Category Archives: CONDOLENCES

Vĩnh biệt nhạc sĩ Tô Thanh Sơn (1949-2018)


to thanh son (1949-2018).jpg

Vĩnh biệt nhạc sĩ Tô Thanh Sơn
Nhận được tin buồn trong tối chủ nhật, người nhạc sĩ có bài hát nổi tiếng “Chút kỷ niệm buồn” – Tô Thanh Sơn đã ra đi đột ngột, để lại nhiều thương tiếc cho những ai yêu thích ca khúc trữ tình này.
Nhạc sĩ Tô Thanh Sơn sinh năm 1949 tại Hồng Ngự, Đồng Tháp. Ông là em của nhạc sĩ Tô Thanh Tùng – người cũng vừa qua đời cách đây không lâu trong sự thương tiếc của nhiều khán thính giả yêu âm nhạc.
Gần 30 năm sáng tác, nhạc sĩ Tô Thanh Sơn vẫn mang nặng nỗi buồn của người nhạc sĩ nghèo, viết ca khúc không ai hát. Tưởng chừng ông hết hy vọng thì vào năm 1999, một người bạn nghe được ca khúc “Chút kỷ niệm buồn”, thấy hay nên mang đi giới thiệu giúp, không ngờ được khán thính giả trong và ngoài nước yêu thích. Từ đó, các sáng tác khác như “Thầm lặng”, “Ba năm anh yêu em âm thầm”, “Giọt mưa đêm”, “Vùi chôn kỷ niệm”, “Một lần gặp em”, “Đêm tiễn biệt”, “Đi tìm dĩ vãng”, “Chờ em trong mưa”, “Giọt mưa đêm”… đã được công chúng biết đến rộng rãi.
Tang lễ của nhạc sĩ Tô Thanh Sơn được tổ chức tại tư gia (số : 171 Điện Biên Phủ, An Thạnh, TX. Hồng Ngự, Đồng Tháp). Lễ động quan lúc 11giờ ngày 23-4, sau đó an táng tại đất nhà.
Thắp nén hương tưởng nhớ đến nhạc sĩ Tô Thanh Sơn. Tiễn đưa ông về đất mẹ, khán giả vẫn mãi yêu thích những sáng tác của ông.
#tothanhson

Trịnh Thanh Thủy : Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và những điều chưa nói hết, phâ`n 1


Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và những điều chưa nói hết.

Trịnh Thanh Thủy biên soạn

trinh-thanh-the1bba7y
Thế là chú ấy đã giả từ chốn này và bắt đầu cuộc rong chơi miền phương
ngoại rồi. Lần cuối tôi gặp chú là tháng 12 năm 2011. Sau đó, tôi thường
liên lạc bằng điện thoại và điện thư với chú nhưng bất thình lình chú thôi
không trả lời, bởi vì chú sợ chính quyền theo dõi nên bặt tin chú. Giờ
chú đã nằm xuống, thôi lo lắng, hết băn khoăn, khỏi lo sợ và thật sự
được yên bình. Mời bạn đọc bài viết kể lại cuộc gặp gỡ của tôi với chú
Nguyễn Văn Đông vào ngày tháng 12 năm 2011 đã lưu lại nhiều ấn
tượng trong tôi, mà bây giờ tôi mới có thể viết, sau khi chú đã nằm
xuống.
Nhân một lần về thăm Việt Nam, nhà văn Bích Huyền kiêm xướng ngôn
viên đài VOA có nhờ tôi đem vài món quà biếu ông nên tôi có cơ duyên
gặp và tiếp xúc với ông tại nhà riêng. Cô Bích Huyền dự định làm một
buổi văn nghệ tuởng niệm những người lính VNCH ở Quận Cam Hoa
Kỳ và có ý nhờ ca sĩ hát mấy bài của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Tiện
thể, cô nhờ tôi ghé thăm và viết bài về ông. Nhà ông nho nhỏ trên đường
Nguyễn Trọng Tuyển, Phú Nhuận, phía trước có chiếc xe bán bánh mì ổ
do phu nhân ông là cô Nguyệt Thu đứng bán. Cô rất dễ thương và hiếu
khách. Cô cũng là người đầu ấp tay gối đã chăm sóc ông suốt quãng đời
còn lại từ ngày ông đi cải tạo về bằng chiếc xe bán bánh mì giò chả này.
Bây giờ căn nhà đã thành tiệm thực phẩm và bánh mì Nhiên Hương
khang trang và tươm tất hơn năm tôi ghé 2011 rất nhiều.
Tôi thuộc thế hệ con cháu, nên khi nói chuyện tôi gọi ông bằng chú. Lần
ấy, ông tiếp tôi rất thân mật, niềm nở nhưng không kém phần nghiêm
túc. Ông có nhấn mạnh rằng, sau 36 năm, đây là lần đầu tiên ông tiếp
người lạ, từ ngày 30 tháng tư năm 1975, ông không tiếp xúc ai hết, kể cả
các giới truyền thông, báo chí, nghệ sĩ, ca sĩ là những người ngày xưa đã
từng quen biết ông hay khán thính giả ái mộ và thương mến ông. Vì có
sự giới thiệu đặc biệt của cô Bích Huyền, ông mới tiếp tôi. Ông có nói
thêm rằng sở dĩ ông không tiếp xúc hay cho ai phỏng vấn vì ông rất e
ngại, dè dặt trong việc tiếp cận hay ngoại giao và ông muốn sống yên

thân đừng ai nói hoặc nhắc tới ông nữa. Ông sợ sự liên hệ hay tin đồn
không đúng lan rộng, bất lợi cho ông để tránh những rắc rối phiền phức
sau này.
Thật ra trước đó vào mùa xuân Bính Tuất 2006, trong chương trình phát
thanh Nghệ Sĩ và Đời Sống do Trường Kỳ thực hiện ông đã dành cho
đài VOA một cuộc phỏng vấn rất lý thú và đầy đủ về cuộc đời binh
nghiệp và âm nhạc của ông. Ông cũng không quên kể nguyên do và
động cơ khiến ông sáng tác những tác phẩm như "Chiều mưa biên giới,
Phiên gác đêm xuân, Hải ngoại thương ca, Thiếu nhi hành khúc
…v..v..”.,trong cuộc phỏng vấn của Trường Kỳ nàyệ
Tôi bày tỏ lòng ngưỡng mộ của tôi với những sáng tác của ông trước
năm 1975, về cuộc sống hay những mối tình của những người trai thời
chiến, đã chiến đấu hy sinh cho đất nước trong các ca khúc trên. Ý định
của tôi là gặp gỡ tác giả để hiểu thêm về tác phẩm, hầu viết một bài về
ông cho đúng đắn và trung thực, trước khi buổi tưởng niệm diễn ra. Ông
và tôi nói chuyện rất tương đắc về âm nhạc, tác phẩm của ông và những
ca sĩ đã trình bày nhạc của ông thế nào và ra sao. Tuy nhiên ông vẫn dè
dặt dặn tôi phải cẩn trọng vì ông không muốn gặp rắc rối kẻo lụy cho
ông và người nhà.
Về đến Hoa Kỳ, tôi bắt đầu viết thì ông gởi điện thư bảo tôi, thôi đừng
viết, vì ông muốn mọi người quên ông đi, ông không tha thiết gì nữa,
nên đừng nhắc đến tên ông. Tuân theo ý nguyện của ông, tôi xếp lại và
thầm cảm thương cho một người nhạc sĩ tài hoa chịu nhiều bất hạnh, giờ
bệnh tật triền miên mà không muốn ai nhớ đến mình nữa. Có lẽ ông nghĩ
đúng, biết đâu những hệ lụy của cái tài danh mang đến cho ông nhiều
bất lợi hơn là thứ tiếng tăm hư ảo của người đời. Tuy nhiên, ông quên
một điều là ông còn có một số lượng rất lớn người trong và ngoài nước
vẫn còn mến mộ, yêu, hát, và rung động chân thành khi nghe những con
Sơn Ca ngày cũ hát nhạc của ông. Những Hà Thanh, Thanh Tuyền, Thái
Thanh hay Trần Văn Trạch, Duy Trác… những giọng hát thiết tha, đầy
cảm xúc trong "Chiều mưa biên giới, Mấy dặm sơn khê, Khúc tình ca

hàng hàng, lớp lớp, Hải ngoại thương ca, Nhớ một chiều xuân…" đã cho
các tác phẩm của ông một chỗ đứng trang trọng nhưng riêng biệt trong
con tim những thính giả mến mộ.
Khi hỏi đến sức khoẻ, ông bảo, ông bị đau bao tử kinh niên, đau tai, thấp
khớp và cao máu, những thứ này hành hạ ông thường xuyên từ khi đi tù
cải tạo về. Tôi liền hỏi lý do tại sao ông không qua Hoa Kỳ định cư theo
chương trình HO. Ông bảo sau khi vào tù 9 năm, vì bị bệnh nặng sắp
chết nên ông được trả về với lý do: “Ðương sự bị bệnh sắp chết, nên cho
phép gia đình đem về nhà chôn cất!” chứ không phải họ tha vì lý do
chính trị. Khi về đến nhà, ông được cô Nguyệt Thu và gia đình chăm
sóc, thuốc thang mãi và có lẽ vì chí khí kiên cường dũng mãnh lắm, ông
mới sống lại được.
Đến khi có chương trình H.O., chính phủ Mỹ có gởi giấy báo cho ông
biết về chương trình, ông trộm nghĩ, mình đã già lại bệnh hoạn thế này,
qua Mỹ làm gì, vả lại đời sống ông cũng tạm ổn định bên người thân nên
từ chối ra đi. Họ có gởi giấy cho ông nhiều lần hỏi ông đã suy nghĩ kỹ
chưa? Ông quyết định chọn giải pháp ở lại, với lý do gia đình không
muốn đi, nên ông ở lại với gia đình.
Sau này khi Paris By Night có ý định mời ông qua Mỹ để thực hiện cho
ông một chương trình dành riêng cho dòng nhạc của ông, ông lại gặp rắc
rối trong vấn đề thủ tục. Chính quyền chỉ cho phép ông đi trong 15 ngày
mà chương trình họ mời cần đến ít nhất là 1 tháng. Thời gian 15 ngày
không đủ cho việc phỏng vấn và thực hiện thu hình..v…v… Có người
ngỏ ý bảo lãnh ông qua Canada rồi sau đó sẽ qua Mỹ. Paris By Night sẽ
tổ chức show ở đó, vì ở Mỹ còn rất đông người yêu nhạc ông, việc thu
nhập mới cao hơn được. Ông bảo tôi, ông có khí phách của một người
nhạc sĩ ngày xưa đã từng từ chối đi Mỹ theo chương trình H.O., rồi bây
giờ lại đi đường vòng như thế còn gì khí phách ngày xưa nữa. Sau họ có
mời ông nhiều lần ông đã từ chối không đi. Ông tâm sự tuy mất cơ hội
được có mặt và tiếp xúc cùng đám đông, vẫy vùng trong thế giới âm
nhạc mà ông yêu thích nhưng ông cam chịu. Có lẽ vì ông muốn tâm
được an bình, không phải lo lắng sợ sệt, bỏ danh lợi ngoài thân và yên

phận trong tuổi già. Nhà văn Chu Tất Tiến là 1 bạn tù được ông nhận
làm đệ tử kể tôi nghe, một trong những lý do chính là ông không muốn
phải xin xỏ, lạy lục, đi lên đi xuống với chính quyền, đòi thêm thời gian,
vì dù gì ông còn cái khí tiết của một người sĩ quan quân lực ngày xưa.
Ông có bảo Chu Tất Tiến rằng “Anh ghét phải đi lạy lục, xin xỏ, rồi
nghe hạch hỏi tra vấn, làm mất hết khí phách của mình”.
Trong lúc vui chuyện, ông kể về thời gian còn trong trại cải tạo ở Suối
Máu. Ông bệnh nhiều lắm nhưng được các bạn tù thương mến và giúp
đỡ ông rất nhiều vì họ biết tiếng ông, và tìm cách giúp ông. Nhắc đến
trại cải tạo Suối Máu, Trong bài một bài viết cho NS Nguyễn Văn Đông
của nhà văn Chu Tất Tiến có đoạn “ Em nhớ lại thời gian khi còn trong
tù, anh chỉ dẫn cho em từng nốt nhạc vọng cổ, và vì lúc đó anh bệnh
nặng quá, nên sự cố gắng dậy bảo của anh làm anh ứa máu, em đã sợ
hãi mà ngăn anh lại: “Thôi! Thôi! Anh nghỉ đi! Đừng nói nữa! Máu
chẩy ra miệng anh kìa!” Anh lắc đầu, lấy vạt áo tay chùi máu miệng, và
nói: “Không ngừng được! Anh phải dậy em bây giờ! Anh không biết lúc
nào anh chết, nên phải truyền hết kinh nghiệm cho em, kẻo mai mốt anh
chết, thì không có người tiếp tục!” Và cứ thế, bất chấp sức khỏe càng
ngày càng sa sút, máu cứ chẩy ra ngoài miệng, anh đã dậy cho em từng
câu nhạc Vọng cổ, từng cách viết kịch bản cho một vở tuồng cải lương,
cổ nhạc. Vì các đốt ngón tay anh đã bị chất vôi phù lên, cứng ngắc,
không sử dụng được, anh đã ngồi xổm trên chiếu, kẹp chiếc bút chì vào
giữa ngón chân cái và ngón kế tiếp để vẽ lên các nốt nhạc to bằng quả
trứng gà, cũng như các tiết tấu và kết cấu từng câu nhạc, thật công phu
vô cùng. Em biết là viết như vậy, anh đau lắm và vất vả lắm, nhưng anh
vẫn kiên trì truyền hết kinh nghiệm cho thằng em kém cỏi này và cũng vì
biết nỗ lực của người Thầy như anh thật là hiếm có trên đời, nên em đã
cố gắng làm vui lòng anh bằng cách sáng tác các bài ca Vọng cổ, cũng
như các bài tân nhạc rồi hát cho anh nghe, để thấy anh mỉm cười, mãn
nguyện là em mừng. Dĩ nhiên, khả năng của em không đủ để theo kịp sự
dậy dỗ của anh, khiến có vài lần anh nhăn mặt, mắng: “Em cứ có cái tật
phăng-tê- di! Không chịu theo khuôn phép gì cả! Hòa âm gì kỳ cục thế!

Viết lại!” Để sau khi em sửa lại rồi, anh vẫn lắc đầu, thở dài: “Thôi!
Cái tật ẩu không bỏ được!” rồi anh lại gật đầu, cười mỉm: “Thế mà lại
hay! Mỗi người sáng tác đều có những cái riêng của mình, không ai
giống ai.”
Phải nói rằng không những ông có cái khí tiết của một người lính VNCH
mà còn có cái lòng tận tụy của một người thầy đam mê với âm nhạc, dạy
học trò tới thổ huyết mà vẫn không chịu ngừng đến nỗi “…, anh chỉ có
thể nằm trên một miếng ván nhỏ có gắn bánh xe do anh em cùng tù làm
cho anh, để anh lấy tay đẩy miếng ván trôi đi, y như một người bị què
cụt sắp chết. Nhìn hình ảnh đó, anh em đều sa lệ. Còn đâu người hùng
năm xưa? Còn đâu hình dáng người nhạc sĩ với cây đàn và những bản
nhạc tuyệt vời, hát mãi không chán?”.
Đám tang ông diễn ra đơn sơ vì có lẽ ông sống khép kín không tiếp xúc
với ai và không cho phúng điếu vì hai ông bà không có con sợ không ai
trả lễ.
Trịnh Thanh Thủy thực hiện
Xin xem tiếp Kỳ 2
“Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông nói về các tác phẩm của ông”
Tiểu sử
NS Nguyễn Văn Đông (1932 – 2018) nguyên là sĩ quan quân lực
VNCH, cấp bậc Đại tá. Nhiều người biết đến ông với tư cách Nhạc sĩ
nổi tiếng trước năm 1975, với các ca khúc Chiều Mưa Biên Giới, Phiên
Gác Đêm Xuân, Nhớ Một Chiều Xuân, Sắc Hoa Màu Nhớ, Hải Ngoại
Thương Ca…Một số bút danh khác của ông là Phượng Linh, Phương Hà,
Vì Dân và Đông Phương Tử trên một số nhạc phẩm tình cảm như "Khi
đã yêu", "Thầm kín", "Niềm đau dĩ vãng", "Nhớ một chiều xuân"… ông
cũng đã viết nhạc nền và đạo diễn cho trên 50 vở tuồng, Cải lương nổi
tiếng ở Miền Nam trước năm 1975 như Nửa đời hương phấn, Đoạn
tuyệt, Tiếng hạc trong trăng, Mưa rừng…

Ông còn là giám đốc hãng băng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca, Trưởng
Đoàn văn nghệ Vì Dân, Trưởng ban Ca nhạc Tiếng thời gian của Đài
Phát thanh Sài Gòn, và từng nhận giải Âm nhạc Quốc gia
Sau 30 tháng 4, 1975, Nguyễn Văn Đông bị bắt đi học tập cải tạo 10
năm và ngừng

Foot note

Pic 1 NS NVĐông ngày còn trẻ.jpg

Pic 1: Chân Dung NS Nguyễn Văn Đông lúc còn trẻ

Pic 2 Nhac si NVDong 2011

Pic 2: Chân Dung NS Nguyễn Văn Đông vào năm 2011

Pic 3 TTThủy với NS NVĐông2

Pic 3: Trịnh Thanh Thủy ghé thăm NS NVĐông năm 2011

Pic 4 Trước cửa tiệm Nhiên Hương.jpg

Pic 4: Trước cửa tiệm bánh mì Nhiên Hương cũng là nhà của NS Đông ở Phú Nhuận

Pic 5 Trước linh cữu NS NVĐông.jpg

Pic 5: Trước linh cữu của NS NVĐông- Ảnh của Nhà  Thơ Trần Tiến Dũng

pic 6 TTDũng và Quả phụ NVĐông.jpg

Pic 6: Nhà Thơ Trần Tiến Dũng và bà quả phụ NVĐông, trong đám tang – Ảnh của Nhà  Thơ Trần Tiến Dũng

pic 7 Cáo phó tang lễ.jpg

Pic 7: Cáo phó Tang Lễ

XIN V.ĩ.N.H B.I.Ê.T ‘NS ”’Nguyễn Văn Đông”” Vô Cùng Đau Xót Và Tiếc Thương !


XIN V.ĩ.N.H B.I.Ê.T ‘NS ”’Nguyễn Văn Đông”” Vô Cùng Đau Xót Và Tiếc Thương !

Published on Feb 28, 2018

Tin tuc moi nhat 24h XIN V.ĩ.N.H B.I.E.T ‘NS ”’Nguyễn Văn Đông”” Vô Cùng Đau Xót Và Tiếc Thương ! Đăng ký miễn phí tại đây: https://goo.gl/pk7Xeq

QUỲNH NGUYỄN : Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tác giả ‘Chiều mưa biên giới’ qua đời


Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tác giả ‘Chiều mưa biên giới’ qua đời

27/02/2018 16:09 GMT+7

TTO – Ca sĩ Giao Linh, người thân thiết của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, cho Tuổi Trẻ Online hay nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông qua đời vào 19h30 ngày 26-2 tại Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM), hưởng thọ 86 tuổi.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tác giả Chiều mưa biên giới qua đời - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là tác giả của nhiều nhạc phẩm phổ biến: Chiều mưa biên giớiNhớ một chiều xuânSắc hoa màu nhớ, Khúc xuân ca… Ông còn dùng một số bút danh khác để sáng tác như: Phượng Linh, Vì Dân và Đông Phương Tử, Phương Hà.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã viết những ca khúc đầu tiên khi ông mới 16 tuổi như Tạm biệt mùa hè… 

Ông bắt đầu nổi tiếng với Chiều mưa biên giới, Phiên gác đêm xuân, Mấy dặm sơn khê…

Ông đã sử dụng bút danh Đông Phương Tử và Phượng Linh để viết nhạc nền cho nhiều vở tuồng và cải lương. Ông cũng là đạo diễn của 50 vở tuồng, cải lương nổi tiếng như: Nửa đời hương phấn, Tiếng hạc trong trăng, Mưa rừng, Đoạn tuyệt

Ông đồng thời viết khá nhiều bản thánh ca: Màu xanh NoelMùa sao sáng, Bóng nhỏ giáo đường, Tình người ngoại đạo… và viết lời Việt cho hàng loạt bản nhạc cổ điển, nhạc ngoại Giáng sinh: Ave Maria, Đêm thánh vô cùng (Stille Nacht), Hồi chuông nửa đêm (Jingle Bells)…

Từng là là giám đốc Hãng băng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông chính là người đưa ra sáng kiến thực hiện album riêng cho từng ca sĩ mà trước đó chưa từng ai làm.

Các danh ca thời đó như Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu, Phương Dung, Giao Linh, Thanh Tuyền… đều đã thực hiện album riêng từ sáng kiến của ông. Ngoài ra, ông còn thực hiện album riêng cho những sáng tác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Sinh năm 1932 tại Sài Gòn, từ sau năm 1975 ông sống ở ngôi nhà trên đường Nguyễn Trọng Tuyển, quận Phú Nhuận (TP.HCM).

Gần gũi nhất với gia đình nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông những ngày cuối cùng là vợ chồng ca sĩ Giao Linh. Vợ chồng ca sĩ Giao Linh là người phụ trách cáo phó, lo hậu sự cùng vợ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông.

Vợ nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cũng cho hay lâu nay nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông có mắc nhiều bệnh như thoái hóa khớp, tiểu đường, đau dạ dày và huyết áp không ổn định.

“Những bệnh đó tôi đều biết và gìn giữ được bởi tôi cũng vốn xuất phát trong ngành y, nhưng 12h trưa qua (26-2) thì ông phải nhập viện cấp cứu vì phù động mạnh chủ.

Đến 19h30 hôm qua thì ông ra đi vì vỡ động mạch chủ. Trước khi mất năm mười phút, ông vẫn rất tỉnh táo trò chuyện với tôi nhẹ nhàng” – vợ nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông kể.

Linh cữu của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông được quàn tại tư gia (271A Nguyễn Trọng Tuyển, phường 10, quận Phú Nhuận, TP.HCM). Lễ động quan diễn ra vào 12h ngày 2-3 (nhằm ngày 15 tháng giêng Mậu Tuất), sau đó nhạc sĩ được hỏa táng tại Bình Hưng Hòa. Gia đình thông báo xin miễn chấp điếu, hoa quả.

Mắt kính trên tượng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vì sao “biến mất”?


Mắt kính trên tượng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vì sao “biến mất”?

Nhiều người hâm mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, sau khi viếng thăm mộ ông nhân dịp sinh nhật cố nhạc sĩ vào 28.2 vừa qua, đã thắc mắc khi cặp kính thường thấy trên bức tượng ông không còn nữa.

ẢNH: Q.T
Chị Xuân Hòa – chủ Phòng trà Tiếng Xưa cho biết, khi gia đình chị cùng ca sĩ Khánh Ly, Quang Thành viếng mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở Nghĩa trang Gò Dưa, Thủ Đức, TP.HCM hôm 1.3, thì đã không còn thấy cặp kính thân quen trên bức tượng cố nhạc sĩ nữa. “Có nhiều bạn bè thân hữu của gia đình chúng tôi cũng có cùng thắc mắc này. Khi thời gian gần đây họ có dịp đến thăm mộ hoặc nhìn hình ảnh trên báo online thì thấy bức tượng bỗng nhiên mất kính. Nên, họ cũng nhờ chúng tôi chuyển lời đến gia đình nhạc sĩ, bởi lâu nay cặp kính luôn gắn liền với hình ảnh về nhạc sĩ tài hoa này”, chị Xuân Hòa chia sẻ. Chị cho biết thêm, khi hỏi người chăm sóc khu mộ, được biết ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh – em gái nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã cất cặp kính đi…
Mắt kính trên tượng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vì sao “biến mất”? - ảnh 1

Chiếc kính thường thấy trên tượng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã không còn nữa
Cũng thấy được sự “khác lạ” ấy, song ca sĩ Khánh Ly cho rằng có lẽ gia đình nhạc sĩ hẳn phải có lý do nào đó mới làm như vậy. Còn với bà, có kính hay không, có đến thăm hay không, dù VN hay ở đâu… thì nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vẫn chưa bao giờ xa lìa cuộc sống, bởi, “Bây giờ, cũng không khác gì ngày xưa, khi đi đâu tôi cũng có âm nhạc của ông Sơn, có tình thương dành cho ông Sơn từ khán giả mọi miền. Không chỉ 28.2 hay 1.4, tôi nghĩ rằng ngày nào trong chúng ta cũng có người nhớ về ông, hay như tôi vẫn luôn nghĩ rằng ông Sơn chỉ đi đâu đó mua gói thuốc hoặc cà phê với bạn bè mà thôi”.
Mắt kính trên tượng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vì sao “biến mất”? - ảnh 2

Ca sĩ Khánh Ly viếng mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn khi vừa trở lại VN ngày 1.3
Liên lạc với ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh về sự quan tâm của công chúng trước “thay đổi” trên gương mặt bức tượng anh trai mình, chị cho biết: “Gia đình rất cảm ơn khi người yêu nhạc anh Sơn, quan tâm đến anh Sơn luôn nhớ đến cũng như chăm chút đến từng kỷ vật gắn với anh. Chúng tôi biết cặp kính trên bức tượng đã quen thuộc với khán giả, với công chúng từ 17 năm qua. Và gia đình cũng vậy. Nhưng, tôi cũng xin chia sẻ, trong suốt thời gian đó, sau biết bao lần gió bão, qua bao mùa nắng mưa…, gia đình đã thay không biết bao nhiêu chiếc kính. Vì không ít lần lên thăm mộ, khi thì thấy kính không còn, lúc thì kính bị gãy, khi lại chỉ còn cái gọng chơ vơ một nửa trên mặt…Những lúc đó, người nhà thấy rất đau lòng…”.
Mắt kính trên tượng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vì sao “biến mất”? - ảnh 3

Ca sĩ Khánh Ly trong một lần viếng mộ Trịnh Công Sơn, với bức tượng còn kính

ẢNH: C.T.H
Em gái cố nhạc sĩ cho hay, sau mỗi lần như vậy, chị đều tìm thợ để làm kính mới, rồi tìm loại keo tốt nhất để mong kính không bị rơi ra nữa. Nhưng kết quả vẫn là…hư hỏng hoặc biến mất. “Chúng tôi cũng nghĩ đến phương án làm kính cố định bằng cách đục tượng để đúc cặp kính. Nhưng rồi nghĩ lại, theo phong tục lẫn kiêng kỵ của ông bà mình, đó là điều không hay, mình cũng không đành lòng làm vậy. Chúng tôi biết mọi người quen nhìn bức tượng, cũng như quen với hình ảnh nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với cặp kính trên gương mặt anh, nhưng bây giờ gia đình lại không muốn thấy hình ảnh đau lòng thêm mỗi khi lên mộ nếu kính hỏng, gãy rơi… Nên có lẽ hiện thời, khi chưa có phương án nào khả thi và hay hơn, chúng tôi để tượng anh Sơn không có kính như vậy cũng được…”, ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh bày tỏ.

Đám Tang Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông – TTMD


 

 

 

Đám Tang Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông – TTMD

Published on Feb 27, 2018

Live ! Đám Tang Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông. Nhạc phẩm bất hủ ” Chiều Mưa Biên Giới ” vẫn còn đây ! Người sáng tác nhạc phẩm nầy nay còn đâu ? * Đám Ma dịch vụ đưa đám tang lễ của Cộng Sản Việt Nam XHCN sau này kỳ lạ ! không thổi kèn nhạc Đám Ma thuần túy của người Việt mà đi hòa tấu và hát nhạc tân nhạc ? – Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vừa trút hơi thở cuối cùng lúc 19g30 ngày thứ hai 26 tháng 2 tại Bịnh viện Chợ Rẫy. – NGUYỄN VĂN ĐÔNG (sinh 1932), là một nhạc sĩ, quân nhân Việt Nam Cộng hòa nổi tiếng trước 1975. Một số bút danh khác của ông là Phượng Linh, Phương Hà, Vì Dân và Đông Phương Tử. – Cuộc đời binh nghiệp : – Nguyễn Văn Đông sinh ngày 15 tháng 3 năm 1932 tại quận 1, Sài Gòn nhưng nguyên quán của ông ở Lợi Thuận, Bến Cầu, Tây Ninh. Thuở bé, do điều kiện gia đình, ông học ở nhà dưới sự hướng dẫn của thầy học. Sau ông theo học bậc trung học tại trường Huỳnh Khương Ninh, Đa Kao. – Năm 1945, chính quyền Pháp đóng cửa trường Huỳnh Khương Ninh. Năm 1946, gia đình gửi ông vào trường Thiếu sinh quân Việt Nam ở Vũng Tàu, khi đấy ông mới 14 tuổi. – Thời gian tại trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, ông được học nhạc với các giảng viên âm nhạc của Học viện Âm nhạc Quốc gia Pháp sang giảng dạy. Chỉ sau một thời gian ngắn sau, ông trở thành một thành viên của ban quân nhạc thiếu sinh quân, học cách sử dụng nhiều loại nhạc cụ khác nhau. Năm 16 tuổi, ông đã có những sáng tác đầu tay như “Thiếu sinh quân hành khúc”, “Tạm biệt mùa hè”… – Sau khi tốt nghiệp trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, ông nhập ngũ chính thức vào Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1951, ông được cử theo học khóa 4 trường Võ bị Sĩ quan Vũng Tàu và tốt nghiệp thủ khoa với cấp bậc Thiếu úy vào năm 1952. Năm sau, ông được cử đi học khóa huấn luyện “Ðại đội trưởng” tại trường Võ bị Ðà Lạt. Năm 1954, ông được gửi ra Hà Nội theo học khóa “Tiểu đoàn trưởng” tại trường chiến thuật Hà Nội. Ra trường, ông nhận chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn trọng pháo 553, trở thành Tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của Quân đội Quốc gia Việt Nam khi mới 24 tuổi. – Sau Hiệp định Genève, 1954, ông chuyển vào Nam, phục vụ tại Phân khu Đồng Tháp Mười với chức vụ Trung úy Trưởng phòng Hành quân. Thời gian này, ông còn kiêm nhiệm chức Trưởng phòng 3 (Tác chiến) của Phân khu, dưới quyền Đại tá Nguyễn Văn Là, tham gia Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu 1956. Bấy giờ, tướng Dương Văn Minh là Tư lệnh chiến dịch, từng đến bắt tay ông tỏ lòng ngưỡng mộ. Bức ảnh chụp tướng Minh bắt tay ông đã được in trên trang nhất của báo Chiến sĩ Cộng hòa. Ông thăng đến chức đại tá trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. – Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, Nguyễn Văn Đông bị bắt đi học tập cải tạo 10 năm và ngừng sáng tác từ đó. Hiện ông sống tại Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh cùng gia đình.