Category Archives: ĐỜN CA TÀI TỬ

ĐỘI ĐỜN CA TÀI TỬ KDL BÌNH QUỚI 1 (KỲ 1/2014 – 2/3/14) PHẦN 2


ĐỘI ĐỜN CA TÀI TỬ KDL BÌNH QUỚI 1 (KỲ 1/2014 – 2/3/14) PHẦN 2

Published on Mar 7, 2014

ĐỘI ĐỜN CA TÀI TỬ KHU DU LICH BÌNH QUỚI 1 (KỲ 1/2014 – 2/3/2014) PHẦN 2 ĐỘI TRƯỞNG: NGHỆ SĨ THANH BÌNH- CÁC NGHỆ SĨ QUỲNH KHOI, NS THANH MAI, NS DIỆP THANH HẰNG DÀN NHẠC: Nhạc sĩ XUÂN MINH, NS MINH THÀNH, NHẠC SĨ THANH TÀI

Đờn ca tài tử nam bộ – 20 bài bản tổ


20 bản tổ chia ra 4 loại: 4 mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông) và 4 hướng (Ðông, Tây, Nam, Bắc), kể ra:

– Ba bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam Ai + Nam Ai Lớp Mái , Đảo Ngũ Cung + Song Cước .
– Sáu bài Bắc gồm: Lưu Thủy, Xuân Tình, Phú Lục , Bình Bán, Tây Thi, Cổ Bản.
– Bảy bài Lễ gồm: Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc.
– Bốn bài Oán gồm: Tứ Ðại Oán, Giang Nam, Phụng Cầu Hoàng, Phụng Hoàng Cầu.
– 4 bài Oán phụ gồm: Văn Thiên Tường, Bình Sa Lạc Nhạn, Thanh Dạ Đề Quyên, Xuân Nữ

Nhạc cụ cổ nhạc đờn ca tài tử

1. Sáu bài Bắc: xếp vào mùa Xuân, giọng nhạc vui tươi. Nhạc sĩ đờn 6 bài nầy thì day mặt về hướng Bắc.
Sáu bài Bắc gồm: Lưu Thủy Trường, Xuân Tình, Phú Lục, Bình Bán Chấn, Tây Thi, Cổ Bản.

Các bài này có điệu vui, ngắn, gọn.

Lưu Thủy Trường : điệu nhạc nhàn hạ, khoan thai, phù hợp với cảnh trí thanh nhàn, non xanh nước biếc, cỏ hoa chim chóc. Lưu Thủy Trường là do Lưu Thủy Đoản phát triển, kéo dài rạ Một câu của “đoản” bằng hai câu của “trường”. Bài này có 4 lớp, 32 câu (8, 6, 12, 6).

Phú Lục : sôi nổi, rộn rả, khẩn trương, khác với bài Lưu Thủy Trường có tính thiên nhiên. Bài này có xuất xứ từ bài Phú Lục ở Huế. Khi mới vào Nam Bộ được cải lương hóa thành bài Phú Lục Vắn (17 câu, nhịp 1), sau phát triển thành bài Phúc Lục của nhạc tài tử (34 câu nhịp 4). Bài này rất nghiêm chỉnh cân đối, câu đối câu, nhịp đối nhịp, có 4 lớp (8, 8, 8, 10).

Xuân Tình : vui tươi, lúc bình thường khi rộn rã, âm điệu vang, trong sáng, nồng nhiệt.

Bình Bán Chấn: phát triển từ bài Bình Bán, đến Bình Bán Vắn, rồi đến bài Bình Bán Chấn (dài). Gốc là bài Bình Bán vui vẻ sảng khoái, nhưng khi phát triển thành Bình Bán Chấn thì trở thành đĩnh đạc, nghiêm trang. Bài này phức tạp, khúc mắc, ít được dùng trên sân khấụ

Tây Thi : êm dịu, trong sáng, vui tươi, có tính tự sự, không gay gắt như Phú Lục. Bản này là bản dễ nhớ nhứt trong sáu bài Bắc. Bài này có 26 câu, 3 lớp (9, 13, 4).

Cổ Bản : câu ngắn gọn, dồn dập, nhưng không nhấn mạnh như bài Phú Lục.

2. Bảy bài nhạc Lễ: xếp vào mùa Hạ, nên thường gọi là 7 bài Hạ, giọng nhạc bực tức, hùng hồn. Nhạc sĩ đờn 7 bài nầy day mặt về hướng Ðông. Bảy bài nhạc Lễ gồm: Xàng Xê, Ngũ Ðối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc.

Ý nghĩa như sau:

Xàng Xê: Thời kỳ Hỗn độn sơ khai, các khí lộn lạo. hùng tráng uy nghi nhưng dịu dàng, êm áị

Ngũ Ðối Thượng: Ngũ Khí nhẹ nổi lên làm Trời.

Ngũ Ðối Hạ: Ngũ Khí nặng hạ xuống làm đất. Ðó là Ngũ Hành: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ. còn gọi tắt là bài Hạ, có tính uy nghi, nghiêm trang, man mác, thanh thản.

Long Ðăng: Rồng lên, tượng trưng Dương khí. giống bài Hạ, nhưng tiết tấu khỏe, ít nghiêm trang.

Long Ngâm: Rồng xuống, tượng trưng Âm khí. : giống bài Hạ, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.

Vạn Giá: Vạn vật sinh thành đều có giá trị,

Tiểu khúc: Nhỏ ngắn đều có định luật.

ba bài Ngũ Đối Thượng, Vạn Giá, Tiểu Khúc có nhiều âm hưởng nhạc lễ.

Các bài này là bảy bài lớn dùng trong nhạc lễ, mỗi khi cúng lễ, cúng tế, tính chất nghiêm trang. Riêng bài Ngũ Đối Hạ sân khấu hát bội thường dùng, trên sân khấu cải lương thì bài Xàng Xê được dùng nhiều hơn.

3. Ba bài Nam: xếp vào mùa Thu, giọng nhạc trầm buồn ai oán. Nhạc sĩ đờn 3 bài nầy thì day mặt về hướng Nam.
Ba bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam Ai, Ðảo Ngũ Cung.

Nam Xuân: gặp mời, mừng. (Thượng nguơn)

Nam Ai: trông mong, ngưỡng mộ. (Trung nguơn)

Ðảo Ngũ Cung: bày tỏ, tái ngộ. (Hạ nguơn)

Ba bài Nam nầy có 4 giọng đờn khác nhau tùy theo 4 mùa (Tứ quí: Xuân, Hạ, Thu, Ðông) kể ra:

Nam Xuân : điệu nhạc thanh thản lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng, có người cho là “tiên phong đạo cốt”. Bài này được dùng để mở đầu các chương trình ca nhạc cải lương ở Sài Gòn.

Nam Ai : buồn ảo não, não nùng, bi thảm. Bài này có 8 lớp, cấu trúc cũng như Nam Xuân (cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lớp). Lớp 7 và 8 (hai lớp Mái) thường hay dùng nhất.

Nam Đảo (hay Đảo Ngũ Cung) : tôn nghiêm, hùng tráng, gay gắt. Hai câu cuối được chuyển sang hơi Hò Ba âm điệu buồn, để chấm dứt, gọi là “song cước”.

Giọng Xuân (mùa Xuân) biểu thị mát mẻ, tỏ rạng, vui tươi,

Giọng Ai (mùa Hạ) biểu thị nóng nực, tâm hồn buồn thảm.

Giọng Ðảo (mùa Thu) biểu thị mưa dầm, xây vần, đảo lộn.

Giọng Song cước (mùa Ðông) biểu thị thâm trầm, mùi mẫn.

4. Bốn bài Oán: xếp vào mùa Ðông, giọng nhạc hiền hòa, non nước thanh bình. Nhạc sĩ đờn 4 bài nầy thì day mặt về hướng Tây. Bốn bài Oán gồm: Tứ Ðại Oán, Giang Nam, Phụng Cầu, Phụng Hoàng.

Tứ Đại Oán : điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chơn chất hơn. Hai lớp Xang vắn thường hay được dùng.

Phụng Hoàng : như Tứ Đại Oán, nhưng hơi dựng hơn.

Giang Nam : trầm hơn Tứ Đại Oán, chậm rãị

Phụng Cầu : như Phụng Hoàng.

4 bài Oán phụ:

Văn Thiên Tường : trần thuật, thổ lộ tâm tình, buồn ảo nãọ Có nhiều mức độ, khi buồn vừa vừa thì dùng lớp 1, khi buồn nhiều thì dùng lớp 2 (lớp Oán). Lớp Xế Xảng thật ngắn thường dùng để gối đầu vào Vọng Cổ.

Bình Sa Lạc Nhạn : hơi ngang và dựng.

Thanh Dạ Đề Quyên : cao hơn Bình Sa Lạc Nhạn.
Xuân Nữ: ngắn, có tính bi thiết, thường dùng trong cảnh bi ai, đau thưong đột xuất.

Mỗi bài Oán có sắc thái riêng biệt, nhưng khác biệt rõ nhứt là giữa hai bài Tứ Đại Oán và Văn Thiên Tường. Các bài Oán khác đều có những nét giống với bài Tứ Đại Oán hoặc Văn Thiên Tường. Hai bài này là tiêu biểu cho loại Oán và được dùng nhiều trong cải lương.

Phân Loại Bài Bản Cải Lương Tài Tử

Theo các sách hướng dẫn đờn hát cải lương nói trên thì nhạc cổ và cải lương được phân thành mười mục:
– Nhứt Lý : các điệu Lý
– Nhì Ngâm : ngâm Kiều, ngâm thơ, ngâm sa mạc…
– Tam Nam : ba bài Nam lớn
– Tứ Oán : các bài Oán
– Ngũ Điểm : sáu bài Bắc lớn
– Lục Xuất : sáu bài ngắn
– Thất Chinh : bảy bài nhạc lớn lễ, cung đình
– Bát Ngự : tám bài Ngự
– Cửu Nhĩ : 2 bài do nhóm tài tử miền Đông biên soạn
– Thập Thủ : thập thủ liên hoàn, 10 bài ngắn

Bài Vọng Cổ, hậu thân của bài Dạ Cổ Hoài Lang của ông Sáu Lầu ở Bạc Liêu sáng tác trong những năm 1920, không thấy trong bảng phân loại nói trên. Không biết là bởi vì bài Vọng Cổ quá đặc biệt để phân loại hay do sự phân loại này được làm trước khi bản Vọng Cổ được phổ biến rộng rãị Cũng cần nên nhắc qua là trước khi bài Vọng Cổ chiếm được vị trí số một trong âm nhạc cải lương thì bài Hành Vân được dùng rất rộng rải trên sân khấu cải lương, như bài Vọng Cổ ngày nay vậỵ

Dưới đây mỗi mục sẽ được điểm qua sơ lược.

1. Nhứt Lý

Các điệu Lý, xuất xứ từ dân ca, được cải lương hóa, thường dùng để hát đệm trong bài Vọng Cổ hoặc trong các tuồng cải lương. Những bài hay được dùng nhiều nhất là :
– Lý Con Sáo
– Lý Ngựa Ô (Nam và Bắc)
– Lý Thập Tình
– Lý Giao Duyên
– Lý Vọng Phu
– Lý Chiều Chiều
– Lý Cái Mơn
– Lý Huế

Trong các điệu Lý, như Lý Ngựa Ô, có ngựa ô Nam và ngựa ô Bắc. Lý Con Sáo và Lý Thập Tình có hơi Xuân và hơi Aị Đờn hơi Bắc và hơi Xuân thì vui, đờn hơi Nam và hơi Ai thì buồn. Các điệu Lý khác phần nhiều đờn hơi Nam.

2. Nhì Ngâm
Gồm có ngâm thơ, ngâm sa mạc, ngâm Kiều , và nhiều điệu ngâm khác. Có người ngâm theo điệu Bắc, có người ngâm theo điệu Huế nhưng đa số ngâm theo điệu Sài Gòn (tùy theo sở trường và khả năng của mỗi người).

3. Tam Nam
Gồm ba bài Nam:

– Nam Xuân : điệu nhạc thanh thản lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng, có người cho là “tiên phong đạo cốt”. Bài này được dùng để mở đầu các chương trình ca nhạc cải lương ở Sài Gòn.

– Nam Ai : buồn ảo não, não nùng, bi thảm. Bài này có 8 lớp, cấu trúc cũng như Nam Xuân (cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lớp). Lớp 7 và 8 (hai lớp Mái) thường hay dùng nhất.

– Nam Đảo (hay Đảo Ngũ Cung) : tôn nghiêm, hùng tráng, gay gắt. Hai câu cuối được chuyển sang hơi Hò Ba âm điệu buồn, để chấm dứt, gọi là “song cước”.

Trong “Nghệ Thuật Sân Khấu Việt Nam” của ông Trần Văn Khải, nhà sách Khai Trí xuất bản năm 1970 tại Sài Gòn, có nhắc tới Nam Bình và Nam Chạỵ

– Nam Bình: còn gọi là Trường Tương Tư (một trong Bát Ngự).

– Nam Chạy: vừa ca vừa chạy, là hai lớp trống của Nam Ai, nhưng ca nhịp thúc để diễn tả lúc chạy giặc.

4. Tứ Oán gồm các bài:

– Tứ Đại Oán : điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chơn chất hơn. Hai lớp Xang vắn thường hay được dùng.

– Văn Thiên Tường : trần thuật, thổ lộ tâm tình, buồn ảo nãọ Có nhiều mức độ, khi buồn vừa vừa thì dùng lớp 1, khi buồn nhiều thì dùng lớp 2 (lớp Oán). Lớp Xế Xảng thật ngắn thường dùng để gối đầu vào Vọng Cổ.

– Bình Sa Lạc Nhạn : hơi ngang và dư.ng.

– Thanh Dạ Đề Quyên : cao hơn Bình Sa Lạc Nhạn.

– Phụng Hoàng : như Tứ Đại Oán, nhưng hơi dựng hơn.

– Giang Nam : trầm hơn Tứ Đại Oán, chậm rãị

– Phụng Cầu : như Phụng Hoàng.

– Xuân Nữ: ngắn, có tính bi thiết, thường dùng trong cảnh bi ai, đau thưong đột xuất.

Mỗi bài Oán có sắc thái riêng biệt, nhưng khác biệt rõ nhứt là giữa hai bài Tứ Đại Oán và Văn Thiên Tường. Các bài Oán khác đều có những nét giống với bài Tứ Đại Oán hoặc Văn Thiên Tường. Hai bài này là tiêu biểu cho loại Oán và được dùng nhiều trong cải lương.

5. Ngũ Điểm
Gồm sáu bài Bắc lớn, các bài này có điệu vui, ngắn, gọn.

– Lưu Thủy Trường : điệu nhạc nhàn hạ, khoan thai, phù hợp với cảnh trí thanh nhàn, non xanh nước biếc, cỏ hoa chim chóc. Lưu Thủy Trường là do Lưu Thủy Đoản phát triển, kéo dài rạ Một câu của “đoản” bằng hai câu của “trường”. Bài này có 4 lớp, 32 câu (8, 6, 12, 6).

– Phú Lục : sôi nổi, rộn rả, khẩn trương, khác với bài Lưu Thủy Trường có tính thiên nhiên. Bài này có xuất xứ từ bài Phú Lục ở Huế. Khi mới vào Nam Bộ được cải lương hóa thành bài Phú Lục Vắn (17 câu, nhịp 1), sau phát triển thành bài Phúc Lục của nhạc tài tử (34 câu nhịp 4). Bài này rất nghiêm chỉnh cân đối, câu đối câu, nhịp đối nhịp, có 4 lớp (8, 8, 8, 10).

– Xuân Tình : vui tươi, lúc bình thường khi rộn rã, âm điệu vang, trong sáng, nồng nhiệt.

– Bình Bán Chấn: phát triển từ bài Bình Bán, đến Bình Bán Vắn, rồi đến bài Bình Bán Chấn (dài). Gốc là bài Bình Bán vui vẻ sảng khoái, nhưng khi phát triển thành Bình Bán Chấn thì trở thành đĩnh đạc, nghiêm trang. Bài này phức tạp, khúc mắc, ít được dùng trên sân khấụ

– Tây Thi : êm dịu, trong sáng, vui tươi, có tính tự sự, không gay gắt như Phú Lục. Bản này là bản dễ nhớ nhứt trong sáu bài Bắc. Bài này có 26 câu, 3 lớp (9, 13, 4).

– Cổ Bản : câu ngắn gọn, dồn dập, nhưng không nhấn mạnh như bài Phú Lục.

6. Lục Xuất
Điệu nhạc các bài này vui, ngắn, gọn. Gồm sáu bài:
– Bình Bán Vắn
– Tây Thi Vắn
– Cổ Bản Vắn
– Xuân Phong
– Kim Tiền: được dùng như bài Mẫu Tầm Tử trong trường hợp đối đáp, cãi nhaụ
– Long Hổ: thường đi cặp với bài Long Hổ Hội, có tiết tấu đối chọị

7. Thất Chinh
Gồm bảy bài:

– Xàng Xê : hùng tráng uy nghi nhưng dịu dàng, êm áị
– Ngũ Đối Hạ: còn gọi tắt là bài Hạ, có tính uy nghi, nghiêm trang, man mác, thanh thản.
– Long Đăng: giống bài Hạ, nhưng tiết tấu khỏe, ít nghiêm trang.
– Long Ngâm: giống bài Hạ, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.
– Ngũ Đối Thượng: ba bài Ngũ Đối Thượng, Vạn Giá, Tiểu Khúc có nhiều âm hưởng nhạc lễ.
– Vạn Giá
– Tiểu Khúc

Các bài này là bảy bài lớn dùng trong nhạc lễ, mỗi khi cúng lễ, cúng tế, tính chất nghiêm trang. Riêng bài Ngũ Đối Hạ sân khấu hát bội thường dùng, trên sân khấu cải lương thì bài Xàng Xê được dùng nhiều hơn.

8. Bát Ngự
Gồm tám bài:

– Đường Thái Tôn: êm, vui, phấn khởi, đắc chí.
– Bát Man Tấn Cống: vui khỏe, để múa hát, chúc tụng
– Duyên Kỳ Ngộ: dùng trong cảnh tái ngộ, thăm hỏi, vui tươi nhộn nhịp. Tiết tấu nhanh, rộn rã,vui tươị
– Kim Tiền Bản: tâm trạng giận dữ, mắng mỏ, hỏi tội, bày binh bố trận, điều binh khiển tướng.
– Ngự Giá Đăng Lâu: khệ nệ, rườm rà, đắc chí vui tươi, kể lể dài dòng.
– Ái Tử Kê: ngắn, giai điệu chững chạc, cân đối, trìu mến thương tiếc. Lời gốc của điệu này tả một bầy gà con bị chồn bắt.
– Chiêu Quân: quạnh quẽ cô đơn, trầm lặng nhưng rất ảo nãọ Bài này thường đi cặp với bài Ái Tử Kê.
– Trường Tương Tư: bài này nhẹ nhàng thư thái, thất vọng, nhớ nhung, ít thê lương hơn Nam Aị

Giới đờn hát tài tử thường đờn liên hoàn các bài Ái Tử Kê, qua Chiêu Quân, rồi đến Trường Tương Tư

9. Cửu Nhĩ
Gồm hai bài:
– Hội Nguyên Tiêu
– Bát Bản Chấn

Hai bài này do nhóm tài tử miền Đông sáng tác, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.

10. Thập Thủ
Thập Thủ Liên Hườn còn gọi là Liên Bộ Thập Chương từ Huế đưa vào Nam, được cải lương hóạ Các bài này có điệu nhạc vui, ngắn gọn. Gồm mười bản Tàu, đã được Việt Nam hóa từ lâu, thường được đờn liên hoàn với nhaụ

– Phẩm Tuyết
– Nguyên Tiêu
– Hồ Quảng
– Liên Hoàn
– Bình Bản (Bình Nguyên)
– Tây Mai
– Kim Tiền Huế
– Xuân Phong
– Long Hổ
– Tẩu Mã

Một điều nên nhắc qua là sự phân loại như trên (khoảng 60 bài được nhắc đến) là ở những năm 1950 hay sớm hơn. Cho đến nay đã có hơn 100 bài được biết / thu thập (và còn nhiều bài sẽ được sáng chế thêm trong tương lai). Cách phân loại như vậy có phần hơi gò bó, còn bỏ sót nhiều bài bản.

Có nhiều tài liệu sau này phân loại theo hơi Bắc / Nam / Oán hay cở nhỏ / trung bình / lớn. Ngoại trừ một số bản đặc trưng của mỗi loại, dễ dàng nhận ra, có không ít bài bản khó mà xác định được thuộc loại nào (chẳng hạn ranh giới giữa nhỏ – trung bình, trung bình – lớn đôi khi không rõ ràng, có nhiều bản pha lẫn các hơi …)

Cách Dùng:
Tùy theo hoàn cảnh, tình huống, tâm trạng … mà các bài sau đây thường hay được dùng nhất trong các tuồng cải lương cũng như trong những lúc đàn ca tài tử:

1. Lúc vui rộn rã, ngắn, gọn, thường dùng các bản:
Long Hổ Hội, Ngũ Điểm – Bài Tạ, Lưu Thủy Đoản, Bình Bán Vắn, Xang Xừ Líu, Khốc Hoàng Thiên, Khúc Ca Hoa Chúc, Ú Liu Ú Xáng, Lạc Âm Thiều, Mạnh Lệ Quân, Tam Pháp Nhập Môn, Liễu Thuận Nương, Duyên Kỳ Ngộ, Bắc Sơn Trà, Lý Ngựa Ô Bắc, Lý Phước Kiến, Xuân Phong, Long Hổ, Bình Bán.

2. Lúc vui lâng lâng, kể chuyện dài, thong thả nhàn hạ dạo cảnh ngắm hoa, thường dùng các bản :
Lưu Thủy Trường, Nam Xuân, Xuân Tình.

3. Lúc buồn cách biệt thấm thía, não nùng bi thảm, thường dùng các bản : Văn Thiên Tường, Nam Ai, Trường Tương Tư, Xuân Nữ.

4. Lúc buồn man mác, kể lể tâm tình oán hận, bi hùng trước cảnh chia phôi, phút giây gặp gỡ, thường dùng các bản :
Lý Con Sáo, Chiêu Quân, Lý Ngựa Ô Nam, Lý Thập Tình, Lý Giao Duyên, Lý Vọng Phu, Nam Xuân, Tứ Đại Oán, Phụng Hoàng, Vọng Cổ, Xàng Xê. Các bản Nam Xuân, Vọng Cổ và Xàng Xê có thể dùng trong nhiều tình huống, tâm trạng : vui nhẹ nhàng, lâng lâng, hay buồn man mác đều dùng được Nam Xuân. Cảnh hội ngộ hay chia phôi; cảnh thống thiết hay bi hùng đều dùng được các bản Xàng Xê hay Vọng Cổ.

5. Lúc cãi vã, giận dữ, đối đáp, tranh biện có tính chất gay gắt, dứt khoát, trả treo, thường dùng các bản: Khổng Minh Tọa Lầu, Kim Tiền Bản, Đảo Ngũ Cung.

6. Lúc kể chuyện, thuật chuyện có tính cách hòa hoãn bình thường, các bản sau đây hay được dùng:
Lưu Thủy Trường, Phú Lục, Xuân Tình, Bình Bán Chấn, Tây Thi, Bài Ta..

7. Lúc kể chuyện, thuật chuyện có tính cách gấp rút, vội vàng, thường dùng các bản : Cổ Bản, Mẫu Tầm Tử, Kim Tiền Huế, Ú Liu Ú Xáng, v.v…

Trên thực tế chỉ có một số bản được sử dụng rộng rãi. Đa số những bài cải lương dùng trong những buổi đàn ca tài tử được trích từ các vở tuồng cải lương. Lý do là lời đặt riêng cho các điệu / bài bản không nhiềụ Có thể nói là sau này không còn thấy lời mới nữạ Các soạn giả chỉ sáng táclời cho bài vọng cổ (và các bài bản nhỏ, để hát xen kẽ với vọng cổ).

THANH HIỆP : Nghệ nhân ưu tú Tấn Nhì qua đời


04/01/2018 10:16

(NLĐO) Nghệ nhân dân gian, nghệ nhân ưu tú Tấn Nhì qua đời vì bệnh già. Hưởng thọ 82 tuổi. Ông là người có công rất lớn trong việc gìn giữ sự chuẩn mực của đờn ca tài tử Nam bộ.

Nghệ nhân ưu tú Tấn Nhì qua đời - Ảnh 1.

Nghệ nhân dân gian, Nghệ nhân ưu tú Tấn Nhì

Ông tên thật là Nguyễn Tấn Nhì (sinh ngày 1-10-1936 tại làng Đa Phước, quận Cần Giuộc, tỉnh Long An, nay thuộc xã Đa Phước, huyên Bình Chánh, TP HCM) đã trút hơi thở cuối cùng lúc 16 giờ ngày 3-1. Theo lời của gia đình, thấy ông có triệu chứng khó thở, người nhà đã đưa vào Bệnh viện Nguyễn Tri Phương cấp cứu, đến chiều được các bác sĩ cho xuất viện trong tình trạng sức khỏe tốt. Tuy nhiên về đến nhà, ông đã qua đời trong sự đau xót của người thân.

Ông là nghệ nhân được phong tặng hai danh hiệu: nghệ nhân dân gian và nghệ nhân ưu tú. Cả đời gắn bó với nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ, có những đóng góp quý giá trong việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa. Ông vinh dự được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

Nghệ nhân ưu tú Tấn Nhì qua đời - Ảnh 2.

Nghệ nhân dân gian, Nghệ nhân ưu tú Tấn Nhì

Từ lâu ngôi nhà của ông tại quận 8, TP HCM trở thành “tụ điểm” đờn ca tài tử. Mỗi cuối tháng vào ngày 18 tháng giêng âm lịch hằng năm, các học trò của ông khắp nơi tụ hội về cùng hòa mình vào những giai điệu âm nhạc dân tộc. “Đó là ngày hội của những học trò của nghệ nhân Tấn Nhì, đếntừ các tỉnh: Lâm Đồng, Khánh Hòa, Sóc Trăng, Long An…Nghệ nhân Tấn Nhìn đã gầy dựng không gian đờn ca tài tử đúng chuẩn mực. Quan điểm bảo tồn, phát huy nghệ thuật của bộ môn này, theo ông chính là tạo được “đất sống” dân dã, tự nhiên cho đờn ca tài tử.

Những tụ điểm một khi đã có bạn tri âm, tâm hồn đồng điệu thì đờn ca tài tử sẽ sống mãi. Chính vì thế ông là người gầy dựng nhiều tụ điểm đờn ca tài tử” – Thạc sĩ Huỳnh Khải nói.

Nghệ nhân ưu tú Tấn Nhì qua đời - Ảnh 3.

Nghệ nhân dân gian, Nghệ nhân ưu tú Tấn Nhì và nhạc cụ đờn cò

Hành trình mang tiếng đờn, lời ca đi phục vụ đồng bào xây dựng kinh tế mới gắn với những ngày nghệ nhân Tấn Nhì tham gia Đoàn Văn công quận 2 (TP HCM).

Tốt nghiệp Cử nhân luật khoa, 15 năm làm việc trong ngành tư pháp, song hành với việc học chữ, hành nghề luật sư, chơi đờn ca tài tử Nam bộ. Nhờ đã bước qua đại học, học tập bài bản và nghiên cứu, đối chiếu với các nền âm nhạc khác trên thế giới, ông đã tạo lối chơi đờn ca tài tử Nam bộ chuẩn mực. Ông đã viết nhiều sách về công trình nghiên cứu âm nhạc dân tộc và nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ.

Tang lễ của nghệ nhân Tấn Nhì được tổ chức tại nhà riêng 4X5X đường Hưng Phú, phường 8, quận 8. TP HCM.

Bài và ảnh: Thanh Hiệp

QUỐC DŨNG : Đem đờn ca tài tử đến Little Saigon


Đem đờn ca tài tử đến Little Saigon

Nghệ sĩ tài tử Quế Anh hát phục vụ khán giả. (Hình: Quốc Dũng/Người Việt)

Quốc Dũng/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Buổi họp mặt giới đờn ca tài tử lần đầu tiên tổ chức tại Little Saigon vào sáng Chủ Nhật, 9 Tháng Mười, tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, Westminster, tuy không đông tài tử giai nhân tham dự, nhưng đón được khá nhiều bạn tri kỷ tri âm đồng điệu quan tâm đến nghệ thuật này.

don-ca-tai-tu-1

Ông Lê Quang Thế, trưởng ban tổ chức, cho biết: “Đây là lần đầu tiên Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại tổ chức buổi họp mặt đờn ca tài tử. Lý do là vì vừa qua chúng tôi có trở về Việt Nam để tìm hiểu thêm về đờn ca tài tử sau khi loại hình này được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Chúng tôi mong muốn sau buổi họp mặt này sẽ tạo một phong trào đờn ca tài tử tại hải ngoại.”

Ông Ngành Mai, hội trưởng, cho hay: “Hôm nay không có cây đờn nào hết, nhưng là dân đờn ca tài tử thì không cần đờn cũng có thể hát được, không trở ngại gì hết. Mục đích của chúng tôi là như vậy, vì nếu mướn người đờn thì sẽ như cải lương, không còn là tài tử nữa. Đờn ca tài tử có điểm chính là bất cứ mọi giới ai thích thì cứ vào, không từ chối ai hết. Mọi người hát vì yêu thích thú vui tao nhã này, nên không bao giờ đặt chuyện tiền bạc, công cán hay câu nệ về trang phục khi tham gia đờn ca tài tử.”

Đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể thứ tám của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hóa đại diện của nhân loại và được bảo vệ ở cấp độ quốc tế, thể hiện sự trân trọng và ngưỡng mộ của cộng đồng quốc tế đối với loại hình nghệ thuật độc đáo này của Việt Nam. Bởi vì phạm vi của nghệ thuật này tương đối nhỏ, chủ yếu trong sinh hoạt gia đình, tại đám cưới, đám giỗ, sau khi thu hoạch mùa vụ, và thường được biểu diễn vào những đêm trăng sáng ở xóm làng. Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại này được công nhận vào ngày 5 Tháng Mười Hai, 2013.

Soạn giả Yên Lang, chia sẻ: “Tôi là soạn giả cải lương nên biết chút ít về đờn ca tài tử, bởi vì sự nghiệp của tôi bắt đầu từ năm 1960, còn bộ môn cải lương đã thành hình từ những năm 1917-1918, trong khi nhạc tài tử có trước đó nữa.”

“Nhạc tài tử bắt nguồn từ đâu, bây giờ chưa ai xác định rõ ràng được, và chưa có quyển sách nào tra cứu một cách minh bạch được. Chỉ biết rằng vào khoảng thời gian vua Hàm Nghi rời kinh thành để kêu gọi kháng chiến chống thực dân Pháp thì có một số trung thần theo vua, trong đó có ông Nguyễn Quang Đại, tự Ba Đợi, là một người coi về nhạc lễ của triều đình Huế. Ông vào định cư ở Đồng Nai, rồi sau về miệt Cần Giuộc, Cần Đước lập đội cổ nhạc để tập luyện,” ông nói.

Mời độc giả xem video Điểm tin buổi sáng Thứ Hai, ngày 10 tháng 10 năm 2016

“Sau đó ông lập bộ môn tài tử dạy cổ nhạc ở miền Cần Đước, Chợ Lớn, Quận Tám… và cùng thời gian này ở miền Tây có ông Trần Quang Quờn cũng là một nhạc sĩ lỗi lạc lập khối cổ nhạc ở miền Tây. Đến khoảng năm 1900, lúc đó nhạc tài tử thành hình và đờn ca nổi tiếng khắp nơi thì ở Mỹ Tho có ông Nguyễn Tấn Triều, Bạc Liêu có ông Lê Tài Khị, tự Hai Khị, lập ban cổ nhạc và dần dần thành hình các hội chơi cổ nhạc tài tử,” ông nói tiếp.

Soạn giả cho hay: “Thời điểm đó đờn ca tài tử phát triển mạnh là vì trong những ngày khai hoang, lập ấp, người dân quê sau công việc đồng áng, cày cấy ban ngày thì chiều về uống trà, tụ tập nghỉ ngơi để nói chuyện. Mà nói chuyện không thì buồn, nên đờn ca tài tử nổi lên với mục đích chỉ để phục vụ nghe chơi với nhau giữa một số người trong một hoàn cảnh nhất định. Dần dà thu hút thêm những đối tượng khác cùng tham gia và không gian cũng mở rộng hơn.”

“Vì vậy mà lúc đầu chỉ có đờn, sau xuất hiện hình thức ca bên cạnh hình thức đờn, nên gọi nôm na là đờn ca. Còn ‘tài tử’ có nghĩa là người chơi nhạc có biệt tài, giỏi về cổ nhạc, chứ không có nghĩa là nghiệp dư,” ông nói thêm.

don-ca-tai-tu-2

Soạn giả Yên Lang nói về đờn ca tài tử Nam Bộ. (Hình: Quốc Dũng/Người Việt)
Soạn giả Yên Lang nói về đờn ca tài tử Nam Bộ. (Hình: Quốc Dũng/Người Việt)

Qua các tài liệu ghi chép lại thì đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật xuất xứ từ nhạc cung đình Huế, nên bài bản dựa trên các bài có sẵn của ca nhạc Huế rồi cải biên, sáng tác ra nhiều loại bài bản mang âm hưởng quê hương, hoặc dựa theo các tác phẩm, tích truyện phổ thông thời bấy giờ. Vì vậy đây là loại nhạc “tâm tấu” (tâm tình của người xa xứ), mang tính ngẫu hứng sáng tạo.

Nghệ sĩ tài tử Quế Anh cho biết: “Tôi không hát sân khấu, chỉ đi hát tài tử. Tôi thích đờn ca tài tử từ khi còn bé, nhưng không có cơ hội phát huy. Tới lúc 12 tuổi có bao nhiêu tiền thì tôi dành hết tiền quà bánh để mua bài ca. Tới 16 tuổi thì được quyền tự do chút, nên tôi đi tới nhà văn hóa để học hỏi. Hôm nay đang làm việc nhưng nghe có buổi đờn ca tài tử này nên xin chủ đi vài tiếng để tham dự, và hát thật hăng để phục vụ các tài tử giai nhân có mặt tại đây.”

Bà Trương Thị Đào, cư dân Garden Grove, tâm sự: “Tôi đến buổi họp mặt này để ủng hộ cho nền nghệ thuật nước nhà và ôn lại những bản nhạc ngày xưa, thời thập niên 1940, 1950. Tôi biết đờn ca tài tử từ lúc 6-7 tuổi, hồi thập niên 1950. Bởi vì lúc đó tôi hay theo mấy ông chú coi đánh đờn. Mấy ông chú tôi quê ở Gò Công đi đờn cho mấy gánh lớn ở Sài Gòn, nhưng cứ vào dịp hội hè mỗi năm, nhất là ra Tết người ta chưa làm nông, khắp xóm lúc nào cũng có đờn ca tài tử vui lắm nên mấy ông chú về chơi nhạc.”

“Cứ vào dịp hội hè thì dân trong xóm, trong làng tự tập và hát thôi. Vì vậy mà tôi thích lắm các bản như Tôn Tẫn Giả Điên, Tống Tửu Đơn Hùng Tín, Tần Quỳnh Khóc Bạn… Thời đó đờn ca tài tử cũng có khi hát tuồng, như Phạm Công Cúc Hoa, Lâm Sanh Xuân Nương… nữa,” bà cho hay.

Ông Vũ Trần, cư dân Westminster, nói: “Mình là kẻ xa xứ nên nhớ quê hương, mà đờn ca tài tử thì gắn liền với quê hương đất nước của mình. Tôi nhớ không khí ngày xưa vào những buổi đờn ca tài tử ở quê mình, vào buổi tối họp nhau, đêm trăng ngồi trên sân phơi lúa, rồi bạn bè tụ họp đờn ca vui lắm. Đờn ca tài tử hay cải lương tôi đều thích, vì đó là cổ nhạc nên dễ vào lòng mình lắm. Âm nhạc vốn đã hay rồi, nhưng cổ nhạc thì gần với mình hơn. Trong khi cải lương phải có tuồng tích, kịch bản, đạo diễn… thì đờn ca tài tử lại tự do hoàn toàn, chỉ cần ngồi trên một bộ ván hoặc chiếu để biểu diễn với phong cách đờn ca thảnh thơi, lãng đãng. Có lẽ vì vậy mà đờn ca tài tử được thế giới công nhận hơn so với cải lương.”

—–

Liên lạc tác giả: truong.dung@nguoi-viet.com

http://www.nguoi-viet.com/newarticle/little-saigon-xa-que-huong-van-quan-tam-don-ca-tai-tu/

XUÂN LỘC : Nỗ lực thực hiện di nguyện thầy Khê


08/09/2015 22:53

Tối 7-9, trong không khí mùa khai giảng năm học mới, Trường THPT Ernst Thälmann, quận 1, TP HCM đã tổ chức chương trình “Đưa đờn ca tài tử (ĐCTT) vào học đường” do ThS Huỳnh Khải và CLB ĐCTT Trung tâm Văn hóa TP HCM thực hiện.

ThS Huỳnh Khải cho biết: “Hiện nay, vẫn chưa có kế hoạch cụ thể trong việc đưa ĐCTT Nam Bộ vào giáo trình giảng dạy theo mục tiêu phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, thế nên hầu hết các nhóm, các CLB đều tự phát trong việc đưa ĐCTT Nam Bộ vào sinh hoạt tại các trường, thực hiện di nguyện của cố GS-TS Trần Văn Khê. Và Trường THPT Ernst Thälmann đã tiên phong trong việc đưa âm nhạc truyền thống dân tộc Việt Nam nói chung và ĐCTT Nam Bộ nói riêng vào học đường trong năm học mới, giúp các em hiểu hơn về bộ môn nghệ thuật này và trả lời được câu hỏi vì sao thế giới vinh danh, công nhận ĐCTT Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.

Các nghệ nhân đờn và ca biểu diễn tại Trường THPT Ernst Thälmann, quận 1, TP HCM Ảnh: Minh Trung
Các nghệ nhân đờn và ca biểu diễn tại Trường THPT Ernst Thälmann, quận 1, TP HCM Ảnh: Minh Trung

Không dừng lại ở đó, nhóm Huỳnh Khải – nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng – nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan tiếp tục đưa âm nhạc dân tộc và ĐCTT vào sinh hoạt tại các trường ở địa bàn quận 1, 3 và Gò Vấp. ThS Huỳnh Khải cho biết Trung tâm Văn hóa quận 1 sẽ đồng hành với họ tổ chức chuyên đề giới thiệu về nhạc cụ dân tộc, về bài bản ĐCTT cho học sinh tiểu học, trung học. Nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan vui mừng cho biết: “Sở Văn hóa và Thể thao TP đã ấn hành quyển sách giới thiệu bài bản ĐCTT Nam Bộ viết lời mới, phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi: “Long hổ hội”, “Tam pháp nhập môn”, “Long ngâm”, “Vạn giá”… rất dễ hát, dễ phổ biến, đi vào đời sống”.

Ông Nguyễn Văn Minh – Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP – cho biết CD những bài bản mẫu ĐCTT Nam Bộ đã được ấn hành, sắp tới sẽ phát cho các trường tiểu học, trung học để phát thanh trong giờ ra chơi, cho các em nghe và làm quen với những thể điệu vui nhộn, phù hợp với lứa tuổi của các em.

“Lời các bài bản mới dành cho các em phần lớn là ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước, sự hiếu thảo với cha mẹ, với thầy cô. Để nhân rộng hiệu quả của dự án này, rất cần sự chung sức của đội ngũ nghệ nhân ca, nghệ nhân đờn của TP HCM để đưa ĐCTT Nam Bộ và nghệ thuật cải lương vào học đường” – nghệ sĩ Kim Cương nói.

Thời gian qua, nghệ sĩ Kim Cương đã cùng với CLB Sân khấu Lạc Long Quân, đội ĐCTT Nam Bộ của nghệ sĩ Út Bạch Lan, Mỹ Chi, Kiều Phượng Loan… đưa các chương trình này đến với khán giả thiếu nhi, học sinh. Thầy Minh Trung, Trường THPT Ernst Thälmann, cho biết: “Nhà trường không quên định hướng giáo dục âm nhạc dân tộc, trong đó có ĐCTT Nam Bộ, để các em hiểu và trân quý những giá trị văn hóa của dân tộc được thế giới công nhận là di sản văn hóa của nhân loại. Đây cũng là cách thực hiện di nguyện tốt đẹp của cố GS-TS Trần Văn Khê tiếp tục truyền thụ âm nhạc dân tộc đến giới trẻ”.

Xuân Lộc

VĂN LAN / NGƯỜI VIỆT : Nam-Bắc Calif. phối hợp trong Ðêm Ca Nhạc Tài Tử Miền Nam


Nam-Bắc Calif. phối hợp trong Ðêm Ca Nhạc Tài Tử Miền Nam
Monday, May 9, 2016 7:59:08 PM

Bài liên quan

 

Văn Lan/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Ðêm Ca Nhạc Tài Tử lần 2 được tổ chức tại Hội Quán Lạc Hồng, Westminster vào lúc 7 giờ tối 7 Tháng Năm, để lại dấu ấn đẹp cho người hâm mộ dòng ca nhạc tài tử và cải lương miền Nam.

Ðây là buổi hội ngộ đầu tiên nối liền Nam-Bắc California, được kết hợp bởi 2 nhóm hàng đầu trong làng ca nhạc tài tử do Ðoàn Tiếng Vọng Tình Thương đến từ San Jose, Bắc California và Đoàn Văn Nghệ Dân Tộc Lạc Hồng ở Quận Cam, Nam California.


Nguyệt Thanh trong bài “Ðờn Ca Tài Tử.” (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Hai MC duyên dáng Ngọc Mai và Băng Tâm điêu luyện trong phần dẫn chương trình, giới thiệu rất rõ ràng những kỹ thuật khó trình diễn cũng như xuất xứ của từng bài nhạc, giúp người nghe thưởng thức trọn vẹn những làn điệu tình tứ đầy quyến rũ.

Tất cả cùng hòa quyện theo tiếng đàn của các nhạc sĩ: Giáo Sư Châu Nguyễn đàn kìm, Giáo Sư Ngọc Dung đàn tranh, Minh Tâm và Phương Nghi đàn tranh, Ðặng Hồng đàn bầu, nghệ sĩ Văn Hoàng đàn guitar, và một thân hữu của Lạc Hồng cùng với âm thanh Quốc Dũng, khiến đêm nhạc trở nên hào hứng, quyến rũ từ đầu đến cuối.

Mở màn chương trình là tiết mục hòa tấu bài “Xàng Xê qua Lớp Xề,” một trong bộ Thất Chính của 7 bài lễ: Xàng Xê, Ngũ Ðối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá và Tiểu Khúc, qua phần hợp tấu của của Ðoàn Văn Nghệ Lạc Hồng.

Tiếp nối là bài “Ðờn Ca Tài Tử” của soạn giả Hùng Dân, theo thể điệu Xuân Tình, một trong 6 bài bắc thuộc dòng nhạc tài tử miền Nam, được trình bày qua tiếng hát Nguyệt Thanh với phần nhạc đệm của Ðoàn Văn Nghệ Tiếng Vọng Quê Hương.

Lời bài nhạc này đã nói lên hết tất cả tâm tình tri kỷ tri âm khi nghệ thuật đờn ca tài tử, không cầu kỳ mà cũng chẳng xa hoa, dù thôn quê hay chốn thị thành, với tâm hồn đam mê văn nghệ, không phân biệt già trẻ sang hèn, mỗi khi họp mặt đều trở thành tri kỷ tri âm. Âm điệu bổng trầm khoan nhặt, những ưu tư phiền muộn chẳng còn, khi tiếng ca hòa với tiếng đàn, nghe tâm hồn bay bổng lâng lâng, thêm yêu quê hương cuộc sống, và yêu nghiệp cầm ca.


Bé Bảo Trân trong bài “Về Lạy Quan Âm.” (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Giáo Sư Nguyễn Thị Mai, cánh chim đầu đàn của Ðoàn Văn Nghệ Lạc Hồng, trong phần tâm tình chia sẻ cùng khán giả, nói rằng nhạc tài tử Miền Nam còn được gọi là nhạc thính phòng Miền Nam hay nhạc cổ điển Nam Phần, một loại hình âm nhạc bác học, phát sinh và lưu hành trong tầng lớp thượng lưu của xã hội Việt Nam trước đây.

Do đó loại âm nhạc này phải luôn theo một khuôn khổ nhất định, quy tắc và âm luật của nhạc lý. Ðây là thể loại âm nhạc mà hòa âm được kiến tạo theo chiều ngang dựa trên nền tảng triết lý âm dương và ngũ hành của Á Ðông tương sinh tương khắc.

Bà cũng cho biết tại sao nhạc tài tử miền Nam thường mang phong vị buồn, đó là cả một thời kỳ lịch sử dân tộc khi người Pháp đô hộ Việt Nam, đất nước lâm nguy, người nghệ sĩ yêu nước nếu viết nhạc theo lối Tây Phương hoặc để lộ tác giả, sẽ bị mật thám Pháp bắt. Lý do đó mà nhạc tài tử chỉ dùng hò, xự, xang, xê, cống để diễn tả, qua âm nhạc nói lên tâm sự yêu nước, khóc thương cho vận nước điêu linh.

Tiếp theo, Thanh Thanh của Ðoàn Tiếng Vọng Quê Hương tiếp tục cống hiến tác phẩm “Trương Chi Mỵ Nương” của soạn giả Hoàng Chương trong 3 bài “Nam Xuân qua Nam Ai“trong phần hòa đàn của 2 đoàn Văn Nghệ Lạc Hồng và Tiếng Vọng Quê Hương.

Nhiều tiết mục hấp dẫn khác dẫn dắt người nghe qua nhiều làn điệu và tiết tấu, khi sầu bi ai oán, lúc thơ thới hân hoan, với các thể điệu kết hợp trong những bi kịch lịch sử như “Vọng Chinh Phu” trong thể điệu Song Phi Hồ Ðiệp qua Chinh Phụ, sáng tác Giáo Sư Nguyễn Văn Thinh, “Trương Chi Mỵ Nương,” “Văn Thiên Tường,” với các ca sĩ Phi Yến, Nguyệt Thanh và Thanh Thanh.


Thảo Trang và Thanh Hiệp trong bài vọng cổ “Huyền Trân Biệt Khắc Chung.” (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Ðặc biệt là giọng ca của bé Bảo Trân, 10 tuổi, học trò của cô Ngọc Dung, đến từ Ðoàn Tiếng Vọng Quê Hương, San Jose. Không ai ngờ được một em bé gốc Việt, với làn hơi điêu luyện và cách nhả chữ Việt lưu loát, trong tà áo dài duyên dáng đã thể hiện xuất sắc điệu Ðoản Khúc Lam Giang qua bài “Về Lạy Quan Âm” (gồm bộ ba Phi Vân Ðiệp Khúc, Vọng Kim Lang và Ðoản Khúc Lam Giang, nên thường được gọi là bộ ba Văn Giỏi) do nghệ sĩ Văn Giỏi sáng tác năm 1976, kết hợp âm hưởng của ca nhạc Huế và dân ca miền Nam.

Trong phần hai của chương trình, những tiết mục đặc sắc nữa lại đến với khán thính giả qua những bài vọng cổ, một tiết mục không thể thiếu trong các chương trình đờn ca tài tử với bài “Lá Trầu Xanh,” Thanh Thanh trình bày.

Hai nghệ sĩ thân hữu của Ðoàn Văn Nghệ Lạc Hồng, Thảo Trang và Thanh Hiệp, cống hiến khán thính giả bài vọng cổ “Huyền Trân Biệt Khắc Chung,” nói về chuyện tình ngang trái bi thương trong lịch sử Việt Nam, một công chúa vì quê hương đất nước mà dẹp bỏ tình riêng, lên đường sang Chiêm quốc làm vợ vua Chiêm để mang lại thanh bình cho hai dân tộc.

Khán thính giả vẫn ngồi lại đến giờ phút chót để thưởng thức, và các nghệ sĩ tiếp tục tục cống hiến.

Liên tục trong chương trình, tiết mục tân nhạc với “Trở Về Bạc Liêu” sáng tác Vũ Ðức Sao Biển qua tiếng hát Thiên Hương, rồi tân cổ giao duyên với nhạc phẩm “Ðò Tình Lỡ Bước” sáng tác nhạc sĩ Hoài Linh, soạn giả Loan Thảo viết lời vọng cổ, Thanh Hiệp trình bày, tiếp theo là Kim Anh với bài “Cảm Xuân Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn” sáng tác của soạn giả Cao Hoài Sang viết theo điệu Chiêu Quân, “Tình Bằng Hữu” sáng tác Trần Thiên Hùng, trình bày Thanh Thanh, “Ðêm Tài Tử” sáng tác cố soạn giả Trần Ngọc Thạch, Nguyệt Thanh trình bày.


Các giáo sư và ca nhạc sĩ trong đêm ca nhạc tài tử. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Ðặc biệt, thính giả được nghe “Ngũ Khúc Long Phi” (năm khúc nhạc rồng bay), nhạc sĩ Võ Văn Phú sáng tác năm 1979, tổng hợp của 20 bài bản tổ, gồm có 5 khúc, hơi Bắc, hơi Oán, hơi Xuân, hơi Ai và hơi Hạ (hoặc Lễ).

Nét độc đáo của Ngũ Khúc Long Phi được soạn giả Trần Ngọc Thạch chuyển thể qua bài “Ðêm Tài Tử,” ca sĩ Nguyệt Thanh trình bày cùng với tiếng đàn của hai đoàn Văn Nghệ Lạc Hồng và Tiếng Vọng Quê Hương.

“Phong Ba Ðình,” với tiết điệu vui tươi rộn ràng đã khép lại chương trình.

Các giáo sư Châu Nguyễn, Nguyễn Thị Mai và Ngọc Dung xuất thân từ Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn trước 1975, học nhạc miền Nam với các vị thầy nổi tiếng như Hai Biểu, Ba Dư, Nguyễn Văn Thinh, Nguyễn Vĩnh Bảo, Trần Viết Vấn, Nguyễn Hữu Ba, với các bộ môn nhạc cụ cổ truyền dân tộc như đàn nhị, đàn tranh, đàn nguyệt, tỳ bà,…

Ðoàn Văn Nghệ Dân Tộc Lạc Hồng thành lập tại Mỹ năm 1989 do các giáo sư Châu Nguyễn và Nguyễn Thị Mai đồng sáng lập, thời gian qua đã tham gia trình diễn trong cộng đồng Việt Nam và các cộng đồng bạn khắp nơi, trong các tiết mục đờn ca tài tử cũng như đào tạo rất nhiều học trò thế hệ trẻ tại Mỹ.

Nói với Người Việt, cô Nguyễn Thị Mai, vị giáo sư nặng lòng với nền âm nhạc cổ truyền, cho biết ngày nay âm nhạc tài tử Miền Nam đã lan rộng và đi sâu vào các tầng lớp, và bà muốn giữ lại những tinh túy của nó, bởi vì đây là một dòng lịch sử bắt đầu từ thời kỳ Pháp đô hộ, phát sinh từ lòng yêu nước, mà nếu học hoài chắc cũng không bao giờ xong.

Bà muốn truyền lại hết cho các em, nhất là thế hệ sinh ra tại Mỹ, bị trở ngại vì ngôn ngữ, nhưng bà cũng rất mừng vì có các em học sinh từ lứa tuổi 5, 6 đến 18 tuổi, đang say mê theo học các lớp nhạc tài tử, các lớp học đàn cổ truyền Việt Nam và tham gia các buổi trình diễn lớn với nhiều tiết mục ca múa cùng vũ đoàn và ban hợp xướng Lạc Hồng.

Các em rất vui khi được trình diễn cùng với các bạn người Mỹ và các cộng đồng khác ở các trường đại học, các trung tâm, thư viện… đó cũng là những chứng chỉ tốt trong chương trình học của các em.

Còn Giáo Sư Ngọc Dung cho biết Ðoàn Văn Nghệ Tiếng Vọng Quê Hương được thành lập năm 1986, từ đó đến nay vẫn tồn tại và phục vụ cho cộng đồng người Việt tại San Jose, miền Bắc California và cả những cộng đồng nào muốn gìn giữ bản sắc dân tộc trong những buổi trình diễn. Mỗi tháng đoàn họp sinh hoạt một lần, các hội viên ôn luyện những bài bản sẽ trình bày, và mỗi tuần phải học đều. Ngày 11 Tháng Chín hàng năm, sắp tới đây đoàn sẽ làm lễ giỗ Tổ âm nhạc cổ truyền.

Và ngày 16 Tháng Mười tới đây, Ðoàn Tiếng Vọng Quê Hương sẽ làm một buổi văn nghệ từ thiện giúp người khiếm thị và những bệnh nhân phong bất hạnh tại Việt Nam, cô Ngọc Dung chia sẻ.

BĂNG HUYỀN : Nét độc đáo của đàn Kìm trong Đờn Ca Tài Tử (kỳ cuối)


Nét độc đáo của đàn Kìm trong Đờn Ca Tài Tử (kỳ cuối)
(VienDongDaily.Com – 08/01/2016)
Bài BĂNG HUYỀNĐối với Đờn Ca Tài Tử hay Cải Lương, nếu người ca và người đờn mà không rành nhịp, vững nhịp thì không thể nào “thành nghề” được. Nhất là với những chơi đờn Kìm (đàn Nguyệt), yêu cầu này còn đòi hỏi gắt gao hơn. Người nào đã chơi được đờn Kìm là phải vững nhịp. Vì từ xa xưa, cây đờn Kìm luôn đứng ở vị trí đầu nhóm đảm nhiệm vai trò lĩnh xướng. Thiếu cây đàn gì thì còn cho qua nhưng tuyệt nhiên không thể thiếu đàn Kìm trong dàn nhạc truyền thống Nam Kỳ. Đàn Kìm là cây đàn được người xưa ví là “quân tử cầm,” đĩnh đạc mà khoan hòa, gợi nên sự rắn rỏi, mạnh mẽ.

Độc tấu đàn Kìm “Người Ơi Người Ở Đừng Về” (biên soạn Nguyễn Châu) trình bày Alex Nguyễn với phần đệm đàn Tranh của Châu Giang trong Chiều nhạc thính phòng Vào Hạ tại Hội Quán Lạc Hồng (đoàn văn nghệ dân tộc Lạc Hồng) vào tháng 7 năm 2014 Băng Huyền

Sau này, guitar phím lõm điện tử ra đời đã chiếm lĩnh vị trí lĩnh xướng trong dàn nhạc cải lương của đờn Kìm. Còn khi xưa (trước thập niên 1940) và những năm gần đây khi phong trào Đờn Ca Tài Tử trong nước được phát triển rộng rãi trở lại, cây đàn Kìm đã được định vị trở lại vị trí đầu nhóm của mình.
Giới Đờn Ca Tài Tử thường hay hòa đàn theo các hình thức như

-Song tấu: gồm đàn Kìm và đàn Tranh hoặc đàn Kìm – đàn Cò hay đàn Kìm – đàn Bầu
-Tam tấu: đàn Kìm – đàn Tranh – đàn Cò, hoặc đàn Kìm – đàn Cò – đàn Bầu
-Tứ tấu: đàn Kìm – đàn Tranh – đàn Cò – đàn Tam hoặc đàn Kìm – đàn Tranh – đàn Cò – đàn Tỳ Bà.
-Ngũ tuyệt: đàn Kìm – đàn Cò – đàn Tranh – đàn Độc Huyền và thêm ống tiêu (loại 5 lỗ)
So với những nhạc cụ dân tộc khác trong dàn nhạc tài tử cải lương, cây đờn Kìm là nhạc cụ rất khó đờn cho hay.

Theo giáo sư Nguyễn Châu (giám đốc nghệ thuật đoàn văn nghệ dân tộc Lạc Hồng) thì đàn Kìm là một nhạc cụ dễ học, nhưng rất khó đàn hay. Ông cho biết, “Khi tôi vào học trường Quốc Gia Âm nhạc (lúc 7- 8 tuổi), thấy đàn cò, đàn bầu học khó quá, nên khi cầm cây đàn Kìm lên đàn hò xự hò xang xự xang, thấy đàn này dễ học, nên xin học đàn Kìm. Nhưng khi học rồi mới thấy rằng học đàn Kìm rất khó đàn hay. Đàn Bầu học đánh sao cho ra nốt thì khó, nhưng khi ra được rồi thì rất dễ đàn hay. Đàn Cò (đàn Nhị) kéo sao cho thẩm âm ra, cũng rất dễ hay vì tay kéo rất nhẹ nhàng. Còn đàn Kìm, người học cần phải có sức khỏe, lực bấm của ngón tay phải mạnh, đồng thời hệ thống dây của nó đổi nhiều lắm. Đó là lý do vì sao mà đến giờ tôi vẫn mê cây đàn Kìm.”

Được biết nếu những người nào có năng khiếu thì học Guitar lõm, đàn Sến, Tranh… trong vòng 6 tháng là có thể đờn ca được, còn khi học đờn Kìm thì phải mất khoảng 12 tháng. Đờn Kìm là loại nhạc cụ đòi hỏi người đờn phải nhấn nhá, có khi chỉ một bậc phải ra nhiều âm sắc khác nhau. Nhất là dây “Tố Lan” của đờn Kìm hiếm người nào có thể đờn cho hay, vì ngón nhấn phải đạt đến điêu luyện.

Giáo sư Nguyễn Châu vừa đàn minh họa vừa giải thích để hiểu rõ hơn tại sao ông lại cho rằng muốn chơi đờn Kìm hay sẽ khó vô cùng.

Kỹ thuật trình tấu đàn Kìm
Đàn Kìm có tám thế bấm, ngón trỏ là ngón số 1, ngón giữa là ngón số 2, ngón áp út là ngón số 3, và ngón út là ngón số 4; Ngoài ra trong mỗi thế bấm có thể dùng 3 ngón tay (1, 2, 3) để bấm và cả ngón số 4 nữa. Mỗi nốt có thể bấm bằng một ngón, nhưng khoảng cách giữa mỗi phím đờn Kìm hơi rộng ở đầu đàn nên có thể sử dụng cả hai ngón bấm trên một phím khi thể hiện các kỹ thuật nhấn, nhấn luyến. Khi bấm đàn, ngón tay trái luôn thẳng góc với dây đàn, bấm đầu ngón tay và không gãy ngón.

Cũng theo lời của giáo sư Nguyễn Châu, đối với các âm không có trong hệ thống cung phím của đờn Kìm thì khi đàn, nếu muốn có âm đó, người nghệ sĩ phải mượn cung phím có âm thấp hơn âm định đánh, nhấn mạnh ngón tay vào cung phím đó làm dây đàn căng lên một độ nhất định, khi tay phải gảy âm muốn có đó. Cung phím này được gọi là cung mượn.

“Còn với các âm có sẵn trong hệ thống cung phím: để phát huy hiệu quả diễn tấu, nghệ sĩ không bấm vào cung phím chính mà bấm vào cung phím thấp hơn, nhấn lên rồi mới gảy.

Kỹ thuật bàn tay trái
Kỹ thuật bàn tay trái của đàn Kìm có những kỹ thuật trình tấu độc đáo để tạo nên âm sắc đặc biệt:
-Ngón nhún: đây là cách nhấn liên tục trên một cung phím nào đó, nhấn nhiều hay ít, nhanh hoặc chậm tùy theo tính chất tình cảm của đoạn nhạc. Nhấn dài hay ngắn tùy theo trường độ của nốt nhạc, nốt nhấn láy làm cho âm thanh cao lên không quá một cung liền bậc (điệu thức ngũ cung) rồi trở lại độ cao cũ nghe như làn sóng.

Ngón nhún là kỹ thuật thường sử dụng ở đàn Kìm, làm cho âm thanh mềm hơn, tình cảm hơn. Ở những âm cao tiếng đàn Kìm hơi đanh, khô nên cần sử dụng kỹ thuật ngón nhún cho những nốt có trường độ vừa phải, không ngân dài, chỉ nên từ một đến hai phách với tốc độ vừa phải.

-Ngón vỗ: Thường dùng ngón 1 bấm cung phím, tay phải gảy đàn, khi âm thanh vừa phát lên sử dụng ngón 2 hoặc cả hai ngón 2 và ngón 3 vỗ vào dây trên cùng một cung phím liền bậc ngay ở dưới cần đàn, âm mới sẽ cao hơn âm chính một cung liền bậc (điệu thức ngũ cung). Âm thanh ngón láy nghe gần như tiếng nấc, diễn tả tình cảm xao xuyến.

-Ngón chụp: Tay trái ngón 1 bấm vào một cung phím, tay phải gảy dây, khi âm thanh vừa phát ra, ngón 2 hoặc 3 bấm mạnh vào cung phím khác (thường là liền bậc cao) âm thanh từ cung phím này vang lên mà không phải gảy đàn. Âm luyến nghe được do một phần của dây đàn còn chấn động, một phần do ngón tay mổ vào cung phím tạo thêm chấn động. Âm luyến nghe yếu nhưng mềm mại, ở những thế bấm cao âm luyến nghe kém vang nên ít được sử dụng. Ký hiệu ngón chụp dùng dấu luyến giữa các nốt nhạc.
-Ngón láy rền: Là tăng cường động tác của ngón láy cho nhanh và nhiều hơn với sự phối hợp vê dây của tay phải. Ký hiệu ngón láy rền sử dụng chữ tắt của trille và hai gạch chéo ở trên hoặc ở dưới nốt nhạc (nếu là nốt tròn) hay trên đuôi nốt nhạc.

-Ngón giật: Ngón giật là cách nhấn trên dây như ngón nhấn luyến nhưng tính chất âm thanh khác: âm được nhấn tới vừa vang lên liền bị tắt ngay một cách đột ngột, âm thanh tiếng giật nghe như tiếng nấc, diễn tả tình cảm day dứt, thương nhớ.

-Ngón rung: Đây là ngón tạo độ ngân dài của tiếng đàn và làm tiếng đàn mềm đi ở những âm cao, âm thanh đỡ khô khan, tình cảm hơn. Dây buông cũng rung được bằng cách nhấn nhẹ ở đoạn dây sát dưới trục dây.

-Ngón nhấn: Ngón nhấn là bấm và ấn mạnh trên dây đàn làm cho tiếng đàn cao lên, có nhiều cách thực hiện ngón nhấn.

-Ngón nhấn luyến: là ngón độc đáo của đàn Kìm nên được sử dụng nhiều, đàn Kìm với phím đàn cao, phím này cách phím kia xa, dây đàn bằng dây tơ hoặc ny lông mềm mại và chùng nên dễ dàng sử dụng ngón nhấn luyến.

Ngón nhấn luyến tạo cho hai âm nối liền nhau, luyến với nhau nghe mềm mại như tiếng nói với nhiều thanh điệu, tình cảm. Khi đánh ngón nhấn luyến tay phải chỉ gảy một lần, ký hiệu ngón nhấn luyến là mũi tên đi vòng lên hay vòng xuống đặt từ nốt nhấn đến nốt được nhấn tới.
Có hai cách nhấn luyến

Nhấn luyến lên: nghệ sĩ bấm một cung phím nào đó, tay phải gảy dây, tiếng đàn ngân lên, ngón tay trái đang bấm cung phím đó lại nhấn xuống cho dây đàn căng lên nhiều hay ít tùy theo ý muốn của nghệ sĩ. Ngón nhấn luyến lên có thể trong vòng từ quãng hai đến quãng bốn. Đối với những âm ở dưới cần đàn xa đầu đàn quãng âm nhấn luyến càng hẹp hơn.

Nhấn luyến xuống: nghệ sĩ bấm và nhấn dây ở một phím nào đó rồi mới gảy, vừa gảy ngón tay nới dần ra nhưng không nhấc khỏi cung phím để sau khi nghe âm thứ nhất, còn nghe được âm thanh thứ hai thấp hơn âm thứ nhất. Âm thứ hai không do gảy mà do bấm nhấn luyến xuống, đối với âm luyến lên và âm luyến xuống không nên sử dụng liên tục với nhau vì khó đánh chuẩn xác.

-Ngón vuốt: Ngón vuốt là dùng ngón tay trái vuốt đi lên hay đi xuống theo chiều dọc của dây trong khi tay phải chỉ gảy một lần hay kết hợp với ngón vê hay ngón phi. Ký hiệu của ngón vuốt là dấu gạch nối giữa các nốt nhạc. Có 3 loại vuốt:

Vuốt lên: vuốt từ âm thấp lên âm cao. Vuốt xuống: vuốt từ âm cao xuống một âm thấp. Vuốt tự do: có 2 cách. Vuốt từ một âm chỉ định lên bất cứ âm nào (thường không quá quãng 5). Vuốt từ một âm chỉ định xuống bất cứ âm nào (thường chỉ nên vuốt xuống quãng 4). Thường thì vuốt lên âm thanh nghe rõ hơn vuốt xuống, vuốt nhanh âm thanh nghe rõ hơn vuốt chậm

-Ngón bật dây: Tay trái, ngón trỏ hay ngón giữa bấm vào một cung phím nào đó, kế tiếp dùng tay khác gảy vào dây ở ngay dưới ngón tay đang bấm để phát ra âm thanh.

Bật dây buông: sử dụng bất cứ ngón tay trái nào bật một trong hai dây buông, hay cả hai dây một lúc, ngón bật dây chỉ nên viết trong trường hợp độc tấu, không nên đưa vào bài nhạc có tốc độ nhanh hoặc nốt nhạc ở phách mạnh.

-Âm bồi: có thể đánh trên tất cả các dây nhưng chỉ nên đánh trong khoảng âm giữa, âm dưới và nên đánh những âm bồi quãng tám. Cách đánh là sử dụng ngón tay trái chặn vào đoạn dây thích hợp kể từ đầu đàn trong khi tay phải gảy dây đó.

Kỹ thuật của bàn tay phải
Những kỹ thuật kể trên là kỹ thuật của bàn tay trái khi trình tấu trên đàn Kìm, còn những kỹ thuật của bàn tay phải, gồm có

-Ngón vê: Ngón cái và ngón trỏ tay phải cầm móng gảy, các ngón khác khum tròn, cổ tay kết hợp với ngón tay điều khiển móng gảy đánh xuống, hất lên đều đặn, liên tục trên dây đàn.

-Ngón gõ: Sử dụng các ngón tay phải gõ vào mặt đàn, thường được sử dụng trong lúc tất cả các nhạc khí đều nghỉ hoặc báo hiệu cho hát, cho hòa tấu hoặc điểm giữa các câu nhạc hay đoạn nhạc.

-Ngón bịt: Ngón bịt làm cho âm thanh vừa vang lên liền tắt một cách đột ngột tạo thay sự thay đổi màu âm, ngón bịt diễn tả sự u buồn, nghẹn ngào hoặc để chấm dứt một đoạn nhạc. Nếu sử dụng liên tiếp ngón bịt lại tạo hiệu quả khác : biểu lộ sự cứng rắn, dứt khoát.

Có hai cách thể hiện ngón bịt: Sử dụng bàn tay hoặc ngón tay vừa gảy chặn ngay dây đàn. Và sử dụng bàn tay, ở ngang thân ngón út chặn ngang ngựa đàn tạo ra một âm tối, đục tương tự như sử dụng hãm tiếng.

Kết luận
Nhạc sĩ Văn Hoàng (là nhạc sĩ chuyên đàn Guitar phím lõm và đàn Sến trong những chương trình cải lương, đờn ca tài tử tại quận Cam) cho rằng “Nếu trong dàn nhạc cải lương, nếu thiếu đàn Kìm, có thể thay thế bằng đàn Sến, tuy nhiên đàn Sến chỉ hay ở những giai điệu trẻ trung thôi. Còn những tình huống bi cảm, hoặc những điệu Nam oán thì sến không thể đàn hay bằng đàn Kìm được.”

Giáo sư Nguyễn Châu bày tỏ, “Vì học đờn Kìm khó đờn hay, trong nước đã ít người theo học, thì nói chi tại hải ngoại này, người theo học đờn Kìm càng hiếm hoi hơn. Những bạn trẻ theo học các nhạc cụ dân tộc tại đoàn Văn Nghệ dân tộc Lạc Hồng thường thì học guitar phím lõm, Tranh, Bầu hay đờn Cò vẫn nhiều hơn là số em theo học đàn Kìm. Dù ít ỏi, nhưng chúng tôi luôn chú ý hướng dẫn lớp trẻ học hỏi nhạc cụ này, vì chỉ có các em mới có đủ thời gian và sức lực để góp phần gìn giữ, bảo tồn nền nghệ thuật cổ truyền tại hải ngoại này sau khi lớp tụi tui qua đời thì vẫn còn có người kế thừa chúng tôi.”
(bh)

 

Nguồn: http://www.viendongdaily.com/net-doc-dao-cua-dan-kim-trong-don-ca-tai-tu-ky-cuoi-kuJG7Jzb.ht