Category Archives: CONDOLENCES

Tran Viet Hai: Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi.


Subject: Nữ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi.Gia đình của nhạc sĩ Phạm Duy đã thông báo danh ca Thái Thanh, người được mệnh danh là Tiếng hát vượt thời gian, đã qua đời tại Mỹ vào lúc 11 giờ 20 ngày 17-3 (giờ địa phương). Hưởng thọ 86 tuổi.——————————————————————————–Also ref link:https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/tieng-hat-vuot-thoi-gian-danh-ca-thai-thanh-qua-doi-huong-tho-86-tuoi/————————————–Xin Thành Kính Chia Buồn cùng Tang Quyến.Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian: Trần Mạnh Chi, Pham Hồng Thái, Nguyên Hồng, Bùi Quỳnh Giao, Lâm Dung, Quốc Sĩ, Duy Nhật, Vương Trang, Ngọc Quỳnh, Minh Châu, Paul Phú, Mai Hương, Thanh Thanh, Henry, John Tạ, Ngọc Cường, Ngô Thiện Đức, Ngọc Tú, Thanh Châu, Kim Nga, Tâm Bùi, ThụyVy, Minh Coeur, Mộng Thủy, Bích Trâm, Bích Ty, Mindy Lưu, Kim Lý, Lý Tòng Tôn, Thanh Thanh, Lưu Anh Tuấn, Yên Sơn, Thụy Lan, Hồng Anh, Khánh Lan, Hồng Tước, Mạnh Bổng, Trọng Nghĩa, Phạm Đăng Khải, Thanh Mỹ, Hoàng Vinh, Quyên Di, Trần Huy Bích, Dương Viết Điền, Đặng Quý Mão, Nhật Uyên, Gina Nga, Katherine Lê, Nguyễn Quang, Lệ Hoa, và Trần Việt Hải, Thân hữu văn nghệ sĩ: Lam Phương, Cung Trầm Tưởng, Trần Quang Hải, Bạch Yến, Thái Tú Hạp, Ái Cầm, Kiều Chinh, Thanh Thúy, Thanh Châu, Thanh Tuyền, Cao Mỵ Nhân, Hồng Vũ Lan Nhi, Kim Tước, Thanh Tước, Bích Huyền, Cát Ngọc, Trần Phong Vũ Ngọc Vân, Bồ Đại Kỳ, Nguyễn Bá Thảo, Vũ Đức Âu Vĩnh Hiền, Vương Trùng Dương, Nguyễn Ngọc Chấn, Nguyễn Thanh Huy, Thanh Thương Hoàng, Vũ Hoài Mỹ, Trần Trung Đạo, Trường Sa, Hoàng Sa, Mỹ Chương, Lê Văn Khoa, Ngọc Hà, Khiếu Long, Nhược Thu, Thúy Anh, Nguyên Vũ, Vũ Hương Thơ, Tha Nhân, Ông Như Ngọc, Trần Quốc Bảo, Lê Đình Hải, Phạm Quốc Bảo, Phạm Kim, Võ Ý, Nguyễn Xuân Vinh, Phiến Đan, Nguyễn Văn Liêm, Phạm Gia Đại, Phạm Gia Cổn, Kiều Hạnh, Cát Biển, Lê Thị Hoài Niệm, Diễm Chi, Trần Quảng Nam, Trịnh Nam Sơn, Võ Tá Hân, Kim Châu, Kiều Mỹ Duyên, Ngọc Hoài Phương, Vũ Uyên Giang, Phan Bá Thụy Dương, Hà Nguyên Du, Đỗ Bình Paris, Phương Oanh Paris, Hà Phương Hoài, Hà Huyền Chi, Vũ Xuân Hùng, Huỳnh Kỳ Phát, Trung Nghĩa, Túy Vân MS, Nguyễn Thiện Lý, Vân Khanh SJ, Mỹ Trâm, Nguyễn Đăng Dũng, Michelle Mỹ Thanh NY, Phạm Ngọc Mai và Bích Phương Hạ Đỏ.Đồng Thành Kính Phân Ưu.————————————————————————–Thái Thanh – Những Tình Khúc Hay Nhất Thập Niên 90 Của Tiếng Hát Vượt Thời Gian Thái Thanh:https://www.youtube.com/watch?v=CJBIroCwfzA——————————————————————————–THÁI THANH : Tiếng Hát Tuyệt Vời (Việt Hải Los Angeles)Sáng thứ bảy một hôm khi thức dậy tôi nghe chuông điện reo, bên đầu giây bên kia là chị nhà thơ Vũ Hoài Mỹ (VHM) hớn hở khoe với tôi là tối hôm qua chị nghe nhạc, trong một CD có bài hát “Nửa Hồn Thương Đau”, nhạc của Phạm Đình Chương và do ca sĩ Thái Thanh (TT) hát, chị cảm thấy rất “phê”. Chị VHM lập đi lập lại câu nói: “Giọng Thái Thanh tuyệt vời, Thái Thanh thật tuyệt vời!”. Đoạn chị đọc tôi nghe bài thơ chị vừa làm khi cảm xúc nẩy ra khi nhớ về một nữ hoàng của nền ca nhạc Việt Nam. Tôi biết nàng thơ VHM, chị có biệt tài làm thơ rất nhanh và nhuyễn. Ngày hôm nay chị là người góp ý niệm khi đọc cho tôi nghe bài thơ mới cảm tác của chị về cô Thái Thanh qua đề tựa của bài thơ là:“Thái Thanh: Tiếng Hát Tuyệt Vời”:” Thái bình, mà tiếng ngậm ngùi.Thanh âm xưa ấm lòng người ngàn phươngTiếng êm mượt ướp trầm hươngHát ru day dứt “nửa hồn thương đau”Tuyệt tình, không vướng lụy “Sao”Vời trông đất Mẹ dạt dào tự do. “Chị VHM giải thích là sau năm 75, TT chán nản không trở lại nghiệp ca hát, không chạy theo luồng gió mới của buổi giao mùa. Câu thứ 5 chị ám chỉ sự kiện dứt khoát lập trường với chế độ mới trong buổi giao thời đầy “trăng sao”, tức thời buổi đầy nghi kỵ của chế độ cờ đỏ “sao” vàng.Tôi cảm nhận sự kiện “phê, phê” lại đến với tôi, tôi bắt ý khi đọc bài thơ của chị xong, tôi quyết định viết lên những cảm nghĩ riêng của mình bằng lời lẽ thay vì bằng những vần thơ như chị. Bài viết này mang cùng tên với bài thơ của chị vì đây là sự kiện thật sự, một true fact theo ý nghĩ của tôi. Trước đây có vài thân hữu khuyến khích tôi viết ghi nhận các ca nhạc sĩ có những đóng góp cho lãnh vực âm nhạc, tôi ngần ngại vì khi không đủ dữ kiện thì viết không trung thực được. Riêng về ca sĩ TT tôi rất muốn viết từ lâu rồi. Vì những ai sống tại miền nam Việt Nam trước năm 75 ít nhiều cũng biết TT và những nhạc phẩm mà cô hát. Rất nhiều người như các bạn tôi đều thú nhận trong đời họ, họ có những kỷ niệm riêng tư với tiếng hát TT. Và tôi cũng như họ. Tôi vội ghi bài thơ của VHM lên trang bià một tờ báo với hàng chữ hý hoáy, và liền leo vào “người tình hi-tech”, một đặc ngữ mà nhà tôi ám chỉ cái computer của tôi, tôi quý nó vì nó gắn liền với cái nội tâm tri giác của tôi.Tôi nhớ một chương trình trên đài truyền hình số 9 về quê hương của những năm trước mùa di tản năm 75, giọng hát TT được dùng làm nhạc đệm mở đầu chương trình khi chạy bài hát bài “Tình Ca” của nhạc sĩ Phạm Duy:“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơiMẹ hiền ru những câu xa vờiÀ à ơi! Tiếng ru muôn đờiTiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vuiKhóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơiTiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôiThoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi…”Rồi đậm đà hơn về tình ca quê hương, giang sơn gấm vóc cho con tim tôi thêm rung động qua giọng ca mà làn hơi ngân dài của tiếng hát vượt dòng thời gian này xuôi theo khắp nẽo đường đất nước, theo nhiều biến cố, vận nước nổi trôi để chúng ta còn nhớ mãi:“Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanhRuộng đồng vun sóng ra Thái BìnhNhìn trùng dương hát câu no lànhĐất nước tôi ! Dẫy Trường Sơn ẩn bóng hoàng hônĐất miền Tây chờ sức người vươn, đất ơiĐất nước tôi ! Núi rừng cao miền Bắc lửa thiêngLúa miền Nam chờ gió mùa lên, lúa ơiTôi yêu những sông trườngBiết ái tình ở dòng sông HươngSống no đầy là nhờ Cửu LongMáu sông Hồng đỏ vì chờ mongNgười yêu thế giới mịt mùngCùng tôi ôm ấp ruộng đồng Việt NamLàm sao chắp cánh chim ngànNhìn Trung Nam Bắc kết hàng mến nhau…”Giọng ca TT thanh thoát, xao xuyến tâm tư người nghe về đất nước, quê hương mến yêu. Kỷ niệm cũ đó vẫn mãi mãi ngự trị trong tâm hồn tôi khi tiếng ca mang những tình tự rất quê hương đưa người dân Việt phiêu du tâm hồn qua ba miền đất nước. Hoà lẩn bài “Tình Ca” này trong hồn tôi là bài “Tình Hoài Hương”, nhạc cũng do Phạm Duy:“Quê hương tôi, có con sông dài xinh xắnNước tuôn trên đồng vuông vắnLúa thơm cho đủ hai mùaDân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê.Quê hương tôi có con sông đào ngây ngấtLúc tan chợ chiều xa tắpBóng nâu trên đường bước dồnLửa bếp nồng, vòm tre non, làn khói ấm hương thôn!Ai về, về có nhớ, nhớ cô mình chăng?Tôi về, về tôi nhớ hàm răng cô mình cười!Ai về mua lấy miệng cườiĐể riêng tôi mua lại mảnh đời, thơ ngây thơ…!Mấy anh em họ Phạm thành lập một ban hợp ca lấy tên là ban THĂNG LONG (tên này đã được dùng làm bảng hiệu cho quán phở gia đình ở Chợ Đại, Chợ Neo trước đây). Rồi cũng trong tâm trạng lưu luyến dĩ vãng rất gần, Phạm Đình Viêm lấy tên là Hoài Trung (nhớ Khu 4 chăng ?), Phạm Đình Chương lấy tên là Hoài Bắc (1). Cô em út trong gia đình, Băng Thanh đổi tên là Thái Thanh để đi đôi với tên chị Thái Hằng.Một bản nhạc hay là điều cần thiết để thành công cho người nhạc sĩ. Tuy nhiên, cái yếu tố khác không kém phần quan trọng là người ca sĩ chuyển đạt bài hát đó có khả năng thuyết phục sự rung cảm đến người nghe bản nhạc đó hay không. TT hát với sự khéo léo vận dụng âm thanh theo tiết tấu của bài hát và diễn tả lời bài hát trong một kỹ thuật giao thoa đồng điệu của năng khiếu thiên bẩm. Tôi nhớ lại khi xem hoặc nghe TT diễn tả một cách thật truyền cảm và thật điêu luyện những nhạc phẩm mà TT đã trình bày như: Kỷ Vật Cho Em, Mùa Thu Chết, Nghìn Trùng Xa Cách, Trả Lại Em Yêu, Bà Mẹ Gio Linh hay Bên Cầu Biên Giới, Ngàn Thu Áo Tím,… Tôi cho là vô cùng tuyệt vời:“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lạiXin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime,Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã,Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngảAnh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa,Anh trở về trên chiếc băng caTrên trực thăng sơn màu tang trắng.Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lạiXin trả lời xin trả lời mai mốt anh về.Anh trở về chiều hoang trốn nắngPoncho buồn liệm kín hồn anhAnh trở về bờ tóc em xanhChít khăn sô lên đầu vội vã… Em ơi!Em hỏi anh. Em hỏi anh bao giờ trở lạiXin trả lời, xin trả lời mai mốt anh vềAnh trở lại với kỷ vật viên đạn đồng đenEm sang sông cho làm kỷ niệmAnh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗAnh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân.Em một chiều dạo phố mùa Xuân,Bên nguời yêu tật nguyền chai đá…”Lời bài hát “Kỷ vật cho em” buồn thảm, thê lương, giọng ca cao vút như ai oán của TT khiến tôi rung cảm cho người chinh phụ trong bài hát đối diện với cái rủi ro oan nghiệt của chiến tranh cho hạnh phúc đời nàng. Lần đầu tiên tôi nghe giọng TT ca bài hát này nó đã in sâu cái cảm xúc xoáy vào nội tâm tôi hay một sự chấp nhận mặc nhiên tiên khởi trong hồn tôi cho tới nay. TT cho âm thanh bài hát ngân nga lên xuống theo cung điệu nhịp hát, khi cô phát âm ngôn từ “Em ơi!”, tôi nghe rỏ và thích khúc này, sự kiện cho ta chút bùi ngùi, chút tình tứ cảm thông. Đây là bài hát phải do TT ca và vì cái tần số thính giác đã quen thuộc trong tiềm thức như là một định kiến khuôn mẫu có sẵn trong tôi.Tiếng hát của Thái Thanh với riêng tôi, tôi có những kỷ niệm thật êm đềm. Năm 1967-68, tôi thường đến nhà 2 cô bạn Mỹ Trâm và Mỹ Xuân trong hẻm lối vào kế bên hông đại học Vạn Hạnh, hai cô này học nhạc từ lò luyện tập ca hát của nhạc sĩ Nguyễn Đức, có nhiều lần tôi chứng kiến 2 cô đang tập dượt hát tại nhà, tôi ngồi xem khi hai cô nghe máy hát phát ra những bản nhạc của Phạm Duy do Thái Thanh hát, Mỹ Xuân hát giọng trầm, Mỹ Trâm có giọng hát cao trong trẻo, cao vút khi nàng bắt chước giọng TT. Tôi nghĩ có lẽ không thể nào sánh bằng, nhưng những hậu duệ vẫn lấy giọng ca TT làm chuẩn hay thước đo của sự tiến triển của giọng mình qua các bài như bài “Tiếng Đàn tôi”, nhịp điệu Tango:“Đời lạnh lùng trôi theo giòng nước mắt,Với bao tiếng tơ xót thương đời.Vì cuộc tình đã chết một đêm nao.Lúc trăng hãy còn thơ ấu!Dù đời tàn trên cánh nhạc chơi vơi.Thoáng nghe tiếng ai khóc ai cười.Người đẹp về trong lúc mùa thu rơi.Tiếng chuông tiễn đưa đến tôi.Mênh mông lả lơi!Đàn trầm xa lánh cõi đời.Mênh mông lả lơi!Lạnh lùng em đã rời tôi.Khoan, khoan, hò ơi!Người về xa tắp không lời.Khoan, khoan, hò ơi!Lệ sầu rụng xuống đàn tôi…”Bài ca khác qua giọng hát TT được 2 cô tập dượt mà tôi còn nhớ là “Ngày đó chúng mình”, một bài tình ca với nét nhạc trữ tình, nhẹ nhàng, du dương, giọng ca TT bắt đầu:“Ngày đó có em đi nhẹ vào đờiVà mang theo trăng sao – đến với lời thơ nuốiNgày đó có anh mơ lại mộng ngờiVà se tơ kết tóc – giam em vào lòng thôiNgày đôi ta ca vui tiếng hát vói đường dàiNgâm kẽ tiếng thơ, khơi mạch sầu lơiNgày đôi môi đôi môi đã quyết trói đời ngườiôi những cánh tay đan vòng tình áiNgày đó có ta mơ được trọn đờiTình vươn vai lên khơi – tới chín trời mây khóiNgày đó có say duyên vượt biển ngoàiTrùng dương ơi! Giữ kín cho lâu đài tình đôi …”Một bài hát khác của nhạc sĩ Phạm Duy là bài “Tiếng Sáo Thiên Thai”, một ca khúc chứa đựng nhiều lời thanh thoát ca tụng vẽ đẹp thiên nhiên, khi TT cất tiếng hát thì hồn tôi có cảm giác thật “thiên thai”, khúc nhạc mang âm thanh thư thái:“Xuân tươi!Êm êm ánh xuân nồng,Nâng niu sáo bên rừng,Dăm ba chú Kim đồng…Tiếng sáo,Nhẹ nhàng lướt cỏ nắng,Nhạc lòng đưa hiu hắt,Và buồn xa buồn vắng,Mênh mông là buồn!Tiên nga, buông lơi tóc bên nguồn,Hiu hiu lũ cây tùng,Ru ru tiếng trên cồn…Mây ơi!Ngập ngừng sau đèo vắng,Nhìn mình cây nhuộm nắng,Và chiều như chìm lắng,Bóng chiều không đi…”Rồi một bài hát mà giọng ca TT đã làm lòng tôi dâng lên nỗi buồn man mác là bản “Hoa Rụng Ven Sông”:“Giờ đây trên sông hoa rụng tơi bờigiờ đây em ơi cơn mộng tan rồilòng anh tan hoangthôi vỗ tình ơingày như theo sôngbóng xế tàn rơiCòn đâu em ơi còn đâu ánh trăng vàngcòn đâu ánh trăng vàngmơ trên làn tóc rốicòn đâu em ơi còn đâu bước chân ngườicòn đâu bước chân ngườimơ trên đường chiều rơiCòn đâu đêm sang lá đổ rộn ràngcòn đâu sương tan trăng nội mơ màngcòn đâu em ngoantóc rối ngổn ngangtuổi em đôi mươixuân mới vừa sang…”Tôi nhận xét trong lịch sử âm nhạc Việt Nam thì nhạc Phạm Duy và tiếng hát Thái Thanh có sự liên hệ mật thiết, bất khả phân ly, vì nhiều bài ca của Phạm Duy được sáng tác ra chỉ để giọng ca TT đem lên đỉnh cao đúng vị trí của nó, và ngược lại nhạc Phạm Duy cũng đem tiếng hát TT vào sự đam mê, ngưỡng mộ, thần tượng cô nhiều hơn đối với hàng nhiều, thật nhiều người, trong đó có nhiều ca sĩ tập sự như Mỹ Trâm, Mỹ Xuân,… Nhiều bài viết đã nói nhiều về tương quan giữa nhạc Phạm Duy và tiếng hát Thái Thanh, và đó là tương quan hai chiều bổ sung lẫn nhau.Qua nhiều bài hát từ các bài vừa nói trên hay Ngày Xưa Hoàng Thị, Tiễn Em, Dòng Sông Xanh, Nụ Tầm Xuân, Tìm Nhau, Giết Người Trong Mộng, Em Lễ Chùa Này, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng,… hay Đừng Xa Nhau mà Mỹ Trâm nghe nhiều lần học kỹ thuật ca của TT:“Đừng xa nhau! Đừng quên nhau!Đừng rẽ khúc tình nghèoĐừng chia nhau nỗi vui niềm đau.Đừng buông mau! Đừng dứt áo!Đừng thoát giấc mộng đầu,Dù cho đêm có không bền lâu.Đời phai mau, người ghen nhau,Lòng vẫn cứ ngọt ngào,Miệng ru nhau những ân tình sâu.Đừng xôn xao, đừng khóc dấu,Đừng oán trách phận bèo,Vì sông xa vẫn trung thành theo…”Tôi biết tôi có viết về giọng ca Thái Thanh, dù là ghi nhận lại hay quảng bá giọng ca này là độc đáo hay xuất chúng thì cũng bằng thừa, nhưng vì có vài người bạn thân khuyến khích tôi nên viết ra những cảm nghĩ của mình và bạn bè về giọng ca vàng Thái Thanh đã làm mưa, làm gió, tung hoành trong vườn ca âm nhạc Việt Nam trong bao năm qua. Tôi nẩy ra ý nghĩ đi gom góp ý kiến của các bạn, rồi đúc kết những ý nghĩ của họ lại trong một bài viết về người ca sĩ của sự mến mộ chung này của quần chúng. Phần kế tiếp tôi xin trích các emails được phúc đáp từ một số thân hữu trong giới thi, văn và nhạc để tìm hiểu xem giọng ca TT có kỷ niệm nào với họ hay họ nghĩ sao về giọng hát này. Nào, chúng ta hãy xem sự ghi nhận của các bạn qua những lời nhận xét sau đây:Nhạc sĩ trẻ Nguyễn Thiện Doãn cung cấp cho tôi những lời tận đáy lòng của anh về tiếng ca của Thái Thanh:“Vào thuở 18 tuổi khi vừa lớn, Thiện Doãn vẫn thích nhất bài Khi Tôi Về do Phạm Duy sáng tác và Thái Thanh trình bầy. Lời và nhạc, đối với Thiện Doãn, đã quá hay, nhưng nếu không có giọng hát của ca sĩ Thái Thanh thì chưa chắc đã làm NTD phải chú tâm mà ưa thích trong lúc cái tuổi đời mình chưa đủ để phải cưu mang và suy tư (Tam thập nhi lập, Tứ thập nhi viễn chi). Tuy lúc đó còn trong lứa tuổi mới lớn, yêu đương bồng bột, sá gì đến chuyện chiến chinh và thanh bình, nhưng không hiểu sao cứ mỗi lần nghe ca sĩ Thái Thanh cất lên với giọng trong veo, vút tầng mây để rồi giọng ca ấy lẽn vào tâm tư mình với nhiều hình tượng và mơ ước: “Khi tôi về, con chim bồ câu nằm trong tổ ấm khi dây thép gai đã hết rào quanh đồn phòng ngư. Và người lính đã trở về bờ ruộng nương đã một lần hoang phế và hôm nay anh cày đám ruộng xưa khi anh về đường đồng quê lối cũ. Con diều bay hồn nhiên, đùa bay trong chiều lộng gió thanh bình. Ôi, chốn quê nhà trên thảm cỏ xanh… Chắc chắn là mơ ước về một quê hương thanh bình, hiền hoà của miền quê mộc mạc, của quê hương đầy ắp tình tự và thâm thúy qua lời nhạc, tiếng ca được gói ghém trong bài “Khi Tôi Về. Con cò lại bay trên đồng ruộng xanh Tre già bảo nhau cúi đầu trầm ngâm Cùng mùi khói lam quen thuộc…”.Đến những năm cuối thập niên 80’s thì lại được dịp nghe những bài Đạo Ca của nhạc sĩ Phạm Duy qua giọng hát tuyệt vời quen thuộc của nữ ca sĩ Thái Thanh. Giọng ca của ca sĩ Thái Thanh đã để lại trong tâm hồn Thiện Doãn một ấn tượng miên man, to lớn. Bên cạnh những dòng nhạc thanh thoát của nhạc sĩ Phạm Duy, những hòa âm điêu luyện của nhạc sĩ Duy Cường, lời thơ nỗi tiếng của thi sĩ Phạm Thiên Thư, tiếng hát thánh thót như chim sơn ca của ca sĩ Thái Thanh đã chuyên chở những vàng son về ý niệm của dòng nhạc và lời ca rót vào lòng người nghe mà trong đó có Thiện Doãn là một ví dụ điển hình. Tuy tuổi đời còn trẻ so với những bậc trưởng thượng, TD vẫn xin được ghi nhận nơi đây lòng kính phục và trân qúy đến với nữ ca sĩ Thái Thanh nói riêng, và các nhạc sĩ đóng góp nhạc cho ca sĩ Thái Thanh ca nói chung.”, Thiện Doãn, San José.Với nhạc sĩ Phan Ni Tấn từ Canada, cho ý kiến của anh:“Nói về giọng hát Thái Thanh, bắt tôi lựa ra một hay hai bài thì tôi e sẽ không đủ, nhưng đã hỏi thì tôi xin nêu ra nhé. Tôi xin chọn bài Đường Chiều Lá Rụng vì lời như thơ, được giọng ca thánh thót cất lên trong âm thanh âm nhạc tạo nên hình ảnh một không gian mênh mông, bao la của buổi chiều lá rụng. Khi tâm tư tôi đang định cư nơi nhiều rừng núi của Canada này mà hồn nghe thấy lá mùa thu rơi để dễ đồng cảm hơn những hình ảnh cô liêu, tàn tạ hay héo úa của cảnh chiều hoang phế…”, Phan Ni Tấn, Toronto.Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng cho biết anh thích nhiều bài hát qua giọng ca của Thái Thanh, một ví dụ điển hình là bài “Bà Mẹ Gio Linh”. PAD, Santa Maria.Mẹ Gio Linh tượng trưng cho hằng triệu bà mẹ khác khắc khổ trong chiến tranh, hy sinh thân phận mình để nuôi con ra chiến trận, họ bám víu lấy quê hương tội nghiệp như thân phận chính mình, nhạc Phạm Duy qua sự diễn đạt như lời tâm sự rất tình tự của giọng ca Thái Thanh:“Mẹ già cuốc đất trồng khoaiNuôi con đánh giặc đêm ngàyCho dù áo rách sờn vaiCơm ăn bát vơi bát đầyHò ơi ơi ới hò! Hò ơi ơi ới hò!Nhà thì nó đốt còn đâyKhuyên nhau báo thù phen nàyMẹ mừng con giết nhiều TâyRa công sới vun cầy cấyHò ơi ơi ới hò! Hò ơi ơi ới hò!Con vui ra đi, sớm tối vác súng vềMẹ già một con yêu nước có kém chiĐêm nghe xa xa có tiếng súng lắng vềMẹ nguyện cầu cho con sống rất say mê.Mẹ già tưới nước trồng rauNghe tin xóm làng kêu gàoQuân thù đã bắt được conĐem ra giữa chợ cắt đầu…”Nhạc Sĩ Anh Vũ biên cho tôi đôi dòng nhận xét của anh như sau:“Với tôi, ca sĩ Thái Thanh hát bài nào cũng tuyệt vời vì giọng hát của cô là cả sự điêu luyện và thiên phú. Điêu luyện ở chỗ cách chuyển tông (tone), luyến, láy, rung, ngân cơ hồ như những bất cứ nhạc cụ nào mà người nhạc công tài ba đang xữ dụng. Thái Thanh không những áp dụng lối ép hơi từ bụng, thanh quản trong kỷ thuật thanh nhạc, mà cô còn áp dụng cả một vùng trời nghệ thuật bằng cách đem cả trái tim, tâm hồn gởi gấm theo từng ý nghĩa âm ba nhịp điệu, cuờng độ trải rộng bát ngát hay sâu thăm thẳm trong khoảng không gian, thời gian cơ hồ yên tĩnh… Tôi vốn thích nhất là bài -Trường ca- Con đường cái quan.” Anh Vũ, Orange county.Nhạc sĩ Trần Đại Phước cho dòng ghi nhận của anh về TT:“Theo kinh nghiệm và cảm nhận riêng, tôi nghĩ Thái Thanh có một giọng hát cùng một cung cách hát vô cùng điêu luyện một cách cực kỳ sắc sảo, không có giọng nữ nào trong giới ca sĩ Việt Nam có thể vượt qua nổi.Sự sắc sảo này không chỉ nằm trong âm sắc (timbre) mà còn ở trong việc diễn tả cao độ của âm thanh nữa. Sắc giọng của Thái Thanh bén nhọn, mạnh mẽ nên có tính cách xoáy sâu vào tâm tư của người nghe. Do đó, chỉ có giọng Thái Thanh mới có thể đi đôi với hai sắc giọng khác trong ban Thăng Long, một rất “rền” (Hoài Trung) và một rất “nhựa” (Hoài Bắc). Cũng có thể nói là tiếng hát Thái Thanh mang tính chất opera, nhưng do thiên phú chứ không phải do đào luyện nên nghe tự nhiên, dễ chịu. Tuy nhiên, tôi xin thêm rằng nghe Thái Thanh hình như cũng phải cần đến một “tâm lực” hùng hậu, vì có hơn một người quen đã nói với tôi rằng khi nghe Thái Thanh hát, họ cảm thấy “sợ”.Cũng nhờ sắc sảo – chính xác và uyển chuyển – trên độ cao của nốt nhạc, Thái Thanh đã phần lớn có thể diễn tả vượt trên những ký âm thông thường của một ca khúc, đôi khi còn có thể tạo nên những “glissandi” mà cũng chỉ có Thái Thanh mới thể hiện được, ví dụ chữ “lướt” trong “Buồn Tàn Thu”. Người khó tính về chuyện hát thật sát với ký âm có thể không hài lòng, nhưng theo tôi, đó cũng là quyền diễn xuất của một ca sĩ trong việc đơn ca, mình chỉ nên nhận xét về hay hay dở, xuất sắc hay tầm thường, mà ở Thái Thanh, hầu như luôn luôn chỉ có xuất sắc.”, TĐP, Dallas.Nhạc sĩ Hiếu Anh cho tôi ý nghĩ của anh khi nghe TT hát:“Rất hân hạnh biết anh và lại được anh nhắc tới ca sĩ THÁI THANH, một ca sĩ có giọng ca thánh thót ngọt nào và truyền cảm, một giọng ca mà nhiều người đã phải nhìn nhận rằng: “GIỌNG CA VƯỢT THỜI GIAN và KHÔNG GIAN”. Những bản TÌNH CA của Phạm Duy mà THÁI THANH đã hát sau này ít có ai qua mặt được THÁI THANH như bài Đố Ai, NỤ TẦM XUÂN,… hay HỘI TRÙNG DƯƠNG của Phạm Đình Chương, và cả những tác phẩm của các nhạc sĩ khác như bài MÙA THU KHÔNG TRỞ LẠI của Phạm Trọng Cầu, mà THÁI THANH đã hát rất hay.Tuy vậy, sở thích và trình độ thưởng thức của mỗi người mỗi khác… nhưng tựu trung hầu như đa số đều mến mộ giọng ca THÁI THANH như một GIỌNG CA VÀNG hiếm có.Sau cùng, tôi có một kỷ niệm rất khó quên với giọng ca THÁI THANH là tôi đã rơi nước mắt khi nghe THÁITHANH ca bài BIỆT LY của DZOÃN MẪN trong cái đêm của ngày cuối cùng mà tôi phải biệt ly người vợ vừa cưới để ngày mai lên đường nhập ngũ vào trường Bộ Binh Thủ Đức… vì nó xảy ra đúng tâm trạng sắp tạm biệt gia đình và người vợ mới cưới.”, Hiếu Anh, Louisville, Kentucky.Nhạc sĩ Hàn Sĩ Nguyên góp ý của anh như sau:“Anh hỏi về ca sĩ Thái Thanh, Nguyên biết trả lời sao bây giờ? Thái Thanh nổi tiếng quá rồi. Thôi thì vắn tắt như thế này nhé :Có nhiều yếu tố tác động, vun đắp, hình thành nên một nhân cách, một tâm hồn…– Một là Ca dao VN– Hai là Thơ Kiều của Nguyễn Du– Ba là nhạc Phạm Duy đi đôi cùng tiếng hát Thái Thanh, mà Nguyên nghĩ hai thành phần này theo Nguyên là không thể tách rời nhau.Chính Nguyên là một trong số những người chịu ảnh hưởng nặng nề của cả 3 yếu tố ấy, ngay từ tấm bé, cho đến bây giờ, mãi mãi về sau này. Vì vậy, tình cảm của Nguyên là “vô cùng biết ơn những người nghệ sĩ ấy”.Nói riêng về Thái Thanh thì… bài nào cũng thích, nhưng nếu phải chọn thì Nguyên đặc biệt thích thì 2 bài:1- “Ngày đó chúng mình”, gamme Re trưởng: là bản nhạc đầu tiên Nguyên tập chơi đàn năm 16 tuổi.2- “Tình cầm”, đặc biệt thích khi mình… không còn trẻ nữa, vì nó quá tuyệt vời!”, Hàn Sĩ Nguyên.Nhạc sĩ Trần Quốc Sỹ cho ý kiến của anh về Thái Thanh:“Theo tôi, hai nhạc phẩm mà Thái Thanh đã làm rung động người nghe nhất là bài “Áo anh sứt chỉ đường tà” và bài “Kỷ vật cho em”. Có lẽ ít ca sĩ nào có thể trình bày hai nhạc phẩm này hay hơn Thái Thanh.Nghe Thái Thanh trong bài “Áo anh sứt chỉ đường tà” và bài “Kỷ vật cho em”, thính giả có thể có cảm tưởng như mình đứng giữa những gì đang xảy ra của cuộc chiến buồn vơi…”, Trần Quốc Sỹ, Hungtington Beach, nam Cali.Từ bên Úc châu, nữ nhạc sĩ Quách Nam Dung ghi những nhận xét về Thái Thanh như sau:“Thái Thanh được coi là giọng ca hàng đầu của nền âm nhạc Việt Nam, giọng ca oanh vàng này đã chiếm một khoảng thời gian dài, nhất là từ thập niên 50’s đến giữa 70’s, trong không gian Việt Nam, đặc biệt là tại miền nam khi nhiều nhạc phẩm của nhạc sĩ Phạm Duy và nhiều nhạc sĩ khác được cô cất tiếng ca mình chuyên chở đến đám đông. Trong nhiều bài ca cô hát, QND thích nhất bài “Giết Người Trong Mộng” của Phạm Duy.”, Quách Nam Dung, Melbourne.Nhạc sĩ Đỗ Duy Thụy đóng góp quan điểm của anh về giọng ca vàng Thái Thanh:“Nói đến giọng ca Thái Thanh, phải nói đến nhạc Phạm Duy, cũng như Khánh Ly với nhạc Trịnh Công Sơn. Những bản nhạc rất hay lại càng truyền cảm hơn nên rất dễ thu hút tâm hồn người nghe, cộng thêm sắc thái độc đáo của giọng ca nên rất dễ trở thành huyền thoại.Tôi đã rất yêu thích giọng hát của Thái Thanh nhưng nếu phải chọn bài hát nào hay nhất qua giọng hát của chị, thì hình như sự ưa thích đó đã đổi thay theo tâm trạng của tôi trong từng hoàn cảnh sống của mình. Nói như vậy, vì tôi còn nhớ cách đây đã lâu, ngày tôi cùng bao nhiêu thanh niên khác đã từ bỏ học đường theo tiếng gọi của non sông lên đuờng nhập ngũ vào thời điểm chiến tranh bộc phát mãnh liệt trong mùa hè đỏ lửa, để lại sau lưng cả một tuổi trẻ đầy mơ ước, rời xa những người thương yêu, và quên đi một tương lai nhiều hứa hẹn. Ngày đó, bước chân chiến đấu trên con đường vô định, tôi đã rất say mê những nhạc phẩm như “Trả Lại Em Yêu” và “Kỷ Vật Cho Em” của Phạm Duy. Và những nhạc phẩm này mà được nghe qua tiếng hát ray rứt cao vút của Thái Thanh thì tuyệt vời cho tâm trạng của tuổi trẻ lớn lên trong một quê hương đầy lầm than máu lửa.Nhưng sau này, từ khi ra đi làm thân viễn xứ trưởng thành nơi đất lạ, nỗi nhớ quê hương có lẽ đã thay thế cho sự khổ đau của chiến tranh và những dằn vặt mất mát của tuổi trẻ, nên tâm trạng của tôi cũng đổi thay khác đi. Bây giờ, có những buổi trưa hè nóng bức chợt nghe văng vẳng tiếng hát cải lương vọng từ đài phát thanh Việt Ngữ, tôi bỗng có một cảm giác rất gần gũi, rất thân thương với văn hoá của đất mẹ. Một cảm giác như mình đã mất mát tuổi trẻ, lớn lên trong trống vắng, và bây giờ tìm lại được dĩ vãng của chính mình.Vì vậy, tôi đã rất thích và xúc động mỗi khi nghe nhạc phẩm “Tiếng Nước Tôi” và phải với giọng hát Thái Thanh cao vút và ngân dài mới diễn tả trọn vẹn sự yêu thương một ngôn ngữ mà tôi đã dùng từ lúc chào đời.Tôi không biết giải thích tại sao bây giờ tôi lại yêu thích giọng hát của chị Thái Thanh qua nhạc phẩm này như vậy. Có thể vì nợ áo cơm phải dùng ngoại ngữ mà tôi vẫn không hấp thụ hoàn toàn. Có thể về già nên nặng lòng hoài hương chăng? Có thể vì tôi hoạt động trong lãnh vực Việt Ngữ được nhìn thấy các em nhỏ đang cố gắng học tiếng mẹ đẻ. Có thể vì tiếng Việt tôi đã xử dụng để cảm thông tận cùng với ông bà cha mẹ, anh chị em, vợ con, bạn bè v.v… Có thể vì ngôn ngữ này tôi đã diễn tả hoàn hảo hơn ý nghĩ và tâm hồn tôi, thông hiểu hoàn hảo hơn nhưng bài viết, bài thơ, bài nhạc của người cùng quê hương, Có thể tiếng Việt đã thấm vào trong dòng máu của tôi lúc chào đời từ trên môi mẹ.Vì lý do nào đó, tôi vẫn bâng khuâng cảm xúc mỗi khi nghe giọng hát của Thái Thanh cao vút: “Tôi yêu tiếng nước tôi… Từ khi mới ra đời à ơi…”, ĐDT, Houston.Nhà thơ Bích Khuyên đưa ra cảm nghĩ của chị là:“Tôi say mê giọng ca Thái Thanh từ khi mới lớn, bài hát thích nghe qua giọng ca Thái Thanh thì rất nhiều. Ví dụ bài Nửa Hồn Thương Đau, Ngậm Ngùi hay Giết Người Trong Mộng, tôi thấy lời ca vang cao vút của Thái Thanh tạo cho người nghe một nỗi buồn tê tái trong tâm hồn. Tôi nghĩ cái giá trị của giọng ca này sẽ vô cùng hiếm quý và sẽ đứng vững trong vườn hoa lịch sử âm nhạc Việt Nam.”, Bích Khuyên, Oklamoma city.Nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi bày tỏ tâm tình về Thái Thanh và kỷ niệm của chị:“Mỗi lần nghe đến “Tiếng Hát Vượt Thờì Gian” là tôi lại nghĩ liền đến Thái Thanh. Từ năm ngoái, tôi dã gặp chị Thái Thanh 2 lần, trong buổi họp mặt taị nhà anh chị bác sĩ Đỗ Xuân Giụ. Anh chị Đỗ Xuân Giụ có một tâm hồn rất văn nghệ, cho nên anh chị đã tổ chức ít ra là 2 lần trong năm, và quy tụ những thành phần cũng yêu văn nghệ như anh chị. Mỗi lần họp mặt như thế, cũng ước chừng một đám đông 60 người. Và lần naò cũng có chị Thái Thanh hát, và anh Nghiêm Phú Phi đàn. Tôi nhớ 2 lần gặp chị Thái Thanh, dáng ngươì cao cao, gầy gầy, và rất ít son phấn, có thể nói là chị trang điểm rất nhẹ, đến nỗi tôi có cảm tưởng chị không trang điểm Tôi ngồi bên chị và hỏi thăm xã giao. Chị nói chuyện cởi mở, và dễ thương. Chị ăn mặc giản dị, trẻ trung… Ăn uống xong, thì đến phần ca nhạc. Bao giờ thì cũng những ngươì bạn hát trước, có người ngâm thơ, và sau vài ba ngươì, thì Thái Thanh sẽ “bị” mời lên. Hình ảnh chị hôm nay, khác với những ngày xưa chỉ là khi hát, chị phải đeo kính trắng để đọc những lời. Còn lại thì không có chi thay đổi, cử chỉ nhún nhẩy, lốí hát vui tươi, hay buồn sầu cũng vẫn được thể hiện trên khuôn mặt của chị. Chị hát rất say sưa, và tôi nghe với hết cả tâm hồn. Đứng trước micro, chị tâm sự là chị thích hát nhạc Phạm Duy và Phạm Đình Chương, ngoài ra, chị cũng thích hát nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng chưa nhiều. Tuy nhiên, chị hát rất nhiều của nhiều tác giả khác nhau. Nhìn Thái Thanh, ắt hẳn, ai cũng nhớ đến bài Tình Ca của Phạm Duy, mà tôi đã nghe từ năm 1952, khi còn ở Huế, và còn là nữ sinh Đồng Khánh, cuả lớp đệ Thất B3. Vào thời đó, Ban Hợp Ca Thăng Long cũng có ra Huế để hát một chương trình đặc biệt, và tôi tuy chỉ khoảng 12, 13 cũng được gia dình mua vé cho đi xem. Rồi những bài Hội Trùng Dương của Phạm Đình Chương, Dòng sông Hồng, Dòng sông Hương và Dòng sông Cửu Long… Tôi còn nhớ khi có chương trình nhạc phụ diễn ở các rạp ciné do anh Trần văn Trạch đề xướng, tôi vẫn nhớ Ban Thăng Long với bài Ngựa Phi Đường Xa… mà Hoài Trung đã hí giống ngựa hí như đúc. Và Thái Thanh trong bài Dòng Sông Xanh, tiếng hát cao vút, khiến người nghe cảm thấy rộn ràng, xao xuyến. Khi tôi nghe Thái Thanh hát bài Hương Xưa của Cung Tiến mà nhớ cả một trời xưa thơ mộng. Nếu kể ra những bài tôi thích thì sẽ nhiều lắm. Nguyên những loạt bài của Phạm Duy như Nghìn Trùng Xa Cách, Đừng Xa Nhau, Ngày Xưa Hoàng Thị, Phố Núi Cao… sẽ nhiều rồi, và tiếng hát Thái Thanh đước các đài radio mãi rả rích một ngày không biết bao nhiêu lần. Và bài Dìu Nhau của Phạm Duy có lẽ tôi chỉ nghe Thái Thanh hát mà thôi . Tuy nhiên, Thái Thanh còn làm tôi nhớ đến bài Tuôỉ 13 của Nguyên Sa và Ngô Thụy Miên. Tôi thích tiếng hát Thái Thanh trong baì Em Dến Thăm Anh Một Chiều Mưa của Tô Vũ, gợi trong tôi những ngày ở Huế mưa dầm dề, mưa Cả tuần không ngớt, và tôi di trong mưa, nghe qua radio nhà ai bài Em Dến Tham Anh Một Chiều Mưa… trong lứa tuổi 13 đó, mà cũng thấy buồn chi lạ. Nỗi buồn man mác… Thái Thanh sinh ra để làm loài chim sơn ca hay họa mi, chỉ cho người đời lời ca tiếng hát, và hát nhiều bài của nỗi nhớ không nguôi, mà bài nào cũng cho người nghe một tâm trạng khác nhau, hoặc buồn, hoặc vui… Nhắc đến Thái Thanh, tôi muốn nói nhiều đến giọng hát đặc sắc của chị. Giọng hát có lúc nhõng nhẽo như khi chị hát lúc tuổi 13, có lúc tha thiết day dứt như khi chị cất tiếng hát: “Em hỏi anh, em hỏi anh, bao giờ trở lại. Xin trả lời, xin trả lời, mai mốt anh về…”. Có lúc trữ tình, lãng man, như trong bài Hương Xưa: “Người ơi, một chiều nắng tơ vàng hiền hoà hồn có mơ xa… Người ơi, đường xa lắm con đường về làng, diù mấy thuyền đò… Còn đó, tiếng tre êm ru, còn đó bóng da hẹn hò, còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mang nghe sáo vi vu…”. Tôi ngồi trong một góc, để nghe tiếng Thái Thanh đang vang lên trong căn phòng ấm cúng tại nhà anh chị Đỗ Xuân Giụ, mà lòng như bềnh bồng trôi về một thủa nào xa tít tắp, của một thời Huế xưa, một thời Sài Gòn trong dĩ vãng,… Nhất là thời của Trưng Vương, khi ở vào lứa tuổi đẹp nhất của những năm là học trò đệ Nhị, đệ Nhất ở trường Trưng Vương. Tiếng hát Thái Thanh đã gợi nhớ trong tôi bao nhiêu là kỷ niệm thật êm đềm, khiến nhiều khi nghe chị hát, mà ngỡ như nghe tiếng hát từ dĩ vãng vọng về, cuả những ngày xưa thân ái, để luyến tiếc thêm, và hoài niệm về những ngày xa xưa mà thôi.”, HVLN, Orange county.Chị HVLN nhắc tôi bài “Tuổi 13”, tôi có kỷ niệm với bài nhạc này khi viết bài văn “Mùa Thu Cho Em”. Tôi kể cho anh Ngô Thụy Miên nghe, bài “Tuổi 13” là thơ của Nguyên Sa, nhạc của Ngô Thụy Miên, nhưng phải do Thái Thanh hát, vì chỉ có giọng ca này mới diễn tả trọn vẹn nét dấu yêu với một chút e ấp, một chút nũng nịu, một chút thơ ngây, và một chút nhõng nhẽo của lứa tuổi 13 thần tiên trong cái cảm giác của tôi khi mãi nghe đi nghe lại bài này, và chỉ có Thái Thanh hát “Tuổi 13” mới thật sự “phê” trong cái đam mê hay ý thích của tôi mà thôi.Thi sĩ Nhược Thu cho tôi phần ý kiến của anh:“Tôi nghe Thái Thanh ca “Năm năm tình lận đận”, tôi hiểu nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên nhiều hơn. Giọng ca Thái Thanh diễn tả bài hát thật rung động tim tôi. Dù những ngày ở sân trường đại học văn khoa, hay khi đi vào quân ngũ, rồi bị bắt đi “học tập”, bao bài tình ca do Thái Thanh hát vẫn mãi sống trong tôi. Cám ơn “Trả lại em yêu”, cám ơn “Hẹn hò”:“Một người ngồi bên kia sôngim nghe nước chảy về đâuMột người ngồi đâytrông hoa trôi theo nước chảy phương nàoTrời thì mưa rơimưa rơi không ngưng suối tuôn niềm đauNgười thì hẹn nhau sang sôngmong cho chóng tạnh mùa Ngâu…”,Cám ơn “Tôi đi giữa hoàng hôn”, Cám ơn “Giã Từ Đêm Mưa”, Cám ơn “Biệt ly”,…, và cám ơn tiếng hát Thái Thanh sẽ còn mãi trong tôi.”, Nhược Thu, San Diego.Nhạc sĩ Nguyễn Đăng Tuấn đưa ra cảm nghĩ của anh:“Tiếng Hát Thái Thanh đã tung hoành ngang dọc trong suốt những thập niên sáu mươi và bảy mươi của thế kỷ hai mươi\. Hàng đầu\. Thái Thanh nổi tiếng với nhiều ca khúc khác nhau\. Từ nơi các người viết nhạc trước vào sau thời kỳ “toàn quốc kháng chiến”, hay trước và sau thời “tiền chiến”.Giọng hát Thái Thanh được vang trong khắp các đài phát thanh Sài Gòn, và đài phát thanh Quân Đội tại miền nam Việt Nam tự do\. Và bị tắt tiếng sau ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản. Để rồi ngậm ngùi “đâu rộn ràng giọng hát Thái Thanh”.br> Tiếng hát Thái Thanh trải suốt. Từ những ca khúc đầy mơ mộng như Suối Mơ của Văn Cao, Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong, Ngọc Lan của Dương Thiệu Tước, Hoài Cảm của Cung Tiến, Suối Tóc của Văn Phụng, hay những ca khúc đượm tình quê hương như Đôi Mắt Người Sơn Tây của Phạm Đình Chương, Tình Quê Hương của Đan Thọ, Hòn Vọng Phu của Lê Thương, Tình Hoài Hương của Phạm Duy, hay ca khúc âm vang trời Âu như Paris Có Gì Lạ Không Em của Ngô Thụy Miên,v.v.tiếp theo và hếtĐương nhiên tiếng hát Thái Thanh trải rộng cả trăm ca khúc khác nhau, nếu không nói là nghìn bài là con số có được\. Tiếng hát rộng, mỏng, uốn éo, và thích nét làm dáng của Thái Thanh khi ca trên sân khấu hoặc trên màn ảnh ti vi. Tôi nghe TT ca mà tâm tư xao xuyến khi gợi về quê hương như bài Tình Hoài hương. Hẳn Thái Thanh đã có riêng một số lượng thích giả đông đảo.”, NĐT, New Jersey.Từ Sydney nhà thơ Tăng Đức Sơn cho nhận xét của anh:“Thời gian thịnh hành của nhạc tiền chiến là những năm đầu của thập niên 60 trở đi. Gọi là nhạc tiền chiến vì giới sáng tác như những nhạc sĩ cũng như ca sĩ đa số thuộc lớp thế hệ của trước khi chấm dứt chiến tranh Việt Pháp và chia đôi đất nước năm 1954, hay trước cuộc nội chiến nam bắc. Cuộc di cư vĩ đại đưa số nhân tài từ bắc vào nam đã mang theo luôn cái “gia tài” Thái Thanh ấy nam tiến. Kể từ sau cuộc giao duyên nam- bắc 1954 đó âm nhạc miền nam khởi sắc, mà cái “gia tài” Thái Thanh là một giọng ca hiếm có ít ai phủ nhận nó.Khi một người nổi tiếng, có danh vọng thì quần chúng có khuynh hướng bắt chước hay nhái theo, ví dụ như tại xứ Mỹ có truyền thống bắt chước bao nhiêu người giả bộ dạng Micheal Jackson, giả giọng, giả lối ca, tướng đi, áo quần, giả Elvis Presley, giả John Lennon, giả Ricky Martin hay thậm chí giả luôn cả ban nhạc bốn người trong ban nhạc ABBA v.v.… Tiếng hát hiếm có, trong sáng vượt thời gian, không gian từ tiền chiến cho đến 1975 của TT cũng không thoát ngoại lệ nầy. Một số ca sĩ địa phương nơi tôi ở hay nữ sinh trung học đều cố gắng luyện có một giọng cao vút trong trẻo như thế; có một dạo còn là đề tài tuyển lựa giọng ca gần giống TT nhất. Thí sinh cũng chỉ luyện hát những bản “ruột” cho giống TT nhất ca để phân biệt hơn thua giữa các ứng viên thi hát.Với tôi bài “Nghìn Trùng Xa Cách” cho tôi nhiều kỷ niệm khi tôi vượt biên ra đi lênh đênh trên biển cả, khi con tàu vượt bao con sóng biển, trùng dương ra khơi nhìn quê hương bỏ lại hơn bao giờ hết giọng ca TT chất chứa nỗi bùi ngùi khi tôi ly hương:“Trả hết cho người, cho người đi,trả hết cho ai, ngày tháng êm trôi,đường ta đi , trời đất yên vui,rừng nắng ban mai, đường phố trăng soi,trả hết cho người, cho người đi.Trả hết cho ai,trả những chua cay,ngày chia tay, lặng lẽ mưa rơi,một tiếng thương ôi, gữi đến cho người,trả hết đôi môi giựơng cười…”Một đặc điểm của giọng hát Thái Thanh ngân cao thánh thót, giọng ca opera thì cho dù vài bài nhạc người nghe không thích cho lắm, nhưng khi nghe TT ca thì bài nhạc trở thành quý phái, thanh cao mang âm hưởng giá trị nghệ thuật mà thính giả sẽ thích thú hơn khi thưởng thức.Khoảng mấy tháng trước tôi nghe TT xuất hiện trong một buổi phỏng vấn ngắn trên một đài phát thanh Việt Ngữ ở Cali. Giờ thì Cô tuổi tác cao, hơi lãng tai và giọng nói khàn khàn. Ôi! cũng là định luật tự nhiên chung đó thôi. Mấy thập niên vang tiếng của ngôi sao Hồng Hà, thánh thót một thời ngày xưa vẫn còn sống mãi trong lòng mọi người, trong lòng tất cả người Việt Nam, trong lòng thính giả nghe được tiếng Việt Nam. Tiếng hát TT cất lên mở đầu trong các chương trình hội thảo về ngôn ngữ, giáo dục văn hóa hay trong các buổi truyền thanh, truyền hình ở nơi nào có mặt của người Việt qua bài ca muôn đời mến yêu “Tôi yêu tiếng nước tôi”. Chúng ta yêu tiếng Việt, và ngày nào chúng ta còn ấp ủ nói ngôn ngữ mẹ Việt Nam thì bài Tình Ca qua tiếng hát TT sẽ mãi mãi rung động tâm tư chúng ta:“Tôi yêu tiếng nước tôi,từ khi mới ra đời,mẹ hiền ru những câu xa vời.Tiếng nước tôi,Bốn ngàn năm….”, Tăng Đức Sơn, Úc châu.Nhận xét của Nhạc sĩ Hoàng Thy về Thái Thanh như sau:“Người ta không ngạc nhiên khi nghe Thái Thanh ca bất cứ một nhạc phẩm nào trong quá khứ và nhạc phẩm được đó được xem là hay, tôi nghĩ chị chọn lựa bài và tập cho mình một phong thái riêng khi hát nó. Những ca khúc được chị ca đều vượt trội khi chị chuyên chở ý tưởng hay lời ca của bản nhạc. Thêm vào đó, cung cách trình diễn linh động như tôi còn nhớ khi xem chị trình bày các ca khúc Kỷ Vật Cho Em, Mùa Thu Chết hay Nghìn Trùng Xa Cách. Ngày nay quay về dĩ vãng cũ của Sài Gòn trước năm 75, hình ảnh hay giọng ca của chị là một kỷ niệm đẹp trong tôi.” Hoàng Thy, San Diego.Nhạc sĩ trẻ Minh Luân cho những dòng kỷ niệm chân thành của anh về giọng ca Thái Thanh như sau:“Nhắc đến nữ danh ca Thái Thanh thì chúng ta không thể nào không nhắc tới đại tác phẩm “Buồn Tàn Thu” của nhạc sĩ Văn Cao. Có lẽ tôi suy diễn hơi xa khi cho rằng nhạc sĩ Văn Cao sáng tác nhạc phẩm này chỉ dành riêng cho giọng hát Thái Thanh mà thôi. Quả thật là như vậy mỗi khi nghe Thái Thanh hát dạo câu đầu của bài “Buồn Tàn Thu” là hồn tôi rung cảm ngây ngất vì nó quá tuyệt vời… xin mời các bạn thưởng thức tại đây:“Ai lướt đi ngoài sương gióKhông dừng chân đến em bẽ bàngÔi vừa thoáng nghe emMơ ngày bước chân chàngTừ từ xa đường vắngĐêm mùa thu chếtNghe mùa đang rớt rơi theo lá vàngEm ngồi đan áoLòng buồn vương vấnEm thương nhớ chàngNgười ơi còn biết em nhớ mongTình xưa còn đó xa xôi lòng…”Văn Cao viết lên lời tình tự, nhưng lời tự tình này lại được cất vang từ giọng hát điêu luyện về ngàn trùng âm vang vọng nhớ, về dĩ vãng buồn bã của mùa thu tàn lụi:Tôi đã mở đi mở lại bài này cả trăm lần nghe mãi mà cũng không thấy chán… Giọng ca Thái Thanh, theo ý tôi, quả thật là tự cổ chí kim rất khó tìm. Ca sĩ Ngọc Hạ mặc dầu có một giọng ca có thể hát lại những đại tác phẩm của các bậc tiền bối, nhưng cũng không thể nào thay thế nổi vị trí của Thái Thanh trong bài “Buồn Tàn Thu”.”, Lê Minh Luân, San José.Nhà thơ Ngọc Anh GL cho nhận xét của chị khi nghe giọng ca Thái Thanh:“Có thể nói tiếng hát Thái Thanh đã làm say mê bao lớp người Việt Nam, đặc biệt là lớp người tha hương, sống viễn xứ, Thái Thanh làm say mê bao người trong những thập niên 40’s, 50’s, 60’s, 70’s, 80’s , 90’s và vẫn còn tiếp. Tôi thích nghe ca sĩ Thái Thanh hát chung với Ban hợp ca Thăng Long có Hoài Trung, Hoài Bắc như bài Xóm Đêm, Ngựa Phi Đường Xa, Giã Từ Đêm Mưa, hay Tiếng Đàn Tôi.”, NAGL, Los Angeles.Nhà thơ Trang Điền Morita gửi tôi phần cảm nghĩ của anh:“Thái Thanh được mệnh danh là “Tiếng hát vượt thời gian”, tôi nghĩ không ngoa từ khi chị tham gia phong trào Toàn quốc Kháng chiến đến khi chị ra hải ngoại, cho đến khi chọn lối sống ẩn dật, nhưng qua bao bài hát và giọng ca của chị vẫn được người đời nhắc nhở và hâm mộ. Tôi thích nhiều nhạc phẩm do chị ca, đan cử vài bài như: Ngậm ngùi, Mùa thu chết, Nửa hồn thương đau, Giết người trong mộng, Còn một chút gì để nhớ, Mùa thu Paris,… hãy nghe và nhớ mãi tiếng ca này.” Trang Morita, Northridge.Từ vùng tây bắc Mỹ, nơi tuyết và mưa nhiều hơn nắng, nhà thơ Đạm Thủy góp ý:“Cám ơn Việt Hải đã cho tôi cơ hội đóng góp vài nhận xét về tiếng hát Thái Thanh. Khi tham khảo ý tưởng của nhiều người về một giọng ca đã nổi tiếng “vượt thời gian” từ cả một thế hệ, chắc hẳn VH đã cảm thấy không thấy THỪA. Chính lý do đó mà Đạm Thủy không ngại đóng góp vài giọt nước trong một cái bể sẵn có, cái bể đập sóng ca ngợi một thiên tài.Ngoài những kỹ thuật rất điêu luyện của giọng ca mà nhiều người đã mô tả, giọng ca của nàng trong trẻo nhưng không chua, mà thánh thót nhưng không vắt vẻo, rất xứng đáng để người ta ca tụng mãi mãi, ngày nào còn nghe được nàng ca, dù rằng qua CDs hay DVDs đi nữa. Tôi gọi ca sĩ Thái Thanh là “nàng” chỉ vì sự trân quý, âu yếm như trân châu mà thôi, dù rằng tuổi của “nàng” có thể làm cô, dì của tôi. Thực ra như thế cũng giống như sự thể người ta sẽ không gọi thiên tài Thái Thanh là “bà Thái Thanh” được, vì tiếng hát Thái Thanh vốn gần gũi với quần chúng, và nó sẽ sống mãi với quần chúng.Về kỹ thuật, bản Buồn Tàn Thu của Văn Cao mà chúng ta được nghe Thái Thanh hát: Nàng bắt đầu chữ “Ai…” ngân dài một đỗi như treo lửng lơ cái thắc mắc người nào không rõ trong cơn gió mưa bên ngoài, xong rồi mới diễn tả động từ “lướt” một cách gợi hình. Cái hay là điểm độc đáo đó.Sau năm 1975, người ta lăng xê ra một ca sĩ trẻ tên là Ánh Tuyết chuyên hát những bài mà Thái Thanh xưa đã hát như Thiên Thai, chẳng hạn. Tôi bèn mua vài cuốn băng nghe thử. Nhưng nghe kỹ kỹ thuật ca không thể bằng được. Mặc dù, tôi tự kiểm điểm lại cho chính mình chọn sự vô tư. Lúc đó tôi mới thấy rõ cái dấu mộc hay rỏ hơn thì là cái giá trị kỹ thuật khi ngân vang tiếng hát mà Thái Thanh đã ấn lên từng bài hát của nàng. Nàng hát rồi là bản đó của nàng. Thế thôi.Xét cho cùng phải nhìn nhận là giọng hát Thái Thanh đã là một lằn ranh xác định mức tối hảo, để là một cái thước để đo lường nghệ thuật và định chẩn chân giá trị âm nhạc mà “yếu tố Thái Thanh” như một quy luật định phẩm.Nếu nhạc Việt về thể loại tiền chiến còn được sáng tác và các ca sĩ trong tương lai khởi sự chọn hát, tôi nghĩ tiếng hát Thái Thanh là sự tham khảo rất lợi ích cho họ vậy.”, ĐT, Seattle.Thi sĩ Nghiêm Xuân Cường góp phần nhận xét của anh:“Thực ra có quá nhiều nhạc phẩm đã đóng góp cho tên tuổi Thái Thanh. Tôi yêu giọng ca Thái Thanh vì cái nông nàn của làn hơi cũng như của sự diễn tả. Theo tôi thì hai bài Tình Ca và Tình Hoài Hương của Phạm Duy thì không ai có thể hát hay hơn Thái Thanh. Khi chị Thái Thanh cất tiếng hát bài Tình Ca: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi. Mẹ hiền ru nhung câu xa vời. À à ơi tiếng ru muôn đời…” tôi nghe như có cái gì rưng rưng ở trong lòng và, muời lần như một, là nuớc mắt tràn lên mi.Những cái lên xuống, ngắt câu, những chỗ diễn tả chua xót, ngọt ngào, buồn bã,v.v… mà chỉ có Thái Thanh mới làm được, và đem hết được ý của câu nhạc đi thẳng vào lòng nguời nghe. Thí dụ như khi nghe chị hát bài Thôi của Y Vân: “Thôi, em đừng khóc nữa mà làm gì. Kỷ niệm buồn ân tình cũ xa xôi, thôi, em đừng tiếc, em đừng tiếc. Đừng tiếc nữa mà làm gì. Kiếp này đành LỠ duyên rồi”. Chữ LỠ được phát âm láy và có một sự chua xót lẫn đắng cay mà phải nghe mới thấy được cái điêu luyện của giọng ca tuyệt vời này.Cũng vậy ,trong Hội Trùng Dương của Phạm Đình Chương giọng của chị lúc nhanh, lúc chậm, lúc vui buồn, lúc lên xuống: “Ngày vui, tan đao binh. Mẹ bồng con sơ sinh. Chiều đầu xóm, hân hoan đón người trường chinh…” như những giòng sông của quê hương tuy đã xa, rất xa mà vẫn còn chẩy mãi trong lòng người tha hương…”, NXC, Michigan.Nhạc sĩ Dương Viết Điền viết về Thái Thanh như sau:“Tôi nghe tiếng hát của Thái Thanh qua hai bài hát chất chứa đầy tình tự quê hương, đó là các bài Tình Ca và Tình Hoài Hương, chị làm tôi nhớ nhà, nhớ dĩ vãng, nhớ cố hương thêm. Khi tôi di cư vào từ bắc vào miền trung, rồi miền trung vào miền nam, rồi những năm tháng dài tù đầy “cải tạo” tại miền bắc, rồi ly hương sang Mỹ, những lời ca của ca sĩ Thái Thanh qua hai bài hát bất hủ này của nhạc sĩ Phạm Duy mang hồn tôi trở về những kỷ niệm tình tự quê hương ngày xưa. Cám ơn giọng ca thiên phú của chị Thái Thanh và cám ơn Việt Hải cho tôi góp tiếng nói cùng các bạn hữu.”, Dương Viết Điền, Los Angeles.Kế tiếp là cây bút mê âm nhạc, thích viết về âm nhạc Minh Thanh, cô cũng là người say mê giọng ca Thái Thanh:“Giọng hát Thái Thanh đã được nhiều người yêu thích vì cô có nhiều bài hát lắm. Kể về các bài hát thì Thái Thanh không phải chỉ nổi tiếng với nhạc Phạm Duy mà còn rất nhiều bài hát của các nhạc sĩ khác, như bài hát của Nguyễn Ánh 9, Ngô Thụy Miên, Văn Cao, Hoàng Trọng, Dương Thiệu Tước, Phạm Đình Chương. Cũng có thể nói về Thái Thanh cho nét đặc biệt thích hợp tuyệt vời hơn là khi cô trình bày các bài sau 75, ví dụ như bài Rong Ca của Phạm Duy “Hẹn Em Năm 2000”:“Hẹn em nhé, năm 2000 sẽHai bên cửa hé, cho anh trở vềTừ ngày đi, theo cuộc tỉnh mêTrăm năm nhỏ bé, trăm năm bộn bề…”Bài Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn (phổ thơ Du Tử Lê) nhạc Phạm Đình Chương, Bài Đêm Màu Hồng (trước 75), Suối Mơ, Dòng Sông Xanh, Hoài Cảm, Đôi Mắt Người Sơn Tây, rồi Quán Bên Đường (Phạm Duy phổ thơ Bình Nguyên Lộc), Thái Thanh diễn tả thật tuyệt vời.Bài Em Lễ Chùa Này, Đưa em tìm Động Hoa Vàng (Phạm Duy, phổ thơ Phạm Thiên Thư),… và còn quá nhiều để kể ra đây.”, Minh Thanh, nam Cali.Nhà thơ Lê Duyên Thùy Trang đóng góp ý của cô như sau:“Nhạc do Thái Thanh ca đến với tôi vào những năm đẹp nhất của khuôn viên sân trường đại học trong cuối thập niên 60’s và đầu thập niên 70’s. Khi mà tôi tìm thấy nơi Thái Thanh một giọng ca đượm nét quyến luyến, rất trữ tình, tôi thích các bài tình ca do cô hát như: Trả lại em yêu, Áo lụa Hà Đông, Tuổi 13, Từ giọng hát em, Muà thu trong mắt em, Mùa thu không trở lại,…”, LD Thùy Trang, Boston.Trong một buổi điện đàm thăm hỏi ca sĩ Mai Hương, tôi có hỏi chị với tư cách một người thưởng ngoạn nhạc Thái Thanh hát và cũng là người thân của cô Thái Thanh thì chị có nhận xét như thế nào về TT là một ca sĩ và TT là một người thân trong gia tộc. Chị Mai Hương cho biết là tiếng hát Thái Thanh điêu luyện về kỹ thuật, có nhiều kinh nghiệm về âm vực. Bên cạnh đó cô Thái Thanh là người mẹ tuyệt vời lo lắng cho các người con cô.Tôi có dịp học một lớp với Lê Việt con trai thứ của cô TT tại đại học Cal State Northridge, sau này tôi được biết Việt học lấy đủ loại bằng cấp từ kỹ sư rồi chuyển sang ngành bác sĩ. Lê Việt là một thanh niên rất thông minh. Em trai út của Việt là Lê Đại tốt nghiệp ngành âm nhạc tại trường Cal State Long Beach, với minor ngành computer science. Lê Đại rất khá về lãnh vực web design. Cô TT theo sát và khuyến khích các con trên bước đường học vấn. Thiết nghĩ tiến triển nghề nghiệp và bổn phận gia đình thông thường là 2 yếu tố tương phản, lắm khi có cái này thì không có cái kia. Trong tuổi đời mừng sinh nhật cổ lai hy cô đã hoàn thành cả hai. Đây là điểm son về vai trò làm mẹ của cô Thái Thanh, song song bên hào quang âm nhạc của cô. Ngoài ra, Lê Việt còn có hai chị em là hai ca sĩ thành danh Ý Lan và Quỳnh Hương, thỉnh thoảng tôi nghe trên radio 2 cô tham dự vào các hoạt động từ thiện xã hội, cộng đồng.Sau đây là đồi dòng cảm nghĩ của nhà thơ Sương Mai nuối tiếc về sự nghỉ hưu, sống ẩn dật của ca sĩ TT:“Tiếng hát Thái Thanh là một tiếng hát tuyệt vời, Thái Thanh lại biết chọn bài hát. Những bài hát của Thái Thanh hát là những bài có tầm vóc và giá trị dài lâu về nhạc cũng như lời, khi Thái Thanh góp vào tiếng hát, làm cho bài hát bốc lên bay cao như cánh hạc, Thái thanh hát bằng cả tâm hồn và bằng sự rung động của trái tim chính mình, cho nên khi hát Thái Thanh đã để cho mình bay bổng theo điệu nhạc, ai nghe Thái Thanh hát mà không xao xuyến, không mê man, hay không đắm say nỗi lòng?Sương Mai thích Thái Thanh hát bài “Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng” cuả nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ thơ thi sĩ Phạm Thiên Thư và bài “Ngàn Thu Áo Tím” cuả nhạc sĩ Hoàng Trọng và Lưu Thị Vĩnh Phúc:“Ngày xưa xa xôi em rất yêu màu tímNgày xưa xa xôi em sống trong trìu mếnChiều xuống aó tím thường thướt thaBước trên đường gấm hoa…Từ khi yêu anh anh bắt xa màu tím…”Tiếc là đời người ngắn ngủi và chóng tàn, Thái Thanh theo luật tuần hoàn của vũ trụ, giờ đây đã về hưu ẩn dật, không còn đứng trên sân khấu trước chúng ta, để hát cho chúng ta nghe nữa.Sắc đẹp, tiếng hát rồi cũng sẽ tàn lụn theo dòng thời gian, có chăng chỉ là những dư âm tiếng hát còn đọng lại cho ngàn sau…”, Sương Mai, Sacramento.Ngoài ra tôi có dịp đọc nhiều bài báo sau năm 75 tại hải ngoại kể về giai đoạn giao mùa khi CS xâm chiếm miền nam, ca sĩ Thái Thanh tỏ thái độ bất hợp tác với chính quyền mới. Bài viết của tác giả Thụy Khuê đưa ra nhận xét lý thú:“Ngay cả khi cô im tiếng 10 năm trong chế độ Cộng Sản (1975-1985) để bày tỏ thái độ chống đối một cách bất bạo động, tiếng hát Thái Thanh vẫn được yêu mến hàng đầu trong băng nhạc của nhiều gia đình người Việt xa xứ. Ngày nay cô đã ngưng hát, coi như “nghỉ hưu”, nhưng có thể nói số người thưởng ngoạn vẫn nhớ và thương giọng hát đó cũng vẫn rất đông đảo.Thái Thanh thường trả lời những người mến mộ muốn nghe cô cất tiếng lại: “Khi nào có hội nghị Diên Hồng hay có đại nhạc hội hồi hương trong tự do (chắc còn lâu!), thì cụ Thái Thanh này, dù có phải chống gậy lụ khụ, cũng sẽ tự động ra sân khấu, không cần ai mời cũng vẫn lên tiếng hát mừng quê hương tôi, mừng người nước tôi”.”Nhạc sĩ Minh Thao, Phạm Phú Minh hiện cư ngụ tại Bergen, Na Uy, kể lại chuyện cũ của buổi giao thời năm 75, thiết nghĩ bài viết của anh là nguồn tài liệu lịch sử nêu lên cái phong cách đáng kính của kẻ sĩ không ngã lòng, không a dua theo thời cuộc, không phục tòng sức mạnh trước những biến đổi đau thương của đất nước:“Ca sĩ Thái Thanh đối với tôi là ca sĩ hàng đầu tại Việt Nam thời cô còn sinh hoạt ca hát. Cho nên bài hát mà cô đã trình bày xuất sắc thì nhiều vô kể, rất khó thống kê. Tuy nhiên, có những bài hát đến với người nghe trong hoàn cảnh đặc biệt thì nó hay vô cùng, không có gì so sánh được. Xin được kể anh Việt Hải nghe một câu chuyện, nếu anh cảm thấy được thì tuỳ nghi xử dụng cho bài viết của anh nhé:Thời gian đầu giao mùa khi CS vào tiến chiếm miền nam, nếu tôi nhớ không lầm là vào tháng 8 năm 1975, CS chuẩn bị cho cuộc đổi tiền lần thứ nhất vào tháng 9 cùng năm, nên bọn chúng cho tập trung dân chúng lại để học tập chánh trị tại địa phương (không nêu ra đề tài đổi tiền, chúng chỉ nêu ra đề tài chánh quyền cải cách thống nhất đất nước, để chúng lót đường cho sự độc tài, hòng sang đoạt của cải của người dân về sau này).Nhà cô Thái Thanh ở trên đường Lê Thánh Tôn, gần Trung Tâm Văn Hoá Pháp, cũng gần bệnh viện Grall (tức nhà thương Đồn Đất), thuộc phường Bến Nghé, quận Nhất Sài Gòn. Cho nên cô cũng “được” mời đi học tập chánh trị thuộc khu vực được tổ chức tại hội trường đại học Dược Khoa, trên đường Cường Để…Nói là học tập chánh trị, nhưng CS cũng muốn khoe “cái văn hóa ưu việt” trước cái dân ngụy ở ngay trung tâm Sài Gòn. Cho nên chúng cho tổ chức buổi văn nghệ “tự phát” gần như thi đua giữa đám thanh niên địa phương chúng tôi với đám bộ đội lúc đó đóng tại building đối diện toà Đại Sứ Mỹ cũ. Và hôm đó bọn chúng bị bẽ bàng, sượng mặt. Tất cả cũng nhờ cô Thái Thanh… (và cũng từ đó về sau tôi không còn chứng kiến sự hợp tác văn nghệ theo cái kiểu… rất “bộ đội” và khích dân chúng “hồ hởi” cùng làm).Câu chuyện thế nầy:Phần thứ nhất do nhóm văn công bộ đội phụ trách, gồm các tiết mục đơn, hợp ca và cả độc tấu sáo, mandoline… Chúng cố lám ra vẻ chuyên nghiệp, người trình diễn nào cũng đánh tí phấn, tô tí son môi, dù chúng chỉ là đám đực rựa thuộc đơn vị bộ đội tại đó nên càng xem càng thấy ngô nghê và buồn cười.Nhóm thanh niên địa phương chúng tôi thời đó còn máu tư sản nên con gái còn mặc áo dài, con trai áo trắng bỏ trong quần xanh hoặc đen. Nhưng vì mới mất nước, thấy bộ đội sắt máu quá nên không ai trang điễm gì hơn.Rồi tình cờ có một người bạn nhận diện cô Thái Thanh đang là khán giả “bị mời” đang ngồi phía dưới. Chúng tôi đến nhờ cô giúp một tay. Và dù không nói ra, nhưng chúng tôi và cô ngầm hiểu phải “dạy” cho bọn ngố nầy một bài học để xem cái ưu việt nào hơn cái ưu việt nào. Dù không có sự chuẩn bị nào về chương trình và phần nhạc đệm chỉ có một cây guitar thùng, do một tay đàn còn… dưới mức tài tử mấy bực. Nhưng Cô Thái Thanh vẫn hăng hái nhận lời mở đầu phần thứ nhì (tức là phần của thanh niên địa phương chúng tôi). Cô lên tự giới thiệu hát bài Tình Ca của Phạm Duy là một tác giả bị cấm triệt để lúc đó. Trước bọn cán ngố cô bình tĩnh giới thiệu sẽ hát bài hát đầy tình tự yêu nước nhất mà cô biết và cô cất giọng…“Tôi yêu tiếng nước tôiTừ khi mới ra đời… người ơi…”Giọng cô cao vút và trong vắt, mặc kệ cho dàn âm thanh “phường khóm”, mặc kệ tiếng đệm đàn vụng về… Cô dẫn dụ người nghe về một cõi thần thiên của quê hương, mới bị tan hàng có mấy tháng mà tưởng đâu đã xa nghìn trùng… Đám bộ đội ngồi sững sờ, cũng chết lặng theo vì bị cô thu phục, mê hoặc hoàn toàn…“Tiếng nước tôiTiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi…Tiếng nước tôi…”Khi cô hát có những đôi mắt xung quanh nhoà lệ, trong đó có đôi mắt của tôi trong nỗi xúc cảm vô biên… một kỷ niệm thật khó quên trong đời tôi vì hậu quả tâm lý ngược lại do vấn đề nhân tính và tình cảm thiêng liêng của con người đối với quê hương và văn hóa dân tộc. Thế là phe bộ đội thua to.Từ trước tôi đã mê nghe cô hát… Và cho đến giờ tôi vẫn còn mê giọng hát của cô, nhất là trong bài “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” do nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ Màu Tím Hoa Sim của thi sĩ Hữu Loan. Nhưng đối với tôi cho đến tận giờ phút nầy của thế kỷ 21 bản TÌNH CA vẫn là bài hát hay nhất trong tâm hồn tôi, vì nó cho tôi kỷ niệm đáng nhớ từ cô Thái Thanh.Có lẽ tôi không cần kể thêm những bài tôi vẫn hằng yêu mến khi nghe cô hát như Còn Chút Gì Để Nhớ, Hẹn Hò,… Hoặc ngay cả những bài Em Hiền Như Ma Sơ, Trả Lại Em Yêu,… mà tôi hằng ưa thích do ca sĩ Thái Thanh cất giọng lên và cuối cùng vẫn là ca sĩ hát những bài hát đó “tới” nhất, tuyệt vời nhất theo cái thính giác hay âm nhĩ của tôi. Bởi vì chỉ với một baì Tình Ca trong hoàn cảnh giao mùa đó đã đủ cho hình tượng cô sống mãi trong tâm hồn tôi rồi. Cô mãi mãi nêu lên tinh thần bất khuất của kẻ sĩ trong cơn đổi đời bi thãm của lịch sử Việt Nam nói chung, hay lịch sử âm nhạc Việt Nam nói riêng.Thêm một chuyện bên lề nữa là khi “gian hàng cà phê” của cô mở ra ở vĩa hè đường Tự Do có một lần không biết vô tình hay cố ý bọn Công An tạo vở kịch bắt cướp đã xả súng AK bắn thẳng vô, khiến một cô gái bị thương (hình như đó là người giúp việc cho cô). Chúng tôi đến thăm cô tại nhà. Cô tiếp chúng tôi một cách niềm nở, hiền hoà, và chân tình như người hàng xóm với nhau. Cô đâu có biết là cô đang tiếp những người hết sức aí mộ cô như thần tượng, không những trong lãnh vực ca hát mà còn trong nhân cách sống của người nghệ sĩ trước bạo quyền.Lần đó cô có giới thiệu với tôi em Quỳnh Dao (hay Quỳnh Giao ?) là con gái của cô, đang học piano tại phòng khách. Không biết cô đó bây giờ có tiếp tục theo đuổi nghệ thuật âm nhạc hay không mà tôi không được nghe nói tới.Gởi anh Việt Hải bài viết theo ký ức đã trôi qua gần 30 năm. Nếu dùng được cho bài viết của anh thì tốt, nếu không thì xin anh giúp tôi forward lá thư nầy nầy đến cô Thái Thanh như cách tôi biểu lộ lòng ngưỡng mộ, tri ân chân thành nhất đối với cô vậy.”, Minh Thao, Phạm Phú Minh, Bergen, Na Uy.Lời Kết:Mỗi con người đều phải dính dáng hay liên hệ với ba yếu tố trong cuộc sống, đó là: Gia đình, Xã hội hay Cộng đồng chung quanh và Tổ quốc trên cao. Ngày xưa khi tôi học về cụ Nguyễn Đình Chiểu, tôi được thầy tôi dạy về tấm gương của cụ đồ nho phong bất khuất này. Khi chính quyền thực dân Pháp kêu gọi những thành phần thanh niên Việt ra làm tay sai cho chúng, cụ từ chối, mà chỉ chọn nếp sống ẩn dật làm thơ và dạy học. Khi các nghiã binh nổi dậy chống Pháp bị thực dân bắt đem đi xử tử, cụ viết Văn Tế Nghiã Sĩ Cần Giuộc khóc cho bản án của họ như một hình thức tri ân. Cụ cũng là nhà thơ nổi tiếng qua tác phẩm Lục Vân Tiên, cụ đào tạo rất nhiều thế hệ trẻ hành trang cho họ lòng yêu nước, trong đó có người con gái của cụ là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh. Bà SNA hoạt động ngầm quyên tiền cho phong trào Đông Du gửi du học sinh Việt Nam ra xứ ngoài du học, bà còn xuất bản tờ Phụ Nữ Chung tranh đấu cho quyền phụ nữ dưới thời Pháp thuộc. Nói như vậy để thấy rằng cụ Nguyễn Đình Chiểu quý trọng việc rèn luyện, dạy dỗ thế hệ mai hậu, là một vị thi hào của xứ sở và là một kẻ sĩ yêu nước, thương nòi.Tương tự như thế, người công dân Thái Thanh trong nhãn quan của tôi đã sống gương mẫu với cái bất khuất của kẻ sĩ trong giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử miền nam năm 75, cô là một ca sĩ thượng hạng của nền âm nhạc Việt Nam và cô đã thành công nuôi dưỡng những người con trưởng thành đóng góp cho cộng đồng và cho xã hội vậy. Bài viết nầy do nhiều anh chị em thuộc thế hệ đi sau cô gom góp những suy tư về những đặc điểm được xem là di sản Thái Thanh để lại cho ngàn sau.Việt Hải, Los Angeles.* VH chân thành cám ơn các anh chị thân hữu đóng góp ý trong bài nay. Mùa tưởng niệm, 30-04-2004.Link: : https://thanhthuy.me/2014/08/13/thai-thanh-tieng-hat-tuyet-voi-viet-hai/———————————————————————————–‘Tiếng Hát Vượt Thời Gian,’ danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi:https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/tieng-hat-vuot-thoi-gian-danh-ca-thai-thanh-qua-doi-huong-tho-86-tuoi/THÁI THANH – NHỮNG Tình Khúc Hải Ngoại Để Đời CỦA DANH CA « TIẾNG HÁT VƯỢT THỜI GIAN »:https://www.youtube.com/watch?v=01Z89fXdFYsBAN HỢP CA THĂNG LONG – THÁI THANH: https://dotchuoinon.com/2015/08/23/tan-nhac-viet-nam-ban-hop-ca-thang-long/:

TRẦN QUỐC BẢO : TIN BUỒN: ALBERT TAMBICANNOU TỪ TRẦN


TIN BUỒN: ALBERT TAMBICANNOU TỪ TRẦN
Ca sĩ Phan Thảo Dung 1 giờ sáng nay (giờ Cali) gọi đến văn phòng TGNS cho biết Nhạc sĩ Albert Tambicannou đã ra đi sáng nay tại Pháp, lúc 5g15 sáng ngày thứ năm 6 tháng 6 năm 2019. Hưởng thọ 67 tuổi.
Albert Tambicannou sinh ngày 28 tháng 7 năm 1952. Theo như lời Albert tâm sự với Thế Giới Nghệ Sĩ cách đây vài tháng, gia đình Anh có tất cả 11 người, nhưng chỉ có 5 anh em chơi nhạc, gồm Henry Tambicannou chơi bass tại vũ trường Baccara thời 1960 (người anh thứ bẩy), anh Jules Tambicannou chơi guitar thời 1963 cho ban Rocking Stars (ban này có Elvis Phương), sau đó Jules qua Pháp du học năm 1965.
Năm 1968, ba anh em Albert (lead guitar), Robert (organ, accord guitar), Philippe (trống) mời thêm Hoàng Long (bass) và 3 giọng hát trẻ Anh Tú, Khánh Hà, Thúy Anh thành lập ban nhạc The Blue Jets đi trình diễn ở nhiều Club Mỹ, sau đó trở về Saigon ký một hợp đồng dài hạn với vũ trường Tự Do năm 1970. Năm 1975, Albert và gia đình rời VN sang Pháp tiếp tục duy trì ban nhạc The Blue Jets.
Đón đọc nay mai, bài viết “The Blue Jets – niềm kiêu hãnh của Nhạc Trẻ Việt Nam” nhắc nhớ một thời kỷ niệm của những ngày đầu ban nhạc này thành lập, từ đó để lại trong tim người hâm mộ Blue Jets những ca khúc quen thuộc yêu thương mà họ trình diễn mỗi đêm như I call your name, Put your head on my shoulder, Twelve Thirty (cũa nhóm The Mamas and The Papas), Hair…
Ngày 15 tháng 9 năm 2019, theo dự định Trần Quốc Bảo, Duy Thanh sẽ có mặt tại Pháp, Đức và một số nước Âu Châu và nhân dịp này sẽ thực hiện một bài phỏng vấn nhạc sĩ Albert với nhiều điều chưa hề tiết lộ về Blue Jets để đăng trong bộ sách 1001 Khuôn Mặt Thương Yêu nhưng nay thì dự định đó đã không bao giờ thực hiện được nữa.
Giờ đây, chiếc phản lực cơ xanh như ý nghĩa Blue Jets đã thật sự đưa linh hồn của nhạc sĩ Albert Tambicannou về trời đoàn tụ với người vợ, ca sĩ Thiên Nga… Cầu nguyện linh hồn Anh thong dong nơi cuối trời hạnh phúc.
Trần Quốc Bảo
(6/6/2019)

 

62116701_2426532790736800_590869276659810304_n.jpg

61997515_2426541087402637_3703752734034362368_n.jpg

61914425_2704032466280793_627181983901941760_o.jpg

62166949_2426581427398603_5307601652457406464_n.jpg

61960025_2426581520731927_3623360128893321216_o.jpg

 

62144090_2426581630731916_4425753130382131200_o.jpg

ALBERT 2

62072336_2426644434058969_2949198757620613120_n.jpg

 

 

 

 

HÀ TÙNG LONG : “Đệ nhất danh cầm đàn đáy” Nguyễn Phú Đẹ qua đời ở tuổi 97


Thứ Bảy 23/03/2019 – 11:48

Thông tin từ ca nương Phạm Thị Huệ cho biết, “Đệ nhất danh cầm đàn đáy” Nguyễn Phú Đẹ qua đời vào hồi 12h50 ngày 22/3 tại nhà riêng ở Hải Dương, hưởng thọ 97 tuổi.

Thông tin “Đệ nhất danh cầm đàn đáy” Nguyễn Phú Đẹ qua đời khiến nhiều người yêu mến ca trù tiếc nuối bởi nghệ nhân lão thành mới nhận được danh hiệu “Nghệ nhân Nhân dân” đợt đầu tiên cách đây chưa lâu. Đây là đợt phong tặng Nghệ nhân Nhân dân đầu tiên của Việt Nam cho các cá nhân có nhiều cống hiến xuất sắc trong gìn giữ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc.

Nguyen Phu De.jpg
Chân dung “Đệ nhất danh cầm đàn đáy” Nguyễn Phú Đẹ.

Nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ sinh năm 1923 tại Tứ Kỳ – Hải Dương. Gia đình ông nhiều đời đều là ca nương, kép đàn nổi tiếng trong vùng. Cha của cụ là một tay đàn có tiếng, còn mẹ là một ca nương.

Từ khi 10 tuổi, nghệ nhận Nguyễn Phú Đẹ đã được cha và ông nội truyền dạy cho những ngón nghề và cách thức chơi đàn đáy. Với khả năng tiếp thu tốt, từ thủa bé, ông trở thành kép đàn giỏi của giáo phường và theo gánh hát đi biểu diễn ở nhiều nơi.

Nhưng do biến cố của lịch sử, nghệ thuật ca trù đã bị mai một và lãng quên. Ông đã phải gác lại niềm đam mê của mình sang một bên để lo kiếm sống.Cho đến năm 2005, nghệ thuật ca trù được nhà nước quan tâm và bảo tồn, ông lại trở lại và tham gia biểu diễn rất tích cực. Cùng năm đó, ông đã giành được huy chương Vàng “Liên hoan Ca trù toàn quốc”, khi tiếng đàn của ông lão ở tuổi 82 đã làm mọi người có mặt trong khán phòng thán phục.

Phong cách chơi đàn đáy của nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ luôn đặc biệt. Tiếng đàn của ông có tính sáng tạo, ngẫu hứng và tự do rất cao. Ở cái tuổi ngoài 90, nhưng nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ vẫn mang lại cho người nghe phong cách trẻ trung. Khi tiếng đàn của ông vang lên, người nghe có thể dễ dàng cảm nhận những ngón đàn đặc biệt không ai có, nhờ đó mà ông được tôn vinh là “đệ nhất danh cầm đàn đáy của Việt Nam”.

nguyen_phu_de.jpg
Nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ cùng ca nương Nguyễn Thị Chúc, Phạm Thị Huệ từng có một thời gian dài gắn bó.

Với những cống hiến của mình cho sự nghiệp giữ gìn bộ môn nghệ thuật truyền thống ca trù, năm 2006, cụ Nguyễn Phú Đẹ được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian. Từ năm 2010 đến nay, cụ liên tiếp nhận giải thưởng Đào Tấn cùng nhiều giải thưởng khác. Tháng 3/2019, cụ Nguyễn Phú Đẹ được phong tặng Nghệ nhân Nhân dân đợt 1.

Lễ viếng của nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ bắt đầu từ 7h15 ngày 23/3 tại nhà riêng ở thôn Cao La, xã Dân Chủ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Lễ an táng vào hồi 13h30 ngày 24/3 tại nghĩa trang quê nhà.

Hà Tùng Long

https://dantri.com.vn/van-hoa/de-nhat-danh-cam-dan-day-nguyen-phu-de-qua-doi-o-tuoi-97-20190323100811475.htm

Nghệ nhân nhân dân NGUYỄN PHÚ ĐẸ (1923-2019) từ trần ngày 22 tháng 3, 2019 tại tỉnh Hải Dương, Việt nam .


Nghệ nhân nhân dân NGUYỄN PHÚ ĐẸ (1923-2019), quê xã Dân Chủ, huyện Tứ Kỷ, tỉnh Hải Dương , từ trần vào lúc 12 giờ 50 phút ngày 22 tháng 3, 2019.
Lễ an táng vào lúc 13giờ30 ngày 24 tháng 3, 2019 tại nghĩa trang quê nhà Cao La, xã Dân Chủ, huyện Tứ Kỷ, tỉnh Hải Dương

Xin cầu chúc vong linh cụ Đẹ được tiêu diêu nơi cõi vĩnh hằng
Trần Quang Hải ,
12 rue gutenberg
94450 limeil brevannes
FRANCE

 

cao pho nguyen phu de 22.03.19

portrait nguyen phu de.jpg

ngnguyen phu de pham thi hue 15.05.2018.jpg

Nguyễn Phú Đẹ & Phạm Thi Huệ, thang 5, 2018

nguyen phu de pham thi hue.jpg

Thảo Vân : Đệ nhất nguyệt cầm Ba Tu qua đời


Đệ nhất nguyệt cầm Ba Tu qua đời

23:00 21/07/2018

pno

Cả NSƯT Ba Tu và tiếng đờn của ông dường như không có tuổi. Gần 80 tuổi, ông vẫn miệt mài hòa đờn cùng các thế hệ nhạc sĩ và truyền dạy ngón đờn độc nhất vô nhị của mình cho học trò.

NSƯT –  Nghệ nhân dân gian (NNDG) Ba Tu tên thật là Trương Văn Tự, sinh năm 1936 tại Cần Đước (Long An) – nơi được xem là cái nôi của nhạc lễ và nhạc tài tử Nam bộ.

Từ nhỏ ông đã có niềm đam mê kỳ lạ với âm nhạc tài tử. Cha ông cũng là người biết đờn ca tài tử, thấy con trai quá mê đờn nên bắt phải chuyên tâm học chữ rồi mới cho học đờn.

Nghe lời cha, buổi sáng ông theo học văn hóa, buổi tối ông được gởi học đờn ở những thầy nhạc nổi tiếng: Hai Đạm (học bộ gõ), Bảy Huế (tranh và cò), Chín Phàn (kìm)… Sau khoảng ba năm học đờn, ông được các thầy dẫn đi hành nghề nhạc lễ.

Thập niên 1960, ông lên Sài Gòn, gia nhập Ban ca kịch Vân Hạt (Đài Phát thanh Sài Gòn) rồi lần lượt qua các gánh cải lương Phước Thành, Minh Tơ, Tiếng Vang, Thủ Đô…

De nhat nguyet cam Ba Tu qua doi
Đệ nhất nguyệt cầm – NSƯT Ba Tu

Thời gian ở Sài Gòn, NSƯT Ba Tu vừa hoạt động ở sân khấu cải lương, vừa hành nghề nhạc lễ và tham gia Hội Danh cầm Sài Gòn. Ở đây, ông vẫn thường xuyên gặp gỡ, hòa đờn với những danh cầm tài tử – cải lương nổi tiếng như Chín Trích, Sáu Tửng, Hai Lòng, Hai Thơm, Năm Cơ, Văn Vĩ, Bảy Bá… nên có rất nhiều kinh nghiệm và sự am hiểu cả về đờn ca tài tử và cải lương.

Có một điều rất đặc biệt ở NSƯT Ba Tu. Thường thì các thầy đờn có thể hiểu cả ba dòng nhạc đờn ca tài tử, cải lương hoặc nhạc lễ, nhưng sẽ chuyên sâu ở một thể loại. Riêng NSƯT Ba Tu điêu luyện cả 3 trường phái.

Không chỉ được mệnh danh là “Đệ nhất nguyệt cầm” và nổi tiếng với ngón đờn kìm, NSƯT Ba Tu còn giỏi các các loại nhạc cụ cò, tranh, sến và guitar phím lõm.

NSƯT Ba Tu được công chúng và người làm nghề hết mực yêu thương bởi cả tài năng và đức độ. Họ trân quý ông như “báu vật nhân văn sống” của đờn ca tài tử – di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trên vùng đất phương Nam.

Sinh thời, soạn giả – NSND Viễn Châu đã từng nói về tiếng đờn của nghệ sĩ Ba Tu: “Ba Tu nhấn chữ xang nức nở như người có tâm sự đang kể lể lòng mình. Còn khi Ba Tu đờn vọng cổ, nét nhấn nhá có nhiều chữ mới, luyến láy duyên dáng, điệu bắc thì hùng tráng, các bài nam – oán thì cực kỳ mùi mẫn”.

Trước khi đi xa, Đệ nhất nguyệt cầm Ba Tu đã kịp hoàn thành bộ đĩa CD độc tấu đờn kìm 20 bài bản Tổ của đờn ca tài tử, với mong muốn góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá độc đáo của vùng đất phương Nam mà các thế hệ cha ông đã dày công vun đắp.

NSƯT – NNDG Ba Tu đã từ trần trưa 21/7. Linh cữu quàn tại nhà riêng, số 791/26 Trần Xuân Soạn, P.Tân Hưng, Q.7. Lễ truy điệu lúc 7g, ngày 23/7, sau đó đưa đi an táng tại huyện Cần Đước, Long An.

Thảo Vân

http://phunuonline.com.vn/van-hoa-giai-tri/de-nhat-nguyet-cam-ba-tu-qua-doi-134529/

Trần Quốc Bảo : VĨNH BIỆT DANH CA TÂM VẤN (1934-2018)


VĨNH BIỆT DANH CA TÂM VẤN
(trích bài viết của Trần Quốc Bảo đăng trong tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 178 phát hành ngày thứ sáu 6 tháng 7 năm 2018)Tin nữ danh ca Tâm Vấn rời bỏ cuộc đời tối thứ ba ngày 3 tháng 7 năm 2018 tại Saigon làm sửng sốt nhiều người. Bản tin đầu tiên người viết nhận được đến từ nữ danh ca Kim Tước, sau đó nữ tài tử Kiều Chinh gọi tới cho biết một lần nữa về tin này. Giọng nói của chị thật trầm buồn khi nhắc lại những kỷ niệm sau cùng với người quá cố. Chẳng ai ngờ mọi thứ diễn tiến quá nhanh, dẫu biết khi cô trở về lại Việt Nam từ tháng 10 năm 2016, sức khỏe càng lúc càng kém dần. Từ đó, danh ca Tâm Vấn không tha thiết ăn uống gì cả cho đến lúc gia đình phải đưa vào điều trị trong nhà thương, cô dần dà kiệt sức, sau đó cô-ma rồi ra đi. Nếu không có tin buồn này, thì ngày 16 tháng 7 tới đây, sẽ là sinh nhật thứ 85 của nữ danh ca Tâm Vấn.
Theo như một tài liệu riêng của Thế Giới Nghệ Sĩ đăng trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong số 27 phát hành ngày 12 tháng 12 năm 1956, bài viết ghi nhận:
“Những ai yêu nhạc mới ở Hà Nội vào nhũng năm 1950 đến 1952 hẳn không quên được nữ ca sĩ Tâm Vấn. Có một giọng ca đầy quyến rũ kèm theo bóng dáng của một nữ sinh ngoài 20 tuổi xinh tươi khả ái, cô đã gây nên bao sôi nổi trong tâm tư giới Học sinh và Nghệ sĩ của đô thành hoa lệ,
Khán giả đô thành mặc nhiên cho cô là đệ nhất danh ca Bắc Việt dù rằng lúc bấy giờ, nữ ca sĩ Minh Đỗ cũng đang đóng một vai trò quan trọng trong làng Tân nhạc Hà Nội.
Trước Tâm Vấn, Minh Đỗ chỉ còn là bóng mờ, không phải vì tài nhưng vì sắc. Đúng vậy sắc đẹp là một điểm rất cần thiết cho sự dễ dàng nổi danh của một nữ ca sĩ.
Sinh trưởng trong một gia đình buôn bán miền Bắc, Tâm Vấn có giọng ca lả lướt đầy rung cảm ngay từ thuở còn nhỏ. Giọng ca ấy được nhạc sĩ Trần Văn Nhơn chú ý đến khi nền nhạc mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ tại Hà Nội.
Đã thế là người rất say mê nhạc, lúc nào cô Tâm Vấn cũng ước ao được một nhạc sĩ tận tâm chỉ dẫn cho cô về đàn cũng như về ca.
Vì thế, nhờ sự chỉ dẫn của nhạc sĩ Nhơn, chỉ ít lâu sau cô mạnh bạo lên đài phát thanh Hà Nội trình bày bản “Mưa Đêm Thu” mở màn cho cuộc đời nghệ sĩ của cô. Thính giả bắt đầu chú ý đến giọng ca của cô và sau mấy buổi trình diễn ca nhạc tại sân khấu Nhà Hát Lớn Hà Nội, cô đã hái được của khán giả Thủ Đô một cảm tình lưu luyến đặc biệt.
Giữa lúc khán giả Hà Thành đang mến cô, thì đột nhiên vì một lý do gia đình, cô rời quê hương, bỏ cảnh rét mướt miền Bắc vào miền Nam, tìm nắng ấm vào tháng giêng năm 1953.
Tại Saigon, cô tiếp tục gửi lời ca trên các làn sóng điện đài phát thanh Quốc Gia và trình diễn trên nhiều sân khấu tân-nhạc-kịch các rạp chiếu bóng đô thành.
Thường thường ở đâu cô cũng được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt.
Sở trường của cô là những bản nhạc vui tươi dí dỏm và cô đã thành công rất nhiều trong những bản nhạc này.
Cô chơi dương cầm rất khá, thích đọc tiểu thuyết xã hội tình cảm, xem phim tình cảm.
Cô cũng đã đóng kịch nhiều lần xong chưa đạt được kết quả mong muốn. Cô hy vọng với sự tiến triển của nền điện ảnh Việt Nam hiện tại, một ngày nào gần đây, cô sẽ có dịp đóng góp tài năng với giới điện ảnh.
Về vấn đề hôn nhân, hiện cô đã kết duyên với bạn T.N từ hơn một năm nay”.
Số tới, Thế Giới Ngh

ệ Sĩ sẽ có một số bài viết về sự nghiệp ca hát của nữ danh ca Tâm Vấn. Mời Bạn Đọc đón đọc.

Ca sĩ Tâm Vấn, hiền thê Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, qua đời


Ca sĩ Tâm Vấn, hiền thê Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, qua đời

Ca sĩ Tâm Vấn. (Hình: Cắt từ clip/Youtube)

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Ca sĩ Tâm Vấn, hiền thê của Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, vừa qua đời lúc 9 giờ tối (giờ địa phương) Thứ Ba, 3 Tháng Bảy, tại Sài Gòn, hưởng thọ 85 tuổi.

Tin này được nhạc sĩ Hoàng Trọng Thụy, con trai của bà, xác nhận với nhật báo Người Việt.

Nhạc sĩ cho biết, thân mẫu ông tên thật là Dương Thị Vân, sinh ngày 16 Tháng Bảy, 1934 tại Hà Nội, và bà qua đời vì tuổi già.

Tên tuổi của ca sĩ Tâm Vấn một thời được biết đến trong các buổi phát sóng của đài phát thanh Hà Nội, đài phát thanh Pháp Á, đài vô tuyến Việt Nam, qua các nhạc phẩm như Thu Vàng, Mơ Hoa, Ngày Về, và Gái Xuân.

Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế là một trong những lãnh đạo Mặt Trận Dân Tộc Tiến Bộ và Cao Trào Nhân Bản Việt Nam, và hiện đang sống ở Sài Gòn.

Theo Wikipedia, tên Dương Thị Vân của cố ca sĩ bị húy kỵ với người trong họ ngoại, nên gọi trại đi là Vấn. Khi đi học bị các bạn chọc ghẹo vì tên nghe như “vấn thuốc lá,” nên Vấn đề nghị bạn bè gọi mình là “Tâm,” một cái tên mà bà yêu thích.

https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/ca-si-tam-van-qua-doi/

T.GIANG : Cố GS-TS Trần Văn Khê qua lời kể của học trò, 21.06.2018


Cố GS-TS Trần Văn Khê qua lời kể của học trò
(PLO)- Đúng 3 năm ngày mất của cố GS-TS Trần Văn Khê (24-6-2015 – 24-6-2018), đông đảo thế hệ học trò, những người yêu kính giáo sư Khê sẽ tề tựu về quê hương Vĩnh Kim (Tiền Giang) để tham dự ngày giỗ của ông.
(Cố GS-TS Trần Văn Khê giới thiệu về diễn giả Hồ Nhựt Quang được quay khi ông đang ở bệnh viện Nhân Dân Gia Định, ngày 10-9-2014. Clip: Nguyễn Phước thực hiện)

Cố GS-TS Trần Văn Khê qua lời kể của học trò - ảnh 1Cố GS-TS Trần Văn Khê và diễn giả Hồ Nhựt Quang tại chương trình Trang phục Nam Bộ qua thi ca. 

Chúng tôi kết nối với diễn giả văn hóa Hồ Nhựt Quang – Chủ nhiệm CLB Nghiên cứu và Vinh danh văn hóa Nam Bộ, người từng được cố giáo sư nhận làm môn sinh và truyền lửa tình yêu văn hóa cổ truyền để nghe anh chia sẻ về khoảng thời gian làm việc cùng thầy.

. PV: Là một người được đào tạo về du lịch, nhưng anh lại có niềm đam mê văn hóa cổ truyền dân tộc, và được cố GS-TS Trần Văn Khê nhận làm học trò, anh có thể cho biết duyên cớ nào đưa anh gặp thầy?

+ Diễn giả văn hóa Hồ Nhựt Quang: Tôi may mắn được gặp cố GS-TS Trần Văn Khê vào năm 1995, lúc thầy về Việt Nam và có buổi nói chuyện với sinh viên trường ĐH KHXH&NV TP.HCM về chủ đề “Nghệ thuật khóc và cười trên sân khấu”. Sinh viên chúng tôi rất thích thú nghe thầy giảng giải. Lúc thầy bước ra khỏi giảng đường, tôi đã đến hỏi thầy về phương pháp nghiên cứu văn hóa cổ truyền Việt Nam và làm sao để có thể có được một trí nhớ tốt như thầy. Thầy đã tận tình chỉ bảo và giúp tôi có được những bài học bổ ích.

Sau khi biết thầy về Việt Nam từ năm 2006, thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt nói chuyện về âm nhạc và văn hóa tại nhà, tôi sắp xếp công việc để có thể tham dự nhằm nâng cao kiến thức và bước vào con đường nghiên cứu văn hóa.

Bắt đầu từ ngày 12-9-2014, CLB Nghiên cứu và Vinh danh văn hóa Nam Bộ chính thức được ra đời từ sự hướng dẫn tận tình của thầy. Tôi được thầy tin tưởng giao vai trò chủ nhiệm CLB và mang những kiến thức mình học được giới thiệu trước công chúng.

Cố GS-TS Trần Văn Khê qua lời kể của học trò - ảnh 2 Diễn giả Hồ Nhựt Quang hướng dẫn các em học sinh trường THPT Nguyễn Văn Linh (quận 8, TP.HCM) cách bài trí đồ cúng trên một bàn thờ.

. Thọ giáo một người thầy 93 tuổi vẫn say sưa với văn hóa và âm nhạc dân tộc, chúng tôi nghĩ rằng anh sẽ có rất nhiều kỷ niệm đẹp về tình thầy trò. Anh có thể chia sẻ về điều đó?

+ Lúc thầy nằm viện vì bệnh nặng cũng là lúc tôi sắp làm chương trình đầu tiên. Thầy đề nghị tôi đưa người quay phim vào phòng bệnh để quay đoạn phim thầy giới thiệu chiếu lên màn hình cho khách mời xem, tuyệt đối không được hủy chương trình.

Những ngày cuối đời, cũng tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, thầy đã nói về hát bội cho tôi nghe khi đang phải thở oxy. Mặc dù tôi khuyên thầy cố gắng tịnh dưỡng nhưng thầy ngắt lời tôi và nói: “Thầy thương con vì những kiến thức con nghiên cứu và chia sẻ cho mọi người là những kiến thức rất quý về văn hóa truyền thống Việt Nam. Con làm không vì danh lợi mà xuất phát từ tình cảm tha thiết với quê hương nên thầy rất thương con!”.

. Sau ngày GS Khê qua đời, CLB của anh hoạt động ra sao, có gặp những khó khăn gì?

+ Chúng tôi vẫn nhớ lời dạy của thầy mà tiếp tục nghiên cứu và thực hiện vinh danh văn hóa tại nhiều trường học THPT, trường ĐH, doanh nghiệp, bảo tàng, khu di tích… và được công chúng nhiệt liệt đón nhận, nhất là các bạn trẻ.

Khó khăn thì rất nhiều nhưng chúng tôi tâm niệm thầy của chúng tôi một đời đấu tranh với nỗi buồn tuổi thơ bất hạnh mồ côi, tuổi già đấu tranh với bệnh tật mà vẫn miệt mài và vui với công tác nghiên cứu tôn vinh văn hóa nghệ thuật dân tộc Việt Nam thì khó khăn của chúng tôi cũng chỉ là hạt muối bỏ biển mà thôi.

Cố GS-TS Trần Văn Khê qua lời kể của học trò - ảnh 3Diễn giả Hồ Nhựt Quang cùng các em học sinh trường THPT Trần Quang Khải (quận 11, TP.HCM) trình diễn một tiết mục sân khấu hóa lịch sử.

. Tới đây là ngày giỗ của thầy, CLB của anh có tổ chức chương trình gì không?

+ Năm nào cũng vậy, đúng ngày giỗ của thầy (24-6), chúng tôi đều đưa các thành viên CLB và những người yêu kính thầy về Vĩnh Kim (Tiền Giang), nơi thầy được sinh ra để tham dự ngày giỗ.

Tại đây, chương trình được tổ chức không đơn thuần là lễ giỗ mà còn là ngày hội văn hóa với đàn ca tài tử, thuyết trình văn hóa hoặc biểu diễn các tiết mục sân khấu hóa lịch sử. Ngoài ra, chúng tôi còn tổ chức lễ kỷ niệm thầy tại TP.HCM để những ai không có thời gian về Vĩnh Kim có thể tham dự.

. Xin trân trọng cảm ơn anh. Chúc anh cùng các thành viên CLB luôn mạnh khỏe và thành công hơn nữa.

T.GIANG

Vĩnh biệt nhạc sĩ Tô Thanh Sơn (1949-2018)


to thanh son (1949-2018).jpg

Vĩnh biệt nhạc sĩ Tô Thanh Sơn
Nhận được tin buồn trong tối chủ nhật, người nhạc sĩ có bài hát nổi tiếng “Chút kỷ niệm buồn” – Tô Thanh Sơn đã ra đi đột ngột, để lại nhiều thương tiếc cho những ai yêu thích ca khúc trữ tình này.
Nhạc sĩ Tô Thanh Sơn sinh năm 1949 tại Hồng Ngự, Đồng Tháp. Ông là em của nhạc sĩ Tô Thanh Tùng – người cũng vừa qua đời cách đây không lâu trong sự thương tiếc của nhiều khán thính giả yêu âm nhạc.
Gần 30 năm sáng tác, nhạc sĩ Tô Thanh Sơn vẫn mang nặng nỗi buồn của người nhạc sĩ nghèo, viết ca khúc không ai hát. Tưởng chừng ông hết hy vọng thì vào năm 1999, một người bạn nghe được ca khúc “Chút kỷ niệm buồn”, thấy hay nên mang đi giới thiệu giúp, không ngờ được khán thính giả trong và ngoài nước yêu thích. Từ đó, các sáng tác khác như “Thầm lặng”, “Ba năm anh yêu em âm thầm”, “Giọt mưa đêm”, “Vùi chôn kỷ niệm”, “Một lần gặp em”, “Đêm tiễn biệt”, “Đi tìm dĩ vãng”, “Chờ em trong mưa”, “Giọt mưa đêm”… đã được công chúng biết đến rộng rãi.
Tang lễ của nhạc sĩ Tô Thanh Sơn được tổ chức tại tư gia (số : 171 Điện Biên Phủ, An Thạnh, TX. Hồng Ngự, Đồng Tháp). Lễ động quan lúc 11giờ ngày 23-4, sau đó an táng tại đất nhà.
Thắp nén hương tưởng nhớ đến nhạc sĩ Tô Thanh Sơn. Tiễn đưa ông về đất mẹ, khán giả vẫn mãi yêu thích những sáng tác của ông.
#tothanhson

Trịnh Thanh Thủy : Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và những điều chưa nói hết, phâ`n 1


Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và những điều chưa nói hết.

Trịnh Thanh Thủy biên soạn

trinh-thanh-the1bba7y
Thế là chú ấy đã giả từ chốn này và bắt đầu cuộc rong chơi miền phương
ngoại rồi. Lần cuối tôi gặp chú là tháng 12 năm 2011. Sau đó, tôi thường
liên lạc bằng điện thoại và điện thư với chú nhưng bất thình lình chú thôi
không trả lời, bởi vì chú sợ chính quyền theo dõi nên bặt tin chú. Giờ
chú đã nằm xuống, thôi lo lắng, hết băn khoăn, khỏi lo sợ và thật sự
được yên bình. Mời bạn đọc bài viết kể lại cuộc gặp gỡ của tôi với chú
Nguyễn Văn Đông vào ngày tháng 12 năm 2011 đã lưu lại nhiều ấn
tượng trong tôi, mà bây giờ tôi mới có thể viết, sau khi chú đã nằm
xuống.
Nhân một lần về thăm Việt Nam, nhà văn Bích Huyền kiêm xướng ngôn
viên đài VOA có nhờ tôi đem vài món quà biếu ông nên tôi có cơ duyên
gặp và tiếp xúc với ông tại nhà riêng. Cô Bích Huyền dự định làm một
buổi văn nghệ tuởng niệm những người lính VNCH ở Quận Cam Hoa
Kỳ và có ý nhờ ca sĩ hát mấy bài của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Tiện
thể, cô nhờ tôi ghé thăm và viết bài về ông. Nhà ông nho nhỏ trên đường
Nguyễn Trọng Tuyển, Phú Nhuận, phía trước có chiếc xe bán bánh mì ổ
do phu nhân ông là cô Nguyệt Thu đứng bán. Cô rất dễ thương và hiếu
khách. Cô cũng là người đầu ấp tay gối đã chăm sóc ông suốt quãng đời
còn lại từ ngày ông đi cải tạo về bằng chiếc xe bán bánh mì giò chả này.
Bây giờ căn nhà đã thành tiệm thực phẩm và bánh mì Nhiên Hương
khang trang và tươm tất hơn năm tôi ghé 2011 rất nhiều.
Tôi thuộc thế hệ con cháu, nên khi nói chuyện tôi gọi ông bằng chú. Lần
ấy, ông tiếp tôi rất thân mật, niềm nở nhưng không kém phần nghiêm
túc. Ông có nhấn mạnh rằng, sau 36 năm, đây là lần đầu tiên ông tiếp
người lạ, từ ngày 30 tháng tư năm 1975, ông không tiếp xúc ai hết, kể cả
các giới truyền thông, báo chí, nghệ sĩ, ca sĩ là những người ngày xưa đã
từng quen biết ông hay khán thính giả ái mộ và thương mến ông. Vì có
sự giới thiệu đặc biệt của cô Bích Huyền, ông mới tiếp tôi. Ông có nói
thêm rằng sở dĩ ông không tiếp xúc hay cho ai phỏng vấn vì ông rất e
ngại, dè dặt trong việc tiếp cận hay ngoại giao và ông muốn sống yên

thân đừng ai nói hoặc nhắc tới ông nữa. Ông sợ sự liên hệ hay tin đồn
không đúng lan rộng, bất lợi cho ông để tránh những rắc rối phiền phức
sau này.
Thật ra trước đó vào mùa xuân Bính Tuất 2006, trong chương trình phát
thanh Nghệ Sĩ và Đời Sống do Trường Kỳ thực hiện ông đã dành cho
đài VOA một cuộc phỏng vấn rất lý thú và đầy đủ về cuộc đời binh
nghiệp và âm nhạc của ông. Ông cũng không quên kể nguyên do và
động cơ khiến ông sáng tác những tác phẩm như "Chiều mưa biên giới,
Phiên gác đêm xuân, Hải ngoại thương ca, Thiếu nhi hành khúc
…v..v..”.,trong cuộc phỏng vấn của Trường Kỳ nàyệ
Tôi bày tỏ lòng ngưỡng mộ của tôi với những sáng tác của ông trước
năm 1975, về cuộc sống hay những mối tình của những người trai thời
chiến, đã chiến đấu hy sinh cho đất nước trong các ca khúc trên. Ý định
của tôi là gặp gỡ tác giả để hiểu thêm về tác phẩm, hầu viết một bài về
ông cho đúng đắn và trung thực, trước khi buổi tưởng niệm diễn ra. Ông
và tôi nói chuyện rất tương đắc về âm nhạc, tác phẩm của ông và những
ca sĩ đã trình bày nhạc của ông thế nào và ra sao. Tuy nhiên ông vẫn dè
dặt dặn tôi phải cẩn trọng vì ông không muốn gặp rắc rối kẻo lụy cho
ông và người nhà.
Về đến Hoa Kỳ, tôi bắt đầu viết thì ông gởi điện thư bảo tôi, thôi đừng
viết, vì ông muốn mọi người quên ông đi, ông không tha thiết gì nữa,
nên đừng nhắc đến tên ông. Tuân theo ý nguyện của ông, tôi xếp lại và
thầm cảm thương cho một người nhạc sĩ tài hoa chịu nhiều bất hạnh, giờ
bệnh tật triền miên mà không muốn ai nhớ đến mình nữa. Có lẽ ông nghĩ
đúng, biết đâu những hệ lụy của cái tài danh mang đến cho ông nhiều
bất lợi hơn là thứ tiếng tăm hư ảo của người đời. Tuy nhiên, ông quên
một điều là ông còn có một số lượng rất lớn người trong và ngoài nước
vẫn còn mến mộ, yêu, hát, và rung động chân thành khi nghe những con
Sơn Ca ngày cũ hát nhạc của ông. Những Hà Thanh, Thanh Tuyền, Thái
Thanh hay Trần Văn Trạch, Duy Trác… những giọng hát thiết tha, đầy
cảm xúc trong "Chiều mưa biên giới, Mấy dặm sơn khê, Khúc tình ca

hàng hàng, lớp lớp, Hải ngoại thương ca, Nhớ một chiều xuân…" đã cho
các tác phẩm của ông một chỗ đứng trang trọng nhưng riêng biệt trong
con tim những thính giả mến mộ.
Khi hỏi đến sức khoẻ, ông bảo, ông bị đau bao tử kinh niên, đau tai, thấp
khớp và cao máu, những thứ này hành hạ ông thường xuyên từ khi đi tù
cải tạo về. Tôi liền hỏi lý do tại sao ông không qua Hoa Kỳ định cư theo
chương trình HO. Ông bảo sau khi vào tù 9 năm, vì bị bệnh nặng sắp
chết nên ông được trả về với lý do: “Ðương sự bị bệnh sắp chết, nên cho
phép gia đình đem về nhà chôn cất!” chứ không phải họ tha vì lý do
chính trị. Khi về đến nhà, ông được cô Nguyệt Thu và gia đình chăm
sóc, thuốc thang mãi và có lẽ vì chí khí kiên cường dũng mãnh lắm, ông
mới sống lại được.
Đến khi có chương trình H.O., chính phủ Mỹ có gởi giấy báo cho ông
biết về chương trình, ông trộm nghĩ, mình đã già lại bệnh hoạn thế này,
qua Mỹ làm gì, vả lại đời sống ông cũng tạm ổn định bên người thân nên
từ chối ra đi. Họ có gởi giấy cho ông nhiều lần hỏi ông đã suy nghĩ kỹ
chưa? Ông quyết định chọn giải pháp ở lại, với lý do gia đình không
muốn đi, nên ông ở lại với gia đình.
Sau này khi Paris By Night có ý định mời ông qua Mỹ để thực hiện cho
ông một chương trình dành riêng cho dòng nhạc của ông, ông lại gặp rắc
rối trong vấn đề thủ tục. Chính quyền chỉ cho phép ông đi trong 15 ngày
mà chương trình họ mời cần đến ít nhất là 1 tháng. Thời gian 15 ngày
không đủ cho việc phỏng vấn và thực hiện thu hình..v…v… Có người
ngỏ ý bảo lãnh ông qua Canada rồi sau đó sẽ qua Mỹ. Paris By Night sẽ
tổ chức show ở đó, vì ở Mỹ còn rất đông người yêu nhạc ông, việc thu
nhập mới cao hơn được. Ông bảo tôi, ông có khí phách của một người
nhạc sĩ ngày xưa đã từng từ chối đi Mỹ theo chương trình H.O., rồi bây
giờ lại đi đường vòng như thế còn gì khí phách ngày xưa nữa. Sau họ có
mời ông nhiều lần ông đã từ chối không đi. Ông tâm sự tuy mất cơ hội
được có mặt và tiếp xúc cùng đám đông, vẫy vùng trong thế giới âm
nhạc mà ông yêu thích nhưng ông cam chịu. Có lẽ vì ông muốn tâm
được an bình, không phải lo lắng sợ sệt, bỏ danh lợi ngoài thân và yên

phận trong tuổi già. Nhà văn Chu Tất Tiến là 1 bạn tù được ông nhận
làm đệ tử kể tôi nghe, một trong những lý do chính là ông không muốn
phải xin xỏ, lạy lục, đi lên đi xuống với chính quyền, đòi thêm thời gian,
vì dù gì ông còn cái khí tiết của một người sĩ quan quân lực ngày xưa.
Ông có bảo Chu Tất Tiến rằng “Anh ghét phải đi lạy lục, xin xỏ, rồi
nghe hạch hỏi tra vấn, làm mất hết khí phách của mình”.
Trong lúc vui chuyện, ông kể về thời gian còn trong trại cải tạo ở Suối
Máu. Ông bệnh nhiều lắm nhưng được các bạn tù thương mến và giúp
đỡ ông rất nhiều vì họ biết tiếng ông, và tìm cách giúp ông. Nhắc đến
trại cải tạo Suối Máu, Trong bài một bài viết cho NS Nguyễn Văn Đông
của nhà văn Chu Tất Tiến có đoạn “ Em nhớ lại thời gian khi còn trong
tù, anh chỉ dẫn cho em từng nốt nhạc vọng cổ, và vì lúc đó anh bệnh
nặng quá, nên sự cố gắng dậy bảo của anh làm anh ứa máu, em đã sợ
hãi mà ngăn anh lại: “Thôi! Thôi! Anh nghỉ đi! Đừng nói nữa! Máu
chẩy ra miệng anh kìa!” Anh lắc đầu, lấy vạt áo tay chùi máu miệng, và
nói: “Không ngừng được! Anh phải dậy em bây giờ! Anh không biết lúc
nào anh chết, nên phải truyền hết kinh nghiệm cho em, kẻo mai mốt anh
chết, thì không có người tiếp tục!” Và cứ thế, bất chấp sức khỏe càng
ngày càng sa sút, máu cứ chẩy ra ngoài miệng, anh đã dậy cho em từng
câu nhạc Vọng cổ, từng cách viết kịch bản cho một vở tuồng cải lương,
cổ nhạc. Vì các đốt ngón tay anh đã bị chất vôi phù lên, cứng ngắc,
không sử dụng được, anh đã ngồi xổm trên chiếu, kẹp chiếc bút chì vào
giữa ngón chân cái và ngón kế tiếp để vẽ lên các nốt nhạc to bằng quả
trứng gà, cũng như các tiết tấu và kết cấu từng câu nhạc, thật công phu
vô cùng. Em biết là viết như vậy, anh đau lắm và vất vả lắm, nhưng anh
vẫn kiên trì truyền hết kinh nghiệm cho thằng em kém cỏi này và cũng vì
biết nỗ lực của người Thầy như anh thật là hiếm có trên đời, nên em đã
cố gắng làm vui lòng anh bằng cách sáng tác các bài ca Vọng cổ, cũng
như các bài tân nhạc rồi hát cho anh nghe, để thấy anh mỉm cười, mãn
nguyện là em mừng. Dĩ nhiên, khả năng của em không đủ để theo kịp sự
dậy dỗ của anh, khiến có vài lần anh nhăn mặt, mắng: “Em cứ có cái tật
phăng-tê- di! Không chịu theo khuôn phép gì cả! Hòa âm gì kỳ cục thế!

Viết lại!” Để sau khi em sửa lại rồi, anh vẫn lắc đầu, thở dài: “Thôi!
Cái tật ẩu không bỏ được!” rồi anh lại gật đầu, cười mỉm: “Thế mà lại
hay! Mỗi người sáng tác đều có những cái riêng của mình, không ai
giống ai.”
Phải nói rằng không những ông có cái khí tiết của một người lính VNCH
mà còn có cái lòng tận tụy của một người thầy đam mê với âm nhạc, dạy
học trò tới thổ huyết mà vẫn không chịu ngừng đến nỗi “…, anh chỉ có
thể nằm trên một miếng ván nhỏ có gắn bánh xe do anh em cùng tù làm
cho anh, để anh lấy tay đẩy miếng ván trôi đi, y như một người bị què
cụt sắp chết. Nhìn hình ảnh đó, anh em đều sa lệ. Còn đâu người hùng
năm xưa? Còn đâu hình dáng người nhạc sĩ với cây đàn và những bản
nhạc tuyệt vời, hát mãi không chán?”.
Đám tang ông diễn ra đơn sơ vì có lẽ ông sống khép kín không tiếp xúc
với ai và không cho phúng điếu vì hai ông bà không có con sợ không ai
trả lễ.
Trịnh Thanh Thủy thực hiện
Xin xem tiếp Kỳ 2
“Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông nói về các tác phẩm của ông”
Tiểu sử
NS Nguyễn Văn Đông (1932 – 2018) nguyên là sĩ quan quân lực
VNCH, cấp bậc Đại tá. Nhiều người biết đến ông với tư cách Nhạc sĩ
nổi tiếng trước năm 1975, với các ca khúc Chiều Mưa Biên Giới, Phiên
Gác Đêm Xuân, Nhớ Một Chiều Xuân, Sắc Hoa Màu Nhớ, Hải Ngoại
Thương Ca…Một số bút danh khác của ông là Phượng Linh, Phương Hà,
Vì Dân và Đông Phương Tử trên một số nhạc phẩm tình cảm như "Khi
đã yêu", "Thầm kín", "Niềm đau dĩ vãng", "Nhớ một chiều xuân"… ông
cũng đã viết nhạc nền và đạo diễn cho trên 50 vở tuồng, Cải lương nổi
tiếng ở Miền Nam trước năm 1975 như Nửa đời hương phấn, Đoạn
tuyệt, Tiếng hạc trong trăng, Mưa rừng…

Ông còn là giám đốc hãng băng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca, Trưởng
Đoàn văn nghệ Vì Dân, Trưởng ban Ca nhạc Tiếng thời gian của Đài
Phát thanh Sài Gòn, và từng nhận giải Âm nhạc Quốc gia
Sau 30 tháng 4, 1975, Nguyễn Văn Đông bị bắt đi học tập cải tạo 10
năm và ngừng

Foot note

Pic 1 NS NVĐông ngày còn trẻ.jpg

Pic 1: Chân Dung NS Nguyễn Văn Đông lúc còn trẻ

Pic 2 Nhac si NVDong 2011

Pic 2: Chân Dung NS Nguyễn Văn Đông vào năm 2011

Pic 3 TTThủy với NS NVĐông2

Pic 3: Trịnh Thanh Thủy ghé thăm NS NVĐông năm 2011

Pic 4 Trước cửa tiệm Nhiên Hương.jpg

Pic 4: Trước cửa tiệm bánh mì Nhiên Hương cũng là nhà của NS Đông ở Phú Nhuận

Pic 5 Trước linh cữu NS NVĐông.jpg

Pic 5: Trước linh cữu của NS NVĐông- Ảnh của Nhà  Thơ Trần Tiến Dũng

pic 6 TTDũng và Quả phụ NVĐông.jpg

Pic 6: Nhà Thơ Trần Tiến Dũng và bà quả phụ NVĐông, trong đám tang – Ảnh của Nhà  Thơ Trần Tiến Dũng

pic 7 Cáo phó tang lễ.jpg

Pic 7: Cáo phó Tang Lễ

This blog is focused on Trân Quang Hai