Category Archives: BÀI CHÒI BÌNH ĐỊNH

HOÀI VĂN : Bài chòi xứng đáng là di sản thế giới


Học giả quốc tế:

Bài chòi xứng đáng là di sản thế giới

TP – Hội thảo quốc tế Nghệ thuật bài chòi dân gian Việt Nam và những hình thức nghệ thuật tương đồng trên thế giới, tổ chức tại TP Quy Nhơn (Bình Định) hai ngày 13 và 14/1 thu hút nhiều học giả Đức, Pháp, Thụy Điển, Hàn Quốc, Lào. Nhiều ý kiến đóng góp quan trọng đối với việc đệ trình UNESCO công nhận Bài chòi cổ Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Trích đoạn bài chòi cổ “Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga”. Trích đoạn bài chòi cổ “Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga”.

Theo GS.TS Yves Defrance (Pháp), Bài chòi là một ví dụ hay về sự sáng tạo dân gian và sự đa dạng văn hóa trong những loại hình nghệ thuật trình diễn truyền thống Việt Nam. Đây là một dạng kịch được trình diễn trong thời gian đặc biệt của năm mà có thể là kết quả của một tín ngưỡng cổ. Bài chòi dựa trên lời ca văn học và những mô hình giai điệu độc đáo. Nhiều câu chuyện và đường nét cao độ giai điệu được sử dụng lại; cùng một vở nhưng không bao giờ diễn giống nhau, như không bao giờ chúng ta lặp lại hai lần trên một dòng chảy.

Bài chòi có những điểm chung với nghệ thuật truyền thống Aassiklik của những người hát thơ cổ Thổ Nhĩ Kỳ, những người di cư từ cộng đồng này đến cộng đồng khác. Sự thực về tính độc diễn trong Bài chòi có điểm chung với vài loại hình truyền thống châu Á có nguồn gốc từ một loại hình chơi bài giải trí. “Bài chòi xứng đáng để chúng ta ủng hộ, ghi danh văn hóa phi vật thể nhân loại của UNESCO” – GS Yves Defrance khẳng định.

GS.TS Trần Quang Hải (Pháp) phân tích ở góc độ nguồn gốc, hình thành, đặc trưng trong nhạc ngữ, tiết tấu, thi ca trong hát bài chòi miền Trung Việt Nam. Ông nhận định: Sự hồi sinh của Bài chòi khởi phát từ năm 2010. Hội An đã tổ chức nhiều buổi chơi Bài chòi lôi cuốn du khách ngoại quốc hàng tuần. Liên hoan Bài chòi 2012 và 2013 cũng gây tiếng vang lớn. “Quan trọng nhất là nhu cầu đánh thức sự quan tâm, chú ý của cộng đồng trong việc gìn giữ và bảo tồn vốn cổ. Đồng thời phải tìm hiểu những vùng có hát Bài chòi để xem hiện trạng bộ môn này có được phát huy hay đã mai một, từ đó đưa chương trình phục hồi Bài chòi cổ. Đây là nhiệm vụ khẩn thiết để Bài chòi xứng đáng ghi danh di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Theo TS Nguyễn Bình Định, Bài chòi là trò diễn xướng dân gian rất thịnh hành ở 9 tỉnh thành miền Trung (Quảng Bình đến Khánh Hòa) trong đó có sự kết hợp của văn học, thi ca, sân khấu, âm nhạc, hội họa, ngôn ngữ; là loại hình vừa mang tính trình diễn vừa mang tính thực hành xã hội. “Cái hay của nó là ở chỗ kể chuyện nhưng không giống lối kể thông thường mà có tác động phụ họa, có nhạc cụ phụ họa; diễn trích đoạn sân khấu nhưng không như tuồng hoặc hát bội vì không có sân khấu, không có phông cảnh, không dùng y phục biểu diễn chuyên nghiệp mà chỉ quần áo thông thường”. Bài chòi còn độc đáo với nghệ thuật độc diễn.

http://www.tienphong.vn/van-nghe/bai-choi-xung-dang-la-di-san-the-gioi-810636.tpo

NGUYỄN THỊ MINH CHÂU : RỦ NHAU ĐẾN VỚI BÀI CHÒI


Rủ nhau đến với Bài chòi

Nguyễn Thị Minh Châu

Rủ nhau đi đánh Bài chòi
Để cho con khóc đến lòi rún ra.

Đánh Bài chòi có gì vui mà người chơi say đến thế?
Chơi Bài chòi có gì thích khiến người xem ham đến vậy?
Xem Bài chòi có gì hay mà người xưa nắc nỏm đến cả trong câu ca dao?
Sức hấp dẫn ấy do đâu mà có và nay có còn lôi cuốn đến thế không?

Câu ca dao “Rủ nhau đi đánh Bài chòi” được nhắc tới trong bốn – năm tham luận không chỉ của tác giả Việt Nam mà cả ngoại quốc nữa. Và đây, họ đã “rủ nhau” đến thành phố biển Quy Nhơn trong những ngày đầy nắng gió đầu năm 2015 để tìm kiếm câu trả lời cho sức sống của thể loại diễn xướng dân gian này.

“Họ” ở đây là nhiều thành phần khác nhau: giới nghiên cứu âm nhạc cổ truyền trong nước và nước ngoài, các nhà sưu tầm đã nhiều năm lăn lộn với nghệ thuật dân dã này, những nghệ nhân “con nhà nòi” hát Bài chòi gia truyền đến mấy đời… Trong số đó cũng có người từng là nhạc công đoàn ca kịch Bài chòi, là tác giả những vở “Bài chòi mới” trên sân khấu chuyên nghiệp (mà dân trong nghề đã gán cho cái tên “Bài chòi quốc doanh”). Ngoài ra không thể thiếu vắng các nhà quản lý văn hóa nghệ thuật trung ương và các địa phương sở hữu Bài chòi, cũng như giới truyền thông với tinh thần quảng bá một sự kiện quốc gia mang ý nghĩa quốc tế.

Tìm hiểu sức hấp dẫn của Bài chòi, trước hết phải trở về với nguồn gốc của nó.

Ở đây cũng giống như ở nhiều thể loại nhạc dân gian khác, có những câu chuyện mà ta chỉ nghe kể lại từ đời trước sang đời sau mang đậm tính truyền thuyết hư cấu, chứ không được lưu bằng giấy trắng mực đen trong sử sách. Những tài liệu về Bài chòi xuất bản sớm nhất là vào đầu thế kỷ XX và của người Pháp, rồi được trích dẫn lại trong nhiều bài viết sau này của người Việt. Có điều là các chú thích nguồn không hoàn toàn thống nhất, ngay trong các văn bản Hội thảo này có chỗ chú dẫn Bài chòi được miêu tả trong một chương có tiêu đề Bài hát phổ thông của người An Nam (La chanson populaire de L’Annam) của tác giả Pháp gốc Ba Lan G.L.Bouvier trong cuốn La Rousse Musicale (Paris, 1928) 2; còn những chỗ khác lại được hiểu Bài chòi có mặt trong hai cuốn sách khác nhau: Hát Bài chòi (Voici quelques pièces Hat Bai Choi tirées du Phong trao Can Vương) của G.L.Bouvier (1902) và La Rousse Musicale với phần miêu tả của hai nhà nghiên cứu Pháp P.Huard và M.Durand (Paris, 1928) 3. Sự thiếu nhất quán dù nhỏ nhặt thôi cũng đưa ra một lời nhắc nhở những ai dẫn lại mấy thông tin đó cần kịp thời rà soát lại nguồn cho chuẩn xác.

Dựa vào các cứ liệu văn bản của Pháp nói trên , đa số tham luận khẳng định Bài chòi được hình thành và phát triển sau năm 1470 trong hành trình di dân mở cõi về phía Nam. Từ đây có một cái mốc: Bài chòi Bình Định ra đời vào giữa thế kỷ XV, cách đây chừng trên 5 thế kỳ. Còn Bài chòi Quảng Nam – Đà Nẵng, theo trí nhớ của các cụ nghệ nhân, xuất hiện gần 200 năm trước.

Cũng lại được biết sự hình thành và phát triển Bài chòi luôn gắn với tên tuổi danh nhân Đào Duy Từ (1571-1634), một quan viên gốc Thanh Hóa rời nhà Lê theo chúa Nguyễn vào Nam dựng nghiệp ở Bình Định. Tương truyền, ông là người đầu tiên nghĩ ra cách chơi Bài chòi. Ông cũng được coi là người đặt nền móng cho hát Bội. Có giả thiết cho rằng Bài chòi là người em sinh sau đẻ muộn của hát Bội và từ đây lại suy ra Bài chòi xuất hiện khoảng cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII chứ không thể sớm hơn.

Chốt lại, Bài chòi khởi nguồn lúc nào? Từ một vài giả thuyết khác nhau chưa thể đi đến một câu trả lời thống nhất và xác thực. Ngay cả “thuyết tương truyền” được nhiều người dẫn giải là ông tổ Đào Duy Từ dạy cho dân chơi Bài chòi cũng “chỉ là phỏng đoán, thiếu chứng cứ thuyết phục” 4. Vậy nên rất đúng mực và xác đáng nếu ghi nhận ý kiến đề xuất cho tổng kết Hội thảo này là: giữ nguyên “câu hỏi treo” về thời điểm ra đời của Bài chòi 5.

Nếu như dữ liệu thời gian “có từ bao giờ” chưa được xác minh rõ ràng và cụ thể, thì vấn đề không gian địa lý “khởi nguồn từ đâu” được xem xét qua những chi tiết cụ thể hơn. Ngay từ cái nghĩa nôm na của tên gọi đã có gì đó dễ liên hệ tới không gian khởi nguồn.

“Chòi” là nơi trông coi đồng ruộng, nương rẫy và tạm nghỉ sau ngày làm lụng vất vả. Để giải khuây, những người canh chòi bày ra trò “hát ống” (căng dây nối hai ống tre bịt một đầu bằng da ếch tựa như cái loa) để trò chuyện tâm tình giữa các chòi, hoặc tụ tập trong vài chòi cùng đối đáp hát xướng qua các câu ca dao, cùng tức hứng đặt hò, thả thơ, làm vè, đố vui… Do vậy mà Bài chòi được coi là sản phẩm “sinh ra trong quá trình lao động sản xuất và phát triển thông qua các loại hình âm nhạc trong dân gian của người dân”6 .

Còn từ “bài” hẳn có sự liên quan tới chơi bài, đánh bài, ván bài, bộ bài, con bài, quân bài, lá bài, thẻ bài, chia bài, chạy bài, hô bài (hô thai)… Đây là lúc mô hình giải trí ở các chòi canh rẫy được chuyển thành hội đánh bài chơi xuân vào dịp tết Nguyên đán (từ 30 tháng chạp cho đến rằm tháng giêng âm lịch). Hoàn toàn không giống những canh bạc đỏ đen sát phạt thắng thua ăn tiền, đánh Bài chòi là một cuộc diễn xướng dân gian hội hè, là hình thức thử vận hên xui, là trò chơi đố chữ có thưởng, xin lộc cầu may đầu năm.

Về thời gian tổ chức (dịp tết) và cách thức chơi (khách mua thẻ rồi ngồi hóng tên con bài được xướng lên và trống mõ khua vang khi có người trúng bài…) cho thấy khá nhiều điểm trùng hợp giữa hội Bài chòi với hội Tổ tôm điếm. Từ đó sinh ra giả thiết: mô hình trò chơi dân gian Tổ tôm điếm rất lâu đời của đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ đã theo chân người mở cõi di dần về phía Nam, để rồi sau đó “tạo thành các lối chơi Bài chòi có phong cách khác nhau ở chín tỉnh Trung bộ Việt Nam”7 .

Cái gốc Bắc còn được suy luận từ truyền thuyết về nhị vị thánh tổ Bài chòi là hai hoàng tử nhà Trần của đất Thăng Long, mà theo lời nghệ nhân thì trước khi đi hát Bài chòi nhất định phải thắp hương khấn bái hai vị nam thần này. Biết đâu “nhị vị thánh tổ này có mối liên hệ dây mơ rễ má nào đó với nhị vị thánh tổ của ngành Ả Đào ở Thăng Long cách nay hơn 1000 năm” ?8

Nhân nói đến tổ nghề, lại có nơi lưu truyền câu chuyện về tam vị thái tử đời Trần trốn khỏi cung đình đi theo gánh hát, rồi hai người em chết đói, còn người anh đi ăn mày. Gánh Bài chòi đã tôn ba vị khán giả chung tình đó làm tổ nghề và lập khánh thờ tự. Mối quan hệ nặng tình nặng nghĩa giữa người diễn với người xem càng chứng tỏ tính bình dân và tinh thần hòa nhập cộng đồng của các gánh Bài chòi. Trong cái đạo làm người “uống nước nhớ nguồn”, Bài chòi đã tôn vinh khán giả, đề cao “đối tượng phục vụ, đối tượng nuôi dưỡng sự sống và kích thích sáng tạo của người nghệ sĩ” 9.

Trở lại với bộ bài, nơi có thể mách bảo thêm những dấu vết bắt rễ xa hơn nữa về phương Bắc. Một số nét tương đồng giữa thẻ Bài chòi, bài Tới, bài Tổ tam được kê ra để thấy “hình vẽ trên những lá Bài chòi, bài Tới, bài Tam cúc có phỏng theo bộ bài Diệp tử mã điếu và bài Toàn đối xuất hiện thời Đường ở Trung Quốc” 10. Cũng như thế, hình họa quân bài của Bài chòi và bài Tới được cho là có “mối quan hệ rất rõ ràng và trực tiếp” với bài Đông Quan của Trung Quốc 11. Đây cũng được xem như một gợi mở cho việc tiếp tục khảo cứu sâu xa hơn về cội rễ của Bài chòi.

Bộ bài – cụ thể là bài Tới vốn có từ trước đó đã được sử dụng trong Bài chòi – trở thành một đầu mối để lần ra nơi xuất xứ Bài chòi. Từ nhiều cuộc dò tìm tới các cơ sở sản xuất bộ bài, từ quá trình đối chiếu bài Tới của Thừa Thiên – Huế với các bộ thẻ Bài chòi ở các tỉnh Trung bộ, một nhận định ban đầu được đưa ra: “Nơi phát tích của lối chơi Bài chòi phải là đất Thuận Hóa” 12.

Bộ bài cung cấp những điểm giống nhau của Bài chòi với các trò chơi bài dân gian khác, mặt khác nó lại khẳng định tính khác biệt trong lối chơi của riêng miền Trung. Với hình vẽ vừa cách điệu vừa tả thực, với tên gọi hầu hết bằng chữ Nôm hoặc ghép Nôm với Hán, bộ bài được coi là sản phẩm của sự tiếp thu có chọn lọc theo tinh thần độc lập của người Việt. Mỗi địa phương lại điều chỉnh hình vẽ hoặc tên gọi lá bài theo sở thích. Cứ như thế theo dòng chảy xuôi vào Đàng Trong, không chỉ bộ bài, mà cả môi trường diễn xướng, tiêu chí cuộc chơi, hình thức trình tấu, lời lẽ hô thai, cho đến nhạc hát và nhạc đàn đã được gom góp dần từ cái riêng mỗi địa phương thành nét đặc thù của trò chơi dân gian này. Cao trào dòng chảy ấy được khẳng định là đất Bình Định. Là “một trong những kiểu thức đặc trưng của văn hóa dân gian Bình Định” 13, Bài chòi từ cái nôi Bình Định lại lan tỏa tiếp vào phía Nam Trung bộ (Phú Yên, Khánh Hòa), đồng thời sức hấp dẫn của nó cũng dội ngược trở ra Bắc Trung bộ (Quảng Ngãi, Quảng Nam – Đà Nẵng…).

Lý giải cho sức sống của Bài chòi cũng chính là nhận diện giá trị của nghệ thuật dân gian này. Những yếu tố tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ trước hết phải kể đến tính cộng đồng, chất dân dã và sự giản đơn của luật chơi. Tính tập thể, sự kết nối giao lưu giữa những người dân quê bình dị là “cách thức tập hợp công chúng rất thông minh của trò chơi dân gian Bài chòi mà chúng ta cần tham khảo” 14:

Đây, một không gian mở, “không ẩn dụ sau cánh cửa của các nhà quyền quý, cao sang mà cho tất cả mọi người cùng tham gia” 15, một không khí hội hè hồ hởi vui nhộn, một thời điểm đón xuân ai ai cũng dễ mở lòng háo hức trông đợi điềm tốt lành.

Đây, một cơ hội lấy may bằng những thẻ bài mang tên gọi kỳ dị ngộ nghĩnh với đầu Hán đuôi Việt: nhất trò, nhì nghèo, tam quăng, tứ cẳng, ngũ trợt, lục chạng, thất vung, bát bồng… ; hoặc thuần Việt: chín gối, ba bụng, sáu ghe…

Và đây, những người xem người chơi bình dân, bình đẳng trong cuộc chơi, không phân biệt tuổi tác, không cần phải động não suy tính đường đi nước bước thế bài chi cho mệt. Người diễn cũng bình dân, không phải trang điểm hay đeo mặt nạ, khỏi phải trang phục cầu kỳ, không cần bài trí cảnh diễn, cũng chẳng tốn nhiều tiền của và thời gian đầu tư cho quá trình tu luyện tay nghề hay công sức tập dượt.

Anh (hoặc chị) Hiệu có thể chỉ là chàng (hoặc nàng) nông dân chân đất có cái duyên đối đáp mau lẹ và tài ứng biến xuất khẩu thành thơ theo phong cách dân gian. Nhân vật được coi là linh hồn cuộc chơi này đem đến cho dân quê những gì họ chờ đợi: những lớp hò đa nghĩa đa tình hoặc những lời thoại ngô nghê tức cười, những mẩu chuyện lịch sử hoặc thời sự, những khúc tiếu lâm và ngụ ngôn hóm hỉnh hoặc những tích ngang trái tình trường, những câu ca dao tục ngữ thành ngữ quen thuộc dễ nhớ của dòng văn học bình dân hoặc những câu đố tục giảng thanh hóm hỉnh tếu táo… Một cuộc chơi hồn nhiên với những lời hô thai nôm na, chân quê, dí dỏm, kiều như: “Tiếc công bỏ mẳn nuôi cu/ Cu ăn, cu lớn, cu gù, cu bay/ Cu say mũ cả, áo dài/ Cu chê nhà khó, phụ hoài duyên em”, và thế là ai may mắn có con “chín cu” trong tay chỉ việc chìa ra lĩnh thưởng!

Sự độc đáo chính là ở đây: nghệ thuật hô thai. Hội chơi thành hay bại đều do người hô thai. Cả cuộc chơi xoay quanh một tâm điểm – nói theo “giọng” thời nay: một tay vừa là người tổ chức sự kiện kiêm đạo diễn chương trình, vừa là MC, ca sĩ kiêm diễn viên. Anh chàng “nhiều trong một” này độc diễn tay năm miệng mười quả thực lắm chiêu: chạy bài, thách đố, dẫn chương trình, đối thoại, kể chuyện, diễn tấu, một lúc sắm mấy vai, bất kể nhân vật nam – nữ, già – trẻ, chính – tà, bi – hài, cổ – kim…

Đa nhân vật, một người diễn. Đổi vai đổi cảnh chỉ bằng lời thoại hoặc chuyển âm vực giọng hát chứ không cần thay bài trí sàn diễn và hoàn toàn không vận đến thủ thuật giả thanh như một vài loại hình diễn xướng cổ truyền ở châu Á. Đơn giản thế thôi, vậy thì sức hấp dẫn của nghệ thuật hô thai phải nằm trong nội dung lời ca, âm nhạc và phong cách trình tấu.

Với cách sử dụng hiệu quả ngữ điệu, một phương thức trong ngữ pháp tiếng Việt để “tạo ra tầng nghĩa mới, có thể đối lập nghĩa ban đầu của câu chữ” 16, Bài chòi không chỉ làm giàu thêm giá trị biểu cảm của ngôn từ, mà còn tăng tính kịch, tính hành động và tạo nét riêng cho lối độc diễn này.

Với lối ứng tác ứng tấu cả ở người hát và người đàn, đường nét cao độ của các mô hình giai điệu được lặp lại nhưng “không bao giờ giống nhau y chang, cũng như chúng ta không bao giờ lặp lại hai lần trên một dòng chảy”17  – người xem không thấy nhàm chán có lẽ lả nhờ tính độc đáo luôn gắn liền với sự linh hoạt và đa dạng trong diễn tấu.

Nói đến tính đa dạng phải kể đến ba hình thức diễn xướng nối tiếp nhau hình thành trong quá trình phát triển Bài chòi cổ, gồm: “1/Bài chòi hô thai, 2/Bài chòi câu, 3/Bài chòi lớp và Bài chòi truyện (kịch Bài chòi)”18 . Giữa các hình thức này có sự chuyển đổi dần về mọi mặt:

– về mục đích: từ hội chơi đánh bài chuyển sang hình thức thuần túy thưởng thức trò diễn;

– về môi trường diễn xướng: từ chòi cao hạ xuống thành chòi chệt, chòi đất, chòi ghế, chòi chiếu, rồi di chuyển thành chòi rong, chòi dạo.

– về lời ca: từ một – hai câu ngắn mở rộng thành khổ thơ và cuối cùng là cả một tích truyện dài;

– về giai điệu hát: từ chất liệu đơn giản của lối nói thơ, đọc vè và hát ru miền Trung đến các điệu Hò: hò khoan, hò mái nhì, hò giã gạo, hò đối đáp…, và phát triển (đôi khi có chuyển hệ) trên các làn điệu Xuân nữ (cổ), Xàng xê, Cổ bản, Hồ quảng;

– về người diễn xướng: từ lối độc diễn của một mình Hiệu chuyển dần sang màn diễn những lớp tuồng hai – ba người trở lên;

– về nhạc đàn: từ độc nhất đàn cò đỡ giọng với một sênh đập theo nhịp một, sau tùy nơi có thêm trống con, trống chiến, trống chầu, mõ, thanh la, kèn bóp, kèn bầu, đàn nguyệt, đàn hồ, đàn bầu, sáo trúc… với lối đệm phù hợp với các tâm trạng nhân vật khác nhau.

Những “tiểu dị” do đặc thù phương ngữ cũng như văn hóa bản địa đã làm cho Bài chòi ngày càng đa sắc hơn, đến mức nhiều nhà sưu tầm nghiên cứu đã chia thành các “vùng Bài chòi” khác nhau. Giá trị văn hóa của mỗi vùng đều như nhau. Song nếu bàn đến nghệ thuật âm nhạc thì mỗi phong cách khác nhau lại cho ra những giá trị khác nhau: Bài chòi Bắc Trung bộ giàu nhạc tính nhưng thiếu kịch tính, còn Bài chòi Nam Trung bộ rất kịch tính với lối hát giàu ngữ khí và được hỗ trợ thêm bởi những động tác múa của hát Bội. Lối trình diễn các câu hô thai giàu tính kịch này đã sinh ra nghệ thuật độc diễn Bài chòi, và nghệ thuật độc diễn “đã làm cho vùng Nam Trung Bộ trở thành trung tâm nghệ thuật Bài chòi, biến vùng Bài chòi Bắc Trung bộ trở thành vùng Bài chòi ngoại diên19 .

Tính đa dạng và sức thu hút của Bài chòi còn là kết quả của tinh thần giao thoa với các loại hình nghệ thuật cổ truyền khác, trong đó đáng chú ý nhất là Tuồng. Được định hình trong cái nôi hát Bội là đất Bình Định, Bài chòi mang nhiều sắc thái Tuồng trong âm nhạc cũng như trong hình thức diễn tấu. Yếu tố Tuồng “là một trong những tế bào chính yếu cấu thành, thậm chí là tố chất nằm ngay trong lòng tế bào của nghệ thuật Bài chòi từ buổi ban sơ của nó”20 .

Bên cạnh Tuồng còn có ảnh hưởng của Cải lương trong Bài chòi truyện “qua việc mượn những bài Nam ai, Vọng cổ, hát Nam, hát Khách” 21 để thể hiện trạng thái tình cảm nhân vật trong các lớp kịch.

Ở đây còn đề cập đến mối liên hệ giữa Bài chòi với nhạc cung đình Huế và nhạc Tài tử Nam bộ thông qua “lộ trình” của bài Cổ bản, khởi hành từ nhạc Huế cho tới điểm đến là nhạc Lễ Nam bộ, và trên con đường Nam tiến đó, Cổ bản đã kịp “là một phần trong bài bản âm nhạc Bài chòi” 22.

Ngoài những hình thức nghệ thuật cổ truyền nói trên, Bài chòi cũng không từ chối những âm điệu mới mẻ của cuộc sống đương đại, vì thế có thể nghe thấy ở đây “âm thanh của những bài dân ca, nhạc Lễ và thậm chí cả những bài nhạc trẻ mới” 23.

Từ đây nảy sinh không ít băn khoăn: sự pha tạp do quá cởi mở trong chuyển đổi môi trường có làm loại hình dân gian này biến chất không? Và ngược lại, rồi đây phải bảo tồn thế nào – cái gì cần loại bỏ, cái gì nên tiếp nhận để thể loại cổ này không quá xa cách với giới trẻ, để nó tiếp tục có cơ hội sống trong thời đại mới? Đây là bài toán khó không giới hạn trong chương trình lập Hồ sơ Bài chòi và cũng không chỉ là bài toán của riêng Bài chòi miền Trung Việt Nam.

Trong việc xem xét những điểm chung và nét riêng, các đại biểu nước ngoài còn so sánh Bài chòi với một số loại hình dân gian và nhạc cụ cổ truyền trên thế giới: ca kịch truyền thống Lăm lượng và đàn cổ Tung lung của Lào 24; Jindo Dasiraegi, và Pansori của Hàn Quốc 25; trình diễn sử thi Darangen và Hudhud của Philippines, hát thơ cổ Meddah và Âsiklik của Thổ Nhĩ Kỳ, trình diễn sân khâu cổ Kutiyattam của Ấn Độ … Với những gợi ý từ kinh nghiệm thực tế và những kiến thức khoa học tổng hợp từ nhiều quốc gia, chẳng có lý gì mà ta không đón nhận như món quà ý nghĩa để tham khảo và vận dụng những gì phù hợp vào việc bảo tồn Bài chòi.

Bên cạnh những cố gắng nhận diện Bài chòi từ nguồn gốc lịch sử đến giá trị nghệ thuật, còn một yêu cầu nữa được nhấn mạnh là làm rõ thực trạng và cơ hội trong tương lai của nó, trong đó có nhiều điều phụ thuộc vào vai trò quản lý của Nhà nước và hiệu quả trao truyền của địa phương sở hữu di sản.

Cho dù sau này Hồ sơ được vinh danh hay không thì Bài chòi vẫn là di sản quý giá của miền Trung, nó phải được trao truyền kịp thời và liên tục để không mất đi vĩnh viễn. Gần đây các địa phương đã phục dựng Bài chòi vào dịp lễ hội tết nhất, thậm chí đã tổ chức được hai cuộc liên hoan Bài chòi và đề xuất đưa Bài chòi vào chương trình phổ thông.

Với các tiêu chí khác nhau – nhằm vào chất lượng nội dung hoặc số lượng hình thức – mà việc trao truyền được lựa chọn từ hai cách: “Cách cổ truyền là từ thế hệ này đến thế hệ kia trong dòng họ và gia đình, cách đó sâu nhất và giữ được phong cách; cách thứ hai là trao truyền có tính đại chúng”27 . Cách sau dường như đang được chú ý hơn trong những năm gần đây. Có thể thấy không ít những nỗ lực phát triển đồng loạt với các biện pháp mang tính “chuyên nghiệp” để dạy lại cho cộng đồng và “nhân bản” Bài chòi theo kiểu toàn dân phải biết hát Bài chòi. Hiệu quả đến đâu còn rất nhiều điều phải xem lại.

Một điều hiển nhiên cần nhấn mạnh là mọi di sản phi vật thể không dừng lại trong thời gian, mà luôn hòa vào dòng chảy văn hóa và được nuôi dưỡng trong sự sáng tạo không ngừng của cộng đồng sở hữu di sản. Có những đổi thay được cộng đồng chấp nhận để rồi truyền lại cho con cháu. Có những đổi thay dù nhân danh “cái chuyên nghiệp mà mang tính thương mại và phục vụ du lịch thì sẽ không thành công”28 .

Quyết định cho sức sống của Bài chòi luôn là yếu tố con người – con người của bối cảnh hiện tại. Tương lai của di sản phụ thuộc vào cộng đồng, mà cộng đồng hôm nay đã thực sự thấu hiểu giá trị di sản và có ý thức bảo vệ giá trị đó chưa? Nghệ nhân còn lại chẳng được mấy người, chính sách đãi ngộ chưa có, “chỉ duy nhất một người được Hội Văn hóa dân gian Việt Nam phong tặng nghệ nhân dân gian”29 , số người tự nguyện học hỏi và say mê đeo đuổi nghệ thuật này cũng chẳng nhiều nhặn gì.

Còn nữa, làm tốt Hồ sơ để Bài chòi được UNESCO đưa vào danh sách di sản phi vật thể của nhân loại có phải là cái đích cuối cùng không? Nếu may mắn được xét duyệt, thì “hậu xét duyệt” sẽ ra sao hay lại dừng ở việc tuyên truyền khuếch trương danh hiệu thôi? Đã có thể lạc quan tin rằng sau đó Bài chòi không còn lâm vào tình cảnh mai một và không còn rơi nguy cơ thất truyền nữa?

Một đêm hội Bài chòi trong dịp Hội thảo được tổ chức ngay giữa trung tâm thành phố Quy Nhơn với đủ chòi cao cờ quạt kèn trống, với sự có mặt các quan khách đại biểu tứ phương, với sự trình diễn của các nghệ nhân “thứ thiệt”, trong đó có cụ đã ngót chín mươi tuổi. Tiếng hô thai, giọng hát của anh Hiệu chị Hiệu qua loa phóng thanh vang khắp quảng trường, tên các lá bài được xướng lên, người trúng thưởng cả ta lẫn Tây hỉ hả. Song người dân của đất Bài chòi vẫn bình thản đi lướt qua, dòng người dòng xe vẫn theo cuộc sống mưu sinh không ngừng trôi vào các ngả phố…

Đủ biết, còn hao công tốn lực lắm mới có thể khôi phục, gìn giữ di sản trong cộng đồng hôm nay và trao truyền lại cho thế hệ mai sau; còn vất vả nhọc nhằn lắm mới có thể khơi dậy lại cho Bài chòi cái mê đắm của một thời xa vắng:

Thà rằng ăn mắm mút dòi
Cũng nghe Bài chòi cho sướng cái tai.
(Ca dao)

27-3-2015

_______________________________________________

1. Về Hội thảo quốc tế Nghệ thuật Bài chòi dân gian Việt Nam và những hình thức nghệ thuật tương đồng trên thế giới do Viện Âm nhạc – Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam tổ chức tại Quy Nhơn vào 1-2015.
2. Nguyễn Bình Định: Đề dẫn Hội thảo.
3. Trần Hồng: Đặc trưng nghệ thuật Bài chòi ở Quảng Nam.
Trần Quang Hải: Nguồn gốc – hình thành – đặc trưng trong nhạc ngữ – tiết tấu thi ca trong Bài chòi miền Trung Việt Nam.
4. Đặng Hoành Loan: Bài chòi Trung bộ Việt Nam từ góc nhìn của người nghiên cứu điền dã.
5. Thụy Loan: Phát biểu miệng.
6. Lê Văn Hoa: Vài nét về nghệ thuật Bài chòi ở Khánh Hòa.
7. Đặng Hoành Loan: Bài đã dẫn.
8. Đặng Hoành Loan: Bài đã dẫn.
9. Nguyễn Tứ Hải: Nghề hát Bài chòi ở Khánh Hòa.
10. Mai Thìn: Góp phần tìm hiểu Bài chòi Bình Định.
11. Phương Nam: Đi tìm nguồn gốc di sản nghệ thuật Bài chòi.
12. Đặng Hoành Loan: Bài đã dẫn.
13. Phương Nam: Bài đã dẫn.
14. Đặng Hoành Loan: Bài đã dẫn.
15. Phương Nam: Bài đã dẫn.
16. Nguyễn Tứ Hải: Bài đã dẫn.
17. Yves Defrance: Bài chòi – một thể loại sân khấu âm nhạc độc đáo.
18. Nguyễn Minh Dũng: Vài chặng đường phát triển của âm nhạc. nhạc hát nhạc đàn trong nghệ thuật Bài chòi Bình Định.
19. Đặng Hoành Loan: Bài đã dẫn.
20. Thụy Loan: Cần nhận diện đúng thế nào là nghệ thuật Bài chòi dân gian.
21. Trần Quang Hài: Bài đã dẫn.
22. Gisa Jachnichen: Ghi chép về nhạc mục của Bài chòi. Bài Cổ bản trong bối cảnh lịch sử của nó.
23. Ebsjorn Watermark: Những âm thanh âm nhạc và những không gian âm thanh.
24. Bountheng Souksavatd: Một số suy nghĩ về Bài chòi.
25. Seong-Yong Park: Những di sản văn hóa phi vật thể Hàn Quốc tương tự như Bài chòi.
26. Yves Defrance: Bài đã dẫn.
27. Tô Ngọc Thanh: Phát biểu tổng kết Hội thảo.
28. Lê Minh Lý: Phát biểu miệng
29. Lê Văn Hoa: Vài nét về nghệ thuật Bài chòi ở Khánh Hòa

THÀNH NHÂN – ĐẠI DƯƠNG : Lặng lẽ níu giữ hồn Tết Huế qua tục đánh bài chòi-bài tới


Lặng lẽ níu giữ hồn Tết Huế qua tục đánh bài chòi-bài tới

Thứ Ba, 17/02/2015 – 13:50

Dân trí Nhắc đến những trò chơi dân gian ngày Tết, chúng ta không thể bỏ qua tập tục đánh bài chòi – bài tới. Tuy nhiên, trải qua bao thăng trầm của thời gian, nghề làm bài tới có nguy cơ thất truyền nếu không có bàn tay của nghệ nhân tâm huyết níu giữ.

50 năm gắn bó với con bài tới

Chúng tôi đến nhà bà Ngô Thị Nguyệt tại làng Địa Linh (xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế) vào cái không khí hối hả của ngày giáp Tết, cũng là lúc bà đang hoàn thành nốt những lá bài cuối cùng để kịp giao cho đầu mối ở chợ Đông Ba.

Được gia đình truyền nghề cho từ năm 14 tuổi, cho đến nay đã gần 50 năm bà Nguyệt gắn bó với những quân bài mang nét đẹp dân gian này. Quan sát bàn tay tài hoa thoăn thoắt từ việc dán giấy, in mộc bản cho đến cắt rời từng quân bài khiến chúng tôi không dễ dàng nhận ra cái tuổi đã ngoài lục tuần của bà.

Để làm được một quân bài tới phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau, ban đầu những bản giấy in (chứa được 15 con bài) được cắt nhỏ cho khớp với mộc bản, dùng mực xạ đổ vào mộc bản rồi tra giấy vào khuôn. Sau một phút thì mang giấy ra phơi khô để hình in được hiện lên rõ nét. Mặt sau của quân bài được dán giấy họa tiết đỏ để trang trí.
Bà Ngô Thị Nguyệt những ngày cận Tết đang cần mẫn cắt từng quân bài sau khi bài đã đem đi phơi khô

Cách làm thủ công này có năng suất không cao, tốn nhiều công sức, do đó mà bà Nguyệt đã mày mò cải thiện phương pháp mới. Thay vì in trên mộc bản, bà Nguyệt cho in trên phim dựa trên những ký tự có sẵn trên bản gỗ, chỉ cần đặt giấy lên bản phim rồi quẹt mực vào là có ngay một quân bài. Nhờ có cách làm mới, nên mỗi ngày bà Nguyệt có thể làm được 100 bộ (mỗi bộ bài tới có 60 con).

Trước đây, làng Địa Linh, xã Hương Vinh rất nổi tiếng với nghề làm bài tới, nhưng thời gian qua đi, nhà nhà lần lượt bỏ nghề vì không thu được lợi nhuận. “Mỗi bộ bài tới chỉ có giá 3 nghìn đồng mà đòi hỏi rất nhiều công sức nên không ai muốn giữ nghề nữa!” – bà Nguyệt tâm sự.
Mộc bản xưa dùng để in quân bài tới ở nhà bà Nguyệt

“Ước chi ai cũng biết đánh bài tới”

Thấy chúng tôi ngây ngô hỏi nhau những hình thù kì lạ được in trên quân bài cũng như cách chơi, bà Nguyệt mỉm cười hiền hậu: “Giới trẻ các cháu giờ đây có quá ít cơ hội để tiếp xúc với văn hóa dân gian nên không biết đến bài tới cũng là điều dễ hiểu”.

Tập tục đánh bài chòi (sử dụng quân bài tới) trong Tết xưa quê Việt là một trong những hoạt động văn hóa cộng đồng đầy giá trị mà không mang nặng tính đỏ đen, cờ bạc. Thông qua trò chơi bài chòi, bà con được nghe những câu hát ý nghĩa về quê hương, đất nước được lưu truyền trong dân gian. Bên cạnh đó là được gặp gỡ, giao lưu với nhau giữa những người trong đội chơi, có những phần thưởng may mắn để mang đến niềm vui ngày đầu xuân.
Hội đánh bài tới ngồi trong những chòi tranh ở cầu ngói Thanh Toàn (Huế) ngày đầu xuân – nên dân gian hay gọi kiểu chơi bài tới này là bài chòi (ảnh: Hoàng Diệu)

Giờ đây, chỉ khi có Festival Huế tôn vinh những giá trị xưa cũ, hay Tết Việt ở những làng quê xa thì bài chòi lại có cơ hội tái xuất. Những ngày khác trong năm, ít ai quan tâm và chơi loại bài này. “Ước chi ai cũng biết đánh bài tới để nghề này không bị thất truyền” – bà Nguyệt trăn trở.

Được biết gia đình bà Nguyệt trải qua 3 đời đều gắn với nghề làm bài tới, cho đến nay các con của bà đều đã được bà truyền nghề. Tuy nhiên vì không có được lợi nhuận nhiều nên những người con đều có những công việc riêng có thu nhập ổn định hơn, chỉ làm bài tới lúc rảnh rang nên rất khó có thể gắn bó với nghề gia truyền.
Một bộ bài tới được gia công hoàn chỉnh

Anh Tịnh, con trai bà Nguyệt cho biết : “Ba anh em tôi sẽ cố gắng theo nghề gia truyền của gia đình, có khó cũng cố. Đời mẹ tôi đã là đời thứ ba, chúng tôi sẽ cố gắng để có thêm đời thứ tư, đời thứ năm sau này”.

Trong thời gian tới, gia đình sẽ cải thiện chất lượng quân bài qua việc thay đổi chất liệu in ấn bằng giấy lụa để đảm bảo tính thẩm mỹ cao. Mong rằng, tập tục đánh bài chòi hay nghề làm bài tới sẽ được lưu giữ và phổ biến hơn để đáp lại những cố gắng và nỗ lực của gia đình nghệ nhân này.
Những hình thù lạ mắt nhưng đầy hồn xưa trong dịp tết khi ta chơi bài tới
Quá ít nhà tại Huế làm bài tới gợi nhớ Tết xưa như ở nhà bà Nguyệt làng Địa Linh. Dù đã có rất nhiều thú vui với tết nay, nhưng nét cổ truyền của cha ông phải cần được lưu giữ mãi để thế hệ trẻ không bị mất gốc

Thành Nhân – Đại Dương

http://dantri.com.vn/van-hoa/lang-le-niu-giu-hon-tet-hue-qua-tuc-danh-bai-choibai-toi-1030404.htm

Hội thảo khoa học quốc tế về nghệ thuật Bài Chòi


Hội thảo khoa học quốc tế về nghệ thuật Bài Chòi
Cập nhật: Thứ tư, 14/01/2015 08:38:50
 
Ngày 13/1, tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc tế “Nghệ thuật bài chòi dân gian Việt Nam và những hình thức nghệ thuật tương đồng trên thế giới”. 

Đây là một trong các hoạt động chuẩn bị cho việc xây dựng Hồ sơ quốc gia “Nghệ thuật Bài chòi miền Trung Việt Nam” đề nghị UNESCO đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tại Hội thảo có 22 tham luận của các nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước về nghệ thuật Bài chòi dân gian Việt Nam. Các tham luận tập trung vào những nội dung chính như: Nghệ thuật biểu diễn hô bài thai, bài chòi trải chiếu, bài chòi dạo của anh hiệu, chị hiệu; Tính văn học và âm nhạc trong nghệ thuật hô bài thai và nghệ thuật độc diễn bài chòi; Các biện pháp đã và sẽ thực hiện để bảo tồn, phát huy giá trị của di sản Bài Chòi; Bước đầu so sánh giữa nghệ thuật bài chòi và các hình thức nghệ thuật tương đồng trên thế giới…Bên cạnh đó là các ý kiến trao đổi của các nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa đại diện cho 9 tỉnh, thành phố trong khu vực duyên hải miền Trung (từ Quảng Bình đến Khánh Hòa) có di sản bài chòi về hiện trạng, các biện pháp bảo vệ và phát huy di sản.

Hội thảo khoa học Quốc tế “Nghệ thuật bài chòi dân gian Việt Nam và những hình thức nghệ thuật tương đồng trên thế giới” là dịp để giới thiệu di sản Bài chòi của Việt Nam đến với giới khoa học Quốc tế, là cơ hội để học hỏi kinh nghiệm bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể tương đồng ở các nước trên thế giới hiện nay đồng thời có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa ra những nhận định, đánh giá xác đáng và khoa học để xây dựng chương trình hành động bảo tồn và phát huy nghệ thuật bài chòi dân gian miền Trung.

Nghệ thuật Bài Chòi là một sản phẩm văn hóa độc đáo của vùng đất miền Trung. Trải qua nhiều sự thay đổi của lịch sử, xã hội đến nay Nghệ thuật Bài Chòi vẫn là một trong những loại hình dân gian độc đáo không thể thiếu trong các lễ hội của người dân miền Trung. Bên cạnh những giá trị về văn hóa, nghệ thuật, hát bài chòi còn mang đậm tính nhân văn, tính giáo dục về tình yêu quê hương, đất nước, yêu con người…

 

Nguồn: cinet.vn

GS HOÀNG CHƯƠNG : Nghệ thuật bài chòi – di sản quý của dân tộc


Thứ Bảy, 11/01/2014, 19:21 (GMT+7)

Nghệ thuật Bài chòi – di sản quý của dân tộc

Bài chòi là nghệ thuật dân gian đặc sắc, là món ăn tinh thần của nhân dân Nam Trung Bộ. Nếu người Nam Bộ say mê và tự hào với Đàn ca Tài tử bao nhiêu thì người miền Trung cũng say mê và tự hào với nghệ thuật Bài chòi bấy nhiêu.

bai choi

Hội Bài chòi cổ tại chợ Gò (Tuy Phước). Ảnh: ĐÀO TIẾN ĐẠT

 

Bài chòi – một nghệ thuật dân gian đặc sắc

Tôi nhớ trong những năm cuối thập niên 50 của thế kỷ 20, những nghệ nhân Bài chòi từ Liên khu 5 tập kết ra Bắc rất lúng túng trong việc khẳng định cái tên của bộ môn nghệ thuật ở quê hương mình, vì nhiều người trong ngành sân khấu vẫn coi Bài chòi là “nghệ thuật bài bạc” vì cái tên “Bài” tức là con bài để chơi bài bạc. Mặt khác, người ta cũng chưa hiểu hết chữ “Bài chòi” vì mới nghe có vẻ không đẹp lắm, không hay lắm, cũng như có người còn nghĩ cái tên “Xẩm” – hát Xẩm là “mù lòa” là “xẩm tối” mà không chịu tìm hiểu cái hay, cái đẹp của hát Xẩm.

Thời đó, việc nghiên cứu nghệ thuật dân gian truyền thống chưa được đặt ra cấp thiết lắm, nên chẳng mấy ai giải thích, chứng minh ý nghĩa lịch sử và nội hàm của cái tên Bài chòi đủ sức thuyết phục. Vì vậy mà những người phụ trách bộ môn Bài chòi lúc bấy giờ phải đổi cái tên Đoàn Bài chòi Liên khu 5 thành Đoàn Dân ca kịch Liên khu 5. Quan điểm sai lầm khiến hầu hết các đoàn Bài chòi ở các tỉnh Nam Trung Bộ đều mang tên “Đoàn Dân ca kịch”, như ở Quảng Nam – Đà Nẵng (nay là đoàn Quảng Nam), ở Phú Khánh (nay là đoàn Khánh Hòa) chỉ riêng ở tỉnh Bình Định là mang đúng tên: Đoàn Ca kịch Bài chòi. Quan niệm lệch về tên gọi chính danh của bộ môn nghệ thuật khiến rất khó bảo tồn, phát huy nó ngang hàng với các loại hình nghệ thuật truyền thống khác như hát bội (tuồng), chèo, cải lương, ca Huế.

Bài chòi là loại hình nghệ thuật mà nhân dân ở miền Trung vô cùng yêu thích, mê say như ca dao xưa đã phản ảnh: Rủ nhau đi đánh Bài chòi/ Để con nó khóc mà lòi rốn ra… Rõ ràng, cái tên Bài chòi ở miền Trung chẳng khác gì cái tên Chèo ở miền Bắc và cũng đã có ca dao: Tháng 5 ngày tám nằm queo (đói)/ Nghe giục trống chèo cố lếch đi xem… Từ xưa tới nay, nhân dân lao động miền Bắc yêu thích nghệ thuật Chèo bao nhiêu thì nhân dân miền Trung cũng yêu thích nghệ thuật Bài chòi bấy nhiêu, bởi đây là sản phẩm tinh thần, món ăn tinh thần không thể thiếu của nhân dân lao động.

Bình Định phải tiên phong giữ gìn và phát huy di sản Bài chòi

Bài chòi là đặc sản, là di sản văn hóa của miền Trung mà nhân dân ở miền đất này đã nuôi dưỡng nó, bảo vệ nó cho đến hôm nay, với mong ước nó cũng sẽ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại như Đàn ca Tài tử Nam Bộ, như nhã nhạc Cung đình Huế. Và đó là mục tiêu của hội thảo khoa học với chủ đề “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài chòi hướng tới UNESCO công nhận là di sản của nhân loại” được long trọng tổ chức tại TP Quy Nhơn – Bình Định – quê hương của Bài chòi, vào đầu tháng 9.2013.

Hội thảo Bài chòi năm 2013 dưới sự chủ trì của lãnh đạo tỉnh Bình Định, lãnh đạo Bộ VH-TT&DL, cùng lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam đã được nghe nhiều tham luận đầy tâm huyết về Bài chòi. Nguồn gốc, lịch sử, đặc trưng và sức sống của nghệ thuật Bài chòi trong lòng nhân dân miền Trung, cũng như nhân dân miền Bắc từ sau năm 1954 cho đến hôm nay đã làm sáng rõ hơn.

Cách đây 57 năm (1957) tại thủ đô Hà Nội, những nghệ sĩ Bài chòi từ Liên khu 5 tập kết ra Bắc đa số là người Bình Định, như Đinh Thái Sơn, Đinh Bích Hải, Nguyễn Kiểm, Thanh Cảnh, Bích Liên, Nguyễn Cung Nghinh đã phục hồi nghệ thuật Bài chòi và dàn dựng thành công vở “Thoại Khanh – Châu Tuấn”, được thưởng huy chương Vàng tại Hội diễn sân khấu toàn quốc. 56 năm sau, vở Bài chòi “Khúc ca bi tráng” của Đoàn Bài chòi Bình Định cũng nhận được huy chương Vàng tuyệt đối tại Cuộc thi Sân khấu Tuồng và Dân ca kịch toàn quốc 2013 tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Sức sống của Bài chòi mạnh mẽ không chỉ ở quê gốc Bài chòi là Bình Định, mà từ Bình Định còn lan tỏa khắp nơi. Vậy nên người Bình Định càng phải thấy rõ trách nhiệm đi đầu trong việc bảo tồn, phát huy và quảng bá loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc này, hướng tới đề nghị UNESCO công nhận Bài chòi là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Mới đây Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đề xuất và bảo trợ thành lập CLB Bài chòi tại Bình Định với chủ trương quy tụ nghệ nhân, nghệ sĩ  Bài chòi trong tỉnh và trong toàn miền Trung cùng làm nhiệm vụ bảo tồn phát huy và quảng bá môn nghệ thuật này.

Mấy đề xuất về giữ gìn và phát huy di sản

  1. CLB Bài chòi nên sớm ra mắt trong đầu năm 2014 với một họp mặt đông đủ nghệ nhân trong và ngoài tỉnh. Buổi lễ ra mắt có chương trình biểu diễn của các nghệ nhân giỏi nghề để quay phim, truyền hình phát đi rộng rãi cả nước.
  2. Nên tổ chức biểu diễn quảng bá Bài chòi dân gian tại TP Hồ Chí Minh (kết hợp với một số nghệ nhân Bài chòi Bình Định đang sống ở đây và tận dụng sự ủng hộ của Hội đồng hương Bình Định đang sống ở TP Hồ Chí Minh.
  3. Tổ chức biểu diễn quảng bá Bài chòi tại Hà Nội, kết hợp những nghệ sĩ Bài chòi ở miền Bắc vừa được phục hồi. Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn & phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam sẽ đảm nhận việc tổ chức sự kiện này. Ở Hà Nội có thể mời các cơ quan như Bộ VH-TT&DL, Ủy ban UNESCO Việt Nam, Văn phòng UNESCO quốc tế và các cơ quan thông
    tin đại chúng. Chương trình nên thực hiện trong năm 2014.
  4. Bình Định nên sớm chủ động phối hợp với những cơ quan có chức năng lập hồ sơ trình UNESCO như đề xuất của Thứ trưởng Bộ VH,TT&DL Vương Duy Biên tại hội thảo “Nghệ thuật Bài chòi”.

Khi nghệ thuật Bài chòi dân gian được phục hồi và quảng bá rộng rãi, nhất là khi được công nhận là di sản của thế giới thì Bình Định sẽ thu hút được du lịch trong và ngoài nước.

Cuối cùng tôi muốn nói tới một vấn đề hết sức quan trọng, đó là công tác tuyên truyền, quảng bá sự kiện, quảng bá các giá trị văn hóa đặc sắc của Bình Định. Theo tôi, Bình định còn rất yếu về vấn đề này, nên luôn luôn ở trong tình trạng “áo gấm đi đêm”. Thế kỷ 21 là thế kỷ toàn cầu hóa, thế kỷ giao lưu, hội nhập, thế kỷ ngoại giao văn hóa, quảng bá văn hóa, nếu an phận thủ thường thì khó mà vượt vũ môn… Đây là tâm sự của người con Bình Định luôn hướng về quê hương, mong quê hương giàu mạnh.

Giáo sư HOÀNG CHƯƠNG

http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=18&macmp=18&mabb=16220

 

ÁI THÙY : NGHIÊN CỨU PHỤC HỒI BÀI CHÒI DÂN GIAN CỔ TRUYỀN BÌNH ĐỊNH


NGHIÊN CỨU PHỤC HỒI BÀI CHÒI DÂN GIAN

CỔ TRUYỀN BÌNH ĐỊNH

 

                                                                                    CNĐT: NSƯT Phan Ngạn

                        CBPH: Trần Thị Kim Nam,

                              Phan Dzi Bình, Bùi Phước Định.

                                                                                    TGTH:  2001-2002

 

 

 

MỞ ĐẦU:

Bài chòi dân gian là một di sản văn hóa phi vật thể qúy báu của nhân dân Bình Định đang bị mai một dần bởi các nghệ nhân dân gian một thời gắn bó với bài chòi chẳng còn lại bao nhiêu.

Vì vậy, cần sưu tầm nghiên cứu gìn giữ cội nguồn. Sân khấu Bài chòi cổ là đơn vị chủ thể, cùng với các sân khấu khác phát huy vốn văn hóa văn nghệ cổ truyền của cả nước và của tỉnh nhà trong công cuộc xây dựng nền văn hóa, văn nghệ hiện nay theo đường lối của Đảng là việc cấp bách không thể chần chừ để lại cho thế hệ mai sau.

  1. MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

1.1. Mục tiêu:

Sưu tầm nghiên cứu phục hồi lại Bài chòi dân gian cổ truyền như nó vốn có từ xưa để làm cơ sở cho các nhà lãnh đạo chỉ đạo phát huy tinh hoa của nó trong công cuộc xây dựng nền văn hóa văn nghệ dân gian đậm đà bản sắc dân tộc, giàu sắc thái địa phương làm nền cho việc phát triển sân khấu đương đại của tỉnh nhà.

1.2. Phương pháp:

Sưu tầm, nghiên cứu những tài liệu liên quan đến Bài chòi dân gian cổ truyền Bình Định. Để từ đó vận dụng mối liên hệ lẫn nhau giữa hô bài chòi với các hình thức khác để thấy rõ sự thăng trầm của bài chòi và thấy được sự giao lưu của nó với các hình thức sân khấu khác.

  1. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

Đề tài tiến hành trong 2 năm (2001-2002) đã bước đầu làm hồi sinh đánh bài chòi ngày xuân, trả lại trò chơi cho nhân dân Bình Định đúng với sự ra đời của nó trong đời sống văn hóa thôn dã.

Đề tài gồm 6 chương, 150 trang đã trình bày được lộ trình của sân khấu Bài chòi, để từ đó thấy được sự ra đời của sân khấu Bài chòi trước cách mạng tháng 8 và Bài chòi ra đời từ Bình Định, đó là di sản, là tài sản tinh thần của nhân dân Bình Định. Đề tài cũng đã sưu tầm, chỉnh sửa dàn dựng, ghi hình được 2 kịch bản văn học: “Tam hạ nam Đường”, “Lang Châu-Lý Ân” và 4 trích đoạn: “Trai cày, Lâm Sanh – Xuân Nương, Thoại Khanh-Châu tuấn, Thôi Tử thí Tề Quân”

 Chương I: Lịch sử vấn đề.

 Chương II: Manh nha.

2.1. Con bài, sòng bài Tam cúc:

– Cách đánh bài Tam cúc.

+ Người cầm bài chia bài đủ các cửa, bài tỳ úp mặt xuống chiếu cho các tay bài quan sát. Con bài dài khoảng 3 phân rưỡi, chiều ngang 1 phân rưỡi, mỗi người cách đống bài tỳ khoảng 8 tấc hoặc 1m để dễ bốc bài, khi cột nào tới trình bài cho các cửa đều thấy, đều thừa nhận.

+ Bộ bài Tam cúc bài chòi không vay mượn của ai, đây là sản phẩm văn hóa của Bình Định được cải tiến từ 3 pho của bộ bài Tam cúc.

+ Ở Bình Định Bài chòi dùng 27 con: Ông Ầm, Tứ Cẳng, Bạch Huê, Chín Gối, Sáu Ghe, Năm Dụm, Tứ Xách, Nhì Nghèo, ba Gà, Tứ Tượng, Tám Dừng, Ngũ Trợt, Tứ Móc, Tam Quăng, Bánh Hai, Cửu Điều, Lục Chạng, Tám Miểng, Nhứt Trò, Tám Thưa, Bảy Liễu, Cửu Chùa.

+ Hình dáng, tiểu tiết con bài rất khó hiểu, đường nét hình ảnh ít nói lên được điều gì nhưng tên bài lại nói lên được tính cách hành động, những từ chỉ có ở nông thôn Bình Định, Phú Yên mới dùng nhiều.

2.2. Cái chòi, chòi để đánh bài chòi:

– Đối với sân khấu bài chòi thì cái chòi là vật thể quyết định cho trò chơi phi vật thể.

– Ở đồng bằng không có chòi, nhà rông, làng tộc mà chỉ có vùng bán sơn địa mới có. Vùng bán sơn địa trải dài trên phía tây tỉnh Bình Định nhưng đọng lại vùng Vĩnh Thạnh, Tây Sơn.

– Chòi gồm có 4 loại:

   + Chòi tạm.

   + Chòi trệt.

   + Chòi kiên cố.

   + Chòi bếp làng.

2.3. Cách đánh bài trên chòi:

– Cả tỉnh đều đánh bài chòi vào ngày đầu xuân và cũng chỉ có đánh bài chòi đầu xuân mới là Hội bài chòi truyền thống.

– Muốn đánh bài chòi con bài phải trở thành thẻ bài.

ó Thẻ bài:

– Bài cái: Cao 2 tấc, ngang khoảng 4 phân đủ dán 3 con bài.

– Bài tỳ: Cao hai tấc, ngang 1 phân rưỡi.

Nguyên liệu làm thẻ bài bằng tre hoặc bằng nan mực

ó Dựng rạp đánh Bài chòi:

– Đất để dựng rạp phải là một vùng đất rộng, một địa điểm mang tính chất giao hội, thuận tiện cho các phương kéo đến.

– Phạm vi cất chòi: chiều ngang từ ống thẻ đến chòi xê dịch khoảng 30m, mỗi chòi cách nhau 5m.

– Nguyên liệu cất 9 chòi: bằng cây rừng, tranh, tre.

ó Ống thẻ: là ống tre trồng giữa 9 chòi.

ó Hình thức đánh bài chòi:

– 9 chòi vây quanh ống thẻ, bài tỳ chúc đầu vào ống thẻ, ai cũng thấy. Chỉ khi hô tên con bài thì lúc đó nhìn vào thẻ bài cái mới biết trúng hay không trúng.

– Theo quy định đủ 3 con trên thẻ bài cái thì một hồi trống hoặc một hồi mỏ, có người bưng khay tiền chung, tiền trúng, có ly rượu và câu chức mừng. Rất trật tư, rất văn hóa, chòi nào giữ chòi nấy, không chen lấn.

 Chương III: Hình thành.

– Bước quyết định sự hình thành của sân khấu bài chòi là câu thơ lục bát (lục bát biến thể) mang tên con bài.

ó Làn điệu:

– Có 4 làn điệu gốc của Bài chòi: Xuân nữ, Xàng xê, Cổ bản, Hồ Quảng

– Âm điệu của 4 làn điệu gốc là nhạc mô hình.

– Dùng thơ lục bát + điệu ru con Bình Định để hoàn thành những làn điệu gốc Bài chòi.

ó Cấu trúc làn điệu Xuân nữ: là làn điệu gốc trong 4 làn điệu của sân khấu Bài chòi, làm nòng cốt cho làn điệu sân khấu bài chòi từ khi ra đời đến nay. Điệu Xuân nữ cảu Bài chòi chỉ nằm trong quãng 8, tuy nhiên để chuyển tải nội dung, sắc thái hờn, vui, giận, ghét… thì phải dùng kỹ thuật hô: nống, lòn, úp, bẹt, mép, rất chậm, vừa…

ó Làn điệu sân khấu: bắt nguồn từ tâm trạng, cảnh huống nhân vật.

Chương IV: Cực thịnh

Giai đoạn cực thịnh là giai đoạn hình thành các gánh bài chòi, các gánh bài chòi có đào, kép, có bảng hiệu. Có Bổn tuống (tuồng dân gian và tuồng tiểu thuyết).

Chương V: Thoái trào.

– Gồm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn 9 năm lần thứ nhất

+ Giai đoạn 9 năm ở miền Bắc

+ Giái đoạn 9 năm ở miền Nam

+ 21 năm âm thầm.

Chương VI: Phục hồi.

ó Đánh Bài chòi:

Một thời gian dài hơn nửa thế kỷ, không đánh được Bài chòi. Từ khi có câu lạc bộ bài chòi cổ dân gian ra đời đến năm 2000 (xuân Canh Thìn) mới tổ chức đánh được bài chòi. Đây là một di sản phi vật thể được phục hồi. Một trò chơi của nhân dân Bình Định được hồi sinh.

ó Hô Bài chòi:

– Đã sưu tầm và chỉnh sửa được 2 kịch bản văn học.

+ Tam Hạ Nam Đường.

+ Lang Châu – Lý Ân.

– Đã dàn dựng và ghi hình 2 kịch bản và 4 trích đoạn

+ Trai Cày

+ Lâm Sanh – Xuân Nương

+ Thoại Khanh – Châu Tuấn.

+ Thôi Tử thí Tề Quân.

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:

Kết luận:

– Từ một trò chơi dân gian Bài chòi đã tiến đến là một loại hình nghệ thuật đặc trưng của người dân Bình Định.

– Công trình đã trình bày được lộ trình của sân khấi Bài chòi. Từ giai đoạn manh nha – hình thành – cực thịnh – thóai trào. Để từ đó thấy được sân khấu Bài chòi ra đời trước cách mạng tháng 8 và Bài chòi ra đời từ Bình Định, đó là một di sản , là tài sản tinh thần của nhân dân Bình Định.

Kiến nghị:

– Đề nghị UBND tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa, Viện, Hội, các Cục, Sở Văn hóa – Thông tin cho thành lập đội thể nghiệm tiếp tục khai thác, nghiên cứu học thuật của bài chòi cổ nhằm cung cấp chất liệu, tư liệu bổ sung cho một sân khấu truyền thống dân tộc.

– Đề nghị Bộ Văn hóa, các cơ quan hữu quan triệu tập một hội nghị, tìm ra nguyên nhân, khắc phục hậu quả chính là thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.

                                                                           Biên tập: ÁI THÙY

http://www.dostbinhdinh.org.vn/KyYeu/GiaiDoan2001-2005/khxhnv/Kyyeu_T24-T27.htm

 

This blog is focused on Trân Quang Hai