Category Archives: CULTURE OF VIETNAM

HOÀI NHÂN: Chị ve chai Sài Gòn tặng lại gạo cho quán cơm từ thiện: Sự thật sau tấm ảnh


Chị ve chai Sài Gòn tặng lại gạo cho quán cơm từ thiện: Sự thật sau tấm ảnh

28 Thanh Niên Online
Một bức ảnh chụp cách đây 4 năm đã ghi lại hành động người phụ nữ bán ve chai mang gạo và chai dầu ăn đến tặng cho quán cơm từ thiện. Bức ảnh bỗng được chia sẻ trở lại trong những ngày cuối năm.

Bức ảnh người phụ nữ khắc khổ tặng gạo, dầu ăn cho một quán cơm chay từ thiện, được chia sẻ trên mạng xã hội những ngày qua

TRẦN PHƯỚC HÒA
Những ngày qua, một bức ảnh kèm bài chú thích được đăng tải cách đây khá lâu, bỗng được chia sẻ trở lại trên mạng xã hội. Bài đăng có nội dung:
MÓN QUÀ CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ BÁN VE CHAI


Chủ nhân bức ảnh chú thích: “Bức ảnh này chụp vào trưa ngày 13.01.2014 tại quán cơm chay Thiên Phước 5.000 đồng, địa chỉ 62 Nguyễn Chí Thanh, P.16, Q.11 (TP.HCM). Một người đàn bà bán ve chai bước vào quán với bao gạo và chai dầu ăn. Chị mang ơn quán cơm này vì đã cứu chị rất nhiều bữa đói. Chị nghèo khó nhưng không quên ơn, gom góp từng đồng, cuối năm, chị dành mua 1 bao gạo và 1 chai dầu tặng lại quán để có thể giúp thêm những người khốn khó khác”.

Có lẽ đó là một trong những bức ảnh đẹp nhất về chân dung con người, trong hoàn cảnh đảo điên nhuộm nhoạm của xã hội ngày nay. Tôi cứ ngắm mãi khuôn mặt chị, đó là một người đàn bà chắc chắn đã trải qua rất nhiều khó khăn, đói khát. Một khuôn mặt điển hình của những người lao động vất vả ngoài đường.
Vậy mà trong khoảnh khắc ấy, chị thật đẹp. Vẻ đẹp tỏa ra từ bên trong, từ hành động cao cả, nghĩ đến người khác, những người khó khăn hơn mình, nên dù nghèo, chị vẫn gom nhặt từng đồng tiền lẻ để mua bằng được một bao gạo con con, một chai dầu ăn mang đến quán.
[…]
Chị ve chai Sài Gòn tặng lại gạo cho quán cơm từ thiện: Sự thật sau tấm ảnh - ảnh 2

Quán cơm chay Thiên Phước của anh Trần Phước Hòa, nơi bức ảnh được chụp

TRẦN PHƯỚC HÒA
Chị ve chai Sài Gòn tặng lại gạo cho quán cơm từ thiện: Sự thật sau tấm ảnh - ảnh 3

Mở ra từ cuối năm 2013, quán cơm chay 5.000 đồng này đã trở thành “nguồn sống” của biết bao nhiêu người lao động nghèo

TRẦN PHƯỚC HÒA
Bức ảnh được chia sẻ rộng rãi khiến nhiều người xúc động, đồng thời cũng tò mò không biết người phụ nữ vẻ ngoài khắc khổ nhưng hành động lại đáng quý kia là ai? Và sau ngần ấy năm, đã có những điều tốt đẹp gì đến với bà hay chưa?

Liên hệ với chủ nhân bức ảnh, anh Trần Phước Hòa, chủ quán cơm chay Thiên Phước (Q.11, TP.HCM) xác nhận, đây là một bức ảnh chụp anh và một người phụ nữ làm nghề bán ve chai. Hình ảnh được ghi lại tại quán cơm chay Thiên Phước, một trong số những hoạt động từ thiện mà anh Hòa duy trì suốt nhiều năm qua. Mỗi phần cơm đầy ắp tại đây chỉ có giá 5.000 đồng, với tấm biển hiệu khiến người ta ấm lòng: Quán dành cho người lao động có thu nhập chưa cao.

“Bức ảnh đó chụp ở quán cách đây đã 4 năm, không hiểu vì sao giờ đây lại được chia sẻ trở lại. Có lẽ vì tình người dù có qua bao nhiêu thời gian cũng đẹp đẽ như vậy! Cho tới bây giờ bà ấy vẫn còn đi mua ve chai, thỉnh thoảng vẫn ghé đây ăn cơm và đóng góp gạo, thức ăn ủng hộ hoạt động của quán”, anh Hòa cho biết.

Hơn 20 năm rong ruổi khắp Sài Gòn

Tìm gặp người phụ nữ có hành động đẹp trong bức ảnh, vẫn thấy bà rong ruổi khắp các nẻo đường thành phố để thu mua ve chai. Bà là Trần Quế Phương (SN 1955, quê Vĩnh Long), hiện đang được hỗ trợ ở thuê trong căn phòng nhỏ trên tầng thượng một chung cư ở Q.5.
Chị ve chai Sài Gòn tặng lại gạo cho quán cơm từ thiện: Sự thật sau tấm ảnh - ảnh 5

Nhân vật chính trong bức ảnh – bà Trần Quế Phương – vẫn còn làm nghề ve chai

HOÀI NHÂN
Chị ve chai Sài Gòn tặng lại gạo cho quán cơm từ thiện: Sự thật sau tấm ảnh - ảnh 6

Vẫn dáng người khắc khổ ấy, người đàn bà vẫn rong ruổi khắp nơi mưu sinh

HOÀI NHÂN
Chị ve chai Sài Gòn tặng lại gạo cho quán cơm từ thiện: Sự thật sau tấm ảnh - ảnh 7

Bà Phương năm nay đã bước sang tuổi 64

HOÀI NHÂN
Quảng cáo

Năm 23 tuổi, bà Phương lấy chồng, rồi khăn gói lên TP.HCM mưu sinh. Bà chật vật với đủ nghề để kiếm sống, từ rửa chén, giặt đồ, ai kêu gì làm nấy. Rồi bà đi nhặt ve chai. Vốn tính thật thà, buôn bán đâu ra đó, bà được nhiều người quý mến và trở thành “mối”, hễ ai có ve chai là điện thoại kêu bà.

“Ba đứa con đều đã lập gia đình, tụi nó cũng cho tiền này kia nhưng tôi ít khi lấy. Đứa nào cũng cần có cuộc sống riêng, mà chúng cũng đâu có dư dả gì. Thôi mình còn sức thì tự làm tự ăn. Tôi đang ở với chồng và gia đình thằng con trai đầu. Ổng năm nay cũng đã gần 70 tuổi rồi”, bà Phương chia sẻ.
Đều đặn mỗi sáng, bà Phương lại đẩy chiếc xe cũ kỹ của mình đi thu mua ve chai. Hễ xe đầy bà lại về vựa trên đường Lò Siêu (Q.11) rồi đi tiếp. Trưa, bà lại đến một địa điểm từ thiện trên đường Hà Tôn Quyền (Q.11) để ngồi nghỉ ngơi và tập vật lý trị liệu miễn phí cùng những người lao động nghèo khác. Sau đó bà lại tiếp tục làm việc đến tận 7 – 8 giờ tối mới về nhà. Hành trình ấy đã kéo dài suốt 20 năm nay.
Chị ve chai Sài Gòn tặng lại gạo cho quán cơm từ thiện: Sự thật sau tấm ảnh - ảnh 9

Mấy mươi năm chật vật ở Sài thành, bà Phương đã nuôi 3 người con khôn lớn

HOÀI NHÂN
Chị ve chai Sài Gòn tặng lại gạo cho quán cơm từ thiện: Sự thật sau tấm ảnh - ảnh 10

Bà vẫn thường nghẹn giọng khi nhắc về câu chuyện đời gian truân

HOÀI NHÂN
Chị ve chai Sài Gòn tặng lại gạo cho quán cơm từ thiện: Sự thật sau tấm ảnh - ảnh 11

“Con cái đứa nào cũng cần có cuộc sống riêng. Mình còn sức thì tự làm tự ăn”, bà Phương bộc bạch

HOÀI NHÂN
“Bữa chú Hòa mới nhắn, có người muốn giúp tôi một xe bánh mì, để ổn định thu nhập và đỡ vất vả hơn. Tôi cảm ơn rất nhiều, nhưng mà không có nhận. Mấy chục năm rồi, ngày nào cũng đi, giờ kêu ngồi một chỗ bứt rứt không chịu nổi đâu. Đẩy xe đi vầy chứ vận động luôn, khỏe người lắm, ngồi một chỗ là bệnh lên bệnh xuống liền. Vả lại, cũng để suất đó giúp cho người khó khăn, nghèo khổ hơn”, bà Phương bộc bạch.

Bỏ ống heo để làm từ thiện

Từ gánh ve chai ban đầu, bà dành dụm mua được chiếc xe ba gác cũ để đi làm. “Bữa nào nhiều cũng kiếm được trăm mấy, bữa nào ít thì vài chục. Nhưng cỡ nào tôi cũng bỏ ống heo, mỗi ngày không được mười mấy nghìn thì cũng ráng vài ba nghìn, để dành làm từ thiện. Nhìn lên thì thôi, chứ nhìn xuống có nhiều người còn khó khăn hơn cả mình”, bà nói.
Chị ve chai Sài Gòn tặng lại gạo cho quán cơm từ thiện: Sự thật sau tấm ảnh - ảnh 12

Có người ngỏ ý giúp đỡ một xe bán bánh mì để bà bớt vất vả, bà từ chối, để dành cho những người kém may mắn hơn

HOÀI NHÂN
Chị ve chai Sài Gòn tặng lại gạo cho quán cơm từ thiện: Sự thật sau tấm ảnh - ảnh 13

Công việc ve chai thu nhập bấp bênh, nhưng bà vẫn chắt mót từng đồng dư để làm từ thiện

HOÀI NHÂN
Quảng cáo

Mỗi lần “mổ” heo, bà lại gom tiền để làm từ thiện. Đều đặn vào tháng 7 hằng năm, bà vẫn mua 50 kg gạo góp cho một ngôi chùa ở Q.8. Bà cũng thường xuyên gom góp áo quần người ta cho, mua gạo, bánh, dầu ăn… để góp cho các hoạt động hỗ trợ người nghèo.

Bức ảnh chụp năm 2014 ở quán cơm chay Thiên Phước là một lần bà giúp đỡ quán ăn này.
“Hôm đó là trước Tết Nguyên đán, tôi mang đến một bao gạo 10 kg và một chai dầu ăn gửi cho chú Hòa. Nhờ quán cơm 5.000 của chú mà tôi và biết bao nhiêu anh chị em lao động nghèo khác được bữa no. Cho nên dư dả chút đồng nào thì mình giúp lại đồng ấy, để cho người khổ hơn mình chứ! Chết mình cũng có mang gì theo được đâu”, bà chia sẻ.
Anh Hòa cũng cho biết: “Không chỉ có bà Phương đâu, mà nhiều cô chú lao động nghèo khác sau khi ăn cơm ở quán, cũng quay lại giúp đỡ rất nhiều. Có khi là bao gạo, có khi là đường, muối, đồ ăn, có khi lại góp công nấu nướng. Họ có thu nhập không cao, nhưng hành động của họ thì cao cả như thế”.
Chị ve chai Sài Gòn tặng lại gạo cho quán cơm từ thiện: Sự thật sau tấm ảnh - ảnh 15

“Sống nay chết mai. Chết cũng có mang theo được gì đâu. Vậy nên bây giờ mình cứ cho đi”, bà Phương nói

HOÀI NHÂN
Chị ve chai Sài Gòn tặng lại gạo cho quán cơm từ thiện: Sự thật sau tấm ảnh - ảnh 16

Công việc vất vả của bà kéo dài từ sáng sớm đến tối mịt

HOÀI NHÂN
Bà Phương nói, Tết này bà chẳng mong ước gì hơn là có thật nhiều sức khỏe. “Vừa qua tôi bị bệnh phổi một lần, ho khan nhiều ngày liền, thậm chí không thở được. May sao đi khám vẫn chưa nặng lắm, trị một thời gian thì khỏe, nhưng rồi thấy sợ luôn. Đến tuổi này, tôi chỉ mong khỏe mạnh. Có tiền mà bệnh tật thì bao nhiêu cũng hết, cho nên có sức khỏe là có tất cả. Khỏe để mình đi làm, để còn nuôi mình và giúp đỡ người khác”, bà bộc bạch.

M.Anh :CLB Nghiên cứu và Vinh danh Văn hóa Nam bộ tròn 4 tuổi


CLB Nghiên cứu và Vinh danh Văn hóa Nam bộ tròn 4 tuổi

CLB Nghiên cứu và Vinh danh Văn hóa Nam bộ tròn 4 tuổi
(PLO)- Câu lạc bộ (CLB) Nghiên cứu và Vinh danh Văn hóa Nam bộ tròn 4 tuổi.

CLB Nghiên cứu và Vinh danh Văn hóa Nam bộ là CLB văn hóa phát triển về tâm lẫn chất do cố GS.TS Trần Văn Khê tổ chức buổi ra mắt đầu tiên vào ngày 12-9-2014 tại tư gia nằm trên đường Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh (TP.HCM). CLB đến nay tròn 4 tuổi.

Sau ngày thầy Trần Văn Khê mất (6-2015), những thành viên của CLB vẫn đang từng ngày viết tiếp lời căn dặn của thầy.

Các thành viên cùng chung đam mê văn hóa

CLB Nghiên cứu và Vinh danh Văn hóa Nam bộ tròn 4 tuổi - ảnh 1Diễn giả văn hóa Hồ Nhựt Quang giao lưu với nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan – Chủ nhiệm CLB Tiếng Hát Quê Hương, một trong những CLB do cố GS.TS Trần Văn Khê sáng lập.

Diễn giả văn hóa Hồ Nhựt Quang – Chủ nhiệm CLB cho biết, hiện nay CLB có khoảng hơn 30 thành viên chủ lực làm các ngành nghề khác nhau như nghệ sĩ, kỹ sư công nghệ thông tin, nhà hàng, khách sạn… nhưng có cùng điểm chung là đam mê văn hóa nghệ thuật cổ truyền.

“Tôi nhớ mãi lời hứa với thầy trong những giây phút cuối cùng bên giường bệnh là phải cố gắng học tập trau dồi hơn nữa để làm sáng tỏ những giá trị văn hóa, phong tục tập quán, nghệ thuật dân gian cao đẹp của nước nhà. Dù công việc bận rộn nhưng tôi không thấy mệt mỏi khi nghiên cứu và sáng tác. Chúng tôi cố gắng xây dựng cho mình lý tưởng sống, sống phải xứng đáng, sống phải có giá trị”, anh Quang chia sẻ.

CLB thu hút và kết nạp những người yêu văn hóa Nam bộ, có năng khiếu hát,  diễn xuất về âm nhạc, cải lương, đờn ca tài tử… Chị Tú Quyên, sinh viên trường Sân khấu điện ảnh TP.HCM cho biết chị đã tham gia vào CLB hơn 2 năm, được giao cho vai diễn đầu tiên là Thái hậu Dương Vân Nga.

“Thật sự đó là vai diễn ấn tượng rất đẹp, được diễn rất nhiều lần. Sau đó tôi còn được nhận vai bà Lê Thị Lộc là phu nhân Thủ khoa Huân trong tuồng Hào khí Thủ Khoa Huân, vai công chúa Ngọc Du trong Khóc Võ Tánh… Được anh Quang phân tích từng vai diễn, từng ý nghĩa và giá trị lịch sử của mỗi lát cắt thời đại để lựa phục trang, đạo cụ và nói từ ngữ cho đúng, thật sự tôi học được rất nhiều”.

Nghệ sĩ Diệu Thanh (48 tuổi), ái nữ của nghệ sĩ ưu tú Diệu Hiền nói thêm: “Dù không còn hoạt động nghệ thuật nhiều như xưa, giờ tôi tham giam CLB này để thỏa niềm đam mê ca hát, vừa hướng dẫn, dìu dắt cho những thành viên không chuyên. Với tôi, CLB này như gia đình mình, ở đó có các cô chú, các em luôn yêu thương giúp đỡ lẫn nhau không chỉ về chuyên môn nghệ thuật mà còn cùng giúp nhau hiểu sâu về văn hóa Nam bộ”.

Tiếp tục đưa văn hóa cổ truyền vào trường học, doanh nghiệp

CLB Nghiên cứu và Vinh danh Văn hóa Nam bộ tròn 4 tuổi - ảnh 2CLB Nghiên cứu và Vinh danh Văn hóa Nam Bộ cùng học sinh THPT Nguyễn Du biểu diễn trong chương trình ngoại khóa tại Đền Hùng (Thảo Cầm Viên).

Nhiều năm nay, cứ vào đầu năm học mới, CLB lại được các trường học tại TP.HCM như THPT Nguyễn Du, THPT Ten-Lơ-Man, THPT Nguyễn Văn Linh… mời đến biểu diễn và kết hợp tổ chức các chương trình ngoại khóa cho học sinh về văn hóa Nam bộ.

CLB Nghiên cứu và Vinh danh Văn hóa Nam bộ tròn 4 tuổi - ảnh 3Hơn 200 cán bộ, công nhân viên của VNPT Bình Dương chăm chú nghe diễn giả Hồ Nhựt Quang trình bày về văn hóa dân tộc và văn hóa doanh nghiệp.

CLB còn nhận được quan tâm của các tập đoàn doanh nghiệp và các điểm di tích lịch sử như Lăng Nguyễn Đình Chiểu (Bến Tre), Lăng Ông Bà Chiểu, Văn Miếu Trấn Biên, Đền Hùng (Thảo Cầm Viên), Bảo tàng lịch sử TP.HCM…

Để làm phong phú hơn các buổi biểu diễn, các thành viên CLB đã tự sáng tác các chặp cải lương, bài ca vọng cổ với nhiều chủ đề phong phú, nhất là ngợi ca vẻ đẹp con người và văn hóa Nam bộ, những nhân vật anh hùng trong lịch sử như Thanh sử Ngô Vương, Bình Tây Đại Nguyên Soái, Khí tiết Bùi Thị Xuân… Riêng anh Hồ Nhựt Quang, chủ nhiệm CLB đã sáng gần 100 tác phẩm.

“Mỗi thành viên trong CLB luôn khắc cốt ghi lời dạy của thầy: Mình sống trên quê hương của mình thì phải làm cho văn hóa quê hương giàu đẹp hơn…”- anh Quang nhớ lại.

CLB sắp tới sẽ tiếp tục mở rộng lĩnh vực nghiên cứu về văn hóa dân gian như múa bóng rỗi, hát lô tô, hò ru, nghiên cứu về sắc phong thần tại đình làng và di tích, mở rộng giao lưu tri ân các nghệ nhân hát bội…

Song song đó là các dự án vinh danh văn hóa nhân dịp kỷ niệm 100 năm sân khấu cải lương, kỷ niệm 1080 năm chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, kỷ niệm 320 năm đức Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược phương Nam, kỷ niệm 100 năm tờ báo  Nữ Giới Chung…

M.ANH

Đường hoa Nguyễn Huệ Tết Mậu Tuất 2018 , VIETNAM


Đường hoa Nguyễn Huệ Tết Mậu Tuất  2018

Đàn chó Phú Quốc đầy vẻ dũng mãnh, gia đình nhà chó hạnh phúc; hàng loạt tiểu cảnh, đại cảnh bằng hoa sặc sỡ… sẽ làm nên đường hoa Tết Mậu Tuất 2018.

Đường hoa Nguyễn Huệ Tết 2018 được thiết kế thế nào
Khai mạc tối 13/2/2018 (28 tháng Chạp), đường hoa Nguyễn Huệ Tết Mậu Tuất có chủ đề Khát vọng vươn xa dài 720 m với ba phân đoạn chính: Mùa xuân thành phố, Hội nhập và phát triển, Vươn tới tương lai.
Đường hoa Nguyễn Huệ Tết 2018 được thiết kế thế nào
Như mọi năm, hình ảnh linh vật là phần quan trọng nhất của đường hoa, được lấy cảm hứng từ chú chó Phú Quốc với tính cách nhanh nhẹn, thông minh, gan dạ.
Đường hoa Nguyễn Huệ Tết 2018 được thiết kế thế nào
Những chú chó đều trong tư thế đang chuyển động, đầu ngẩng cao, dáng chạy đầy dũng mãnh.
Mỗi linh vật cao 2 m, trên thân là các họa tiết lấy cảm hứng từ những loại tem Việt Nam.
Đường hoa Nguyễn Huệ Tết 2018 được thiết kế thế nào
Đại cảnh Xuân reo vui gồm những chiếc thuyền cách điệu chở hoa cúc vàng – tượng trưng cho sắc vàng rực của những cánh đồng lúa chắc hạt, hứa hẹn mùa bội thu trong năm mới.
Đường hoa Nguyễn Huệ Tết 2018 được thiết kế thế nào
Ở góc khác là những cây nấm hoa, bộ ấm trà khổng lồ và những viên đường, bánh mứt cách điệu lạ mắt trong ngày Tết.
Đường hoa Nguyễn Huệ Tết 2018 được thiết kế thế nào
Đại cảnh Lộc xuân có kết cấu tròn nhiều tầng cao thấp, giỏ hoa và đồng tiền bằng nứa kết hợp thành tháp đỡ hoa, xung quanh là đàn bướm màu sắc rực rỡ rung chuyển trong gió tạo nét sinh động, lung linh, sắc màu trong không khí xuân, đặc biệt vào buổi tối.
Đường hoa Nguyễn Huệ Tết 2018 được thiết kế thế nào
Đường hoa Nguyễn Huệ năm nay là nơi khoe vẻ sặc sỡ của hàng trăm loài như cúc Calimero, cúc Nhật, cúc lá nho, Mãn Đình Hồng, Phong Lữ Thảo, lan Dendro, lan mãn, lan Mokara, lan Ngọc Điểm Đai Châu, mai hoa đăng, chuỗi ngọc, bâng khuâng, thu hải đường, cẩm tú cầu hồng, đỗ quyên, lồng đèn, thủy trúc, sen đá bèo, móng rồng ngấn trắng, xương rồng Echinocactus, xương rồng Notocactus…
Đường hoa Nguyễn Huệ Tết 2018 được thiết kế thế nào
Đại cảnh Thành phố muôn màu – nổi bật nhất là các thảm hoa rực rỡ nối liền những thảm cỏ xanh ngắt được sắp đặt tầng thấp tầng cao. Tất cả tạo nên những tiểu cảnh đa dạng phân bổ dọc đường hoa, kéo dài từ đường Huỳnh Thúc Kháng tới đường Ngô Đức Kế.
Đường hoa Nguyễn Huệ Tết 2018 được thiết kế thế nào
Ban tổ chức kỳ vọng đường hoa năm nay sẽ mang đến cho người tham quan cảm giác dễ chịu, thoải mái hơn với những tiểu cảnh lạ mắt gồm: các biểu tượng tròn có thể chuyển động, tháp hoa ba tầng được điểm xuyết đèn lồng và gia đình nhà chó du xuân.
Đường hoa Nguyễn Huệ Tết 2018 được thiết kế thế nào
Tại đây còn có những chiếc chuông gió thiết kế từ thanh tre trổ hoa văn có độ dài ngắn khác nhau, sắp xếp xen kẽ trên nền hoa. Khi có gió nhẹ chúng va đập vào nhau tạo nên âm thanh nhẹ nhàng, lúc trầm lúc bổng.
Đường hoa Nguyễn Huệ Tết 2018 được thiết kế thế nào
Đường hoa được thi công trong 15 ngày (từ 29/1/2018 đến 18h 13/2/2018, tức 13 đến 28 tháng Chạp.
Mở cửa ngay tối 13/2, đường hoa phục vụ người dân và du khách đến tham quan trong 7 ngày. Đến 22h ngày 19/2/2018 (Mùng 4 Tết) đường hoa sẽ đóng cửa, trả lại mặt đường lúc 10h ngày 20/2/2018 (Mùng 5 Tết).
Hữu Công
(Ảnh: Ban tổ chức)


THANH TUYỀN & NGỌC PHÚ : LA LANGUE VIETNAMIENNE


VN-VN : La langue vietnamienne

La langue est une composante majeure de notre héritage culturel. Partons à la rencontre de ce qu’est la langue parlée et écrite par le peuple vietnamien.

1. La langue parlée
Le vietnamien est une langue d’origine autochtone, issue d’une civilisation agraire, située au nord du bassin du fleuve Rouge et du fleuve Ma au Vietnam.
La langue fait partie de la branche Môn-Khmer des langues austro-asiatiques.
Quelque mille ans de domination chinoise sont à l’origine de l’adoption d’un grand nombre de mots transcrits du chinois même si ces mots sont prononcés “à la vietnamienne”, ce qui explique que les deux langues parlées n’ont pas grand chose en commun.

2. La langue écrite
Tout au long de son histoire, l’écriture vietnamienne est passée par quatre grandes étapes avant d’être officialisée comme langue nationale.
2.1 Le vietnamien ancien
Le Vietnam avait t-il sa propre écriture avant de tomber sous le joug chinois ? La question demeure aujourd’hui entière, faute de vestiges et de documents suffisamment convaincants (Dương Quảng Hàm).
Cependant, bon nombre de chercheurs vietnamiens et étrangers affirment que “oui”, il existait bel et bien une écriture vietnamienne avant l’arrivée des Chinois.

Le chercheur Đỗ Văn Xuyền a passé cinquante ans à rassembler et étudier chaque document et fragment de document pour déchiffrer un alphabet de 47 caractères qu’il affirme être le vietnamien ancien.
Cette thèse n’est pas encore reconnue scientifiquement mais elle n’est pas dénuée de tout fondement car comment un royaume tel que le Vietnam en ces temps là aurait pu fonctionner sans une langue écrite ? Une chose est sûre : les Chinois avaient fait le nécessaire pour détruire toute trace de notre civilisation antérieure dans le but de mieux nous assimiler, non ?

2.2 L’écriture chinoise
Sous l’occupation chinoise, les Vietnamiens ont continué de parler leur langue mais ont été forcés d’utiliser le chinois écrit jusqu’en 1919, dernière année des épreuves littéraires nationales à Huế.
L’écriture était chinoise mais lue avec une prononciation typiquement vietnamienne et progressivement, nos ancêtres ont transformé le chinois en une écriture vietnamisée (Nôm).

2.3 L’écriture Nôm
Dérivé de “Nam” (Sud), le Nôm utilise ou modifie des caractères chinois (sinogrammes) pour écrire le vietnamien.
Ses origines exactes sont encore floues mais remontent probablement au 10 ème siècle à la sortie de l’occupation chinoise après la victoire de Ngô Quyền en 938. En 1789, le roi Quang Trung, après avoir défait l’armée Thanh, décide de remplacer l’écriture chinoise par le Nôm.

2.4 Le vietnamien 
(ou Quốc-ngữ = écriture nationale)
Au début du 17 ème siècle, les missionnaires européens évangélisateurs arrivent au Vietnam. A cet effet, l’utilisation d’une langue écrite est primordiale pour comprendre la culture locale et développer les doctrines religieuses. Devant la complexité de l’écriture chinoise et du Nôm pour l’ensemble de la population, un groupe de Jésuites, aidés par des missionnaires du pays se sont consacrés à étudier le vietnamien parlé pour, à partir de l’alphabet latin, transcrire la prononciation des mots en une écriture plus aisée à lire et à écrire dans la vie de tous les jours.

Le missionnaire jésuite français Alexandre de Rhodes est considéré comme le fondateur de l’écriture vietnamienne et son dictionnaire Annamite-portugais-latin (Dictionarium Annamiticum, Lusitanum et Latinum) imprimé à Rome en 1651 est le fondement de notre écriture.

3. Caractéristiques de la langue vietnamienne
3.1 Alphabet latin
Contrairement à tous les autres pays d’Asie, notre langue utilise l’alphabet latin, si simple à écrire et à lire en comparaison avec les sinogrammes. De ce point de vue, nous devons une fière chandelle aux missionnaires européens et locaux qui ont contribué à ce projet.

3.2 Langue monosyllabique
A l’inverse, le vietnamien est monosyllabique comme beaucoup de langues du Sud-Est Asiatique. Cette caractéristiques s’illustre dans tous les aspects de la phonétique, du vocabulaire, de la grammaire…
A côté des mots simples, il existe des mots composés, groupements de deux mots (ou plus) pour ajouter une précision, une nuance ou pour créer un nouveau mot.
Exemples:
– “Yêu” = aimer; “yêu mến” ajoute la notion de sympathy; “yêu thương” celle de compassion;“yêu quí” celle d’estime, …
– “Nhân-quyền” vient de “quyền” = droits et “nhân” = humain. Donc, “Nhân-quyền” = droits de l’Homme.

Les Vietnamiens sont également friands de mots “doublés” faits d’un mot principal et d’un mot phonétiquement proche ou identique pour ajouter une nuance, le rendre plus poétique ou atténuer la “rugosité” phonétique du mot (les monosyllabes pouvant être en général secs et cassants).
Exemples : lành lạnh (= plutôt froid; lạnh = froid), đậm đà (= très chaleureux; đậm = chaleureux, prononcé); xinh xinh (plutôt joli, bien joli); …

3.3 Langue polytonale
Une langue à tons, ou langue tonale, est une langue dans laquelle la prononciation des syllabes d’un mot est soumise à un ton précis, c’est-à-dire à une hauteur relative déterminée ou une mélodie caractéristique. Une modification de ce ton amène alors à prononcer un autre mot et indiquer un autre sens.
Un bon nombre de langues sont polytonales en Afrique, en Amérique, en Europe ou en Asie orientale mais le système est des plus élaborés en Chine, au Vietnam, en Thailande, au Laos et le Vietnam a peut-être la langue qui comporte le plus de tons, six au total :
– plat / ngang : médian (sans accent : ma)
– pointu / sắc : montant (accent aigu : )
– suspendu / huyền : descendant (accent grave : )
– question / hỏi : descendant montant (accent crochet : mả)
– tombant / ngã : laryngal montant (accent tilde : )
– lourd / nặng : descendant bas bref (point souscrit : mạ)
Avec un son “ma“, nous obtenons 6 mots différents, dans l’ordre : fantôme, maman, mais, sépulture, allure, semis.

De ce fait, les six tons, tout comme les 7 notes de musique, font de chaque phrase une véritable mélodie. Cette polytonalité a par contre ses revers : engendrer des fautes d’orthographe, rendre la frappe difficile sur un clavier d’ordinateur ou un smartphone, et aussi constituer une difficulté majeure pour un étranger souhaitant parler le vietnamien.

3.4 Vocabulaire
Il est essentiellement composé de 3 origines :
– chinoise en majorité (1000 ans d’influence y sont pour quelque chose)
– purement vietnamienne
– française (“seulement” 100 ans d’influence) ; par exemple : ô-tô (automobile), bơ (beurre), cặp-táp (cartable), …

3.5 Grammaire
Le vietnamien est une langue isolante, c’est-à-dire que tous les mots (noms, adjectifs, verbes,…) sont invariables quelle que soit leur fonction syntaxique. La grammaire est donc toute simple et il n’y a pas de conjugaison ni de déclinaison des mots, pas de pluriels irréguliers, etc.
La prononciation obéit à des lois unifiées et la langue est donc facile à lire.

Une difficulté réside dans l’utilisation des pronoms personnels.
Lorsque l’on s’adresse à quelqu’un, on utilise un mot reflétant les relations avec cette personne : familiarité, respect, préséance de l’âge, lien de parenté…
La distinction entre tutoiement et vouvoiement ne fonctionne donc pas comme en français.

Prenons un dialogue entre un grand-père et son petit-fils :
petit-fils : tu vas bien ?
grand-père : oui, merci, je vais bien. Et toi ?
Une traduction littérale du vietnamien donnerait :
petit-fils : grand-père va bien ?
grand-père : oui, merci, grand-père va bien. Et petit-fils ?
3.6 Régionalité
Il y a plusieurs accents régionaux distincts, sans que l’on puisse parler de dialectes (seule la prononciation change, le vocabulaire peut être parfois différent mais la grammaire est rigoureusement identique).
Les trois familles principales sont : l’accent du Nord (considéré comme la norme officielle), celui du centre et celui du Sud.
4 Conclusion
Chaque langue est unique mais la nôtre est… la plus unique.
Un peu plus objectivement, le vietnamien est agréable à l’oreille et relativement facile à apprendre, son vocabulaire est riche et nuancé, surtout dans les sphères morale et sentimentale. Ses caractéristiques créent toutes les conditions pour jouer avec les mots et la contrepèterie règne en maître.
Ah, la langue de mon pays!

Yên Hà, novembre 2017

THANH TUYỀN & NGỌC PHÚ : THE VIETNAMESE LANGUAGE


VN-VN : The Vietnamese language

Language is a main component of our cultural heritage.

Let us find out about the language of the Vietnamese people.

  1. Vietnamese spoken language

The Vietnamese language has a local origin, arising from an agricultural civilisation at the region which now is north of the Hồng and Mã rivers in Vietnam.

The Vietnamese language is considered to be one of the languages belonging to the Southern Asian linguistic system in the current South East Asia region, with close relationship to the Mường language and other languages belonging to the Mon-Khmer linguistic group.

The Vietnamese language is heavily influenced by China after more than a thousand years of Chinese domination but words of Chinese origin are spoken in the local manner and do not sound like the original Chinese words.

  1. Vietnamese written language
    Historically, the Vietnamese writing had to go through four stages of development before being officially considered as the national writing.

2.1 Ancient Vietnamese writing

Did our people, prior to the Chinese colonisation, have its own writing to record the Vietnamese words? This is a question that, currently, because of lack of ancient relics and data can not be answered … (Dương Quảng Hàm)

However, many local and overseas researchers all affirm:

“Our country, our people from the times of the Hùng kings, from the Đông Sơn time, many thousand years ago, had once had its own writing.”

For fifty years, the researcher Đỗ Văn Xuyền has silently put a lot of effort in collecting, studying many documents to decipher a group of 47 prime words which he firmly believes are ancient Vietnamese words.
This theory has not been totally accepted but is not without foundation. How could a kingdom be governed without a written language? Nevertheless, during the thousand years of Northern domination, with the strategy of assimilation, the Han people encouraged everybody to learn the Han language and, at the same time, destroyed all books, documents and any vestiges of our ancient writing.

2.2 Han writing

When the Han people developed and governed our country, our people still spoke our Vietnamese language but the Chinese governors encouraged our people to learn Han writing (also called Nho writing)

From then on, Han writing became the official writing in nearly 1000 years, from 1075, when King Lý Nhân Tông organised the first Nho examinations, until 1919, the last year of the Nho examinations in Huế.

Although Nho writing originated from China but our people had a different pronunciation. Much later, our ancestors based on Nho writing progressively developed a separate writing for our country, called Nôm writing.

2.3 Nôm writing

Nôm writing (or Nam writing) used either the original Nho written word or combines two or three Nho written words to record the Nam word.  When was Nôm writing developed and by whom is a question that has not yet been answered. Perhaps, after the 10th century when the Vietnamese people escaped from the Northern domination with Ngô Quyền’s victory in 938. After defeating the Thanh army, king Quang Trung began to rebuild our country and used Nôm writing as the official writing, replacing Han writing.

2.4 Vietnamese writing

National writing is the writing officially used by everybody in the country.

At the beginning of the 17th century, western missionaries came to Vietnam and began to introduce Christianity to our people. To enable efficient religious propagation, the use of writing is a very important factor in understanding the customs of the indigenous people and the distribution of ideas, religious principles and books to the disciples.  At that time, the priests considered that Nho and Nôm writings were too complex to learn for the majority of the common people. Consequently, the Jesuit priests in conjunction with the early Vietnamese preachers had researched and used the Latin alphabet to record phonetically the Vietnamese language for their daily communications.
Alexander of Rhodes is considered as the architect in the development of the Vietnamese national language. The Annamese-Portuguese-Latin dictionary published in Rome in 1651 is the foundation of our national language.

  1. Characteristics of the Vietnamese language
    • 1 Latin words

Differently to other Asian nations, Vietnamese writing uses the Latin alphabet and is easier to write and learn compared to Nho writing and, in this respect, the Western missionaries had provided a great benefit to our people.

  • 2 Monosyllabic

On the other hand, Vietnamese language has a common South East Asian characteristic as it is monosyllabic, which means each word is pronounced separately and is represented by a single written syllable. This characteristic can be seen clearly in the Vietnamese language pronunciation, vocabulary and grammar.

Apart from single syllable words there are also combined words which result from the grouping of two or three words with two or three meanings or for clearer definition.

For example:
– The single word “yêu” (love) means a general feeling; “yêu mến” (love-sympathy), “yêu thương” (affection), “yêu quí” (cherish) define more clearly the different aspects of love with respect to one’s lover, family or friend…
– “nhân-quyền” (human right) is a combined word resulting from the grouping of two meanings, “right” and “people”.  This is a characteristic of Han language.

In addition, the Vietnamese like to use reduplicative words which combine one word which carries the main meaning and another word with the same or similar sound or rhyme in order to make the word less dry, more polished, more literary or to change its character.

For example: lành lạnh (lạnh = cold; lành lạnh = a bit cold), đậm đà (đậm = dense, pronounced; “đà” is just to make the word more poetic), xinh xinh (prettyish)…

  • 3 Multi tones

“Tone” denotes the vocal pitch in a spoken word and has the effect of changing the meaning of the word.

There are many languages in Africa, America, Europe or East Asia which have tonality. However, in China, Vietnam, Thailand, Laos, language tonality is most complex and the Vietnamese language has the most tones.

The Vietnamese language has 6 tones:

  • – Neutral (no accent: a)
  • – High (accent from the right: á)
  • – Descending (accent from the left: à)
  • – Up and down (? accent: ả)
  • – Quiver ( ~ accent: ã)
  • – Low (full stop accent: ạ)

With these 6 tones, with a single basic sound one can have 6 words with different meanings.  For example, with the sound “ma” one can have 6 different words: ma (ghost), má (mother), mà (but), mả (grave), mã (horse), mạ (seed or plated).

Six tones are like seven musical notes and make every sentence sound like a musical piece which is smooth to the ears. However, this makes it rather difficult for foreigners to pronounce the words properly.

In addition, these tones may cause a lot of spelling errors, and writing with accents on the computer or mobile phone is a problem for a number of overseas Vietnamese.

  • 4 Vocabulary

Our vocabulary consists of words which are purely of Vietnamese origin, words with Chinese origin (which accounts for most words due to 1000 years domination) or French origin (due to 100 years colonisation).  For example, words with French origin like: ô-tô (automobile in French), bơ (= butter, beurre in French), cặp-táp (= school bag, cartable in French).

  • 5 Grammar

In general, the Vietnamese language does not have a complex grammatical system like languages with Latin origin (French, Italian…): no words with feminine or masculine gender; verbs do not change form depending on the subject or time of action; the Vietnamese pronunciation has a unified ruling system (unlike English, where for example the letter “i” can be pronounced like “i” in one instance or “e” in another instance), each word (subject, verb, adjective..) do not change form depending on plurality or circumstances.

Perhaps a subtle thing for any student to master is the way of addressing people, depending on the relationship or age difference between the two subjects.  For example, between father (bố) and child (con), the father will call himself “bố” and call the child “con”, the child will call himself/herself “con” and call the father “bố”; the younger person will call the older person “anh/chị”(elder brother/elder sister or older person in the same range of age), “cô/chú/bác” (aunt/uncle or person of parents’ generation), ”ông/bà” (grandpa, grandma or person of grand parents’ generation), “cụ/cụ”(great grandpa/great grandma)…

  • 6 Regional effect

One more difficulty is that people in the North, Centre and South regions (not to mention each locality in each region) have different pronunciations and some different vocabulary.

In general, the Northern accent is considered to be the most proper pronunciation and the writing has fewer spelling errors (perhaps because the Vietnamese people originated from the North?).

For example, in music, the singers have to try to sing with the Northern accent.

  1. Conclusion

Each language in the world is unique but our language is most… unique.

More objectively, our Vietnamese language is easy to learn, to write and sounds smooth to the ears, melodious like a musical piece. The vocabulary is rich and displays many different aspects, especially, in the spiritual and emotional areas.

The above characteristics give rise to many ways of word play, based on sound, meaning, grammar and the method of inverting the sounds of the words in a group of words (a kind of spoonerism) is, worldwide, a unique way of playing with words.
I love my country’s language.

Translated by Phan Thiện Khải

from VN-VN : Ngôn-ngữ người Việt

Posted by Thanh Tuyền and Ngọc Phú at 8:00 AM

http://phu-tran.blogspot.fr/2017/11/vn-vn-vietnamese-language.html

THANH TUYỀN & NGỌC PHÚ : Ngôn-ngữ người Việt


VN-VN : Ngôn-ngữ người Việt

Truyện Kiều còn, tiếng ta còn,
Tiếng ta còn, nước ta còn.
Có gì mà lo, có gì mà sợ, còn điều chi nữa mà ngờ
?
(Phạm Quỳnh)

Thân mời các bạn trở về với tiếng nói và chữ viết của người Việt.

  1. Tiếng nói người Việt (ngôn)

Tiếng Việt là ngôn-ngữ có nguồn-gốc bản-địa, xuất thân từ nền văn-minh nông-nghiệp, tại nơi mà ngày nay là khu vực phía bắc lưu vực sông Hồng và sông Mã của Việt-Nam.
Tiếng Việt được coi là một trong số các ngôn-ngữ thuộc hệ ngôn-ngữ Nam Á ở khu vực Đông Nam Á hiện nay, có quan hệ gần gũi với tiếng Mường và các thứ tiếng thuộc nhóm ngôn-ngữ Môn-Khmer.
Tiếng Việt đã chịu rất nhiều ảnh-hưởng Trung Hoa sau hơn một ngàn năm đô-hộ nhưng những từ gốc Hán vẫn được phát-âm theo lối bản-xứ nên tiếng Việt nghe vẫn khác hẳn tiếng Tàu.

  1. Chữ viết người Việt (văn tự)

Trên giòng sông lịch-sử, chữ Việt đã phải trải qua bốn giai-đoạn trước khi được chính-thức hoá là ngôn-ngữ quốc-gia:

2.1 Chữ Việt cổ
Dân tộc ta trước khi nội thuộc nước Tàu, có thứ chữ riêng để viết tiếng Nam hay không? Đó là một vấn đề hiện nay vì không có di tích và thiếu tài liệu, không thể giải quyết được… (Dương Quảng Hàm)

Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều khẳng định:

“Đất nước ta, người Việt chúng ta, từ mãi thời Vua Hùng, từ tận thời Đông Sơn mấy ngàn năm trước, đã từng có chữ viết riêng.”

Trong suốt năm mươi năm, nhà nghiên-cứu Đỗ Văn Xuyền đã lặng lẽ bỏ bao công sức đi thu-thập, nghiên-cứu từng tài-liệu để giải-mã một bộ chữ gồm 47 chữ cái mà ông tin chắc là chữ Việt cổ.

Thuyết này chưa được công-nhận hoàn toàn nhưng không phải là vô-lý. Cứ thử hỏi làm sao có thể cai quản một vương-quốc như Việt-Nam thuở ấy nếu không có chữ viết?
Dù sao đi nữa, suốt 1000 năm Bắc thuộc, với chính-sách “đồng-hóa”, người Hán khuyến khích mọi người học chữ Hán, đồng thời hủy diệt đi tất cả sách vở, tài-liệu và tất cả những vết tích chữ nghĩa ta rồi.

2.2 Chữ Hán

Đến lúc Hán tộc phát-triển và cai-trị nước ta, dân ta vẫn nói tiếng Việt của mình nhưng chữ viết thì các quan Thái Thú Trung Hoa khuyến-khích dân ta học chữ Hán (còn gọi là chữ Nho).
Từ đó, chữ Hán đã trở thành chữ viết chính-thức trong gần 1000 năm, kể từ năm 1075 sau khi vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi Nho học đầu tiên, cho đến năm 1919 là năm mở khoa thi cuối cùng ở Huế.

Mặc dù chữ Nho viết từ chữ của người Trung Hoa, nhưng dân ta có cách đọc phát-âm riêng biệt. Mãi về sau, tổ tiên ta, dần dần, dựa trên căn bản chữ Nho mà biến-chế ra một loại văn-tự riêng biệt của nước Nam ta, được gọi là chữ Nôm.

2.3 Chữ Nôm

Chữ Nôm (= Nam đọc trại) là thứ chữ hoặc dùng nguyên-hình chữ nho, hoặc lấy hai ba chữ nho ghép lại để viết tiếng Nam. Chữ nôm đặt ra tự bao giờ và do ai đặt ra là một vấn-đề chưa thể giải-quyết được. Có lẽ là khoảng sau thế-kỷ 10 khi người Việt thoát khỏi nghìn năm Bắc-thuộc với chiến-thắng của Ngô Quyền vào năm 938 và sau khi phá tan quân Thanh, vua Quang Trung bắt đầu xây-dựng đất nước và cho dùng ngay chữ Nôm làm thứ chữ chính-thức thay cho chữ Hán.

2.4 Chữ quốc-ngữ

Văn-tự là  chữ viết. Quốc-ngữ là loại chữ viết được dùng chung cho một nước.

Vào đầu thế kỷ 17, các nhà truyền-giáo Tây-phương đến Việt-Nam, và bắt đầu giới-thiệu đạo Thiên-Chúa cho dân ta. Để truyền-đạo hữu-hiệu, việc dùng chữ viết là một yếu-tố rất quan-trọng, trong việc tìm-hiểu phong-tục tập-quán của dân bản-xứ, cũng như việc phổ-biến tư-tưởng, giáo-lý kinh sách cho người học đạo.
Lúc bấy giờ, các giáo-sĩ nhận thấy chữ Nho và chữ Nôm quá phức tạp để học, đối với đại chúng bình dân. Cho nên, một nhóm tu-sĩ dòng Tên (Jésuites), cùng với các thầy giảng người Việt-Nam đầu tiên, đã ra công nghiên-cứu, áp-dụng các mẫu-tự Latinh, mà ghi-chú cách phát âm tiếng Việt, để dùng trong cách giao-dịch hàng ngày.
Cố Đắc Lộ Alexandre De Rhodes đã được xem là người đại-diện trong việc sáng chế ra chữ quốc-ngữ Việt-Nam. Quyển tự-điển An Nam, Bồ Đào Nha, Latinh (Dictionarium Annamiticum, Lusitanum et Latinum), in tại Roma năm 1651, là nền-tảng cho chữ Quốc-ngữ ta.

  1. Đặc-điểm ngôn-ngữ Việt-Nam

3.1 Chữ La-Tinh
Khác hẳn với các nước châu Á, chữ Việt-Nam được viết bằng mẫu-tự La-tinh dễ viết, dễ học so với chữ Nho và trên phương-diện này, các giáo-sĩ Tây-phương đã có công lớn với dân ta.

3.2 Đơn âm
Ngược lại, tiếng Việt lại có một đặc-điểm Đông-Nam-Á là đơn âm (hay đơn lập), nghĩa là mỗi một tiếng (âm-tiết) được phát-âm tách rời nhau và được thể hiện bằng một chữ viết. Đặc điểm này thể hiện rõ rệt ở tất cả các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.
Bên cạnh những từ đơn (một chữ), còn có những từ ghép do sự kết-hợp của hai, ba chữ, gom vào hai ba nghĩa để mô-tả rõ hơn hay tạo một chữ mới.
Ví dụ:
– Từ-đơn “Yêu” là một tình-cảm ; “yêu mến”, “yêu thương”, “yêu mến”, “yêu quí”, nói rõ hơn những sắc-thái của tình yêu tuỳ theo trường hợp, với người yêu, với gia-đình, với bạn bè, …
– “Nhân-quyền” là một từ ghép bằng hai nghĩa “quyền” và “nhân= người”. Đây là một đặc-điểm của chữ Hán.

Ngoài ra, Việt-Nam ta thích dùng những từ láy là những từ ghép lập lại một chữ (nghĩa chính) với một chữ đồng âm hay đồng vần cho đỡ khô khan, để tăng thêm vẻ bóng bảy, văn chương hay để thay đổi sắc thái của chữ.
Ví dụ : lành lạnh (hơi lạnh), đậm đà (rất đậm), xinh xinh, …

3.3 Đa thanh
Thanh-điệu (tone / ton) là một âm-độ trầm bổng của giọng nói trong một âm-tiết, có tác dụng làm thay đổi ý nghĩa của các đơn-vị ngôn-ngữ.
Có những ngôn-ngữ có thanh-điệu ở Phi-Châu, Bắc-Mỹ, Nam-Mỹ, Âu-Châu hay Đông-Á. Nhưng đối với Trung-Quốc, Việt-Nam, Thái-Lan, Lào, hệ-thống thanh-điệu phức tạp hơn hết và có lẽ tiếng Việt là một thứ tiếng có nhiều thanh-điệu nhất.

Tiếng Việt có 6 thanh điệu:

– ngang (không dấu: a),

– sắc (nghiêng phải: á),

– huyền (nghiêng trái: à),

– hỏi (dấu hỏi: ả),

– ngã (dấu ngã: ã)

– nặng (dấu chấm: ạ).
Với 6 thanh-điệu này, chỉ với một âm tiết mà ta có thể có đến 6 chữ khác nghĩa.

Ví dụ: với âm-tiết “ma”, ta có được 6 chữ khác nhau : ma ; má ; mà ; mả ; mã ; mạ.
Với sáu thanh điệu như bảy nốt nhạc, tiếng Việt chúng ta lên xuống, trầm bổng, mỗi câu nói là một khúc nhạc rất êm tai nhưng ngược lại khiến người ngoại-quốc phải gặp chút khó khăn để phát âm cho đúng.
Ngoài ra, những thanh-điệu này cũng gây nên không ít lỗi chính tả. Viết bỏ dấu trên máy vi-tính hay máy điện-thoại cũng là cả một vấn-đề đối với một số người Việt hải-ngoại.

3.4 Từ-vựng
Ngữ vựng chúng ta được tập-họp bởi những từ thuần-Việt, những từ xuất xứ từ chữ Hán (đa số, sau 1000 năm đô-hộ) hay từ tiếng Pháp (suốt hơn trăm năm đô-hộ).
Ví dụ từ tiếng Pháp : ô-tô (automobile), bơ (beurre), cặp-táp (cartable), …
3.5 Ngữ-pháp
Nói chung, tiếng Việt không có một hệ-thống văn-phạm phức tạp như tiếng La-Tinh (Pháp, Ý, Tây Ban Nha,…) : không có giống đực/giống cái, động-từ không có dạng khác nhau tuỳ theo chủ-từ hay thời-gian, cách phát-âm từ Việt hoàn toàn thống nhất theo qui-luật (không như tiếng Anh, chữ “I” lúc đọc “ai, lúc đọc “I”…), mỗi chữ (danh từ, động từ, tĩnh từ, …) không thay đổi theo số ít, số nhiều, hoàn cảnh, …

Một điều khó khăn nữa cho người học là cách xưng hộ tuỳ thuộc liên-hệ giữa hai người.
Ví dụ: Giữa bố-con, bố xưng “bố” và gọi “con”, con xưng “con” và gọi “bố”, người trẻ gọi người hơn tuổi mình là anh/chị, cô/chú/bác, ông/bà, cụ/cụ, …
3.6 Địa-phương tính
Thêm vào đó, người miền Bắc, người miền Trung, người miền Nam (không kể đến mỗi vùng trong mỗi miền) có lối phát-âm và một số từ-vựng khác nhau.
Nói chung, giọng Bắc được xem như phát-âm chuẩn nhất và viết ít lỗi chính tả hơn (có lẽ vì dân-tộc Việt xuất thân từ miền Bắc?). Ví dụ: trong ngành tân-nhạc, các ca-sĩ đều phải cố gắng hát giọng Bắc.

  1. Kết-luận

Mỗi ngôn-ngữ trên thế-giới là duy nhất nhưng ngôn-ngữ nước mình vẫn duy nhất… nhất.
Khách quan hơn chút, tiếng Việt ta dễ học, dễ viết, nghe rất êm tai, trầm bổng như một khúc nhạc. Từ vựng rất phong phú, biểu-lộ rất nhiều sắc-thái khác nhau, nhất là trong những lãnh-vực tinh-thần và tình cảm.
Những đặc-tính nói trên đem lại nhiều phương-cách chơi chữ dựa trên ngữ-âm, ngữ nghĩa, ngữ phạm và nói lái là cách chơi chữ có một không hai trên thế-giới.
Tôi yêu tiếng nước tôi cũng phải.

Yên Hà, tháng 11, 2017

Tài-liệu nguồn :
– Wikipedia
– Dương Quảng Hàm, Việt-Nam Văn-Học Sử-yếu
– Nguyễn Hữu Vinh, Chữ Nôm và tinh-thần dân-tộc

Posted by Thanh Tuyền and Ngọc Phú at 8:16 AM

http://phu-tran.blogspot.fr/2017/11/vn-vn-ngon-ngu-nguoi-viet.html

This blog is focused on Trân Quang Hai