Category Archives: TIẾNG VIỆT

Kim Quyên : Giáo sư, nhạc sĩ Trần Quang Hải, cánh én mùa xuân của xứ vú sửa Lò Rèn, Vĩnh Kim.


             Giáo sư, nhạc sĩ Trần Quang Hải, cánh én mùa xuân của xứ vú sửa Lò Rèn, Vĩnh Kim.

 KIM QUYEN (2)                                                                                 

Kim Quyên

Dáng người cao ráo, đỉnh đạc, gương mặt chữ điền đầy cương nghị, đôi mắt sáng, dạt dào niềm tin yêu cuộc sống, nụ cười tươi luôn nở trên đôi môi sinh động, đôi môi biết thể hiện những âm thanh tuyệt vời của những chiếc kèn môi làm từ tre hay bằng kim loại. Nhạc cụ thật đơn sơ mà như nói lên được bao nổi niềm của đôi lứa yêu nhau, những tâm hồn  thổn thức của những người thuộc dân tộc Mông, Charai, Ê Đê, Xê Đăng… cũng là những người Việt Nam của quê hương anh.

Nhìn người nghệ sĩ ấy ngậm chiếc kèn nhỏ bé xinh xinh, bàn tay thoăn thoắt gảy kèn, đôi môi run run theo cảm xúc đang dâng trào từ tận cùng trái tim, những âm thanh trầm bỗng vang lên, rền rền như vọng ra từ núi rừng Tây Nguyên, tiếng của những chàng trai mời gọi bạn tình, có khi là tiếng gầm của con hổ, con mang, có lúc là tiếng thánh thót của những chú chim rừng gọi bầy trong nắng sớm….

Chao ôi! Chỉ là vài miếng tre mỏng mành, đôi miếng kim loại bằng đồng, thao.. mà người nghệ sĩ đàn môi đã đem đến bao âm thanh thật thú vị, thơ mộng, trữ tình, lạ lùng trong phong cách biểu diễn, mới mẻ về giai điệu, tiết tấu khiến người xem không khỏi ngạc nhiên, ngưỡng mộ sự khéo léo, tinh tế của đôi bàn tay làm ra những dụng cụ thô sơ, dễ kiếm dễ tìm, dễ làm ở khắp nơi trên thế giới mà những nghệ nhân, nghệ sĩ đã chế biến ra rồi biến nó thành một nhạc cụ yêu thích cho những người sành điệu trong nước và trên thế giới.

Mang trong người dòng máu nghệ sĩ của nhiều đời, nhạc sĩ nhạc dân tộc Trần Quang Hải đã mày mò nghiên cứu nhiều loại nhạc cụ của Việt Nam và thế giới, rồi chế biến ra, nâng nó lên tầm vóc cao hơn với nhiều loại hình đầy sáng tạo, mà ngoài nghệ thuật đàn môi, anh còn có nghệ thuật Gỏ Muổng. Những chiếc muổng xinh xinh cũng là dụng cụ dễ tìm, dễ kiếm ở khắp nơi, chỉ cần lấy hai cái muổng gỏ nhịp thì đã thêm một nhạc cụ cho dàn nhạc bề thế, hiện đại. Nhạc sĩ Trần Quang Hải nghiên cứu nhạc cụ “ độc đáo” này, biến nó thành nhạc cụ chính và trình diễn độc tấu chỉ một môn Gỏ Muổng. Hai bàn tay khéo léo gỏ từ 2 đến 5 ngón, gỏ trong lòng và mặt trên bàn tay, dài theo cánh tay, trên môi… Một mình anh , đứng, ngồi, dòn dã, rộn ràng với 2 hoặc 3 chiếc muổng,  nghe vui tai và yêu đời làm sao!

Ngoài việc sử dụng thông thạo các nhạc cụ dân tộc thường gặp như đàn kìm, đàn cò, tranh, nguyệt…nghệ sĩ Trần Quang Hải đi khắp năm châu, bốn biển trình bày và biểu diễn nhạc dân tộc Việt Nam. Anh đi tới đâu gây ấn tượng khó quên cho người xem tới đó. Là con cháu của những nghệ sĩ tiếng tăm bao đời nay : Con GS Trần Văn Khê, cháu của nghệ sĩ Trần Văn Trạch, một danh hài nổi tiếng từ những thập niên 60,70, cháu của nghệ sĩ Trần Ngọc Viện, người đã thành lập ra gánh hát Đồng Nữ Ban, gánh cải lương đầu tiên của Nam bộ và của cả nước, xuất phát từ làng Vĩnh Kim ( Tiền Giang)… GS Trần Quang Hải thật không hổ danh là con cháu của các bậc tiền bối đã góp phần xây dựng nền nghệ thuật dân tộc tỉnh nhà, cho cả nước và ra cả thế giới.

Thật cảm động khi thấy hình ảnh của GS Trần Văn Khê hòa tấu đàn kìm cùng con Trần Quang Hải gỏ  muổng trong buổi diễn nhạc cụ dân tộc tại tư gia của GS Trần Văn Khê ở biệt thự đường Huỳnh Đình Hai năm 2014, xem GS Trần Văn Khê khi  ông đã 94 tuổi ngồi ung dung hòa đàn kìm cùng cháu Hải Minh 9 tuổi ( đàn tranh) bài Lưu Thủy Trường thật nhịp nhàng, thánh thót.

Bạch Yến, người vợ cũng là một nữ danh ca tài sắc, có giọng hát trầm, ấm , chị chuyên hát nhạc nước ngoài, sau này  theo dòng dân ca và đôi lúc là Bolero man mác buồn “Cho em quên cơn mộng ảo ngây thơ ngày nào…Đời còn chi trong tay..Mai đây khi hoa tàn úa xanh xao, phong ba dập dùi…Em xin nằm xuống, mang theo con tim ngậm ngùi…Giấc mơ nhỏ nhoi đưa em vào cõi thiên thu..Yêu thương đời đời…”

Bài hát đã lâu tôi không còn nhớ tựa bài, nghe bất chợt khi ngồi một mình buồn hiu trong quán cà phê vắng khách với bao tâm sự đầy vơi. Tôi không thích lắm dòng nhạc Bolero vì có nhiều bài quá buồn làm cho người nghe ủy mị yếu đuối,  nhưng không hiểu sao hôm ấy, có lẽ vì giọng hát trầm buồn, man mác bãng lãng mà tôi thích bài hát và giọng hát của chị. Có thể thời điểm đó đúng với tâm trạng của tôi chăng? Sau này chị thường hát cùng NS Trần Quang Hải, chị như con chim sơn ca luôn cất tiếng hót để làm đẹp cho đời và đẹp mối tình nghệ sĩ bên nhau cho tới ngày tóc đã bạc màu.

Qua những người bạn là con cháu của gia đình GS Trần Văn Khê , tôi hay hỏi thăm về ông và những người trong gia đình ông vì tôi ái mộ họ và cũng vì tôi là người Tiền Giang, đồng hương với họ.

Không gì hạnh phúc, may mắn bằng  khi ta làm nghệ thuật mà có vợ có chồng, có cha, có con, có những người thân cùng đi theo một hướng, say mê một công việc, suy nghĩ gần giống nhau… Qua đó, mọi người sẽ dễ hiểu, dễ thương yêu và thông cảm nhau hơn.

Cuộc đời và sự nghiệp của GS- Nhạc sĩ Trần Quang Hải, tính đến nay, anh đã xây nên những công trình  đồ sộ nhằm cống hiến tài năng cho quê hương Việt Nam và thế giới nhiều sáng tạo đầy màu sắc nghệ thuật độc đáo. Có thể tóm tắt quá trình lập nghiệp cụ thể của GS- NS Trần Quang Hải như sau*

Trần Quang Hải : nhà dân tôc nhạc học, nhạc sĩ và nhà soạn nhạc Viet Nam

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã , tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo viên Anh văn trường nữ trung học Gia Long

Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến  tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc Tây phương lúc khởi đầu của sự nghiệp cầm ca . Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải,  Bạch Yến chuyễn sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới .

Trần Quang Hải xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ dân tộc từ nhiều đời , anh là nhạc sĩ đời thứ năm . Anh  là  nhạc sĩ dân tộc  (ethnomusicologist – ethnomusicologue),  chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, là thuyết trình viên , nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, là thành viên của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique).

GS Trần Quang Hải đã theo gót cha anh, GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu nhạc dân tộc. Anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh .

 

Gia đình nhạc sĩ Trần Quang Hải:

  1. Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ vào Nam , cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. Rất giỏi về nhã nhạc Huế .
  2. Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố là người đàn tỳ bà rất hay , được gởi ra thành nội Huế để học nhạc cung đình , chuyên về đàn tỳ bà . Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho đàn tỳ bà.
  3. Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội là người đàn kìm rất giỏi, biệt hiệu Bảy Triều trong giới cải lương, đã đặt ra cách lên dây TỐ LAN cho đàn kìm để đàn những bài buồn ai oán.
  4. Trần Văn Khê (1921- 2015 ), ba của NS là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng quốc tế và làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới ở địa hạt trình diễn cũng như nghiên cứu. Từng là giáo sư nhạc Đông phưong tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), Giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Paris , Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, từng giữ chức phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO . Ông hưu trí từ năm 1987  nhưng vẫn  tiếp tục nghiên cứu và đóng góp cho hai hồ sơ Nhạc cung đình Huế (được danh hiệu Văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (Văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Ông định cư ở Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và là cố vấn cho hồ sơ Ca Trù để đệ trình lên UNESCO  năm 2007 và hồ sơ Đờn ca tài tử Nam bộ năm 2011 dành cho Văn hóa phi vật thể. Ngày 24 tháng 6 năm 2015 , ông từ trần tại quận Bình Thạnh, TP HCM, Việt Nam .
  5. Trần Quang Hải (1944 – ) , cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký. Sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Sài Gòn với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt). Sau đó NS đi sang Pháp năm 1961, học nhạc học tại trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở trường Cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). NS bắt đầu làm việc cho Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với ê-kíp nghiên cứu tại Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới 2009 thì về hưu).

NS trình diễn trên 3.500 buổi tại 70 quốc gia. Tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại 120 trường đại học, sáng tác 400 bản nhạc dành cho đàn tranh, đàn môi, muỗng , hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại . Đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 4 phim và là hội viên của trên 20 Hội nghiên cứu thế giới .Con đường nghiên cứu của NS nhắm vào sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng , jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ .

 

Quá trình học tập:

  1. 1955-1961 trường quốc gia âm nhạc Saigon, tốt nghiệp vĩ cầm (lớp GS Đỗ Thế Phiệt)
  2. 1954-1961 trường trung học Pétrus Ký, Saigon.
  3. 1963-1970 Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (CEMO – Centre d’Etudes de Musique Orientale – Center of Studies for Oriental Music, Paris) , học các truyền thống nhạc Ba Tư (Iran), Ấn độ (Inde), Trung Quốc (Chine), Nhật Bổn (Japon), Nam Dương (Indonesie), Đông Nam Á (Asie du Sud-Est), Việt Nam (Vietnam)
  4. 1963 trường Ecole du Louvre, Paris
  5. 1965 certificate of proficiency in English (chứng chỉ Anh văn) , University of Cambridge, Anh quốc
  6. 1965 certificat de littérature française (chứng chỉ văn chương Pháp), Université de Sorbonne, Paris.
  7. 1967 cao học dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xã hội, Paris
  8. 1969 chứng chỉ âm thanh học (certificat d’acoustique musicale) , Paris
  9. 1970 văn bằng cao đẳng nhạc Việt trung tâm nghiên cứu nhạc đông phương , Paris
  10. 1973 tiến sĩ dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xà hội, Paris
  11. 1989 văn bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống , Paris.

Từ năm 1965 tới 1966 NS theo học lớp nhạc điện thanh (musique électro-acoustique) với GS Pierre Schaeffer, người sáng lập loại nhạc điện tử ở Pháp .

Từ năm 1968 tới 2009, NS làm việc tại Viện dân tộc nhạc học của Viện Bảo Tàng Con Người (Département d’Ethnomusicologie du Musée de l’Homme) ở Paris (Pháp) .

Từ năm 1968 tới 1987, NS làm việc ở Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng nghệ thuật và truyền thống dân gian (Département d’Ethnomusicologie du Musée des Arts et Traditions Populaires) ở Paris (Pháp)

Nhà Nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS) ở Paris từ năm 1968 tới năm 2009 (hưu trí)

Từ 1970 tới 1975, giáo sư đàn tranh của Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương , Paris

Giảng dạy ở các trường đại học , viện bảo tàng và trung tâm nghiên cứu trên thế giới

NS đã từng được mời dạy và thuyết trình tại trên 120 trường đại học, trung tâm nghiên cứu và nhiều viện bảo tàng .

NS đã vinh dự nhận gần 30 giải thưởng của các nước trên thế giới, có những giải thưởng đặc biệt như :   

  • 1983 : Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn Lâm viện dĩa hát Charles Cros) cho dĩa hát “Viet Nam / Tran Quang Hai & Bach Yen” do hãng SM Studio sản xuất tại Paris, Pháp
  • 1986 : Médaille d’Or (Huy chương vàng) của Hàn lâm viện văn hóa Á châu, Paris, Pháp
  • 1987 : D.MUS (Hon) (tiến sĩ danh dự) của International University Foundation, Hoa Kỳ.
  • 1988 : International Order of Merit của International Biographical Centre, Cambridge, Anh quốc.
  • 1989 : Ph.D.(HON) (Tiến sĩ danh dự) của Albert Einstein International Academy Foundation, Hoa Kỳ
  • 1990 : Grand Prix du Festival International du Film Anthropologique et Visuel (Giải thưởng tối cao của đại hội quốc tế phim nhân chủng và hình ảnh) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do tôi là tác giả, diễn viên chánh và viết nhạc cho phim, Parnü, Estonia.
  • 1990 : Prix du Meilleur Film Ethnomusicologique (Giải thưỏng phim hay nhất về dân tộc nhạc học) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do Hàn lâm viện khoa học cấp, Parnü, Estonia
  • 1990 : Prix Spécial de la Recherche (Giải thuởng đặc biệt về nghiên cứu) của Đại hội quốc tế điện ảnh khoa học dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Palaiseau, Pháp.
  • 1991 : Grand Prix Northern Telecom (Giải thưởng tối cao Northern Telecom) của Đại hội quốc tế Phim khoa học lần thứ nhì của Québec dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Montréal, Canada .
  • 1991 : Prix Van Laurens (Giải thưởng Van Laurens) của British Association of the Voice và Ferens Institute của London tặng cho bài tham luận của tôi mang tên là “Discovery of overtone singing” (Khám phá hát đồng song thanh), London, Anh quốc .
  • 1991 : Alfred Nobel Medal (Huy chương Alfred Nobel)của Albert Einstein Academy Foundation, Hoa Kỳ
  • 1991 : Grand Ambassador (Huy chương Đại sứ lớn) của American Biographical Institute, Hoa kỳ
  • 1991 : Men of the Year (Người của Năm 1991) do American Biographical Institute tặng, Hoa kỳ
  • 1991 : Men of the Year (Người của Năm 1991) do International Biographical Centre tặng, Cambridge, Anh quốc.
  • 1994 : Men of the Year (Người của Năm 1994) do American Biographical Institute tặng , Hoa kỳ
  • 1994 : Gold Record of Achievement (Kỷ lục vàng về thành đạt) do American Biographical Institute tặng, Hoa Kỳ
  • 1995 : Giải thưởng đặc biệt về hát đồng song thanh tại Đại hội liên hoan hát đồng song thanh, Kyzyl, Tuva, Nga
  • 1996 : Médaille de Cristal (Huy chương thủy tinh) do Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học tặng cho 25 năm nghiên cứu hát đồng song thanh, Pháp
  • 1997 : Grand Prix du disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn lâm viện Charles Cros) cho dĩa hát “Voix du Monde » (Giọng Thế giới), Pháp.
  • 1997 : Diapason d’Or de l’Année 1997 (Dĩa vàng năm 1997) cho dĩa hát « Voix du Monde », Pháp
  • 1997 : CHOC de l’année 1997 (Ấn tượng mạnh nhất trong năm 1997) cho dĩa hát « Voix du Monde », Pháp
  • 1998 : Médaille d’Honneur (Huy chương danh dự dành cho công dân danh dự) của thành phố Limeil Brévannes (nơi tôi cư ngụ), Pháp.
  • 1998 : Giải thưởng đặc biệt của Đại hội thế giới về Đàn Môi, Molln, Áo quốc
  • 2002 : Chevalier de la Légion d’Honneur (Hiệp sĩ Bắc đẩu bội tinh), huy chương tối cao của Pháp, Pháp .
  • 2009 : Huy chương lao động hạng đại kim (Médaille du Travail, catégorie Grand Or), bộ lao động Pháp.
  • 2015 : Bằng cấp danh dự của Viện Bảo tàng đàn môi, Yakutsk, xứ Yakutia
  • 2017 : Huy chương sáng lập viên hội dân tộc nhạc học Pháp, Paris, Pháp

 

SÁCH DO TRẦN QUANG HẢI VIẾT

 

  • Biên Khảo Nhạc Việt Nam , nhà xuất bản Bắc Đẩu, 362 trang , 1989, Paris, Pháp
  • Musiques du Monde (Nhạc thế giới) : với sự hợp tác của Michel Asselineau và Eugène Bérel, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1993, Courlay, Pháp
  • Musics of the World (Nhạc thế giới) : nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1994, Courlay, Pháp . Bản dịch tiếng Đức được xuất bản năm 1996, bản dịch tiếng Tây Ban Nha xuất bản năm 1998.
  • Musiques et Danses Traditionnelles d’Europe (Nhạc và vũ truyền thống Âu châu) : với sự hợp tác của Michel Asselineau, Eugène Bérel và FAMDT, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 380 trang, 2 CD, 1996, Courlay, Pháp .

 

DVD do TRẦN QUANG HẢI biên soạn

 

  • Le Chant Diphonique, (Hát đồng song thanh) 27 phút, với 2 bản (tiếng Pháp và tiếng Anh), nhà xuất bản CRDP của đảo Réunion, 2004. Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Luc Souvet
  • Le Chant des Harmoniques (Bài hát bồi âm), 38 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2005, Meudon, Pháp . Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Hugo Zemp
  • The Song of Harmonics, (Bài hát bồi âm) 38 phút , bản tiếng Anh, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2006, Meudon, Pháp. Đồng tác giả : Trần quang Hải và Hugo Zemp
  • Thèm’Axe 2 LA VOIX (Giọng), 110 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản Lugdivine, Lyon, 2006 . Tác giả : Patrick Kersalé với sự hợp tác của Trần Quang Hải .

 

   Dĩa hát của Trần Quang Hải đàn

 

VietNam: Tran Quang Hai & Bach Yen PLAYASOUND PS 33514,Paris 1979, col. Musiques de l’Asie Traditionnelle,vol.10.

  1. Cithare et chants populaires du Vietnam Tran Quang Hai & Bach Yen
  2. Music of Vietnam. LYRICHORD LLST 7337, New York, 1980.
  3. Vietnam/ Tran Quang Hai & Bach Yen. Studio SM 3311.97, Paris,1983 Grand Prix du Disque de l’Academie Charles Cros 1983.
  4. Vietnamese Dan Tranh Music Tran Quang Hai. LYRICHORD LLST 7375,New York, 1983.
  5. MUSAICA: chansons d’enfants des emigres. DEVA RIC 1-2,Paris,1984

Ngoài ra có 5 đĩa Compasdic, 4 đĩa CD làm nhạc nền cho các phim VN và nước ngoài.

 Trần Quang Hải sáng tác nhạc

Nhớ Miền Thượng Du  (Nostalgia of the Highlands) cho Đàn Tranh (1971)

Xuân Về (The Spring Is Coming Back) cho Đàn Tranh (1971)

Tiếng Hát Sông Hương (The Song of the Perfumed River) cho Đàn Độc Huyền (1972)

Ảo Thanh (The Magic Sound) cho Muỗng (1972)

Về Nguồn (Return to the Sources) hợp tác với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tường, (1975)

Shaman cho Giọng, saxo, synthetizer (1982)

Hát Hai Giọng (Diphonic Song) cho hát đồng song thanh(1982)

Ca Đối Ca (Song vs Song) cho hát đồng song thanh (1982)

Tùy Hứng Muỗng (Improvisation of Spoons) for Spoons (1982)

Độc Tấu Đàn Môi Mông  (Solo of Mong Jew’s Harp) for đàn môi (1982)

Tiếng Hát Đàn Môi Tre (The Song of the Bamboo Jew’s Harp) for Đàn môi (1982)

Sinh Tiền Nhịp Tấu (Rhythm of Coin Clappers) for Sinh Tiền (1982)

Tiết Tấu Miền Thượng (Rhythm of the Highlands) for 2 Đàn Môi (1982)

Núi Ngự Sông Hương (Royal Mount and Perfumed River) for Đàn Độc Huyền (1983)

Nam Bắc Một Nhà ( North and South, the Same House) cho Đàn Tranh  (1986)

Chuyển hệ (Modulation) cho Đàn Tranh(1986)

Trở Về Nguồn Cội (Return to the Origin) (electro-acoustical music – nhạc điện thanh) (1988)

Solo Thái cho Đàn Tranh  (1989)

Tambours 89 hợp tác vớiYves Herwan Chotard (1989)

Envol cho hát đồng song thanh (1989)

Chuyển hệ Ba Miền (Metabole on three regions) cho Đàn Tranh (1993)

Mộng Đến Vùng Việt Bắc (Dream of Viet Bac) cho Đàn Tranh (1993)

Vịnh Hạ Long ( Ha Long Bay) cho Đàn Tranh (1993)

Sông Hương Núi Ngự (The Perfumed River and the Royal Mount) cho Đàn Tranh (1993)

Tiếng Vang Đàn Trưng Tây Nguyên (Echo of the musical instrument Trung of the Highlands) cho Đàn Tranh (1993)

Nhớ miền Nam  (Nostalgia of the South) cho Đàn Tranh (1993)

Saigon-Cholon (Saigon-Cholon The Twin Cities) cho Đàn Tranh (1993)

Vĩnh Long thời thơ ấu (Vinh Long, My Childhood) cho Đàn Tranh (1993)

Cửu Long Giang thân yêu (the Beloved Mekong River) cho đàn tranh (1993)

Hồn Viêt Nam (The Soul of Viet Nam) cho đàn tranh (1993)

A Bali, on entend le genggong rab ncas (Ở Bali, người ta nghe đàn Môi) cho đàn Môi  (1997)

Paysage des Hauts-Plateaux (Phong cảnh Cao Nguyên) cho đàn Môi (1997)

Nostalgie au Pays Mong ( Nhớ vùng đất H’Mông) cho đàn Môi (1997)

Souvenir à Alexeiev et Chichiguine (Kỷ niệm với Alexeiev và Chichiguine)  cho Đàn Môi(1997)

Bachkir-Bachkirie (Bashkir-Bashkiria) cho đàn Môi (1997)

Orient-Occident (Đông – Tây) cho đàn Môi (1997)

Souvenir de Norvege (Kỷ niệm xứ Na Uy) cho đàn Môi (1997)

VietNam, mon Pays (Việt Nam, quê hương tôi) cho đàn Môi (1997)

Tuva! Tuva! (Tuva! Tuva!) cho đàn Môi (1997)

La Mélodie des Harmoniques (Giai điệu của bồi âm) cho đàn Môi  (1997)

Ambiance des Hauts-Plateaux du Vietnam (Không Khí Cao Nguyên Việt Nam) cho đàn Môi (1997)

Echo des montagnes (Tiếng Vang Núi Rừng) cho đàn Môi (1997)

Taiga mysterieux (Taiga Huyền Bí) cho đàn Môi (1997)

Le Saut des Crapauds (Cóc nhảy) cho đàn Môi (1997)

Harmonie des Guimbardes (Hòa âm Đàn Môi) cho đàn Môi (1997)

L’Univers harmonique (Vũ Trụ bồi âm) cho đàn Môi (1997)

Consonances ! (Cộng Hưởng !) for Jew’s Harp (1997).

VietNam, My Motherland (Việt Nam , Quê Mẹ của Tôi) cho đàn Môi  (1998)

Welcome to Molln Jew’s Harp Festival 1998 (chào mừng đại hội liên hoan đàn Môi tại Molln)  for Jew’s Harp (1998)

Điều đặc biệt mà ít người viết đề cập đến,  anh là nhạc sĩ đàn tranh trên 50 năm với hơn 20 đĩa hát về đàn tranh được phát hành ở Pháp, Mỹ, Ý.. . Không có một nhạc sĩ đàn tranh nào ở VietNam cũng như ở hải ngoại có số lượng đĩa hát về đàn tranh nhiều như vậy . Đặc biệt là dĩa “Cithare VietNamienne (le Dàn Tranh) par Trần Quang Hải, do hãng Le Chant du Monde phát hành năm 1971 tại Paris . Đặc điểm của dĩa hát này là có 4 trang lớn về lịch sử  đàn tranh, giải thích về kỹ thuật đàn tranh , bảng đối chiếu các loại đàn tranh Á Châu . Thêm vào đó anh đàn bài  “Phong xuy trịch liễu” của ông cậu Năm, Nguyễn Trí Khương (cho tới nay không thấy nơi nào đàn bài này )

Trần Quang Hải là nhạc sĩ Việt Nam tham gia nhiều nhất Ngày Lễ Âm nhạc do Pháp đề xướng từ lúc đầu tiên vào năm 1982, rồi năm 1984, 1985 , 1987, 1989 tại Paris, rồi năm 1991 tại đảo La Réunion, rồi năm 2000, 2001 tại Paris, năm 2002 tại Beirut (Lebanon)

Trần Quang Hải  là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đàn nhạc phim của các nhà viết nhạc phim  Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit , và trình diễn những nhạc phẩm đương đại của các nhà soạn nhạc như Nguyễn Văn Tường, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard.

Những đóng góp cụ thể cho Việt Nam

Tham dự làm hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể cho Việt nam (Quan Họ (2006), Ca Trù(2006), Hát Xoan Phú Thọ (2009) , Đờn ca Tài tử nam bộ(2010), Hát ví giặm Nghệ Tĩnh (2011) hát then Tày Nùng Thái (2013), hát bài chòi (2015) , hát chầu văn (2016)

Thành viên danh dự của Viện âm nhạc Việt Nam , Hà Nội (2005)

Hội kỷ lục Việt Nam phong tặng NS là “Vua Muỗng” vào năm 2010 , và “Ngươi Việt Nam trình diễn đàn môi Việt Nam tại nhiêu quốc gia nhứt trên thế giới” (2012)

Hiến tặng 1000 quyển sách nghiên cứu dân tộc nhạc học và 1.000 dĩa hát các loại nhạc dân tộc năm châu cho Viện Âm nhạc Việt Nam ở Hà Nội vào năm 2017.

Dù ít có dịp về biểu diễn ở Việt Nam nhưng GS- NS Trần Quang Hải  và ca sĩ Bạch Yến là những “nghệ sĩ hát rong” trên mọi miền đất nước của quê người,                              truyền bá nhạc dân tộc mình bằng tất cả sự đắm say nghệ thuật và với tấm lòng luôn hướng về quê cha, đất tổ.

TP Hồ Chí Minh tháng 5/ 2018

K.Q

* Tư liệu do GS- NS Trần Quang Hải cung cấp

GS.TSKH Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam.MOV


GS.TSKH Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam.MOV

Ajoutée le 13 juin 2012

Kết quả thực hiện Dự án công bố, phổ biến tài sản văn hóa văn nghệ dân gian Việt Nam tính đến tháng 5/2012, dự kiến đến kết thúc giai đoạn 2008-2012 và lập Dự án giai đoạn 2: 2013-2017

HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Cần sớm khẳng định ‘chủ quyền’ với đàn bầu


07:16 AM – 13/08/2016 Thanh Niên
Biểu diễn đàn bầu trong chương trình Duyên dáng Việt Nam 20 tại Anh /// Ảnh: Ngọc Hải
Biểu diễn đàn bầu trong chương trình Duyên dáng Việt Nam 20 tại Anh
Ảnh: Ngọc Hải
Theo một số nghệ sĩ và nhà nghiên cứu âm nhạc, đàn bầu chỉ mới được Trung Quốc lưu tâm đến không đầy 20 năm sau này, vì trước đó không thấy dạy đàn bầu ở các nhạc viện Trung Quốc.
Mới đây trên website của mình, GS-TS âm nhạc Trần Quang Hải (đang ở Pháp) đã có bài viết bày tỏ lo lắng về việc nếu không sớm có những động thái phù hợp, VN có thể bị “mất quyền sở hữu” cây đàn bầu – nhạc cụ dân tộc đặc trưng của VN.
Theo GS-TS Trần Quang Hải thì cây đàn bầu là nhạc cụ “đặc hữu” của VN từ rất xa xưa. Trong Đại Nam thực lục tiền biên (bộ sử của nhà Nguyễn) ghi cây đàn bầu đã được sáng tạo từ năm 1770. Cây đàn bầu cũng từng được các nghệ sĩ mù ở Hà Nội dùng phụ đệm hát xẩm ở các chợ trời từ cuối thế kỷ thứ 19. Do đó đàn này còn được gọi là “đàn xẩm”. Đàn bầu được đưa vào dàn nhạc cung đình Huế từ cuối thế kỷ 19 và xuất hiện trong dàn nhạc tài tử Nam bộ từ năm 1930…
Người Trung Quốc chơi và học đàn bầu
Cần sớm khẳng định 'chủ quyền' với đàn bầu - ảnh 1

Hình trên trang web China Daily với chú thích “Hàng trăm người dân tộc Kinh thiểu số chơi đàn độc huyền cầm”

Theo GS Hải, từ vài năm nay ở Trung Quốc đã có những festival nhạc dân tộc với những màn biểu diễn đàn bầu. Ông cũng gửi cho Thanh Niên trang web China Daily USA đăng bài cùng hình ảnh của Xinhua với chú thích “Hàng trăm người dân tộc Kinh thiểu số cùng chơi đàn độc huyền cầm” trong một lễ hội truyền thống ở Trung Quốc. Bài viết nói rằng tộc người Kinh (Jing) này đã di cư từ VN sang Trung Quốc từ khoảng 500 năm trước, và hiện tộc người này có khoảng 22.000 người. Ông Hải cho biết thêm những năm gần đây, Trung Quốc đã gửi nhạc công sang VN học đàn bầu, mời một số nhà nghiên cứu sưu tầm tài liệu để viết về đàn bầu và đưa lên mạng thông tin đàn bầu rất được người dân tộc Kinh (ở Trung Quốc) yêu thích.

Trò chuyện với nhạc sĩ Đức Trí, người đã nhiều năm theo học đàn bầu, ông giật mình: “Thông tin từ GS Hải làm tôi chợt nhớ, cách đây 10 năm, tôi tình cờ xem được trên kênh truyền hình CCTV của Trung Quốc một chương trình hòa tấu nhạc dân tộc và đã rất kinh ngạc khi thấy có cây đàn bầu trong dàn nhạc dân tộc Trung Quốc. Đây là điều chưa từng thấy trước đó”.
Nhạc sĩ Đỗ Lộc cho biết: “Năm 1967, Đoàn múa hát Quân giải phóng miền Nam VN sang Bắc Kinh biểu diễn. Tiết mục biểu diễn đàn bầu của nhạc sĩ Đức Nhuận thật sự xuất sắc vì đàn bầu là của VN mà Trung Quốc không có nên họ ngỏ lời xin học, VN đồng ý. Nghệ sĩ Điền Xương của Trung Quốc đi theo đoàn VN suốt thời gian đoàn lưu diễn để được thầy Đức Nhuận chỉ dẫn về đàn bầu…”.
Nghệ sĩ đàn bầu Nguyễn Tiến kể: “Cuối năm 2013, tôi đã từng nói chuyện và biểu diễn minh họa về lịch sử phát triển cây đàn bầu VN tại Học viện Quảng Tây (Trung Quốc), nơi cũng có một khoa giảng dạy đàn bầu. Cả hội trường vô cùng ngạc nhiên và khâm phục. Trưởng khoa đàn bầu (và là người chỉ huy dàn nhạc của học viện) là Thái Ương đã nói với tôi: Nghe anh nói chuyện cả buổi sáng nay tôi mới hiểu được hết cái hay và cái đẹp của cây đàn bầu VN. Học viện chúng tôi có khoa đàn bầu là vì có một số học viên là người dân tộc Kinh có nhu cầu nên chúng tôi dạy thôi. Hiện nay cũng có học sinh Trung Quốc đang học tại Học viện âm nhạc quốc gia VN về đàn bầu. Có cô gái Trung Quốc tên là Tôn Tiến cũng từng gặp tôi để học hỏi về đàn bầu”.
Theo một số nghệ sĩ và nhà nghiên cứu âm nhạc, đàn bầu chỉ mới được Trung Quốc lưu tâm đến không đầy 20 năm sau này, vì trước đó không thấy dạy đàn bầu ở các nhạc viện Trung Quốc.
“Phải sớm hành động”
GS-TS Trần Quang Hải kể lại, ông từng tham dự một hội thảo tại Seoul (Hàn Quốc) năm 2012, tại đó Hàn Quốc đã đưa ra những lập luận để phản bác việc Trung Quốc dự định đề xuất UNESCO công nhận bản nhạc Arirang là di sản văn hóa phi vật thể của Trung Quốc vì bản nhạc này được sắc tộc người Triều Tiên sinh sống ở Trung Quốc chơi. Bản Arirang sau đó đã được UNESCO nhìn nhận là của Hàn Quốc vào năm 2014.
Ông cho biết thêm trước đó Mông Cổ cũng đã phản đối kịch liệt việc Trung Quốc đã trình UNESCO xin công nhận kỹ thuật “hát đồng song thanh Khoomei” của Mông Cổ là di sản văn hóa phi vật thể của Trung Quốc. Mông Cổ cho rằng kỹ thuật này phát nguồn từ vùng Tây Bắc của xứ Mông Cổ chứ không thể có ở vùng tự trị Nội Mông (Trung Quốc) như Trung Quốc tuyên bố. Năm 2010, Mông Cổ trình hồ sơ hát đồng song thanh Khoomei cho UNESCO và đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của Mông Cổ.
Từ những dữ kiện trên, GS Hải cho rằng VN phải nhanh chóng có những hành động “xác lập chủ quyền” đối với cây đàn bầu. “Việc làm trước tiên là phải trình UNESCO nhìn nhận đàn bầu là di sản văn hóa của VN như đã từng làm cho quan họ, ca trù, hát xoan Phú Thọ, đờn ca tài tử Nam bộ…. Đây là việc làm khẩn cấp và phải làm ngay từ bây giờ để đánh dấu sự hiện hữu của nhạc cụ này trong nhạc dân tộc VN. Đồng thời kêu gọi những nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tìm kiếm tài liệu qua sách vở xưa để minh chứng đàn bầu đã có đời sống liên tục, lâu bền trong cộng đồng người Việt ở VN. Ngoài ra các cơ quan nghiên cứu âm nhạc VN cũng nên xúc tiến việc xác định nguồn gốc cây đàn bầu”.

Hà Đình Nguyên

http://thanhnien.vn/van-hoa/can-som-khang-dinh-chu-quyen-voi-dan-bau-733339.html

TRÀ MY & MAI NGUYÊN: Minh Nhí – Kỳ 2: Những ngày khóc nhiều và đắng cay


CHUYỆN ĐỜI NGHỆ SĨ

Minh Nhí – Kỳ 2: Những ngày khóc nhiều và đắng cay

27/07/2016 09:15 GMT+7

TTO – Năm 2004, khi đang trên đỉnh cao sự nghiệp, Minh Nhí sang Mỹ biểu diễn rồi ở lại luôn đến hơn một năm sau mới về nước trình diện các cơ quan chức năng. Anh bị cấm diễn 6 tháng.

Minh Nhí - Kỳ 2: Những ngày khóc nhiều và đắng cay
Nghệ sĩ Minh Nhí

Cuộc đời Minh Nhí từ đó sang trang.

“Đó là khoảng thời gian kinh khủng nhất trong cuộc đời tôi”, một ngày tháng 7-2016 ngồi ở Sài Gòn, Minh Nhí bùi ngùi nhớ lại.

Đang là giảng viên tại Trường Cao đẳng Sân khấu – Điện ảnh TP.HCM và rộn ràng với những vai diễn, Ngày 22-2-2004, Minh Nhí sang Mỹ theo thư mời biểu diễn giao lưu văn hóa của Viet Art Production và tham quan du lịch.

Sau đó Minh Nhí bất ngờ ở lại Mỹ đến 1 năm. Khi về nước, anh mới tiết lộ là ở Mỹ để hoàn tất các thủ tục kết hôn tại đó (kết hôn với cô Giang Ngọc Vân – Việt kiều Mỹ). Việc thực hiện một số thủ tục theo quy định của nước sở tại khi kết hôn khiến Minh Nhí không thể trở về Việt Nam như đơn xin phép gửi Trường Sân khấu & Điện ảnh TPHCM (1 tháng).

Hơn một năm ở lại Mỹ, ngày 8-3-2005, Minh Nhí trở về Việt Nam. Một ngày sau, anh đến Phòng Quản lý nghệ thuật Sở VH-TT TP.HCM trình báo. Cơ quan chức năng yêu cầu Minh Nhí làm tờ tường trình sự việc.

Do vắng mặt không tham gia giảng dạy mà không xin phép, Minh Nhí bị Trường Cao đẳng Sân khấu – Điện ảnh TPHCM cho nghỉ việc vì anh đã vi phạm Pháp lệnh Công chức và Quy chế hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp.

“Nếu ngày ấy, tôi làm một cái đơn xin nghỉ đàng hoàng gửi Trường Cao đẳng Sân khấu – Điện ảnh TP.HCM – nơi tôi đang giảng dạy – thì chắc mọi chuyện đã khác. Đằng này mình chỉ nghĩ đơn giản đi là đi, khi về rồi tính nên mới ra cớ sự”, Minh Nhí hối tiếc nhớ lại.

“Ông bầu dặn nhân viên hậu đài đứng canh tôi”

Minh Nhí - Kỳ 2: Những ngày khóc nhiều và đắng cay
Minh Nhí – Ảnh tư liệu

Đối với một người diễn viên đam mê nghề, bị cấm diễn là một điều quá sức chịu đựng. Minh Nhí cũng vậy. Đó có lẽ là những ngày tháng anh khóc nhiều nhất trong cuộc đời mình.

Minh Nhí nhớ về quãng thời gian đầy nước mắt đó:

“Khi mới bị cấm, tôi thường lân la đến chơi ở các sân khấu ngày xưa mình diễn. Đứng trong cánh gà, không hiểu sao có một bạn nhân viên hậu đài cứ kè kè bên mình.

Cậu đó cũng thương tình nên mới nói tôi biết là ông bầu dặn phải đứng “canh” tôi, lỡ tôi có dợm bước ra sân khấu là chặn lại liền.

Tôi đâu có “khùng” mà định bước ra sân khấu làm gì, nhớ quá nên mới đến sân khấu chơi, ai ngờ người ta nghĩ như vậy. Buồn quá nên từ đó tôi không đến nữa.

Ở nhà tôi cũng không dám bật TV xem chương trình hay phim trên truyền hình. Bật lên thấy bạn bè đồng nghiệp làm nghề mình tủi thân thêm.

Đôi khi tôi ngồi một mình trong phòng rồi nước mắt cứ thể chảy ra, dù mình có định khóc đâu.

Rồi một người em tới chở tôi đi chơi cho khuây khỏa. Tôi đội nón, đeo kính, mang khẩu trang nhưng đi trên đường vẫn có người nhận ra.

Có cặp vợ chồng kia nhận ra mình, cô vợ kêu lên: “Minh Nhí kìa anh”, ông chồng liền nói: “Kệ nó đi, qua Mỹ mà không được giờ về đây bị cấm diễn rồi, đáng lắm”.

Từ đó, tôi nhốt mình trong nhà, không đi đâu nữa hết.

Đắng cay lắm”.

Minh Nhí - Kỳ 2: Những ngày khóc nhiều và đắng cay
Minh Nhí cùng các đồng nghiệp

Cay đắng đi qua, bình yên ở lại

Trong những ngày đen tối của cuộc đời, có lẽ một cái duyên nào đó giúp Minh Nhí được gặp, trò chuyện và tịnh tâm mình qua những chia sẻ của một sư thầy.

Thầy khuyên Minh Nhí nên bình tâm sống vì “cái gì đã là của con, ai có giành, có giựt thì cuối cùng nó vẫn trở lại với con. Cái gì không phải của con, dù con có tranh giành đến mấy thì cuối cùng nó cũng không thuộc về mình”.

“Thầy nói nếu tôi thật sự còn yêu nghề và còn duyên với nghệ thuật thì cứ an nhiên, đừng đau khổ, đừng dằn vặt, có ngày tôi sẽ được quay trở lại để sửa sai. Tôi ngộ nhiều điều từ lời thầy nói và cứ thế bình thản chấp nhận mọi thứ”, anh kể.

Anh kể trong những ngày nằm nhà, anh suy ngẫm nhiều thứ về cuộc đời, tình người và một Minh Nhí của ngày xưa.

Những giọt nước mắt khóc trong những ngày cay đắng gột rửa hết những ương ngạnh, trẻ con, hồ đồ ngày nào.

Năm 2005, trong đơn gửi Cục Nghệ thuật Biểu diễn (NTBD) để xin được biểu diễn trở lại, Minh Nhí bày tỏ: “Tôi vẫn là công dân Việt Nam và tôi có nguyện vọng được biểu diễn phục vụ khán giả quê nhà”.

Ngày 16-9-2005, Cục Nghệ thuật – Biểu diễn ký quyết định số 676/NTBD-QLBD với nội dung “đồng ý cho nghệ sĩ Trương Minh Nhí tiếp tục biểu diễn”.

Được cấp giấy phép trở lại, show diễn đầu tiên của Minh Nhí là một chương trình từ thiện tại Nhà thi đấu Nguyễn Du (TP.HCM).

Vắng bóng đã lâu, khán giả cũng biết đến những ồn ào của anh trên mặt báo, Minh Nhí không biết rồi đây có còn ai chào đón hay vỗ tay cho mình nữa hay không.

Nhưng chắc Tổ nghiệp còn thương nên vừa nghe giới thiệu tên anh, khán giả vẫn dành những tiếng vỗ tay lớn để đón chào một đứa con của nghệ thuật quay về thánh đường của nó.

Đứa con ấy thực sự trở về với một tâm thế hoàn toàn khác.

“Tôi tâm niệm khi được diễn trở lại nghĩa là mình đã được trao cho một cơ hội và mình phải biết trân trọng nó, không được làm điều gì có lỗi với Tổ nghiệp, với khán giả và cả những người xung quanh.

Cuộc đời không ai nói trước được điều gì, biết đâu sau này mình lại gặp gì thì sao? Giờ học cách sống ôn hòa để đến khi sa cơ lỡ vận còn có người thật sự yêu thương”, Minh Nhí nhẹ nhàng chia sẻ.

TRÀ MY – MAI NGUYÊN : Minh Nhí – Kỳ 1: Từ “vua vũ trường” đến người cai rượu


CHUYỆN ĐỜI NGHỆ SĨ

Minh Nhí – Kỳ 1: Từ “vua vũ trường” đến người cai rượu

26/07/2016 14:08 GMT+7

TTO – Nghệ sĩ hài Minh Nhí đang làm giám khảo chương trình Cười xuyên Việt: Tiếu lâm hội. Kể từ ngày anh nhận được giấy phép biểu diễn trở lại (ngày 16-9-2005), Minh Nhí “không còn như xưa”, thấm thoắt mà đã hơn 10 năm rồi.

Minh Nhí - Kỳ 1: Từ "vua vũ trường" đến người cai rượu
Minh Nhí làm giám khảo chương trình Cười xuyên Việt: Tiếu lâm hội – Ảnh: Khang Media

Năm 1983, cậu học trò Trương Hùng Minh từ tỉnh lẻ miền Tây lên Sài Gòn học với khao khát cháy bỏng là trở thành một diễn viên, mặc cho những ngăn cản từ phía gia đình.

Rồi gần 10 năm sau, người ta thấy một Minh Nhí “tả xung hữu đột” khắp cái “mặt trận” hài và là cái tên “hái ra tiền” cho bầu sô ngày đó.

Tuổi đôi mươi, tiền tài có, danh tiếng không thiếu, lại được vây quanh bởi những lời bợ đỡ, Minh Nhí ngày ấy có lúc ảo tưởng mình là “ông vua”.

Kiếm được nhiều, giữ chẳng bao nhiêu

Tốt nghiệp trường Sân khấu điện ảnh năm 1988, Minh Nhí chỉ mất hai năm để gây dựng tên tuổi của mình.

Giai đoạn 1990-2000 là 10 năm rực rỡ trong sự nghiệp của anh. Không chỉ đi diễn, Minh Nhí còn vinh dự là người thầy của nhiều học trò tại trường Sân khấu điện ảnh.

Đương nhiên, tiền bạc và hào quang danh vọng cũng không đến với anh dễ dàng như thế, sau khi tốt nghiệp anh cũng phải lăn lộn “trày da tróc vẩy” rất nhiều mới đạt được đến đỉnh cao.

Ngày ấy chỉ có một đài truyền hình duy nhất, còn lại là sân khấu. Nhưng sân khấu lúc này là “đất” của riêng những danh hài lớn, những nghệ sĩ gạo cội chiếm lĩnh. Cho nên cũng không phải đơn giản để một nghệ sĩ mới như Minh Nhí tìm được vị trí trong làng nghệ thuật.

Hỏi “ngày xưa Minh Nhí “oanh liệt” quá phải không”, anh cười nhẹ trả lời: “Oanh liệt” thì cũng không phải nhưng nói chung nghệ sĩ nào cũng có thời của mình. Muốn có chân đứng thì cũng phải nỗ lực rất nhiều.

Minh Nhí - Kỳ 1: Từ "vua vũ trường" đến người cai rượu
Minh Nhí trên sân khấu – Ảnh tư liệu

“Thời của Minh Nhí”, mỗi ngày anh kiếm được mấy cây vàng – số tài sản mà người bình thường có khi mất vài tháng, cả năm mới tích cóp được.

“Hồi đó quay một chập hài nhép miệng được 2 triệu đồng là nửa lượng vàng, có ngày tôi quay 5-6 chập. Hài nhép miệng thời đó cũng nơ rộ như gameshow bây giờ, nhà nhà làm, người người làm nên tôi đắt sô lắm.

Rồi seri Minh Nhí lí lắc làm với Hãng đĩa Việt Nam cũng được 9-10 cuốn. “Ngoài diễn hài, tôi còn tham gia đóng vai phụ, vai hài trong nhiều vở cải lương. Rồi những nghệ sĩ anh em quay video mời tôi tham gia.

Thế là tiền cứ chảy vào túi. Mỗi ngày mình đều làm được bao nhiêu đó tiền, ngày nào cũng thế, nên mình chưa biết tiếc, chưa biết nghĩ là tương lai có thể sẽ không còn được như vậy. Nói chung ngày xưa mình thấy kiếm tiền dễ nên tiêu tiền cũng chẳng nghĩ nhiều”, Minh Nhí nhớ lại.

Anh kể mình cũng mua được nhà, lo lắng cho kinh tế gia đình nhưng “nếu biết quý trọng đồng tiền như bây giờ thì chắc tôi giàu lắm. Bạn bè đứa mua nhà, mua đất, đứa đầu tư, còn mình thì hoang phí, người ta để dành 9-10 phần, mình để dành 1 thôi”.

Thành công đến từ khi tuổi đời còn rất trẻ, cộng thêm tính háo thắng, ham chơi, có phần hồ đồ và ít lo nghĩ về tương lai, Minh Nhí đổ không biết bao nhiêu tiền vào vũ trường cùng những kẻ xu nịnh quanh mình.

Ông vua vũ trường và bài học cay đắng

Minh Nhí - Kỳ 1: Từ "vua vũ trường" đến người cai rượu
Minh Nhí và NSƯT Thanh Thủy – Ảnh: TT Khang

Những vũ trường lớn của Sài Gòn thời đó đều quen mặt nghệ sĩ Minh Nhí. Chân phải bước xuống sân khấu là chân trái anh sắp… tới vũ trường.

“Hồi xưa tôi đi chơi dữ dội lắm. Một đêm đi 2,3 cái vũ trường. Đi tới sáng về nhà ngủ mấy tiếng đồng hồ rồi lại chạy đi quay, đi diễn. Hồi ấy cũng chẳng biết sức ở đâu mà khỏe vậy. Có hôm vũ trường đông nghẹt nhưng người ta vẫn chừa bàn cho mình”, anh kể.

Người ta để bàn cho anh, chỉ một phần vì quý, phần khác là vì tính tình kiểu “ông vua” của anh, kiểu: “Tôi vô mà thấy cái bàn mình thích có người ngồi là tôi đi về liền”.

Nhẵn mặt ở các vũ trường nhưng Minh Nhí lại không uống rượu, chỉ thỉnh thoảng nhấp bia cho vui, còn lại anh ngồi nhâm nhi nước ngọt và… trà nóng.

“Tôi không uống nhưng tôi thích trả tiền. Hễ có ai trong bàn nói hết rượu là tôi chi liền”, anh kể.

Lý giải điều này, anh cho rằng ngày xưa mình thích có nhiều người bên cạnh, “ới” lên một tiếng là biết bao nhiêu bạn bè kéo tới chơi chung. Rồi những lời ngọt ngào, ca ngợi như rót vào tai càng làm người diễn viên trẻ tự mãn về mình.

Những cuộc “chơi tới bến” hoang phí khiến Minh Nhí chong chênh giữa những giá trị thực ảo và để lại cho anh không ít bài học đắt giá.

“Sau này tôi mới nghiệm ra, nhiều người vây quanh tôi hồi ấy thực chất là sợ chứ không phải thương hay nể mình. Khi tôi vấp ngã, chẳng còn mấy ai bên cạnh.

Lúc đầu tôi cũng trách giận nhưng nghĩ lại thấy mình sống với người ta cũng hời hợt lắm. Mình có như thế nào thì người ta mới phản, mới đối đãi với mình bạc bẽo như vậy”, anh nói.

Về sau này, Minh Nhí không uống một giọt rượu nào!

Đón xem Kỳ 2: Những ngày sa cơ lỡ vận

GS. TS Trần Quang Hải biểu diễn và thuyết trình về đề tài Dân Tộc Nhạc Học (Ethnomusicology) tại Học viện Âm nhạc Huế.


GS. TS Trần Quang Hải biểu diễn và thuyết trình về đề tài Dân Tộc Nhạc Học (Ethnomusicology) tại Học viện Âm nhạc Huế. – 10/01/2011 09h58

tran-quang-hai-vtv9-17-01-2015-vietnam

Sáng 30/12/2010 tại HVÂNHuế với lối nói chuyện dí dỏm- hài hước và phong thái giản dị, GS. TS Trần Quang Hải đã chia sẻ những nghiên cứu của ông về Dân tộc nhạc học xoay quanh 3 công trình: Hát đồng song thanh, gõ muỗng đàn môi. Trong 3 công trình ấy « Hát đồng song thanh » là công trình mà ông dày công nghiên cứu nhiều nhất. Đây là một quá trình nghiên cứu, từ vị trí phát âm và các kỹ thuật hát của mỗi dân tộc  trên thế giới, cho đến các lối hát đồng song thanh của các nước Tây Á và kiểu thức cầu kinh của các vị Lạt Ma- Tây Tạng, trên cơ sở đó; ông phát triển và sáng tạo lối hát  » Đồng song thanh » theo kiểu của riêng ông, mà hiện nay không những để biểu diễn âm nhạc mà còn ứng dụng vào lĩnh vực Y khoa; đặc biệt là cách điệu trị học cho các căng bệnh đứt dây thanh quản và khuyết tật về phát âm.

tqh-spoons

 

 

Song song với thuyết trình, ông còn thể hiện tài nghệ quái kiệt như « Gõ muỗng », « Đàn môi »,  « Hát song thanh ». Chỉ với 3 chiếc muỗng ông đã xử lý tài tình, điêu luyện và bài bản nhiều kỹ thuật, cùng gõ muỗng kết hợp với cộng thanh ở vòm miệng, ông đã cho người nghe thưởng thức nhiều tiết tấu lạ cùng âm thanh đa dạng. Cũng như đàn Môi, ông đưa người nghe từ nhạc techno sang nhạc hiphop xen lẫn trong sự bất ngờ, thú vị- làm cho không khí cả hội trường sôi động hẳn lên và không ngớt tràng pháo tay thán phục…!   giáo sư tâm sự «  đàn môi ở Việt Nam là loại đàn được xếp vào hàng phong phú bật nhất trên thế giới, nhờ có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống trên dải đất nay, nhưng người Việt biết biểu diễn một cách bài bản, điêu luyện thì lại rất hiếm. Do vậy, ông thiết tha muốn tìm học trò để truyền nghề, nhưng hiện giờ vẫn chưa có duyên tìm thấy học trò « . Cuối buổi, trước sự chứng kiến đông đảo giảng viên và sinh viên của Học viện, ông đã biểu diễn một trích đoạn trong Giao hưởng số 9 của Beethoven với lối hát song thanh, thể hiện kỹ thuật dài hơi và khỏe, khiến cho tất cả mọi người đều thích thú, cảm phục tài nghệ của giáo sư.

 

 

tran-quang-hai-overtone-teacher1

Với nhiều câu chuyện hấp dẫn về nghiên cứu Dân tộc nhạc học, cùng lối trình diễn độc đáo, thu hút; GS Trần Quang Hải để lại nhiều ấn tượng khó quên trong lòng giảng viên và sinh viên HVÂNHuế. Thật đáng kính trọng khi nói đến sự cống hiến cao quý của ông cùng với người cha kính mến là GS Trần Văn Khê đã xem âm nhạc dân tộc như hơi thở của đời sống, cho nên cất công nghiên cứu gìn giữ và phát triển, đồng thời giới thiệu quốc hồn, quốc túy của đất Việt đến với thế giới.

K.H

http://www.hocvienamnhachue.vn/?c=tintuc&f=detail&id=132&m=0

VIỆT HẢI : Sự Thật Đời Tôi – Hồi Ức Nguyễn Thanh Liêm


 

Sự Thật Đời Tôi – Hồi Ức Nguyễn Thanh Liêm

ntliem 1.png

 

Dòng chữ trên bìa trước sách mới, một tác phẩm của GS. Nguyễn Thanh Liêm vừa được xuất bản. Cái đề tựa sách được in dưới hình của tác giả, một người đàn ông rất điển trai trong bộ semi-complet, áo vest màu xanh dương lợt và quần xanh dương đậm, hai mầu bắt mắt cho phong thái phục sức trang nhã, lịch lãm của tác giả. Sách in bìa cứng, dày 280 trang, in trên giấy dày láng, bìa sau là tiểu sử thu gọn của tác giả.

 

Tôi chú ý nhiều về cách tác giả cho tên tựa. Trong sự suy nghĩ của tôi có hai yếu tố “Sự Thật” và “Thanh Liêm” đã bổ túc cho “Hồi Ức Đời Tôi”. Tác giả là một vị “quan văn” có lúc làm cho Phủ Tổng Thống, và làm Thứ Trưởng về Văn Hóa Giáo Dục nhưng sự đức độ của ông bám sát theo cái tên tiền định của ông. Còn yếu tố “Sự Thật” có nghĩa là nói về những việc có thật, không ngụy tạo, thêu dệt ra. Trong phạm trù ngôn ngữ học “Sự Thật” là từ ngữ ghép chính và phụ. “Sự” là phần chính của từ ngữ này, trong khi “Thật” là phần phụ bổ túc rõ nghĩa cho phần chính. Cho nên “Sự” là diễn biến, diễn trình mà ta quan sát thấy, sự việc diễn ra chứng kiến được, còn phần “Thật” là đúng như thật, chân thực. Cho nên chữ “Sự Thật”dùng trên sách cho thấy những diễn biến trong chuyện kể trong hồi ức là đúng như thật, được mô tả như trạng thái chân tâm của sự kiện đã diễn ra. Tác giả kể hết sự thật về cuộc đời và gia đình mình.

 

Tác phẩm này là một loại hồi ức hay tự thuật những sự việc đã xảy ra, dù ông là một hành chánh gia hay “quan văn” ở cấp khá cao trong xã hội, tôi muốn nói ông là một gương mặt của quốc gia, của cộng đồng hay của công chung, một “public figure”, nhưng sách này khác với những “political memoirs” thường thấy ở xã hội Hoa Kỳ mà cửa hiệu Barnes & Noble hay Amazon.com Online bày bán như: Madam Secretary: A Memoir, by Madeleine Albright; No Higher Honor: A Memoir of My Years in Washington, by Condoleezza Rice; My Life – by Bill Clinton; All the Best, George Bush; My Life in Letters and Other Writings, by George H.W. Bush; Barack Obama’s Dream’s from my Father, by Barack Obama; Duty: Memoirs of a Secretary at War, by Robert Gates; A Reagan Cabinet Memoir, by Terrel H. Bell; Law and Justice in the Reagan Administration: The Memoirs of an Attorney General, by William French Smith…

 

Tác phẩm này tác giả viết với mục đích để làm kỷ niệm tặng cho gia đình ông, rồi cho bạn bè, thân hữu, đồng nghiệp, nhân viên cũ, giới học trò,… Nó không mang mục tiêu chính trị như nhiều sách hồi ức hay hồi ký khác.

Như vậy trong 80 trang đầu của bề dày 280 trang tôi thấy có những chủ đề sự thật, viết bằng chân tâm, ví dụ như ở trang 3, tác giả ghi kính dâng cho tứ thân nội ngoại và song phụ mẫu, viết cho các con cháu, và rồi hai dòng kế khá nhạy cảm, “sensitive categories” là: “Gởi GS. Đào Kim Phụng” và phần cuối thì “Gởi DS. Nguyễn Thi Phương”. Như vậy hai người phụ nữ này là ai vậy ? Bạn bè Petrus Ký của tôi như Phan tất Đạt San Jose, Hồ Lịch Australia, Chu Quốc Hưng Australia, Nguyễn Trung Kiên Germany, Dương Anh Dũng Germany, hay Nguyễn Ngọc Linh San Jose,… không biết gì cả. GS. Đào Kim Phụng dạy Anh Văn, du học tại Hoa Kỳ lấy bằng Master về Anh Ngữ về nước, chuyện ngày xưa trước 1975, cô là giáo sư dạy nhiều học sinh của nhiều trường, trong các học sinh cũ có ba nhạc sĩ mà nhiều người biết là Ngô Thụy Miên, Đức Huy và Võ Tá Hân. GS. kiêm BS. Trần Văn Thuần từng dạy tại trường Gia Long kể rằng cô Đào Kim Phụng thuộc gia đình dòng dõi trâm anh nho gia, cô có nét duyên dáng mà bao nhiêu chàng trai theo đuổi, nhưng rồi vị thầy Nguyễn Thanh Liêm khôi ngô tuấn tú của kẻ viết bài đã chinh phục con tim của cô, nói theo các sách Mỹ ông “steal her heart”.

 

  1. Đào Kim Phụng hiện ở bên miền Đông (eastcoast), Virginia. Hai giáo sư Liêm và GS. Phụng đã chia tay nhau. Sách chỉ đề cập thoáng qua, hôn nhân nay biến thanh tình bạn cũ qua sự liên hệ con cháu.

 

Còn DS. Nguyễn Thị Phương hiện nay là hiền thê của GS. Liêm, cô Phương là một dược sĩ lo thuốc men cho bệnh nhân và kiêm “thầy thuốc” riêng cho thầy tôi. Chị cựu Hội trưởng Gia Long Quế Hương nhận xét cô Phương là người đẹp của sân trường Gia Long, vợ chồng tôi ghé thăm thầy cô và thấy rằng cả hai sống trong rất hạnh phúc. Tác giả sách có duyên nợ với sân trường Gia Long, ông chỉ chọn học trò Gia Long và lại âm vần tên “Ph.” mà thôi. Đây là sự thật nhiều người ở xa có thể chưa biết.

ntliem 2.png

 

Ở trang 17 tác giả đính chánh sự thật về ngày sanh bởi sự việc khi ở với ông ngoại, ông ngoại làm khai sanh ngày DL 3 tháng 4, năm 1933 ở làng Phú Túc (Mỹ Tho), thân mẫu của tác giả cho biết ngày đúng là ngày 12 tháng 3, năm 1933 DL. Nhưng khi về ở bên nội, làng Tân Hội Mỹ (Mỹ Tho), rồi làm giấy khai sanh mới với ngày 20 tháng 11 năm 1934. Sự thật thì ở xứ ta khi ở nhiều thời kỳ do chiến tranh loạn lạc, chạy nạn và tình trạng tổ chức giấy tờ của hệ thống khai hộ tịch tùy tiện, cho nên ngày sanh thường sai sự thật. Nhưng hiện tại tác giả chọn ngày sau cùng do ông nội khai, tức sinh nhật vào ngày 20 tháng 11, năm 1934.

 

Đọc đoạn văn sai ngày sanh tôi bỗng nhớ một trường hợp khác. Như trường hợp Nhạc sĩ Anh Bằng kể tôi nghe ông sinh năm 1927, gia đình chạy giặc Tây, xứ sở loạn lạc, nên khi làm khai sanh mới bản hộ tịch cho ông sanh sớm hơn một năm, tức ông sanh năm trên giấy tờ 1926.

ntliem 3.png

Trường hợp của người viết bài chia chung số phận, ngày đúng không xài, nhưng xài ngày của người ta. Ngày sanh thật đúng ra là ngày 3 tháng 11 năm 1953, thân mẫu tôi đi làm khai sanh cô thơ ký lẫn lộn khai sanh 2 đứa trẻ là tôi và một cô gái, cô thơ ký lấy ngày của cô gái cho tôi, tức ngày 7 tháng 12 năm 1953. Hóa ra cô gái kia may mắn hưởng tiền già Obama sớm hơn tôi một tháng vì cô thơ ký lẫn lộn. Mẹ tôi yêu cầu cô thơ ký sửa lại, cô bảo mộc đã đóng dấu, xếp lỡ ký tên xong rồi, ông xếp bận lắm, “chuyện nhỏ” cứ cho cháu bé sau này ăn tiền hưu trễ như ông thầy Liêm của cháu vậy. Dòng này tôi cám ơn lục sự cho tôi nghỉ hưu trễ hơn thực tế. Trang 17 này là dịp tác giả đính chánh cho rõ ngày sanh cho biết sự thật lên giấy trắng mực đen.

 

Sự thật khác tôi ghi nhận ở trang 70 (mục Thanh Niên Tiền Phong) đến trang 79 (mục Khóa Học của Việt Minh) cho thấy tác giả bị hoàn cảnh thời cuộc lôi kéo khi Nhật đảo chánh Pháp năm 1945 (tác giả được 12 tuổi), người Việt nhân cơ hội đó nổi lên chống giặc Tây, Việt Minh mà những phần tử theo CS trà trộn đã lợi dụng phong trào yêu nước đấu tranh chống Pháp. Tác giả là nhạc trưởng một ban nhạc thiếu nhi, mang tên Đời Sống Mới. Đọc sách này tôi mới biết tác giả chơi violon và guitar.

 

Khả năng học vấn vững nên ông học nhảy lớp. Đầu thập niên 1950 tác giả thi đậu vào Collège Le Myre De Villers. Bạn đồng môn là GS. Lâm Văn Bé bên Canada đã kể rằng GS. Liêm học rất siêng và giỏi. (xem tham khảo #1).

Tác giả theo thân phụ lên Saigon, và vào học Petrus Ký lớp đệ nhất (première classe), niên khóa 1953-1954. Tác giả kể nhiều kỷ niệm về ngôi trường Petrus Ký. Tốt nghiệp trung học, vào học đại học ngành Sư Phạm. Ra trường trở về dạy tại Petrus Ký.  Có lúc lên làm Hiệu Trưởng tại đây. Trang 122 kể về mục ông làm Tổng Thơ Ký Hội Đồng Thi Tú Tài II. Tác giả cho biết ở trang 126-129 đã đậu Cử nhân Giáo khoa và Cao học Văn Chương Việt Nam.

 

Tác giả cho biết có quen mấy cô bạn gái, nhưng không nên duyên. Trong khi song thân không muốn tác giả ở cảnh “cha già con mọn”, nên sớm có con nối dòng dõi, tác giả vốn là con một nên lấy vợ. Tác giả đã 25 tuổi mà chưa có vợ. Ở niên kỷ thuở trước con trai mà 30 mà chưa yên bề gia thất xem như “quá date”. Đọc sách thầy tôi, tôi càng buồn cho phận mình vì khi cưới vợ sanh con đầu lòng năm 40 tuổi. Năm 47 chở con trai tôi đi học, xong một buổi chiều, xe tôi vừa trờ tới trường rước con, tôi mục kích thấy con tôi xô cô bạn gái học lớp té lăn cù, tôi hoảng hồn chạy xuống đỡ cô bé Mỹ tóc vàng hoe lên, cô khóc ngất. Tôi hỏi Nam tại sao làm như vậy, Nam nói “She said you’re my grandpa, I hate her!”.

 

Tôi giật mình bổ ngửa mình ở thế hệ ông nội của các cháu nhỏ. Bởi thế con tôi vẫn muốn bố nó trẻ thôi. Mẹ cô bé Mỹ đến rước con, tôi xin lỗi bà muốn gẫy lưỡi, và thuật lại những gì xảy ra, bà cười xòa. Nam xô ngã Liz vì cô bé la to: “Nam, your grandpa comes!”. Tôi không trách Liz khi tóc tôi chấm muối tiêu, chống gậy thì không grandpa là gì. Trong khi ở tuổi 80 thầy Liêm tóc điểm bạc, nhưng nhân dáng beau trai phương phi, không cần gậy như tôi 60. Tôi nhớ rõ như vậy.

 

Tóc thầy điểm bạc phong sương

Mấy cô gái trẻ các trường khen “beau”!

 

Rồi ngọn gió tình yêu thổi đến, tác giả gặp cô Phụng, cô học rất giỏi, thi Tú Tài hạng cao, và được giải khen thưởng của Tổng Thống phủ. Cô Phụng là người đồng hương gốc cùng làng Phú Túc, thích đàn violon, và có nét duyên dáng khiến thầy tôi xao xuyến ưng ngay. Thầy cô sống chung có hai người con, Thùy Linh là con gái lớn và con trai Bửu Lâm. Cả hai đỗ đạt bằng cấp cao và đã có gia đình. Hai người con này hiện gia cảnh hạnh phúc với các con học vấn giỏi giang.

 

Sự thật của sách ở trang 141, tác giả cho biết  Bình Dương nơi ông nhận nhiệm sở Hiệu Trưởng trường Trịnh Hoài Đức, là tỉnh theo Cách Mạng 01/11/1963 sớm nhất. Bình Dương nơi đóng đô của Sư đoàn 5 Bộ binh do Đại tá Nguyễn Văn Thiệu làm Chỉ huy trưởng. Ông Tỉnh Trưởng tỉnh Bình Dương và vị Chỉ huy trưởng Sư đoàn 5 BB đều theo phe Cách Mạng của ông Dương Văn Minh.

 

Trang 151 cho biết tác giả làm Chánh thanh tra và Trưởng ban soạn đề thi Tú Tài. Sang trang 156, tác giả kể về mục “Bài Thi Trắc Nghiệm Đầu Tiên” mà tác giả đề nghị lên ông Bộ trưởng giáo dục cho thử nghiệm vì lối thi Tú Tài như hệ thống Pháp cho bài viết (essay) có khuyết điểm là đề thi không khảo sát nhiều chủ đề của học trình như lối thi trắc nghiệm (multiple choice). Giám khảo có thể chấm bài theo thiên kiến, chủ quan, hay giám khảo không đọc bài của thí sinh kỹ, xem qua loa rồi cho điểm đại vào. Hơn nữa lối thi cũ khó đáp ứng nhu cầu gia tăng nhân tài.

 

Sự thật thì công trạng của tác giả ở công tác lợi ích của sự đổi mới này. Xin xem tham khảo bài #2 (GS.Trần Bang Thạch đọc tác phẩm Kỷ Niệm với Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm).

 

Trang 158 vì nhu cầu thời chiến, tác giả gia nhập quân đội. Trang 160 ông được biệt phái làm chuyên viên Phủ Tổng Thống, ông lo về văn hóa, soạn thảo diễn văn cho Tổng Thống.

Biến cố Tết Mậu Thân xảy ra tác giả vào khóa 2/68 Thủ Đức. Phần tâm tình bạn của tác giả vào quân đội nhiều năm lên cấp Đại tá, như Đại tá Võ Văn Cẩm (Chánh văn Phòng Tổng Thống phủ).

 

Trang 170 tác giả thú nhận có mối tình cũ, ông thầy kể chuyện xưa. Cô Ng. vẫn còn độc thân, khi ấy tác giả đã có gia đình, họ hẹn nhau ở Nhà Thờ Đức Bà, cả 2 đều ngoại đạo, nhưng gặp nhau để ôn kỷ niệm xưa. Mối tình dang dở, không trọn vẹn đó thầy viết sách kể tình cũ tặng cô bạn gái, rồi trao sách cho cô Ng. để từ đó tình chết theo thời gian. Tôi vốn mê love story, mỗi lần xin bài nhà văn Nguyễn Thanh Liêm, thì ông chỉ cho bài biên khảo thực lòng tôi muốn thầy tôi cho chuyện tình như roman mà thôi. Khá tiếc. Một chuyện tình cũ thầy tôi kể lại toạc trên giấy trắng mực đen thật đúng với cái tựa của quyển hồi ức này.

 

Từ trang 172 đến trang 192 tác giả tâm tình về sự liên hệ trong phạm vi văn hóa giáo dục với ông Tổng Trưởng Ngô Khắc Tỉnh mà trong sách tác giả cho đăng nhiều hình ảnh kỷ niệm với ông Tổng Trưởng.

 

Từ trang 207 đến trang 208 đến 216 tác giả kể về những thay đổi tại miền Nam sau khi mất miền Trung. Thủ tướng Trần Thiện Khiêm từ chức, Thứ trưởng Nguyễn Bá Cẩn lên thay. Bộ Văn Hóa Giáo Dục có vị Tổng Trưởng mới là TS. Nguyễn Duy Xuân thay thế DS. Ngô Khắc Tỉnh từ cức. Tổng Trưởng Xuân mời tác giả đảm nhận vai trò Thứ trưởng Văn Hóa Giáo Dục, những tháng cuối cùng của miền Nam ông phải lo ủy lạo cứu trợ các giáo chức và gia đình di tản từ miền Trung về miền phương Nam.

 

Khi ông Dương Văn Minh lên nhậm chức thì tình trạng của VNCH thật là rối răm, ở đường cùng khi sự di tản chiến thuật diễn ra ở các nơi, tác giả di tản theo đoàn tàu của HQ VNCH. Sang Mỹ, tiểu bang tiếp nhận gia đình ông là Iowa, nơi đây cô Phụng tốt nghiệp ngành Điện toán Thảo chương (Computer programming), tác giả trở lại đại học hoàn tất cấp Tiến sĩ Giáo dục.

 

Trang 234 gia đình tác giả dọn về tiểu bang California, từ Sacramento lại dọn về San Jose.

Ở tuổi già sức khoẻ suy kém, thân phụ mất, thân mẫu về ở với người em họ. Sự thật được tác giả ghi nhận trong trang 241 với đề tựa “Cuộc đời tang thương lúc về già”, giữa 2 vợ chồng có những bất đồng đi đến bất hòa và rồi phải ly dị, tác giả dọn ra ở riêng. Trang kế 42 tựa đề “Hai cô bạn đặc biệt”, hai cô đều đến với tác giả, tôi ngẫm nghĩ ở tuổi cao niên nét điển trai vẫn lôi cuốn những người nữ độc thân, nhưng chuyện giữa 2 đối tượng nữ này cũng làm cho tác giả khổ tâm.

 

ntliem 4.png

Các trang 243 đến 249 tác giả kể lại gặp gỡ lại các bạn mới cũ tại San Jose, ví dụ Võ Duy Thưởng, Nguyễn Văn Cẩm, Trần Thanh Điền, Nguyễn Bá Cẩn, Ngô Khắc Tỉnh, Trần Công Thiện,…

 

Trang 250 mang tựa vui tươi “Duyên Mới”. Khi tác giả đi những buổi hội họp đó đây, đến Hội Gia Long bà mai Mai mát tay chuyên se duyên mùa Valentine như một vị thánh linh Roman God of Love giới thiệu tác giả với cô Phó Tổng Thơ Ký của Hội Gia Long, chính là Dược sĩ Nguyễn Thị Phương, hiện nay là người hiền thê, mà tác giả ghi nhận là người bạn đời tâm đắc. Sau khi đám cưới tác giả về miền Nam nắng ấm vun xới “Duyên Mới” trong hạnh phúc bên nhau. Những lời thật lòng phản ảnh tựa sách, nhiều người bạn, fans, học trò tác giả, mà họ chưa biết cuộc sống riêng tư của vị thầy hay đồng nghiệp, hoặc thân hữu, tức tác giả sách này.

 

Trang 261 là mục “Đức  Tả Quân Lê Văn Duyệt Foundation- Tập San Đồng Nai Cửu Long”, đây là hai tổ chức văn hóa và văn học mà tác giả đã khai sinh ra, công sức ông bỏ vào rất nhiều, có nhiều người dang tay phụ giúp ông. Người phụ sự đắc lực và theo tác giả bền bỉ nhất là ông Nguyễn Quang Bâng, mà ngay ở trang đầu dòng tác giả đã đặc biệt cám ơn ông Bâng.

 

Trang 267 tác giả ghi nhận công tác “Hồ sơ về thềm lục địa Việt Nam” mà Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đã đệ nạp lên Liên Hiệp Quốc, người thừa kế Thủ tướng Cẩn để liên lạc về việc này ngày nay là tác giả.

 

Trang 270 mang đề tài “Lớn tuổi – Làm việc nhiều- Đau ốm”. Tác giả nhìn nhận mình làm việc quá sức, ông bị mổ tim, stroke, phổi có nước,… sức khỏe về chiều càng suy yếu.

 

Tác phẩm này đã được duyệt qua 3 giai đoạn: Những ngày niên thiếu của tác giả ở Mỹ Tho, những ngày trưởng thành và làm việc ở Sài Gòn, và những ngày ly hương sang Mỹ, làm việc và tuổi già đau yếu.

 

Một tập sách 280 trang, quan trọng nhất trong sự nhận định riêng tôi là trang cuối cùng số 274 (vì phần sau đó là những trang cuối mục lục). Trang 274 mang tên “Những Phút Cuối Cùng”, tôi đọc trong cảm động vì nó cho thấy lời để lại cho các thân nhân và bạn bè của ông, con cái, các cháu nội ngoại đều nên người. Ông có người vợ yêu thương ông. Và chung quanh ông nhiều người thương mến ông, nhưng ông nuối tiếc vẫn còn trong kiếp lưu vong, và song thân ông đã ra đi ở xa quê hương, bỏ xác nơi xứ người.

Dòng cuối cùng ông đã viết:

“Những phút cuối cùng của tôi sẽ chấm dứt bài viết ở nơi đây!”

ntliem 5 bis.png

 

Lời kết:

Với người viết bài, là một học trò Petrus Ký, một đàn em đi sau tác giả 20 năm, tôi theo dõi những hoạt động công ích của ông đã lâu, nhất là ở hai phạm vi văn hóa và giáo dục, tôi gọi ông là “Thầy” với tất cả những trân quý và ngưỡng mộ. Tôi ao ước sao cho sức khoẻ của ông bền vững và để ông sớm chứng kiến cảnh nạn Cộng Sản sẽ sụp đổ và quê hương ta bừng sinh trong tự do và tình người như ước nguyện của Thầy tôi.

 

Trần Việt Hải

Petrus K ý, TT-72, Lớp 12B4

—————————————————————————–

ntliem 6.png

Tham Khảo:

1/ Bài tham khảo #1:  (“Anh Liêm Như Tôi Đã Biết Từ Lâu” của GS. Lâm Văn Bé :

 

“Năm 1952, tôi lên Mỹ tho học và ở trọ nhà thầy Nguyễn An Ninh, giáo sư âm nhạc trường Trung học Le Myre de Villers (năm sau đổi tên là Nguyễn Đình Chiểu). Mỗi sáng, một cách đều đặn, khoảng 7 giờ rưỡi, anh Liêm ghé qua nhà trọ của tôi ở đường Ariès, để cùng với người bạn cùng lớp với anh là anh Nguyễn Kỉnh Đốc đi cùng với anh đến trường. Anh Đốc là người ở trọ lớn tuổi nhất và đang học lớp Première, lớp học cuối cùng của trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu thời ấy. Tính anh nghiêm nghị, tỏ vẻ đàn anh, rất siêng học, về đến nhà là cầm sách, ít khi nói chuyện với chúng tôi, đa số còn học bậc đệ nhất cấp. Anh có một bàn học riêng gần cửa sổ còn bọn chúng tôi thì phải học bài, làm bài, chung với nhau ở một cái bàn tròn ngoài nhà bếp. Khi anh Liêm đến, có khi anh Đốc đã sửa soạn xong thì cả hai đi ngay, có khi anh Liêm nán lại cùng ôn bài, hay làm bài chung. Tôi nhớ hai anh trả récitation những tác phẩm của Molière, Corneille và làm bài tập Vật Lý trong quyển Physique của Georges Ève. Anh Đốc đã ít nói mà anh Liêm còn ít nói hơn, họ rì rào với nhau, có khi anh Đốc cãi lớn tiếng về một vấn đề nhưng tôi thấy anh Liêm vẫn nhỏ nhẹ, thỉnh thoảng anh lấy gói thuốc Bastos rút một điếu thuốc gõ gõ trên bao giấy rồi châm thuốc thả khói lên trần nhà. Anh hút thuốc nhiều, môi thâm đen, và sau nầy tôi được biết trong lớp Première của anh còn có một anh Liêm nữa. Anh Lê Thanh Liêm được bạn bè gọi là «Liêm dế» vì nhỏ con, còn anh Nguyễn Thanh Liêm là «Liêm ghiền» và cả hai anh sau nẩy vẫn là đôi bạn thân thiết trong nghề giáo.

 

Khi đến trường, chúng tôi thường đi sau hai anh. Anh đi khoan thai, nhưng luôn ngó thẳng phía trước. Cử chỉ nghiêm nghị của anh khiến tôi rụt rè trước anh, nhưng lại tò mò muốn biết anh sinh sống ra sao. Buổi chiều, tôi thường đạp xe đi loanh quanh sau khi ăn cơm, và nhiều khi chạy qua nhà anh ở khu «Battambang» có con đường đá sỏi lồi lõm, đôi khi thấy anh ngồi tại bàn học qua cái màn cửa sổ.

Trong niên học ấy, thỉnh thoảng khi gặp nhau anh nói vài lời bâng quơ hay mỉm cười cho đến hè năm 1953, khi anh rời trường thì tôi cũng rời chỗ trọ đến «ăn cơm tháng» nơi nhà bà Năm Thưởng, thân mẫu của Đệ nhất phu nhân (bà Nguyễn Văn Thiệu) sau nầy, cho đến khi tôi ra trường và khi trở lại trường Nguyễn Đình Chiểu dạy học. Tôi không có cơ may nhìn thầy Năm Thưởng (Phạm Đình Thưởng) vốn hành nghề đông y sĩ, lúc thầy vĩnh viễn ra đi vì lúc ấy tôi đã lên Saigon học đại học nhưng đã cùng với thân quyến tiễn đưa Bác gái đến nơi yên nghỉ cuối cùng. Từ một cậu học sinh trọ học, tôi được hai Bác thương yêu như thân thuộc và tôi còn giữ được bao kỷ niệm thuở ấu thơ và trung niên nơi căn nhà số 1 đường Lý Thường Kiệt, Mỹ Tho.

 

Năm 1966, tôi gặp lại anh Liêm tại văn phòng của anh ở Nha Trung học khi anh làm Chánh Thanh tra đề thi. Năm ấy, chiến cuộc đang đến hồi ác liệt, và biến động Phật giáo ở miền Trung khiến nhiều thành phố phải đặt trong tình trạng thiết quân luật. Nha Trung học đang tổ chức kỳ thi Trung học toàn quốc nhưng việc điều động hội đồng giám khảo, đưa giáo sư từ nơi nầy đến nơi khác không thực hiện được vì đường giao thông bị gián đoạn nên trung tâm Huế phải sử dụng nhân sự tại địa phương. Vấn đề là làm sao đưa đề thi từ Saigon ra Huế, bởi lẽ thông thường người chánh chủ khảo đảm nhiệm luôn cả việc mang đề thi từ Saigon đến nơi mình phụ trách hội đồng thi. Vừa được đề cử làm Giám Học ngôi trường mà tôi đã học, tôi nhận được sự vụ lệnh phải mang đề thi ra Huế.”

 

 

2/ Bài tham khảo #2:  Nhà Văn Trần Bang Thạch đọc tác phẩm Kỷ Niệm với Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm:

“Về Giáo Dục:

Chúng ta hẳn còn nhớ trong thời thập niên sáu mươi, sau những biến động chánh trị kéo theo những rối ren tại các trường học, ông Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học Nguyễn Văn Trường đã ra quyết định chính ông sẽ ký giấy đuổi học những học sinh gây rối loạn nơi học đường. Rồi dưới thời chánh phủ Trần Văn Hương, nhiều đảng phái chánh trị, tôn giáo gây rối loạn ngoài xã hội và trong học đường, ông Tổng Trưởng GD Nguyễn Văn Trường ra Thông cáo số 1 đặt chánh trị ra khỏi học đường. Có lẽ đây là điểm móc quan trọng cho nền GD phát triển. Nhưng phát triển mà không đúng hướng thì GD sẽ đi lệch. May mắn thay, vào những năm cuối của thập niên sáu mươi và những năm đầu thập niên bảy mươi chúng ta có 1 người cùng các cộng sự của ông đã đưa nền GD đi đúng hướng. Đó là GS Nguyễn Thanh Liêm.

 

Sau thời gian làm HT ở Bình Dương và ở trường Pétrus Ký SG, GS về Nha Trung Tiểu học giữ chức Chánh Thanh Tra Trưởng Ban Soạn đề Thi, sau đó về Bộ Giáo Dục giữ chức vụ Phụ Tá Đặc Biệt ngang hàng Thứ Trưởng đặc trách Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục từ tháng 6 năm 1971. Ông cũng là Chủ Tịch Hội Đồng Cải Tổ Chương Trình, và Chủ Tịch Hội Đồng Cải Tổ Thi Cử. Nếu tính luôn cho tới ngày 30/4/75 thì ông là Thứ Trưởng GD trong nội các Nguyễn bá Cẩn.

Thời gian này, GS Nguyễn Thanh Liêm, người kiến trúc sư của ngôi nhà GD, mà theo GS Lâm Văn Bé thì:… “ông không phải là 1 kế hoạch gia khoa bảng du nhập cái nhìn bằng kinh nghiệm và kiến thức viển vông của xứ người mà trái lại, ông đã phối hợp và thực hiện các dự án phát triển GD bằng cái hiểu người và hiểu việc của ông”. Và theo GS Nguyễn Trung Quân, thì GS Nguyễn Thanh Liêm “ đã quyết định tiến hành một công vụ đúng với đường hướng giáo dục quốc gia, có lợi cho tương lai của tuổi trẻ và phù hợp với các nguyên tắc căn bản của nền giáo dục Việt Nam là dân tộc, nhân bản và khai phóng thì ông quyết tâm theo đuổi tới cùng cho đến khi thành tựu.”

Cho nên khoảng đầu năm 1970, từ chương trình học cho tới việc thi cử đã bắt đầu được nghiên cứu sửa đổi để tránh sự gạn lọc quá đáng có từ thời Pháp thuộc. Theo đó số học sinh tăng nhanh, tỉ lệ thí sinh thi đậu TT2 tăng, chẳng hạn năm 1972 số thí sinh ban A, B và C tại trường Pétrus ký đậu 100%! Đến 1973 thì bải bỏ thi TT 1, 1974 bắt đầu thi trắc nghiệm mà số học sinh thi đậu là trên 45% so với 10% những năm trước. Các Khu Học chánh, sở học chánh và Ty VHGD thành hình để trực tiếp làm công tác GD tại địa phương. Các trường tiểu học ở mỗi xã, các trường Trung Học Tỉnh hạt có mặt khắp nơi. Nhờ vậy mà số học sinh và số sinh viên tăng gấp bội, GD trở thành đại chúng, ở xa xôi cũng có trường. Hệ thống trung học Tổng hợp bắt đầu có mặt và phát triển mạnh…”

This blog is focused on Trân Quang Hai