Category Archives: NHẠC SĨ VIỆT NAM

nguyễn phúc , BBC: phỏng vấn nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn (1926-2004)


Mời các bạn đọc bài phỏng vấn NS Lê Trọng Nguyễn tác giả của bài Nắng chiều, Lá rơi bên thềm, Sao Đêm , Bến Giang Đầu …Bài rất hay của Nguyễn Phúc, Đài BBC Luân Đôn thực hiện ngày LTN còn sống. Bài viết là cả một quá khứ dài từ thời 1945 trở về sau, có nhắc tới Văn Cao, Vũ Hoàng Chương, Phạm Đình Chương , Nguyễn Xuân Khoát ….Tình cờ T mới được đọc, ai chưa đọc, đọc cho vui, xin chia sẻ cùng các bạn

Lê Trọng Nguyễn (1926-2004)

Thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam bước vào tuổi thanh niên thời kháng chiến chống Pháp nay đã ở vào tuổi “thất thập cổ lai hy”. Sự đóng góp và tâm tình của thế hệ đó, cho đến nay, vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, nhà báo Nguyễn Phúc, nguyên là biên tập viên Ðài BBC Luân Ðôn, thực hiện một loạt những cuộc phỏng vấn các văn nghệ sĩ thế hệ này hiện đang định cư ở hải ngoại. Mở đầu là bài phỏng vấn nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn dưới đây.
*
Từ trên thềm của ngôi nhà nhỏ cạnh đường San Gabriel, thị trấn Rosemead, CA, USA, người nghệ sĩ ấy, với khuôn mặt chở đầy dấu tích của năm tháng, của phong trần, của phong sương, của chịu đựng, đã đón tôi với một nụ cười thật tươi, thật sáng, với một cái nhìn thật thẳng thắn, thật sắc, thật lâu: có chút gì thật đặc sắc trong cái tương phản giữa nét trẻ trung của nét cười ấy, cái nhìn ấy với những nếp hằn sâu trên trán rộng, những đường nhăn bên hai má. Ðiếu thuốc lá đang cháy dở trên tay, anh Nguyễn ngoắt:

“Vô, vô.”

Cái ngoắt tay ấy của một con người từng trải, lịch duyệt, có vẻ như bất chấp mọi ước lệ trong lối chào hỏi xưa nay của người mình, cái ngoắt tay thân mật ấy coi vậy mà lịch sự ra phết.

Mặt đàn dương cầm cũ cũng chở đầy năm tháng như gương mặt của chủ nhân nó: Hai tấm ảnh bán thân đóng khung. Một của J. S. Bach và một của Beethoven. Cái tủ thấp kê gần giànstereo nhỏ đầy dĩa CD nhạc cổ điển tây phương.

– “Âm nhạc và anh tình cờ mà gặp nhau. Hay là anh tìm đến âm nhạc?”

Không một chút lưỡng lự, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đáp:

“Tôi tìm đến âm nhạc. Từ nhỏ, mình sống xung quanh âm nhạc rồi. Mình hát trong nhà thờ từ hồi nhỏ, cũng nhờ vậy mà mình biết là mình thích âm nhạc, yêu âm nhac… ”

– “Anh sớm khám phá ra là anh có khiếu âm nhạc?”

“Biết mình thích âm nhạc thì biết khá sớm nhưng mãi cho đến bây giờ mình cũng không biết là mình có khiếu hay không?”

– “Khiêm nhượng rồi anh nói vậy chứ ai không biết rằng anh là một nhạc sĩ có tài, thành danh đã từ lâu với rất nhiều bài được cả nước yêu chuộng, nổi tiếng nhất là bản Nắng Chiều.

“Anh khua tay ngắt lời tôi:

“Bản Nắng Chiều thật ra chỉ là một trong một số bài của tôi được phổ biến rộng rãi, nhưng mà tôi cũng không thích nó lắm, dù tình cảm tôi gửi vào đó rất mặn nồng. ”

– “Tại sao ?”

Anh Nguyễn cười phá lên, rất sảng khoái. Rồi im lặng, trầm ngâm một lúc anh chậm rãi đáp:

“Mình cũng không biết vì sao mình không thích bài Nắng Chiều lắm, dù khi viết xong bản đó mình rất khoái, dù bài đó rất chững chạc, chững vô cùng, nó cân phương đủ mặt… Ðây cũng là một loại tâm trạng. Người ta hát nhiều quá, mình đâm ra ghét. Người ta cứ giới thiệu Nắng Chiều, Nắng Chiều mà không biết thằng Nguyễn là ai cả.”

– “Kể cũng không có chi lạ. Có một bản Sonate của Robert Schumann mà chính nhạc sĩ cũng từng nói là ông không thích chỉ vì bản đó là bản ruột của danh cầm Clara Schumann. Mà Clara Schumann như anh cũng đã biết rồi, lại chính là vợ của nhạc sĩ. Ông thấy thiên hạ tán thưởng bài đó, tán thưởng nghệ thuật trình tấu của vợ – hình như bài sonate đó khó đánh lắm – mà không biết đến ông nên ông bực… rồi cũng đâm ra ghét bản sonate đó. Nhưng mà, để trở lại với sáng tác của anh, không phải vì có quá nhiều người hát bài Nắng Chiều mà giá trị nội tại của nó bị giảm đi. Anh viết bài Nắng Chiều vào năm nào và viết ở đâu ?”

“Tôi viết bản đó ở Huế, thời gian sau khi bỏ vùng kháng chiến về thành… Tâm sự tôi trong bài Nắng Chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 3 năm 45, có một gia đình công chức Nam triều từ Qui Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy!”

– “Khi anh về qua sân nắng chạnh nhớ câu thề…” Hỏi cho đáo kỳ lý luôn? Biết rằng anh viết bản đó ở Huế, nhưng mà tại nơi nào ở Huế ?

“Tại cung An Ðịnh. ”

Cung An Ðịnh được cất riêng cho vua Khải Ðịnh, không thuộc hệ thống kiến trúc cũ của hoàng thành Huế, nằm bên bờ sông An Cựu. Cùng với nhiều kiến trúc khác ở Huế, cung An Ðịnh đã bị Việt Minh đặt chất nổ, phá sập khi họ áp dụng chính sách tiêu thổ kháng chiến vào đêm 19 tháng 12 năm 1946.

Từ cổng chính nhìn vào, lúc ấy chỉ còn dãy nhà phía bên phải, tuy hư hỏng nhưng vẫn còn ở được. Và đó cũng là nơi mà bà Từ Cung, thân mẫu của Cựu Hoàng Bảo Ðại, đã cư ngụ sau khi bà hồi cư từ Mỹ Lợi.

– “Tại sao mà anh lọt vào cung An Ðịnh?”

“Lúc bấy giờ, tôi làm việc ở đài phát thanh Huế, chơi thân với anh Vũ Ðức Duy. Anh ta có họ với bà Từ Cung, cũng nhờ quen anh mà anh đưa tôi qua ở bên cung An Ðịnh… Thật ra cái ý định viết một bài cho mối tình ở Hội An nó nhen nhúm lên trong lòng tôi đã từ lâu, nhưng phải chờ có một tia lửa thiệt âm ỉ ấy nó mới bốc lên được… ” hẳn không phải là tình câm mà tuyệt vọng?”

“Lúc bấy giờ tôi còn nhỏ còn trẻ mà, đâu 19, 20 gì đó. Platonique (lý tưởng) thôi. Rồi sau đó tản cư, kháng chiến… có cảm tưởng như mình còn thiếu người ấy một món nợ. Vì tôi viết bản Nắng Chiều ở Huế nên có nhiều người lầm tưởng rằng tôi viết cho một người Huế mà tôi đã yêu. Nhưng sự thật thì như tôi vừa kể, không phải như vậy. Viết xong bài Nắng Chiều tôi khoái lắm, biết rằng mình đã trả được món nợ ấy. ”

“Và cái tia lửa đó là một người thiếu nữ họ Hoàng, một thời hoa khôi ở đế đô, có họ với bà Từ Cung… Một chiều, ngồi cạnh hồ sen của cung An Ðịnh, bóng dáng thướt tha của người thiếu nữ ấy đã gợi cảm cho tôi, đưa tôi về với mối tình cũ vậy là tôi viết bài Nắng Chiều, đâu có trong vòng nửa tiếng đồng hồ là xong. Thời gian ở Huế là lúc mà tôi biết chắc là tôi quả yêu âm nhạc thiệt sự, trước đó viết vớ vẩn vậy thôi. ”

– “Anh học nhạc với ai ?”

“Tôi tự học trong giai đoạn đầu. Lúc bấy giờ tôi tham gia các phong trào thanh niên đi cắm trại, họp bạn ở tỉnh nhà, tỉnh Quảng Nam. Ca khúc đầu tiên của tôi là bài Ngày Mai Trời Lại Sáng, tuổi trẻ mà, luôn lạc quan tin tưởng ở tương lai. Tuy là sáng tác đầu tay nhưng mà bây giờ xemlại, tôi thấy bài đó cũng chỉnh. Sau đó thì đi tản cư. Dạo ấy có cái buồn cười thế này, có một số anh em yêu thích âm nhạc nói tôi thảo một bản nhạc như nhạc ngoại quốc, loại hòa tấu mà không có lời, họ cho vậy là nhạc cổ điên tây phương, tôi cũng chiều anh em mà có viết một bài đặt tên là Adieu Les Soirées Intimes. Cái buồn cười là khi bắt đầu viết nhạc, ưng viết cho khúc mắc, cho khó khăn. Sau này đọc thêm, học thêm, nghe nhiều mới thấy được cái simplicité (giản dị) mà đạt được mới là khó. Cũng nhờ một phần vào sinh hoạt văn nghệ và những cuộc hội thảo về quan niệm sáng tác khi tôi còn phụ trách âm nhạc cho toàn thể Liên Khu Năm, một đơn vị hành chánh trong vùng kháng chiến, gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên… Lúc đó, tôi có viết một bài tên là Binh Nhì Ca, viết cho bộ đội hát chơi mà. Bản này được tuyên dương. Tôi viết theo lối của tôi, khi tập cho anh em bộ đội hát, họ hát không được. Tôi sửa lại cho đúng với cách mà họ thích hát, họ hát được liền. Nhịp điệu của họ giản dị thôi, mà mình ưng viết cho khó thành ra họ hát không được. Có gì đâu. ”

– “Anh tự ý sửa hay là ai bảo anh sửa ?”

“Tôi tự ý sửa. Vì lúc đó mình nghĩ mình viết cho bộ đội mà, không phải cho riêng mình. Cho nên tự ý sửa, không có đau lòng chi cả. Bộ đội hát được, mình cũng vui vậy.”

– “Có bao giờ anh phải viết một bài theo chỉ thị của cấp trên không?”

“Tuyệt đối không. Tôi tuyệt đối chống lại cái gọi là nhạc đột kích, nghĩa là loại bài hát mà người ta khuyên anh cứ nên làm sẵn trước, chờ một phong trào, chiến dịch, đại hội nào đó, đúng lúc sẽ tung ra. Tôi chống cái chuyện đó lắm. Tôi làm nhạc là vì tôi thích thôi, trong số những bài tôi viết hồi đó có bản Bài Ca Của Ðoàn Văn Nghệ, lời của Tôn Thất Mạnh Hào, anh Mạnh Hào hiện vẫn còn sống ở ngoài Bắc, làm thơ hay lắm, bút hiệu là Hạo Nhiên. Tôi viết là tôi décharger một điều gì đó trong tôi. Tôi không có lý luận gì cả.”

Tôi thầm mến cái ngay thẳng thật thà của con người xứ Quảng này. Anh không quên những kẻ đã góp phần vào sự nghiệp của chính mình. Mến là vì, xung quanh mình, không riêng gì trong âm nhạc, mà trong nhiều bộ môn, lĩnh vực khác nữa, số người có khả năng nhận vơ đếm không hết.

– “Bạn văn nghệ cũ của anh từ thời kháng chiền gồm những ai, nay còn những ai.”

“Ở Liên Khu Năm, lúc ấy có anh Phan Huỳnh Ðiểu, tác giả bài Có Một Ðàn Chim, anh Văn Ðông. Về sau họ ra Bắc cả. Có hai anh em anh Dương Minh Ninh và Dương Minh Hòa. Anh Ninh không biết nhiều về nhạc lý nhưng mà trời phú cho cái khả năng ghi nhận nhạc điệu. Thời đó, đi xem ciné, nghe được một bài nào mà anh thích là anh ghi lại không thiếu một nốt. Anh Ninh có viết bài Trai Ðất Việt. Anh lớn hơn tôi chừng bốn năm tuổi, chuyên về cổ nhạc, vọng cổ, hiện còn sống ở Việt Nam. Anh Hòa có lúc phải đi vùng Kinh Tế Mới, bây giờ sống lây lất ở Việt Nam, đi dạy nhạc vớ vẩn, thỉnh thoảng có làm những bài hát thiếu nhi. ”

– “Những người bạn văn nghệ đó, có ai chỉ dẫn thêm gì cho anh về nhạc lý không?”

“Không. Nhưng mà lúc bấy giờ tôi có cái may mắn tìm được một tủ sách, trong đó có sách nhạc lý của một trường công giáo ở Chương Hòa, Tam Quan, Bình Ðịnh. Tôi dạy học ở đó. Nhờ vào tủ sách đó mà tôi tự học thêm về harmonie (hòa âm) về contrepoint (đối điểm)… Vì tự học nên tôi học mà không có làm bài tập… ”

– “Sau contrepoint rồi đến composition (soạn nhạc) phải không anh?”

“Ðúng vậy, mãi về sau này, khi vào thành rồi, tôi mới học composition. Nhưng có cái buồn cười là lúc đó, mình chưa học composition mà lại viết nhạc, viết được có lẽ nhờ mình nghe nhiều, sống nhiều với âm nhạc. Cũng như có nhiều người có học luật lệ gì về thi ca đâu nhưng mà vẫn làm thơ, vẫn làm được thơ. Riêng trong âm nhạc, tôi nghĩ muốn viết cho vững, tối thiểu phải học harmonie, nó giúp cho mình chấm câu dứt đoạn. Người sáng tác nhạc ít nhất cũng phải biết hòa âm. Thiếu kỹ thuật đó, nhạc phẩm không có được mạch lạc chặt chẽ.

Các nhạc sư Pháp cho rằng âm nhạc là sự vận chuyển của tâm trạng và tư tưởng. Sự vận chuyển này được tạo ra bởi hai trạng thái động và tĩnh. Có nghĩa là căng thẳng (tension) và buông dãn (détente). Ðể dễ hiểu, khi nghe một bài vọng cổ, đến đoạn nói lối (có khi kéo dài đến hàng trăm chữ), có lúc tiết điệu và âm điệu đang tạo sự căng thẳng, người nghe nín thở chờ đợi, chờ đợi gì, chờ đợi sự buông dãn của âm Hò chấm câu, là lúc cả rạp vỗ tay. Lúc này là lúc âm nhạc chủ động, lời văn của bài ca là thứ yếu, chỉ có âm Hò họa điệu (chute) để cho người nghe thở phào. Có tiết điệu trống (rythme masculin), tiết điệu chiều ý người nghe theo nét nhấn (accent) của nhịp ấn định. Và tiết điệu mái (rythme féminin) là tiết điệu đưa lệch nét nhấn mà người nghe chờ đợi. Ðấy là một vài chi tiết của composition.

Sau khi vào thành rồi, tôi bắt đầu học thêm khóa hàm thụ với Ecole Universelle ở bên Pháp. Tháng tháng gửi mandat-poste cho họ, theo học cours de composition. Sau khi học xong tôi được chấp nhận là hội viên của SACEM Hội Nhạc sĩ Pháp. Lúc bấy giờ tôi quyết tâm đeo đuổi ngành nhạc. ”

– “Nhưng mà nhạc có nuôi nổi anh không?”

Thoáng một nét cười khá chua chát qua một hơi khói thuốc lá có đầu lọc, hít rất dài, hãm rất kỹ:

“Không. Lúc mới ở kháng chiến về tôi đi dạy vớ vẩn. Lúc bấy giờ ở Ðà nẵng, có gia đình ông Huỳnh Sau, con cái đều chơi nhạc giỏi cả, trong nhà có đủ dương cầm vĩ cầm. Giống như gia đình ông Henri Richard ở Huế vậy. Tôi chơi thân với gia đình đó, họ giới thiệu cho tôi dạy vớ vẩn, thỉnh thoảng họ cũng nhờ tôi làm partition. Thỉnh thoảng cũng có tham dự những hoạt động âm nhạc trong thành phố. Dạo ấy tôi có viết bài Vác Ðàn Ði Ðâu và bài liên khúc nhịp ba (suites des valses) Sóng Ðà Giang, Ðà Giang đây là sông Thu Bồn ở Quảng Nam. Tôi gửi bài đó cho chương trình của ông Ðan Trường bên Pháp và được phổ biến ngay.”

Vào những năm đầu thập niên 50, đài Pháp-Á vẫn cho phát thanh lại một chương trình tiếng Việt thu thanh trước ở Paris, của ban Nhạc Ðan Trường, nội dung thường xoay quanh sinh hoạt của Việt Kiều ở nước Pháp. Chương trình dài 30 phút được phát thanh lại vào trưa chủ nhật mỗi tuần, một phần nào thỏa mãn được cái tò mò của người trong nước đối với cuộc sống của bạn đồng hương ở Pháp. Ngày nay, hơn bốn mươi năm sau, nhiều nơi trên thế giới đã có tiếng nói vọng về quê hương, nhưng có lẽ không có đài nào có một câu mở đầu bằng một lời rất lãng mạn, rất trữ tình, dài dòng mà dễ thương như chương trình Ðan Trường dạo ấy: “Muôn dặm xa xôi, quan san cách trở, tưởng nhớ đến quê hương cho nên anh em chị em chúng tôi mượn nghệ thuật âm thanh để bắc cầu liên lạc với tổ quốc…”

Dài dòng thật, chả bù nhưng mà thì giờ thời bấy giờ có vẻ như chưa phải là tiền bạc.

– “Tại sao anh bỏ kháng chiến?”

“Dạo ấy em gái tôi đau nặng. Ði kháng chiến cực khổ quá, mẹ già xoay ra buôn bán vớ vẩn. Nhà tôi ở Bồng Sơn lúc đó là một cái trạm liên lạc của anh em văn nghệ sĩ, ai đi ngang cũng ghé vào nhà ăn cơm. Sống cực khổ quá, tôi nghĩ đến chuyện về thành, bán nhà cửa đi học tiếp. Cực khổ quá, mình ở không nổi thì bỏ đi thôi, chứ không có bất mãn chuyện chi cả. Lúc đó bộ mặt cộng sản của Việt Minh chưa lộ hẳn. Phong trào đấu tố lúc đó chỉ mới được phát động đâu ngoài Bắc thôi, chứ ở Liên Khu Năm chưa có. Vào trong này, định đi học lại nhưng hoàn cảnh kinh tế của gia đình lúc đó cũng đã khác, không cho phép mình tiếp tục học nữa.”

– “Trước 75, dù đã sống với Việt Minh, anh không có kinh nghiệm đau thương với cộng sản, tại sao sau ngày mệnh danh là giải phóng anh lại bỏ đi qua đây ?”

“Hồi tháng Tư năm 75 mình không có ý định đi. Lúc bấy giờ thật ra đầu óc mình không có ý thức chính trị gì cả, cứ nghe nói có ba thành phần nọ kia. Mãi cho đến ngày 28, một người bạn Mỹ, làm thuyền trưởng một chiếc tàu của SeaLand gửi cho tôi mấy chữ tàu đang chờ gia đình anh mà rồi tôi cũng không đi. Tôi nghĩ đem vợ con qua Mỹ lấy gì mà sống, làm gì mà sống, trong khi đó thì ở Saigon mình có sẵn cơ sở rồi, không giàu có gì nhưng mà sống được. Riêng bản thân mình cũng không có liên hệ với một đảng phái chính trị nào. Tôi nghĩ có thể có được một cuộc sống… bình thường. Nhưng mà mơ ước tầm thường vậy mà rồi cũng không ở được với Việt Cộng. Mãi tháng 3 năm 83 tôi mới qua đây… ít lâu sau ngày Việt Cộng chiếm miền Nam, tôi có gặp lại anh Nguyễn Xuân Khoát ở Saigon. Anh vào Nam, hỏi Phạm Trọng Cầu về tôi, biết tôi còn ở lại Sài gòn, anh tìm đến nhà thăm tôi. Tâm sự hàn huyên xong, anh khuyên tôi nên tìm cách đi. Nguyên văn câu nói anh Khoát như thế này: “Cậu đi đi, không ở được đâu.”

– “Anh quen nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát từ hồi nào?”

“Từ hồi tôi còn học ở Hà Nội. Khoảng năm 42 cho đến năm 45.”

Cái ngày đầu tiên quen biết nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát có lẽ không quan trọng bằng cả một thời kỳ sống ở Hà Nội trong những năm tháng nhiều biến cố lịch sử khắp nước. Cái đầu đã hói ấy hơi cúi xuống trong một dáng suy nghĩ như đang cố ôn lại những hình ảnh cũ. Im lặng một hồi, anh tiếp:

“Tôi quen anh Khoát từ hồi anh còn đàn ở quán Tân Nghệ Sĩ ở Bờ Hồ. Tối tối, tôi vẫn ra Tân Nghệ Sĩ nghe nhóm nhạc sĩ này đàn. Có cả nhạc sĩ vĩ cầm Nguyễn văn Diệp. Cái quán Tân Nghệ Sĩ nổi tiếng này nằm cạnh hàng kem Zéphyr, tức là hàng kem của cô Cúc. ”

– “Chắc cô Cúc này phải là một trong nhiều thiếu nữ đẹp ở Hà Thành nên đến hơn nửa thế kỷ rồi mà anh còn nhớ tên.

“Thật ra tôi cũng không biết nữa, nhưng tôi nhớ là vì sau này cô lấy ông Phạm Văn Ðồng…. Như tôi vừa nói, hàng kem Zéphyr nằm cạnh Quán Nghệ Sĩ là nơi tôi gặp và quen anh Nguyễn Xuân Khoát. Anh Khoát cũng có đàn ở Taverne Royale nữa. Hồi đó ngoài Hà Nội còn có một phòng trà nữa tên là Tuyết Sơn, vì hay lui tới phòng trà đó mà tôi biết hai nhạc sĩ vĩ cầm, đó là hai anh Lê Ngọc Châu và Ðỗ Thế Phiệt. Các anh Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Nguyễn Thiện Tơ lúc đó tôi cũng đã biết tiếng, nhưng họ ở lớp đàn anh, lớn hơn tôi. Sau này vào Saigon rồi, tôi mới quen anh Dương Thiệu Tước và Thẩm Oánh. Thật ra thì anh Nguyễn Xuân Khoát cũng hơn tôi đến 10 tuổi, nhưng mà tôi biết anh Khoát một phần cũng qua liên hệ công giáo.

Những năm tháng sống ở Hà Nội hẳn đã để lại nhiều kỷ niệm vui trong đời, nên anh Nguyễn thao thao về những mẩu chuyện vụn vặt, hết chuyện này sang chuyện khác. Sống ở Hà Nội mấy năm “học ít chơi nhiều”, đổi chỗ ở lung lung, lang thang hết nơi nay đến nơi khác, có lúc vào ở ngay trong đại học xá, tại khu dành cho sinh viên trường Kiến Trúc “dù mình chưa lên đại học”. Tại đó anh đã gặp bạn đồng hương là anh Vương Quốc Mỹ, người vẽ kiểu cho lăng “Bác”. Nghe anh vui vẻ thú nhận là mình học ít chơi nhiều, tôi hỏi:

– “Anh có đóng đô ở Khâm Thiên không?”

“Không, dạo ấy mình còn trẻ quá. Tôi chưa bao giờ nghe hát ả đào, nghe ca trù ở Khâm Thiên cả. Ðối với một người Việt Nam làm nhạc, đó là một thiếu sót. ”

– “Chuyện vui buồn của một thời lãng du, một đời lãng tử?”

“Nhiều lắm. Nhưng mà vừa nhắc đến anh Nguyễn Xuân Khoát… có một chuyện mà bây giờ những người liên hệ trong đó đã chết cả rồi tôi mới dám nói. Hồi 45-46, ở Hà Nội có ban nhạc kịch Anh Vũ, có vào Huế và Hội An trình diễn vở Tục Lụy của Khái Hưng, Lưu Hữu Phước viết nhạc. Trưởng đoàn nhạc kịch lúc đó là anh Võ Ðức Diên, ngoài ra còn có các anh Thế Lữ, Văn Chung, Bùi Công Kỳ, Nguyễn Xuân Khoát và một số các anh khác nữa, tôi không nhớ hết. Lúc ban kịch Anh Vũ vào đến Quảng Nam thì ở tại Ðà Nẵng. Từ Ðà Nẵng vào Hội An phải qua một khúc đường 30 cây số mà lúc ấy lại đúng vào mùa lụt lội. Kịch thì dự định diễn ở Hội An , làm thế nào để chở dương cầm từ Ðà Nẵng vào Hội An? Vì quen với anh Khoát từ trước ở Hà Nội, anh Khoát nhờ tôi phụ trách việc đó. Kết quả là có đàn cho ban kịch Anh Vũ, nhưng cái khám phá… bên lề chuyện đó là trong khi tìm cách vận chuyển cây đàn, anh Khoát nói với tôi là ở Hội An có một nhóm Hoa Kiều theo Trùng Khánh, tức là theo phe Tưởng Giới Thạch. Trong số có anh La Hối, tác giả bài Xuân Và Tuổi Trẻ, đã bị Quân đội Nhật sát hại cùng với 12 người Hoa Kiều khác. Lúc đó tôi mới biết rằng phần lớn các anh trong ban Anh Vũ nếu không phải là đảng viên thì cũng có cảm tình với Việt Nam Quốc Dân Ðảng. Trong chuyến đi Hội An kỳ đó, hình như họ có nhiệm vụ liên lạc gì đó với Quốc Dân Ðảng Trung Hoa là vì Hội An tuy nhỏ nhưng lại có một chi bộ lớn ở hải ngoại của phe Tưởng Giới Thạch. Chính vì cái liên hệ đó mà anh Thế Lữ, khi nghe anh La Hối bị Nhật giết, mới cảm động mà đặt tên và lời ca cho bản nhạc của La Hối, bài Xuân Và Tuổi Trẻ như chúng ta biết ngày nay. Trước đó, nó không có lời Việt Nam. Một người Việt ở tận ngoài Hà Nội, một người Hoa Kiều ở trong Quảng Nam này, hai người đâu có hề quen biết nhau. Chuyện cũng ngoài năm mươi năm nhưng trước đây vì sợ anh Nguyễn Xuân Khoát và Thế Lữ bị cộng sản trù nên tôi không dám nói ra. Bây giờ cả hai anh đều qua đời cả rồi. “.

– “Bạn thân nhất của anh là ai?”

“Phạm Ðình Chương. Chỉ có Phạm Ðình Chương thôi. Hoài Bắc là một người có tâm hồn lắm. Một tri kỷ.”

– “Hai anh có khen nhau không? Có chê nhau không?”

“Mỗi đứa sáng tác một đường. Không có phê bình nhau chi cả. Xem nhạc của nhau, đứa nào viết… sạch sẽ là được rồi. ”

Nói đến đây, anh khẽ chép miệng. Thoáng một nét buồn. Ðôi mắt lơ đãng nhìn theo làn khói thuốc. Phải rồi, khi người ta trót mang trong cái biệt nghiệp của mình chút nợ cầm ca, ai là người không tự thấy rằng mình vay cuộc đời nhiều mà trả không được mấy. Mất đi một người hiểu được tâm hồn mình ở vào cái tuổi bắt đầu vào thu, cái tuổi mà chỗ giao du lác đác như những chiếc lá trong gió lạnh đầu mùa, nói như Tùng Thiện Vương, lòng ai mà lại không se đôi chút.

“Có chuyện này nữa, có liên hệ đến anh Nguyễn Xuân Khoát. Trong thời kỳ chiến tranh, trong số những tài liệu mà quân đội mình bắt được của Việt Cộng, có một tập nghiên cứu nhạc dân gian, nhạc cổ truyền cả ba miền, tác giả là anh Nguyễn Xuân Khoát, phần nghiên cứu về cổ nhạc miền Trung có nhắc đến công trình của anh Nguyễn Hữu Ba. Dạo ấy, ông Lữ Liên có được tài liệu đó trong tay. Ðưa cho một sĩ quan trong ngành Tâm Lý Chiến. Ông sĩ quan này đưa tập tài liệu đó cho ai thì tôi không biết, nhưng mà sau này có một người kể như mạo nhận là của mình, dùng tài liệu đó để viết về dân ca ba miền, nói rằng đó là công sưu tập của mình, mà không nhắc chi đến anh Khoát hay anh Ba cả. Chuyện cũng đáng buồn Ông Lữ Liên biết rõ chuyện này lắm. Anh muốn biết thêm nữa thì tìm gặp ông Lữ Liên. ”

– “Tội chi mà anh buồn cho nó mệt cái thân, cho nó nhọc cái xác. Trong thiên hạ thiếu chi người có trí nhớ phi thường như Trương Tòng, đọc Mạnh Ðức Tân Thư của Tào Tháo có một lượt mà thuộc lòng ngay, vậy mà mà khi dùng đến những điều mình nhớ kỹ thì lại ‘Quên’ ghi xuất xứ. Ngoài anh Nguyễn Xuân Khoát ra, anh có gặp ai ngoài Bắc vào sau 75 không?”

“Anh Văn Cao. Trong một đêm sinh hoạt hết sức thú vị”

– “Xin nghe”

“Sau 75 một hôm anh Lê Thương tìm đến nhà tôi nói có anh Văn Cao ở Hà Nội mới vào. Bắc Nam gì không kể, anh Văn Cao là một nhạc sĩ có tiếng, mình cũng nên tính chuyện tiếp rước cho vui vẻ. Lúc bấy giờ tụi này nghèo lắm, may có một người bạn tên là Bá Châu, có nhà in ở đường Lê Lai, thích âm nhạc, nhà lại có đàn dương cầm. Anh bạn này bảo tụi này cứ mời anh Văn Cao còn chuyện ăn uống, nhậu nhẹt anh ta bao hết. Vậy là chúng tôi đón tiếp vợ chồng anh Văn Cao ở đó. Hôm ấy có anh Lê Thương và Phạm Ðình Chương, nay chết cả rồi, ngoài ra có chị Thái Thanh, anh Nguyễn Xuân Nghĩa hiện vẫn còn ở tại Mỹ này. Cả anh Nghiêm Phú Phi nữa. Mình kéo anh Nghiêm Phú Phi đến là để đệm cho chị Thái Thanh hát. Ðêm hôm ấy, chị Thái Thanh hát toàn nhạc của Văn Cao. Chị Văn Cao chảy nước mắt nói: “Em lấy anh suốt đời, hôm nay mới được nghe nhạc anh như thế này.”

– “Vậy trước đó, người ta không cho nghe nhạc của Văn Cao ở ngoài Bắc chăng?”

“Có, nhưng mà ý chị Văn Cao muốn nói trong mấy chục năm ở ngoài Bắc, cũng có nghe nhạc của chồng, nhưng không được hay như lần nghe chị Thái Thanh hát hôm ấy. Có rượu vào anh Văn Cao cao hứng ngồi vào dương cầm, ngâm một bài thơ mà tôi không nhớ, chỉ nhớ đại ý nói không nên bắn tổ chim. Anh Nguyễn Xuân Nghĩa có xin ghi lại, nhưng anh Văn Cao có ý ngại không cho. Trong không khí thân mật và cởi mở ấy, chị Văn Cao tiết lộ một vài điều cũng… đau lòng. Anh có biết là anh Văn Cao bị Ðỗ Nhuận phang không?”

– “Nghĩa đen hay nghĩa bóng?”

“Bóng gì. Ðỗ Nhuận đánh anh Văn Cao bị thương.”

– “Tại sao vây?”

“Lần đánh Văn Cao thì lý do tôi không nhớ rõ. Nhưng thực sự thì Ðỗ Nhuận ganh tỵ với Văn Cao là nguyên nhân sâu kín. Anh Văn Cao là tác giả bài Tiến Quân Ca, được chọn làm quốc ca từ thời Việt Minh. Thật ra nếu không có bài đó thì anh Văn Cao cũng tiêu rồi. Nhờ bài đó, mà sau khi dính vào vụ Nhân Văn Giai Phẩm, anh bị đì thì có bị đì mà không đến nỗi thiệt mạng. Hôm ấy, nhắc đến Ðỗ Nhuận chị Văn Cao chỉ biết lắc đầu. Sau đó mấy hôm người ta gọi anh Văn Cao ra Bắc vì liên lạc với văn nghệ sĩ ngụy.”

– “Bản nào anh ưng ý nhất trong số các tác phẩm của anh?”

“Cũng khó nói. Chỉ kể cho anh nghe hoàn cảnh rất thú vị khi tôi viết bản Sao Ðêm. Lâu lắm rồi. Tôi viết bản đó bên đèn tiên nâu của thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Hôm ấy tôi đi chơi về khuya, gặp một anh bạn tên Hoàng thổi saxo trong dancing Hòa Bình, gần nhà hàng Thanh Thế. Hoàng rủ tôi đi ăn khuya ở Phan Ðình Phùng. Khúc phía dưới, chỗ gần Vườn Chuối có một cái quán mở cửa rất khuya, bọn anh em ca nhạc sĩ “ru đời” xong vẫn kéo nhau đến đấy ăn miến gà, bánh cuốn. Nhưng mà tới nơi thì quán đã chật, mà bạn tôi thì lại đang đến giờ cần cơm đen. Tôi kéo Hoàng vào gõ cửa nhà thi sĩ Vũ Hoàng Chương gần đấy. Lúc ấy cũng đã gần hai giờ sáng. Ông Vũ Hoàng Chương hỏi tôi: “Nguyễn, giờ này còn lò mò đi đâu đây.” Tôi đáp: “Bạn tôi cần thuốc phiện.” Ông Vũ Hoàng Chương, mặc bộ đồ bà ba, tay ôm con mèo nhỏ, chỉ cái bàn đèn, để cho hai anh em tôi hoàn toàn tự do sử dụng. Ông vào ngủ tiếp. Trong khi bạn tôi hút thì tôi nhìn ngọn đèn dầu lạc mà nẩy ra cái ý sao đêm. Do đó mà có bài Sao Ðêm. Mấy chữ “trời sao chín mọng” là những viên thuốc nho nhỏ mà ông Vũ Hoàng Chương để sẵn cho tụi này trên bàn đèn.”

– “Anh có hút nhiều không?”

“Nhiều lần thì có. Trong bối cảnh cần thiết của bạn bè. Nhưng mà không ghiền.”

– “Anh sống có phóng đãng lắm không? Trụy lạc không?”

Một chuỗi cười vang lên giữa căn phòng im lặng, có thứ ánh sáng mờ mờ cùa một buổi sáng nhiều sương. Anh Nguyễn cười rất lớn, rất đã, đến chảy cả nước mắt.

“Phóng đãng có. Trụy lạc có. Nhưng mà chỉ có hại cho mình thôi. Không làm phiền đến ai cả. Lúc bấy giờ tôi làm ra tiền cũng khá dễ dàng. Ðêm nào cũng đi vũ trường…. ”

– “Cái lối sống ấy có giúp ích gì cho sáng tác của anh không?”

“Có chứ. Nó là một phần của cái cachet mà tôi muốn tự tạo cho mình. Và tôi nghĩ rằng tôi đã tạo được cái cachet đó trong nhạc phẩm của tôi.”

– Trong những nơi mà anh đã từng sống trong nước, chỗ nào làm cho anh quyến luyến khác thường, nói theo một bài tập đọc trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư?”

“Huế”

– “Không phải Quảng Nam à ? Không phải chỗ quê hương đẹp hơn cả?”

“Tôi không có tinh thần địa phương. Ai nói những chuyện như thằng đó Huế, thằng đó Bắc tôi không thích. Nhạc của tôi cũng vậy. Tôi không chú ý đến dân tộc tính, tộc tiếc gì cả. Không bao giờ tôi tự đặt cho mình cái mục đích là nên viết cho ra Việt Nam, cho ra Pháp… ”

– “Xin phép đưa anh về với sông Hương núi Ngự. Tại sao anh thích Huế?”

“Là vì tôi đã Sống (anh nhấn mạnh chữ sống) nhiều, yêu nhiều, khổ nhiều ở đó. Huế cũng là nơi mà tôi có nhiều người bạn rất thương tôi. Tôi yêu phong cảnh ngoài đó lắm. Nhất là sinh hoạt trên giòng sông Hương. Dạo ấy có khi hàng tháng tôi ở lì dưới đò. Sáng, đò cập bến cho mình đi làm ở đài phát thanh, trước Morin, chiều lại xuống đò”

– “Bạn anh ngoài Huế”

“Nhiều lắm. Có các anh Tôn Thất Cảnh, anh Vũ Ðức Duy. Anh Vũ Ðức Duy là người đưa tôi đến trú ngụ ở cung An Ðịnh. Trong số các anh em nhạc sĩ ngoài đó, tôi quen các anh Nguyễn Hữu Ba, Lê Quang Nhạc, anh Vang thổi saxo ở đài phát thanh, anh Văn Giảng, anh Vĩnh Phan. Anh Vĩnh Phan có một tâm hồn rất nghệ sĩ, còn ngón đàn tranh của anh thì thôi hết nói, tuyệt. Anh Văn Giảng, tác giả bài Ai về Sông Tương tôi chơi thân lắm. Văn Giảng giỏi lý thuyết âm nhạc. Có một dạo Văn Giảng được học bổng đi học nhạc ở Hawaii. Khóa học hai năm, nhưng mà mới có một năm thì anh về vì nhớ nhà quá. Văn Giảng có tâm hồn lắm. Con người ấy, gắn bó với quê hương như vậy chắc là không sung sướng trong cuộc sống lưu vong tại bên Úc hiện nay.”

– “Còn anh?”

Thêm một điếu thuốc nữa. Anh cau mày suy nghĩ lung lắm.

“Từ ngày qua đây tôi cảm thấy mình già, lỗi thời. Cảm thấy mình già rồi, không làm gì được nữa. Cũng có lúc sáng tác. Nhưng nhiều khi lại tự hỏi viết cho ai. Tôi xưa lắm anh ơi. Những cảnh trước mắt làm tôi bực mình. Cuộc sống vật chất ở đây làm mình bỡ ngỡ kinh hoàng. Những giá trị cũ trong nước, qua đây hình như vứt đi cả. Viết cho khuây khỏa, nhưng cũng khuây khỏa một phần nào thôi. Xoay sang đọc sách đủ loại, đặc biệt sách nhạc tôi đọc cũng nhiều. Buồn. Con cái lớn nó dọn đi cả rồi. Bạn bè xung quanh cũng không còn được mấy. Già rồi, dù không đau yếu chi nhưng mà sức khỏe cũng có kém… ”

Thoáng trong đầu, hai câu thơ của Nguyễn Du than thở về cái cảnh đường còn dài mà ngày đã tàn, bạn bè mới lại không có mấy, trong khi đó thì chứng bệnh cũ lại tái phát, ngồi một mình trong căn phòng đầy khí lạnh ngày xuân (trường đồ nhật mộ tân du thiểu, nhất thất xuân hàn cựu bệnh đa.). Còn vài chuyện nữa định hỏi, nhưng mà thôi. Khơi thêm một vài mẩu chuyện cũ có thể là vui đấy, nhưng mà cái tâm sự ấy. Tôi hiểu rồi.

Tôi với tay tắt cái máy ghi âm. Uống nốt chén trà đậm đã nguội.

Vĩnh biệt nhạc sĩ Tô Thanh Sơn (1949-2018)


to thanh son (1949-2018).jpg

Vĩnh biệt nhạc sĩ Tô Thanh Sơn
Nhận được tin buồn trong tối chủ nhật, người nhạc sĩ có bài hát nổi tiếng “Chút kỷ niệm buồn” – Tô Thanh Sơn đã ra đi đột ngột, để lại nhiều thương tiếc cho những ai yêu thích ca khúc trữ tình này.
Nhạc sĩ Tô Thanh Sơn sinh năm 1949 tại Hồng Ngự, Đồng Tháp. Ông là em của nhạc sĩ Tô Thanh Tùng – người cũng vừa qua đời cách đây không lâu trong sự thương tiếc của nhiều khán thính giả yêu âm nhạc.
Gần 30 năm sáng tác, nhạc sĩ Tô Thanh Sơn vẫn mang nặng nỗi buồn của người nhạc sĩ nghèo, viết ca khúc không ai hát. Tưởng chừng ông hết hy vọng thì vào năm 1999, một người bạn nghe được ca khúc “Chút kỷ niệm buồn”, thấy hay nên mang đi giới thiệu giúp, không ngờ được khán thính giả trong và ngoài nước yêu thích. Từ đó, các sáng tác khác như “Thầm lặng”, “Ba năm anh yêu em âm thầm”, “Giọt mưa đêm”, “Vùi chôn kỷ niệm”, “Một lần gặp em”, “Đêm tiễn biệt”, “Đi tìm dĩ vãng”, “Chờ em trong mưa”, “Giọt mưa đêm”… đã được công chúng biết đến rộng rãi.
Tang lễ của nhạc sĩ Tô Thanh Sơn được tổ chức tại tư gia (số : 171 Điện Biên Phủ, An Thạnh, TX. Hồng Ngự, Đồng Tháp). Lễ động quan lúc 11giờ ngày 23-4, sau đó an táng tại đất nhà.
Thắp nén hương tưởng nhớ đến nhạc sĩ Tô Thanh Sơn. Tiễn đưa ông về đất mẹ, khán giả vẫn mãi yêu thích những sáng tác của ông.
#tothanhson

Nhạc sĩ “Chiều mưa biên giới” – Nguyễn Văn Đông từ giã cõi đời


Nhạc sĩ “Chiều mưa biên giới” – Nguyễn Văn Đông từ giã cõi đời

Ca khúc Chiều mưa biên giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông.

Mới đây, thông tin nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tác giả của nhiều ca khúc nổi tiếng một thời như: Chiều mưa biên giới, Niềm đau dĩ vãng, Tình cố hương… qua đời khiến không ít người tiếc nuối. Hiện tại, gia đình ca sĩ Giao Linh là những người bạn thân thiết với ông đang có mặt tại bệnh viện Chợ Rẫy để hoàn tất thủ tục, lo hậu sự cho cố nhạc sĩ.

nhac si "chieu mua bien gioi" - nguyen van dong tu gia coi doi - 1

Chân dung nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sinh năm 1932 tại Sài Gòn, ông là một trong những tên tuổi lớn của nền âm nhạc Việt Nam thời bấy giờ. Cố nhạc sĩ chọn sống trong im lặng tại một căn nhà ở quận Phú Nhuận. Nếu là khán giả si mê nhạc của ông thì sẽ đều thuộc lòng ca khúc Chiều mưa biên giới, Tình cố hương… hay những bản thánh ca: Màu xanh Noel, Mùa sao sáng…

Ông cũng là người viết lời việt cho hàng loạt bản nhạc cổ điển, nhạc ngoại Giáng sinh: Ave Maria, Đêm Thánh vô cùng (Stille Nacht), Hồi chuông nửa đêm (Jingle Bells)…

nhac si "chieu mua bien gioi" - nguyen van dong tu gia coi doi - 2

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thời trẻ.

Ca sĩ Giao Linh là một trong những người học trò đầu tiên của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông từ năm 1965. Đến tuổi xế chiều, nghệ sĩ Giao Linh và vợ chồng nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là những người bạn tâm giao với nhau.

Bà từng tâm sự, chính sự khắt khe của thầy Đông đã làm nên tên tuổi của ca sĩ Giao Linh ngày hôm nay. Trong liveshow đầu tiên sau 50 năm ca hát, ca sĩ Giao Linh từng lấy tên ca khúc Mùa sao sáng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông làm chủ đề chính cho đêm nhạc.

nhac si "chieu mua bien gioi" - nguyen van dong tu gia coi doi - 3

Ca sĩ Giao Linh từng là học trò của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông.

https://eva.vn/lang-sao/nhac-si-chieu-mua-bien-gioi-nguyen-van-dong-tu-gia-coi-doi-c20a343148.html

THANH HIỆP : Nghệ nhân ưu tú Tấn Nhì qua đời


04/01/2018 10:16

(NLĐO) Nghệ nhân dân gian, nghệ nhân ưu tú Tấn Nhì qua đời vì bệnh già. Hưởng thọ 82 tuổi. Ông là người có công rất lớn trong việc gìn giữ sự chuẩn mực của đờn ca tài tử Nam bộ.

Nghệ nhân ưu tú Tấn Nhì qua đời - Ảnh 1.

Nghệ nhân dân gian, Nghệ nhân ưu tú Tấn Nhì

Ông tên thật là Nguyễn Tấn Nhì (sinh ngày 1-10-1936 tại làng Đa Phước, quận Cần Giuộc, tỉnh Long An, nay thuộc xã Đa Phước, huyên Bình Chánh, TP HCM) đã trút hơi thở cuối cùng lúc 16 giờ ngày 3-1. Theo lời của gia đình, thấy ông có triệu chứng khó thở, người nhà đã đưa vào Bệnh viện Nguyễn Tri Phương cấp cứu, đến chiều được các bác sĩ cho xuất viện trong tình trạng sức khỏe tốt. Tuy nhiên về đến nhà, ông đã qua đời trong sự đau xót của người thân.

Ông là nghệ nhân được phong tặng hai danh hiệu: nghệ nhân dân gian và nghệ nhân ưu tú. Cả đời gắn bó với nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ, có những đóng góp quý giá trong việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa. Ông vinh dự được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

Nghệ nhân ưu tú Tấn Nhì qua đời - Ảnh 2.

Nghệ nhân dân gian, Nghệ nhân ưu tú Tấn Nhì

Từ lâu ngôi nhà của ông tại quận 8, TP HCM trở thành “tụ điểm” đờn ca tài tử. Mỗi cuối tháng vào ngày 18 tháng giêng âm lịch hằng năm, các học trò của ông khắp nơi tụ hội về cùng hòa mình vào những giai điệu âm nhạc dân tộc. “Đó là ngày hội của những học trò của nghệ nhân Tấn Nhì, đếntừ các tỉnh: Lâm Đồng, Khánh Hòa, Sóc Trăng, Long An…Nghệ nhân Tấn Nhìn đã gầy dựng không gian đờn ca tài tử đúng chuẩn mực. Quan điểm bảo tồn, phát huy nghệ thuật của bộ môn này, theo ông chính là tạo được “đất sống” dân dã, tự nhiên cho đờn ca tài tử.

Những tụ điểm một khi đã có bạn tri âm, tâm hồn đồng điệu thì đờn ca tài tử sẽ sống mãi. Chính vì thế ông là người gầy dựng nhiều tụ điểm đờn ca tài tử” – Thạc sĩ Huỳnh Khải nói.

Nghệ nhân ưu tú Tấn Nhì qua đời - Ảnh 3.

Nghệ nhân dân gian, Nghệ nhân ưu tú Tấn Nhì và nhạc cụ đờn cò

Hành trình mang tiếng đờn, lời ca đi phục vụ đồng bào xây dựng kinh tế mới gắn với những ngày nghệ nhân Tấn Nhì tham gia Đoàn Văn công quận 2 (TP HCM).

Tốt nghiệp Cử nhân luật khoa, 15 năm làm việc trong ngành tư pháp, song hành với việc học chữ, hành nghề luật sư, chơi đờn ca tài tử Nam bộ. Nhờ đã bước qua đại học, học tập bài bản và nghiên cứu, đối chiếu với các nền âm nhạc khác trên thế giới, ông đã tạo lối chơi đờn ca tài tử Nam bộ chuẩn mực. Ông đã viết nhiều sách về công trình nghiên cứu âm nhạc dân tộc và nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ.

Tang lễ của nghệ nhân Tấn Nhì được tổ chức tại nhà riêng 4X5X đường Hưng Phú, phường 8, quận 8. TP HCM.

Bài và ảnh: Thanh Hiệp

LISTING OF VIETNAMESE MUSICIANS AND RESEARCHERS IN VIET NAM AND ABROAD PRACTISING TRADITIONAL VIETNAMESE MUSIC


LISTING OF VIETNAMESE MUSICIANS AND RESEARCHERS IN VIET NAM AND ABROAD PRACTISING TRADITIONAL VIETNAMESE MUSIC

 

Xin ti`m no+i dda^y danh sa’ch tuye^?n cho.n nhu+~ng nha.c si~ va` da^n to^.c nha.c ho.c gia o+? Vie^.t Nam hay ha?i ngoa.i . Tie^?u su+? va` sinh hoa.t a^m nha.c cu?a mo^~i ngu+o+`i co’ the^? ti`m tha^’y tre^n trang nha cu?a ho.

LISTING OF VIETNAMESE MUSICIANS AND RESEARCHERS IN VIET NAM AND ABROAD PRATISING TRADITIONAL VIETNAMESE MUSIC

Please find herewith some of famous Vietnamese musicians and ethnomusicologists in Vietnam and abroad . Each one is presented with a short bio . Their bio and activities can be found on their homepages respectively .

Veuillez trouver ci-joint quelques musiciens et ethnomusicologues vietnamiens qui vivent au Viet Nam ou à l’étranger. Leur bio et leurs activités peuvent être lus sur leurs sites .

Xin ti`m no+i dda^y danh sa’ch tuye^?n cho.n nhu+~ng nha.c si~ va` da^n to^.c nha.c ho.c gia o+? Vie^.t Nam hay ha?i ngoa.i . Tie^?u su+? va` sinh hoa.t a^m nha.c cu?a mo^~i ngu+o+`i co’ the^? ti`m tha^’y tre^n trang nha cu?a ho.
LISTING OF VIETNAMESE MUSICIANS AND RESEARCHERS IN VIET NAM AND ABROAD PRATISING TRADITIONAL VIETNAMESE MUSIC

Prof. TRAN VAN KHE (1924-2015)
Professor Tran Van Khe is one of the greatest masters of the traditional Vietnamese music. Born into a family with four generations of musicians, he was taught the musical tradition of the family by his paternal aunt Tran Ngoc Vien and his maternal uncle Nguyen Tri Khuong, having lost his parents at a very early age. Professor Tran Van Khe is a Doctor in Musicology; he carried out research at the Centre National de la Recherche Scientifique (C.N.R.S.), has been a teacher at Paris-Sorbonne University, and is Honorary Member of the Conseil international de la musique (Unesco). His scientific research along with his activity in traditional music (participation in numerous festivals, several recordings edited with Ocora, l’Unesco and A.C.C.T.) have led to his receiving many distinctions and prizes from prestigious universities, academies and international institutions. He is able to play many Vietnamese instruments: dan kim or dan nguyet (moon-shaped lute), dan tranh (sixteen stringed zither), dan co or dan nhi (two-stringed fiddle), dan ty ba (pear-shaped, four stringed lute) and the trong nhac, ceremonial drum. He knows how to recite poems and sing in traditional styles of the North and the South.

Professor Tran’s expertise includes all Asian music, particularly Indian, Persian, Chinese, Japanese and Arabic musical traditions. Having lived in Paris for about 50 years, and traveled world wide, lecturing and performing, he has played key role in introducing Asian music into the western world. In the past 50 years, He has produced a number of Ph. D.’s and tought several thousands of students all over the world.
Website in English and French. He passed away in Vietnam on June 24th 2015.
https://tranvankhe1921.co

Prof. NGUYEN VINH BAO (1918 – )
100 years-old Professor Nguyen Vinh Bao is widely admired not only for his scholarship in Vietnamese folk music but also his skill at using the computer as a teaching aid.

Prof. Vinh Bao, who lives and works in Ho Chi Minh City, has been known for years as a keen amateur music teacher. Now, he has added another feather to his cap by learning how to use the internet at 90, and using this skill to teach his music to people around the world.

On his desktop are symbols of musical software like Quickcame pro-5000, not something one would associate with nonagenarians.

Bao gives lessons via the internet: he plays a musical instrument and his students watch him through a webcam.

Master Vinh Bao is famous for creating a musical notation specific to folk music.

“This notation system can help foreigners easily understand traditional music,” he points out.

His students register to learn different instruments including the nhi (two-stringed fiddle), tranh (16-stringed zither), kim or nguyet (moon-shaped lute), guitar, and violin.

“Teaching and learning as an amateur is not like other genres. It requires no systematic learning or textbooks. Both teachers and learners depend mainly on inspiration,” he says.

One of Prof Vinh  Bao’s students built a website for him at http://www.Vinhbaotheonly 1.net.

Learning the computer

The story behind his learning to use the computer at such an advanced age is an interesting one. “Three years ago, my daughter bought a computer. An idea flashed in my mind. I thought I must learn to use the computer for transmitting my knowledge,” he recalls.

But it was not easy for him to learn because it was hard to find a teacher. “My family asked five people to teach me but four of them refused upon meeting me,” Bao says.

“Perhaps, they thought that I was too old to learn.

“I finally found a teacher – a person young enough to be my grandchild.

“Thanks to this young teacher, I made my first acquaintance with the CPU, mouse, email, website, and ADSL.”

However, this arrangement only lasted 15 days because of certain reasons.

“Subsequently, I had many amateur teachers, all children from my neighbourhood. But they were ready to teach me all the ‘computer techniques’ they knew.”

Bao took notes carefully while his proficiency in both English and French came in very useful. Before long, he was an expert in using a computer.

Talent artist

Prof. Vinh Bao began playing folk music instruments at the age of five. By the time he was 10, he could himself make some of them. Because of his clear understanding of music and the nature of wood, he managed to turn the ancient 16-chord zither into the current 21-chord instrument, enhancing its melody.

Among Viet Nam’s amateur musicians, Vinh Bao holds some kind of record for having the most number of teachers: he had more than 200 from whom he absorbed their specialities.

In his case, too many cooks did not spoil the broth; they merely added more strings to his bow. — VNS
http://vietnamnews.vnagency.com.vn/showarticle.php?num=01MUS170307

Dan Tranh – Vinh Bao was formed in 2004 by a group of students of Professor Vinh Bao. Dan Tranh – Vinh Bao’s mission is to preserve, develop and promote Vietnamese Traditional Music, especially Tradition of the South (Nhac Tai Tu Nam Bo), for people who love traditional music, and also building a bridge between Professor Vinh Bao’s students in many different states in US.

To fulfill its purpose, Dan Tranh – Vinh Bao participates in activites like:

* introducing and performing traditional music to schools and universities in US
* broadcasting traditional music shows on the TV and Radio Stations in US (wherever it’s possible)
* opening classes for dan tranh with the method and music lessons of Professor Vinh Bao
* posting valuable articles about famous artists, famous events about Tradition of the South (Nhac Tai Tu Nam Bo)
* distributing free traditional music sheets for music lovers
* posting clip of educational music lessons that were taught and explained by Professor Vinh Bao

Website in English and Vietnamese

http://vinhbao.theonly1.net/

TRAN QUANG HAI (1944 – )
Tran Quang Hai was born on May 13, 1944 in the country of Vietnam. He is a talented and renowned musician who comes from a family of five generations of musicians. He studied at the Natoinal Conservatory of Music in Saigon before moving in 1961 to France, where he studied the theory and practice of Oriental music with his father Professor Dr. Tran Van Khe, at the Center of Studies for Oriental Music in Paris. For several years, Tran Quang Hai also attended seminars on ethnomusicology at the School of High Studies for Social Sciences, and received Master of Arts and Ph.D. degrees. Since 1966, he has given over 3,000 concerts in 70 countries, and has taken part in approximately one hundred and thirty international traditional music festivals, as well as in radio and television broadcasts in Europe, America, Asia, Africa and Australia. He has been working for the National Center for Scientific Research in France since 1968, and is now attached to the Department of Ethnomusicology of the Musee de l’Homme. Also, from 1988 to 1995 he was a Lecturer on Southeast Asian music at the University of Paris X-Nanterre. He has been a guest lecturer of over one hundred Universities in the world.

Apart from his artistic activities, he is also interested in musical research. He has improved the technique of spoon playing and of the Jew’s harp. In 1970, he found by himself the key to the technique of overtone singing and has become the world famous expert of this peculiar split-tone singing khoomei well known in Tuva and Mongolia. During 1990 and 1991, he won four awards at the International Scientific Film Festivals in Estonia, France and Canada for his film “Le Chant des Harmoniques” (The Song of Harmonics) directed by Hugo Zemp. He is the co-author, actor and music composer of this film. He has written numerous articles on Vietnamese ans Asian music (New Grove Dictionary, Encyclopedia Universalis), and has also recorded 15 LPs 8 CDs, 4 video films, and 4 DVD. He composed more than four hundred pop songs, and musical pieces for 16 stringes zither dan tranh, monochord dan dôc huyên, Jew’s harp and overtone singing.

As a distinguished figure in his musical field, Tran Quang Hai has garnered more than 20 prizes and international awards. He has received a Gold Medal for music from the Asian Cultural Academy, and honorary doctorates from the International University Foundation and the Albert Einstein International Academy. He works with his wife, Bach Yen, who is a great Vietnamese pop and folk singer. Additionally, he was nominated President of the Jury of the Khoomei Throat Singing Festival in Kyzyl (Tuva) in 1995. He obtained the Cristal Medal of the National Center for Scientific Research in France in 1996, the Medal of Honor of the Limeil Brevannes city in France in 1998, and the Special Prize of the Jew’s Harp World Festival in Molln (Austria) in 1998.. In addition, he was the Honorary President of the Festival d’Auch “Eclats des Voix” in France in 1999, and of the Voice Music Festival of Perouges “Au Fil de la Voix” in France in 2000. His biography has been published in 30 Who’s Who reference books since 1979. . In 2002, he was decerned the title Chevalier de la Legion d’Honneur in France.

He participated in the Jew’s Harp Festival in Molln (in 1998 and 2000), in Rauland – Norway (in 2002), in Amsterdam -the Netherlands . He is the founding member of the International Jew’s Harp Society . In 2005, he was elected as member of the Executive Board of the ICTM (Internatioanl Council for Traditional Music).

To date, Dr. Tran Quang Hai is the only Vietnamese to have taken part as a performer or composer in such great historical events as Australia’s Bicentenary celebration in 1988, the Bicenterary of the French Revolution in Paris in 1989, the 700th Anniversary of the Discovery of America in 1992, 600 Years of Seoul-Korea in 1994, the Julilee of the King of Thailand in 1996, 1,000 Years of Trondheim in Norway in 1997, the 100th Anniversary of the Phonogramm Archiv of Berlin in Germany in 2000, and the Centenary of Independance of Norway in 2005.
Site in 3 languages (English/French/Viet)
http://tranquanghai.com
https://tranquanghai1944.com


QUYNH HANH
Quynh Hanh, musicienne vietnamienne, doctorante en musicologie de l’université de Paris IV – Sorbonne, Paris, professeur de la Musique Traditionnelle Vietnamienne au Conservatoire du Viet nam. Médaille d’Or de la Musique Vietnamienne, membre de la SFE (Société Française d’Ethnomusicologie) de Paris, membre de l’ICTM (International Council for Traditional Music), est une artiste accomplie. Elle joue des instruments suivants : cithare à 16 cordes dàn tranh, monocorde dàn bâu, bambouphone dàn trung . Elle a fondé son école de musique traditionnelle vietnamienne à Paris . Site en Français seulement
http://ethnomusicvn.com/

PHUONG OANH
Figure de proue des mouvements de retour aux sources (Du Ca, Hoa Sim …), après son retour de la tournée en Europe, Phuong Oanh fonda L’Ecole de Musique Traditionnelle Vietnamienne Phuong Ca en 1970 à Saigon.

Elle était à l’époque déjà, l’un des rares professeurs de musique traditionnelle au Conservatoire National Supérieur de Saigon (1964-1975).
Spécialiste de la musique dite de Hué, Phuong Oanh a collaboré avec les principaux organismes culturels de l’époque : radio, télévision.

C’est avec les compositeurs Pham Duy, Nguyen Duc Quang, que Phuong Oanh a introduit la musique dite populaire dans les écoles, les universités. Recréé en Europe en 1976, par ses méthodes de travail, ses idées, Phuong Ca Dân Ca Quoc Nhac a rencontré un vif succès auprès des jeunes universitaires.

L’école est présente actuellement dans 8 pays, collaborant avec divers organismes : association, conservatoire, école de musique, université…

En 1988, Phuong Oanh reçut la Médaille d’or de 1’Académie Culturelle de 1’Asie pour ses travaux sur la musique Vietnamienne. En 1994, elle reçoit la médaille du mérite pour ses travaux pour la musique traditionnelle pour les jeunes donc publication au journal officiel du Congrès Américain.

En 35 ans l’ensemble instrumental de l’école sous la direction de Phuong Oanh s’est produite aux quatre coins du monde lors des plus grandes manifestations culturelles de la communauté aux quatre coins du monde : VATICAN, le Musée de Boston, Centre-Afrique, Nouvelle-Orléans …

Phuong Ca Dan Ca Quoc Nhac est le seul organisme non gouvernemental à présenter des candidats aux différents examens d’Etat en France.

Ecole de Musique Traditionnelle Vietnamienne dirigée par Phuong Oanh, professeur de cithare à 16 cordes dàn tranh.
“Phuong Ca Dan Ca Quoc Nhac” depuis 1969 – “Mot Truyen Thong Dang Duoc Tiep Noi”
Siège Social 28 ter rue des Mallets 95150 Taverny FRANCE – permanence lundi et jeudi
Siège d’exploitation : 53 rue Nationale Paris 13ème – permanence mardi et samedi
Tél: 33 (0)1 39 95 28 53 Fax: 33 (0)1 34 18 11 15 Email: info@phuongca.org Websites http://www.phuongca.org/, www.dan-tranh.fr
Site en français seulement

PHAM THUY HOAN
Tieng Hat Que Huong was founded in 1981 by Pham Thuy Hoan, a professor from the Vietnamese National Conservatory in Saigon. Starting from primary school Trieu Thi Trinh Dist. 10 in Saigon, Tieng Hat Que Huong’s mission is to preserve, develop and promote Vietnamese Traditional Music for people who love traditional music and also building a bridge between the old and the new artists.

Prof.Tran Van Khe and Hai Phuong To fulfill its purpose, Tieng Hat Que Huong participates in activites like:

* performing traditional songs, dances and music
* broadcasting traditional music shows on the TV and Radio Stations of Vietnam
* introducing folk songs and traditional musical instruments to schools and universities
* opening classes for dan tranh (the Vietnamese 16-stringed zither), dan bau (the monochord), dan nguyet (the moon-shaped lute), dan nhi (the 2-stringed fiddle), sao truc (the bamboo flute), folk song-learning classes every sunday morning at the City Labor Cultural Palace (55B Nguyen Thi Minh Khai, HCMC).
Site in 2 languages (English / Viet)

http://www.tienghatquehuong.com

KHAC CHI & NGOC BICH

The Khac Chi – Sounds of Vietnam features two of Vietnam’s premiere musicians, performing exquisite music on rare and unique instruments native to Vietnam. These virtuoso artists offer an intriguing glimpse into the rich musical tradition of Vietnam and its 4000-year history.

Famous for their musical skills innovation throughout Vietnam, the Khac Chi takes you on an adventure in sound. Extremely versatile, their concerts may include a combination of styles or feature any one style of Vietnamese traditional music, Vietnamese folk music or contemporary music to world music. They are as equally comfortable performing solo chamber concerts, as they are on folk festival stages, or as guest soloists for symphony orchestras.

Their rare talents and superb musicianship have won them numerous awards for excellence, as well as many invitations for international appearances.
3 languages (English / French/ Viet)
http://www.khacchi.com/

DUC THANH & NGUYET LAN
Pham Duc Thanh is a world-renowned musician known for his masterful ability on the Vietnamese one-stringed instrument (Dan Bau). He was born in 1958 in Ninh Binh , Vietnam . His talent was fully apparent from his youth: he was adept at the Chèo drumming style at age 4, he learned the mandolin at age 5, and he had begun playing Dan Bau (monochord) and Dan Nhi (2-string fiddle) at the age of 5. In 1974, Duc-Thanh left Hanoi to join the largest Cheo opera troupe in Vietnam and officially became a professional Dan Bau performer.

At the end of 1978 he was the only Dan Bau musician of the Cheo opera stage to attend the national Dan Bau competition of Vietnam in Hanoi ; soon after, he went to Saigon to study further the music of central and southern Vietnam . In October of 1983, he graduated with top honors from the Center for Musical Research of Vietnam. It was here that he became recognized as one of the rising musicians on Dan Bau in traditional as well as modern music.

He and his family moved to Canada in 1996. Today, he is an adored performer in Montreal . Beyond the traditional music of Vietnam , he has used the Dan Bau to integrate seamlessly with the sounds and rhythms of various ethnic sounds from around the world, following in the words of the poet Van Tien Le:

One string with all words light and heavy
Half a gourd containing a world of sound

website in 3 languages (English / French / Viet)
http://www.phamducthanh.com/site/index.html

NGUYEN THUYET PHONG
Nguyet thuyêt Phong is a famous Vietnamese musician, ethnomusicologist, living in the Unites States . You can read his biography and his activities on his website in English .
http://www.phong-nguyen.com/

LE TUAN HUNG & DANG KIM HIEN
Le Tuan Hung is a composer, performer and musicologist, specialising in Vietnamese music, cross-cultural music and experimental music. He is a multi-instrumentalist with a strong background in Vietnamese traditional music and Western classical music. He has performed widely in Asia, Australia, Europe, America and Oceania. His compositions have been created for a wide range of instruments, ensembles and media. His compositions and performances have been released by Move Records, NMA, ABC Music and Australian Sound Heritage Association. He is also the author of various publications on Vietnamese performing arts and is regarded as an expert in Vietnamese musicology. Apart from being trained as a traditional musician in the Vietnamese tradition, he also had a Bachelor of Music from the University of Melbourne and a PhD in Music from Monash University.

Dang Kim Hien is a composer, performer and educator. She is a vocalist and multi-instrumentalist, specialising in Vietnamese strings and percussion. She holds many national awards from Vietnam, including a National Gold Medal for Excellence in Vietnamese Zither Performance and a National Award for Traditional Vocal Performance. She taught at the Department of Traditional Music of the Conservatory of Music in Saigon (Vietnam) between 1980 and 1994. Since migrating to Australia in late 1994, she has been active in performing Vietnamese music and creating cross-cultural music. She has collaborated with Australian composers and performers in creating various cross-cultural works. She has performed extensively to present her original works on international platforms. Her compositions and performances have been released on Move Records.

Site in 2 languages (English / Viet)

http://home.vicnet.net.au/~aaf/aboutus.htm

Châu Nguyên, Mai Nguyên, Luu Hông


Professor Chau Nguyen studied music at the National conservatory of Music in Saigon, where he studied traditional musical instrument, harmony, and

Professor: Chau Nguyen
orchestration. Upon graduation in 1967 he was selected by the Board of Directors of the National Conservatory of Music to teach Vietnamese traditional music.

While he was teaching at the National conservatory of Music, professor Chau Nguyen also participated in musical and performing arts festivals in the country

and was a member of delegations representing Vietnam in other countries. In addition to performing and teaching, professor Chau Nguyen also specializes in composing, scoring, arranging music for group and producing different forms of Vietnamese performing arts, including the new form of choral orchestra in traditional music.

 

Professor Mai Nguyen is one of the founders and directors of the Lac Hong Performing Arts Group. Mrs. Mai Nguyen has an impressive musical background. She graduated in 1960 from the National Conservatory of Music in Saigon, where she specialized in the 16-string and pedagogy of music. She taught at the National Conservatory of Music in Saigon, the School of Theater Performing Arts and Gia Long High School until she escaped from Vietnam in 1977.
Professor: Mai Nguyen

Mrs. Nguyen continued her teaching career after relocating to Houston. She founded the Hoa Sim Group which participated in many festivals in the Vietnamese community and was involved with Voice of Freedom Radio. After moving to Orange County, Mrs. Nguyen continued to teach and formed a new Hoa Sim Group which later became the Lac Hong Performing Arts Group.

 

Dance Master Luu Hong is from a family of dancing traditions. In his childhood, he learned tap dance and together with his brothers and sisters, established a family dance group and performed at dancing clubs in Vietnam. This dance group traveled far and wide and performed at theaters from Saigon to Hanoi with famous singers, actors, and actresses.

In 1944, King Bao Dai, the last king of the Nguyen Dynasty, invited Dance Master Luu Hong and his family dance group to perform at the Imperial Court. After 1955, Dance Master Luu Hong and his dance group performed many shows all over South Vietnam. In 1964, Master Luu Hong and Dance Master Luu Binh established the Moulin Rouge Dance Group which later became the Luu Binh Hong Dance Group. This dance group represented Vietnam

to participate in the Dance Festival in Singapore among other Asian dance groups. In 1967, Dance Master Luu Hong was one of the founders of the Maxim Dance Group, a famous group well admired by public in Saigon. At that time, Master Luu Hong was designated to lead the Vietnamese dance group to perform at international festivals in Hong Kong, Japan, France, Morocco, England, South Africa, etc. In 1975, Master Luu Hong left Vietnam and settled in Japan, and later in USA. Since then, Master Luu Hong has participated in many musical shows overseas, trained young generations of dancers, and has been a choreographer for many shows for video tapes. Master Luu Hong has given much of his time and talent in training and guiding the Lam Ty Ni and Long Hoa dance groups.

At present Dance Master Luu Hong is re-establishing the Maxim Dance Group and cooperating with the Lac Hong Performing Arts Group to propagate the traditional cultural quintessence of Vietnamese music and dance to the young generation and to preserve and promote Vietnamese arts and culture in the USA.

http://www.doanlachong.com/LacHong/professors.htm

 

Vu Hong Thinh

Vu Hong Thinh is an ethnomusicologist. Vu Hong Thinh began to study music at the age of ten and has since devoted his life to music and dan tranh. He graduated with distinction from the National Conservatory of Music in Hanoi, Vietnam, where he remained as a music professor for many years. He has performed in many countries, for major Vietnamese Music Concerts and Fund Raising efforts. Besides dan tranh, Thinh also performs on a variety of other traditional instruments such as the monochord (bau), the 36-string hammered dulcimer (dan tam thap luc), the bamboo xylophone (dan t’rung), the k’longput, and traditional drum (trong). He has been featured in live televised concerts and broadcast recordings. Most recently he recorded and released his own CD “Nguyet Cam” as “The Art of Moon-Shaped Lute.” As a well-known expert in traditional Vietnamese music, he teaches dan tranh and other Vietnamese instruments throughout Northern California. He enjoys the opportunity to collaborate with other artists, such as Nguyen Dance Company, focused on sharing Vietnamese heritage with the community.

Below are some of his published research works:

* Special Research on the Moon-Shaped Lute
* The Gong Ensembles of the Xtieng Ethnic Group
* The Scales and Modes Issues of Different Ethnic Groups in South Vietnam
* The Ceremony Music & “Amateur Music” of South Vietnam
* Document Film: The Precious Gem of the Jungle

http://www.dannydancers.com/Biographies/BioVuHongThinh.htm

Other musicians are mentioned here. Their bio will be found soon and will be surely put here.

Kim Uyen – Toronto, Canada
Hai Yen Nguyen – Houston, TX, USA
Vo Van Anh – San Francisco, USA

Viêt Hai , Seattle, USA

The listing must be longer . Anyone who knows other Vietnamese musicians or researchers can send me their websites, emails and bios. Thank you in advance

Tran Quang Hai