Category Archives: CULTURE OF VIETNAM

TRẦN VIỆT HẢI : CÁC “MIỆT” TẠI MIỀN NAM


CÁC “MIỆT” TẠI MIỀN NAM

Miền Nam là phần lảnh thổ sau cùng và tận cùng về phía nam của nước ta. So với hai miền kia, quả có nhiều khác biệt. Khác biệt về nhiều thứ như: con người miền Nam với tánh tình hiền hoà, chơn chất, phóng khoáng hiếu khách. Đó là về mặt tích cực, về mặt”tiêu cực” (theo một nghĩa nào đó) thì người miền Nam thích hưởng nhàn, sống hơi an phận, không thích tranh đấu, bon chen, và vì vậy không biết nhiều mưu mô, mánh khoé. Và có lẽ vì vậy, mà thưòng bị thua kém phần nào so với đồng bào nói chung của hai miền kia. Chỉ xin lạm bàn đôi điều, mà chúng ta đã nhận ra với biết bao thấm thía… Riêng xét về mặt hình thể, địa thế, mảnh đất miền Nam cũng khác, khác khá nhiều. Đây là một vùng bình nguyên, thế đất đa phần bằng phẳng, chỉ một ít có những thế đất cao, như đồi, trảng, giồng. Tuy nhiên, cũng phải kể một vài tỉnh vơí những ngọn núi không cao lắm, chỉ khoảng dưới ngàn mét như: Chứa Chan, Bà Đen,núi Dinh,Thị Vải và cụm dãy núi Thất Sơn. Điểm đặc biệt hiếm có của miền Nam là sông nước mênh mông, do hai hệ thống sông Đồng Nai và Cửu Long. Thêm vào đó còn có cả những kinh đào, là đặc trưng không có ở miền khác. Về cư dân, dĩ nhiên cũng có phần khác biệt, vì nơi nầy vốn xưa có cư dân gốc Cam Bốt, Chàm, người Stiêng, Mạ, Mnông… cùng là nhóm ngưòi Tàu không nhỏ theo làn sóng đi khai phá do các lãnh đạo của họ là Mạc Cửu, Trần Thưọng Xuyên… Tất cả đã hoà quyện thành một “ngưòi Nam” như chúng ta đã biết. Riêng về địa danh, chúng tôi đã sưu tập, phân tích đúc kết có sàng lọc ,một sự sưu tập chắc hẳn còn quá nhiều thiếu sót, phiến diện. Về địa danh thì miền Nam với những đặc trưng như: nhiều tên mang chữ “cái”, nhiều tên mang chữ kinh, rạch, xẽo, nhiều tên mang âm hưởng ngôn ngữ bản địa (nhứt là từ tiếng Cam Bốt), cũng như vì kỵ húy hay ước vọng hoà bình, mang tên “đẹp” như “phú, mỹ, lợi, hưng…”. Và điểm đặc biệt khác của miền Nam, về địa danh, còn có ‘miệt’, mà chắc chắn không có tại hai miền kia.

Phần tài liệu nầy, chúng tôi trích ra từ một sưu tập khá dài, chỉ với mục đích góp vui cùng quý đồng hương trong dịp ngơi nghĩ, cuối tuần. Riêng với các bạn trẻ, cũng là một dịp đễ biết thêm đôi chút về quê nhà. Thú thiệt, chúng tôi chỉ âu lo, hay đúng hơn là đau đớn vì biết đâu một ngày nào đó ”Việt Nam tôi đâu, còn hay đã mất”… Và chắc hẳn, không ai còn quan tâm đến mảnh đất hình cong chữ S nằm ngạo nghễ trên bờ biển Đông, còn chi mà biết ‘miệt trên, miệt dưới hay miệt vưòn..’. mà tài liệu đuợc trình bày ngắn gọn sau đây.

Theo nhà học giả Paulus Của, trong quyển “Đại Nam Quốc Âm Tự Vị,” định nghiã miệt là: nhỏ mọn, xứ miền, dảy đất. Theo một giải thích khác, miệt có thể phát xuất từ hiện tượng đọc “trại ra”, tức biến âm, từ miền đọc trại thành “miệt”
Tại miền Nam có bao nhiêu miệt, còn tùy theo sự phân chia của vài tác giả. Trước tiên, theo tác giả Nguyễn Vĩnh Long Hồ (Người Long Hồ), trong tài liệu trường thiên mang tên “Đất Phương Nam” (dài trên 2000 trang khổ lớn) đã phân ra các miệt như sau :

– miệt Đồng Tháp : gồm Tân An, Mộc Hóa và Cao Lảnh.
– miệt Vườn : gồm Sa Đéc, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ và Long Xuyên.
– miệt Biển : gồm Gò Công, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng và Bạc Liêu.
– miệt Thất Sơn : gồm Châu Đốc và Bảy Núi (Thất Sơn).
– miệt Thứ U Minh : gồm Cà Mau, Chương Thiện và Rạch Giá.
– miệt Hà Tiên : gồm Hà Tiên, Giàng Thành (Kiên Giang) và Phú Quốc.

Miệt vườn với biết bao cây trái thơm ngon như cây dừa xiêm với bao buồng trái nặng trĩu.

Theo một nghiên cứu khác, nhà văn Sơn Nam chia ra các miệt như sau:

– miệt trên : gồm Biên Hòa, Gia Định,Bà Rịa.
– miệt Cao Lảnh : gồm vùng Cao Lảnh ngày nay.
– miệt Đồng Tháp Mười : gồm vùng lòng chảo ĐTM
– miệt Mỹ Vãng : gồm Mỹ Tho, Vĩnh Long.
– miệt Dưới : gồm Rạch Giá,Cà Mau.
– miệt Chợ Thủ, ông Chưỏng : gồm nơi sông Hậu,sông Tiền,Long Xuyên.
– miệt Xà Tón,Bảy Núi : gồm vùng Thất Sơn, Tri Tôn.

Cũng cần ghi nhận là vùng miền Đông Nam Phần hầu như ít xếp vào các miệt, có chăng là chỉ được gọi chung là “miệt trên” mà thôi. Trong dân gian, người ta còn thoãi mái, đặt thêm những miệt nữa, thí dụ người dân ở miệt miền Tây, có thể gọi vùng từ Sài gòn trở lên là “miệt trên”, hay ngược lại. Thêm nữa, sự phân chia miệt cũng chỉ tương đối, như xếp tỉnh Bến Tre vào ”miệt biển“ cũng không hoàn toàn chính xác, vì tỉnh nầy phần giáp biển, nhưng cũng là tỉnh có những vườn trái cây nổi tiếng như Cái Mơn. . .

Ngoài ra, cũng còn một cách chia đơn giản các miệt như sau:
a/ Miệt vườn : gồm gọi chung các nơi cao ráo,có vườn cây ăn trái ven sông Tiền, sông Hậu thuộc tỉnh Sa Đéc, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Cần Thơ.
Đề cập đến miệt vườn, người ta không thể không kể sơ qua về những trái cây rất thơm ngon, hầu như cả miền Tây và một vài tỉnh miền Đông, nơi nào cũng có không ít thì nhiều. Ngày nay, tại “xứ người” đã xuất hiện nhiều cây ăn trái giống hệt như tại quê nhà, nhưng mà, dường như cũng còn gì đó khan khác thật khó tìm thấy, có phải chăng đó là hương vị quê nhà… Sau đây là một số vườn khá nổi tiếng, ta hãy nhìn lại một vài cây ăn trái thân quen mà bao năm qua ít có dịp nhìn lại

Vườn trái cây An Bình thuộc huyện Long Hồ (Vỉnh Long).

Tại tỉnh Vỉnh Long, khá nhiều vuờn cây ăn trái như ở Cái Vồn, An Bình. Tại những khu vưòn nầy, cũng có đủ các loại cây trái thơm ngon, như : chôm chôm, xoài, và đặc biệt có giống bưởi Năm Roi, bưởi da xanh. Nhắc đến tên Long Hồ, người ta bỗng như nghe văng vẳng đâu đây những câu ca ngọt lịm của ”ông Cò quận Chín’.

Vườn trái cây Mỹ Khánh, huyện Phong Điền-Cần Thơ

Đi từ Cần Thơ về hướng Sóc Trăng, chỉ khoảng 6 km.Các vườn vùng nầy có trồng trên 20 loại trái cây như mận, xoài, chôm chôm, dâu… và đặc biệt quít đường. Nhìn hình bên dưới, khách du có còn nhìn những chùm quít vàng tươi, hay gương mặt trăng trắng xinh xinh của gái miệt vườn.

Đặc biệt đây có loại vú sửa Lò Rèn, trái tròn căng, vỏ mỏng, thơm ngọt. Ngoài ra còn sầu riêng, chôm chôm, bưởi. . . Xin lạm bàn về vú sửa và cách ăn vú sửa, trước tiên về phân lọai, có vài loại khác nhau như: trái màu tím, hay màu mở gà vàng ươm, trái tròn căng hay hơi thon dài; nhưng mà cho dù màu sắc hay hình dáng có khác, bên trong vú sửa cũng cùng tràn đầy sửa ngọt. Đặc biệt, cách ăn vú sửa đúng nhứt là phải… xoa bóp vài lượt và nắm kéo cái cuống núm, xong kê miệng vào nút từ từ. Nhớ đừng nút nhanh và mạnh quá, không khéo coi chừng sửa tràn ra dính cả mồm. Đấy, ăn vú sửa có cái thú là vậy.

Cũng nhân đây, cần ghi nhận đôi chuyện xưa và nay thật vô cùng đáng nhớ. Chuyện xưa là cũng tại gần vùng nầy có con sông “Rạch Gầm”, nơi vua Quang Trung đã đánh tan đội quân Xiêm La (Thái) với 50.000 quân. Chuyện nay, chỉ cách đây khoảng trên 40 năm, tại gần nơi nầy có căn cứ Đồng Tâm, bản doanh của sư đoàn 7/BB Việt Nam Cộng Hoà. Vào trưa ngày 30/4/1975, chuẩn tướng Trần văn Hai, tư lệnh sư đoàn đã anh dũng tuẩn tiết. Trước khi nổ súng tự sát, ông đã nhờ người mang về cho mẹ số tiền lương khoảng 75.000 đồng VN thời đó. Thật là một vị tướng anh hùng, thật là một đứa con hiếu thảo ngàn đời đáng mến mộ tôn thờ (Xin xem chi tiết cũng trong thiên tài liệu nầy)

Vườn trái cây Cái Bè – Tiền Giang.

Tỉnh Tiền Giang, Mỹ Tho hay Định Tường cũ, là nơi đồng bằng sông nước. Tại nơi nầy, cây trái vườn tược sum xuê, đặc biệt nơi Cái Bè, nhiều loại trái cây thơm ngon, đặc biệt có xoài cát Hoà Lộc. Chỉ cách Sài gòn trên dưới 70 km, đây là vựa trái cây lớn nhứt đồng bằng sông Cửu.

Vườn trái cây Cái Mơn – Chợ Lách – Bến Tre

Vốn được bao bọc bởi 4 bề sông nước (sông Cổ Chiên và Hàm Luông) với biết bao cây trái thơm ngon, đặc biệt là giống sầu riêng cơm vàng hạt lép. Đây được đánh giá là nơi sản xuất cây giống lớn nhứt Việt Nam. Cũng nên nhắc lại, Cái Mơn là sinh quán của một nhân vật thật vô cùng nổi tiếng. Đó là nhà bác học Trương Vĩnh Ký, ông là người có công hiệu đính, hoàn thiện hơn chữ quốc ngữ, để được trở thành một thứ chữ tiện lợi cho chúng ta. Riêng về chuyện cây trái, theo tài liệu có ghi, ông họ Vĩnh khi sang học tại các nơi nơi tu viện tại Cam Bốt, Mã Lai… khi đi về đã mang một số cây giống, gíúp cải thiện cây trái tốt tươi và thom ngon của miệt Cái Mơn.Cũng nhân đây, lại nói về công lao và sự “bất công” của văn học sử miền Nam. Tại miền Nam, qua một thời gian dài, chẳng hiểu do đâu mà nhiều nhân tài văn học ,trong đó đặc biệt văn hào Trưong Vĩnh Ký và nhà văn Hồ Biểu Chánh đã bị “đối xử bất công”, đã bị “cho việt vị” hàng nhiều thế hệ. Công lao và văn tài của hai vị miền Nam nầy đã chỉ được giảng dạy rất hạn chế và “sơ sài” trong giới học sinh trung học và cả đại học.

Vườn trái cây Lái Thiêu – Thuận An – Bình Dương

Chỉ cách Sài gòn khoảng 20 cây số,rất tiện đi về trong ngày. Tại khu vực nầy, khá nhiều vườn với những trái cây thơm ngon như: xoài, dâu, chôm chôm, sầu riêng, măng cụt… Du khách có thể vào vườn, tự hái trái hoặc nhờ cả những chủ vườn cung cấp cho mình những bữa ăn đồng quê… Tóm lại, đi vườn trái cây Lái Thiêu là một buổi picnic vô cùng thú vị.

Dâu Lái Thiêu

Ngoài những vườn vừa nêu, cũng còn nhiều nơi khác như miệt Long Thành. (Long Khánh), Kế Sách (Ba Xuyên).Nha Mân (Sa Đéc). . .

b/- Miệt đồng (ruộng): gồm các vùng tương đối thấp, ít có vườn, và nhiều đồng ruộng như: Sóc Trăng, Long Xuyên, Chương Thiện…

c/- Miệt thứ : gồm vùng “lâm sắc”(theo sách Đại Nam Nhứt Thống Chí) mà dân địa phương gọi là miệt thứ, là vùng ven u minh ,gồm Rạch Giá, Cà Mau và phần nào Bạc Liêu.Gọi là miệt thứ, vì vùng nầy có 10 con rạch mang thứ tự từ thứ số một…, con rạch thứ 10 chảy ra biển. Đây là vùng xa xôi, hiền từ, quê mùa.

Vào thời xa xưa, con gái miệt vườn, gả về miệt thứ U Minh, ngồi buồn nhớ quê nhà, cất lên lời ca áo não.

Đêm đêm ra đứng hàng ba,
Trông về quê mẹ, lệ sa buồn buồn
Sương khuya ướt đẩm giàn bầu
Em về miệt thứ bỏ sầu cho ai.

Ngày nay, phương tiên giao thông rộng mở, miệt thứ không còn là nơi “muổi kêu như sáo thổi. . “, nhưng xin hỏi mấy ai không mềm lòng,buồn chết được, khi nghe ca sĩ Phi Nhung nỉ non bài “em về miệt thứ”. Người ta không biết ,”em” Phi Nhung về miệt thứ có ai cùng về;nếu chưa chắc không ít người tình nguyện về theo. Đề cập đến miệt, người dân miền Tây có suy nghĩ khá ngộ, từ ”miệt đồng” đôi khi cũng dùng để chỉ những dân “quê mùa”, nhưng chỉ với hàm ý đùa cợt, không phải quá khinh khi.

Trong một tác phẩm mang tên ”Văn Minh Miệt Vườn”, tác giả nhà nghiên cứu Sơn Nam cũng đề cập nhiều khía cạnh về nét văn minh nầy. Được biết tài liệu trên xuất bản trước năm 1975, và sau nầy có tái bản với vài thay đổi, kể cả những “thay đổi” ngay con người của ông ấy. Thật đáng tiếc vô cùng. Bỏ qua những “xu thế” đáng tiếc nơi con người Sơn Nam, tác giả đã nêu lên một nhận xét mà chúng ta dễ dàng chấp nhận, là những “cáí hơn” của miệt vườn (so với miệt đồng). Đó là:

– miệt vườn có nhiều huê lợi hơn (làm vườn khoẻ, nhẹ nhàng. . ), nhưng thu lợi nhiều hơn
– đất vườn cao hơn đất ruộng là lẽ đương nhiên vì phải cho cây trái không bị úng thủy.
– và đặc biệt con gái miệt vườn đẹp và trắng hơn, vì không phải lội xuống bùn xình,dải dầu mưa nắng. Cụ thể như con gái thuộc vùng Nha Mân (Sa Đéc) đẹp có tiếng. Đây chỉ là trên cơ bản, nhiều khi con gái miệt ruộng lại “rắn rỏi, mặn mà“ hơn. Riêng những chàng trai nông dân, đặc biệt miền Tây sông nước, ngày xưa cách đây khoảng nửa thế kỷ, đa số chỉ quên với ruộng vườn. Nơi miệt đồng, miệt ruộng như Sóc Trăng, trai lớn lên chỉ biết làm ruộng mà thôi. Tánh tình thiệt thà chơn chất trong mọi thứ, kể cả chuyện “ghẹo gái’ như một chàng trai miệt Ngả Năm với lời tỏ tình thật dễ thương, qua bài:

GHẸO NGƯỜI DƯNG

Sông Ngả Năm chải dìa năm ngả
Tui dí em chắc có lươn diên
Mới gặp đả thấy thuông liền
Mến người dân dả, chớ gái thị thiền thiếu chi.
Nói ga, chỉ xợ em cười
Tui đây chỉ thích những người gái quê
Mùi dầu dừa,tui gất mê
Mê luôn cả mái tóc thề của em.
Gái thị thiền,tui hổng ham
Cưới dìa hỏng biết chịu làm… guộng không ?
Hay là chỉ biết ngồi không
Lo xửa bóng xắc, buồn lòng tía tui.
Em ơi, đây có mấy lời,
Tui ti ít học, nhưng người xiêng năng
Mần guộng dỏi nhứt chong làng,
Mấy thằng chạc tủi, hổng bằng tui đâu.
Em mà ưng chịu làm dâu,
Tía má xẻ xắm mâm chầu hỏi ngay.
“Cưới dợ thì cưới liền tai,
Chớ để lâu ngày,thiên hạ dèm pha”
Ga diên xẻ thưa má ba,
Đến gặp thầy Xáu, coi ga tốt ngày
Tía má tui tính lâu nay,
Tui là con út, “phần mầy hưởng chung”.
Guộng dườn còn xáo chục công
Em dìa hai đứa mình cùng chung lo.
Tía má theo ông theo bà,
Căn nhà thừa tự, xẻ là của tui.
Đây đã kể gỏ đầu đui,
Đó làm chồng dợ, đề gồi đẻ con
Chỉ chừn phản một chục chơn,
Có nếp, có tẻ, thì còn dì dui.
Em ôi, xao hỏng chả lời
Thò lỏ con mắt nhìn tui mà cười???

(Bài thơ trên là “tâm tình” của một cậu dân quê tại Ngả Năm(Sóc Trăng),mà cũng cả miền Nam, vào khoảng thập kỷ 1950. Lời lẽ mộc mạc, phát âm sai chánh tả. . . Sau đây là nguyên bài đúng giọng và chánh tả.

GHẸO NGƯỜI DƯNG

Sông Ngả Năm chảy về năm ngả
Tui với em chắc có lương duyên
Mới gặp đã thấy thương liền
Mến người dân dả, (chớ gái) thị thiền thiếu chi(1)
Nói ra chỉ sợ em cười
Tui đây chỉ thích những người gái quê
Mùi dầu dừa, tui rất mê (2)
Mê luôn cả mái tóc thể của em.
Gái thị thiền,tui hổng ham
Cưới dìa hỏng biết chịu làm ruộng không?
Hay là chỉ biết ngồi không,
Lo sửa bóng sắc,buồn lòng tía tui.
Em ơi, đây có mấy lời
Tui tuy ít học, nhưng người siêng năng.
Mần ruộng giỏi nhứt trong làng
Mấy thằng trạc tuổi hổng bằng tui đâu.
Em mà ưng chịu làm dâu,
Tía má sẽ sắm mâm trầu hỏi ngay
Cưới vợ thi cưới liền tay
Chớ để lâu ngày thiên hạ dèm pha
Ra giêng sẽ thưa má ba,
Đến gặp thấy Sáu, coi ra tốt ngày.
Tía má tui tính lâu nay,
Tui là con út,“phần mầy hưởng chung”.
Ruộng vườn còn sáu chục công,
Em dìa hai đứa mình cùng chung lo.
Tía má … theo ông theo bà,
Căn nhà thừa tự, cũng là của tui.
Đây đã kể rõ đầu đuôi,
Đó làm chồng vợ, để rồi . . đẻ con.
Chỉ chừng khoản một chục trơn,
Có nếp có tẻ, thì còn gì vui
Em ơi, sao hổng trả lời
Thò lỏ con mắt, nhìn tui mà cười
Hoài Việt

(1)- Thị thiền là thị thành, (2)thời xưa, các cô thưòng dùng dầu dừa chải tóc cho óng mưọt. Ước gì, tui trẻ lại như khoảng 1960, và được một lần ngửi mùi dầu dừa trên mái tóc của một cô thôn nữ Sóc Trăng quê mình.

PS: Vì đây là tài liệu trích ra từ bài biên khảo khác, chúng tôi đã không ghi phần tài liệu tham khảo, cùng những chú thích khác. Chúng tôi sẽ cố gắng cho ra mắt baì biên khảo về “Miền Nam.”

L’image contient peut-être : nourriture
L’image contient peut-être : 1 personne, sourit, plein air
L’image contient peut-être : 1 personne, sourit
L’image contient peut-être : plante, arbre, fleur, nature et plein air
L’image contient peut-être : 3 personnes, personnes souriantes, personnes debout, plante, arbre, ciel, plein air et nature
+9

 

Những Cây Cầu Đẹp và đầy nghệ thuật tại VN



Những Cây Cầu Đẹp và đầy nghệ thuật tại VN

 

 

***

Được xây dựng đã lâu nhưng các cây cầu độc đáo ở Huế, Hội An, Nam Định… vẫn giữ được nét đẹp kiến trúc thuở ban đầu.

 

chùa cấu 1

Chùa Cầu được chọn là biểu tượng của thành phố Hội An, xuất hiện trên tờ 20.000 đồng. Đây là công trình do các thương gia Nhật Bản đến buôn bán tại Việt Nam xây dựng vào thế kỷ 17.

 

Cầu dài khoảng 18 m, vắt qua rạch nước chảy ra sông Thu Bồn.

 

 

 chùa cầu 2

Hai đầu cầu có tượng thú bằng gỗ đứng chầu, một đầu là tượng chó, một đầu là tượng khỉ. Ở gian chính giữa có tượng Bắc Đế Trấn Vũ – thần chuyên trấn trị lũ lụt.

 

 

càu 5 gian 3.jpg

 

Ở làng Bình Vọng (xã Văn Bình, Thường Tín, Hà Nội) có cây cầu 5 gian lợp ngói bắc qua ao đình.

 

cầu 5 gian 4

 

 

Trên cầu, hai bên là dãy bục gỗ để cho khách bộ hành nghỉ chân.

 

 

cầu ngói 5

 

Cầu ngói ở xã Hải Anh (Hải Hậu, Nam Định) được xây dựng vào thế kỷ 16.

 

 

cầu ngói 6

 

Cầu có 9 gian uốn cong được dựng trên 18 cột trụ đá vững chắc, có phần hành lang hai bên để cho khách bộ hành nghỉ chân.

 

chùa thầy 7.jpg

 

Ở khu vực chùa Thầy (Hà Nội) có hai cây cầu ngói do Phùng Khắc Khoan xây vào năm 1602.

 

 

cầu nhật tiên 8.jpg

 

Cầu Nhật Tiên dẫn vào đảo giữa hồ, trên có đền Tam Phủ.

 

 

cầu nguyệt tiên 9.jpg

 

Cầu Nguyệt Tiên nối với con đường lên núi.

 

 

 

 cầu nguyệt tiên 10.jpg

Cùng với nhà thờ Đá, cầu ngói Phát Diệm cũng là công trình kiến trúc dân gian đặc sắc ở vùng Kim Sơn (Ninh Bình).

 

cầu ngói phát diệm 12.jpg

 

Cầu dài 36 m, rộng 3 m với 3 nhịp, mỗi nhịp có 4 gian.

 

 

cầu ngói thanh toàn 13.jpg

 

Cầu ngói Thanh Toàn (thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên – Huế) cách trung tâm thành phố Huế khoảng 7-8 km. Thân cầu được làm bằng gỗ, phía trên lợp mái ngói ống tráng men.

 

 

 cầu ngói thanh toàn 14.jpg

Cầu dài khoảng 17 m, rộng 4 m và được chia làm 7 gian với gian giữa là nơi thờ bà Trần Thị Đạo, người góp tiền xây cầu cho dân làng tiện đường qua lại vào thế kỷ 18.

 

 

Lê Bích – KTS Nguyễn Phú Đức

Những tiếng rao không chỉ chứa đựng giai điệu ngọt ngào, trong nó còn có cả hương thơm, mùi vị, màu sắc, có tính kích thích tất cả các giác quan của chúng ta.


Những tiếng rao không chỉ chứa đựng giai điệu ngọt ngào, trong nó còn có cả hương thơm, mùi vị, màu sắc, có tính kích thích tất cả các giác quan của chúng ta.

Những tiếng rao không chỉ chứa đựng giai điệu ngọt ngào, trong nó còn có cả hương thơm, mùi vị, màu sắc,
có tính kích thích tất cả các giác quan của chúng ta.

 
Tiếng rao của những người bán hàng rong khiến cho phố phường tại các đô thị của Việt Nam trở nên rất sinh động. Điều này khiến cho những người nước ngoài cảm thấy thú vị. Tuy vậy, rào cản ngôn ngữ thường khiến cho họ không hiểu gì cả.
Để “giải mã” những âm thanh đặc biệt kể trên, vào năm 1929, tác giả Pháp F. Fénis đã xuất bản một cuốn sách mỏng có tiêu đề “Hàng rong và tiếng rao trên đường phố Hà Nội” (Les marchands ambulants et les cris de la rue à Hanoi). Cuốn sách gồm 40 trang đã mô tả khá đầy đủ về các loại hình hàng rong và tiếng rao tương ứng ở Hà Nội thông qua hình ảnh và khuôn nhạc minh hoạ.
Những hình vẽ minh hoạ trong ấn bản này do các học viên Trường Mỹ thuật Đông Dương, trong đó có Tô Ngọc Vân – người sau này trở thành hoạ sĩ nổi tiếng của Việt Nam – thực hiện.

Dưới đây là bản scan của một cuốn “Hàng rong và tiếng rao trên đường phố Hà Nội” đang được lưu giữ tại một thư viện của Viện Viễn đông Bác cổ Pháp tại Paris.

Bìa cuốn “Les marchands ambulants et les cris de la rue à Hanoi”.
Lời nói đầu của tác giả F. Fénis.
Phần lớn các tiếng rao ở Hà Nội là dành cho các loại bánh làm từ gạo. Bên cạnh đó cũng có các món ăn dạng sợi như bún, phở, các loại hoa quả, đồ uống v..v. Cũng có một số tiếng rao không liên quan đến việc ăn uống như tiếng rao của các hàng thu mua chậu, bát sứ vỡ, giẻ rách sắt vụn…
 “Ai dâu chín của nhà ra mua”.
 “Bánh giò bánh dày”.
 “Se cấu se cấu” (kem vani).
 “Ai bánh chưng bánh cốm ra mua”.
Gánh hàng tào phớ.
 Gánh hàng tào phớ.
 “Chum chậu bát sứ vỡ hàn không”.
 “Ai giẻ rách sắt vụn bán không nào”.
 Những người bán hàng rong tụ tập ở khu vực bờ hồ Hoàn Kiếm.
“Ai bánh Tây ra mua”.
“Nước vối nóng ăn thuốc không”.
 “Ai mua ngô rang hạt dẻ ra mua”.
 “Ai bánh cuốn ra mua”.
 “Ai cháo đậu xanh ra mua”. ‘Ai cháo đậu xanh chè đậu đen ra mua”.
 “Le bánh cuốn”.
“Ai mua bánh vừng không”.
 “Bánh giò bánh giày”.
 Chè hạt sen.
“Ai mía ra mua”
 Ai bánh Tây ra mua.
“Ai có chai cốc vỡ bán không”.
“Ai kẹo vừng kẹo lạc kẹo bột trạm ô mai ra mua”.
Lời giới thiệu về các món ăn ở trên.
“Ai lạc rang ra mua”.
“Ai nem sốt mua”. “Ai nem mua đi”.
 “Trung Bắc, Thực Nghiệp, Khai Hoá” (tên của 3 tờ báo thời thuộc địa).
 
(Tổng hợp từ BELLE INDOCHINE).

Hình ảnh xưa : Phụ nữ Bắc Việt đầu thế kỷ 20


Hình ảnh xưa :
Phụ nữ Bắc Việt đầu thế kỷ 20

Hình ảnh về người phụ nữ Việt Nam xưa từ đầu thế kỷ 20 do người Pháp ghi lại cho thấy đầy đủ về diện mạo, trang phục, đời sống… của những người chị, người mẹ, người bà của chúng ta nhiều năm về trước.

Hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt với trang phục áo tứ thân đeo yếm,
nón quai thao, tóc vấn quanh đầu, đi chân đất, nhuộm răng đen…

Phụ nữ Bắc Kỳ, Hà Nội. Ảnh delcampe.

Phụ nữ Bắc Kỳ hút thuốc bát bên cạnh người hầu phục vụ thuốc trong nhà.

Hai mẹ con phụ nữ Bắc Kỳ những năm 1919 – 1926.

Vợ con một viên thông ngôn thời kỳ 1919 – 1926.

Một phụ nữ Bắc Kỳ thời kỳ 1919 – 1926.

Cô gái Hà Nội thời kỳ 1919 – 1926.

Một thôn nữ thời kỳ 1919 – 1926.

Cô gái thôn quê thời kỳ 1919 – 1926.[/TD]

Phụ nữ Bắc Kỳ thời kỳ 1919 – 1926.

[/TD]

Một cô gái Bắc Kỳ thời kỳ 1919 – 1926.[/TD]

Cô gái Bắc Kỳ và chiếc bếp của người An Nam
(người Pháp gọi người Việt Nam là An Nam mít).

Một phụ nữ Bắc Kỳ cho con bú thời kỳ 1919 – 1926.

Một phụ nữ Bắc Kỳ trong gia đình giàu có, thời kỳ 1919 – 1926.

Phụ nữ Bắc Kỳ thời kỳ 1919 – 1926.

Cô gái Bắc Kỳ với áo tứ thân, nón quai thao, guốc rễ tre, đầu vấn thả đuôi gà.

Cô gái Bắc Kỳ thời kỳ 1919 – 1926.

Cô gái Bắc Kỳ thời kỳ 1919 – 1926.

Phụ nữ nông thôn Hà Nội thời kỳ 1919 – 1926.

Một phụ nữ Bắc Kỳ ăn trầu thời kỳ 1931 – 1935.

Trong một đám cưới của người theo đạo Công giáo những năm 1921- 1935.

Một phụ nữ thôn quê những năm 1921- 1935.

Nhau trầu.

Chị em ăn trầu. Ảnh chụp những năm 1921 – 1935.

[/TD]

Chị em ăn trầu. Ảnh chụp những năm 1921 – 1935.

Chị em ăn trầu. Ảnh chụp những năm 1921 – 1935.

Một phụ nữ nông thôn gánh đồ cúng dường về từ một buổi lễ.

Một cô gái Bắc Kỳ têm trầu và ăn trầu. Ảnh chụp những năm 1921 – 1935.

Cô gái Bắc Kỳ ăn trầu cho đỏ môi. Ảnh chụp những năm 1921 – 1935.

Một phụ nữ quý tộc ở Bắc Kỳ. Ảnh chụp những năm 1930 – 1954.

Thiếu nữ ngoại thành Hà Nội vo gạo (1926).

Một phụ nữ nhà giàu.
Những phụ nữ người Sài Gòn (Nam Kỳ) chơi đánh bài.

Một phụ nữ Bắc Kỳ nhuộm răng đen bằng các loại vỏ và côn trùng
cũng như ăn trầu thường xuyên (1915).

Bán trầu vỏ.

Nguồn: _http://namrom64.blogspot.com/

Chuyện tình người nổi tiếng: Giáo sư Hoàng Xuân Hãn và vần thơ se duyên


hoang xuan han.jpg

Hoàng xuân Hãn & Nguyễn thị Bính

06:23 AM – 15/11/2016 Thanh Niên
Những công trình nghiên cứu của ông như Danh từ khoa học, La Sơn phu tử, Chinh phụ ngâm bị khảo, Lý Thường Kiệt... đã để lại những dấu ấn lớn trong lãnh vực văn hóa, lịch sử, giáo dục, khoa học. Ông đã được nhà nước trao tặng nhiều huân chương, danh hiệu cao quý.
Vì thương son phấn dễ tàn phai
Ngày trước, nhiều người thành vợ chồng, không vì quen biết mà do cho mẹ hai bên đã… hứa hẹn trước. Ông bà cụ Hoàng Xuân Úc và Lê Thị Ấu ở làng Yên Hồ, H.La Sơn (Hà Tĩnh) đã hứa gả con trai là Hoàng Xuân Hãn cho một gia đình ở H.Hương Sơn. Mọi việc chưa chuẩn bị xong thì cậu con trai – thủ khoa Quốc học Vinh, thủ khoa kỳ thi Thành Chung toàn Trung bộ được nhận học bổng du học ở Pháp.
Trước ngày lên đường, năm 1928, cậu được cha mẹ dẫn sang nhìn mặt cô gái đã được hứa hôn. Đó là con gái một nhà khoa bảng. Cuộc gặp gỡ ấy, không rõ có để lại ấn tượng gì sâu đậm không, nhưng sau khi sang Pháp vì cuốn hút vào công việc học tập nên cậu viết thư gửi về song thân trình bày suy nghĩ chân thành của mình. Sau này ở tuổi ngoài 80, cụ Hoàng Xuân Hãn đã kể lại rằng trong thư có đoạn viết: “Con gái thì có lứa, con còn lâu mới về được, nếu có nơi xứng đôi vừa lứa thì gia đình cứ để cho V. gây dựng gia thất, con không có gì dám oán trách”.
Mọi việc đã diễn ra theo ý nguyện của cậu.
Sau này bà V. trở thành vợ của một bác sĩ. Năm 1930, lúc bà V. đám cưới, Hoàng Xuân Hãn có tặng bài thơ Đường luật có câu “Sắt cầm duyên mới mừng tươi thắm/Gang tấc lòng xưa luống lữ hoài/Chớ trách vàng thau hay kẹn kẻ/Vì thương son phấn dễ tàn phai”. Dù không lấy được nhau theo sắp xếp của cha mẹ, nhưng họ vẫn giữ được cái tình, thật đáng quý.
Họa người bên nguyệt biết tình chăng ?
Sang Pháp, Hoàng Xuân Hãn học toán cao cấp ở Lycée Saint Louis, sau đó thi đậu vào Trường cao đẳng Sư phạm và bắt đầu chú tâm biên soạn Danh từ khoa học – cuốn sách nổi tiếng đặt nền móng đầu tiên về xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt. Sau đó, ông còn thi đậu lấy bằng bách khoa, kỹ sư cầu cống, thạc sĩ toán.
Năm 1935, ông đáp tàu về thăm cố hương. Những ngày lênh đênh sông nước, tình cờ ông làm quen với cô Nguyễn Thị Bính – một tiểu thư mảnh mai, xinh đẹp người Hà Nội nhà ở phố Gia Long (nay là phố Bà Triệu). Bấy giờ, cô Bính cũng đã lấy bằng tốt nghiệp Trường cao đẳng Y Dược Paris.
Mối tình nảy nở giữa biển khơi này đã được kể lại trong Tổng tập La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (NXB Giáo dục, 1988): Khi tàu ngang qua Ấn Độ Dương, gặp lúc trăng rằm, cô Bính đề nghị người bạn trai thử làm bài thơ Vịnh nguyệt. Được lời như cởi tấm lòng, Hoàng Xuân Hãn nửa đùa nửa thật xuất khẩu: “Có người bảo tớ vịnh thơ trăng/Tớ cũng toan ngâm ngợi chị Hằng/Ngán nỗi người xinh, trăng thẹn mặt/Ngây lòng tớ gặm bút mòn răng/Trông trăng chỉ thấy ai cười nụ/Gác bút vì e tớ nghĩ xằng/Vịnh nguyệt vì người thôi cũng vịnh/Họa người bên nguyệt biết tình chăng?”.
Nghe xong bài thơ, cô Bính đỏ mặt e thẹn vì thấy được “tình ý” mà người bạn trai đã gửi gắm. Ngay sau đó, Hoàng Xuân Hãn còn tặng cô Bính thêm bài hát nói: “Trăng với biển nửa mờ nửa xám/Mây trên trời mấy đám phất phơ/Mảnh trăng khi tỏ lại khi mờ/Khách trên biển còn ngờ nơi Nhược Thủy/Cám cảnh thân đơn thằng Cuội quỷ/Gẫm thương tình muộn chị Hằng Nga/Những tưởng rằng trăng lạ với trăng xa/Ai ngờ cũng trăng nhà cười mủm mỉm/Chốn lữ quán đa tình nên bịn rịn/Hỏi trăng già soi đến tận tâm can?/Sóng đưa trăng giạt theo làn”.
Lâu nay, cô Bính nghe tiếng Hoàng Xuân Hãn luôn đậu thủ khoa trong các kỳ thi, học hành xuất sắc hơn người, không ngờ chàng cũng giỏi thơ và tài hoa đến thế. Những bài thơ này đã tạo trong tâm trí cô Bính một cảm tình đặc biệt. Những ngày gặp lại nhau tại Hà Nội, tình cảm giữa họ ngày một gắn bó hơn. Năm 1936 họ kết hôn. Đám cưới xong, nhờ bạn bè cho vay vốn, họ mở hiệu bào chế thuốc tây ở phố Tràng Thi (Hà Nội). Từ đây, mọi người quen gọi cô Bính là “Madame Hoàng Xuân Hãn”. Thời gian này, Hoàng Xuân Hãn dạy Trung học đệ nhị cấp ở Trường Bưởi (tức Trường Chu Văn An) và tham gia Hội Truyền bá quốc ngữ.
Điều may mắn, nhà bác học của chúng ta đã chọn được người vợ hoàn toàn chia sẻ, ủng hộ việc làm của chồng. Để thực hiện những chuyến đi thực địa, khai quật di tích văn hóa cổ nhằm hoàn thành các bộ sách nghiên cứu rất có giá trị, Hoàng Xuân Hãn đã dồn vào đó bao nhiêu tiền của, bà Bính cũng không tiếc. Bên cạnh đó, bà còn đồng tình với chồng về quan điểm chính trị. Khi luật sư Vũ Đình Hòe làm chủ nhiệm Báo Thanh Nghị, được sự khuyến khích của chồng, bà Bính nhận lời cộng tác.
Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (1946), gia đình vợ chồng Hoàng Xuân Hãn là địa điểm liên lạc của người yêu nước. Từ năm 1951, họ sang Paris, định cư tại Pháp. Tuy vậy, tấm lòng của họ luôn hướng về quê nhà. Dù hai người không có con, nhưng bà Bính vẫn tự hào: “Đối với nhà tôi, con tức là sách”. Mối tình đẹp “thiết thạch” từ vần thơ se duyên từ “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” đã gắn kết họ thủy chung đến trọn đời.

Lê Minh Quốc

http://thanhnien.vn/van-hoa/chuyen-tinh-nguoi-noi-tieng-giao-su-hoang-xuan-han-va-van-tho-se-duyen-765199.html

Bộ ảnh hiếm quý về NGƯỜI VIỆT NAM 100 NĂM TRƯỚC


x

 


Bộ ảnh hiếm quý v
NGƯỜI VIỆT NAM 100 NĂM TRƯỚC

Máy ảnh ra đời từ năm 1826 tại Pháp, vì vậy các thuộc địa ở Đông Dương, gồm cả Việt nam, đã có ảnh chụp từ rất sớm và có mặt trong những thước phim đầu tiên. Dưới đây là chùm ảnh hiếm về con người Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ 19.


Nữ nghệ sĩ đàn tranh Sài Gòn sang Pháp biểu diễn ở Hội chợ thuộc địa Marseille năm 1906.


Vua Duy Tân đăng quang lúc 7 tuổi năm 1907.


Nghệ sĩ hát bộ ở Nam kỳ năm 1890.

Nơi giúp bạn khám phá những điều bí ẩn của cuộc sống và nuôi dưỡng tâm hồn. Xem bài viết hay về Tâm linh, đọc và suy ngẫm …


Nhà bác học Jean-Baptiste Pétrus Trương Vĩnh Ký và một lớp học của ông vào khoảng năm 1865.

Đoàn sứ bộ An Nam sang Pháp xin chuộc đất (3 tỉnh miền Đông bị Pháp chiếm) năm 1863, Chánh sứ Phan Thanh Giản ngồi giữa, ảnh này bị thiếu một người quan trọng: Thông ngôn Trương Vĩnh Ký. 
(Ảnh: Emile Gsell)

Săn cọp ở Nam kỳ đầu TK 20.
 

Chuyện lạ có thật mới nhất, chuyen la viet nam, những chuyen kho tin nhưng có thật, chuyen la the gioi, chuyen la do day….




Những người phụ nữ đang đánh bài ở Sài Gòn đầu thế kỷ 20.

Những em bé Saigon đầu thế kỷ 20.

Nam kỳ, Chợ Lớn – người Hoa đang nhổ lông vịt, khoảng năm 1920.


Nam kỳ, người Việt bản địa chăm sóc cá sấu (trong vườn thú công viên) ở Mỹ Tho, năm 1912.


Nha Trang – Khánh Hòa năm 1926, những người phụ nữ đang phụ đúc bê tông.


Một trong những tấm ảnh màu đầu tiên năm 1913
Quan Tổng đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu và gia đình.

Tổng đốc Hà Đông – Hoàng Trọng Phu.


Nghệ sĩ Năm Phỉ hồi thơ ấu (1916) và thời hoàng kim (1936).


Hiệp biện đại học sĩ – Quan Khâm sai – Chánh sứ Phan Thanh Giản 1863. 

Hình chụp tại Paris nhân dịp ông dẫn đầu sứ bộ sang Pháp để xin chuộc đất. Ông quê ở làng Bảo Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Đậu cử nhân năm 1825, năm sau đậu tiến sĩ, ông là người đạt học vị cao nhất đầu tiên ở Nam Kỳ. Tính tình cương trực và thanh liêm, Phan Thanh Giản làm quan nhà Nguyễn trải qua ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và cũng từng bị giáng chức rồi lên chức nhiều phen”… Cho tới những ngày đầu năm 2008, Viện Sử học Việt Nam mới thống nhất kết luận rằng “Phan Thanh Giản là người nổi tiếng về đạo đức, có nhiều đóng góp trong lịch sử dân tộc; nên đề nghị tôn vinh ông, cho khôi phục, tôn tạo những di tích và những gì gắn liền với ông”; và đã được giới chức chấp thuận…

Vua Quang Trung – Nguyễn Huệ và Vua Gia Long – Nguyễn Ánh, 2 đối thủ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ 18.
Đây là 2 chân dung đã được đánh giá là chân thực nhất về hai ông được tái hiện từ những tranh vẽ xưa, tiền xưa do Pháp và nhà Thanh vẽ.


Tứ đại mỹ nhân Hà thành năm 1930, từ trái qua, trên xuống:
cô Phượng Hàng Ngang, cô Síu Cột Cờ, cô Nga Hàng Gai và cô Bính Hàng Đẫy.


Vua Thành Thái năm 1900, 21 tuổi – vị vua thứ 10 của triều Nguyễn.


Đôi vợ chồng người Bắc (Tonkin) khoảng năm 1890. Áo tơi bằng lá mà cô gái mặc
cho đến nay vẫn còn được sử dụng và có một làng ở Hà Tĩnh chuyên sản xuất nó.


Cụ Đề Thám và các con năm 1890 (có nơi ghi là cháu).


Một cụ ông người Bắc (Tonkin) làm nghề thợ săn – năm 1890.

NGỌC LỆ :Đôi nét về đình làng ở Tiền Giang


Thứ Tư, 07/09/2016, 15:40 (GMT+7)

Theo nhiều tư liệu, đình làng là nơi thờ Thành hoàng, các vị thần thiên nhiên, người có công với làng; nơi hội họp dân; nơi nghỉ chân của người lỡ đường…

Có lẽ đình làng có từ thời Lê sơ và định hình vào thời nhà Mạc. Trước đây, đình có 3 gian chính: Gian giữa không có sạp, gian trong thờ Thành hoàng và 2 chái. Cuối thế kỷ XVII, từ gian giữa kéo dài về sau gọi là “chuôi vồ”, tạo cho đình mang kiểu chữ đinh. Đến cuối thế kỷ XVIII, đình làng được bổ sung tòa tiền tế, xây dựng dựa trên nguyên tắc của thuật phong thủy, các yếu tố nghiêng về trang trí và chạm khắc.

Anh Lê Tấn Thông đang lo hương khói cho đình Tân Đông, chỉ tay giới thiệu nét đẹp của 2 bộ rễ bồ đề ôm lấy 5 vòm cửa.
Anh Lê Tấn Thông đang lo hương khói cho đình Tân Đông, chỉ tay giới thiệu nét đẹp của 2 bộ rễ bồ đề ôm lấy 5 vòm cửa.

Có thể định nghĩa: Đình làng là một thiết chế văn hóa – tín ngưỡng tổng hợp, có 3 chức năng: Tín ngưỡng, hành chính, văn hóa đan xen, hòa quyện với nhau, khó có thể phân biệt chức năng nào có trước.

NÉT ĐẸP VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ VĂN HÓA

Đình làng ở Tiền Giang cũng có chung bản sắc văn hóa, tín ngưỡng của vùng Nam bộ. Đình Điều Hòa ở phường 2, TP. Mỹ Tho là 1 trong 4 ngôi đình được cấp Bằng Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia. Ngoài giá trị về kiến trúc trên 200 năm, đình Điều Hòa còn là nơi tín ngưỡng của người dân, mỗi năm có 2 lệ cúng vào ngày 16, 17 và 18 của tháng 2 và tháng 10 âm lịch (ÂL).

Mỗi lệ cúng có hàng ngàn người dân đến cầu an, dâng lễ vật và xem hát bội. Hiện đình Điều Hòa vẫn còn giữ nguyên những hoạt động văn hóa này. Ngoài 2 lệ cúng trên, đêm giao thừa, người dân chen chân đến đình Điều Hòa cầu an, xin lộc và nơi đây cũng là điểm đến của những nhà nghiên cứu, khách du lịch.

Mùa lễ hội cúng đình, chúng tôi theo chân nhóm hát bội Bầu Lân đến xem hát ở đình Phú Kiết (huyện Chợ Gạo), chứng kiến cảnh náo nức, nhộn nhịp của hội hè truyền thống. Từ xa đã nghe tiếng trống chầu rộn rã, người già mặc áo dài, khăn đóng nghiêm trang; lớp trẻ chỉnh tề áo mới đủ sắc màu nhưng kín đáo; trẻ con được theo người lớn quỳ lạy và được ngồi vào bàn ăn uống.

Nơi vỏ ca (sân khấu nhỏ của đình), lúc suất hát diễn ra, người người chen nhau ngồi, lớp trước, lớp sau; người lớn tay quạt, tay nách con bên cạnh; trẻ con há hốc cả miệng với những lớp tuồng hát bội trang phục lộng lẫy, vũ đạo tinh thông, múa kiếm, vung đao chớp nhoáng và những tràng vỗ tay cho những pha đi gối của cô đào Hương Thanh Thảo (con gái Bầu Lân). Ngoài những hoạt động trên, còn có một nghi lễ không thể thiếu của Ban Hương đình là lễ tế thần, dâng trà, dâng hoa quả, hương, đăng…

GIỮ GÌN VÀ TÔN TẠO

Hiện nay, rất nhiều ngôi đình cổ xuống cấp do thời gian hoặc chậm trùng tu, điển hình là đình cổ Thân Nhơn (xã Thân Cửu Nghĩa, huyện Châu Thành), đình cổ Tân Đông (xã Tân Đông, huyện Gò Công Đông)…

Có lần theo diễn giả Hồ Nhựt Quang (môn sinh của cố GS-TS Trần Văn Khê) làm phóng sự truyền hình về đình cổ Thân Nhơn, thấy đình bị xuống cấp trầm trọng, mặc dù người dân nơi đây luôn góp sức tu sửa nhưng họ không đủ sức. Tính từ ngày vua Tự Đức ban 2 sắc thần cho đình đến nay đã hơn 160 năm (ngày 29-11-1852), nên toàn ngôi đình chỗ mối mọt tung hoành, chỗ mục nát, ngói tuột xuống…

Ông Ngô Văn Cậy, Phó Ban Khánh tiết đình bức xúc: “Ước mong đại tu lại đình, nhưng không có kinh phí, mong Nhà nước và bà con chung tay sửa sang để lưu giữ ngôi đình…”.

Đình cổ Thanh Hòa (đình Bang Lãnh, phường 5, TX. Cai Lậy) ), khu chánh điện đã được phục xây.
Đình cổ Thanh Hòa (đình Bang Lãnh, phường 5, TX. Cai Lậy) ), khu chánh điện đã được phục xây.

Ở khu phố 5, phường 5, TX, Cai Lậy, ngôi đình cổ Thanh Hòa (người dân quen gọi đình Bang Lãnh) khu chính điện đã được phục xây. Anh Nguyễn Văn Bé Sáu thừa kế nhang khói đình của mẹ mình là bà Nguyễn Thị Sáu (đã mất), cho biết, khởi công từ tháng 12 ÂL năm 2015, chính điện đã hoàn thành.

Việc phục chế lại các hoành, liễn, tranh, chữ, trang trí nội thất do chị Lê Huân góp công sơn vẽ. Ban Khánh tiết đôn đốc, theo sát nhân công để kịp cúng lệ đình. Ngày 17-6 ÂL là ngày cúng lệ đình, cũng là ngày khánh thành công trình phục xây chính điện (còn kỳ cúng cuối vào ngày 17-11 ÂL).

Trong niềm hân hoan đó, ông Huỳnh Văn Hiệp, nguyên Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL, Trưởng Ban vận động sửa chữa đình chia sẻ: “Kinh phí phục xây chính điện khoảng 600 triệu đồng. Bà con góp thêm tiền và hiện vật (sắt, xi măng, gạch…) để sửa lại nhà khách, nhà bếp bị đổ nát.

Tôi mong bà con tiếp tục đóng góp để phục xây hoàn chỉnh đình (đang xây hàng rào) để kịp làm lễ đón nhận Bằng Di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh. Theo bài vị, đình Bang Lãnh thờ ông Huỳnh Tấn Chiêu, có công xây cất đình khoảng năm 1811, cùng thời ông thành lập chợ Cai Lậy”.

Cũng trong cảnh “già nua”, đình Tân Đông (ấp Gò Táo, xã Tân Đông, huyện Gò Công Đông) đang “hấp hối”. Ngôi đình này đã được cấp Bằng Di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh và Sở VH-TT&DL đã hoàn thành bản vẽ để đại trùng tu.

Anh Lê Tấn Thông, 49 tuổi, cho biết: “Ba tôi là ông Lê Văn Rớt từng làm ông từ của đình, đã mất hơn 5 năm nay. Tôi thay cha hương khói cho đình. Nhiều lần cán bộ tỉnh xuống khảo sát, nhưng mãi tới nay chưa thấy động tịnh gì trong khi ngôi đình sụp đổ gần hết”.

Sức “quyến rũ” của đình Tân Đông là 5 vòm cửa cổ kính, được rễ 2 cây bồ đề quấn lấy tạo thành một bức phù điêu sống động, như cố níu giữ nét vàng son, cổ kính của ngôi đình. Trên vòm cửa còn đề năm 1907, theo những người cao niên thì đó là năm đại tu lại đình, còn đình có từ lâu lắm.

Hiện 4 phía vách của 3 gian chính điện đa phần được rễ của những cây bồ đề ôm lại, phần lớn đã sụp đổ vách và mái ngói trống trơn; mái đình được che bằng mấy tấm nhựa, gió thổi phập phồng không biết bay đi lúc nào…

Ấy vậy mà mỗi lệ cúng đình (đình Tân Đông mỗi năm 4 kỳ cúng vào các ngày 16, 17, 18 của các tháng 2, 5, 8 và tháng 11 ÂL), người dân vẫn góp tiền, góp lễ vật cúng đình. Trong lời cầu nguyện của họ có cả lời cầu mong cho đình mau được sửa chữa để chỗ cúng thần được đàng hoàng hơn.

Chúng tôi mang những thắc mắc của người dân đến Sở VH-TT&DL, được ông Trần Thanh Phúc, Phó Giám đốc Sở diễn giải:

“Chúng tôi đã khảo sát, lên bản vẽ đại tu lại đình khoảng 10 tỷ đồng, nhưng do tình hình ngân sách khó khăn nên chúng tôi lên kế hoạch sửa chữa chính điện trước (khoảng 2 tỷ đồng) mà vẫn chưa có kinh phí. Năm nào Ban Giám đốc Sở VH-TT&DL cũng nhắc Sở Kế hoạch và Đầu tư, nhưng đều nhận câu trả lời “chờ kinh phí”.

Một số cán bộ người Gò Công làm ăn xa cũng có nhã ý sẽ vận động đóng góp sửa đình nhưng đến nay chưa có hồi âm. Chúng tôi rất xót xa khi thấy đình xuống cấp trầm trọng, bởi nét kiến trúc cổ kính, độc đáo của đình đã được tỉnh cấp Bằng công nhận Di tích lịch sử – văn hóa…”.

Những bậc cao niên ngày đêm trăn trở, mong ngôi đình làng của mình được kiên cố, an toàn, với sự trang nghiêm vốn có, để được khói hương thờ phượng, tỏ lòng tôn kính bậc tiền nhân đã khai hoang mở cõi, góp phần giáo dục thế hệ hôm nay biết nhớ nguồn, thương cội.

NGỌC LỆ

http://baoapbac.vn/van-hoa-nghe-thuat/201609/doi-net-ve-dinh-lang-o-tien-giang-697728/