Category Archives: NHẠC SĨ VIỆT NAM

THVL | Người Kể Chuyện Tình – Tập 6[2]: Cho em quên tuổi ngọc – Thúy Huyền


THVL | Người Kể Chuyện Tình – Tập 6[2]: Cho em quên tuổi ngọc – Thúy Huyền

THVL Giải Trí

Ajoutée le 28 déc. 2017

Hãy cùng lắng nghe các ca sĩ Nam Cường, Thúy Huyền, Nguyễn Phú Quý, Hà Thúy Anh, Triệu Long, Thu Trang kể lại cuộc đời và âm nhạc của các nhạc sĩ danh tiếng bằng những câu chuyện tình, những bản tình ca bất hủ trong chương trình Người kể chuyện tình lúc 21h00 Thứ Năm hàng tuần trên kênh THVL1 và phát lại lúc 12h Thứ Sáu trên kênh THVL2. Mọi đóng góp để chương trình hoàn thiện hơn vui lòng liên hệ: Website: http://www.thvli.vn http://www.thvl.vn Subscribe: https://www.youtube.com/THVLGiaiTri/?… Facebook: https://www.facebook.com/VinhLongTV Google Plus: https://www.google.com/+THVLGiaiTri

Những mối tình buồn của nhạc sĩ Lam Phương


Những mối tình buồn của nhạc sĩ Lam Phương

29/12/2017 10:37 GMT+7

Hà Thúy Anh trong ca khúc ‘Kiếp nghèo’ – Ảnh: Lý Võ Phú Hưng

TTO – Người kể chuyện tình đêm 28-12 đã mang đến nhiều hoài niệm về những mối tình buồn nhưng đẹp của nhạc sĩ Lam Phương qua các tình khúc của ông.

Những cuộc tình của nhạc sĩ Lam Phương đã đi vào âm nhạc của ông rất tự nhiên. Trong đó, bóng hồng để Lam Phương viết nên những bản tình ca hay nhất nhưng cũng sầu thảm nhất chính là danh ca Bạch Yến.

Bà là người mang đến cho nhạc sĩ cảm xúc lớn để viết các ca khúc: Chờ người, Thu sầu, Tình bơ vơ, Trăm nhớ ngàn thương, Tình chết theo mùa đông, Tiễn người đi… khiến người nghe nhạc say đắm cho đến tận bây giờ.

Thúy Huyền hóa thân thành danh ca Bạch Yến trình bày ca khúc ‘Cho em quên tuổi ngọc’

Ca khúc Cho em quên tuổi ngọc gắn liền với nhiều kỷ niệm giữa nhạc sĩ Lam Phương và danh ca Bạch Yến, giúp người xem cảm nhận được nỗi đau của ông khi lời cầu hôn dành cho Bạch Yến bị gia đình và chính bản thân cô từ chối.

Năm 1984, khi xa quê hương gặp lại danh ca Bạch Yến tại Pháp, ông viết tặng riêng cho bà ca khúc này. Đây cũng là bài hát duy nhất nhạc sĩ Lam Phương viết bằng hai thứ tiếng Pháp, Việt.

Một nhạc phẩm nổi tiếng Lam Phương sáng tác để nói lên mặc cảm khi phải sống trong cảnh nghèo khó của gia đình, được ông sáng tác vào năm 15 tuổi là Kiếp nghèo.

Hà Thúy Anh với chất giọng đầy nội lực, mạnh mẽ, đã làm mới ca khúc ‘Kiếp nghèo’ vốn rất quen thuộc

Ngay sau đó, Nam Cường tiếp nối với Tình bơ vơ để khắc họa sâu hơn nữa về những chênh vênh của tình cảm giấu kín trong nỗi mặc cảm về thân phận.

Tình bơ vơ cũng là bài hát Lam Phương dành riêng cảm xúc của mình cho nữ danh ca Bạch Yến.

Lần ra đi thứ hai của bà sang Mỹ, ông viết nên ca khúc chất chứa đầy tâm trạng này.

Với chất giọng đẹp, Nam Cường thể hiện đầy đủ những cung bậc cảm xúc của tác giả qua bài hát chủ đề đêm thi.

Nam Cường thể hiện ca khúc ‘Tình bơ vơ’ một cách nhẹ nhàng và đầy chất tự sự

Một “bóng hồng” khác cũng mang đến cho Lam Phương nhiều khổ đau lẫn hạnh phúc là ca sĩ Minh Hiếu.

Cuộc đời ông sau đó từng có mối tình say đắm với ca sĩ Hạnh Dung. Hai ca khúc Bọt biển và Giọt lệ sầu ông viết cho Hạnh Dung khi chuyện tình yêu của họ rơi vào bế tắc.

Nhờ những cay đắng của cuộc đời, những sáng tác của Lam Phương trở nên sâu sắc, len lỏi vào tận tâm can người nghe và dần được người yêu nhạc đón nhận nồng nhiệt.

Chính vì vậy, Lam Phương đã không còn sống trong kiếp nghèo và những cuộc tình mới cũng bắt đầu nảy nở.  

‘Thành phố buồn’ kể lại cuộc tình ngắn ngủi của ông với một ca sĩ tại Đà Lạt

Phú Quí tiếp nối chương trình khi tái hiện lại khoảng trời mới trong cuộc tình của người nhạc sĩ.

Anh lột tả chân thật nỗi buồn, nỗi cô đơn của ca khúc Thành phố buồn bằng chất giọng truyền cảm vốn có.

Sau thời gian đau khổ với những chuyện tình, nhạc sĩ Lam Phương lập gia đình với diễn viên kịch Tuý Hồng.

Khi đến Mỹ, ông gặp khó khăn về kinh tế phải kiếm tiền bằng những việc chân tay nặng nhọc, không may hạnh phúc gia đình ông cũng tan vỡ trong thời điểm ấy.

Ông vô cùng đau xót và viết hàng loạt ca khúc mà tiêu đề chỉ có một chữ. Trong đó nổi tiếng nhất có lẽ là bài Lầm với câu hát “Anh đã lầm đưa em sang đây”.

Đây cũng là mối tình để lại nhiều dư vị ngọt ngào nhất nhưng cũng đầy bi thương nhất.

Triệu Long diện vest lịch lãm và thể hiện vũ đạo cuốn hút với ca khúc ‘Ngày em đi’

Do ca khúc Ngày em đi khá quen thuộc với đông đảo khán giả yêu nhạc xưa, nên Triệu Long đã thêm vào một chút jazz, thể hiện sự mới mẻ cho ca khúc. Đây cũng là lần đầu tiên anh thể hiện những bước nhảy điêu luyện cùng vũ đoàn ABC.

Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng, là con đầu trong gia đình nghèo có 5 năm anh em tại Rạch Giá, Kiên Giang.

Ca khúc đầu tay của ông là bài Chiều thu ấy, viết vào năm 15 tuổi. Khi ấy ông phải vay tiền của bạn bè để mướn nhà in in nhạc, rồi thuê xe chở nhạc đi bán lẻ khắp Sài Gòn.

Ba năm sau, Lam Phương tung ra hàng loạt ca khúc viết về quê hương, trong đó nổi tiếng nhất là Khúc ca ngày mùa được hầu hết các trường học ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long chọn để dạy cho học trò ca múa.

https://tuoitre.vn/nhung-moi-tinh-buon-cua-nhac-si-lam-phuong-20171229023138004.htm

Dạ Ly : Nhạc sĩ Lam Phương: ‘Gom góp yêu thương quê nhà…’


Nhạc sĩ Lam Phương: ‘Gom góp yêu thương quê nhà…’

1 Thanh Niên
Tôi đến thăm nhạc sĩ của những bản tình ca bất hủ Lam Phương tại Mỹ vào một buổi chiều trung tuần tháng 8. California trước ngày tôi đến ai cũng bảo nóng như chảo lửa, nhưng rồi lại dần dịu đi như chính câu chuyện và nụ cười ông dành cho cuộc phỏng vấn.

Nhạc sĩ Lam Phương trong cuộc trả lời phỏng vấn PV Báo Thanh Niên

Ảnh: Dạ Ly
Ban đầu lẽ ra chúng tôi gặp nhau ở một quán nước. Nhưng rồi nhạc sĩ muốn tôi gặp tại ngôi nhà của ông ở TP.Fountain Valley, California. Đó là nơi ông sống thời gian qua cùng gia đình chị Bảy, em gái út của ông. “Nhà đang ngổn ngang vì mai mốt phải sửa lại”, em gái ông vừa nói vừa chỉ vào một “núi” đồ.
Phía sau cánh cửa nhà dưới, nhạc sĩ ngồi trên chiếc xe lăn quen thuộc để đợi gặp. Vẫn nụ cười hiền lành ấm áp, vẫn cách nói chuyện hóm hỉnh như bao lần tôi nhìn thấy ông trên sân khấu hải ngoại. Di chứng của tai biến mạch máu não đã làm giọng nói ông giờ đây khó nghe đi rất nhiều, và như lời em gái ông thì dạo này thi thoảng nhạc sĩ hay quên. Tuy nhiên thần sắc ông vẫn rất tốt.
Khi tôi sợ ông mệt vì phải… nhớ nhiều và nói nhiều về những chuyện không vui trong quá khứ, ông trấn an: “Không sao, tôi vẫn đủ sức khỏe”. Ông còn chỉ, kể cho tôi nghe những tấm ảnh mang nhiều kỷ niệm mà ông trân quý đang treo trên tường. Đó còn là một góc riêng để ông nhớ về những ngày đã qua và cả những người đã qua đời mình bằng cách này hay cách khác.
Nhạc sĩ Lam Phương: 'Gom góp yêu thương quê nhà...'1

Nhạc sĩ Lam Phương cùng gia đình em gái út tại Mỹ

Ảnh: NSCC
Tuổi thơ nghèo khó
Nhiều người yêu nhạc trong nước muốn biết ông có đủ sức khỏe để làm một chuyến trở về quê hương như lời nhạc sĩ từng nói?
Đúng là tâm nguyện lớn của tôi vẫn là được một lần về thăm quê, “gom góp yêu thương quê nhà…” (lời bài hát Tình bơ vơ). Nhưng giờ sức khỏe tôi yếu đi nhiều. Di chuyển khó khăn, mọi người đỡ lên xuống rất vất vả. Tôi bay đi xa là tim hay bị mệt, khó thở nên giờ muốn lắm mà không dám đi. Hôm rồi trước khi đi Úc 2 ngày còn nhập viện nhưng đâu dám nói sợ khán giả lo. Đi Úc cũng phải có bác sĩ chăm sóc. Tôi còn 1 em gái và cháu ở VN.
Trong số các tác phẩm để đời, bài Ngày buồn (chủ đề album ca sĩ Quang Thành sẽ phát hành vào tháng 9 tới) có phải ông cũng viết cho một bóng hồng nào đó? Từng nghe nhạc sĩ nói ca khúc Kiếp nghèo khiến ông nhớ mãi không nguôi. Vì sao thưa nhạc sĩ?

Bài Ngày buồn tôi không viết cho một ai. Tôi sáng tác cho nội dung một vở kịch trong ban kịch Sống của nghệ sĩ Túy Hồng (vợ cũ của nhạc sĩ – NV) ngày ấy. Còn sở dĩ Kiếp nghèo tôi khó quên bởi đó là cả tuổi thơ nghèo khó, vất vả tôi gởi vào đấy. Đó là những năm tháng còn quá nghèo từ Kiên Giang lên Sài Gòn để đi học. Ngày đó khổ lắm.

Kiếp nghèo còn là bài làm ông nhớ về người mẹ kính yêu của mình nhiều nhất?
Năm 12 – 13 tuổi tôi lên Sài Gòn học vì má tôi muốn con được học hành tử tế, thoát cảnh nghèo khó. Nhưng tôi quá thương má nên nói con muốn ở lại đây phụ má bán hàng. Con đi rồi sáng sáng ai dọn hàng cho má đây. Nhưng má tôi nhất định khuyên tôi đi học để có tương lai nên tôi vâng lời. Bài Khóc mẹ cũng làm tôi đau đớn khi nghe tin má tôi qua đời nhưng đã không thể có mặt bên bà.
Còn bài Thành phố buồn, Phút cuối được biết ông viết cho ca sĩ Hạnh Dung. Mỗi khi ca sĩ cất lên ca khúc, điều gì làm ông nhớ nhất?
Tôi luôn trân quý cảm xúc khi nghĩ lại hay nghe ca sĩ hát. Ngày xưa tôi sáng tác những bài ấy trong một lần lưu diễn tại Đà Lạt. Ngày đó còn trẻ nên rất lãng mạn và trí tưởng tượng cũng vô cùng phong phú. Lúc nhớ, lúc thương cộng với cảm xúc dâng trào trong một buổi chiều khi ngồi trên triền dốc nhìn xuống đồi thông tôi đã viết lên nỗi lòng mình.
Và con tim đã vui trở lại
Trong số hơn 200 tác phẩm, ở đó phần lớn ông viết cho những người mình thương lẫn… giận. Có bài nào đến tuổi này khi nhắc đến ông vẫn còn day dứt?
Nhạc sĩ Lam Phương, tên thật Lâm Đình Phùng (81 tuổi), sinh tại Rạch Giá, Kiên Giang. Ông từng phát hành hàng chục album nhạc, sách nhạc. Mới nhất là Tập sách Nhạc sĩ Lam Phương – 110 ca khúc trữ tình, lãng mạn chủ đề Thuyền không bến đỗ. Năm 15 tuổi, ông viết ca khúc đầu tay Chiều thu ấy, sau đó đến Kiếp nghèo được nhiều người yêu mến. Ba năm sau, ông viết hàng loạt bài về quê hương, nổi tiếng nhất là Khúc ca ngày mùa. Album nhạc Lam Phương được nhiều ca sĩ chọn phát hành như: Hương Lan, Bạch Yến, Lưu Hồng, Họa Mi, Ý Lan, Hạ Vy, Ngọc Anh, Lệ Quyên, Quang Thành….
Ông còn cộng tác với ban kịch Thẩm Thúy Hằng và ban kịch Sống của nghệ sĩ Túy Hồng.

bài Lầm. Đến giờ tôi vẫn luôn nhớ (bài hát ông viết cho vợ cũ của mình – NV).

Những ai yêu nhạc Lam Phương đều biết rằng ông rất hiếm khi viết nhạc vui. Với những ca khúc rộn ràng như: Bài tango cho em, Chỉ có em, Thiên đàng ái ân… bạn bè ông nói đó là lúc Lam Phương hạnh phúc trong tình yêu. Là thời điểm ông luôn mỉm cười khi bên cạnh “giai nhân” Cẩm Hường. Ông có thể kể thêm về tình yêu màu hồng này?
Sau giai đoạn buồn khổ nhất của tôi khi mẹ qua đời sau năm 1979 và chuyện tình cảm, tôi sang Pháp rồi gặp Cẩm Hường. Cô ấy đã cảm thông cho hoàn cảnh của tôi. Và con tim tôi thay đổi, đã vui trở lại. Đó cũng là lúc tôi nhìn cuộc đời màu hồng, thấy mình hạnh phúc gần 10 năm.
Với ca sĩ M.H – người đã đưa đến cảm xúc ngọt ngào để ông viết lên Em là tất cả, hay Biển tình… hẳn đã “lấy” đi nhiều tình cảm thời trai trẻ của ông?
Câu chuyện của chúng tôi chỉ dừng lại đúng như bài hát Biển tình và cho đến sau này chúng tôi là bạn. Có những điều nên giữ làm kỷ niệm không thể kể hết. Đó là lý do tôi không viết hồi ký vì tôi biết sẽ phải viết thật, viết hết, nhưng như thế không nên. Tội cho những người từng đi qua đời mình vì họ còn cuộc sống, còn gia đình. Tôi sợ họ bị tổn thương. Vui hay buồn tôi chôn trong lòng. Mỗi bài hát tôi thường có một hình bóng, một kỷ niệm và một mối tình. Nhưng thôi không muốn kể thêm nhiều lại buồn.
Gần 65 năm sáng tác, có bài nào mà nhạc sĩ… giấu nhẹm đến hôm nay?
Có vài bài trước khi bị tai biến tôi viết và cất đi nhưng sau thời gian lại quên mất. Hiện tại đã tìm lại một số chưa công bố và tôi sẽ đưa ra trong thời gian tới. Tôi cũng đã gởi về VN cho Bến Thành Audio Video hơn 10 bài để xin cấp phép phổ biến.
Người luôn nặng tình
Ông nghĩ sao khi quá nhiều người cho rằng nhạc sĩ Lam Phương đau vì tình nhiều nhất nên viết nhạc… thất tình thấm nhất, hay nhất?
Đúng là vậy. Chuyện tình cảm của tôi buồn nhiều hơn vui. Có khi đang vui cái buồn liền. Cuộc đời tôi đâu có gì vui lâu, phần lớn là nỗi buồn. Người đến sau có thể làm mình vui nhưng cũng rất ngắn. Cũng có thời điểm rất vui, hạnh phúc nhưng sau đó lại… buồn.
Nhạc sĩ Lam Phương: 'Gom góp yêu thương quê nhà...'2

Nhạc sĩ Lam Phương (giữa) cùng người thân bạn bè trong một lần sinh nhật tại Mỹ

Ảnh: NSCC
Vậy thời trẻ làm sao ông vượt qua nỗi buồn và để nguôi đi một cuộc tình?
Để nguôi đi, thôi nhớ một người rất khó. Cách tốt nhất là chúng ta hãy thật nhanh cho người khác cơ hội. Khi có người yêu mới sẽ giúp ta nguôi đi nỗi buồn, nỗi nhớ người cũ (cười). Vì không ai có thể sống hoài với kỷ niệm buồn. Bài nào tôi cũng… đau khi viết cho một người.
Với người đầu tiên mang đến cho ông cảm xúc lớn để viết “chờ em, chờ đến bao giờ” (Chờ người) và hàng loạt bài khác là danh ca Bạch Yến. Khi không còn yêu nữa, hai người có là bạn đến sau này không?
Chúng tôi vẫn là bạn tốt. Khi ở Pháp bà vẫn về thăm tôi và gần đây cũng thế. Tôi còn là bạn cả hai vợ chồng Bạch Yến. Tôi có khoảng hơn 10 bài nổi tiếng viết cho cô ấy. Lâu lâu khi viết bài mới tôi “đá” qua chuyện cũ một chút, nhắc lại để nhớ (cười).
Cuộc sống của nhạc sĩ thời gian sau này tại Mỹ ra sao?
Tôi chủ yếu ở nhà, nhưng khi có show ở Mỹ người ta mời tham gia thì tôi nhận lời. Nhưng cũng rất hạn chế vì sức khỏe không cho phép làm nhiều. Tôi sống một mình quen rồi nên không còn thấy buồn. Biết đâu có thêm “một bà” nào đó (cười lớn). Một mình cũng có niềm vui của một mình. Tuổi này rồi ăn gì cũng được, chỉ có khó ngủ thôi.
Với tác quyền của hàng chục tác phẩm nổi tiếng, có cả ở VN và hải ngoại, nhạc sĩ có sống tốt, sống khỏe?
Tôi sống rất ổn vì nhu cầu cũng không cần gì nhiều. Tiền từ tác quyền chủ yếu lo cho gia đình, bà con, lo cho con cháu của tôi học hành, sinh sống. Ngày xưa nhờ tác quyền mà tôi mua cho mẹ được một ngôi nhà ở Sài Gòn. Cũng có nhà cho em, cho cháu ở VN. Với tôi như vậy là đủ. Ca sĩ mới, trẻ nếu có hát tôi luôn ủng hộ. Tôi chỉ muốn giúp cho họ hát, chỉ cần gởi đĩa cho mình nghe là được. Mỗi dịp sinh nhật là mọi người đến rất đông và tự nguyện hát, đông đến nỗi không có giờ để hát. Nghệ sĩ trong nước sang Mỹ đều ghé thăm tôi như Đàm Vĩnh Hưng, Lệ Quyên… tôi quý lắm. Tôi không nghĩ về vật chất. Tôi biết Lệ Quyên làm show hát bài của tôi thành công ở Hà Nội.
Ngoài sáng tác, ông có làm thêm nghề gì khác?
Tôi hay nói mình có đến 7 nghề là thất nghiệp (cười lớn). Nghề gì tôi cũng làm. Nói chứ hồi trẻ tôi có chơi nhạc thêm hằng đêm ở vũ trường tại Sài Gòn. Sau này tôi không còn quan trọng chuyện kiếm tiền nữa.
Nhạc sĩ Lam Phương luôn nhớ về quê hương
Ông Phạm Quốc Thành

Ảnh: NVCC

Bến Thành Audio Video là đơn vị giữ độc quyền quyền tác giả nhạc Lam Phương tại VN từ hơn 7 năm nay. Hãng đã xin phép phổ biến các tác phẩm của nhạc sĩ Lam Phương và hiện có 119 tác phẩm được phép lưu hành tại VN. Nhạc sĩ tuy tuổi cao, sức yếu, lại ở xa nhưng lúc nào cũng nhớ về quê hương, nhớ khán giả VN. Trong những lần trò truyện và trao đổi cùng ông, khi nghe tôi nói nhạc Lam Phương ngày càng được nhiều tầng lớp khán thính giả trong nước yêu thích và ủng hộ, kể cả các bạn trẻ cũng rất yêu dòng nhạc tình lãng mạn của ông thì ông rất vui.

Qua nhiều năm làm việc cùng nhạc sĩ, tôi thấy tính cách ông rất tình cảm, hiền hòa, thân tình; đông đảo nghệ sĩ trong và ngoài nước đều quý mến, kính trọng. Đặc biệt nhạc sĩ rất trọng chữ tín, nhiều lần chúng tôi ngỏ lời mời ông về VN thăm quê hương và tham dự các đêm nhạc gặp gỡ khán thính giả… nhưng ông nói sợ nhận lời rồi tình hình sức khỏe không cho phép thì lại lỗi hẹn với mọi người, ông không muốn điều này. Tháng 3.2018, chúng tôi đã được tác giả giao những tác phẩm viết cách đây hơn 20 năm, lần đầu tiên được công bố và đã được Cục NTBD cấp phép phổ biến.
Ông Phạm Quốc Thành(Giám đốc Bến Thành Audio Video)

Nghệ sĩ chúng tôi thương ông lắm

Ca sĩ Lệ Quyên

Ảnh: Độc Lập

Tôi đến thăm nhạc sĩ Lam Phương vào một buổi tối bình yên ở California (Mỹ) cách đây hơn một năm trước khi ra mắt album nhạc của ông tại VN. Đã nhiều năm ngồi xe lăn với sức khỏe yếu vì bệnh tật nhưng nhạc sĩ luôn lạc quan, vui vẻ như chưa từng có bệnh tật xảy đến. Gặp ai ông cũng tươi cười hiền hậu làm nghệ sĩ chúng tôi thương lắm. Mọi người luôn thăm ông mỗi khi lưu diễn hay có dịp lễ tết, sinh nhật.

Tôi nghĩ mình may mắn vì được hát những tác phẩm của ông. Sự đa dạng trong sáng tác của nhạc Lam Phương khiến chúng ta cảm nhận được tình yêu nồng nàn luôn rực lửa trong trái tim của ông. Phải yêu hơn chữ yêu thì ngôn từ trong những tác phẩm của ông mới hay đến thế. Mong ông cứ luôn bình thản, bình yên để sống an vui từng ngày. Và điều tuyệt vời nhất, nhạc sĩ Lam Phương hứa sẽ dành cho tôi hát những tác phẩm chưa từng công bố của ông.
Ca sĩ Lệ Quyên

TRẦN VIỆT HẢI : Tình Khúc Em tôi – Lê Trạch Lựu


Tình Khúc Em tôi – Lê Trạch Lưu-Ngọc Bảo trình bày:
https://www.youtube.com/watch…

Tuần rồi tôi có đưa bài viết intro sách mới “Văn Nhân & Tình Sử” của nhà văn Vương Trùng Dương có bài “Lê Trạch Lựu và Tình Khúc Em tôi”, người nhạc sĩ biết yêu năm 16 tuổi, khi chàng gặp Kim Phượng, tiếng sét ái tình bỗng đến ngay phút đầu gặp em. Mối duyên tình đẹp ấy là mối tình theo mãi một đời theo xuống tuyền đài.

Phải nói là những mối tình ở thuở mới lớn chớm biết yêu, là những kỷ niệm đẹp vì e dè nhút nhát (FSFL: first sight of first love, première vue d’un premier amour), khi tiếng sét tình ái, thunderbolt khiến tim ta bồi hồi xao xuyến đập thất nhịp chỉ bởi vì yêu em ngay phút đầu.

Hôm nay tôi xin intro tiếp chuyện tình măng non, loại puppy love mà nhà văn Max Steele để lại thế gian này khi ông ra đi, y như nhạc sĩ Lê Trạch Lựu đã làm. Những puppy love măng non của tuổi 16, lứa tuổi sweet sixteen thật dễ thương. Xin intro bài viết vui tươi mang tên ngộ nghĩnh “Ah Love! Ah Me!”, được ngòi bút Trương Mỹ Vân chuyển ngữ dưới tên “Mối Tình Đầu Xuân. Đôi nét về nhà văn này nhé:

Max Steele, 83 tuổi (1922-2005, là nhà văn, người cố vấn văn chương và kiêm giáo sư danh dự (Professor Emeritus), dạy môn văn chương Anh văn tại trường học cũ của mình, là Đại học North Carolina tại Chapel Hill, ông đã qua đời vào ngày 01 tháng 8, 2005 tại Chapel Hill….

Em tôi – Nhạc và Lời: Lê Trạch Lựu – Ca Sĩ: Duy Trác – Thực hiện PPS: Doanh Doanh:
https://www.youtube.com/watch…

Về thuật ngữ “Professor Emeritus” xin cho tôi dài dòng, nhiều chuyện tí ti, vì theo quy chế đại học Hoa Kỳ, khi chuyển ngữ danh từ “emeritus” là vinh hiệu “danh dự” có thể bị hiểu nhầm. Khi tuyên dương sự cống hiến của một vị giáo sư, hay một khoa học gia, hay một nhà bác học,… đã về nghỉ hưu cho họ chữ emeritus là cách để biểu hiện đặc ân tôn trọng và lòng tri ân đối với người được trao danh hiệu vinh dự này. Một vị emeritus dù không còn quyền hạn chính thức như theo chức vụ ngày xưa, nhưng vị này vẫn có thể tham gia vào các buổi lễ nghi hay hội họp chính thức nếu muốn hay được mời, bởi vì khả năng chuyên môn như trong thời gian ông hay bà còn tại vị trước đây. Ví dụ như giáo sư Nguyễn Xuân Vinh khi về hưu ông mang tước hiệu Professor Emeritus of Aerospace Engineering của Đại học Michigan, giáo sư danh dự ngành kỹ thuật không gian. Tuy vậy sự nhiêu khê khi ta dịch không rõ ràng là “giáo sư danh dự” có thể gây ra sự hiểu nhầm với danh hiệu “Honorary Professor”. Mà hihi… “Honorary Professor” không kèm điều kiện nghỉ hưu, có công đóng góp lâu dài cho tổ chức này. Chẳng hạn như một trường nọ đại học mời mọc một ông giáo thính giả từ xứ Mấy chú 3 PRC HD981 sang Mỹ dạy vài phùa, cho ông giáo tên hiệu trên giấy tờ “Honorary Professor”, “Honorary Fellow”. Và rồi một ví dụ khác như “tiến sĩ danh dự” (honorary doctorate) của trường Graduate School Park Jung-ho tại Seoul cấp giấy cho me-sừ Nguyễn Tấn Dũng giảng về kinh nghiệm luật pháp và kinh tế VNCS. Với khả năng “siêu việt” của sừ ni ta không thể dịch hay hiểu y là một Professor Emeritus.

Tóm lại quy chế nhà trường ban cho “Giáo sư Emeritus” (Professor Emeritus) là một giáo sư dạy thực thụ, thông thường đã làm việc toàn thời gian, nhưng nay đã nghỉ hưu, ông hay bà vẫn có thể được mời định kỳ để thuyết trình, giảng dạy, tham khảo ý kiến hay được trao một giải thưởng nào đó.

Thôi đã ăn gian đi lố đề tài, xin trở lại chủ đề nhà văn Max Steele, các tác phẩm tiêu biểu của ông ni như “Debby”, “The Cat và Coffee Drinkers”,”Where She Brushed Her Hair” và “The Hat of My Mother”. Chính những tiểu thuyết của ông đã đưa tên ông lên trên đài danh dự đoạt những giải thưởng điển hình như the Harper Prize, the Saxton Memorial Trust Award, the Mayflower Cup Award và O. Henry Prizes. Ông đã nhận được khoản tài trợ đặc biệt cho công tác văn chương của mình từ Quỹ Quốc gia Nghệ thuật (the National Endowment for the Arts).

Điều cao quý là Max là một giáo sư chuyên tâm, tận tuy được nhiều người mến mộ và yêu quý bởi vì ông là một cố vấn có công đào tạo cho các thế hệ nhà văn đi sau, Steele sáng lập và hướng dẫn chương trình sáng tạo văn chương tại Đại học North Carolina (UNC), tọa lạc tại thành phố Chapel Hill kể từ năm 1967 cho đến năm 1986. Nhiều học trò của ông sau này đã trở thành những nhà văn tên tuổi, những tác giả nổi bật như Randall Kenan, Jill McCorkle và Lawrence Naumoff.

Nhà văn Max Steele sinh ra vào năm 1922 tại Greenville, tiểu bang South Carolina. Steele đã theo học tại các đại học như Furman (Greenville), Vanderbilt (Nashville, Tennessee), đại học Paris Sorbonne và Academie Julienne (École des Beaux-Arts) ở Paris. Ông đã phục vụ trong quân lực Không quân Hoa Kỳ trong thời Thế chiến II. Bài viết của ông đã được đăng lần đầu tiên trên tạp chí Harper trong năm 1944 và tốt nghiệp từ trường UNC vào năm 1946. Sau đó, ông sống ở Paris, nơi ông là một người bạn và đồng nghiệp của George Plimpton và một biên tập viên (BBT) sáng lập của tạp chí văn học The Paris Review. Ông vẫn kết nối với các văn hữu trong BBT cho đến khi ông qua đời, tên ông được liệt kê trên các quảng cáo tiêu đề là đồng biên tập. Ông cũng là một biên tập viên cho tạp chí Story.

Nếu năm 16 tuổi nhạc sĩ Lê Trạch Lựu bị coup de foudre hành hạ khi yêu nên len lén muốn gửi thơ cho nàng Kim Phượng, nhưng rồi chẳng dám. Truyện viết của nhà văn Max Steele cùng thế hệ cũng yêu thầm nàng Sara Nell Workman, phôn mời nàng đi xem ciné mà run như cầy sấy. Sara đồng ý đi xem ciné, xem ciné xong Max muốn mời Sara đi ăn dinner, giờ không đủ vì hết phép của ông bố Sara, nên đôi bạn ghé vào tiệm drugstore “Shaeffer’s” chỉ uống nước, cái khờ khạo măng non, nhút nhát của Dave (mà Max đặt tên trong truyện) khi uống hai viên Litho-bromide nên uống với nước lã, thuốc hòa tan trong nước lã sủi bọt như Alka Seltzer, thay vì như Max viết vì là khờ dại vì không biết nên đã diễn tuồng Coke và Litho-bromide (LiBr). Khi LiBr (lithium bromide) liên kết trong phản ứng cùng chất lỏng trong Coke, có chứa sodium carbonate (alkali) dạng thức hóa học CNa2O3, hệ quả cho những phản ứng nhiệt năng, sôi sục exothermic reaction, khó chịu cho cơ thể của Dave. Những khờ dại trong trắng….

Viết về sách mới, xin đơn cử một chuyện tình đẹp về kỷ niệm và thơ mộng như: “Lê Trạch Lựu và Tình Khúc Em tôi”, ở trang 167, đây là một mối tình mang theo mãi một đời người. Nhạc phẩm Em Tôi ra đời đầu năm 1953 đến nay vẫn tiếp tục đem đến cho người nghe những xúc cảm như gần, như xa của một thời tưởng như đã thuộc về dĩ vãng nhưng vẫn tiếp tục làm rung động trái tim những thính giả trẻ tuổi ở thế hệ bây giờ. Đằng sau ca khúc lãng mạn này là một cuộc tình mang theo từ thuở vừa biết yêu cho đến tuổi xế chiều khi nhạc sĩ sáng tác liên lạc lại người xưa qua đường dây điện thoại viễn liên. Nay chuyện ấy đã chìm vào danh sách những thiên tình sử đẹp trong lãng mạn và lưu luyến kèm theo bạn tình ca Em Tôi bất hủ theo ý riêng cùa hàn bút ni.

Trong một buổi nói chuyện ở buổi họp mặt Thu Tao Ngộ tại Paris 2009, nhạc sĩ Lê Trạch Lựu kể về câu chuyện tình đã đưa đến bài tình ca Em Tôi. Vào tháng 5 năm 1946 ông tham dự trại hè Sầm Sơn, đi với đoàn Hướng Đạo cùng nhiều đoàn khác, tập trung tại sân ga Hà nội. Thoáng thấy một cô gái xinh xinh, dáng người phong nhã, có đôi mắt đẹp tuyệt vời, ông bị tiếng sét ái tình ngay phút đầu. Rồi mỗi ngày ông đều thấy cô gái ấy, đội nón, dưới nắng trang trang rũ áo, ông ngồi bên cửa sổ nhìn cô ta. Thỉnh thoảng cô nàng ngửng đầu lên, vành nón che đôi mắt, nhưng ông biết là cô ta đang nhìn chú ý đến ông. Khi về lại Hà Nội ông tìm nhà cô ta, vì có duyên nên tìm được ngay, nhà cô ta ở gần nhà ông. Dạo ấy có một chú bé đi theo ông bén gót, đó là chú Mỹ, em cô Phượng. Một hôm, ông viết một lá thư và chẳng dám trao đến cô, vì không đủ can đảm trao lá thư đến Phượng, nên ông nhờ chú Mỹ giúp cho công tác liên lạc.

Gia đình Phượng phải đi tản cư vì biến cố toàn quốc kháng chiến. Phần khác Lê Trạch Lựu sang Pháp du học. Tháng ngày qua khi ở Paris cũng là thời gian mà nỗi nhớ quay cuồng chàng thanh niên say trong cơn yêu, điều này đã là nguồn suối trào dâng để một ngày nọ bên những bạn bè văn nghệ như Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, ông bấm lên phím đàn, đưa “Em Tôi” vào đời. Sau đó tác giả gửi bài nhạc tới nhà xuất bản Tinh Hoa. Những tháng năm trôi qua. Khi nhạc phẩm cất cánh bay cao tại Việt Nam, ông ở Paris nên không biết rõ tình trạng nó ra sao.

Rồi một hôm Lê nhạc sĩ tìm ra được địa chỉ của Phượng rồi viết về cho chú Mỹ, Mỹ cho biết cô Phượng đợi ông trong một năm dài, thấy ông không về Phượng tưởng ông đã mất. Rồi ba năm sau khi cô để tang ông, cô đi lấy chồng, gia đình đã êm thấm với chồng và con. Mãi về sau này, sáu chục năm sau, ông được biết tin qua một người bạn cùng trường năm xưa cho ông số phôn, thế là ông gọi thăm người yêu cũ. Nàng vừa ngạc nhiên vừa bối rối, phải chăng người chết trở về. Phượng òa ra tiếng khóc ngất ngây. Nhạc sĩ hỏi về lá thư tình năm xưa, thuở văn thời 16 viết trong thơ ngây, trong lúng túng. Phượng trả lời ông: “Em để vào trong một cái hộp, nó đi theo em tất cả mọi nơi, trong đó có cả tập ảnh chụp hồi đó, nhưng chồng em thấy lúc nào em cũng buồn, nói với em nên giấu nó đi một chỗ, khi nào vui thì hãy mở ra. Thế là ông ta bỏ vào đâu không rõ, mấy năm sau ông ta mất, tìm kiếm khắp nhà không ra. Em chỉ nhớ anh viết dài lắm… viết dài lắm… Hôm nọ em muốn tìm cái hình anh hồi đó, mà không thấy đâu. Tủi thân, em lại ngồi khóc, may rằng con và cháu em bữa đó tụi nó không có ở nhà…”.

Ông cho biết: “Mối tình đối với cô Phượng theo tôi suốt đời, vì rằng đó là mối tình đầu, mà mình không biết nhau ở đâu, không biết người ta sống hay chết, tôi nhớ đến cô và tôi đã làm bài “Em Tôi”.”….

Lê Trạch Lựu và Tình Khúc Em tôi, Việt Hải Los Angeles:
http://www.ninh-hoa.com/VietHai-ChuyenTinhCuaNhaVanMaxSteel…

Em tôi – Nhạc và Lời: Lê Trạch Lựu – Ca Sĩ: Duy Trác – Thực hiện PPS: Doanh Doanh:
https://www.youtube.com/watch…

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và ngoài trời
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, văn bản và cận cảnh
+8

nguyễn phúc , BBC: phỏng vấn nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn (1926-2004)


Mời các bạn đọc bài phỏng vấn NS Lê Trọng Nguyễn tác giả của bài Nắng chiều, Lá rơi bên thềm, Sao Đêm , Bến Giang Đầu …Bài rất hay của Nguyễn Phúc, Đài BBC Luân Đôn thực hiện ngày LTN còn sống. Bài viết là cả một quá khứ dài từ thời 1945 trở về sau, có nhắc tới Văn Cao, Vũ Hoàng Chương, Phạm Đình Chương , Nguyễn Xuân Khoát ….Tình cờ T mới được đọc, ai chưa đọc, đọc cho vui, xin chia sẻ cùng các bạn

Lê Trọng Nguyễn (1926-2004)

Thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam bước vào tuổi thanh niên thời kháng chiến chống Pháp nay đã ở vào tuổi “thất thập cổ lai hy”. Sự đóng góp và tâm tình của thế hệ đó, cho đến nay, vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, nhà báo Nguyễn Phúc, nguyên là biên tập viên Ðài BBC Luân Ðôn, thực hiện một loạt những cuộc phỏng vấn các văn nghệ sĩ thế hệ này hiện đang định cư ở hải ngoại. Mở đầu là bài phỏng vấn nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn dưới đây.
*
Từ trên thềm của ngôi nhà nhỏ cạnh đường San Gabriel, thị trấn Rosemead, CA, USA, người nghệ sĩ ấy, với khuôn mặt chở đầy dấu tích của năm tháng, của phong trần, của phong sương, của chịu đựng, đã đón tôi với một nụ cười thật tươi, thật sáng, với một cái nhìn thật thẳng thắn, thật sắc, thật lâu: có chút gì thật đặc sắc trong cái tương phản giữa nét trẻ trung của nét cười ấy, cái nhìn ấy với những nếp hằn sâu trên trán rộng, những đường nhăn bên hai má. Ðiếu thuốc lá đang cháy dở trên tay, anh Nguyễn ngoắt:

“Vô, vô.”

Cái ngoắt tay ấy của một con người từng trải, lịch duyệt, có vẻ như bất chấp mọi ước lệ trong lối chào hỏi xưa nay của người mình, cái ngoắt tay thân mật ấy coi vậy mà lịch sự ra phết.

Mặt đàn dương cầm cũ cũng chở đầy năm tháng như gương mặt của chủ nhân nó: Hai tấm ảnh bán thân đóng khung. Một của J. S. Bach và một của Beethoven. Cái tủ thấp kê gần giànstereo nhỏ đầy dĩa CD nhạc cổ điển tây phương.

– “Âm nhạc và anh tình cờ mà gặp nhau. Hay là anh tìm đến âm nhạc?”

Không một chút lưỡng lự, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đáp:

“Tôi tìm đến âm nhạc. Từ nhỏ, mình sống xung quanh âm nhạc rồi. Mình hát trong nhà thờ từ hồi nhỏ, cũng nhờ vậy mà mình biết là mình thích âm nhạc, yêu âm nhac… ”

– “Anh sớm khám phá ra là anh có khiếu âm nhạc?”

“Biết mình thích âm nhạc thì biết khá sớm nhưng mãi cho đến bây giờ mình cũng không biết là mình có khiếu hay không?”

– “Khiêm nhượng rồi anh nói vậy chứ ai không biết rằng anh là một nhạc sĩ có tài, thành danh đã từ lâu với rất nhiều bài được cả nước yêu chuộng, nổi tiếng nhất là bản Nắng Chiều.

“Anh khua tay ngắt lời tôi:

“Bản Nắng Chiều thật ra chỉ là một trong một số bài của tôi được phổ biến rộng rãi, nhưng mà tôi cũng không thích nó lắm, dù tình cảm tôi gửi vào đó rất mặn nồng. ”

– “Tại sao ?”

Anh Nguyễn cười phá lên, rất sảng khoái. Rồi im lặng, trầm ngâm một lúc anh chậm rãi đáp:

“Mình cũng không biết vì sao mình không thích bài Nắng Chiều lắm, dù khi viết xong bản đó mình rất khoái, dù bài đó rất chững chạc, chững vô cùng, nó cân phương đủ mặt… Ðây cũng là một loại tâm trạng. Người ta hát nhiều quá, mình đâm ra ghét. Người ta cứ giới thiệu Nắng Chiều, Nắng Chiều mà không biết thằng Nguyễn là ai cả.”

– “Kể cũng không có chi lạ. Có một bản Sonate của Robert Schumann mà chính nhạc sĩ cũng từng nói là ông không thích chỉ vì bản đó là bản ruột của danh cầm Clara Schumann. Mà Clara Schumann như anh cũng đã biết rồi, lại chính là vợ của nhạc sĩ. Ông thấy thiên hạ tán thưởng bài đó, tán thưởng nghệ thuật trình tấu của vợ – hình như bài sonate đó khó đánh lắm – mà không biết đến ông nên ông bực… rồi cũng đâm ra ghét bản sonate đó. Nhưng mà, để trở lại với sáng tác của anh, không phải vì có quá nhiều người hát bài Nắng Chiều mà giá trị nội tại của nó bị giảm đi. Anh viết bài Nắng Chiều vào năm nào và viết ở đâu ?”

“Tôi viết bản đó ở Huế, thời gian sau khi bỏ vùng kháng chiến về thành… Tâm sự tôi trong bài Nắng Chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 3 năm 45, có một gia đình công chức Nam triều từ Qui Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy!”

– “Khi anh về qua sân nắng chạnh nhớ câu thề…” Hỏi cho đáo kỳ lý luôn? Biết rằng anh viết bản đó ở Huế, nhưng mà tại nơi nào ở Huế ?

“Tại cung An Ðịnh. ”

Cung An Ðịnh được cất riêng cho vua Khải Ðịnh, không thuộc hệ thống kiến trúc cũ của hoàng thành Huế, nằm bên bờ sông An Cựu. Cùng với nhiều kiến trúc khác ở Huế, cung An Ðịnh đã bị Việt Minh đặt chất nổ, phá sập khi họ áp dụng chính sách tiêu thổ kháng chiến vào đêm 19 tháng 12 năm 1946.

Từ cổng chính nhìn vào, lúc ấy chỉ còn dãy nhà phía bên phải, tuy hư hỏng nhưng vẫn còn ở được. Và đó cũng là nơi mà bà Từ Cung, thân mẫu của Cựu Hoàng Bảo Ðại, đã cư ngụ sau khi bà hồi cư từ Mỹ Lợi.

– “Tại sao mà anh lọt vào cung An Ðịnh?”

“Lúc bấy giờ, tôi làm việc ở đài phát thanh Huế, chơi thân với anh Vũ Ðức Duy. Anh ta có họ với bà Từ Cung, cũng nhờ quen anh mà anh đưa tôi qua ở bên cung An Ðịnh… Thật ra cái ý định viết một bài cho mối tình ở Hội An nó nhen nhúm lên trong lòng tôi đã từ lâu, nhưng phải chờ có một tia lửa thiệt âm ỉ ấy nó mới bốc lên được… ” hẳn không phải là tình câm mà tuyệt vọng?”

“Lúc bấy giờ tôi còn nhỏ còn trẻ mà, đâu 19, 20 gì đó. Platonique (lý tưởng) thôi. Rồi sau đó tản cư, kháng chiến… có cảm tưởng như mình còn thiếu người ấy một món nợ. Vì tôi viết bản Nắng Chiều ở Huế nên có nhiều người lầm tưởng rằng tôi viết cho một người Huế mà tôi đã yêu. Nhưng sự thật thì như tôi vừa kể, không phải như vậy. Viết xong bài Nắng Chiều tôi khoái lắm, biết rằng mình đã trả được món nợ ấy. ”

“Và cái tia lửa đó là một người thiếu nữ họ Hoàng, một thời hoa khôi ở đế đô, có họ với bà Từ Cung… Một chiều, ngồi cạnh hồ sen của cung An Ðịnh, bóng dáng thướt tha của người thiếu nữ ấy đã gợi cảm cho tôi, đưa tôi về với mối tình cũ vậy là tôi viết bài Nắng Chiều, đâu có trong vòng nửa tiếng đồng hồ là xong. Thời gian ở Huế là lúc mà tôi biết chắc là tôi quả yêu âm nhạc thiệt sự, trước đó viết vớ vẩn vậy thôi. ”

– “Anh học nhạc với ai ?”

“Tôi tự học trong giai đoạn đầu. Lúc bấy giờ tôi tham gia các phong trào thanh niên đi cắm trại, họp bạn ở tỉnh nhà, tỉnh Quảng Nam. Ca khúc đầu tiên của tôi là bài Ngày Mai Trời Lại Sáng, tuổi trẻ mà, luôn lạc quan tin tưởng ở tương lai. Tuy là sáng tác đầu tay nhưng mà bây giờ xemlại, tôi thấy bài đó cũng chỉnh. Sau đó thì đi tản cư. Dạo ấy có cái buồn cười thế này, có một số anh em yêu thích âm nhạc nói tôi thảo một bản nhạc như nhạc ngoại quốc, loại hòa tấu mà không có lời, họ cho vậy là nhạc cổ điên tây phương, tôi cũng chiều anh em mà có viết một bài đặt tên là Adieu Les Soirées Intimes. Cái buồn cười là khi bắt đầu viết nhạc, ưng viết cho khúc mắc, cho khó khăn. Sau này đọc thêm, học thêm, nghe nhiều mới thấy được cái simplicité (giản dị) mà đạt được mới là khó. Cũng nhờ một phần vào sinh hoạt văn nghệ và những cuộc hội thảo về quan niệm sáng tác khi tôi còn phụ trách âm nhạc cho toàn thể Liên Khu Năm, một đơn vị hành chánh trong vùng kháng chiến, gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên… Lúc đó, tôi có viết một bài tên là Binh Nhì Ca, viết cho bộ đội hát chơi mà. Bản này được tuyên dương. Tôi viết theo lối của tôi, khi tập cho anh em bộ đội hát, họ hát không được. Tôi sửa lại cho đúng với cách mà họ thích hát, họ hát được liền. Nhịp điệu của họ giản dị thôi, mà mình ưng viết cho khó thành ra họ hát không được. Có gì đâu. ”

– “Anh tự ý sửa hay là ai bảo anh sửa ?”

“Tôi tự ý sửa. Vì lúc đó mình nghĩ mình viết cho bộ đội mà, không phải cho riêng mình. Cho nên tự ý sửa, không có đau lòng chi cả. Bộ đội hát được, mình cũng vui vậy.”

– “Có bao giờ anh phải viết một bài theo chỉ thị của cấp trên không?”

“Tuyệt đối không. Tôi tuyệt đối chống lại cái gọi là nhạc đột kích, nghĩa là loại bài hát mà người ta khuyên anh cứ nên làm sẵn trước, chờ một phong trào, chiến dịch, đại hội nào đó, đúng lúc sẽ tung ra. Tôi chống cái chuyện đó lắm. Tôi làm nhạc là vì tôi thích thôi, trong số những bài tôi viết hồi đó có bản Bài Ca Của Ðoàn Văn Nghệ, lời của Tôn Thất Mạnh Hào, anh Mạnh Hào hiện vẫn còn sống ở ngoài Bắc, làm thơ hay lắm, bút hiệu là Hạo Nhiên. Tôi viết là tôi décharger một điều gì đó trong tôi. Tôi không có lý luận gì cả.”

Tôi thầm mến cái ngay thẳng thật thà của con người xứ Quảng này. Anh không quên những kẻ đã góp phần vào sự nghiệp của chính mình. Mến là vì, xung quanh mình, không riêng gì trong âm nhạc, mà trong nhiều bộ môn, lĩnh vực khác nữa, số người có khả năng nhận vơ đếm không hết.

– “Bạn văn nghệ cũ của anh từ thời kháng chiền gồm những ai, nay còn những ai.”

“Ở Liên Khu Năm, lúc ấy có anh Phan Huỳnh Ðiểu, tác giả bài Có Một Ðàn Chim, anh Văn Ðông. Về sau họ ra Bắc cả. Có hai anh em anh Dương Minh Ninh và Dương Minh Hòa. Anh Ninh không biết nhiều về nhạc lý nhưng mà trời phú cho cái khả năng ghi nhận nhạc điệu. Thời đó, đi xem ciné, nghe được một bài nào mà anh thích là anh ghi lại không thiếu một nốt. Anh Ninh có viết bài Trai Ðất Việt. Anh lớn hơn tôi chừng bốn năm tuổi, chuyên về cổ nhạc, vọng cổ, hiện còn sống ở Việt Nam. Anh Hòa có lúc phải đi vùng Kinh Tế Mới, bây giờ sống lây lất ở Việt Nam, đi dạy nhạc vớ vẩn, thỉnh thoảng có làm những bài hát thiếu nhi. ”

– “Những người bạn văn nghệ đó, có ai chỉ dẫn thêm gì cho anh về nhạc lý không?”

“Không. Nhưng mà lúc bấy giờ tôi có cái may mắn tìm được một tủ sách, trong đó có sách nhạc lý của một trường công giáo ở Chương Hòa, Tam Quan, Bình Ðịnh. Tôi dạy học ở đó. Nhờ vào tủ sách đó mà tôi tự học thêm về harmonie (hòa âm) về contrepoint (đối điểm)… Vì tự học nên tôi học mà không có làm bài tập… ”

– “Sau contrepoint rồi đến composition (soạn nhạc) phải không anh?”

“Ðúng vậy, mãi về sau này, khi vào thành rồi, tôi mới học composition. Nhưng có cái buồn cười là lúc đó, mình chưa học composition mà lại viết nhạc, viết được có lẽ nhờ mình nghe nhiều, sống nhiều với âm nhạc. Cũng như có nhiều người có học luật lệ gì về thi ca đâu nhưng mà vẫn làm thơ, vẫn làm được thơ. Riêng trong âm nhạc, tôi nghĩ muốn viết cho vững, tối thiểu phải học harmonie, nó giúp cho mình chấm câu dứt đoạn. Người sáng tác nhạc ít nhất cũng phải biết hòa âm. Thiếu kỹ thuật đó, nhạc phẩm không có được mạch lạc chặt chẽ.

Các nhạc sư Pháp cho rằng âm nhạc là sự vận chuyển của tâm trạng và tư tưởng. Sự vận chuyển này được tạo ra bởi hai trạng thái động và tĩnh. Có nghĩa là căng thẳng (tension) và buông dãn (détente). Ðể dễ hiểu, khi nghe một bài vọng cổ, đến đoạn nói lối (có khi kéo dài đến hàng trăm chữ), có lúc tiết điệu và âm điệu đang tạo sự căng thẳng, người nghe nín thở chờ đợi, chờ đợi gì, chờ đợi sự buông dãn của âm Hò chấm câu, là lúc cả rạp vỗ tay. Lúc này là lúc âm nhạc chủ động, lời văn của bài ca là thứ yếu, chỉ có âm Hò họa điệu (chute) để cho người nghe thở phào. Có tiết điệu trống (rythme masculin), tiết điệu chiều ý người nghe theo nét nhấn (accent) của nhịp ấn định. Và tiết điệu mái (rythme féminin) là tiết điệu đưa lệch nét nhấn mà người nghe chờ đợi. Ðấy là một vài chi tiết của composition.

Sau khi vào thành rồi, tôi bắt đầu học thêm khóa hàm thụ với Ecole Universelle ở bên Pháp. Tháng tháng gửi mandat-poste cho họ, theo học cours de composition. Sau khi học xong tôi được chấp nhận là hội viên của SACEM Hội Nhạc sĩ Pháp. Lúc bấy giờ tôi quyết tâm đeo đuổi ngành nhạc. ”

– “Nhưng mà nhạc có nuôi nổi anh không?”

Thoáng một nét cười khá chua chát qua một hơi khói thuốc lá có đầu lọc, hít rất dài, hãm rất kỹ:

“Không. Lúc mới ở kháng chiến về tôi đi dạy vớ vẩn. Lúc bấy giờ ở Ðà nẵng, có gia đình ông Huỳnh Sau, con cái đều chơi nhạc giỏi cả, trong nhà có đủ dương cầm vĩ cầm. Giống như gia đình ông Henri Richard ở Huế vậy. Tôi chơi thân với gia đình đó, họ giới thiệu cho tôi dạy vớ vẩn, thỉnh thoảng họ cũng nhờ tôi làm partition. Thỉnh thoảng cũng có tham dự những hoạt động âm nhạc trong thành phố. Dạo ấy tôi có viết bài Vác Ðàn Ði Ðâu và bài liên khúc nhịp ba (suites des valses) Sóng Ðà Giang, Ðà Giang đây là sông Thu Bồn ở Quảng Nam. Tôi gửi bài đó cho chương trình của ông Ðan Trường bên Pháp và được phổ biến ngay.”

Vào những năm đầu thập niên 50, đài Pháp-Á vẫn cho phát thanh lại một chương trình tiếng Việt thu thanh trước ở Paris, của ban Nhạc Ðan Trường, nội dung thường xoay quanh sinh hoạt của Việt Kiều ở nước Pháp. Chương trình dài 30 phút được phát thanh lại vào trưa chủ nhật mỗi tuần, một phần nào thỏa mãn được cái tò mò của người trong nước đối với cuộc sống của bạn đồng hương ở Pháp. Ngày nay, hơn bốn mươi năm sau, nhiều nơi trên thế giới đã có tiếng nói vọng về quê hương, nhưng có lẽ không có đài nào có một câu mở đầu bằng một lời rất lãng mạn, rất trữ tình, dài dòng mà dễ thương như chương trình Ðan Trường dạo ấy: “Muôn dặm xa xôi, quan san cách trở, tưởng nhớ đến quê hương cho nên anh em chị em chúng tôi mượn nghệ thuật âm thanh để bắc cầu liên lạc với tổ quốc…”

Dài dòng thật, chả bù nhưng mà thì giờ thời bấy giờ có vẻ như chưa phải là tiền bạc.

– “Tại sao anh bỏ kháng chiến?”

“Dạo ấy em gái tôi đau nặng. Ði kháng chiến cực khổ quá, mẹ già xoay ra buôn bán vớ vẩn. Nhà tôi ở Bồng Sơn lúc đó là một cái trạm liên lạc của anh em văn nghệ sĩ, ai đi ngang cũng ghé vào nhà ăn cơm. Sống cực khổ quá, tôi nghĩ đến chuyện về thành, bán nhà cửa đi học tiếp. Cực khổ quá, mình ở không nổi thì bỏ đi thôi, chứ không có bất mãn chuyện chi cả. Lúc đó bộ mặt cộng sản của Việt Minh chưa lộ hẳn. Phong trào đấu tố lúc đó chỉ mới được phát động đâu ngoài Bắc thôi, chứ ở Liên Khu Năm chưa có. Vào trong này, định đi học lại nhưng hoàn cảnh kinh tế của gia đình lúc đó cũng đã khác, không cho phép mình tiếp tục học nữa.”

– “Trước 75, dù đã sống với Việt Minh, anh không có kinh nghiệm đau thương với cộng sản, tại sao sau ngày mệnh danh là giải phóng anh lại bỏ đi qua đây ?”

“Hồi tháng Tư năm 75 mình không có ý định đi. Lúc bấy giờ thật ra đầu óc mình không có ý thức chính trị gì cả, cứ nghe nói có ba thành phần nọ kia. Mãi cho đến ngày 28, một người bạn Mỹ, làm thuyền trưởng một chiếc tàu của SeaLand gửi cho tôi mấy chữ tàu đang chờ gia đình anh mà rồi tôi cũng không đi. Tôi nghĩ đem vợ con qua Mỹ lấy gì mà sống, làm gì mà sống, trong khi đó thì ở Saigon mình có sẵn cơ sở rồi, không giàu có gì nhưng mà sống được. Riêng bản thân mình cũng không có liên hệ với một đảng phái chính trị nào. Tôi nghĩ có thể có được một cuộc sống… bình thường. Nhưng mà mơ ước tầm thường vậy mà rồi cũng không ở được với Việt Cộng. Mãi tháng 3 năm 83 tôi mới qua đây… ít lâu sau ngày Việt Cộng chiếm miền Nam, tôi có gặp lại anh Nguyễn Xuân Khoát ở Saigon. Anh vào Nam, hỏi Phạm Trọng Cầu về tôi, biết tôi còn ở lại Sài gòn, anh tìm đến nhà thăm tôi. Tâm sự hàn huyên xong, anh khuyên tôi nên tìm cách đi. Nguyên văn câu nói anh Khoát như thế này: “Cậu đi đi, không ở được đâu.”

– “Anh quen nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát từ hồi nào?”

“Từ hồi tôi còn học ở Hà Nội. Khoảng năm 42 cho đến năm 45.”

Cái ngày đầu tiên quen biết nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát có lẽ không quan trọng bằng cả một thời kỳ sống ở Hà Nội trong những năm tháng nhiều biến cố lịch sử khắp nước. Cái đầu đã hói ấy hơi cúi xuống trong một dáng suy nghĩ như đang cố ôn lại những hình ảnh cũ. Im lặng một hồi, anh tiếp:

“Tôi quen anh Khoát từ hồi anh còn đàn ở quán Tân Nghệ Sĩ ở Bờ Hồ. Tối tối, tôi vẫn ra Tân Nghệ Sĩ nghe nhóm nhạc sĩ này đàn. Có cả nhạc sĩ vĩ cầm Nguyễn văn Diệp. Cái quán Tân Nghệ Sĩ nổi tiếng này nằm cạnh hàng kem Zéphyr, tức là hàng kem của cô Cúc. ”

– “Chắc cô Cúc này phải là một trong nhiều thiếu nữ đẹp ở Hà Thành nên đến hơn nửa thế kỷ rồi mà anh còn nhớ tên.

“Thật ra tôi cũng không biết nữa, nhưng tôi nhớ là vì sau này cô lấy ông Phạm Văn Ðồng…. Như tôi vừa nói, hàng kem Zéphyr nằm cạnh Quán Nghệ Sĩ là nơi tôi gặp và quen anh Nguyễn Xuân Khoát. Anh Khoát cũng có đàn ở Taverne Royale nữa. Hồi đó ngoài Hà Nội còn có một phòng trà nữa tên là Tuyết Sơn, vì hay lui tới phòng trà đó mà tôi biết hai nhạc sĩ vĩ cầm, đó là hai anh Lê Ngọc Châu và Ðỗ Thế Phiệt. Các anh Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Nguyễn Thiện Tơ lúc đó tôi cũng đã biết tiếng, nhưng họ ở lớp đàn anh, lớn hơn tôi. Sau này vào Saigon rồi, tôi mới quen anh Dương Thiệu Tước và Thẩm Oánh. Thật ra thì anh Nguyễn Xuân Khoát cũng hơn tôi đến 10 tuổi, nhưng mà tôi biết anh Khoát một phần cũng qua liên hệ công giáo.

Những năm tháng sống ở Hà Nội hẳn đã để lại nhiều kỷ niệm vui trong đời, nên anh Nguyễn thao thao về những mẩu chuyện vụn vặt, hết chuyện này sang chuyện khác. Sống ở Hà Nội mấy năm “học ít chơi nhiều”, đổi chỗ ở lung lung, lang thang hết nơi nay đến nơi khác, có lúc vào ở ngay trong đại học xá, tại khu dành cho sinh viên trường Kiến Trúc “dù mình chưa lên đại học”. Tại đó anh đã gặp bạn đồng hương là anh Vương Quốc Mỹ, người vẽ kiểu cho lăng “Bác”. Nghe anh vui vẻ thú nhận là mình học ít chơi nhiều, tôi hỏi:

– “Anh có đóng đô ở Khâm Thiên không?”

“Không, dạo ấy mình còn trẻ quá. Tôi chưa bao giờ nghe hát ả đào, nghe ca trù ở Khâm Thiên cả. Ðối với một người Việt Nam làm nhạc, đó là một thiếu sót. ”

– “Chuyện vui buồn của một thời lãng du, một đời lãng tử?”

“Nhiều lắm. Nhưng mà vừa nhắc đến anh Nguyễn Xuân Khoát… có một chuyện mà bây giờ những người liên hệ trong đó đã chết cả rồi tôi mới dám nói. Hồi 45-46, ở Hà Nội có ban nhạc kịch Anh Vũ, có vào Huế và Hội An trình diễn vở Tục Lụy của Khái Hưng, Lưu Hữu Phước viết nhạc. Trưởng đoàn nhạc kịch lúc đó là anh Võ Ðức Diên, ngoài ra còn có các anh Thế Lữ, Văn Chung, Bùi Công Kỳ, Nguyễn Xuân Khoát và một số các anh khác nữa, tôi không nhớ hết. Lúc ban kịch Anh Vũ vào đến Quảng Nam thì ở tại Ðà Nẵng. Từ Ðà Nẵng vào Hội An phải qua một khúc đường 30 cây số mà lúc ấy lại đúng vào mùa lụt lội. Kịch thì dự định diễn ở Hội An , làm thế nào để chở dương cầm từ Ðà Nẵng vào Hội An? Vì quen với anh Khoát từ trước ở Hà Nội, anh Khoát nhờ tôi phụ trách việc đó. Kết quả là có đàn cho ban kịch Anh Vũ, nhưng cái khám phá… bên lề chuyện đó là trong khi tìm cách vận chuyển cây đàn, anh Khoát nói với tôi là ở Hội An có một nhóm Hoa Kiều theo Trùng Khánh, tức là theo phe Tưởng Giới Thạch. Trong số có anh La Hối, tác giả bài Xuân Và Tuổi Trẻ, đã bị Quân đội Nhật sát hại cùng với 12 người Hoa Kiều khác. Lúc đó tôi mới biết rằng phần lớn các anh trong ban Anh Vũ nếu không phải là đảng viên thì cũng có cảm tình với Việt Nam Quốc Dân Ðảng. Trong chuyến đi Hội An kỳ đó, hình như họ có nhiệm vụ liên lạc gì đó với Quốc Dân Ðảng Trung Hoa là vì Hội An tuy nhỏ nhưng lại có một chi bộ lớn ở hải ngoại của phe Tưởng Giới Thạch. Chính vì cái liên hệ đó mà anh Thế Lữ, khi nghe anh La Hối bị Nhật giết, mới cảm động mà đặt tên và lời ca cho bản nhạc của La Hối, bài Xuân Và Tuổi Trẻ như chúng ta biết ngày nay. Trước đó, nó không có lời Việt Nam. Một người Việt ở tận ngoài Hà Nội, một người Hoa Kiều ở trong Quảng Nam này, hai người đâu có hề quen biết nhau. Chuyện cũng ngoài năm mươi năm nhưng trước đây vì sợ anh Nguyễn Xuân Khoát và Thế Lữ bị cộng sản trù nên tôi không dám nói ra. Bây giờ cả hai anh đều qua đời cả rồi. “.

– “Bạn thân nhất của anh là ai?”

“Phạm Ðình Chương. Chỉ có Phạm Ðình Chương thôi. Hoài Bắc là một người có tâm hồn lắm. Một tri kỷ.”

– “Hai anh có khen nhau không? Có chê nhau không?”

“Mỗi đứa sáng tác một đường. Không có phê bình nhau chi cả. Xem nhạc của nhau, đứa nào viết… sạch sẽ là được rồi. ”

Nói đến đây, anh khẽ chép miệng. Thoáng một nét buồn. Ðôi mắt lơ đãng nhìn theo làn khói thuốc. Phải rồi, khi người ta trót mang trong cái biệt nghiệp của mình chút nợ cầm ca, ai là người không tự thấy rằng mình vay cuộc đời nhiều mà trả không được mấy. Mất đi một người hiểu được tâm hồn mình ở vào cái tuổi bắt đầu vào thu, cái tuổi mà chỗ giao du lác đác như những chiếc lá trong gió lạnh đầu mùa, nói như Tùng Thiện Vương, lòng ai mà lại không se đôi chút.

“Có chuyện này nữa, có liên hệ đến anh Nguyễn Xuân Khoát. Trong thời kỳ chiến tranh, trong số những tài liệu mà quân đội mình bắt được của Việt Cộng, có một tập nghiên cứu nhạc dân gian, nhạc cổ truyền cả ba miền, tác giả là anh Nguyễn Xuân Khoát, phần nghiên cứu về cổ nhạc miền Trung có nhắc đến công trình của anh Nguyễn Hữu Ba. Dạo ấy, ông Lữ Liên có được tài liệu đó trong tay. Ðưa cho một sĩ quan trong ngành Tâm Lý Chiến. Ông sĩ quan này đưa tập tài liệu đó cho ai thì tôi không biết, nhưng mà sau này có một người kể như mạo nhận là của mình, dùng tài liệu đó để viết về dân ca ba miền, nói rằng đó là công sưu tập của mình, mà không nhắc chi đến anh Khoát hay anh Ba cả. Chuyện cũng đáng buồn Ông Lữ Liên biết rõ chuyện này lắm. Anh muốn biết thêm nữa thì tìm gặp ông Lữ Liên. ”

– “Tội chi mà anh buồn cho nó mệt cái thân, cho nó nhọc cái xác. Trong thiên hạ thiếu chi người có trí nhớ phi thường như Trương Tòng, đọc Mạnh Ðức Tân Thư của Tào Tháo có một lượt mà thuộc lòng ngay, vậy mà mà khi dùng đến những điều mình nhớ kỹ thì lại ‘Quên’ ghi xuất xứ. Ngoài anh Nguyễn Xuân Khoát ra, anh có gặp ai ngoài Bắc vào sau 75 không?”

“Anh Văn Cao. Trong một đêm sinh hoạt hết sức thú vị”

– “Xin nghe”

“Sau 75 một hôm anh Lê Thương tìm đến nhà tôi nói có anh Văn Cao ở Hà Nội mới vào. Bắc Nam gì không kể, anh Văn Cao là một nhạc sĩ có tiếng, mình cũng nên tính chuyện tiếp rước cho vui vẻ. Lúc bấy giờ tụi này nghèo lắm, may có một người bạn tên là Bá Châu, có nhà in ở đường Lê Lai, thích âm nhạc, nhà lại có đàn dương cầm. Anh bạn này bảo tụi này cứ mời anh Văn Cao còn chuyện ăn uống, nhậu nhẹt anh ta bao hết. Vậy là chúng tôi đón tiếp vợ chồng anh Văn Cao ở đó. Hôm ấy có anh Lê Thương và Phạm Ðình Chương, nay chết cả rồi, ngoài ra có chị Thái Thanh, anh Nguyễn Xuân Nghĩa hiện vẫn còn ở tại Mỹ này. Cả anh Nghiêm Phú Phi nữa. Mình kéo anh Nghiêm Phú Phi đến là để đệm cho chị Thái Thanh hát. Ðêm hôm ấy, chị Thái Thanh hát toàn nhạc của Văn Cao. Chị Văn Cao chảy nước mắt nói: “Em lấy anh suốt đời, hôm nay mới được nghe nhạc anh như thế này.”

– “Vậy trước đó, người ta không cho nghe nhạc của Văn Cao ở ngoài Bắc chăng?”

“Có, nhưng mà ý chị Văn Cao muốn nói trong mấy chục năm ở ngoài Bắc, cũng có nghe nhạc của chồng, nhưng không được hay như lần nghe chị Thái Thanh hát hôm ấy. Có rượu vào anh Văn Cao cao hứng ngồi vào dương cầm, ngâm một bài thơ mà tôi không nhớ, chỉ nhớ đại ý nói không nên bắn tổ chim. Anh Nguyễn Xuân Nghĩa có xin ghi lại, nhưng anh Văn Cao có ý ngại không cho. Trong không khí thân mật và cởi mở ấy, chị Văn Cao tiết lộ một vài điều cũng… đau lòng. Anh có biết là anh Văn Cao bị Ðỗ Nhuận phang không?”

– “Nghĩa đen hay nghĩa bóng?”

“Bóng gì. Ðỗ Nhuận đánh anh Văn Cao bị thương.”

– “Tại sao vây?”

“Lần đánh Văn Cao thì lý do tôi không nhớ rõ. Nhưng thực sự thì Ðỗ Nhuận ganh tỵ với Văn Cao là nguyên nhân sâu kín. Anh Văn Cao là tác giả bài Tiến Quân Ca, được chọn làm quốc ca từ thời Việt Minh. Thật ra nếu không có bài đó thì anh Văn Cao cũng tiêu rồi. Nhờ bài đó, mà sau khi dính vào vụ Nhân Văn Giai Phẩm, anh bị đì thì có bị đì mà không đến nỗi thiệt mạng. Hôm ấy, nhắc đến Ðỗ Nhuận chị Văn Cao chỉ biết lắc đầu. Sau đó mấy hôm người ta gọi anh Văn Cao ra Bắc vì liên lạc với văn nghệ sĩ ngụy.”

– “Bản nào anh ưng ý nhất trong số các tác phẩm của anh?”

“Cũng khó nói. Chỉ kể cho anh nghe hoàn cảnh rất thú vị khi tôi viết bản Sao Ðêm. Lâu lắm rồi. Tôi viết bản đó bên đèn tiên nâu của thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Hôm ấy tôi đi chơi về khuya, gặp một anh bạn tên Hoàng thổi saxo trong dancing Hòa Bình, gần nhà hàng Thanh Thế. Hoàng rủ tôi đi ăn khuya ở Phan Ðình Phùng. Khúc phía dưới, chỗ gần Vườn Chuối có một cái quán mở cửa rất khuya, bọn anh em ca nhạc sĩ “ru đời” xong vẫn kéo nhau đến đấy ăn miến gà, bánh cuốn. Nhưng mà tới nơi thì quán đã chật, mà bạn tôi thì lại đang đến giờ cần cơm đen. Tôi kéo Hoàng vào gõ cửa nhà thi sĩ Vũ Hoàng Chương gần đấy. Lúc ấy cũng đã gần hai giờ sáng. Ông Vũ Hoàng Chương hỏi tôi: “Nguyễn, giờ này còn lò mò đi đâu đây.” Tôi đáp: “Bạn tôi cần thuốc phiện.” Ông Vũ Hoàng Chương, mặc bộ đồ bà ba, tay ôm con mèo nhỏ, chỉ cái bàn đèn, để cho hai anh em tôi hoàn toàn tự do sử dụng. Ông vào ngủ tiếp. Trong khi bạn tôi hút thì tôi nhìn ngọn đèn dầu lạc mà nẩy ra cái ý sao đêm. Do đó mà có bài Sao Ðêm. Mấy chữ “trời sao chín mọng” là những viên thuốc nho nhỏ mà ông Vũ Hoàng Chương để sẵn cho tụi này trên bàn đèn.”

– “Anh có hút nhiều không?”

“Nhiều lần thì có. Trong bối cảnh cần thiết của bạn bè. Nhưng mà không ghiền.”

– “Anh sống có phóng đãng lắm không? Trụy lạc không?”

Một chuỗi cười vang lên giữa căn phòng im lặng, có thứ ánh sáng mờ mờ cùa một buổi sáng nhiều sương. Anh Nguyễn cười rất lớn, rất đã, đến chảy cả nước mắt.

“Phóng đãng có. Trụy lạc có. Nhưng mà chỉ có hại cho mình thôi. Không làm phiền đến ai cả. Lúc bấy giờ tôi làm ra tiền cũng khá dễ dàng. Ðêm nào cũng đi vũ trường…. ”

– “Cái lối sống ấy có giúp ích gì cho sáng tác của anh không?”

“Có chứ. Nó là một phần của cái cachet mà tôi muốn tự tạo cho mình. Và tôi nghĩ rằng tôi đã tạo được cái cachet đó trong nhạc phẩm của tôi.”

– Trong những nơi mà anh đã từng sống trong nước, chỗ nào làm cho anh quyến luyến khác thường, nói theo một bài tập đọc trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư?”

“Huế”

– “Không phải Quảng Nam à ? Không phải chỗ quê hương đẹp hơn cả?”

“Tôi không có tinh thần địa phương. Ai nói những chuyện như thằng đó Huế, thằng đó Bắc tôi không thích. Nhạc của tôi cũng vậy. Tôi không chú ý đến dân tộc tính, tộc tiếc gì cả. Không bao giờ tôi tự đặt cho mình cái mục đích là nên viết cho ra Việt Nam, cho ra Pháp… ”

– “Xin phép đưa anh về với sông Hương núi Ngự. Tại sao anh thích Huế?”

“Là vì tôi đã Sống (anh nhấn mạnh chữ sống) nhiều, yêu nhiều, khổ nhiều ở đó. Huế cũng là nơi mà tôi có nhiều người bạn rất thương tôi. Tôi yêu phong cảnh ngoài đó lắm. Nhất là sinh hoạt trên giòng sông Hương. Dạo ấy có khi hàng tháng tôi ở lì dưới đò. Sáng, đò cập bến cho mình đi làm ở đài phát thanh, trước Morin, chiều lại xuống đò”

– “Bạn anh ngoài Huế”

“Nhiều lắm. Có các anh Tôn Thất Cảnh, anh Vũ Ðức Duy. Anh Vũ Ðức Duy là người đưa tôi đến trú ngụ ở cung An Ðịnh. Trong số các anh em nhạc sĩ ngoài đó, tôi quen các anh Nguyễn Hữu Ba, Lê Quang Nhạc, anh Vang thổi saxo ở đài phát thanh, anh Văn Giảng, anh Vĩnh Phan. Anh Vĩnh Phan có một tâm hồn rất nghệ sĩ, còn ngón đàn tranh của anh thì thôi hết nói, tuyệt. Anh Văn Giảng, tác giả bài Ai về Sông Tương tôi chơi thân lắm. Văn Giảng giỏi lý thuyết âm nhạc. Có một dạo Văn Giảng được học bổng đi học nhạc ở Hawaii. Khóa học hai năm, nhưng mà mới có một năm thì anh về vì nhớ nhà quá. Văn Giảng có tâm hồn lắm. Con người ấy, gắn bó với quê hương như vậy chắc là không sung sướng trong cuộc sống lưu vong tại bên Úc hiện nay.”

– “Còn anh?”

Thêm một điếu thuốc nữa. Anh cau mày suy nghĩ lung lắm.

“Từ ngày qua đây tôi cảm thấy mình già, lỗi thời. Cảm thấy mình già rồi, không làm gì được nữa. Cũng có lúc sáng tác. Nhưng nhiều khi lại tự hỏi viết cho ai. Tôi xưa lắm anh ơi. Những cảnh trước mắt làm tôi bực mình. Cuộc sống vật chất ở đây làm mình bỡ ngỡ kinh hoàng. Những giá trị cũ trong nước, qua đây hình như vứt đi cả. Viết cho khuây khỏa, nhưng cũng khuây khỏa một phần nào thôi. Xoay sang đọc sách đủ loại, đặc biệt sách nhạc tôi đọc cũng nhiều. Buồn. Con cái lớn nó dọn đi cả rồi. Bạn bè xung quanh cũng không còn được mấy. Già rồi, dù không đau yếu chi nhưng mà sức khỏe cũng có kém… ”

Thoáng trong đầu, hai câu thơ của Nguyễn Du than thở về cái cảnh đường còn dài mà ngày đã tàn, bạn bè mới lại không có mấy, trong khi đó thì chứng bệnh cũ lại tái phát, ngồi một mình trong căn phòng đầy khí lạnh ngày xuân (trường đồ nhật mộ tân du thiểu, nhất thất xuân hàn cựu bệnh đa.). Còn vài chuyện nữa định hỏi, nhưng mà thôi. Khơi thêm một vài mẩu chuyện cũ có thể là vui đấy, nhưng mà cái tâm sự ấy. Tôi hiểu rồi.

Tôi với tay tắt cái máy ghi âm. Uống nốt chén trà đậm đã nguội.

Vĩnh biệt nhạc sĩ Tô Thanh Sơn (1949-2018)


to thanh son (1949-2018).jpg

Vĩnh biệt nhạc sĩ Tô Thanh Sơn
Nhận được tin buồn trong tối chủ nhật, người nhạc sĩ có bài hát nổi tiếng “Chút kỷ niệm buồn” – Tô Thanh Sơn đã ra đi đột ngột, để lại nhiều thương tiếc cho những ai yêu thích ca khúc trữ tình này.
Nhạc sĩ Tô Thanh Sơn sinh năm 1949 tại Hồng Ngự, Đồng Tháp. Ông là em của nhạc sĩ Tô Thanh Tùng – người cũng vừa qua đời cách đây không lâu trong sự thương tiếc của nhiều khán thính giả yêu âm nhạc.
Gần 30 năm sáng tác, nhạc sĩ Tô Thanh Sơn vẫn mang nặng nỗi buồn của người nhạc sĩ nghèo, viết ca khúc không ai hát. Tưởng chừng ông hết hy vọng thì vào năm 1999, một người bạn nghe được ca khúc “Chút kỷ niệm buồn”, thấy hay nên mang đi giới thiệu giúp, không ngờ được khán thính giả trong và ngoài nước yêu thích. Từ đó, các sáng tác khác như “Thầm lặng”, “Ba năm anh yêu em âm thầm”, “Giọt mưa đêm”, “Vùi chôn kỷ niệm”, “Một lần gặp em”, “Đêm tiễn biệt”, “Đi tìm dĩ vãng”, “Chờ em trong mưa”, “Giọt mưa đêm”… đã được công chúng biết đến rộng rãi.
Tang lễ của nhạc sĩ Tô Thanh Sơn được tổ chức tại tư gia (số : 171 Điện Biên Phủ, An Thạnh, TX. Hồng Ngự, Đồng Tháp). Lễ động quan lúc 11giờ ngày 23-4, sau đó an táng tại đất nhà.
Thắp nén hương tưởng nhớ đến nhạc sĩ Tô Thanh Sơn. Tiễn đưa ông về đất mẹ, khán giả vẫn mãi yêu thích những sáng tác của ông.
#tothanhson