưng chỉ “Những đồi hoa sim” mang giai điệu boléro của nhạc sĩ Dzũng Chinh là phổ biến nhất. Cũng giống “Hàn Mặc Tử” của Trần Thiện Thanh vì boléro mà tên tuổi ông gắn với nhạc phẩm này mặc dù ông có hàng trăm ca khúc khác và có lẽ bài hát sống mãi được là nhờ boléro chăng?

Chỉ có thể là boléro!

Dòng nhạc phát triển rực rỡ ở miền Nam này đã chuyên chở thân phận tình yêu, những tình tự quê hương, lột tả mọi góc cạnh cuộc đời, làm thỏa mãn người nghe của mọi tầng lớp. Nó chỉ như một thứ tình cảm thuộc loại vườn chuối, buồng cau… của con người lao động khi mà vinh hoa phú quý còn là thứ rất xa vời!

Vì sao so với tango, slow, valse…, boléro chiếm lĩnh thị trường ca nhạc thời bấy giờ? Để lý giải điều này, người viết – với tư cách là một người đam mê boléro từ thuở thiếu thời – xin trả lời mộc mạc rằng: Boléro là những tình khúc quê hương mà nhạc sĩ đã dùng âm nhạc để vẽ nên một bức tranh nông thôn, những tình yêu đôi lứa đẹp như trăng rằm, sự nghiệt ngã của chiến tranh, những số phận con người trong từng hoàn cảnh, những dạt dào tình làng nghĩa xóm, không tiếc sức người còng lưng trên đồng lúa, nương dâu mà cha ông chúng ta đã đánh đổi không chỉ bằng mồ hôi mà cả máu.

Chỉ có thể là boléro!

Những đứa trẻ sinh ra sau năm 1975 nhìn quê hương qua lăng kính màu hồng, khác với thế hệ chúng tôi, nhìn quê hương qua những trái hỏa châu chiếu sáng; những sớm mai ngóng tin chồng, tin cha từ chiến trường; những đêm giật mình vì tiếng đại bác… Quê hương tôi chỉ là lùm tre, con sông nhỏ, một miếng đất bạc màu trên mảnh vườn thưa thớt cọng rau, ngọn cỏ… vậy mà tôi yêu đến vô hạn.

BÌNH DÂN NHƯNG ĐÂU DỄ VIẾT

Không ít ca sĩ tìm boléro để thử sức nhưng “bỏ của chạy lấy người” là điều dễ hiểu vì boléro tuy bình dân nhưng để hát, để viết cho… tới thì không dễ chút nào! Ngoài ra, có không ít người “thức một đêm, sáng ngày thành nhạc sĩ” muốn làm mới boléro để chứng tỏ ta đây nhưng đó chỉ là sự cưỡng bức thô bạo dưới danh nghĩa sáng tạo, đã làm chói tai người nghe bằng những nhạc cụ điện tử, đã “lai” boléro. Đây là một việc làm đáng trách của một số ca sĩ, nhạc sĩ trẻ nôn nóng thành danh và kiếm tiền từ dòng nhạc này.

Chỉ có thể là boléro!

Ngày nay, nhạc sĩ trẻ không thể viết được boléro. Nói vậy không có gì quá đáng bởi nhạc sĩ đi trước có hoàn cảnh lịch sử hoàn toàn khác bây giờ. Ngày ấy, boléro là những bản tình ca đầy ắp tiếng nói quê hương, tình yêu đôi lứa; còn bây giờ, đi theo ánh sáng văn minh khoa học – kỹ thuật, người ta bỏ thôn quê tiến vào thành thị để được ngắm nhà hàng, khách sạn, những khu nghỉ mát sang trọng, những thức ăn cao sang… Và cũng từ đây, con người xa dần những hình ảnh quê hương (có chăng chỉ còn trong tâm tưởng). Đánh mất hình ảnh thôn quê thì không thể nào viết được boléro. Người viết nhạc nếu không có tâm hồn lãng mạn để nhìn quê hương thì khó viết được một bài hát boléro đúng nghĩa như các bậc đàn anh đã làm. Viết giai điệu boléro thì nhạc sĩ nào cũng làm được nhưng để hoàn thành một bài hát boléro còn có ca từ và ý tưởng. Giữa thời đại công nghiệp hóahiện đại hóa mà bắt chước viết nhạc boléro thì chỉ sinh ra những đứa con dị dạng và chết yểu, không chết về giai điệu mà chết vì ca từ và ý tưởng.

TRỞ LẠI VÀ “LỢI HẠI” HƠN XƯA!

Cách đây gần 20 năm, người ta đem nhạc “vàng”, nhạc “sến” (ám chỉ nhạc boléro) ra mổ xẻ. Kẻ khen thì ít mà người chê thì nhiều. Dù đây là chuyện cũ nhưng luận bàn về nhạc boléro mà không nhắc lại những câu nói này, e là điều thiếu sót. Và chúng ta hãy nghe các nhạc sĩ miền Bắc nói về dòng nhạc này của nhạc sĩ miền Nam.

Chỉ có thể là boléro!

“… Gần đây, tôi thường nghĩ về câu hỏi mà một giáo sư âm nhạc Mỹ đã nêu ra với nhạc sĩ Nguyễn Cường – bạn tôi: Nhạc vàng là thế nào? Tôi thích và thấy nó rất Việt Nam, và nhạc sến nữa. Tôi thử về tận gốc của nhạc vàng và sến thì ra gốc nó ở tận cùng nơi thôn dã, lũy tre làng nguyên bản…” (nhạc sĩ Phó Đức Phương).

“… Cái mà người ta cho là “sến” có nhiều bài hát chân thành, xúc cảm, rung động lòng người vì sự giản dị, mộc mạc, đồng quê…” (nhạc sĩ Trần Tiến).

“… Đây là dòng nhạc đáp ứng được nhu cầu cho một đối tượng người nghe rất cụ thể, đó là lớp cần lao, bình dân và trong dòng nhạc này vẫn có những bài truyền cảm, xúc động…” (nhạc sĩ Dương Thụ).

Vậy thì, những lời nói ngắn gọn ấy cũng đủ làm “luật sư” cho boléro một thời mà dân chơi thời thượng đã miệt thị dòng nhạc này không thương tiếc.

Chỉ có thể là boléro!

“Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Rồi chắc cũng sẽ trở về với boléro? Hàng trăm ca khúc boléro trước năm 1975 mà những kẻ “trưởng giả học làm sang” sau năm 1975 cho là vàng, là sến, là não tình, là bi lụy bây giờ được đào bới, xới tung để hát lại thì rõ ràng thị trường ca nhạc vốn tung hô những bản nhạc “hàn lâm” đã đi vào ngõ kẹt! Bài hát nào dẫu có hay đến mấy nhưng nghe hát hoài cũng đâm ra chán, chỉ có nhạc boléro là “nghe, nghe nữa, nghe mãi”.

Hơn nửa thế kỷ qua, dòng nhạc boléro đã lan truyền từ thành thị cho đến thôn quê như theo quy luật cung – cầu mặc dù phương tiện nghe nhìn có thời cực kỳ quý hiếm. Nghe ca sĩ hát trên đài phát thanh vài lần là thuộc, rồi nó đi vào lòng mình hồi nào chẳng hay. Ngày nay, mỗi lần nghe lại, hát lại, vẫn cảm thấy thích thú trong từng âm điệu và ca từ.

Hy vọng rằng “nghe nhạc bằng tai” sẽ lấn át “nghe nhạc bằng mắt” khi dòng nhạc boléro được hát lại trong những cuộc thi, những nốt nhạc xưa để người già tìm về kỷ niệm, để giới trẻ giật mình vì có một thời họ ngộ nhận về dòng nhạc này. Và cũng nhận xét rằng chưa thấy có ca sĩ nào “qua mặt” được các ca sĩ đàn chị, đàn anh trước năm 1975. Chúng ta thấy gì qua hiện tượng này? Một nhu cầu thưởng thức âm nhạc quá lớn nhưng tiếc là đã từ lâu, nhạc sĩ trẻ muốn loại boléro ra khỏi cuộc chơi để đi tìm nhạc lai ngoại, thứ nhạc mà các nhạc sĩ ông cha chúng ta đã đánh đổ để tìm một hướng đi đích thực cho dòng nhạc Việt từ năm 1938!

“Bài hát nào dù hay đến mấy nhưng nghe hoài cũng chán, chỉ có boléro là nghe nữa, nghe mãi…”

Trần Hữu Ngư

http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/chi-co-the-la-bolero-20170119003901758.htm

LÊ VĂN KHOA : ĐẾN UKRAINE LẦN CUỐI, tháng 9, 2016


Đến Ukraine lần cuối

– Bài viết: Lê Văn Khoa

– Ảnh: Lê Minh Khải

Ngọc Hà và tôi đến phi trường Kyiv (kiev), thủ đô Ukraine lúc 11 giờ đêm thứ Tư 21-9-2016. Mục đích chính của chuyến đi này là thu thanh một số nhạc phẩm của tôi với ban nhạc danh tiếng Kyiv Symphony Orchestra. Tiến Sĩ Taras Myronyuk, Giáo Sư Âm Nhạc của Kyiv National
University of Culture and Arts đón chúng tôi tại phi trường và đưa về nhà trọ. Hôm sau chúng tôi bắt đầu làm việc ngay. Thứ Sáu 23-9-2016 vợ chồng Chu Lynh của VietNam Film Club từ Washington D.C. và Lê Minh Khải từ Á Châu bay qua.
Chúng tôi ở tại thủ đô Kyiv của Ukraine suốt 2 tuần lễ nên có thì giờ quan sát nếp sinh hoạt hiện tại của Ukraine. Người Nga trong khi đô hộ Ukraine đã đổi cách viết tên của thủ đô là Kyiv thành ra Kiev. Đúng ra Kyiv được viết từ chữ Kyi, tên của một trong 4 anh em lập nên thành phố này, theo truyền thuyết. Từ khi dành được độc lập, người Ukraine đã dùng lại tên chính của thủ đô, là Kyiv.

Trong thời gian lưu lại Ukraine tôi có vài quan sát như sau:
Chính trị: Không còn lều đỏ chống chính phủ nơi công viên giữa thành phố mà những lần trước tôi nhìn thấy. Dọ hỏi thì được biết người dân muốn Ukraine là con số 1 rất nhỏ của Âu Châu Tự Do hơn là con số thật lớn của Nga.
Quân sự: Nga chiếm Crimea, đánh biên giới phía Đông Ukraine, mươn chiêu bài bảo vệ người nói tiếng Nga. Điều lạ là không thấy xe nhà binh chạy trong thủ đô, rất khác với Sài Gòn ngày trước. Một điểm cho thấy cộng sản không bao giờ biết nói thật. Khi Nga tấn công Ukraine, họ nói Nga không tấn công, một xứ nào đó đánh Ukraine. Xứ nào xen vào giữa biên giới Nga và Ukraine mà Nga để yên, không phản ứng? Chuyện nói dối đã ngưng sau khi 4 viên tình báo KGB của Nga bị Ukraine bắt giữ và đã khai sự thật!

Kinh tế: Ngành du lịch bị giảm đến 50%, một con số quá lớn. Do đó tiền của du khách đem vào để chi tiêu ở Ukraine bị giảm rất nhiều, ảnh hưởng đến kinh tế chung của xứ. Tôi thấy người Ukraine đi chợ rất khác với người ở Hoa Kỳ. Họ mua một vài trứng gà rời chứ không phải vài hộp 12 hoặc 20
trứng như chúng ta thường mua ở chợ Mỹ.

Nói chung kinh tế Ukraine bị ảnh hưởng nặng và tiền bị mất giá nhiều.

le van khoa va nguoi viet o ukraine 1.JPG
Lê Văn Khoa, Ngọc Hà, Minh Khải, Thanh Thủy và Chu Lynh chụp hình với người Việt buôn bán ở chợ trời

Những người Việt trong khu chợ trời nhận ra rõ ảnh hưởng vì thưa khách. Người mua hàng càng ít đi vì ai cũng cần giữ đồ ăn trong nhà hơn là mua sắm các loại khác dù giá rẻ. Các chủ sạp hàng ở đây ngày trước bận rộn buôn bán, bây giờ họ tụ năm tụ ba để chuyện trò và có thì giờ hướng dẫn chúng tôi đi quanh, và cùng chụp hình kỷ niệm chung với chúng tôi.

2-nhac-si-ukraine-don-2

hai thanh niên ngồi bên lối đi, họ đàn Bandura và hát bài ca ái quốc của người Ukraine.

Một buổi tối chúng tôi đi trong một khu thương xá, thấy có hai thanh niên ngồi bên lối đi, họ đàn Bandura và hát bài ca ái quốc của người Ukraine. Họ không cần một chương trình đại nhạc hội quy mô, không cần M.C. duyên dáng giới thiệu. Lòng yêu nước thúc đẩy và họ tự nguyện đi hát để nhắc nhở người dân Ukraine đến hiện tình của đất nước họ. Việc làm này giống như việc làm của các nhạc sĩ mù (Kobzar) ngày xưa mà ảnh hưởng của họ làm cho Stalin
khiếp sợ nên bày kế lường gạt cả trăm nhạc sĩ mù trên toàn
quốc tụ lại một chỗ để giết hết một lần. Hai thanh niên này
có thể đang ngồi trên vũng máu, cũng có thể tôi cũng đang đứng trên vũng máu của người ngã xuống vì tự do trong cuộc chiến vừa qua. Đây là một trong hai khu thương xá tôi đã đi qua, mà cả hai đều có nhiều người chết trong cuộc đấu tranh chống Nga. Crimea đã mất. Hiện tại điểm nóng vẫn còn ở biên giới miền Đông Ukraine.

Mỗi lần đến Ukraine, chúng tôi đều có ghé thăm Thánh Đường và Chủng Viện Saint Michael. Những lần trước tôi thấy vách ngoài của vòng tường, nơi gần cổng chính, có dán
tranh và ảnh đen trắng tố cáo tội ác của Nga đã giết ngót chục triệu người Ukraine bằng cách bỏ đói họ năm 1932-1933, dưới thời Stalin. Một con số quá lớn trong khi dân số lúc bấy giờ còn ít. Lần này tôi thấy họ thay đổi hình cũ bằng những ảnh màu mới chụp. Đó là chân dung những người bị giết gần đây, phần lớn là thường dân, cả nam lẫn nữ. Có một ít là chân dung quân nhân. Dù hình ảnh ngày trước và bây giờ có khác, nội dung vẫn giống nhau: Tố cáo tội ác của Nga. Trong cuộc chiến với quân Nga gần đây, một số thường dân và binh sĩ bị thương được đưa vào bệnh xá trong chủng viện này để cứu cấp. Có nhiều người bị chết ngay trong chủng viện.

le van khoa 3.JPG

Trước Thánh Đường St. Michael. Từ trái: Thanh Thủy, Tiến sĩ Taras Myronyuk, Tiến sĩ Duchat Violetta, Ngọc Hà, Lê Văn Khoa và Tiến sĩ Dmytro Stepovk

Hôm nay chúng tôi đến đây để gặp Tiến Sĩ Dmytro Stepovk, Tiến Sĩ Dutchak Violetta và Nhạc Sĩ Taras Stolyar.
Vietnam Film Club phỏng vấn họ cho DVD tài liệu về nhạc Việt. Đi Ukraine, gặp nhạc sĩ lớn của xứ này để làm tài liệu cho nhạc Việt, một việc làm có vẻ rất nghịch lý. VietNam

Film Club dự định phát hành DVD này trong năm 2017.
Thân mời quý vị nhớ đón xem.

Tình quý mến nhau như thế này không thường thấy trong xã hội ngày nay.
Tiến Sĩ Dmytro Stepovk có 3 bằng Tiến Sĩ: Tiến Sĩ Nghệ Thuật, Tiến Sĩ Triết và Tiến Sĩ Sử học. Ông nêu những điểm tương

le-van-khoa-4

Lê Văn Khoa và Tiến sĩ Dutchak Violetta

le-van-khoa-bia-sach-5

Bìa sách Lịch Sử và Sự Phát Triển của Đàn Bandura Trong Thế Kỷ 20 và Đầu Thế Kỷ 21

le-van-khoa-6

Tiến Sĩ Dmytro Stepovk, Tiến Sĩ Dutchak Violetta, Ngọc Hà và Lê Văn Khoa đồng giữa Ukraine và Việt Nam. Ông ghi nhận Lê Văn Khoa dùng Văn Hóa và Nghệ Thuật làm vũ
khí để tranh đấu cho quê hương.

le-van-khoa-7

Để tôi xem Bô Bố có khác hơn trước không nào !

Nhạc sĩ Lyudmila Chychuk sau nhiều năm gặp lại Lê Văn Khoa không khỏi ngạc nhiên vì thấy tôi vóc dáng có khác hơn ngày trước. Khi viếng Hoa Kỳ năm 2009, cô xin phép gọi tôi là “Bô Bố” như các con gọi tôi. Cô là Giáo Sư Nhạc Thính Phòng trong Lysenko Boarding School, trường
dành riêng cho thần đồng nghệ thuật. Cô cũng đã tốt nghiệp từ trường này. Năm 17 tuổi cô trúng giải sáng tác âm nhạc dành cho thiếu niên. Cô là người tự nguyện đem nhạc piano của Lê Văn Khoa đi trình diễn chung với nhạc của A. Mozart, L. V. Beethoven, F. Listz, F. Chopin, P. Tchaikowsky, C. Debussy v. v. . . trên nhiều quốc gia Âu Châu.

Nhiều nhạc sĩ tôi biết, không chỉ khép kín trong vị trí âm nhạc của mình. Tuy không ra mặt trận, nhưng họ đã làm bổn phận công dân ở hậu phương. Họ yêu tự do và hành động của họ thay lời nói. Trong trận chiến với Nga vừa qua, có nhiều chiến sĩ từ tiền tuyến trở về, được cô Lyudmila
Chychuk mời đi ăn ở một nhà hàng danh tiếng tại Thủ Đô để tỏ lòng biết ơn họ đã liều mình bảo vệ tổ quốc và dân tộc. Họ do dự, ngại vấn đề nam nữ. Cô nói nếu họ không đi, thì sau này có dịp nào đó họ mời cô, cô sẽ từ chối. Thế là họ chịu đi ăn với cô.

Kateryna Myronyuk, nữ cầm thủ Bandura trẻ đẹp, đã tình nguyện đến phục vụ tại một bệnh viện ở ngoại ô Kyiv, giúp thương binh được đưa về từ tiền tuyến. Năm ngoái khi trên đường từ quê ngoại về nhà ở thủ đô, cả gia đình cô bị một tai nạn xe hơi rất trầm trọng. Năm người trong xe đều bất tỉnh. Một đứa con nhỏ bị văng ra khỏi xe. Cô bị thương nặng
nhất, bể xương mặt, và thương tích nhiều chỗ. Cô được đưa vào bệnh viện địa phương để cứu cấp. Đến nơi thì cô sắp tắt thở. Các Bác sĩ tận tình cứu giúp, cô tỉnh lại. Nơi đây không đủ phương tiện để điều trị thương tích quá trầm trọng của Kateryna, bệnh viện này liên lạc với bệnh viện lớn ở thủ đô xin chuyển cô về đó. Thủ đô báo cho họ biết bệnh viện không còn giường trống và tất cả bác sĩ đều đang lo cứu giúp thương binh nên không thể nhận thêm bệnh nhân ngoài.
Khi nhận ra cô chính là nhân viên tình nguyện chăm sóc thương binh trong bệnh viện này, họ liên lạc qua quốc gia lân cận là Ba Lan. Được chấp thuận, họ cho xe cứu thương chuyển cô qua Ba Lan để điều trị.
Kateryna Myronyuk là một nhạc sĩ thùy mị, sử dụng đàn Bandura. Cô đã trình diễn trong chương trình “Lê Văn Khoa, Người Viết Lịch Sử Bằng Âm Nhạc” ở Long Beach, California năm

le-van-khoa-8

Kateryna Myronyuk và đàn Bandura

2008, và Washington D.C. trong chương trình “Ca Ngợi Tự Do” năm 2010. Cô trình tấu hai bài dân ca Việt Nam là “Trống Cơm” và “Se Chỉ Luồn Kim” do tôi viết lại cho đàn Bandura và dàn nhạc giao hưởng. Nhờ đó có nhiều người Việt ở California, ban hợp ca người Việt vùng Thủ Đô Washington D.C. và Virginia biết cô và góp một số tiền để tiếp trợ bệnh phí. Sau nhiều cuộc giải phẩu, cô đã bình phục, nhưng còn phải qua nhiều cuộc giải phẫu nữa mới có thể xuất hiện trở lại trước công chúng. Cô nhờ tôi chuyển lời chân thành cám ơn đến tất cả những người đã giúp cô cũng như đã cầu nguyện cho cô.

Tình yêu âm nhạc đã nối kết và chúng tôi xem nhau như người thân trong gia đình. Bà nhạc trưởng Alla Kulbaba được mời đến Hòa Lan để điều khiển giàn nhạc đệm cho đoàn Opera từ một quốc gia Đông Âu qua đó trình diễn. Khi hay tin Lê Văn Khoa sẽ đến Ukraine để thu thanh và mong gặp lại những nhạc sĩ chính đã từng cộng tác trong 11 năm qua, bà hoãn chuyến bay, ở lại thêm vài ngày để điều khiển dàn nhạc giao hưởng Kyiv Symphony Orchestra thu thanh tác phẩm của Lê Văn Khoa. Buổi thu thanh cuối vừa xong, bà vội ra phi trường ngay vì chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là máy bay cất cánh.

le-van-khoa-ngoc-ha-don-ca-9

Ngọc Hà đơn ca với Kyiv Symphony Orchestra và Anima Chorus của National University of Culture and Arts, dưới quyền điều khiển của nhạc trưởng Alla Kulbaba Lê Văn Khoa, Nhạc Trưởng Alla Kulbaba,

le van khoa 10 voi cac ca si ukraine.JPG

Ngọc Hà và ban hợp ca “Anima” của phân khoa Hợp Ca và Ca Trưởng, National University of and Arts. Người cao hơn hết là Ca Trưởng, Tiến sĩ Taras Myronyuk.

Trong chuyến thu thanh lần này, chúng tôi được sự cộng tác của ban hợp ca “Anima” thuộc phân khoa Hợp Ca và Ca Trưởng của National University of Culture and Arts, tại Kyiv, Ukraine. Ca viên toàn là người trẻ và có tài. Người được huấn luyện kỹ hát có khác hơn ban hợp ca chúng ta thường nghe. Họ hơi thất vọng vì tôi xin chỉ dùng một ban hợp ca nhỏ khoảng 25 người. Họ yêu cầu lần sau nên dùng ban hợp ca lớn hơn, ít nữa là gấp đôi hay gấp ba. Ngọc Hà được hân hạnh hát chung với ban hợp ca “Anima” và dàn nhạc Kyiv Symphony Orchestra dưới quyền điều khiển của Nhạc Trưởng Alla Kulbaba. Trên sân khấu rộng lớn mọi người đều như nhỏ lại.

le-van-khoa-11-nhac-si-ukraine-don-ly-ngua-o

nhạc sĩ Taras Stolyar tấu bài Lý Ngựa Ô, dân ca Nam Việt Nam

Những bài dân ca Việt Nam được tôi chuyển cho đàn dân tộc đặc thù của Ukraine, đã được nhiều nhạc sĩ Ukraine trình tấu. Lần này bài dân ca miền Nam “Lý Ngựa Ô” tôi viết
cho Bandura với dàn nhạc giao hưởng, được nhạc sĩ Taras Stolyar độc tấu. Ông là nhạc sĩ dẫn đầu của ban nhạc Bandura. Ông trình bày rất chuẩn một nhạc phẩm lạ và khá phức tạp. Ông rất thích bài nhạc này, xin tôi để nhạc lại, cho phép ông nhờ người viết lại cho ban nhạc nhỏ hơn để dễ trình diễn lưu động. Mặt khác ông sẽ nhờ người phối hợp với nhiều loại nhạc cụ cổ truyền khác của Ukraine để trình diễn những bài dân ca Việt tôi đã cải soạn cho Bandura. Ông
rất vui và phấn khởi khi được tôi nhận lời.

Cái duyên nhạc Việt và Ukraine ngày càng gắn bó và có thể có cơ hội phát triển mạnh tại đây trong tương lai, nếu được nuôi dưỡng.

Trong chuyến đi này tôi có dịp thăm vài nhạc sĩ cũ từng làm việc với tôi từ 11 năm trước.

 

nhạc sĩ Svyatoslava Semchuck và Lê Văn Khoa

Tôi gặp Nhạc Sĩ Svyatoslava Semchuck tại Ukranian National Philharmonic. Cô là người độc tấu tuyệt vời bài violin “Nocturne” của tôi.

Đã có nhiều nhạc sĩ trình diễn bài này, trong đó có 3 nhạc sĩ Ukraine, nhưng chưa có ai diễn tả xuất thần như cô. National Philharmonic là nơi nhiều nhạc sĩ danh tiếng thế giới đã từng trình diễn, như Scriabin, S. Rachmaninoff, P. Tchaikowsky, Franz Listz, V. Horowitz, V. Cliburn, A. Rubinstein, L. Bernstein, Ristropovich v. v . . .

le-van-khoa-12

Svyatoslava và Lê Văn Khoa nơi hành lang của Ukranian National Philharmonic

Từ xưa Ukraine được xem như là cái nôi âm nhạc của đế quốc Nga Hoàng. Kyiv đã thành lập nhạc viện từ giữa thế kỷ 18, trước Nga. Nhạc của Ukraine lan ra khắp nơi, ẩn hiện chập chờn trong tác phẩm của nhiều nhạc sĩ lớn như: L. V. Beethoven, F. Listz, S. Prokofiev, J. Haydn, J. Brahms, L. Boccherini, M. Glinka, M. Mussorgsky, B. Bartók, A. Dvořák, C. Debussy v. v. . .

Trong buổi họp bất thường giữa các Giáo Sư Âm Nhạc của các trường Đại Học Ukraine,họ bàn nhau sẽ làm một chương trình nhạc quốc tế, trong đó dành một phần riêng để trình diễn nhạc của Lê Văn Khoa. Tiến sĩ Taras Myronyuk yêu cầu phải có một ban hợp ca lớn trình diễn 3 tác phẩm hợp ca của Lê Văn Khoa, bài đầu tiên là “I Shall Return” (Hẹn Một Ngày Về). Người khác đề nghị trình diễn những bài dân ca Việt được viết cho Bandura. Cô Irina Starodub, Giáo Sư dương cầm của National Tchaikowsky Conservatory yêu cầu có bài nhạc cho piano của Lê Văn Khoa. Khi nghe tôi nói về những điểm dị và đồng của nhạc Á Đông đối với nhạc Tây Phương, họ rất thích thú, muốn hiểu biết thêm. Họ sẽ dàn xếp để mời tôi qua diễn thuyết trong trường họ. Buổi trình diễn thực hiện được hay không còn tùy nhiều yếu tố liên hệ, nhưng dự định thực hiện chương trình nhạc quốc tế ở nước ngoài có phần trình diễn tác phẩm của một nhạc sĩ Việt Nam, đủ làm nhiều người vui. Tôi tin trong tương lai nét dân nhạc Việt sẽ được thấp thoáng trong tác phẩm
của người viết nhạc không phải Việt Nam.

Trên đường về Giáo Sư Irina Starodub ân cần nhắn nhủ: “Ông nhớ giữ gìn sức khỏe và viết thêm nhạc piano. Tôi rất yêu nhạc của ông.” Lời nói của cô giống như ý của bà Nhạc Trưởng đã nói với tôi hai hôm trước, khi tôi cho bà biết chuyến đi thu thanh này là chuyến đi cuối cùng của tôi. Bà êm ái: “Ông đừng nói lần cuối. Nhớ nghỉ ngơi đầy đủ và tiếp tục viết nhạc. Rồi chờ xem việc gì sẽ xảy ra.”

Mặc dầu có ý định nhưng dường như chuyến đi Ukraine này chưa phải là chuyến đi cuối cùng, vì đang có những chuyển động ngầm để kéo tôi trở lại phần đất này. Giáo Sư Tiến Sĩ
Myronyuk nói lớn với tôi trong phiên họp:
“Bản thân ông có hai phần, một Việt, một Ukraine. Dĩ nhiên tâm hồn ông thuộc về Việt Nam.”

le-van-khoa-13-1933

Lê Văn Khoa trước đài kỷ niệmnạn nhân vụ diệt chủng của Joseph Stalin

Lời nói của ông làm tôi suy nghĩ. Năm 1933 tôi chào đời. Năm 1933 có gần 10 triệu người Ukraine bị chết đói bởi Stalin. Hai sự kiện này có liên hệ ít nhiều gì với nhau nhau không?
Tại sao tôi được kể là người đầu tiên đem hai nguồn văn hóa đến với nhau (Việt-Ukraine) qua âm nhạc đặc thù của mỗi bên (2007)? Tại sao tôi được ghi nhận là một trong ba nhạc sĩ trên thế giới viết nhạc cho đàn dân tộc của Ukraine là Bandura độc tấu với dàn nhạc giao hưởng Tây Phương?

Tôi không trả lời được.

TRẦN QUANG HẢI :ĐÀN BẦU của VIỆT NAM hay TRUNG QUỐC ?


gs-tran-quang-hai-tu-bo-viec-thanh-lap-quy-va-nha-tuong-niem-tran-van-khe

Trần Quang Hải , CREM (Research Center of Ethnomusicology), FRANCE

Đàn bầu (từ này chỉ được phổ biến rộng rãi từ khi thành lập nhạc viện Hà nội năm 1956 – nay trở thành học viện âm nhạc quốc gia) hay đờn độc huyền hay độc huyền cầm (獨絃琴) hay đờn một dây (phổ biến ở miền Nam Việt Nam) thuộc nhạc cụ Việt Nam có từ lâu đời . Dân tộc Mường cũng có cây đàn một dây  Tàn Máng và dân tộc Chăm có đàn một dây Rabap Katoh

Huyền thoại về cây đàn bầu

Có hai huyền thoại về đàn bầu :

  1. Cố nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát (1) có kể truyện Trương Viên rời gia đình theo tiếng gọi của đất nước đi đánh giặc . Vợ ở nhà phụng dưỡng mẹ chồng . Chờ lâu không thấy chồng trở về, hai mẹ con khăn gói lên đường tìm chồng . Dọc đường vợ bị hung thần móc mắt , trở thành đui mù . Một bà tiên cảm động trước sự hy sinh của con dâu (cắt thịt mình để cho mẹ chồng ăn ), mới tặng một cây đàn một dây có âm thanh như giọng người . Nhờ đó hai mẹ con đi tới thủ đô và tìm gặp người chồng .
  2. Một huyền thoại khác cũng được nhắc đến, đó là cuộc đời hát Xẩm của thái tử Trần Quốc Đĩnh. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Nguyên kể lại trong bài viết của nhà nghiên cứu Hoàng Kiều thì Đàn Bầu chính là báu vật mà Bụt ban cho thái tử Trần Quốc Đĩnh làm kế sinh nhai, làm nhạc cụ định an tinh thần trong hoàn cảnh bơ vơ, gia biến

Tài liệu từ sách vở

Tìm hiểu trong thư tịch và hiện vật khảo cổ học cũng như lịch sử chữ viết có một số những sách sử quan trọng có đề cập đến Đàn Bầu. Theo An Nam chí lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Chỉ Nam Ngọc âm giải nghĩa, Đại Nam thực lục tiền biên, Tân Đường thư, Cựu Đường Thư… cây Đàn Bầu ra đời xuất phát điểm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ sau đó được người Kinh Việt Nam mang sang Quảng Tây Trung Quốc.

Theo Hoàng Yến (4) , năm 1892 Đàn Bầu mới được những người hát xẩm phía Bắc đưa vào xứ Huế để ca khúc đệm đàn cho một số bộ phận vương quan tiến bộ yêu thích thanh âm trong trẻo, nỉ non đó. Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, Vua Thành Thái – một trong ba vị vua yêu nước thời Pháp thuộc, ông yêu tiếng đàn Bầu như hơi thở quê hương xứ An Nam, lúc đó Đàn Bầu mới được thay thế đàn tam trong ngũ tuyệt tranh-tỳ-nhị-nguyệt và bầu.

Đàn bầu có mặt trong dàn đờn tài tử nam bộ từ năm 1930 do những người miền Trung vào miền Nam khai khẩn đất hoang vào cuối thế kỷ 19. Đàn bầu được gọi là « đờn một dây » hay « đờn độc huyền »

Cố GS Trần Văn Khê (đã miêu tả đàn độc huyền – không dùng từ đàn bầu trong quyển luận án bảo vệ tại Paris năm 1958 (2), và trong quyển VIETNAM /traditions musicales ,do nhà sách Buchet/Chastel xuất bản tại Paris năm 1967 (3).

Tôi có viết bài miêu tả đàn độc huyền – không dùng từ đàn bầu trong quyển MUSIC OF THE WORLD (5) , do nhà xuất bản J.M.FUZEAU phát hành , Courlay, Pháp, vào năm 1994.

Gần đây nữ nhạc sĩ Quỳnh Hạnh (trong nhóm Hoa Sim được thành lập ở Saigon từ thập niên 60) bảo vệ luận án tiến sĩ về Đàn Bầu thành công tại trường đại học Sorbonne Paris 4 cách đây 7 năm. Ngoài phần miêu tả nhạc cụ và dân tộc nhạc học, còn có phần viết về việc sử dụng đàn bầu trong cách chữa bịnh tâm thần (musicothérapie) (6) ;

Về phía Việt Nam , Học viện âm nhạc quốc gia có 3 luận đề cao học và một luận đề tiến sĩ về đàn bầu  (7):

NSND Nguyễn Thị Thanh Tâm bảo vệ luận án cao học năm 1999 với đề tài « một số vấn đề về giảng dạy và biểu diễn đàn bầu ở nhạc viện Hà Nội » .

Nguyễn Thị Mai Thủy bảo vệ luận án cao học năm 2007 về « giảng dạy đàn bầu bậc trung học dài hạn tại trường cao đẳng nghệ thuật Hà Nội »

Sun Jin (Tôn Tiến), người Trung quốc, bảo về luận án cao học năm 2009 về « Đàn bầu với việc giảng dạy tại trường đại học Quảng Tây, Trung quốc »

Sun Jin (Tôn Tiến », người Trung Quốc, bảo vệ luận án tiến sĩ năm 2015 về « Nghệ thuật đàn Bầu trong giai đoạn mới tại Việt Nam. » (8)

Với sự kế thừa và phát triển đàn Bầu, Tôn Tiến muốn trên cơ sở của người trước đã làm và đề ra vài ý kiến mới, đó là những quan điểm “hoạt hóa”, “tiến hóa” và “tiêu chí hóa”. Trong đó, “hoạt hóa” có yêu cầu giữ gìn và đa dạng hóa các hoạt động nghệ thuật biểu diễn đàn Bầu. “Tiến hóa” có ý nghĩa đổi mới nội dung và hình thức để phát triển nghệ thuật đàn Bầu. “Tiêu chí hóa” mang nghĩa đại diện của khu vực, làm nổi bật vị trí của nghệ thuật đàn Bầu. Thêm một khía cạnh trong luận án là điều tra xã hội học về đàn bầu .

Những người đóng góp lớn cho sự phát triển đàn bầu

Theo Tôn Tiến, những nhân vật đại diện có đóng góp lớn cho sự phát triển đàn Bầu gồm có  (9):

NSND Vũ Tuấn Đức, Ông đã bổ sung phương pháp ký âm 5 dòng kẻ, thêm nhiều ký hiệu đặc biệt để cố gắng ghi lại những ngón nghề đặc thù của đàn Bầu.

Ông Phạm Phúc Minh, tác giả quyển « Cây đàn bầu : những âm thanh kỳ diệu », Hà nội, 1999, đã viết một cuốn sách căn bản đầy đủ về cây đàn bầu

NGND Xuân Khải, ông có một số tác phẩm nổi tiếng sáng tác cho đàn Bầu như “Buổi sáng sông Hương”, “Cung đàn đất nước”, “Hồi tưởng”…

NSƯT Mạnh Thắng, Năm 1957, ông Mạnh Thắng cùng cây đàn Bầu lần đầu tiên có mặt ở cuộc thi Quốc tế và đạt được huy chương vàng. Đến năm 1964, ông Mạnh Thắng đã bắt đầu mang đàn Bầu điện bước lên sân khấu chuyên nghiệp.

NSƯT Đức Nhuận, Ông là người đầu tiên sáng tạo ra và đưa các kỹ thuật cho đàn Bầu như: Kỹ thuật gẩy hai chiều, gẩy thực âm, tạo tiếng chuông,.

NS Hồ Khắc Chí, Trong 20 năm giảng dạy ông đã góp phần đào tạo nhiều học sinh, sinh viên ngành nhạc dân tộc. Ông sáng tác hoặc chuyển soạn hơn 35 bản nhạc không lời, được thu thanh tại đài phát thanh và truyền hình Việt Nam. Nhiều bản đàn trong số này hiện vẫn còn đang được sử dụng.

NSND Thanh Tâm, với hơn 40 năm giảng dạy, bà đã góp phần đào tạo nhiều học sinh, sinh viên ngành nhạc dân tộc hiện đang công tác tại các trường nghệ thuật, các đoàn ca múa nhạc trung ương và địa phương trong cả nước. Bà còn là người phụ nữ đầu tiên đem vinh quang về cho Việt Nam, cho ngành nhạc dân tộc nói chung và bộ môn đàn Bầu nói riêng bằng nhiều tấm Huy chương vàng của các cuộc thi, liên hoan quốc tế được tổ chức ở nhiều nơi trên thế giới. Bà đã xuấn bản 8 giáo trình đàn Bầu.

Ở Việt Nam ngoài NSND Thanh Tâm là phụ nữ, hiện nay có vài nữ nhạc sĩ trẻ tiếp tối như NSUT Hải Phượng, Hoàng Cầm, Phạm thị Huyền Trang, Quách Phương Dung, Lệ Chi. Về phía nam nhạc sĩ , có Hoàng Anh Tú, nhạc sĩ khiếm thị  Thanh Tùng, Phúng Chí Thanh, Hồ Hoài Anh.

Ở hải ngoại có một số nữ nhạc sĩ  đàn bầu như Võ Vân Ánh (Hoa Kỳ), Hồ Thụy Trang (Pháp), Quỳnh Hạnh (Pháp). Nam nhạc sĩ có Khắc Chí (Canada), Phạm Đức Thành (Canada), Đặng Kim Hiền (Úc châu)  là những người có công phổ biến đàn bầu trong cộng đồng việt nam hải ngoại và những người yêu nhạc khắp năm châu

Cố họa sĩ Mai Thứ là người Việt Nam đầu tiên trình diễn đàn bầu ở Pháp và hải ngoại vào năm 1958. Tôi giới thiệu đàn bầu khắp thế giới qua những buổi trình diễn và lễ hội nhạc truyền thống quốc tế từ năm 1966.

Nhạc sĩ Chí Tâm (Hoa Kỳ) có thực hiện chương trình truyền hình TIẾNG TƠ ĐỒNG về nhạc cổ truyền Việt Nam với sự góp mặt của nữ nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh . Có hai chương trình về đàn bầu (2011, 24 phút) đặc biệt về đàn bầu trong cổ nhạc miền Nam. (10)

Ngoài ra tại TP HCM nhạc sĩ Huỳnh Khải cũng thực hiện 4 chương trình truyền hình về đàn bầu trong đờn ca tài tử nam bộ (CVTV 2007) (11)

Về phần cải tiến đàn bầu ngoài Mạnh Thắng và Đức Nhuận, còn có NSND Xuân Hoạch về đàn bầu cổ cho hát xẩm, Mai Đình Tới về cải tiến kỹ thuật đàn bầu trên toàn âm bảng đàn

ĐÀN BẦU là của Việt Nam hay của Trung Quốc ?

Nếu cho đàn bầu của Trung Quốc căn cứ vào tài liệu sách

Theo Tân Đường thư quyển 222, Liệt truyện 147: Nam Man hạ thì trong số các nhạc cụ do nước Phiếu (Phiếu, cổ Chu Ba dã, tự hào Đột La Chu, Đồ Bà quốc nhân viết Đồ Lí Chuyết. Tại Vĩnh Xương nam 2.000 lí, khứ kinh sư 14.000 lí. Đông lục Chân Lạp, tây tiếp Đông Thiên Trúc, tây nam Đọa Hòa La, nam chúc hải, bắc Nam Chiếu. Địa trường 3000 lí, quảng 5000 lí…]) dâng lên vua Đường (niên hiệu Trinh Nguyên (785-805) thời Đường Đức Tông) đã thấy xuất hiện độc huyền bào cầm (đàn bầu một dây).

Sách Nam Man hạ chép: « Dĩ bạch mộc vi chi, bất gia sức, tào hình trường như nhựt tự dạng, dụng trúc tác tào bính, xuyên dĩ không hồ, trương huyền vô chẩn, hửu thủ dĩ trúc, phiến bát huyền dĩ phát thanh, tả thủ nhấn trúc can nhi thành điệu. » Nghĩa là: « Lấy gỗ nhẹ mà làm, không trau chuốt chi, thùng đàn dài hình chữ nhật, đầu chót cắm cán tre, xâu nửa quả bầu khô, giăng dây không phiếm, tay phải lấy que trúc nảy lên tiếng, tay trái nấng cần tre mà thành điệu. »

Từ vài năm nay ở Trung Quốc đã có những festival nhạc dân tộc với những màn biểu diễn đàn bầu. Trên trang web China Daily USA đăng bài cùng hình ảnh của Xinhua với chú thích “Hàng trăm người dân tộc Kinh thiểu số cùng chơi đàn độc huyền cầm” trong một lễ hội truyền thống ở Trung Quốc. Bài viết nói rằng tộc người Kinh (Jing) này đã di cư từ VN sang Trung Quốc từ khoảng 500 năm trước, và hiện tộc người này có khoảng 22.000 người. Trung Quốc đã gửi nhạc công sang VN học đàn bầu, mời một số nhà nghiên cứu sưu tầm tài liệu để viết về đàn bầu và đưa lên mạng thông tin đàn bầu rất được người dân tộc Kinh (ở Trung Quốc) yêu thích (cô Tôn Tiến hoàn thành luận án cao học (2009) và tiến sĩ (2015) với đề tài đàn bầu ở Học viện âm nhạc quốc gia Hà Nội)

Nhạc sĩ Đức Trí, người đã nhiều năm theo học đàn bầu, ông giật mình: “Thông tin từ GS Hải làm tôi chợt nhớ, cách đây 10 năm, tôi tình cờ xem được trên kênh truyền hình CCTV của Trung Quốc một chương trình hòa tấu nhạc dân tộc và đã rất kinh ngạc khi thấy có cây đàn bầu trong dàn nhạc dân tộc Trung Quốc. Đây là điều chưa từng thấy trước đó”.

Nhạc sĩ Đỗ Lộc cho biết: “Năm 1967, Đoàn múa hát Quân giải phóng miền Nam VN sang Bắc Kinh biểu diễn. Tiết mục biểu diễn đàn bầu của nhạc sĩ Đức Nhuận thật sự xuất sắc vì đàn bầu là của VN mà Trung Quốc không có nên họ ngỏ lời xin học, VN đồng ý. Nghệ sĩ Điền Xương của Trung Quốc đi theo đoàn VN suốt thời gian đoàn lưu diễn để được thầy Đức Nhuận chỉ dẫn về đàn bầu…”.

Nghệ sĩ đàn bầu Nguyễn Tiến kể: “Cuối năm 2013, tôi đã từng nói chuyện và biểu diễn minh họa về lịch sử phát triển cây đàn bầu VN tại Học viện Quảng Tây (Trung Quốc), nơi cũng có một khoa giảng dạy đàn bầu. Cả hội trường vô cùng ngạc nhiên và khâm phục. Trưởng khoa đàn bầu (và là người chỉ huy dàn nhạc của học viện) là Thái Ương đã nói với tôi: Nghe anh nói chuyện cả buổi sáng nay tôi mới hiểu được hết cái hay và cái đẹp của cây đàn bầu VN. Học viện chúng tôi có khoa đàn bầu là vì có một số học viên là người dân tộc Kinh có nhu cầu nên chúng tôi dạy thôi. Hiện nay cũng có học sinh Trung Quốc đang học tại Học viện âm nhạc quốc gia VN về đàn bầu. Có cô gái Trung Quốc tên là Tôn Tiến cũng từng gặp tôi để học hỏi về đàn bầu”. (12)

Theo một số nghệ sĩ và nhà nghiên cứu âm nhạc, đàn bầu chỉ mới được Trung Quốc lưu tâm đến không đầy 20 năm sau này, vì trước đó không thấy dạy đàn bầu ở các nhạc viện Trung Quốc.

ĐÀN BẦU PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM

Ngược lại Đàn bầu có mặt từ Bắc xuống Nam, được dạy tại 3 nhạc viện quốc gia Hà Nội, Huế, TP HCM với hàng trăm nhạc sinh .

Đàn bầu được cải tiến từ hình thù cây đàn, kỹ thuật thủ pháp tay trái , tay mặt, điện hóa để phát to âm thanh, sáng tạo nhiều cách gảy để có thể đàn các bài dân ca, tân nhạc, nhạc ngoại quốc, và nhạc đương đại(13)

*Về hình dáng cây đàn

Đàn thân tre thường dùng cho người hát xẩm

Đàn hộp gỗ là loại đàn cải tiến, có tính năng ưu việt hơn, thường do các nghệ sĩ chuyên nghiệp sử dụng. Đàn hộp gỗ có nhiều hình dáng, kích thước khác nhau, thường làm bằng loại gỗ nhẹ, xốp như gỗ ngô đồng… Loại đàn bằng gỗ vông được dùng phổ biến nhất.

*Que gảy đàn: thường được vót bằng tre, giang, thân dừa, gỗ mềm… Người ta hay làm bông hoặc tưa đầu nhọn một chút để làm mềm âm thanh khi gảy. Ngày xưa hay dùng que dài khoảng 10 cm, ngày nay với nhiều kỹ thuật diễn tấu nhanh nên người ta hay dùng que ngắn chừng 4-4,5 cm.

*Đàn bầu có âm vực rộng tới 3 quãng tám.

*Các tư thế diễn tấu thông thường nhất là đàn bầu đặt trên một cái bàn nhỏ (thường là hộp đàn có lắp 4 chân rời, trên mặt giá có 2 chỗ chặn để khi kéo đẩy cần đàn, đàn không bị di chuyển theo. Khi ngồi khoanh chân trên chiếu để đàn thì đầu gối chân mặt phải tì vào cạnh mặt đàn nhằm giữ cho cây đàn khỏi bị xê dịch. Ngày nay, các nghệ sĩ thường dùng tư thế đứng hoặc ngồi trên ghế để diễn tấu. Khi dó, đàn được đặt trên giá gỗ có các chốt định vị có độ cao tương ứng với vị trí ngồi của nghệ sĩ.

*Kỹ thuật bàn tay trái gồm ngón rung, ngón vỗ, ngón vuốt, ngón luyến, ngón tạo tiếng chuông

*Kỹ thuật bàn tay phải : với que gẩy ngắn 4cm, nghệ sĩ ưu tú Đức Nhuận đã phát minh ra lối kỹ thuật vê (teremono) trên 1 dây và đánh sử dụng bồi âm trên bồi âm.

Trong lịch sử nhạc cụ Việt Nam chưa có nhạc khí dân tộc nào của nước ta được thay đổi, cải biến nhiều như đàn bầu[cần dẫn nguồn].

*Cần đàn thay vì bằng tre thì nay bằng sừng để cho mềm dễ uốn hơn.

*Bầu đàn trước đây làm bằng vỏ bầu khô hoặc ống tre, gáo dừa, nay dùng sừng hoặc thông dụng nhất là tiện bằng gỗ để có thể bắt vít được.

*Que đàn từ chỗ dài khoảng 10 cm, nay thu ngắn ngắn khoảng 4 cm. Từ chỗ được vót bằng tre, giang; nay có thêm các chất liệu gỗ, dừa, sừng hoặc nhựa.

Theo nhạc sĩ Bùi Lẫm: vào thập kỷ 60, nghệ sĩ Mạnh Thắng là người sáng chế ra lối que gẩy ngắn, ông cũng là người đã cải tiến đưa phần khuếch đại âm thanh vào đàn bầu, và ông cũng là người đầu tiên đưa đàn bầu đi trình diễn quốc tế, mang giải thưởng cao quý cho Việt Nam. Sau đó, cũng với que gẩy ngắn này, nghệ sĩ ưu tú Đức Nhuận đã phát minh ra lối kỹ thuật vê (teremono) trên 1 dây và đánh sử dụng bồi âm trên bồi âm.

*Thân đàncác phụ kiện Loại đàn cũ cần có thân to, mặt mỏng để tăng độ âm vang. Khóa đàn bằng gỗ. Loại đàn hiệ đại sử dụng công nghệ khuếch đại âm thanh điên tử có kích thước nhỏ hơn, khóa đàn bằng kim loại. Điểm cái tiến táo bạo nhất mà không một nhạc khí nào dám làm là loại đàn bầu dùng công nghệ điện tử có thể tách đôi, gập lại, xếp gọn khi di chuyển. Khi trình tấu, người chơi đàn có thể lắp ráp lại nhanh chóng.

*Hộp chứa đàn Ngoài chức năng để cất giữ, bảo vẹn đàn khi di chuyển đàn, hộp này vừa có hể dùng làm giá đỡ đàn với hai chốt chặn ở hai đầu, tiện lợi cho việc căng dây hoặc chùng dây khi chơi các bản nhạc có âm chủ khác nhau.

*Điện tử hóa : Các loại đàn bầu hiện đại được điện tử hóa bằng cách lắp các mobil cảm ứng điện từ nối với máy tăng âm và loa để khuếch đại âm thanh, được sử dụng phổ biến trong các dàn nhạc dân tộc Việt Nam chuyên nghiệp. Tuy nhiên, nhiều khán thính giả nước ngoài sành nhạc vẫn thích nghe trình tấu trên đàn « mộc » (không có bộ khuếch âm điện tử). Họ cho rằng âm thanh mộc nghe trong trẻo và « thật » hơn âm thanh được khuếch đại bằng kỹ thuật điện tử.

*Các bài bản cho Đàn bầu dựa trên các bài dân ca quan họ, lý, hát ru, dân ca cải biên, chèo, tuồng, múa rối nước, ca huế, đờn ca tài tử nam bộ . Ngoài ra còn đệm cho ngâm thơ, hoặc độc tấu , song tấu , tứ tấu , ngũ tuyệt, dàn nhạc giao hưởng dân tộc. Các nhạc sĩ Việt Nam đã sáng tác những bản cho đàn bầu như « Vì miền Nam » (Huy Thục), « Niềm Tin Tất Thắng » (Khắc Chí), « Hồi tưởng » (Xuân Thi), « Đối thoại » (Đỗ Hồng Quân), « Dòng kênh trong » (Hoàng Đạm), « Buổi sáng sông Hương », « Cung đàn đất nước » (Xuân Khải), « Gửi Thu Bồn », « Quê mẹ » (Khắc Chí), « Gửi Huế mến yêu » (Đình Long), « Gửi đến Ngự Bình » (Quốc Lộc), « Thoáng quê » ( Thanh Tâm), « Câu hát mẹ ru » (Phú Quang) v.v…

Những nhạc cụ một dây ở các quốc gia khác :

Trung Quốc có ĐỘC HUYỀN CẦM (獨弦) , Nhật Bản có ICHIGENKIN ()(nhứt huyền cầm). Ấn độ có GOPI YANTRA, Cao Miên có SADIOU. Tất cả những cây đàn một dây đó không có cây nào sử dụng bồi âm như ĐÀN BẦU của Việt Nam.

Nhìn chung , cây đàn bầu là nhạc cụ “đặc hữu” của Việt Nam từ rất xa xưa. Trong Đại Nam thực lục tiền biên (bộ sử của nhà Nguyễn) ghi cây đàn bầu đã được sáng tạo từ năm 1770, trải qua gần 250 năm , đặc biệt là từ năm 1956 (ngày thành lập Học Viện âm nhạc quốc gia Hà nội), đàn bầu được phát triển nhanh chóng với những khóa dạy đàn bầu ở học viện, những nghệ nhân trình diễn trong và ngoài nước, cải tiến đàn bầu từ hình dáng tới kỹ thuật, sáng tác bài bản mới, tạo một chỗ đứng cao cấp cho nhạc cụ này (được coi là « hoàng tử » nhạc cụ Việt Nam).

. Cây đàn bầu cũng từng được các nghệ sĩ mù ở Hà Nội dùng phụ đệm hát xẩm ở các chợ trời từ cuối thế kỷ thứ 19. Do đó đàn này còn được gọi là “đàn xẩm”. Đàn bầu được đưa vào dàn nhạc cung đình Huế từ cuối thế kỷ 19 và xuất hiện trong dàn nhạc tài tử Nam bộ từ năm 1930…

Việc Trung Quốc muốn « chiếm đoạt » nhạc cụ đàn bầu là của họ là việc họ thường làm với những truyền thống khác như « hát đồng song thanh Mông cổ khoomi » mà họ đã trình UNESCO cho là di sản văn hóa phi vật thể vào năm 2009, làm cho xứ Mông cổ phản đối kịch liệt vì theo truyền thống Mông cổ , kỹ thuật này chỉ phát nguồn từ vùng Tây Bắc của xứ Mông cổ (Folk Republic of Mongolia) chứ không thể có ở Nội Mông như Trung Quốc tuyên bố. Năm 2010 xứ Mông cổ trình hồ sơ hát đồng song thanh khoomii cho UNESCO và được nhìn nhận là của xứ Mông cổ. Một chuyện khác là bản ARIRANG của Hàn Quốc đã bị Trung quốc dự định trình UNESCO để được tuyên dương là di sản văn hóa phi vật thể của Trung quốc vì họ có người Triều Tiên là sắc tộc sống ở Trung quốc . Nhưng ban nghiên cứu xứ Hàn Quốc đã phản ứng kịp thời và tổ chức hội thảo tại Seoul và tôi được mời tham dự hồ sơ này vào năm 2012. Và bản ARIRANG được UNESCO nhìn nhận là của Hàn Quốc vào năm 2014. Đối với việc muốn lấy đàn bầu là nhạc cụ của Trung quốc với lý do là Trung Quốc có một bộ lạc người Kinh sống ở xứ họ . Nhưng việc chuẩn bị để tước lấy đàn bầu đã được nghĩ đến từ lâu. Họ mới gởi nhạc công sang Viêt Nam học đàn bầu, mời một số nhà nghiên cứu sưu tầm tài liệu để viết về đàn bầu và đưa lên wikipedia để tuyên bố là đàn bầu là nhạc cụ Trung quốc chứ không phải vietnam . (12)
Nếu các ban nghiên cứu của Việt Nam không phản ứng (viện âm nhạc, và những nhà nghiên cứu việt nam không có phản ứng thì không sớm thì muộn nhạc cụ đàn bầu sẽ thuộc quyền « sở hữu » của Trung Quốc đứng về mặt pháp lý .
GS Trần Quang Hải

CREM (Centre de Recherche en Ethnomusicologie)

Université de Paris X – Nanterre, France

HÌNH ẢNH MỘT VÀI NGHỆ NHÂN ĐÓNG GÓP CHO SỰ PHÁT TRIỂN ĐÀN BẦU

mai-thu_1968

Họa sĩ MAI THỨ , PHÁP, 1958

thanh-tam-1_xpjq

NSND THANH TÂM, VIETNAM

Vanessa VÂN ÁNH , HOA KỲvan-anh-dan-bauxuan-hoach-va-dan-bau-co

NSND XUÂN HOẠCH , VIETNAM

pham-duc-thanh-dan-bau

PHẠM ĐỨC THÀNH , CANADA

khac-chi-hoang-bich-dan-bau

Khắc Chí và Hoàng Bích, CANADA

hai-phuong

NSUT HẢI PHƯỢNG, VIỆT NAM

Sách tham khảo

  • NGUYỄN XUÂN KHOÁT : « Le Đàn bầu » in Bulletin of the International Folk Music (IFMC) , vol.12, trang 31-33, London, 1960
  • TRẦN VĂN KHÊ : “ Le đàn độc huyền” in La Musique traditionnelle vietnamienne , Presses Universitaires de France (nhà xuất bản), Annales Du Musée Guimet, trang 133-139, Paris, 1962
  • TRẦN VĂN KHÊ : « Le đàn độc huyền » in Vietnam , les -traditions musicales, Buchet/Chastel (nhà xuất bản), trang 80-83, Paris, 1967
  • HOÀNG YẾN : « La Musique à Huế : Đàn Nguyệt et Đàn Tranh », in BAVH (Bulletin des Amis du Vieux Huế), trang 233-381,Huế, juillet-septembre 1919
  • TRAN QUANG HAI : The ĐÀN ĐỘC HUYỀN – monochord (from the book MUSIC OF THE WORLD, published by J.M.FUZEAU, Courlay, France, p.298-299, 1994
  • TR Ư ƠNG THI QU ỲNH H ẠNH : “Le đ àn bâu, monocorde vietnamie), Étude organologique et ethnomusicologique” (Đàn bầu : nghiên cứu nhạc cụ và dân tộc nhạc học). Thèse de doctorat en Ethnomusicologie, soutenue le 25 novembre 2009 à l’Université de Paris IV-Sorbonne (Maison de la Recherche), Directeur de thèse: François Picard, 1 volume (299 pages), 1 DVD, 1 CD
  • (9) SUN JIN : “Nghệ thuật đàn Bầu trong giai đoạn mới tại Việt Nam”, luận án tiến sĩ âm nhạc, bảo vệ tháng 8, 2015, Học Viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam, 183 trang, Hà Nội, 2015 ( sách tham khảo tiếng Việt và Trung khá nhiều , tr.156-163)

http://www.vnam.edu.vn/NewsDetail.aspx?lang=&ItemID=891

  1. CHÍ TÂM : Chương trình TV Tiếng Tơ Đồng với Chí Tâm, “Nét độc đáo của đàn độc huyền” , Hoa Kỳ , 2011 https://www.youtube.com/watch?v=O9jt_pUOWbg
  2. HUỲNH KHẢI : Chương trình TV : Đàn Bầu tài tử 1: Tiếng độc huyền, TP HCM, 2007

https://www.youtube.com/watch?v=eeyXMaM71Os

  1. HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Cần sớm khẳng định ‘chủ quyền’ với đàn bầu, báo Thanh Niên, 13.08.2016

http://thanhnien.vn/van-hoa/can-som-khang-dinh-chu-quyen-voi-dan-bau-733339.html

https://bachyencasiblog.wordpress.com/2016/08/07/tran-quang-hai-dan-bau-cua-viet-nam-hay-trung-quoc/

  • WIKIPEDIA : ĐÀN BẦU

https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A0n_b%E1%BA%A7u

NHỮNG VIDEO CLIPS trên YOUTUBE về đàn bầu

Có rất nhiều videos về đàn bầu do những nghệ nhân tên tuổi của Việt Nam như NSND Thanh Tâm, NSND Xuân Hoạch, NSUT Hoàng Anh Tú, NSUT Hải Phượng, Trà My, Hoàng Cầm, Khắc Chí, Đức Thành, Vanessa Vân Ánh, vv…. Cũng như các nhạc phẩm dân ca, tân nhạc , nhạc cổ điển tây phương , nhạc đương đại với đàn bầu cổ và cải biên .

Muốn xem gõ vào địa chỉ sau đây :

https://www.youtube.com/results?search_query=%C4%91%C3%A0n+b%E1%BA%A7u+vi%E1%BB%87t+nam

PHẠM CÔNG LUẬN : Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương


13/10/2016 10:56 GMT+7

TTO – Giới ca nhạc Sài Gòn thuật lại rằng trước năm 1975 có hai nhạc sĩ cùng họ Huỳnh được bạn bè trong nghề yêu mến gọi là anh Hai và anh Ba. Anh Ba là nhạc sĩ Huỳnh Anh, còn anh Hai là nhạc sĩ Huỳnh Háo.

Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương 
Nhạc sĩ Huỳnh Hiếu độc tấu trống tại vũ trường Đại Nam, Sài Gòn Ảnh: Tư liệu gia đình nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu

Huỳnh Háo là tên gọi thân mật của nhạc sĩ Huỳnh Thủ Hiếu, gọi tắt là Huỳnh Hiếu. Sau khi sinh ra Huỳnh Hiếu năm 1929 tại Cần Thơ, nghệ sĩ Kim Thoa sinh liên tiếp vài người con nữa nhưng chỉ sau ba tháng mười ngày, như lời kể lại trong gia đình, những đứa em của Huỳnh Hiếu đều mất. Ông bà Tư Chơi – Kim Thoa tìm mọi cách để giữ con.

Lúc thì làm lễ cúng gửi con cho thầy pháp, lúc thì cải sang đạo Thiên Chúa… đều không giữ được đứa nào. Đến khi sinh cô con gái út, bà Kim Thoa phải đổi con từ họ Huỳnh của cha sang họ Phạm của mẹ thì mới sống. Cô là Phạm Thị Mỹ Ngọc, tự Marie. Tuy nhiên, việc đổi họ này đã nảy sinh mâu thuẫn giữa hai vợ chồng. Phải chăng ông Tư Chơi liên tưởng đến việc đổi họ của cô con gái đầu của ông với bà Phùng Há?

Do sinh trong gia đình nghệ sĩ nên từ nhỏ Huỳnh Hiếu đã có năng khiếu về âm nhạc, được tự do theo đuổi chí hướng của mình. Suốt thời tuổi nhỏ và mới lớn, Huỳnh Hiếu học âm nhạc với các nhạc sĩ Philippines trong ban nhạc của đoàn Kim Thoa. Họ lành nghề, đàn hay hát giỏi, năng khiếu âm nhạc rất mạnh. Nhờ có họ trong đoàn, năm 8 tuổi, Huỳnh Hiếu bắt đầu học ký âm pháp và đàn banjo với nhạc sĩ Bénito Cruz.

Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương 
Ban nhạc Music Makers của Huỳnh Hiếu thường chơi tại các vũ trường Crystal Palace, Vân Cảnh năm 1972. Từ trái sang phải: Vương Minh, trống; Trần Vĩnh, saxo alto – được xem là thổi saxo hay nhất thời đó Ảnh: Tư liệu gia đình nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu

Từ Nam Vang 
đến Sài Gòn

Năm 1945, lúc 16 tuổi, Huỳnh Hiếu theo đoàn Kim Thoa của cha mẹ lên Nam Vang lưu diễn. Đợt diễn này không gặp thuận lợi, đoàn không có tiền trả lương cho đào kép, nhân viên và không có tiền về nước. Đang khó khăn thì gặp may mắn, có một người phụ nữ giàu có người Việt có chồng làm nhà Đoan đồng ý bao giàn trong một tuần (sau này Huỳnh Hiếu trở thành con rể của bà).

Một điều may nữa là trong tuần lễ đó, Huỳnh Hiếu gặp lại thầy cũ trước kia đã truyền giao bí quyết môn đánh trống cho ông là nhạc sĩ Ringo – tay trống số 1 của Sài Gòn thập niên 1940. Ông ta đề nghị Huỳnh Hiếu ở lại thay chỗ của ông ở vũ trường tại Nam Vang, nếu nhận lời thì tiền hợp đồng sẽ đủ trang trải cho đoàn về nước.

Huỳnh Hiếu đồng ý ở lại biểu diễn, trả nợ cho cha mẹ, đồng thời rèn tay nghề cùng các nhạc sĩ ngoại quốc bên đó. Đoàn Kim Thoa trở về Sài Gòn và rã gánh luôn do chiến cuộc. Huỳnh Hiếu ở lại Nam Vang hai năm, vừa biểu diễn vừa học hòa âm với nhạc sĩ Nick Abelardo – 
người Pháp gốc Nam Mỹ.

Năm 1946, sau một năm ở lại Nam Vang, Huỳnh Hiếu tham gia cuộc thi đánh trống dành cho các tay trống Đông Dương trong một cuộc đấu xảo tổ chức ở thành phố này. Lúc đó, một người thầy dạy ông đánh trống là Ramola cũng dự thi và cuối cùng Huỳnh Hiếu đoạt danh hiệu “Tay trống đệ nhất Đông Dương”. Tuy được giải, ông không vui vì sợ thầy mình buồn và không bao giờ nhắc đến giải thưởng đó nữa.

Năm 1948, ông trở về Sài Gòn tham gia ban nhạc Nguyễn Văn Dung ở vũ trường Kim Sơn. Từ đó là thời gian hoạt động sôi nổi của Huỳnh Hiếu. Ông được các ban nhạc tranh nhau mời hợp tác biểu diễn. Ông tiếp tục tham gia các ban nhạc: ban nhạc Pháp George de Bruyne ở vũ trường Palis de Jade tại Sài Gòn do nhạc trưởng Larry Czifra, người Hungary điều khiển.

Ông còn được mời sang Bangkok năm 1955 để chơi trong ban nhạc George Meritan. Từ năm 1956, ông thành lập ban nhạc riêng chơi ở các vũ trường Tour D’Ivoire và Tabarin tại Sài Gòn. Ông cũng là tay trống của ban nhạc Lê Văn Thiện ở vũ trường Đại Nam.

Nghệ sĩ đa tài

Huỳnh Hiếu luôn được ca ngợi trong giới biểu diễn ca nhạc trước năm 1975 ở Sài Gòn. Trên báo Kịch Ảnh số 458 ấn hành trước năm 1975, nhạc sĩ Tùng Giang, cũng là một tay trống, nhận xét: “…Hiện anh là một tay trống thần sầu thuộc hàng sư tổ của những tay trống trẻ ngày nay (điều này không ngoa vì chính những tay trống học trò đầu tiên của anh đã là những người đào tạo ra nhiều tay trống xuất sắc cho giới trẻ…)”.

Hữu Thạnh nhớ lại cha anh kể rằng thời Tây, ông chủ xếp lương cho nhạc công tới 8 bậc khác nhau, trong đó nhạc công người Việt đứng hàng thứ 6, nhạc trưởng người Việt thứ 5, nhạc công người Phi thứ 4, nhạc trưởng người Phi thứ 3, nhạc công người Pháp thứ 2 và nhạc trưởng người Pháp thứ 1. Huỳnh Hiếu là người Việt nhưng mức lương là bậc 1, ngang với nhạc trưởng người Pháp.

Để được như vậy, Huỳnh Hiếu vừa say nghề vừa ham học. Ông luôn tìm tòi học hỏi chuyên môn của mình, thường nghe đĩa nhạc nước ngoài để tìm hiểu về kỹ thuật đánh trống của những tài danh về trống trên thế giới, trong đó có hai tay trống ông ngưỡng mộ là Buddy Rich và Shelly Mane. Ông còn sử dụng được đàn guitar, piano và đàn bandonéon (một loại phong cầm sử dụng nút bấm, không xài phím piano).

Ông khiến mọi người ngạc nhiên vì chỉ học trong một tuần đã có thể chơi được bandonéon vốn được xem là khó sử dụng. Ông còn thích hòa âm, sáng tác. Năm 1949, khi mới 20 tuổi, ông đã lập một ban nhạc 10 người lấy tên là ban ABC trình diễn tại rạp Nguyễn Văn Hảo chơi các bản nhạc tự hòa âm. Ông còn sáng tác nhiều ca khúc từng được trình bày trên đài phát thanh và sân khấu ca nhạc như Nhớ người phương xa, Tiếng đàn trong gió đông, Vì ai, Hương quê… Giọng hát của ông là giọng nam kim nhẹ (Ténor Léger) thường trình bày nhạc ngoại quốc.

Sau khi chia tay người vợ đầu là mẹ của nhạc sĩ Huỳnh Hữu Thạnh, Huỳnh Hiếu đi bước nữa với người vợ gốc Hoa, sống cuộc đời an bình cho tới khi mất năm 1994. Người vợ này cũng giúp lo an táng cha ông, nghệ sĩ Tư Chơi năm 1964.

Về người cha thân thương đã mất năm 1994, hình ảnh Hữu Thạnh nhớ mãi là một buổi tối năm 1962, ông Huỳnh Hiếu đi biểu diễn ở khu giải trí Đại Thế Giới về. Lúc đó, mẹ của Hữu Thạnh đã ra đi và ông đang cảnh gà trống nuôi con.

Ông mở cái cặp, từ trong đó có những con dế than, dế lửa bò ra. Sau buổi diễn, ông đã đi lòng vòng khu Đại Thế Giới để bắt dế cho đứa con trai bé nhỏ chơi. Lớn lên, Hữu Thạnh sớm lập gia đình, ra ở riêng. Nhớ một buổi sáng, anh ngủ say vì đêm trước diễn khuya và giật mình tỉnh dậy khi thấy cha đứng lù lù trước mặt đang nhìn mình. Anh hỏi: “Ủa, cha đi đâu vậy?”.

Ông mỉm cười: “Cha thấy nhớ con nên ghé qua thăm, thấy con đang ngủ nên nhìn vậy thôi!”. Thiếu vắng tình yêu thương gần gũi của song thân, Huỳnh Hiếu dồn hết tình thương cho đứa con trai duy nhất.

Hữu Thạnh tự hào về họ, dù sao họ đã sống trọn vẹn đời nghệ sĩ, tận tình với nghệ thuật và cũng đã biết yêu thương hết mình. Họ đã là những ngôi sao thật sự trong lòng của anh.

Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương 
Hai cha con nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu (Huỳnh Háo) và Huỳnh Hữu Thạnh trước một buổi diễn năm 1990 – Ảnh: Tư liệu gia đình nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu

Tự hào và xót xa

Nhớ lại hai người thân là ông nội, soạn giả Huỳnh Thủ Trung – Tư Chơi, và cha, nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu – Huỳnh Háo, anh Huỳnh Hữu Thạnh có nhiều cảm xúc lẫn lộn. Anh vừa tự hào, vừa xót xa cho người ông tài hoa nhưng cuộc đời nhiều lúc điên đảo, lận đận.

Ông Huỳnh Hiếu thường kể con nghe về ông nội, dù thích uống rượu, khi tỉnh táo làm việc rất nghiêm túc, sức sáng tác mạnh mẽ, số tuồng viết ra rất nhiều. Khi điều hành đoàn Kim Thoa, ông dành thời gian trao đổi việc với nhân viên hằng ngày, yêu cầu nhân viên mang giày bata, đồng phục khi làm việc… là điều lạ đối với thời mà nhiều người còn quen đi chân đất.

Bình Luận

XUÂN LỘC : Nỗ lực thực hiện di nguyện thầy Khê


08/09/2015 22:53

Tối 7-9, trong không khí mùa khai giảng năm học mới, Trường THPT Ernst Thälmann, quận 1, TP HCM đã tổ chức chương trình “Đưa đờn ca tài tử (ĐCTT) vào học đường” do ThS Huỳnh Khải và CLB ĐCTT Trung tâm Văn hóa TP HCM thực hiện.

ThS Huỳnh Khải cho biết: “Hiện nay, vẫn chưa có kế hoạch cụ thể trong việc đưa ĐCTT Nam Bộ vào giáo trình giảng dạy theo mục tiêu phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, thế nên hầu hết các nhóm, các CLB đều tự phát trong việc đưa ĐCTT Nam Bộ vào sinh hoạt tại các trường, thực hiện di nguyện của cố GS-TS Trần Văn Khê. Và Trường THPT Ernst Thälmann đã tiên phong trong việc đưa âm nhạc truyền thống dân tộc Việt Nam nói chung và ĐCTT Nam Bộ nói riêng vào học đường trong năm học mới, giúp các em hiểu hơn về bộ môn nghệ thuật này và trả lời được câu hỏi vì sao thế giới vinh danh, công nhận ĐCTT Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.

Các nghệ nhân đờn và ca biểu diễn tại Trường THPT Ernst Thälmann, quận 1, TP HCM Ảnh: Minh Trung
Các nghệ nhân đờn và ca biểu diễn tại Trường THPT Ernst Thälmann, quận 1, TP HCM Ảnh: Minh Trung

Không dừng lại ở đó, nhóm Huỳnh Khải – nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng – nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan tiếp tục đưa âm nhạc dân tộc và ĐCTT vào sinh hoạt tại các trường ở địa bàn quận 1, 3 và Gò Vấp. ThS Huỳnh Khải cho biết Trung tâm Văn hóa quận 1 sẽ đồng hành với họ tổ chức chuyên đề giới thiệu về nhạc cụ dân tộc, về bài bản ĐCTT cho học sinh tiểu học, trung học. Nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan vui mừng cho biết: “Sở Văn hóa và Thể thao TP đã ấn hành quyển sách giới thiệu bài bản ĐCTT Nam Bộ viết lời mới, phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi: “Long hổ hội”, “Tam pháp nhập môn”, “Long ngâm”, “Vạn giá”… rất dễ hát, dễ phổ biến, đi vào đời sống”.

Ông Nguyễn Văn Minh – Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP – cho biết CD những bài bản mẫu ĐCTT Nam Bộ đã được ấn hành, sắp tới sẽ phát cho các trường tiểu học, trung học để phát thanh trong giờ ra chơi, cho các em nghe và làm quen với những thể điệu vui nhộn, phù hợp với lứa tuổi của các em.

“Lời các bài bản mới dành cho các em phần lớn là ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước, sự hiếu thảo với cha mẹ, với thầy cô. Để nhân rộng hiệu quả của dự án này, rất cần sự chung sức của đội ngũ nghệ nhân ca, nghệ nhân đờn của TP HCM để đưa ĐCTT Nam Bộ và nghệ thuật cải lương vào học đường” – nghệ sĩ Kim Cương nói.

Thời gian qua, nghệ sĩ Kim Cương đã cùng với CLB Sân khấu Lạc Long Quân, đội ĐCTT Nam Bộ của nghệ sĩ Út Bạch Lan, Mỹ Chi, Kiều Phượng Loan… đưa các chương trình này đến với khán giả thiếu nhi, học sinh. Thầy Minh Trung, Trường THPT Ernst Thälmann, cho biết: “Nhà trường không quên định hướng giáo dục âm nhạc dân tộc, trong đó có ĐCTT Nam Bộ, để các em hiểu và trân quý những giá trị văn hóa của dân tộc được thế giới công nhận là di sản văn hóa của nhân loại. Đây cũng là cách thực hiện di nguyện tốt đẹp của cố GS-TS Trần Văn Khê tiếp tục truyền thụ âm nhạc dân tộc đến giới trẻ”.

Xuân Lộc

NAM KHÁNH : NS VĂN HƯỜNG HỘI NGỘ NSND LỆ THỦY


NS VĂN HƯỜNG HỘI NGỘ NSND LỆ THỦY

Thứ hai – 05/09/2016 19:27

NS VĂN HƯỜNG HỘI NGỘ NSND LỆ THỦYNS VĂN HƯỜNG HỘI NGỘ NSND LỆ THỦY

(CLVN.VN) – Cách đây ít lâu, Bảo tàng sáp Việt đã mời NSND Lệ Thủy, NS Văn Hường đến đo tượng sáp. Cả hai nghệ sĩ đã có dịp hội ngộ sau nhiều năm xa cách. Trước đó trong đợt đặc cách phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân cho một số nghệ sĩ có nhiều đóng góp cho nền văn học nghệ thuật, đại diện vài ban ngành của TP HCM đến nhà đề nghị đưa tên “vua vọng cổ hài” Văn Hường vào danh sách, ông cảm ơn và vui vẻ từ chối với câu nói bất hủ: “Tôi đã đi cắm câu lâu rồi”.

NSND Lệ Thủy nói: “Từ ngày ông xuôi về quê  cũ “cắm câu” đã ngót nghét 15 năm, nhiều nghệ sĩ mất liên lạc, tưởng ông định cư nước ngoài. Khi biết tin ông vẫn ở quận 9, nhiều bạn trong đàn ca tài tử đã đến viếng thăm. Gần như tháng nào ông cũng được các nghệ sĩ cải lương nổi tiếng ghé thăm, từ các đồng nghiệp cao niên đến thế hệ cùng thời, hậu bối. Tôi có nhiều kỷ niệm với anh sáu Văn Hường, khi mà chúng tôi còn trẻ, mới vào đoàn Kim Chung, tôi đóng vai Tố Tâm, còn anh đóng vai Tiểu Đồng đi theo hầu Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài. Có thể nói, việc đúc bức tượng sáp của  NS Văn Hường là một việc làm ý nghĩa, vì bài ca vọng cổ hài qua chất vọng của NS Văn Hường là bút pháp tài hoa của NSND Viễn Châu đã dung nạp đủ tinh chất hỉ, hộ, ái, ố. Quá trình nghiên cứu trong cách ca đã giúp NS Văn Hường định vị bài vọng cổ hài và thầy tôi – NSND Viễn Châu đã trải qua ba công đoạn để sáng tác bài vọng cổ hài, đó là sáng tác mang yếu tố hài, giọng ca để hiện chất hài và và nhạc cổ đệm phải biết nhấn nhá chữ đờn hài. Ráp 3 công đoạn này lại sẽ có một trường phái. Thời đó, nhật báo Tiếng Dội nhận xét: “Đệ nhất thập lục huyền cầm Bảy Bá đã khai sáng trường phái vọng cổ hài qua việc phát hiện nghệ sĩ Văn Hường”.

Xuôi về lại quê cũ ở Thủ Đức (nay là quận 9) để an dưỡng tuổi già sau gần nửa thế kỷ đi diễn NS Văn Hường quan niệm rằng danh hiệu chỉ thực sự ý nghĩa khi mình còn đứng trên sân khấu, giải nghệ rồi thì không nên nhận làm gì.

Ông đã tâm sự, thời của tôi là thời của những danh ca Út Trà Ôn, Thành Được, Hữu Phước, Minh Cảnh… Tôi mê cải lương nhưng biết mình không có khả năng đóng kép mùi nên chọn theo hướng hề. Thành công của tôi có một phần đóng góp rất lớn của soạn giả Viễn Châu. Ông chỉ cần nghe qua giọng ca của một người là nắm được sở trường của người đó. Từ đó ông viết theo kiểu “đo ni đóng giày”, chỉ cần vài bài ca đã có thể lăng – xê một giọng ca, một tên tuổi trở thành nổi tiếng. Riêng với sự nổi tiếng của tôi, tài năng riêng cùng với nội dung bài vọng cổ, và tấm lòng người viết bài vọng cổ là những cái không thể tách rời”.

NS Văn Hường đã thu âm khoảng 230 bài ca do NSND Viễn Châu soạn, hát thêm khoảng 200 bài của soạn giả khác, mà hơn một nửa trong số này thuộc diện nổi tiếng, được thu đĩa nhựa nhiều lần. Ông tên thật là Nguyễn Văn Hường, sinh năm 1932 (giấy tờ ghi 1934) tại Mỹ Thành, Long Thạnh Mỹ, Thủ Đức (nay thuộc quận 9, TP. HCM) trong một gia đình nông dân, không ai theo nghệ thuật cải lương, ca cổ… Khoảng 15 tuổi, Văn Hường lên Sài Gònbán hạt dưa ở rạp cải lương nổi tiếng thời bấy giờ là Nguyễn Văn Hảo (nay là Nhà hát Kịch TP.HCM, 30 Trần Hưng Đạo, quận 1) suốt ngày nghe loa mà hát theo ca cổ. Tại đây, ông được mời về quán Lệ Liểu – Thị Nghè biểu diễn, rồi ông bầu Bảy Cao (gánh hát Hoa Sen) qua đây chơi nghe thấy mà kết rơ; rồi soạn giả NSND Viễn Châu đoán được tài mà “đo ni”, chỉ vài năm sau, Văn Hường đã thành vua vọng cổ hề, dù không đẹp trai, miệng móm, thiếu chiều cao.

NS Văn Hường có chất giọng đặc trưng, đặc biệt là âm “ự” và cách phát âm chữ “r”, Văn Hường đã khai phóng một lối ca riêng, không những để lại nhiều dấu ấn trong lòng người xem, mà còn ảnh hưởng đến nhiều nghệ sĩ khác. Soạn giả Nguyễn Phượng từng nhận định: “Văn Hường biết sáng tạo, khai thác thêm ở giọng ca và cách ca cho khác lạ và phù hợp với vọng cổ hài. Đó là cách luyến láy, nhấn nhá và kéo dài  phụ âm “r”, hoặc lên giọng thật cao ở những chữa mang dấu sắc, dấu hỏi, đặc biệt vô vọng cổ với chữ ự…ự… ự… lên xuống trước khi xuống hò, hoặc chữ ư… ư… khi dứt câu 2, nghe rất độc đáo, mang nhãn hiệu riêng biệt của Văn Hường mà nghệ sĩ khác khó bắt chước theo”.

Hồi sinh nhật 78 tuổi, Văn Hường chia sẻ: “Đã qua tuổi cổ lai hy, còn có người nhớ, người mến, đêm đêm còn đứng phục vụ theo yêu cầu của dân mộ điệu trên sân khấu quán nhà, đó là niềm vui, niềm hạnh phúc lớn lao nhất của nghệ sĩ về chiều như tui. Còn “ự” được tui cứ “ự”, cho đến khi nào “ợ” thì… nghỉ!”.

Văn Hường tâm sự đời ông đời ông lên xe xuống ngựa, từ tay ngang thành nghệ sĩ, rồi làm bầu gánh hát này kia, tuổi già không còn tiền, nhưng kể ra cũng không quá bi đát. Vì ông được lui về quê cũ, sống trên mảnh đất chừng 200m2, tuy nhỏ hẹp hơn xưa nhiều lần, nhưng vẫn là nhà của mình. Vì ông còn vợ hiền, người đã nhẫn nại, chịu đựng đợi chồng “lá rụng về cội”. vì ông còn nhiều con cháu, đứa ở xa đứa ở gần, “nhìn tụi nó biết mình còn tương lai”. Vì ông còn có sự ngưỡng mộ của khán giả, sự nể trọng của đồng nghiệp, và căn bản nhất, vẫn còn yêu đời. “Nếu trở lại từ đầu để sống cuộc đời này một lần nữa, tôi vẫn làm hề, vẫn muốn đem niềm vui đến với mọi người”.

Hiện ông sống với người vợ đầu cùng 5 con và các cháu. Trong gia đình chỉ có con trai Thanh Tùng là theo nhạc, chơi organ, vợ anh này là NS Thanh Trúc, HCV Giọng ca cải lương của Đài Truyền hình Bình Dương, nhưng không theo đoàn chuyên nghiệp. 

Nhiều nơi vẫn gọi ông đi diễn, đi thi âm, ví dụ Vầng trăng cổ nhạc, nhưng ông một mực từ chối, vì sợ mình lớn tuổi, già và xấu rồi, lên sân khấu lại phụ lòng người mộ điệu lâu nay. “Nay được đúc bức tượng sáp tôi vui lắm, cảm ơn ba nghệ nhân và bảo tàng này, đã cho tôi niềm vinh dự”.

Theo: Bạch Cúc

Nguồn tin: Nam Khánh – Báo sân khấu

http://sankhaucailuong.com/news/Hoat-dong/NS-VAN-HUONG-HOI-NGO-NSND-LE-THUY-9964/