Category Archives: CULTURE OF VIETNAM

Hình ảnh xưa : Phụ nữ Bắc Việt đầu thế kỷ 20


Hình ảnh xưa :
Phụ nữ Bắc Việt đầu thế kỷ 20

Hình ảnh về người phụ nữ Việt Nam xưa từ đầu thế kỷ 20 do người Pháp ghi lại cho thấy đầy đủ về diện mạo, trang phục, đời sống… của những người chị, người mẹ, người bà của chúng ta nhiều năm về trước.

Hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt với trang phục áo tứ thân đeo yếm,
nón quai thao, tóc vấn quanh đầu, đi chân đất, nhuộm răng đen…

Phụ nữ Bắc Kỳ, Hà Nội. Ảnh delcampe.

Phụ nữ Bắc Kỳ hút thuốc bát bên cạnh người hầu phục vụ thuốc trong nhà.

Hai mẹ con phụ nữ Bắc Kỳ những năm 1919 – 1926.

Vợ con một viên thông ngôn thời kỳ 1919 – 1926.

Một phụ nữ Bắc Kỳ thời kỳ 1919 – 1926.

Cô gái Hà Nội thời kỳ 1919 – 1926.

Một thôn nữ thời kỳ 1919 – 1926.

Cô gái thôn quê thời kỳ 1919 – 1926.[/TD]

Phụ nữ Bắc Kỳ thời kỳ 1919 – 1926.

[/TD]

Một cô gái Bắc Kỳ thời kỳ 1919 – 1926.[/TD]

Cô gái Bắc Kỳ và chiếc bếp của người An Nam
(người Pháp gọi người Việt Nam là An Nam mít).

Một phụ nữ Bắc Kỳ cho con bú thời kỳ 1919 – 1926.

Một phụ nữ Bắc Kỳ trong gia đình giàu có, thời kỳ 1919 – 1926.

Phụ nữ Bắc Kỳ thời kỳ 1919 – 1926.

Cô gái Bắc Kỳ với áo tứ thân, nón quai thao, guốc rễ tre, đầu vấn thả đuôi gà.

Cô gái Bắc Kỳ thời kỳ 1919 – 1926.

Cô gái Bắc Kỳ thời kỳ 1919 – 1926.

Phụ nữ nông thôn Hà Nội thời kỳ 1919 – 1926.

Một phụ nữ Bắc Kỳ ăn trầu thời kỳ 1931 – 1935.

Trong một đám cưới của người theo đạo Công giáo những năm 1921- 1935.

Một phụ nữ thôn quê những năm 1921- 1935.

Nhau trầu.

Chị em ăn trầu. Ảnh chụp những năm 1921 – 1935.

[/TD]

Chị em ăn trầu. Ảnh chụp những năm 1921 – 1935.

Chị em ăn trầu. Ảnh chụp những năm 1921 – 1935.

Một phụ nữ nông thôn gánh đồ cúng dường về từ một buổi lễ.

Một cô gái Bắc Kỳ têm trầu và ăn trầu. Ảnh chụp những năm 1921 – 1935.

Cô gái Bắc Kỳ ăn trầu cho đỏ môi. Ảnh chụp những năm 1921 – 1935.

Một phụ nữ quý tộc ở Bắc Kỳ. Ảnh chụp những năm 1930 – 1954.

Thiếu nữ ngoại thành Hà Nội vo gạo (1926).

Một phụ nữ nhà giàu.
Những phụ nữ người Sài Gòn (Nam Kỳ) chơi đánh bài.

Một phụ nữ Bắc Kỳ nhuộm răng đen bằng các loại vỏ và côn trùng
cũng như ăn trầu thường xuyên (1915).

Bán trầu vỏ.

Nguồn: _http://namrom64.blogspot.com/

Chuyện tình người nổi tiếng: Giáo sư Hoàng Xuân Hãn và vần thơ se duyên


hoang xuan han.jpg

Hoàng xuân Hãn & Nguyễn thị Bính

06:23 AM – 15/11/2016 Thanh Niên
Những công trình nghiên cứu của ông như Danh từ khoa học, La Sơn phu tử, Chinh phụ ngâm bị khảo, Lý Thường Kiệt... đã để lại những dấu ấn lớn trong lãnh vực văn hóa, lịch sử, giáo dục, khoa học. Ông đã được nhà nước trao tặng nhiều huân chương, danh hiệu cao quý.
Vì thương son phấn dễ tàn phai
Ngày trước, nhiều người thành vợ chồng, không vì quen biết mà do cho mẹ hai bên đã… hứa hẹn trước. Ông bà cụ Hoàng Xuân Úc và Lê Thị Ấu ở làng Yên Hồ, H.La Sơn (Hà Tĩnh) đã hứa gả con trai là Hoàng Xuân Hãn cho một gia đình ở H.Hương Sơn. Mọi việc chưa chuẩn bị xong thì cậu con trai – thủ khoa Quốc học Vinh, thủ khoa kỳ thi Thành Chung toàn Trung bộ được nhận học bổng du học ở Pháp.
Trước ngày lên đường, năm 1928, cậu được cha mẹ dẫn sang nhìn mặt cô gái đã được hứa hôn. Đó là con gái một nhà khoa bảng. Cuộc gặp gỡ ấy, không rõ có để lại ấn tượng gì sâu đậm không, nhưng sau khi sang Pháp vì cuốn hút vào công việc học tập nên cậu viết thư gửi về song thân trình bày suy nghĩ chân thành của mình. Sau này ở tuổi ngoài 80, cụ Hoàng Xuân Hãn đã kể lại rằng trong thư có đoạn viết: “Con gái thì có lứa, con còn lâu mới về được, nếu có nơi xứng đôi vừa lứa thì gia đình cứ để cho V. gây dựng gia thất, con không có gì dám oán trách”.
Mọi việc đã diễn ra theo ý nguyện của cậu.
Sau này bà V. trở thành vợ của một bác sĩ. Năm 1930, lúc bà V. đám cưới, Hoàng Xuân Hãn có tặng bài thơ Đường luật có câu “Sắt cầm duyên mới mừng tươi thắm/Gang tấc lòng xưa luống lữ hoài/Chớ trách vàng thau hay kẹn kẻ/Vì thương son phấn dễ tàn phai”. Dù không lấy được nhau theo sắp xếp của cha mẹ, nhưng họ vẫn giữ được cái tình, thật đáng quý.
Họa người bên nguyệt biết tình chăng ?
Sang Pháp, Hoàng Xuân Hãn học toán cao cấp ở Lycée Saint Louis, sau đó thi đậu vào Trường cao đẳng Sư phạm và bắt đầu chú tâm biên soạn Danh từ khoa học – cuốn sách nổi tiếng đặt nền móng đầu tiên về xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt. Sau đó, ông còn thi đậu lấy bằng bách khoa, kỹ sư cầu cống, thạc sĩ toán.
Năm 1935, ông đáp tàu về thăm cố hương. Những ngày lênh đênh sông nước, tình cờ ông làm quen với cô Nguyễn Thị Bính – một tiểu thư mảnh mai, xinh đẹp người Hà Nội nhà ở phố Gia Long (nay là phố Bà Triệu). Bấy giờ, cô Bính cũng đã lấy bằng tốt nghiệp Trường cao đẳng Y Dược Paris.
Mối tình nảy nở giữa biển khơi này đã được kể lại trong Tổng tập La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (NXB Giáo dục, 1988): Khi tàu ngang qua Ấn Độ Dương, gặp lúc trăng rằm, cô Bính đề nghị người bạn trai thử làm bài thơ Vịnh nguyệt. Được lời như cởi tấm lòng, Hoàng Xuân Hãn nửa đùa nửa thật xuất khẩu: “Có người bảo tớ vịnh thơ trăng/Tớ cũng toan ngâm ngợi chị Hằng/Ngán nỗi người xinh, trăng thẹn mặt/Ngây lòng tớ gặm bút mòn răng/Trông trăng chỉ thấy ai cười nụ/Gác bút vì e tớ nghĩ xằng/Vịnh nguyệt vì người thôi cũng vịnh/Họa người bên nguyệt biết tình chăng?”.
Nghe xong bài thơ, cô Bính đỏ mặt e thẹn vì thấy được “tình ý” mà người bạn trai đã gửi gắm. Ngay sau đó, Hoàng Xuân Hãn còn tặng cô Bính thêm bài hát nói: “Trăng với biển nửa mờ nửa xám/Mây trên trời mấy đám phất phơ/Mảnh trăng khi tỏ lại khi mờ/Khách trên biển còn ngờ nơi Nhược Thủy/Cám cảnh thân đơn thằng Cuội quỷ/Gẫm thương tình muộn chị Hằng Nga/Những tưởng rằng trăng lạ với trăng xa/Ai ngờ cũng trăng nhà cười mủm mỉm/Chốn lữ quán đa tình nên bịn rịn/Hỏi trăng già soi đến tận tâm can?/Sóng đưa trăng giạt theo làn”.
Lâu nay, cô Bính nghe tiếng Hoàng Xuân Hãn luôn đậu thủ khoa trong các kỳ thi, học hành xuất sắc hơn người, không ngờ chàng cũng giỏi thơ và tài hoa đến thế. Những bài thơ này đã tạo trong tâm trí cô Bính một cảm tình đặc biệt. Những ngày gặp lại nhau tại Hà Nội, tình cảm giữa họ ngày một gắn bó hơn. Năm 1936 họ kết hôn. Đám cưới xong, nhờ bạn bè cho vay vốn, họ mở hiệu bào chế thuốc tây ở phố Tràng Thi (Hà Nội). Từ đây, mọi người quen gọi cô Bính là “Madame Hoàng Xuân Hãn”. Thời gian này, Hoàng Xuân Hãn dạy Trung học đệ nhị cấp ở Trường Bưởi (tức Trường Chu Văn An) và tham gia Hội Truyền bá quốc ngữ.
Điều may mắn, nhà bác học của chúng ta đã chọn được người vợ hoàn toàn chia sẻ, ủng hộ việc làm của chồng. Để thực hiện những chuyến đi thực địa, khai quật di tích văn hóa cổ nhằm hoàn thành các bộ sách nghiên cứu rất có giá trị, Hoàng Xuân Hãn đã dồn vào đó bao nhiêu tiền của, bà Bính cũng không tiếc. Bên cạnh đó, bà còn đồng tình với chồng về quan điểm chính trị. Khi luật sư Vũ Đình Hòe làm chủ nhiệm Báo Thanh Nghị, được sự khuyến khích của chồng, bà Bính nhận lời cộng tác.
Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (1946), gia đình vợ chồng Hoàng Xuân Hãn là địa điểm liên lạc của người yêu nước. Từ năm 1951, họ sang Paris, định cư tại Pháp. Tuy vậy, tấm lòng của họ luôn hướng về quê nhà. Dù hai người không có con, nhưng bà Bính vẫn tự hào: “Đối với nhà tôi, con tức là sách”. Mối tình đẹp “thiết thạch” từ vần thơ se duyên từ “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” đã gắn kết họ thủy chung đến trọn đời.

Lê Minh Quốc

http://thanhnien.vn/van-hoa/chuyen-tinh-nguoi-noi-tieng-giao-su-hoang-xuan-han-va-van-tho-se-duyen-765199.html

Bộ ảnh hiếm quý về NGƯỜI VIỆT NAM 100 NĂM TRƯỚC


x

 


Bộ ảnh hiếm quý v
NGƯỜI VIỆT NAM 100 NĂM TRƯỚC

Máy ảnh ra đời từ năm 1826 tại Pháp, vì vậy các thuộc địa ở Đông Dương, gồm cả Việt nam, đã có ảnh chụp từ rất sớm và có mặt trong những thước phim đầu tiên. Dưới đây là chùm ảnh hiếm về con người Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ 19.


Nữ nghệ sĩ đàn tranh Sài Gòn sang Pháp biểu diễn ở Hội chợ thuộc địa Marseille năm 1906.


Vua Duy Tân đăng quang lúc 7 tuổi năm 1907.


Nghệ sĩ hát bộ ở Nam kỳ năm 1890.

Nơi giúp bạn khám phá những điều bí ẩn của cuộc sống và nuôi dưỡng tâm hồn. Xem bài viết hay về Tâm linh, đọc và suy ngẫm …


Nhà bác học Jean-Baptiste Pétrus Trương Vĩnh Ký và một lớp học của ông vào khoảng năm 1865.

Đoàn sứ bộ An Nam sang Pháp xin chuộc đất (3 tỉnh miền Đông bị Pháp chiếm) năm 1863, Chánh sứ Phan Thanh Giản ngồi giữa, ảnh này bị thiếu một người quan trọng: Thông ngôn Trương Vĩnh Ký. 
(Ảnh: Emile Gsell)

Săn cọp ở Nam kỳ đầu TK 20.
 

Chuyện lạ có thật mới nhất, chuyen la viet nam, những chuyen kho tin nhưng có thật, chuyen la the gioi, chuyen la do day….




Những người phụ nữ đang đánh bài ở Sài Gòn đầu thế kỷ 20.

Những em bé Saigon đầu thế kỷ 20.

Nam kỳ, Chợ Lớn – người Hoa đang nhổ lông vịt, khoảng năm 1920.


Nam kỳ, người Việt bản địa chăm sóc cá sấu (trong vườn thú công viên) ở Mỹ Tho, năm 1912.


Nha Trang – Khánh Hòa năm 1926, những người phụ nữ đang phụ đúc bê tông.


Một trong những tấm ảnh màu đầu tiên năm 1913
Quan Tổng đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu và gia đình.

Tổng đốc Hà Đông – Hoàng Trọng Phu.


Nghệ sĩ Năm Phỉ hồi thơ ấu (1916) và thời hoàng kim (1936).


Hiệp biện đại học sĩ – Quan Khâm sai – Chánh sứ Phan Thanh Giản 1863. 

Hình chụp tại Paris nhân dịp ông dẫn đầu sứ bộ sang Pháp để xin chuộc đất. Ông quê ở làng Bảo Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Đậu cử nhân năm 1825, năm sau đậu tiến sĩ, ông là người đạt học vị cao nhất đầu tiên ở Nam Kỳ. Tính tình cương trực và thanh liêm, Phan Thanh Giản làm quan nhà Nguyễn trải qua ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và cũng từng bị giáng chức rồi lên chức nhiều phen”… Cho tới những ngày đầu năm 2008, Viện Sử học Việt Nam mới thống nhất kết luận rằng “Phan Thanh Giản là người nổi tiếng về đạo đức, có nhiều đóng góp trong lịch sử dân tộc; nên đề nghị tôn vinh ông, cho khôi phục, tôn tạo những di tích và những gì gắn liền với ông”; và đã được giới chức chấp thuận…

Vua Quang Trung – Nguyễn Huệ và Vua Gia Long – Nguyễn Ánh, 2 đối thủ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ 18.
Đây là 2 chân dung đã được đánh giá là chân thực nhất về hai ông được tái hiện từ những tranh vẽ xưa, tiền xưa do Pháp và nhà Thanh vẽ.


Tứ đại mỹ nhân Hà thành năm 1930, từ trái qua, trên xuống:
cô Phượng Hàng Ngang, cô Síu Cột Cờ, cô Nga Hàng Gai và cô Bính Hàng Đẫy.


Vua Thành Thái năm 1900, 21 tuổi – vị vua thứ 10 của triều Nguyễn.


Đôi vợ chồng người Bắc (Tonkin) khoảng năm 1890. Áo tơi bằng lá mà cô gái mặc
cho đến nay vẫn còn được sử dụng và có một làng ở Hà Tĩnh chuyên sản xuất nó.


Cụ Đề Thám và các con năm 1890 (có nơi ghi là cháu).


Một cụ ông người Bắc (Tonkin) làm nghề thợ săn – năm 1890.

NGỌC LỆ :Đôi nét về đình làng ở Tiền Giang


Thứ Tư, 07/09/2016, 15:40 (GMT+7)

Theo nhiều tư liệu, đình làng là nơi thờ Thành hoàng, các vị thần thiên nhiên, người có công với làng; nơi hội họp dân; nơi nghỉ chân của người lỡ đường…

Có lẽ đình làng có từ thời Lê sơ và định hình vào thời nhà Mạc. Trước đây, đình có 3 gian chính: Gian giữa không có sạp, gian trong thờ Thành hoàng và 2 chái. Cuối thế kỷ XVII, từ gian giữa kéo dài về sau gọi là “chuôi vồ”, tạo cho đình mang kiểu chữ đinh. Đến cuối thế kỷ XVIII, đình làng được bổ sung tòa tiền tế, xây dựng dựa trên nguyên tắc của thuật phong thủy, các yếu tố nghiêng về trang trí và chạm khắc.

Anh Lê Tấn Thông đang lo hương khói cho đình Tân Đông, chỉ tay giới thiệu nét đẹp của 2 bộ rễ bồ đề ôm lấy 5 vòm cửa.
Anh Lê Tấn Thông đang lo hương khói cho đình Tân Đông, chỉ tay giới thiệu nét đẹp của 2 bộ rễ bồ đề ôm lấy 5 vòm cửa.

Có thể định nghĩa: Đình làng là một thiết chế văn hóa – tín ngưỡng tổng hợp, có 3 chức năng: Tín ngưỡng, hành chính, văn hóa đan xen, hòa quyện với nhau, khó có thể phân biệt chức năng nào có trước.

NÉT ĐẸP VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ VĂN HÓA

Đình làng ở Tiền Giang cũng có chung bản sắc văn hóa, tín ngưỡng của vùng Nam bộ. Đình Điều Hòa ở phường 2, TP. Mỹ Tho là 1 trong 4 ngôi đình được cấp Bằng Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia. Ngoài giá trị về kiến trúc trên 200 năm, đình Điều Hòa còn là nơi tín ngưỡng của người dân, mỗi năm có 2 lệ cúng vào ngày 16, 17 và 18 của tháng 2 và tháng 10 âm lịch (ÂL).

Mỗi lệ cúng có hàng ngàn người dân đến cầu an, dâng lễ vật và xem hát bội. Hiện đình Điều Hòa vẫn còn giữ nguyên những hoạt động văn hóa này. Ngoài 2 lệ cúng trên, đêm giao thừa, người dân chen chân đến đình Điều Hòa cầu an, xin lộc và nơi đây cũng là điểm đến của những nhà nghiên cứu, khách du lịch.

Mùa lễ hội cúng đình, chúng tôi theo chân nhóm hát bội Bầu Lân đến xem hát ở đình Phú Kiết (huyện Chợ Gạo), chứng kiến cảnh náo nức, nhộn nhịp của hội hè truyền thống. Từ xa đã nghe tiếng trống chầu rộn rã, người già mặc áo dài, khăn đóng nghiêm trang; lớp trẻ chỉnh tề áo mới đủ sắc màu nhưng kín đáo; trẻ con được theo người lớn quỳ lạy và được ngồi vào bàn ăn uống.

Nơi vỏ ca (sân khấu nhỏ của đình), lúc suất hát diễn ra, người người chen nhau ngồi, lớp trước, lớp sau; người lớn tay quạt, tay nách con bên cạnh; trẻ con há hốc cả miệng với những lớp tuồng hát bội trang phục lộng lẫy, vũ đạo tinh thông, múa kiếm, vung đao chớp nhoáng và những tràng vỗ tay cho những pha đi gối của cô đào Hương Thanh Thảo (con gái Bầu Lân). Ngoài những hoạt động trên, còn có một nghi lễ không thể thiếu của Ban Hương đình là lễ tế thần, dâng trà, dâng hoa quả, hương, đăng…

GIỮ GÌN VÀ TÔN TẠO

Hiện nay, rất nhiều ngôi đình cổ xuống cấp do thời gian hoặc chậm trùng tu, điển hình là đình cổ Thân Nhơn (xã Thân Cửu Nghĩa, huyện Châu Thành), đình cổ Tân Đông (xã Tân Đông, huyện Gò Công Đông)…

Có lần theo diễn giả Hồ Nhựt Quang (môn sinh của cố GS-TS Trần Văn Khê) làm phóng sự truyền hình về đình cổ Thân Nhơn, thấy đình bị xuống cấp trầm trọng, mặc dù người dân nơi đây luôn góp sức tu sửa nhưng họ không đủ sức. Tính từ ngày vua Tự Đức ban 2 sắc thần cho đình đến nay đã hơn 160 năm (ngày 29-11-1852), nên toàn ngôi đình chỗ mối mọt tung hoành, chỗ mục nát, ngói tuột xuống…

Ông Ngô Văn Cậy, Phó Ban Khánh tiết đình bức xúc: “Ước mong đại tu lại đình, nhưng không có kinh phí, mong Nhà nước và bà con chung tay sửa sang để lưu giữ ngôi đình…”.

Đình cổ Thanh Hòa (đình Bang Lãnh, phường 5, TX. Cai Lậy) ), khu chánh điện đã được phục xây.
Đình cổ Thanh Hòa (đình Bang Lãnh, phường 5, TX. Cai Lậy) ), khu chánh điện đã được phục xây.

Ở khu phố 5, phường 5, TX, Cai Lậy, ngôi đình cổ Thanh Hòa (người dân quen gọi đình Bang Lãnh) khu chính điện đã được phục xây. Anh Nguyễn Văn Bé Sáu thừa kế nhang khói đình của mẹ mình là bà Nguyễn Thị Sáu (đã mất), cho biết, khởi công từ tháng 12 ÂL năm 2015, chính điện đã hoàn thành.

Việc phục chế lại các hoành, liễn, tranh, chữ, trang trí nội thất do chị Lê Huân góp công sơn vẽ. Ban Khánh tiết đôn đốc, theo sát nhân công để kịp cúng lệ đình. Ngày 17-6 ÂL là ngày cúng lệ đình, cũng là ngày khánh thành công trình phục xây chính điện (còn kỳ cúng cuối vào ngày 17-11 ÂL).

Trong niềm hân hoan đó, ông Huỳnh Văn Hiệp, nguyên Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL, Trưởng Ban vận động sửa chữa đình chia sẻ: “Kinh phí phục xây chính điện khoảng 600 triệu đồng. Bà con góp thêm tiền và hiện vật (sắt, xi măng, gạch…) để sửa lại nhà khách, nhà bếp bị đổ nát.

Tôi mong bà con tiếp tục đóng góp để phục xây hoàn chỉnh đình (đang xây hàng rào) để kịp làm lễ đón nhận Bằng Di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh. Theo bài vị, đình Bang Lãnh thờ ông Huỳnh Tấn Chiêu, có công xây cất đình khoảng năm 1811, cùng thời ông thành lập chợ Cai Lậy”.

Cũng trong cảnh “già nua”, đình Tân Đông (ấp Gò Táo, xã Tân Đông, huyện Gò Công Đông) đang “hấp hối”. Ngôi đình này đã được cấp Bằng Di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh và Sở VH-TT&DL đã hoàn thành bản vẽ để đại trùng tu.

Anh Lê Tấn Thông, 49 tuổi, cho biết: “Ba tôi là ông Lê Văn Rớt từng làm ông từ của đình, đã mất hơn 5 năm nay. Tôi thay cha hương khói cho đình. Nhiều lần cán bộ tỉnh xuống khảo sát, nhưng mãi tới nay chưa thấy động tịnh gì trong khi ngôi đình sụp đổ gần hết”.

Sức “quyến rũ” của đình Tân Đông là 5 vòm cửa cổ kính, được rễ 2 cây bồ đề quấn lấy tạo thành một bức phù điêu sống động, như cố níu giữ nét vàng son, cổ kính của ngôi đình. Trên vòm cửa còn đề năm 1907, theo những người cao niên thì đó là năm đại tu lại đình, còn đình có từ lâu lắm.

Hiện 4 phía vách của 3 gian chính điện đa phần được rễ của những cây bồ đề ôm lại, phần lớn đã sụp đổ vách và mái ngói trống trơn; mái đình được che bằng mấy tấm nhựa, gió thổi phập phồng không biết bay đi lúc nào…

Ấy vậy mà mỗi lệ cúng đình (đình Tân Đông mỗi năm 4 kỳ cúng vào các ngày 16, 17, 18 của các tháng 2, 5, 8 và tháng 11 ÂL), người dân vẫn góp tiền, góp lễ vật cúng đình. Trong lời cầu nguyện của họ có cả lời cầu mong cho đình mau được sửa chữa để chỗ cúng thần được đàng hoàng hơn.

Chúng tôi mang những thắc mắc của người dân đến Sở VH-TT&DL, được ông Trần Thanh Phúc, Phó Giám đốc Sở diễn giải:

“Chúng tôi đã khảo sát, lên bản vẽ đại tu lại đình khoảng 10 tỷ đồng, nhưng do tình hình ngân sách khó khăn nên chúng tôi lên kế hoạch sửa chữa chính điện trước (khoảng 2 tỷ đồng) mà vẫn chưa có kinh phí. Năm nào Ban Giám đốc Sở VH-TT&DL cũng nhắc Sở Kế hoạch và Đầu tư, nhưng đều nhận câu trả lời “chờ kinh phí”.

Một số cán bộ người Gò Công làm ăn xa cũng có nhã ý sẽ vận động đóng góp sửa đình nhưng đến nay chưa có hồi âm. Chúng tôi rất xót xa khi thấy đình xuống cấp trầm trọng, bởi nét kiến trúc cổ kính, độc đáo của đình đã được tỉnh cấp Bằng công nhận Di tích lịch sử – văn hóa…”.

Những bậc cao niên ngày đêm trăn trở, mong ngôi đình làng của mình được kiên cố, an toàn, với sự trang nghiêm vốn có, để được khói hương thờ phượng, tỏ lòng tôn kính bậc tiền nhân đã khai hoang mở cõi, góp phần giáo dục thế hệ hôm nay biết nhớ nguồn, thương cội.

NGỌC LỆ

http://baoapbac.vn/van-hoa-nghe-thuat/201609/doi-net-ve-dinh-lang-o-tien-giang-697728/

CÁT KHUÊ : Phim của Trần Anh Hùng ra mắt cùng sách ​Nét duyên góa phụ


17/08/2016 10:30 GMT+

TTO – Cuốn sách Nét duyên góa phụ (từ nguyên tác L’élegance des veuves của nữ văn sỹ Alice Ferney) sẽ được ra mắt cùng thời điểm với bộ phim Éternité (Vĩnh cửu) ra rạp tại VN.

Phim của Trần Anh Hùng ra mắt cùng sách Nét duyên góa phụ
Poster phim Vĩnh cửu tại VN

Nhà phát hành Vĩnh cửu tại VN – The Green Media vừa công bố chính thức sự kiện đặc biệt của đầu tháng 9, khi đạo diễn Trần Anh Hùng cùng nhà sản xuất Christophe Rossignon (Xích lô, Mùi đu đủ xanh) sẽ có mặt ở VN để ra mắt phim Vĩnh cửu và ký tặng trong buổi ra mắt cuốn sách Nét duyên góa phụ do Lê Ngọc Mai chuyển ngữ, Nhã Nam và NXB Hội nhà văn ấn hành.

L’élegance des veuves  là chính là nguyên tác để đạo diễn Trần Anh Hùng chuyển thể thành kịch bản phim Vĩnh cửu.

Những hoạt động này cũng nằm trong khuôn khổ các chương trình văn hóa chào mừng chuyến thăm Việt Nam đầu tháng 9 của Tổng thống Pháp Francois Hollande.

Trong lời giới thiệu về cuốn sách Nét duyên góa phụ, nhà phát hành cho biết đây là một cảm giác mà “...Theo cách ấy, một quá trình không có hồi kết thúc đẩy những người đàn bà kết hôn, sinh con rồi chết đi. Thời gian cứ thế trôi, điểm nhịp cho nó là những lần sinh và những cái chết, khi nhu cầu được truyền lại dòng dõi chiến thắng nỗi tuyệt vọng vì mất đi một người thân yêu.

Một sợi dây ham muốn vắt từ thế hệ này sang thế hệ khác. Với lối viết vô cùng đặc biệt, khi thì trôi chảy, dài dòng tựa như hơi thở, khi thì chính xác, thậm chí gai góc, cuốn tiểu thuyết là một lời ngợi ca cuộc sống và thiên chức làm mẹ thiêng liêng của người phụ nữ”.

Phim của Trần Anh Hùng ra mắt cùng sách Nét duyên góa phụ
Bìa sách Nét duyên góa phụ

Trong Vĩnh cửu, các diễn viên hàng đầu nước Pháp hóa thân vào các nhân vật gồm: Audrey Tautou là Valentine, Bérénice Bejo là Gabrielle, Mélanie Laurent là Mathilde, Jérémie Renier là Henry và Pierre Deladonchamps là Charles.

Phim được chính thức công chiếu tại VN từ 9-9.

>> Trailer tiếng Việt của Vĩnh cửu:

HỒ ĐĂNG THANH NGỌC : Du Tử Lê về lại trong thinh không Huế


13/08/2016 21:42

Ông trở lại và ngồi đó trong thinh không Huế, như đang nghe tiếng ngày xưa của nửa thế kỷ trước quay về, trong gió hoài niệm miên man…

Hôm 13-8, Du Tử Lê từ Mỹ trở về Huế, xứ sở mà nhà thơ đã có dịp nhiều lần ghé đến trong hàng chục năm trước.

Nặng lòng với cố đô

“Tôi hồi hộp lắm, bao nhiêu kỷ niệm cũ ùa về” – nhà thơ nói. Năm 1972, ông về Huế tìm người đẹp Hạnh Tuyền đã thư từ qua lại trước đó, bấy giờ đang là sinh viên năm 2 ĐH Sư phạm Huế. “Huế lúc đó là một cố đô quyến rũ, cảnh quan và sinh hoạt của dân chúng khác hẳn với những nơi trước đó tôi đến. Lần đầu gặp Hạnh Tuyền, nghe cô nói chuyện với bạn gái mà cứ như tiếng một đàn chim đang ríu rít” – ông nhớ lại và nở nụ cười cỏ hoa lịch lãm.

Chân dung Du Tử Lê (tranh Đinh Cường)
Chân dung Du Tử Lê (tranh Đinh Cường)

Hồi đó, ông theo Hạnh Tuyền về biển Thuận An và xúc cảm sáng tác bài thơ “Khi ở cửa Thuận An”:

“Về thôi trăng ngủ dưới triền

Sóng lao xao dội tự miền tịnh yên”…

Yêu nhau 3 năm, sau đó ông định cư ở Mỹ, xa cách người yêu. Phải đến năm 1992, Du Tử Lê mới có thông tin về Hạnh Tuyền, ông lập tức về Việt Nam. Ông theo Hạnh Tuyền ra Huế và từ đó chính thức làm chàng rể xứ này. Sống với Hạnh Tuyền, ông có những bài thơ làm bằng giọng/tiếng Huế “đặc sệt”, như “Yêu dấu nợ, T. ơi ngày nước lớn”:

“Yêu dấu nợ! trời nép mình lá sắn

Chiều chi mô buồn thấu suốt bên tê

Mưa do dỏ, ướt chùm hoa do dỏ

Chân chưa đi; hồn tợ cửa sông, về

Lênh láng chảy một đời sông An Cựu

Biết bên mô trong, đục nữa, bây chừ?

Yêu dấu nợ! Hồn ta lăng tẩm đó

Phá, rời đi, tình vẫn dớ quay về”

Nhiều bài thơ viết về Huế, không có nơi chốn địa chỉ nhưng phảng phất một Huế âm trầm, da diết. Những bài thơ như “Dòng suối trăm năm”, “Đừng nữa nhé chia lìa” là cảm giác gắn kết Huế thường trực trong tâm khảm nhà thơ. Trong thời gian ông và Hạnh Tuyền xa nhau, Du Tử Lê hướng về tình yêu của mình với người đẹp Huế qua bài thơ “Quê hương là người đó” đã được Phạm Đình Chương phổ nhạc.

Chuyện của Du Tử Lê với Huế làm người ta thấy có gì đó rất giống với trường hợp của họa sĩ Đinh Cường: “Ra đi mới biết lòng vô hạn/ Sương có mờ thêm trên sông Hương”. Theo Bửu Ý, sự mềm mại trong tranh, sự nhẹ nhàng chân tình trong ứng xử của Đinh Cường có khởi thủy từ người mẹ và người vợ rất mực Huế của ông.

Tài danh, khác biệt

Du Tử Lê là một nhà thơ mà tài thơ của ông được nhiều người ghi nhận. Ông sinh năm 1942, làm thơ từ năm 1953 và đã có thơ in trên các báo thời đó ở Hà Nội. Bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức từ năm 1958 trên tạp chí Mai. Ông đã xuất bản trên 70 tác phẩm, trong đó các năm 2014, 2015, tập thơ “Giỏ hoa thời mới lớn” và tập “Tùy bút chọn lọc” của Du Tử Lê đã xuất bản ở Việt Nam. Từ năm 1981 đến nay, ông có nhiều buổi thuyết trình tại các trường đại học ở Mỹ, Pháp, Đức, Úc… Những năm 1990 về sau, thơ ông được một số trường đại học nước ngoài dùng để giảng dạy cho sinh viên. Du Tử Lê là 1 trong 6 nhà thơ Việt Nam thuộc thế kỷ XX có tác phẩm được chọn in trong tuyển tập “Thi ca thế giới từ thượng cổ tới hôm nay” (World Poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time” do W.W Norton New York ấn hành năm 1998).

Theo nhiều người, thơ tình Du Tử Lê vẫn trội hơn cả như thể đó chính máu huyết nhà thơ, với nỗi say đắm tận cùng, những tha thiết đằm sâu… Nhiều khi, tình yêu đã vượt qua câu chuyện riêng tư để trở thành câu chuyện của quê hương, xứ sở.

Thơ ông có nhiều cách tân, rõ nhất là cách chấm, phết, gạch chéo cắt lìa nghĩa chữ, xô dạt thành những lớp nghĩa khác nhau, khiến nhiều khi câu thơ, đọc mỗi lần một khác.

Một điều thú vị là thơ Du Tử Lê được phổ nhạc rất nhiều, đến hàng trăm ca khúc. Các nhạc sĩ danh tiếng như Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Anh Bằng, Từ Công Phụng, Đăng Khánh, Trần Duy Đức, Khang Thụy… đều có những nhạc phẩm hay phổ từ thơ Du Tử Lê. Một trong những nhạc phẩm nổi tiếng do nhạc sĩ Anh Bằng phổ thơ ông, “Khúc Thụy Du”, được xem là một trong những bản tình ca hay nhất.

Ngoài ra, nhà thơ tài danh này còn vẽ tranh, chỉ riêng năm 2012, ông đã có 4 cuộc triển lãm cá nhân tại Houston, Seattle, Virginia, Atlanta (Mỹ).

Chiều 13-8, Du Tử Lê đã đến Huế và ngồi bên sông Hương ngắm cỏ. Chợt nhớ một câu thơ rất lạ của ông: “Chỗ sâu: lũng cỏ. Khe tì vết, quen”. Cỏ sông Hương chiều vàng xanh ngát đang trực diện với ông, không ngút ngàn như trong Kiều (Nguyễn Du): “Cỏ non xanh rợn chân trời”, hay tiếng thở dài của cỏ trong Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Tôi từ cỏ sinh ra”: “Có nhiều khi tôi quá buồn/ Tôi ước mong quanh chỗ tôi ngồi/ Mọc lên thật nhiều cây cỏ”… Cỏ của Du Tử Lê thường trực xô dạt và lay động một tâm thức khác, như thức nhận, như lục lọi miền ký ức thương yêu…

Chiều 14-8, nhà thơ có cuộc giao lưu “Du Tử Lê và bằng hữu” dành cho công chúng Huế. Từ nhiều hôm trước, khi nghe Tạp chí Sông Hương, Hội Nhà văn Thừa Thiên – Huế, Công ty Văn hóa Phương Nam tổ chức sự kiện rất vui này, nhiều người đã truyền tin nhau đến để thấy ông bằng xương bằng thịt, nghe ông nói chuyện thi ca…

Hồ Đăng Thanh Ngọc

VIỆT HẢI : Sự Thật Đời Tôi – Hồi Ức Nguyễn Thanh Liêm


 

Sự Thật Đời Tôi – Hồi Ức Nguyễn Thanh Liêm

ntliem 1.png

 

Dòng chữ trên bìa trước sách mới, một tác phẩm của GS. Nguyễn Thanh Liêm vừa được xuất bản. Cái đề tựa sách được in dưới hình của tác giả, một người đàn ông rất điển trai trong bộ semi-complet, áo vest màu xanh dương lợt và quần xanh dương đậm, hai mầu bắt mắt cho phong thái phục sức trang nhã, lịch lãm của tác giả. Sách in bìa cứng, dày 280 trang, in trên giấy dày láng, bìa sau là tiểu sử thu gọn của tác giả.

 

Tôi chú ý nhiều về cách tác giả cho tên tựa. Trong sự suy nghĩ của tôi có hai yếu tố “Sự Thật” và “Thanh Liêm” đã bổ túc cho “Hồi Ức Đời Tôi”. Tác giả là một vị “quan văn” có lúc làm cho Phủ Tổng Thống, và làm Thứ Trưởng về Văn Hóa Giáo Dục nhưng sự đức độ của ông bám sát theo cái tên tiền định của ông. Còn yếu tố “Sự Thật” có nghĩa là nói về những việc có thật, không ngụy tạo, thêu dệt ra. Trong phạm trù ngôn ngữ học “Sự Thật” là từ ngữ ghép chính và phụ. “Sự” là phần chính của từ ngữ này, trong khi “Thật” là phần phụ bổ túc rõ nghĩa cho phần chính. Cho nên “Sự” là diễn biến, diễn trình mà ta quan sát thấy, sự việc diễn ra chứng kiến được, còn phần “Thật” là đúng như thật, chân thực. Cho nên chữ “Sự Thật”dùng trên sách cho thấy những diễn biến trong chuyện kể trong hồi ức là đúng như thật, được mô tả như trạng thái chân tâm của sự kiện đã diễn ra. Tác giả kể hết sự thật về cuộc đời và gia đình mình.

 

Tác phẩm này là một loại hồi ức hay tự thuật những sự việc đã xảy ra, dù ông là một hành chánh gia hay “quan văn” ở cấp khá cao trong xã hội, tôi muốn nói ông là một gương mặt của quốc gia, của cộng đồng hay của công chung, một “public figure”, nhưng sách này khác với những “political memoirs” thường thấy ở xã hội Hoa Kỳ mà cửa hiệu Barnes & Noble hay Amazon.com Online bày bán như: Madam Secretary: A Memoir, by Madeleine Albright; No Higher Honor: A Memoir of My Years in Washington, by Condoleezza Rice; My Life – by Bill Clinton; All the Best, George Bush; My Life in Letters and Other Writings, by George H.W. Bush; Barack Obama’s Dream’s from my Father, by Barack Obama; Duty: Memoirs of a Secretary at War, by Robert Gates; A Reagan Cabinet Memoir, by Terrel H. Bell; Law and Justice in the Reagan Administration: The Memoirs of an Attorney General, by William French Smith…

 

Tác phẩm này tác giả viết với mục đích để làm kỷ niệm tặng cho gia đình ông, rồi cho bạn bè, thân hữu, đồng nghiệp, nhân viên cũ, giới học trò,… Nó không mang mục tiêu chính trị như nhiều sách hồi ức hay hồi ký khác.

Như vậy trong 80 trang đầu của bề dày 280 trang tôi thấy có những chủ đề sự thật, viết bằng chân tâm, ví dụ như ở trang 3, tác giả ghi kính dâng cho tứ thân nội ngoại và song phụ mẫu, viết cho các con cháu, và rồi hai dòng kế khá nhạy cảm, “sensitive categories” là: “Gởi GS. Đào Kim Phụng” và phần cuối thì “Gởi DS. Nguyễn Thi Phương”. Như vậy hai người phụ nữ này là ai vậy ? Bạn bè Petrus Ký của tôi như Phan tất Đạt San Jose, Hồ Lịch Australia, Chu Quốc Hưng Australia, Nguyễn Trung Kiên Germany, Dương Anh Dũng Germany, hay Nguyễn Ngọc Linh San Jose,… không biết gì cả. GS. Đào Kim Phụng dạy Anh Văn, du học tại Hoa Kỳ lấy bằng Master về Anh Ngữ về nước, chuyện ngày xưa trước 1975, cô là giáo sư dạy nhiều học sinh của nhiều trường, trong các học sinh cũ có ba nhạc sĩ mà nhiều người biết là Ngô Thụy Miên, Đức Huy và Võ Tá Hân. GS. kiêm BS. Trần Văn Thuần từng dạy tại trường Gia Long kể rằng cô Đào Kim Phụng thuộc gia đình dòng dõi trâm anh nho gia, cô có nét duyên dáng mà bao nhiêu chàng trai theo đuổi, nhưng rồi vị thầy Nguyễn Thanh Liêm khôi ngô tuấn tú của kẻ viết bài đã chinh phục con tim của cô, nói theo các sách Mỹ ông “steal her heart”.

 

  1. Đào Kim Phụng hiện ở bên miền Đông (eastcoast), Virginia. Hai giáo sư Liêm và GS. Phụng đã chia tay nhau. Sách chỉ đề cập thoáng qua, hôn nhân nay biến thanh tình bạn cũ qua sự liên hệ con cháu.

 

Còn DS. Nguyễn Thị Phương hiện nay là hiền thê của GS. Liêm, cô Phương là một dược sĩ lo thuốc men cho bệnh nhân và kiêm “thầy thuốc” riêng cho thầy tôi. Chị cựu Hội trưởng Gia Long Quế Hương nhận xét cô Phương là người đẹp của sân trường Gia Long, vợ chồng tôi ghé thăm thầy cô và thấy rằng cả hai sống trong rất hạnh phúc. Tác giả sách có duyên nợ với sân trường Gia Long, ông chỉ chọn học trò Gia Long và lại âm vần tên “Ph.” mà thôi. Đây là sự thật nhiều người ở xa có thể chưa biết.

ntliem 2.png

 

Ở trang 17 tác giả đính chánh sự thật về ngày sanh bởi sự việc khi ở với ông ngoại, ông ngoại làm khai sanh ngày DL 3 tháng 4, năm 1933 ở làng Phú Túc (Mỹ Tho), thân mẫu của tác giả cho biết ngày đúng là ngày 12 tháng 3, năm 1933 DL. Nhưng khi về ở bên nội, làng Tân Hội Mỹ (Mỹ Tho), rồi làm giấy khai sanh mới với ngày 20 tháng 11 năm 1934. Sự thật thì ở xứ ta khi ở nhiều thời kỳ do chiến tranh loạn lạc, chạy nạn và tình trạng tổ chức giấy tờ của hệ thống khai hộ tịch tùy tiện, cho nên ngày sanh thường sai sự thật. Nhưng hiện tại tác giả chọn ngày sau cùng do ông nội khai, tức sinh nhật vào ngày 20 tháng 11, năm 1934.

 

Đọc đoạn văn sai ngày sanh tôi bỗng nhớ một trường hợp khác. Như trường hợp Nhạc sĩ Anh Bằng kể tôi nghe ông sinh năm 1927, gia đình chạy giặc Tây, xứ sở loạn lạc, nên khi làm khai sanh mới bản hộ tịch cho ông sanh sớm hơn một năm, tức ông sanh năm trên giấy tờ 1926.

ntliem 3.png

Trường hợp của người viết bài chia chung số phận, ngày đúng không xài, nhưng xài ngày của người ta. Ngày sanh thật đúng ra là ngày 3 tháng 11 năm 1953, thân mẫu tôi đi làm khai sanh cô thơ ký lẫn lộn khai sanh 2 đứa trẻ là tôi và một cô gái, cô thơ ký lấy ngày của cô gái cho tôi, tức ngày 7 tháng 12 năm 1953. Hóa ra cô gái kia may mắn hưởng tiền già Obama sớm hơn tôi một tháng vì cô thơ ký lẫn lộn. Mẹ tôi yêu cầu cô thơ ký sửa lại, cô bảo mộc đã đóng dấu, xếp lỡ ký tên xong rồi, ông xếp bận lắm, “chuyện nhỏ” cứ cho cháu bé sau này ăn tiền hưu trễ như ông thầy Liêm của cháu vậy. Dòng này tôi cám ơn lục sự cho tôi nghỉ hưu trễ hơn thực tế. Trang 17 này là dịp tác giả đính chánh cho rõ ngày sanh cho biết sự thật lên giấy trắng mực đen.

 

Sự thật khác tôi ghi nhận ở trang 70 (mục Thanh Niên Tiền Phong) đến trang 79 (mục Khóa Học của Việt Minh) cho thấy tác giả bị hoàn cảnh thời cuộc lôi kéo khi Nhật đảo chánh Pháp năm 1945 (tác giả được 12 tuổi), người Việt nhân cơ hội đó nổi lên chống giặc Tây, Việt Minh mà những phần tử theo CS trà trộn đã lợi dụng phong trào yêu nước đấu tranh chống Pháp. Tác giả là nhạc trưởng một ban nhạc thiếu nhi, mang tên Đời Sống Mới. Đọc sách này tôi mới biết tác giả chơi violon và guitar.

 

Khả năng học vấn vững nên ông học nhảy lớp. Đầu thập niên 1950 tác giả thi đậu vào Collège Le Myre De Villers. Bạn đồng môn là GS. Lâm Văn Bé bên Canada đã kể rằng GS. Liêm học rất siêng và giỏi. (xem tham khảo #1).

Tác giả theo thân phụ lên Saigon, và vào học Petrus Ký lớp đệ nhất (première classe), niên khóa 1953-1954. Tác giả kể nhiều kỷ niệm về ngôi trường Petrus Ký. Tốt nghiệp trung học, vào học đại học ngành Sư Phạm. Ra trường trở về dạy tại Petrus Ký.  Có lúc lên làm Hiệu Trưởng tại đây. Trang 122 kể về mục ông làm Tổng Thơ Ký Hội Đồng Thi Tú Tài II. Tác giả cho biết ở trang 126-129 đã đậu Cử nhân Giáo khoa và Cao học Văn Chương Việt Nam.

 

Tác giả cho biết có quen mấy cô bạn gái, nhưng không nên duyên. Trong khi song thân không muốn tác giả ở cảnh “cha già con mọn”, nên sớm có con nối dòng dõi, tác giả vốn là con một nên lấy vợ. Tác giả đã 25 tuổi mà chưa có vợ. Ở niên kỷ thuở trước con trai mà 30 mà chưa yên bề gia thất xem như “quá date”. Đọc sách thầy tôi, tôi càng buồn cho phận mình vì khi cưới vợ sanh con đầu lòng năm 40 tuổi. Năm 47 chở con trai tôi đi học, xong một buổi chiều, xe tôi vừa trờ tới trường rước con, tôi mục kích thấy con tôi xô cô bạn gái học lớp té lăn cù, tôi hoảng hồn chạy xuống đỡ cô bé Mỹ tóc vàng hoe lên, cô khóc ngất. Tôi hỏi Nam tại sao làm như vậy, Nam nói “She said you’re my grandpa, I hate her!”.

 

Tôi giật mình bổ ngửa mình ở thế hệ ông nội của các cháu nhỏ. Bởi thế con tôi vẫn muốn bố nó trẻ thôi. Mẹ cô bé Mỹ đến rước con, tôi xin lỗi bà muốn gẫy lưỡi, và thuật lại những gì xảy ra, bà cười xòa. Nam xô ngã Liz vì cô bé la to: “Nam, your grandpa comes!”. Tôi không trách Liz khi tóc tôi chấm muối tiêu, chống gậy thì không grandpa là gì. Trong khi ở tuổi 80 thầy Liêm tóc điểm bạc, nhưng nhân dáng beau trai phương phi, không cần gậy như tôi 60. Tôi nhớ rõ như vậy.

 

Tóc thầy điểm bạc phong sương

Mấy cô gái trẻ các trường khen “beau”!

 

Rồi ngọn gió tình yêu thổi đến, tác giả gặp cô Phụng, cô học rất giỏi, thi Tú Tài hạng cao, và được giải khen thưởng của Tổng Thống phủ. Cô Phụng là người đồng hương gốc cùng làng Phú Túc, thích đàn violon, và có nét duyên dáng khiến thầy tôi xao xuyến ưng ngay. Thầy cô sống chung có hai người con, Thùy Linh là con gái lớn và con trai Bửu Lâm. Cả hai đỗ đạt bằng cấp cao và đã có gia đình. Hai người con này hiện gia cảnh hạnh phúc với các con học vấn giỏi giang.

 

Sự thật của sách ở trang 141, tác giả cho biết  Bình Dương nơi ông nhận nhiệm sở Hiệu Trưởng trường Trịnh Hoài Đức, là tỉnh theo Cách Mạng 01/11/1963 sớm nhất. Bình Dương nơi đóng đô của Sư đoàn 5 Bộ binh do Đại tá Nguyễn Văn Thiệu làm Chỉ huy trưởng. Ông Tỉnh Trưởng tỉnh Bình Dương và vị Chỉ huy trưởng Sư đoàn 5 BB đều theo phe Cách Mạng của ông Dương Văn Minh.

 

Trang 151 cho biết tác giả làm Chánh thanh tra và Trưởng ban soạn đề thi Tú Tài. Sang trang 156, tác giả kể về mục “Bài Thi Trắc Nghiệm Đầu Tiên” mà tác giả đề nghị lên ông Bộ trưởng giáo dục cho thử nghiệm vì lối thi Tú Tài như hệ thống Pháp cho bài viết (essay) có khuyết điểm là đề thi không khảo sát nhiều chủ đề của học trình như lối thi trắc nghiệm (multiple choice). Giám khảo có thể chấm bài theo thiên kiến, chủ quan, hay giám khảo không đọc bài của thí sinh kỹ, xem qua loa rồi cho điểm đại vào. Hơn nữa lối thi cũ khó đáp ứng nhu cầu gia tăng nhân tài.

 

Sự thật thì công trạng của tác giả ở công tác lợi ích của sự đổi mới này. Xin xem tham khảo bài #2 (GS.Trần Bang Thạch đọc tác phẩm Kỷ Niệm với Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm).

 

Trang 158 vì nhu cầu thời chiến, tác giả gia nhập quân đội. Trang 160 ông được biệt phái làm chuyên viên Phủ Tổng Thống, ông lo về văn hóa, soạn thảo diễn văn cho Tổng Thống.

Biến cố Tết Mậu Thân xảy ra tác giả vào khóa 2/68 Thủ Đức. Phần tâm tình bạn của tác giả vào quân đội nhiều năm lên cấp Đại tá, như Đại tá Võ Văn Cẩm (Chánh văn Phòng Tổng Thống phủ).

 

Trang 170 tác giả thú nhận có mối tình cũ, ông thầy kể chuyện xưa. Cô Ng. vẫn còn độc thân, khi ấy tác giả đã có gia đình, họ hẹn nhau ở Nhà Thờ Đức Bà, cả 2 đều ngoại đạo, nhưng gặp nhau để ôn kỷ niệm xưa. Mối tình dang dở, không trọn vẹn đó thầy viết sách kể tình cũ tặng cô bạn gái, rồi trao sách cho cô Ng. để từ đó tình chết theo thời gian. Tôi vốn mê love story, mỗi lần xin bài nhà văn Nguyễn Thanh Liêm, thì ông chỉ cho bài biên khảo thực lòng tôi muốn thầy tôi cho chuyện tình như roman mà thôi. Khá tiếc. Một chuyện tình cũ thầy tôi kể lại toạc trên giấy trắng mực đen thật đúng với cái tựa của quyển hồi ức này.

 

Từ trang 172 đến trang 192 tác giả tâm tình về sự liên hệ trong phạm vi văn hóa giáo dục với ông Tổng Trưởng Ngô Khắc Tỉnh mà trong sách tác giả cho đăng nhiều hình ảnh kỷ niệm với ông Tổng Trưởng.

 

Từ trang 207 đến trang 208 đến 216 tác giả kể về những thay đổi tại miền Nam sau khi mất miền Trung. Thủ tướng Trần Thiện Khiêm từ chức, Thứ trưởng Nguyễn Bá Cẩn lên thay. Bộ Văn Hóa Giáo Dục có vị Tổng Trưởng mới là TS. Nguyễn Duy Xuân thay thế DS. Ngô Khắc Tỉnh từ cức. Tổng Trưởng Xuân mời tác giả đảm nhận vai trò Thứ trưởng Văn Hóa Giáo Dục, những tháng cuối cùng của miền Nam ông phải lo ủy lạo cứu trợ các giáo chức và gia đình di tản từ miền Trung về miền phương Nam.

 

Khi ông Dương Văn Minh lên nhậm chức thì tình trạng của VNCH thật là rối răm, ở đường cùng khi sự di tản chiến thuật diễn ra ở các nơi, tác giả di tản theo đoàn tàu của HQ VNCH. Sang Mỹ, tiểu bang tiếp nhận gia đình ông là Iowa, nơi đây cô Phụng tốt nghiệp ngành Điện toán Thảo chương (Computer programming), tác giả trở lại đại học hoàn tất cấp Tiến sĩ Giáo dục.

 

Trang 234 gia đình tác giả dọn về tiểu bang California, từ Sacramento lại dọn về San Jose.

Ở tuổi già sức khoẻ suy kém, thân phụ mất, thân mẫu về ở với người em họ. Sự thật được tác giả ghi nhận trong trang 241 với đề tựa “Cuộc đời tang thương lúc về già”, giữa 2 vợ chồng có những bất đồng đi đến bất hòa và rồi phải ly dị, tác giả dọn ra ở riêng. Trang kế 42 tựa đề “Hai cô bạn đặc biệt”, hai cô đều đến với tác giả, tôi ngẫm nghĩ ở tuổi cao niên nét điển trai vẫn lôi cuốn những người nữ độc thân, nhưng chuyện giữa 2 đối tượng nữ này cũng làm cho tác giả khổ tâm.

 

ntliem 4.png

Các trang 243 đến 249 tác giả kể lại gặp gỡ lại các bạn mới cũ tại San Jose, ví dụ Võ Duy Thưởng, Nguyễn Văn Cẩm, Trần Thanh Điền, Nguyễn Bá Cẩn, Ngô Khắc Tỉnh, Trần Công Thiện,…

 

Trang 250 mang tựa vui tươi “Duyên Mới”. Khi tác giả đi những buổi hội họp đó đây, đến Hội Gia Long bà mai Mai mát tay chuyên se duyên mùa Valentine như một vị thánh linh Roman God of Love giới thiệu tác giả với cô Phó Tổng Thơ Ký của Hội Gia Long, chính là Dược sĩ Nguyễn Thị Phương, hiện nay là người hiền thê, mà tác giả ghi nhận là người bạn đời tâm đắc. Sau khi đám cưới tác giả về miền Nam nắng ấm vun xới “Duyên Mới” trong hạnh phúc bên nhau. Những lời thật lòng phản ảnh tựa sách, nhiều người bạn, fans, học trò tác giả, mà họ chưa biết cuộc sống riêng tư của vị thầy hay đồng nghiệp, hoặc thân hữu, tức tác giả sách này.

 

Trang 261 là mục “Đức  Tả Quân Lê Văn Duyệt Foundation- Tập San Đồng Nai Cửu Long”, đây là hai tổ chức văn hóa và văn học mà tác giả đã khai sinh ra, công sức ông bỏ vào rất nhiều, có nhiều người dang tay phụ giúp ông. Người phụ sự đắc lực và theo tác giả bền bỉ nhất là ông Nguyễn Quang Bâng, mà ngay ở trang đầu dòng tác giả đã đặc biệt cám ơn ông Bâng.

 

Trang 267 tác giả ghi nhận công tác “Hồ sơ về thềm lục địa Việt Nam” mà Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đã đệ nạp lên Liên Hiệp Quốc, người thừa kế Thủ tướng Cẩn để liên lạc về việc này ngày nay là tác giả.

 

Trang 270 mang đề tài “Lớn tuổi – Làm việc nhiều- Đau ốm”. Tác giả nhìn nhận mình làm việc quá sức, ông bị mổ tim, stroke, phổi có nước,… sức khỏe về chiều càng suy yếu.

 

Tác phẩm này đã được duyệt qua 3 giai đoạn: Những ngày niên thiếu của tác giả ở Mỹ Tho, những ngày trưởng thành và làm việc ở Sài Gòn, và những ngày ly hương sang Mỹ, làm việc và tuổi già đau yếu.

 

Một tập sách 280 trang, quan trọng nhất trong sự nhận định riêng tôi là trang cuối cùng số 274 (vì phần sau đó là những trang cuối mục lục). Trang 274 mang tên “Những Phút Cuối Cùng”, tôi đọc trong cảm động vì nó cho thấy lời để lại cho các thân nhân và bạn bè của ông, con cái, các cháu nội ngoại đều nên người. Ông có người vợ yêu thương ông. Và chung quanh ông nhiều người thương mến ông, nhưng ông nuối tiếc vẫn còn trong kiếp lưu vong, và song thân ông đã ra đi ở xa quê hương, bỏ xác nơi xứ người.

Dòng cuối cùng ông đã viết:

“Những phút cuối cùng của tôi sẽ chấm dứt bài viết ở nơi đây!”

ntliem 5 bis.png

 

Lời kết:

Với người viết bài, là một học trò Petrus Ký, một đàn em đi sau tác giả 20 năm, tôi theo dõi những hoạt động công ích của ông đã lâu, nhất là ở hai phạm vi văn hóa và giáo dục, tôi gọi ông là “Thầy” với tất cả những trân quý và ngưỡng mộ. Tôi ao ước sao cho sức khoẻ của ông bền vững và để ông sớm chứng kiến cảnh nạn Cộng Sản sẽ sụp đổ và quê hương ta bừng sinh trong tự do và tình người như ước nguyện của Thầy tôi.

 

Trần Việt Hải

Petrus K ý, TT-72, Lớp 12B4

—————————————————————————–

ntliem 6.png

Tham Khảo:

1/ Bài tham khảo #1:  (“Anh Liêm Như Tôi Đã Biết Từ Lâu” của GS. Lâm Văn Bé :

 

“Năm 1952, tôi lên Mỹ tho học và ở trọ nhà thầy Nguyễn An Ninh, giáo sư âm nhạc trường Trung học Le Myre de Villers (năm sau đổi tên là Nguyễn Đình Chiểu). Mỗi sáng, một cách đều đặn, khoảng 7 giờ rưỡi, anh Liêm ghé qua nhà trọ của tôi ở đường Ariès, để cùng với người bạn cùng lớp với anh là anh Nguyễn Kỉnh Đốc đi cùng với anh đến trường. Anh Đốc là người ở trọ lớn tuổi nhất và đang học lớp Première, lớp học cuối cùng của trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu thời ấy. Tính anh nghiêm nghị, tỏ vẻ đàn anh, rất siêng học, về đến nhà là cầm sách, ít khi nói chuyện với chúng tôi, đa số còn học bậc đệ nhất cấp. Anh có một bàn học riêng gần cửa sổ còn bọn chúng tôi thì phải học bài, làm bài, chung với nhau ở một cái bàn tròn ngoài nhà bếp. Khi anh Liêm đến, có khi anh Đốc đã sửa soạn xong thì cả hai đi ngay, có khi anh Liêm nán lại cùng ôn bài, hay làm bài chung. Tôi nhớ hai anh trả récitation những tác phẩm của Molière, Corneille và làm bài tập Vật Lý trong quyển Physique của Georges Ève. Anh Đốc đã ít nói mà anh Liêm còn ít nói hơn, họ rì rào với nhau, có khi anh Đốc cãi lớn tiếng về một vấn đề nhưng tôi thấy anh Liêm vẫn nhỏ nhẹ, thỉnh thoảng anh lấy gói thuốc Bastos rút một điếu thuốc gõ gõ trên bao giấy rồi châm thuốc thả khói lên trần nhà. Anh hút thuốc nhiều, môi thâm đen, và sau nầy tôi được biết trong lớp Première của anh còn có một anh Liêm nữa. Anh Lê Thanh Liêm được bạn bè gọi là «Liêm dế» vì nhỏ con, còn anh Nguyễn Thanh Liêm là «Liêm ghiền» và cả hai anh sau nẩy vẫn là đôi bạn thân thiết trong nghề giáo.

 

Khi đến trường, chúng tôi thường đi sau hai anh. Anh đi khoan thai, nhưng luôn ngó thẳng phía trước. Cử chỉ nghiêm nghị của anh khiến tôi rụt rè trước anh, nhưng lại tò mò muốn biết anh sinh sống ra sao. Buổi chiều, tôi thường đạp xe đi loanh quanh sau khi ăn cơm, và nhiều khi chạy qua nhà anh ở khu «Battambang» có con đường đá sỏi lồi lõm, đôi khi thấy anh ngồi tại bàn học qua cái màn cửa sổ.

Trong niên học ấy, thỉnh thoảng khi gặp nhau anh nói vài lời bâng quơ hay mỉm cười cho đến hè năm 1953, khi anh rời trường thì tôi cũng rời chỗ trọ đến «ăn cơm tháng» nơi nhà bà Năm Thưởng, thân mẫu của Đệ nhất phu nhân (bà Nguyễn Văn Thiệu) sau nầy, cho đến khi tôi ra trường và khi trở lại trường Nguyễn Đình Chiểu dạy học. Tôi không có cơ may nhìn thầy Năm Thưởng (Phạm Đình Thưởng) vốn hành nghề đông y sĩ, lúc thầy vĩnh viễn ra đi vì lúc ấy tôi đã lên Saigon học đại học nhưng đã cùng với thân quyến tiễn đưa Bác gái đến nơi yên nghỉ cuối cùng. Từ một cậu học sinh trọ học, tôi được hai Bác thương yêu như thân thuộc và tôi còn giữ được bao kỷ niệm thuở ấu thơ và trung niên nơi căn nhà số 1 đường Lý Thường Kiệt, Mỹ Tho.

 

Năm 1966, tôi gặp lại anh Liêm tại văn phòng của anh ở Nha Trung học khi anh làm Chánh Thanh tra đề thi. Năm ấy, chiến cuộc đang đến hồi ác liệt, và biến động Phật giáo ở miền Trung khiến nhiều thành phố phải đặt trong tình trạng thiết quân luật. Nha Trung học đang tổ chức kỳ thi Trung học toàn quốc nhưng việc điều động hội đồng giám khảo, đưa giáo sư từ nơi nầy đến nơi khác không thực hiện được vì đường giao thông bị gián đoạn nên trung tâm Huế phải sử dụng nhân sự tại địa phương. Vấn đề là làm sao đưa đề thi từ Saigon ra Huế, bởi lẽ thông thường người chánh chủ khảo đảm nhiệm luôn cả việc mang đề thi từ Saigon đến nơi mình phụ trách hội đồng thi. Vừa được đề cử làm Giám Học ngôi trường mà tôi đã học, tôi nhận được sự vụ lệnh phải mang đề thi ra Huế.”

 

 

2/ Bài tham khảo #2:  Nhà Văn Trần Bang Thạch đọc tác phẩm Kỷ Niệm với Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm:

“Về Giáo Dục:

Chúng ta hẳn còn nhớ trong thời thập niên sáu mươi, sau những biến động chánh trị kéo theo những rối ren tại các trường học, ông Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học Nguyễn Văn Trường đã ra quyết định chính ông sẽ ký giấy đuổi học những học sinh gây rối loạn nơi học đường. Rồi dưới thời chánh phủ Trần Văn Hương, nhiều đảng phái chánh trị, tôn giáo gây rối loạn ngoài xã hội và trong học đường, ông Tổng Trưởng GD Nguyễn Văn Trường ra Thông cáo số 1 đặt chánh trị ra khỏi học đường. Có lẽ đây là điểm móc quan trọng cho nền GD phát triển. Nhưng phát triển mà không đúng hướng thì GD sẽ đi lệch. May mắn thay, vào những năm cuối của thập niên sáu mươi và những năm đầu thập niên bảy mươi chúng ta có 1 người cùng các cộng sự của ông đã đưa nền GD đi đúng hướng. Đó là GS Nguyễn Thanh Liêm.

 

Sau thời gian làm HT ở Bình Dương và ở trường Pétrus Ký SG, GS về Nha Trung Tiểu học giữ chức Chánh Thanh Tra Trưởng Ban Soạn đề Thi, sau đó về Bộ Giáo Dục giữ chức vụ Phụ Tá Đặc Biệt ngang hàng Thứ Trưởng đặc trách Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục từ tháng 6 năm 1971. Ông cũng là Chủ Tịch Hội Đồng Cải Tổ Chương Trình, và Chủ Tịch Hội Đồng Cải Tổ Thi Cử. Nếu tính luôn cho tới ngày 30/4/75 thì ông là Thứ Trưởng GD trong nội các Nguyễn bá Cẩn.

Thời gian này, GS Nguyễn Thanh Liêm, người kiến trúc sư của ngôi nhà GD, mà theo GS Lâm Văn Bé thì:… “ông không phải là 1 kế hoạch gia khoa bảng du nhập cái nhìn bằng kinh nghiệm và kiến thức viển vông của xứ người mà trái lại, ông đã phối hợp và thực hiện các dự án phát triển GD bằng cái hiểu người và hiểu việc của ông”. Và theo GS Nguyễn Trung Quân, thì GS Nguyễn Thanh Liêm “ đã quyết định tiến hành một công vụ đúng với đường hướng giáo dục quốc gia, có lợi cho tương lai của tuổi trẻ và phù hợp với các nguyên tắc căn bản của nền giáo dục Việt Nam là dân tộc, nhân bản và khai phóng thì ông quyết tâm theo đuổi tới cùng cho đến khi thành tựu.”

Cho nên khoảng đầu năm 1970, từ chương trình học cho tới việc thi cử đã bắt đầu được nghiên cứu sửa đổi để tránh sự gạn lọc quá đáng có từ thời Pháp thuộc. Theo đó số học sinh tăng nhanh, tỉ lệ thí sinh thi đậu TT2 tăng, chẳng hạn năm 1972 số thí sinh ban A, B và C tại trường Pétrus ký đậu 100%! Đến 1973 thì bải bỏ thi TT 1, 1974 bắt đầu thi trắc nghiệm mà số học sinh thi đậu là trên 45% so với 10% những năm trước. Các Khu Học chánh, sở học chánh và Ty VHGD thành hình để trực tiếp làm công tác GD tại địa phương. Các trường tiểu học ở mỗi xã, các trường Trung Học Tỉnh hạt có mặt khắp nơi. Nhờ vậy mà số học sinh và số sinh viên tăng gấp bội, GD trở thành đại chúng, ở xa xôi cũng có trường. Hệ thống trung học Tổng hợp bắt đầu có mặt và phát triển mạnh…”

Giáo sư Ngô Đức Thịnh: ‘Mùng 3 tết thầy’ ai còn nhớ ?


Giáo sư Ngô Đức Thịnh: ‘Mùng 3 tết thầy’ ai còn nhớ ?

Trong cuộc trò chuyện cuối năm với giáo sư Ngô Đức Thịnh – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, người viết được ông phân tích cặn kẽ từng lớp nghĩa trong câu thành ngữ “Mùng 1 tết cha, mùng 2 tết mẹ, mùng 3 tết thầy

Chữ “tết” trong câu thành ngữ trên là sự rút gọn của động từ “chúc tết”. Việc chúc tết cha mẹ, thầy giáo đã trở thành đạo lý mà mỗi người phải hoàn thành trước khi bước vào những cuộc ăn chơi đầu năm mới.

 tet thầy
Lớp học của thầy đồ xưa.

Theo mô tả của vị giáo sư chuyên nghiên cứu văn hóa dân gian, trước đây, nhà thầy đồ luôn đông vui nhộn nhịp vào ngày mùng 3 tháng Giêng bởi các thế học trò đến chúc tết. Món quà mang đến cho thầy thường là bánh trái, hoa quả. những sản vật địa phương. Có khi nhà thầy đang tổ chức ăn uống cũng mời học trò ở lại dùng bữa.

Khi đến thăm thầy, người học trò được các bạn đồng môn tín nhiệm nhất sẽ đứng lên thưa với thầy về sự có mặt của bạn bè đồng môn và chúc thầy những điều tốt lành. Ngày xưa, dù ai làm đến quan nhất phẩm trong triều đình thì vẫn một lòng kính trọng với người thầy từng dạy mình.

Trong văn hóa dân gian Việt Nam, chữ thầy dùng để chỉ người có hiểu biết uyên thâm trong 4 lĩnh vực gồm Nho, Y, Lý, Số. Tương đương với 4 nghề được trọng vọng trong làng xã xưa là thầy đồ, thầy lang, thầy địa lý (phong thủy) và thầy tướng số.

Không chỉ các thầy đồ – người trực tiếp dạy dỗ, truyền đạt đạo lý thánh hiền cho học trò, đôi khi những người thầy thuốc, thợ cả, người dạy nghề cũng được môn đệ đến chúc tết trong ngày mùng 3 tháng Giêng.

Nếu việc thực hành lễ nghĩa với cha mẹ, họ hàng trong 2 ngày đầu năm mới thể hiện sự gắn bó bền chặt với những người cùng huyết thống, thì việc đến chúc tết người dạy mình lại mang một giá trị đặc biệt, thể hiện một xã hội coi trọng việc giáo dục con người.

.

Người Việt ngày nay vẫn giữ việc tết cha, tết mẹ, nhưng phong tục tết thầy dường như đã rẽ sang một hướng khác. Giáo sư Ngô Đức Thịnh cũng thừa nhận câu “Mùng 3 tết thầy” đã dần phai nhạt trong tâm thức người Việt, đặc biệt là thế hệ trẻ. Ngày nay chuyện giáo viên mở cửa đón học sinh đến chơi nhà trong ngày mùng 3 tết cũng không phổ biến.

Theo lý giải của nhà nghiên cứu văn hóa hàng đầu Việt Nam, “mùng 3 tết thầy” là quan niệm cũ gắn với nền giáo dục Nho học vốn đã lùi vào dĩ vãng. Thay vào đó là mô hình giáo dục phương Tây gắn với khoa học kỹ thuật.

Vì sự biến đổi tất yếu nói trên, không nên coi sự phai nhạt của ngày “mùng 3 tết thầy” trong tâm thức người Việt là quá trình suy thoái hay đánh mất giá trị văn hóa. Ngày quốc tế hiến chương các nhà giáo 20/11 xuất hiện cũng đã gánh vác toàn bộ  vai trò tri ân thầy cô thay cho mùng 3 tháng Giêng.

“Tôi vẫn biết có một số ít người chọn dịp đầu năm để đi thăm hỏi thầy, cô giáo. Tuy nhiên, con số mùng 3 chỉ mang tính tượng trưng. Người ta có thể đến thăm thầy vào mùng 4, mùng 5 vẫn mang ý nghĩ là nhớ đến người dạy mình trong dịp đầu năm mới”, ông Thịnh cho biết.

Mặt khác, lại có những học sinh, sinh viên tính chuyện tết thầy, nhưng thực tế là mua quà cáp đắt tiền mang đến biếu những người thầy đang quyết định việc đỗ đạt, thăng tiến của họ. Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh, đây là sự lệch lạc, méo mó trong văn hóa và hoàn toàn không đúng với ý nghĩa tết thầy trước đây.

Những ngày đầu năm mới, khi nhiều người tất tả chọn quà đi tết sếp, tết thủ trưởng, nhằm gây dựng những mối quan hệ mang lại lợi ích trước mắt, thì đâu đó vẫn có những cựu học sinh nhớ đến việc “tết thầy”. Câu nói “mùng 3 tết thầy” tuy không còn mang nặng tính trách nhiệm, nhưng vẫn là một lý do đẹp đẽ để thầy – trò tìm đến với nhau.

Những bức ảnh màu đầu tiên về Hà Nội (1914-1917)


Những bức ảnh màu đầu tiên về Hà Nội

Hồ Gươm, Văn Miếu thuở còn nguyên sơ với những con đường đất hay các cô gái trong chiếc áo yếm hiện lên sống động qua tác phẩm của nhiếp ảnh gia người Pháp Leon Busy.


alt

Nhiếp ảnh gia Leon Busy được Viện Bảo tàng Albert Kahn (Pháp) cử sang Việt Nam chụp lại cuộc sống của người dân Bắc Kỳ từ năm 1914 tới năm 1917. 60 ảnh trong triển lãm này chọn lọc từ 1.500 bức do Leon Busy thực hiện. Đây là một bức ảnh về hồ Gươm.

alt
Qua các bức ảnh, người xem có thể thấy được cảnh sinh hoạt, lao động đời thường hay như cách phân tầng xã hội thời bấy giờ. Ảnh cũng thể hiện đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người Hà Nội xưa thấm nhuần Lão giáo, như quan niệm về Đạo Tam phủ hay thờ cúng các linh vật hoặc tư tưởng cấm sát sinh của đạo Phật. Ảnh chụp toàn cảnh Văn Miếu.

alt

Ảnh lăng mộ Hoàng Cao Khải mà ngày nay chỉ còn là phế tích.

alt
Bức ảnh về lò giấy ở làng Bưởi. Nghề làm giấy nổi tiếng ở làng Bưởi (làng Yên Thái xưa) nay đã không còn.

alt
Có nhiều nhiếp ảnh gia để lại những bức ảnh giá trị về Hà Nội xưa, song những bức ảnh chưa từng công bố này mang đến một điều đặc biệt. Nó là những bức ảnh màu đầu tiên về đất Thăng Long xưa. Leon Busy được đánh giá rất “chịu chơi” vì áp dụng kỹ thuật này trong khi nó mới ra đời năm 1903. Trong ảnh là phố Hàng Thiếc.

alt
Một góc chợ cuối làng ở vùng ven Hà Nội.

alt
Phố đèn lồng rực rỡ sắc màu qua góc nhìn của Leon Busy. Một mặt hàng nhưng do nhiều nghệ nhân khác nhau làm giúp người mua thoải mái lựa chọn.

alt
Bức ảnh “Móng tay của nhà nho” thể hiện rõ quan niệm thời xưa rằng người có chữ không được làm công việc chân tay.

alt
Bên cạnh đó, những bức ảnh màu đầu tiên còn thể hiện rõ phân biệt đẳng cấp xưa. Trong ảnh một người phụ nữ trung lưu đang nấu cơm.

alt
Tóc vấn, quần áo đắt tiền, có người đứng hầu phía sau cửa… là hình ảnh về những phụ nữ thuộc tầng lớp khá giả xưa. Trong ảnh ba phụ nữ này đang chơi bài.

alt
Leon Busy cũng sắp đặt một số góc cảnh để chụp ảnh. Hai cô gái ngồi bên bể nước vận trang phục cổ truyền là yếm trắng, quần đen, thắt lưng sáng màu, nón ba tầm.

alt

Lão nông ngồi giữa sân phơi thóc thể hiện quan niệm về sự sung túc trong đời sống nông nghiệp thời xưa.
Sân phơi thể hiện tham vọng của chủ nhà, sân càng rộng nhà càng nhiều thóc.


alt

Hai thôn nữ vừa đi hái rau muống, họ mặc áo tứ thân, yếm trắng, đầu chít khăn mỏ quạ.

alt
Đô vật bái thần làng trước trận đấu (làng Xa La, Hà Đông).
Triển lãm ảnh “Hà Nội, sắc màu 1914-1917″ diễn ra từ ngày 9/12/2013 đến ngày 4/1/2014.

alt
Năm 1909, Albert Kahn, một chủ nhà băng người Pháp, tiến hành kế hoạch đầy tham vọng là xây dựng kho tư liệu ảnh màu cho các dân tộc trên thế giới. Leon Busy, trung úy hậu cần quân đội Pháp, được giao chụp ảnh ở Việt Nam. Từ năm 1914 tới năm 1917, Busy đã chụp hơn 1.700 bức ảnh. 
Khoảng 60 bức ảnh của ông đang được trưng bày trong triển lãm Hà Nội sắc màu.Trong ảnh là một cô gái đang têm trầu.

alt
Leon Busy khá ưu ái thiếu nữ đang soi gương trong hình, 
cô đã xuất hiện trong 16 bức ảnh màu của ông.

alt
Trong từng bức ảnh, nổi bật lên sự khác biệt giai cấp qua trang phục, đồ đạc. Người nhà giàu mặc lụa là gấm vóc, đồ gỗ trong nhà được chạm khảm tinh xảo.

alt
Một ông nhà giàu sửa soạn hút thuốc.

alt
Quần áo và dép của một bà đồng có nét khác biệt rõ rệt 
với trang phục của các giai cấp tầng lớp trên.

alt
Bốn mẹ con người ăn mày mù lòa ngồi cạnh hàng rào dứa gai xin lòng thương của Phật tử tới chùa.

alt
Người ăn mày bị bệnh phong mong manh trong chiếc khố ngồi nơi vệ đường.

alt
Leon Busy còn chụp nhiều ngành nghề khác như nghệ nhân vẽ tranh Hàng Trống.

alt
Ông đồ vận áo the nâu, quần trắng, khăn thếp có học trò mài mực giúp.

alt
Những người buôn bán, dân thường ăn mặc giản dị, áo the khăn vấn gọn gàng. Từ xưa, người dân Hà Nội đã có thói quen ăn hàng dù quán rất đơn giản. Chiếu phủ lên nền đất làm chỗ ngồi, bàn được làm bằng tre, đồ ăn có mẹt đậy.

alt
Người đứng bán hoa quả trước cửa đền Ngọc Sơn.

alt
Nghề bật bông xưa được làm ngay ngoài trời. 
Thời kỳ người dân còn nghèo, nghề “làm mới” chăn bông rất phát đạt.

.


__,_._,___

TRAN QUANG HAI – 


陳 光 海

Tel:+33 (0)1 4569 5577 (home)

Mobile:+33 (0)6 5025 7367


___