Category Archives: TIỂU SỬ NGHỆ SĨ

TUẤN CHIÊU : Hầu hết thông tin về ca sĩ Thanh Lan trên mạng đều là bịa đặt


 – “Đa số những gì trên Internet hiện nay đều là bịa đặt. Những gì về tôi 10 phần thì hết 8 phần đã là không đúng sự thật rồi”. Trở về nước biểu diễn sau 25 năm, danh ca Thanh Lan lần đầu lên tiếng trước những tin đồn không hay về mình.  

Thanh Lan thể hiện ca khúc Bang Bang – Khi xưa ta bé

– Ra đi và trở về sau 25 năm, bà nhận thấy Sài Gòn ngày nay khác xưa như thế nào?

Mọi thứ như một cái chớp mắt. 25 năm mà cứ ngỡ như mới vừa hôm qua. Cảnh vật thay đổi nhiều, dạo quanh một vòng thành phố mà tôi chỉ còn nhận ra mỗi Nhà thờ Đức Bà ngay góc đường trung tâm quận 1.

Tôi gặp lại người thân, những người bạn ngày xưa từng gắn bó một thời tuổi trẻ với mình. Đúng là thời gian không bỏ sót một ai. Các cô cậu sinh viên ngày nào còn ngồi xem tôi hát giờ đã là những ông bố, bà mẹ. Và Thanh Lan ở hiện tại cũng đang sắp sửa bước qua hàng 70 rồi.  

Thanh Lan,Làng Sao
Danh ca Thanh Lan.

Đa số thông tin về tôi trên mạng đều là bịa đặt

Danh ca Khánh Ly – Người sống xa quê nhiều năm như bà có chia sẻ bà ấy về để được sống lại với những kỷ niệm. Còn Thanh Lan, điều bà mong mỏi nhất trong lần hội ngộ này là gì?

Mục đích của tôi ban đầu là về để thăm cốt bố mẹ, thăm dì ruột. Đời người chỉ sống một lần, tuổi tôi cũng không còn trẻ nên không biết sẽ còn bao nhiêu cơ hội nữa. Tôi nghĩ thế nên thấy thoải mái trong chuyến trở lại này.

Sống ở Mỹ nhiều năm tôi nhận được rất nhiều tin nhắn, email thắc mắc tại sao các đồng nghiệp cùng thời đều đã về mà Thanh Lan vẫn cứ mất tích. Tôi nghĩ chuyện gì ở đời cũng đều phải có duyên. Vả lại đã không về thì thôi, về thì phải gặp khán giả. Tôi thèm được nghe tiếng vỗ tay của khán giả Sài Gòn. Thế nên những gì mong mỏi, cảm xúc nhất sẽ thành hình và trọn vẹn hơn trong đêm diễn sắp tới. Dẫu có hơi muộn màng nhưng cũng là tấm lòng tôi gửi đến mọi người.

– Ngày còn trẻ Thanh Lan rất đẹp, lại sở hữu sự nghiệp lẫy lừng. Còn hiện tại, những thông tin về bà đều rất hiếm hoi. Có người bảo sau ngần ấy năm Thanh Lan đã “chán” nghệ thuật và thỉnh thoảng chỉ đi hát để góp vui, thực hư thế nào?

Ở một vài thời điểm tôi đã có ý định từ giã sân khấu. Hoạt động sau ngần ấy năm rồi cũng đến lúc tự mình có cảm giác muốn sống cho gia đình nhiều hơn. Nhưng đã là nghề nghiệp thì đâu phải muốn bỏ là bỏ được. Cứ nghỉ một thời gian thì lại có người đến mời tôi. Đời sống bên Mỹ khác với Việt Nam nên tôi vẫn phải hát phục vụ cho kiều bào.

Hiện tại tôi sống bình yên bên gia đình và con gái. Bản tính tôi từ nhỏ cũng sống khép kín, ngại giao du. Đi diễn xong là về nhà chứ không có chuyện tụ tập bạn bè hay lê la hàng quán. Có thể vì vậy mà người ta nghĩ tôi giải nghệ cũng không chừng.

– Thành công với sự nghiệp, song khi nhắc đến Thanh Lan người ta lại nghĩ nhiều đến những cuộc tình đổ vỡ của bà hơn thay vì những bài hát hay vai diễn để đời…

Đa số những gì trên Internet hiện nay đều là bịa đặt. Những gì về tôi 10 phần thì hết 8 phần đã là không đúng sự thật rồi. Họ nói tôi là người đau khổ trong tình cảm, điều này tôi tự nhận là có. Nhưng chuyện Thanh Lan bị chồng đánh đập, bạo hành thế này thế nọ thì không. Lúc biết tin tôi cũng rất bất ngờ vì chưa gặp gỡ với ai, cũng chưa bao giờ mang đời tư mình lên mà khoe mẽ như thế. Nếu giả sử có thật, tôi cũng không dại gì vạch áo cho người xem lưng.

Gia đình bên chồng cũ từng rất giận vì họ nghĩ tôi nói điều không hay về con họ. Trong khi thực tế cả hai gia đình bấy lâu nay vẫn giữ mối quan hệ rất tốt. Nhân đây tôi cũng xin cải chính lại những thông tin không đúng sự thật về mình. Chồng tôi là một người có gia giáo, hiểu chuyện nên anh chưa bao giờ có bất cứ hành động nào lỗ mãng với tôi.

Còn về thông tin tôi là người đào hoa, cứ mỗi lần hợp tác với các nhạc sỹ, ca sỹ là lại có tình cảm. Tôi tự hỏi thời giờ chạy show kiếm tiền lo cho con cái và gia đình còn không có thì lấy đâu ra mà yêu hết ông này đến ông kia? Đôi khi tôi thấy bất mãn vì mình không có tiếng nói. Họ có thể nói bất cứ điều gì về Thanh Lan suốt những năm tôi rời xa quê hương. Em cứ ghi đúng như những gì tôi nói để độc giả họ hiểu.

Thanh Lan,Làng Sao
Nữ Danh ca lần đầu đính chính trước những câu chuyện không đúng về bản thân.

– Bà bất mãn nhưng tại sao không đính chính ngay từ ban đầu, thay vì đợi đến thời điểm này mới thổ lộ thì e rằng có quá muộn không?

Thật ra những thông tin đó tôi chưa bao giờ tự tìm đọc. Những gì tôi biết đều là từ bạn bè và người thân xung quanh kể lại. Tôi quan niệm những người xấu như vậy thì không đáng để mình phải bận tâm. Con người tôi trước giờ cũng không thích chuyện lùm xùm, đôi co qua lại. Mình không thích thì cứ bỏ ngoài tai. Đâu cứ phải đính chính là người ta sẽ tin?

Có nhiều người họ vẫn cứ làm thật mà mỗi lần như thế lại lên báo chối đây đẩy. Tôi nhìn mà thấy mệt mỏi nên thôi ai hiểu cho thì mình cảm ơn, còn không thì thôi. Hơn nữa có nhiều người ngay từ đầu đã không thích rồi thì dù em có mở họp báo mời ký giả đến đưa tin họ vẫn có lý do để ghét. Tính tôi trước giờ thẳng, ruột để ngoài da nên nếu có lỡ làm ai phật lòng tôi cũng đành chịu.

Con gái tôi không muốn làm nghệ thuật

– Con gái bà đối diện thế nào với những tin đồn không hay về cha và mẹ mình suốt quãng thời gian qua?

Con gái tôi đẹp, hát rất hay nhưng không muốn làm nghệ thuật là vì lý do này. Bản thân tôi cũng không ủng hộ con gái mình bước chân vào con đường ca hát. Hoạt động nghệ thuật mấy chục năm, tôi đủ tỉnh táo và kiên nhẫn khi đứng trước scandal. Có ca sỹ nào mà không ít nhiều bị dính tai tiếng đâu. Tên tuổi càng lớn thì bị đưa ra mổ xẻ càng nhiều. Tôi nghĩ vậy nên chấp nhận. Chỉ mong con gái sống vui vẻ, hạnh phúc với những gì đang có là được.

Tính con gái giống tôi từ nhỏ ngại giao tiếp, không muốn người khác nói về mình. Ban đầu thì cũng sốc nhưng đương nhiên về sau nó cũng hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh bố mẹ. Sống gần mẹ từ nhỏ, lại không may đổ vỡ hôn nhân như tôi nên cả hai xem nhau như hai chị em. Tôi đi diễn thì nó chuẩn bị đồ, lựa chọn trang phục, căn dặn mẹ từ chuyện ăn uống đến ngủ nghỉ. Còn với bố thì do không hợp tính nên cũng ít khi nói chuyện.

Thanh Lan,Làng Sao
Trong đêm nhạc duy nhất vào ngày 29/7 tại TPHCM, Thanh Lan sẽ hát lại những ca khúc nhạc Pháp gắn liền với tên tuổi mình bên cạnh hai nam Danh ca Tuấn Ngọc và Elvis Phương.

– Trông bà trẻ trung, khỏe khoắn hơn rất nhiều so với độ tuổi 70. Sống khép kín, lại không cần tình yêu, bà nghĩ điều gì khiến mình tự tin để giữ được nét thanh xuân này?

(Cười) Bởi vậy nói chuyện một hồi em gọi tôi bằng chị cũng không biết chừng. Cũng có thể tôi được như vậy là nhờ cái duyên từ bố mẹ. Bố mẹ tôi ngày xưa trẻ dai. Tôi có thói quen không nhìn lại quá khứ của mình. Những chuyện đã qua, dù vui hay buồn thì cũng nên xếp lại. Thỉnh thoảng lấy ra để nhìn ngắm thì được chứ đắm chìm vào nó thì không nên. Mình cứ sống trọn vẹn mỗi ngày, nghĩ đến những gì sắp đến. Có như vậy mới thấy tâm hồn đươc thanh thản.

– Trải qua nhiều thăng trầm trong đời sống riêng tư cũng như nghệ thuật, khi nhìn lại quãng đời đã qua, bà thấy mình được và mất những gì?

Tôi chưa bao giờ có ý định nhìn về cuộc đời để nhìn nhận xem mình được và mất những gì. Dĩ nhiên, con người thì ai cũng có những phút giây lúc tiếc nuối hay hạnh phúc. Đối với tôi hiện tại, điều quan trọng nhất vẫn là gia đình, thứ hai là sức khỏe. Còn với nghệ thuật, tôi sẽ đi hát đến khi nào sức khỏe không cho phép nữa thì xin phép giải nghệ. Có nhiều người tôi thấy cứ nhiều lần tuyên bố từ giã sân khấu để khán giả họ đến xem thật đông xong rồi lại đi hát tiếp. Tôi không thích như vậy.

Cảm ơn bà về cuộc trò chuyện!

Tuấn Chiêu

http://vietnamnet.vn/vn/giai-tri/the-gioi-sao/hau-het-thong-tin-ve-ca-si-thanh-lan-tren-mang-deu-la-bia-dat-385937.html

THÙY TRANG : Ca sĩ Minh Thuận qua đời


18/09/2016 16:32

(NLĐO)- Không vượt qua được bệnh tật hiểm nghèo, ca sĩ Minh Thuận đã qua đời ở tuổi 47 vì căn bệnh ung thư phổi

Ca sĩ Minh Thuận đã qua đời vào ngày 18-9 tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch (TPHCM) sau thời gian điều trị bệnh ung thư phổi. Trước đó, sau hôn mê, anh tỉnh lại khi nhập viện, những tưởng phép màu đã đến với Minh Thuận nhưng anh đã ra đi mãi mãi vào lúc 8 giờ sáng ngày 18-9. Tuy nhiên, đến 15 giờ cùng ngày, gia đình mới ra thông báo chính thức. Trước đó một ngày (17-9), giới nghệ sĩ còn tổ chức đêm nhạc “Tình nghệ sĩ 8”, thu được 400 triệu đồng, trích ra 300 triệu đồng hỗ trợ Minh Thuận điều trị bệnh.

Lễ viếng ca sĩ Minh Thuận sẽ diễn ra tại tư gia số 73 đường Tự Cường, phường 4, quận Tân Bình. Lễ an táng hiện vẫn chưa được gia đình thông báo chính thức.

Ca sĩ Minh Thuận ( tên thật Nguyễn Minh Thuận), sinh ngày 12-9-1969 . Năm 1998, công chúng bắt đầu biết đến Minh Thuận khi song ca cùng Nhật Hào. Sở hữu hàng loạt ca khúc ăn khách: “Chiếc thuyền nan”, “Mong đợi ngậm ngùi”, “Cô bé dỗi hờn”, “Chỉ còn trái tim”, “Thất tình”, “Không cần tình yêu”,… Minh Thuận- Nhật Hào từng là cặp song ca ngôi sao của showbiz Việt.

Sau đó, khi tách ra solo, Minh Thuận cũng gặt hái nhiều thành công. Anh là một trong những ca sĩ tiên phong và thành công với những ca khúc nhạc Hoa lời Việt, được khán giả yêu mến. Anh cũng là một trong những ca sĩ đa năng khi tự sản xuất các sản phẩm âm nhạc của mình. Cuối năm 1999, Minh Thuận tự làm nhà sản xuất và biên tập album mới mang tên “Ta chẳng còn ai” thu chung với Phương Thanh. Đây là album tạo điểm son trong sự nghiệp ca hát của Minh Thuận. Những ca khúc như Ta chẳng còn ai (Đức Trí) do Phương Thanh trình bày và bài “Nỗi đau ngọt ngào” (Quốc Dũng) là những ca khúc ăn khách và tạo nên tên tuổi cho ca sĩ Phương Thanh. Minh Thuận cũng tòa sáng ở mảng ca khúc thuần Việt.

Album “Chiếc bóng” phát hành năm 2004 là album cuối cùng của Minh Thuận. Album là sự tổng hợp của cả những cái mới lẫn cũ trong sự nghiệp âm nhạc của anh. Cũ, vì Minh Thuận cover những bài “hit” nhạc Hoa lời Việt từ thời song ca với Nhật Hào (1994). Khi đó các ca khúc phát hành dạng cassette chứ chưa in sang CD. Minh Thuận hát “Khi nào em mới biết”, “Dù có là người tình”, “Nụ hôn biệt ly”… theo bản hòa âm mới và chất giọng cũng chín chắn hơn rất nhiều so với ngày xưa. Mới, là những ca khúc mới được Minh Thuận đặt hàng nhạc sĩ viết cho mình trình bày: “Tang tình tang” (Trần Minh Phi), “Khi nào em buồn” (Minh Khang), “Con cầu xin” (Phương Uyên)… Trong đó, ca khúc lấy làm chủ đề album “Chiếc bóng” (Phương Uyên) là điểm nhấn của Minh Thuận bằng thông điệp về nỗi ưu tư của một người sống nội tâm quanh quẩn với chiếc bóng của mình cho đến một ngày kia anh ta mở cửa ra và nhìn thấy nhiều điều mới lạ hơn bên ngoài…

Ca sĩ Minh Thuận bắt đầu ít xuất hiện hơn ở vai trò ca sĩ từ năm 2006. Đây cũng là thời điểm anh đầu tư cho lĩnh vực kinh doanh và điện ảnh. Anh xuất hiện lần đầu ở điện ảnh trong phim “Khi đàn ông có bầu” năm 2005 với vai trò khách mời. Đây được xem là vai diễn bén duyên điện ảnh của anh. Vai diễn tiếp theo của anh rất được khán giả chú ý là vai Đế Thích trong phim “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” bởi nó là vai chủ đạo trong cả bộ phim.

Bắt đầu từ năm 2007, anh có hàng loạt vai diễn trên phim truyền hình. Trong phim “Cô gái xấu xí”, anh trút bỏ hình tượng ca sĩ tóc dài, thay vào đó là mái tóc ngắn của vai diễn anh chàng Ninh Lâm rất có duyên được khán giả nhớ đến nhiều nhất. Trong phim, “Thiên mệnh anh hùng”, Minh Thuận để lại ấn tượng với vai sư ông đầy phép thuật. Anh mong muốn mình có thêm nhiều vai diễn hay trên sân khấu kịch nói, cải lương và điện ảnh nhưng định mệnh đã không cho anh thực hiện được những ước muốn của mình.

Thùy Trang

TRÀ MY & MAI NGUYÊN : Minh Nhí – Kỳ 3: Hữu Châu, Thành Lộc, Hồng Vân trong tôi


CHUYỆN ĐỜI NGHỆ SĨ

Minh Nhí – Kỳ 3: Hữu Châu, Thành Lộc, Hồng Vân trong tôi

28/07/2016 15:36 GMT+7

TTO – Minh Nhí cho biết từ ngày “đổi tánh”, mối quan hệ giữa anh và đồng nghiệp cũng vì thế mà ôn hòa, gắn kết hơn.

Minh Nhí - Kỳ 3: Hữu Châu, Thành Lộc, Hồng Vân trong tôi
Nghệ sĩ Minh Nhí và các diễn viên Sân khấu kịch Hồng Vân – Ảnh: Gia Tiến

Minh Nhí kể:

“Ngày xưa tôi với anh Hữu Châu (NSƯT Hữu Châu) diễn chung trong một nhóm hài. Thực ra thì anh Hữu Châu nhỏ tuổi hơn tôi, nhưng tôi vẫn gọi bằng anh vì anh Châu học ở trường Sân khấu trước mình, thứ nữa anh Châu là con nhà nòi, là cháu của một người tôi vô cùng ngưỡng mộ là cô Thanh Nga.

Hồi xưa tôi “hung dữ” nên… “ăn hiếp” anh Châu hoài. Hai người cũng khắc khẩu nên cứ có chuyện giận lên một cái là tôi đùng đùng chửi rồi bỏ đi.

Vậy mà từ 10 năm qua, tôi với anh Châu không cãi nhau tiếng nào. Bây giờ chuyện gì tôi cũng nói nhẹ nhàng, trao đổi và sẵn lòng giúp đỡ khi cần.

Nhớ lại lời sư thầy rằng “trước đây làm gì thì sau này phải trả lại y như thế”, tôi nghiệm ra hồi xưa anh Châu nhường nhịn tôi nhiều quá rồi nên bây giờ tới lượt tôi “báo đáp” ảnh”.

Minh Nhí - Kỳ 3: Hữu Châu, Thành Lộc, Hồng Vân trong tôi
Nghệ sĩ Minh Nhí và NSƯT Hữu Châu – Ảnh cắt từ clip

Biết ơn MC July Tuấn Hùng

“Tôi biết ơn một người em luôn bên cạnh tôi trong những ngày sa cơ, nằm nhà chờ giấy phép được biểu diễn trở lại, đó là MC July Tuấn Hùng.

Tuấn Hùng là người đến nhà thăm hỏi rồi, động viên rồi “lôi” tôi ra khỏi nhà. Tuấn Hùng còn lấy xe máy chở tôi đi vòng vòng cho thư thả.

Giữa lúc sa cơ, nhiều người ngày xưa quấn quýt bên mình trong những lần đi ăn uống, đi vũ trường, giờ chẳng thấy đâu”.

Nể trọng NSND Hồng Vân, NSƯT Thành Lộc

“Báo chí, bạn bè hay người quen có hỏi quan điểm, đánh giá của tôi về người khác thì tôi vẫn chân thành, có sao nói vậy.

Anh Thành Lộc (NSƯT Thành Lộc) là đàn anh của tôi, rất giỏi nghề. Tôi nói không phải để nịnh vì thật ra chúng tôi giờ không còn liên quan nhiều về công việc nữa, chỉ là đẳng cấp của ảnh ở đâu thì mình phải nói vậy. Tương tự như chị Hồng Vân hay anh Hữu Châu, tôi cũng dành sự nể trọng và tình cảm chân tình để đối đáp.

Minh Nhí - Kỳ 3: Hữu Châu, Thành Lộc, Hồng Vân trong tôi
Nghệ sĩ Minh Nhí và NSND Hồng Vân cùng các nghệ sĩ khác tham gia một chương trình truyền hình – Ảnh tư liệu

NSND Hồng Vân chính là người mở lời mời tôi về làm tại sân khấu kịch Hồng Vân. Khi tôi ngỏ ý muốn hợp tác để mở một lớp đào tạo diễn viên, chị Hồng Vân cũng ủng hộ và chung tay.

Tôi hay gọi Hồng Vân là “bà Hồng Vân”. Mỗi lần trong lớp có học trò đi thi là tôi với chị Vân đều theo dõi và động viên, chấn chỉnh kịp thời.

Như vừa rồi có học trò thi chương trình hài và giả gái “lố”, Hồng Vân cũng nói với tôi là sẽ gọi học trò về để phân tích, giảng giải rằng không nên làm như vậy, giả gái như vậy chẳng có duyên chút nào.

Hồng Vân với tôi giờ như người nhà, người nào có chuyện là người kia bay vào giải quyết giùm, không đắn đo gì hết”.

Những tình bạn lâu năm

“NSƯT Thanh Thủy, người cùng ngồi ghế giám khảo chương trình Cười xuyên Việt: Tiếu lâm hội cũng là một đồng nghiệp thân thiết với tôi.

Ngẫm lại chúng tôi chơi với nhau hơn 30 năm, từ khi tôi mới lên TP.HCM học đến giờ. Ngày xưa tôi hay bênh khi Thanh Thủy có chuyện nên giờ hễ có ai nói gì Minh Nhí là Thanh Thủy lên tiếng bênh lại.

Có nhiều người ngạc nhiên vì sao tôi và nghệ sĩ hài Anh Vũ lại thân nhau bởi trước khi “kình” nhau như mặt trăng-mặt trời vậy. Nhưng từ khi tôi từ Mỹ trở về thì mọi thứ thay đổi nhiều lắm. Giờ Anh Vũ làm gì cũng hay gọi điện thoại hỏi ý kiến tôi. Tình cảm anh em gắn bó lắm, không có chuyện ghen tức gì như hồi xưa đâu.

Một người khác mà tôi hay gọi là “hên là hên chung, xui là xui cả cặp” là nghệ sĩ, đạo diễn Quốc Thảo. Thảo không chỉ bằng tuổi mà còn có nhiều điểm tương đồng với tôi về cuộc đời, sự nghiệp. Từng mở sân khấu chung, từng thất bại cùng nhau, rồi nhiều người còn đồn thổi tôi với Thảo hẹn nhau đi Mỹ nhưng thật sự Thảo đi trước, qua đó rồi anh em cũng có liên lạc hay gặp nhau gì đâu.

Hồi Thảo mới về, công việc cũng chưa thật sự thuận lợi, tôi về thì bị cấm diễn. Thời gian Thảo mới về, tôi và NSND Hồng Vân là hai người luôn bên cạnh, chia sẻ với bạn.

Giờ thì mọi chuyện cũng khởi sắc hơn, Quốc Thảo chứng minh được khả năng đạo diễn của mình trong nhiều chương trình. Anh em vẫn hay gọi điện hỏi thăm nhau, thỉnh thoảng còn đi ăn uống, bàn chuyện nghề…

Những người bạn như vậy, tôi quý lắm!”.

TRÀ MY & MAI NGUYÊN: Minh Nhí – Kỳ 2: Những ngày khóc nhiều và đắng cay


CHUYỆN ĐỜI NGHỆ SĨ

Minh Nhí – Kỳ 2: Những ngày khóc nhiều và đắng cay

27/07/2016 09:15 GMT+7

TTO – Năm 2004, khi đang trên đỉnh cao sự nghiệp, Minh Nhí sang Mỹ biểu diễn rồi ở lại luôn đến hơn một năm sau mới về nước trình diện các cơ quan chức năng. Anh bị cấm diễn 6 tháng.

Minh Nhí - Kỳ 2: Những ngày khóc nhiều và đắng cay
Nghệ sĩ Minh Nhí

Cuộc đời Minh Nhí từ đó sang trang.

“Đó là khoảng thời gian kinh khủng nhất trong cuộc đời tôi”, một ngày tháng 7-2016 ngồi ở Sài Gòn, Minh Nhí bùi ngùi nhớ lại.

Đang là giảng viên tại Trường Cao đẳng Sân khấu – Điện ảnh TP.HCM và rộn ràng với những vai diễn, Ngày 22-2-2004, Minh Nhí sang Mỹ theo thư mời biểu diễn giao lưu văn hóa của Viet Art Production và tham quan du lịch.

Sau đó Minh Nhí bất ngờ ở lại Mỹ đến 1 năm. Khi về nước, anh mới tiết lộ là ở Mỹ để hoàn tất các thủ tục kết hôn tại đó (kết hôn với cô Giang Ngọc Vân – Việt kiều Mỹ). Việc thực hiện một số thủ tục theo quy định của nước sở tại khi kết hôn khiến Minh Nhí không thể trở về Việt Nam như đơn xin phép gửi Trường Sân khấu & Điện ảnh TPHCM (1 tháng).

Hơn một năm ở lại Mỹ, ngày 8-3-2005, Minh Nhí trở về Việt Nam. Một ngày sau, anh đến Phòng Quản lý nghệ thuật Sở VH-TT TP.HCM trình báo. Cơ quan chức năng yêu cầu Minh Nhí làm tờ tường trình sự việc.

Do vắng mặt không tham gia giảng dạy mà không xin phép, Minh Nhí bị Trường Cao đẳng Sân khấu – Điện ảnh TPHCM cho nghỉ việc vì anh đã vi phạm Pháp lệnh Công chức và Quy chế hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp.

“Nếu ngày ấy, tôi làm một cái đơn xin nghỉ đàng hoàng gửi Trường Cao đẳng Sân khấu – Điện ảnh TP.HCM – nơi tôi đang giảng dạy – thì chắc mọi chuyện đã khác. Đằng này mình chỉ nghĩ đơn giản đi là đi, khi về rồi tính nên mới ra cớ sự”, Minh Nhí hối tiếc nhớ lại.

“Ông bầu dặn nhân viên hậu đài đứng canh tôi”

Minh Nhí - Kỳ 2: Những ngày khóc nhiều và đắng cay
Minh Nhí – Ảnh tư liệu

Đối với một người diễn viên đam mê nghề, bị cấm diễn là một điều quá sức chịu đựng. Minh Nhí cũng vậy. Đó có lẽ là những ngày tháng anh khóc nhiều nhất trong cuộc đời mình.

Minh Nhí nhớ về quãng thời gian đầy nước mắt đó:

“Khi mới bị cấm, tôi thường lân la đến chơi ở các sân khấu ngày xưa mình diễn. Đứng trong cánh gà, không hiểu sao có một bạn nhân viên hậu đài cứ kè kè bên mình.

Cậu đó cũng thương tình nên mới nói tôi biết là ông bầu dặn phải đứng “canh” tôi, lỡ tôi có dợm bước ra sân khấu là chặn lại liền.

Tôi đâu có “khùng” mà định bước ra sân khấu làm gì, nhớ quá nên mới đến sân khấu chơi, ai ngờ người ta nghĩ như vậy. Buồn quá nên từ đó tôi không đến nữa.

Ở nhà tôi cũng không dám bật TV xem chương trình hay phim trên truyền hình. Bật lên thấy bạn bè đồng nghiệp làm nghề mình tủi thân thêm.

Đôi khi tôi ngồi một mình trong phòng rồi nước mắt cứ thể chảy ra, dù mình có định khóc đâu.

Rồi một người em tới chở tôi đi chơi cho khuây khỏa. Tôi đội nón, đeo kính, mang khẩu trang nhưng đi trên đường vẫn có người nhận ra.

Có cặp vợ chồng kia nhận ra mình, cô vợ kêu lên: “Minh Nhí kìa anh”, ông chồng liền nói: “Kệ nó đi, qua Mỹ mà không được giờ về đây bị cấm diễn rồi, đáng lắm”.

Từ đó, tôi nhốt mình trong nhà, không đi đâu nữa hết.

Đắng cay lắm”.

Minh Nhí - Kỳ 2: Những ngày khóc nhiều và đắng cay
Minh Nhí cùng các đồng nghiệp

Cay đắng đi qua, bình yên ở lại

Trong những ngày đen tối của cuộc đời, có lẽ một cái duyên nào đó giúp Minh Nhí được gặp, trò chuyện và tịnh tâm mình qua những chia sẻ của một sư thầy.

Thầy khuyên Minh Nhí nên bình tâm sống vì “cái gì đã là của con, ai có giành, có giựt thì cuối cùng nó vẫn trở lại với con. Cái gì không phải của con, dù con có tranh giành đến mấy thì cuối cùng nó cũng không thuộc về mình”.

“Thầy nói nếu tôi thật sự còn yêu nghề và còn duyên với nghệ thuật thì cứ an nhiên, đừng đau khổ, đừng dằn vặt, có ngày tôi sẽ được quay trở lại để sửa sai. Tôi ngộ nhiều điều từ lời thầy nói và cứ thế bình thản chấp nhận mọi thứ”, anh kể.

Anh kể trong những ngày nằm nhà, anh suy ngẫm nhiều thứ về cuộc đời, tình người và một Minh Nhí của ngày xưa.

Những giọt nước mắt khóc trong những ngày cay đắng gột rửa hết những ương ngạnh, trẻ con, hồ đồ ngày nào.

Năm 2005, trong đơn gửi Cục Nghệ thuật Biểu diễn (NTBD) để xin được biểu diễn trở lại, Minh Nhí bày tỏ: “Tôi vẫn là công dân Việt Nam và tôi có nguyện vọng được biểu diễn phục vụ khán giả quê nhà”.

Ngày 16-9-2005, Cục Nghệ thuật – Biểu diễn ký quyết định số 676/NTBD-QLBD với nội dung “đồng ý cho nghệ sĩ Trương Minh Nhí tiếp tục biểu diễn”.

Được cấp giấy phép trở lại, show diễn đầu tiên của Minh Nhí là một chương trình từ thiện tại Nhà thi đấu Nguyễn Du (TP.HCM).

Vắng bóng đã lâu, khán giả cũng biết đến những ồn ào của anh trên mặt báo, Minh Nhí không biết rồi đây có còn ai chào đón hay vỗ tay cho mình nữa hay không.

Nhưng chắc Tổ nghiệp còn thương nên vừa nghe giới thiệu tên anh, khán giả vẫn dành những tiếng vỗ tay lớn để đón chào một đứa con của nghệ thuật quay về thánh đường của nó.

Đứa con ấy thực sự trở về với một tâm thế hoàn toàn khác.

“Tôi tâm niệm khi được diễn trở lại nghĩa là mình đã được trao cho một cơ hội và mình phải biết trân trọng nó, không được làm điều gì có lỗi với Tổ nghiệp, với khán giả và cả những người xung quanh.

Cuộc đời không ai nói trước được điều gì, biết đâu sau này mình lại gặp gì thì sao? Giờ học cách sống ôn hòa để đến khi sa cơ lỡ vận còn có người thật sự yêu thương”, Minh Nhí nhẹ nhàng chia sẻ.

TRÀ MY – MAI NGUYÊN : Minh Nhí – Kỳ 1: Từ “vua vũ trường” đến người cai rượu


CHUYỆN ĐỜI NGHỆ SĨ

Minh Nhí – Kỳ 1: Từ “vua vũ trường” đến người cai rượu

26/07/2016 14:08 GMT+7

TTO – Nghệ sĩ hài Minh Nhí đang làm giám khảo chương trình Cười xuyên Việt: Tiếu lâm hội. Kể từ ngày anh nhận được giấy phép biểu diễn trở lại (ngày 16-9-2005), Minh Nhí “không còn như xưa”, thấm thoắt mà đã hơn 10 năm rồi.

Minh Nhí - Kỳ 1: Từ "vua vũ trường" đến người cai rượu
Minh Nhí làm giám khảo chương trình Cười xuyên Việt: Tiếu lâm hội – Ảnh: Khang Media

Năm 1983, cậu học trò Trương Hùng Minh từ tỉnh lẻ miền Tây lên Sài Gòn học với khao khát cháy bỏng là trở thành một diễn viên, mặc cho những ngăn cản từ phía gia đình.

Rồi gần 10 năm sau, người ta thấy một Minh Nhí “tả xung hữu đột” khắp cái “mặt trận” hài và là cái tên “hái ra tiền” cho bầu sô ngày đó.

Tuổi đôi mươi, tiền tài có, danh tiếng không thiếu, lại được vây quanh bởi những lời bợ đỡ, Minh Nhí ngày ấy có lúc ảo tưởng mình là “ông vua”.

Kiếm được nhiều, giữ chẳng bao nhiêu

Tốt nghiệp trường Sân khấu điện ảnh năm 1988, Minh Nhí chỉ mất hai năm để gây dựng tên tuổi của mình.

Giai đoạn 1990-2000 là 10 năm rực rỡ trong sự nghiệp của anh. Không chỉ đi diễn, Minh Nhí còn vinh dự là người thầy của nhiều học trò tại trường Sân khấu điện ảnh.

Đương nhiên, tiền bạc và hào quang danh vọng cũng không đến với anh dễ dàng như thế, sau khi tốt nghiệp anh cũng phải lăn lộn “trày da tróc vẩy” rất nhiều mới đạt được đến đỉnh cao.

Ngày ấy chỉ có một đài truyền hình duy nhất, còn lại là sân khấu. Nhưng sân khấu lúc này là “đất” của riêng những danh hài lớn, những nghệ sĩ gạo cội chiếm lĩnh. Cho nên cũng không phải đơn giản để một nghệ sĩ mới như Minh Nhí tìm được vị trí trong làng nghệ thuật.

Hỏi “ngày xưa Minh Nhí “oanh liệt” quá phải không”, anh cười nhẹ trả lời: “Oanh liệt” thì cũng không phải nhưng nói chung nghệ sĩ nào cũng có thời của mình. Muốn có chân đứng thì cũng phải nỗ lực rất nhiều.

Minh Nhí - Kỳ 1: Từ "vua vũ trường" đến người cai rượu
Minh Nhí trên sân khấu – Ảnh tư liệu

“Thời của Minh Nhí”, mỗi ngày anh kiếm được mấy cây vàng – số tài sản mà người bình thường có khi mất vài tháng, cả năm mới tích cóp được.

“Hồi đó quay một chập hài nhép miệng được 2 triệu đồng là nửa lượng vàng, có ngày tôi quay 5-6 chập. Hài nhép miệng thời đó cũng nơ rộ như gameshow bây giờ, nhà nhà làm, người người làm nên tôi đắt sô lắm.

Rồi seri Minh Nhí lí lắc làm với Hãng đĩa Việt Nam cũng được 9-10 cuốn. “Ngoài diễn hài, tôi còn tham gia đóng vai phụ, vai hài trong nhiều vở cải lương. Rồi những nghệ sĩ anh em quay video mời tôi tham gia.

Thế là tiền cứ chảy vào túi. Mỗi ngày mình đều làm được bao nhiêu đó tiền, ngày nào cũng thế, nên mình chưa biết tiếc, chưa biết nghĩ là tương lai có thể sẽ không còn được như vậy. Nói chung ngày xưa mình thấy kiếm tiền dễ nên tiêu tiền cũng chẳng nghĩ nhiều”, Minh Nhí nhớ lại.

Anh kể mình cũng mua được nhà, lo lắng cho kinh tế gia đình nhưng “nếu biết quý trọng đồng tiền như bây giờ thì chắc tôi giàu lắm. Bạn bè đứa mua nhà, mua đất, đứa đầu tư, còn mình thì hoang phí, người ta để dành 9-10 phần, mình để dành 1 thôi”.

Thành công đến từ khi tuổi đời còn rất trẻ, cộng thêm tính háo thắng, ham chơi, có phần hồ đồ và ít lo nghĩ về tương lai, Minh Nhí đổ không biết bao nhiêu tiền vào vũ trường cùng những kẻ xu nịnh quanh mình.

Ông vua vũ trường và bài học cay đắng

Minh Nhí - Kỳ 1: Từ "vua vũ trường" đến người cai rượu
Minh Nhí và NSƯT Thanh Thủy – Ảnh: TT Khang

Những vũ trường lớn của Sài Gòn thời đó đều quen mặt nghệ sĩ Minh Nhí. Chân phải bước xuống sân khấu là chân trái anh sắp… tới vũ trường.

“Hồi xưa tôi đi chơi dữ dội lắm. Một đêm đi 2,3 cái vũ trường. Đi tới sáng về nhà ngủ mấy tiếng đồng hồ rồi lại chạy đi quay, đi diễn. Hồi ấy cũng chẳng biết sức ở đâu mà khỏe vậy. Có hôm vũ trường đông nghẹt nhưng người ta vẫn chừa bàn cho mình”, anh kể.

Người ta để bàn cho anh, chỉ một phần vì quý, phần khác là vì tính tình kiểu “ông vua” của anh, kiểu: “Tôi vô mà thấy cái bàn mình thích có người ngồi là tôi đi về liền”.

Nhẵn mặt ở các vũ trường nhưng Minh Nhí lại không uống rượu, chỉ thỉnh thoảng nhấp bia cho vui, còn lại anh ngồi nhâm nhi nước ngọt và… trà nóng.

“Tôi không uống nhưng tôi thích trả tiền. Hễ có ai trong bàn nói hết rượu là tôi chi liền”, anh kể.

Lý giải điều này, anh cho rằng ngày xưa mình thích có nhiều người bên cạnh, “ới” lên một tiếng là biết bao nhiêu bạn bè kéo tới chơi chung. Rồi những lời ngọt ngào, ca ngợi như rót vào tai càng làm người diễn viên trẻ tự mãn về mình.

Những cuộc “chơi tới bến” hoang phí khiến Minh Nhí chong chênh giữa những giá trị thực ảo và để lại cho anh không ít bài học đắt giá.

“Sau này tôi mới nghiệm ra, nhiều người vây quanh tôi hồi ấy thực chất là sợ chứ không phải thương hay nể mình. Khi tôi vấp ngã, chẳng còn mấy ai bên cạnh.

Lúc đầu tôi cũng trách giận nhưng nghĩ lại thấy mình sống với người ta cũng hời hợt lắm. Mình có như thế nào thì người ta mới phản, mới đối đãi với mình bạc bẽo như vậy”, anh nói.

Về sau này, Minh Nhí không uống một giọt rượu nào!

Đón xem Kỳ 2: Những ngày sa cơ lỡ vận

TRỊNH THANH THỦY : Tưởng niệm nhạc sĩ Anh Bằng Người cuối ga khói


nhạc sĩ ANH BẰNG ( 1926-2015)Tôi không biết tình yêu ở một người con trai tuổi mười tám đầu đời cuồng nhiệt như thế nào. Chứ riêng tôi lúc mới mười lăm, trong mắt đã bắt đầu có khói, thì tình yêu tuổi mười tám nếu bị tan vỡ, chắn chắn là một điều kinh khủng lắm. Đã mất tình yêu lại còn cách xa, đứt lìa cuống rốn, nơi chốn đầm đìa tuổi thơ và mật ngọt hoa niên, hẳn ruột gan con người phải buốt đau từng khúc. Tôi nhắc tới sự đau lòng này, chẳng qua vì khi nghe bài hát “Nỗi lòng người đi”, tôi bỗng hình dung được hình ảnh một Anh Bằng trong giòng người chen chúc vo khăn tay, nhầu nước mắt những ngày tản cư thập niên năm tư, năm lăm. Ẩn hiện trong khúc phim đen trắng quay chậm, có dáng chàng thanh niên tay đàn, tay sách, mặt mũi xác xơ, ngơ ngác trông vời tít tắp bóng người con gái mịt mờ xa chân chiều, cuối ga khói.

Tôi được biết nhạc sĩ Anh Bằng từ ngày Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ ở hải ngoại mới thành lập, mà ông là một trong các vị nhạc sĩ  cố vấn lão thành. Tôi thường gọi ông bằng chú với tất cả tấm lòng quí mến như người cha. Tôi chia sẻ vui buồn đời thường và những bài viết của tôi với ông. Ông hay gởi các CD hay DVD của ông cho tôi và những dòng thư an ủi, khích lệ, góp ý về lãnh vực âm nhạc cũng như những trắng đen cuộc đời.

Một lần gặp ông, tôi hỏi ông về cảm nghĩ phút ông rời xa Hà Nội, về khắc chia tay vật vờ ánh mắt người yêu đầu đời ấy, tâm trạng ông ra sao?. Ông chỉ vào tai mình nói “Chú điếc đặc rồi, chẳng nghe được gì” Tôi lại hỏi “Chú còn nhớ bài  “Nỗi lòng người đi”, còn nghe được tiếng đàn không?”  Ông mỉm cười khi nghe tôi hét to. “Chú chỉ nghe được tiếng rè rè thôi”. Tôi không hỏi nữa, vì biết có hỏi cũng không nhận được câu trả lời. Nhìn nụ cười hiền lành của ông, lòng tôi dâng lên chút bùi ngùi nhưng ấm sáng nỗi niềm an lạc. Nụ cười của người đã mút xa Hà Nội hàng mấy mươi năm ấy, vẫn không xoá mờ được tiếng “khóc tơ duyên lìa tan” trong lòng người con trai mười tám Anh Bằng thưở xưa. Ngày người giã từ đêm Hà Nội, ngày gió mùa đông bắc thổi buốt má, khô môi, thông thốc rải lá khô đầy những gờ mái cong hàng phố cổ. Hai mươi mấy năm sau, người thanh niên đó đã ngũ tuần, phủ thêm một nỗi lòng mới, dứt áo ra đi xa lìa đất tổ. Hà Nội giờ là bên này của ký ức, Sài Gòn chỉ còn bên kia của hồi tưởng, tiếng đàn xưa giờ có trỗi,người nhạc sĩ cũng không còn nhận được điệu tình tang thẳm thía mịt mù.

Hơn sáu mươi năm âm nhạc, nhạc sĩ Anh Bằng đã để lại cho chúng ta rất nhiều tác phẩm nổi tiếng trong kho tàng âm nhạc. Tuy nhiên “Nỗi lòng người đi” đã khắc một dấu ấn sâu đậm và làm nên tên tuổi một Anh Bằng ở mãi trong lòng người yêu nhạc. Đối với những người Bắc di cư hầu như không ai không biết bài hát này, vì nó không chỉ là nỗi lòng riêng ông, mà còn là nỗi lòng thắm thiết của bao người đối với mảnh đất thân yêu đã sinh ra và nuôi họ lớn lên. Hà Nội không chỉ là một địa danh mà là một biểu tượng cho cái nôi văn hoá của miền Bắc Việt Nam. Xa Hà Nội là xa trời, xa đất, xa người, xa tất cả, là để lại phân nửa hình hài thân thể của chính mình.

Nỗi Lòng Người Đi/Sĩ Phú(trước 75)

https://www.youtube.com/watch?v=2SIyP_QRMmE

Không biết từ bao giờ người ta ví von cuộc đời người nghệ sĩ như kiếp con tằm, “rút ruột, nhả tơ” cho đến chết. Tôi chợt thấy cảm phục người xưa, so sánh sao mà khéo làm vậy. Hình ảnh một con tằm uốn người xoay tròn nhả tơ chung quanh mình để tự giam nhốt chính nó, trông như một vũ công múa cột. Và cứ thế nó múa vũ điệu của tằm, nhả cho đến hết tơ trong bụng mình mới thôi. Hệt như người nghệ sĩ say sưa đi tìm cái hay, cái đẹp để cống hiến cho đời. Họ mải mê sáng tác, tận tụy, vất vả theo đuổi nghiệp nhả tơ cho đến lúc sức tàn, lực kiệt. Nhạc sĩ Anh Bằng cũng vậy, suốt cuộc đời ông, từ khi trưởng thành, bắt đầu sáng tác, đến khi di cư vào Nam, di tản qua Hoa Kỳ, tới lúc nằm xuống, ông chưa từng ngơi nghỉ. Kể cả khi mất đi thính giác là tài sản quí báu nhất của một người soạn và viết nhạc, ông vẫn tiếp tục đắm say trong vũ điệu tơ tằm. ”.

Có nhiều nhạc sĩ đeo đuổi nghiệp sáng tác như một nghiệp dư, Anh Bằng ngược lại. Từ khi vào Nam phục vụ trong ngành chiến tranh tâm lý, ông hoạt động như một nghệ sĩ trong Đại Đội 2 văn nghệ, sáng tác nhạc, kịch. Ông đoạt “Giải văn học nghệ thuật toàn quốc” thời Đệ Nhất Cộng Hoà với vở kịch “Đứa con nuôi” . Sau khi giải ngũ năm 1962, ông hoạt động trong đài truyền thanh VTVN và phụ trách ban Sóng Mới. Ông thường ký nhiều tên khác nhau như Lê Minh Bằng do sự hợp tác với Lê Dinh và Minh Kỳ hay nhiều tên khác như Vũ Chương, Mạc Phong Linh, Mai Thiết Lĩnh, Mai Bích Dung, Dạ Ly Vũ, Dạ Cầm, Giang Minh Sơn, Hoàng Minh, Trần An Thanh, Tây Phố, Trúc Ly, Tôn Nữ Thụy Khương, Phương Trà, Huy Cường,Vương Đức Long v..v…Có lẽ ông thích khoác cho mình bộ áo muôn màu, đủ sắc như sự đa dạng trong tác phẩm của ông.

Ký ức Sài Gòn ngày còn bé của tôi, rất bình dị với cuộc sống trong một xóm nhỏ bình dân bùn lầy nước đọng.  Ngày ấy tôi rất thích ca khúc “Nó” của Lê Minh Bằng, vì khi nghe “Nó” tôi có thể mường tượng ra thằng bé đánh giày hay ngủ trước hiên nhà tôi. “Nó” thường đánh thức tôi bằng những tràng chửi thề liên tục cùng bè bạn hằng đêm. “Nó”, của các em bé tay gầy quắt queo, xoè rộng bàn tay xin tiền ở chợ, đình, chùa, quán ăn, lề đường, góc phố. “Nó” đói lạnh, bị hắt hủi, xua đuổi, bị bọn bất lương đánh đập gây thương tật để gợi lòng thương của khách cho tiền. Ở một tia nhìn mẫn cảm của người nghệ sĩ, “Nó” đã chạm tới một góc khuyết của tâm hồn, một phía khuất của bóng tối xã hội.

Hôm nay tôi bất chợt gặp được ca khúc này trên youtube, qua giọng hát trong vắt của Hương Lan, trên nền nhạc đệm với hai nghệ sĩ kèn điệu nghệ, theo tôi, thật là tuyệt tác.

Qua phần mở đầu, hai giọng kèn đồng trễ nải và mệt mỏi, đột ngột xé nát bầu trời đêm, bằng những thanh âm chói lói mà quấn quyện, đầy u uẩn trên nền nhạc blues trầm đục buồn. Ơi! cái điệu blues âm u ngàn đời thăm thẳm như giọng hát những người da đen cùng khổ nấc lên tiếng lòng mình u uẩn.

Mẹ nó qua đời khi còn tấm nhỏ
Một chén cơm chiều nhưng lòng chưa no
Cuộc sống đói rách bơ vơ
Hỏi ai ai cho nương nhờ
Chuỗi ngày tăm tối vô bờ

Hình ảnh “chuỗi ngày tăm tối vô bờ” qua tiếng trumpet vang lên thật thê thiết, còn giọng kèn saxo xoáy thẳng vào tận cùng đau đớn bằng những nốt treo day dứt. Ca từ bài hát giản dị, chuyên chở vừa đủ nội dung cần diễn đạt đời sống một đứa bé nghèo, thiếu thốn cơ cực. Cấu trúc bài hát “A-A’-B-A” rất phổ biến trong dòng nhạc Việt thời đó. Giai điệu lẫn ý tưởng hoà âm đều theo một motif(nhạc tố) rất đặc trưng của loại nhạc này. Tuy nhiên, giọng hát trong vắt của Hương Lan trên nền nhạc đệm u trầm với hai nghệ sĩ kèn điệu nghệ đã tạo được sự tương phản trong âm thanh. Hơn nữa những đoạn phối hợp bè bối quá chuẩn và quá hay của hai giọng kèn Trumpet và Saxo, thật nhịp nhàng đã đưa bài hát lên đến cao điểm tuyệt tác của nó.

Nó/ Hương Lan(trước 75)

https://www.youtube.com/watch?v=n98W0I8bPb4

Ngày còn trong nước, tuổi thơ của tôi lớn lên bằng tiếng ru vọng cổ của cô người làm, tiếng ư ử xuyên vách “Hai mùa mưa” của chị bán chè đậu kế bên nhà, mỗi lúc chị đi tắm. Chị tâm sự với tôi, chị ghiền nghe Trang Mỹ Dung nức nở bài này lắm.

Sau này lớn lên, tôi cũng đồng ý với chị không ai ăn đứt được tiếng hát TMD khi trình bày bài này. Giọng hát trầm trầm ấy, nhỏ từng hạt tinh thể nước mắt vào lòng người, tưới tẳm cho những cuộc tình tan vỡ, trổ đầy trái đắng nhân sinh. Sáng tác “Hai mùa mưa” của Lê Minh Bằng đến với tôi từ đó. Thêm một lý do nữa, tôi may mắn được quen nhỏ bạn cùng trường là em gái Trang Mỹ Dung, khiến “Hai mùa mưa” đi vào trí nhớ tôi như một ký ức ấm vui. Có lần tôi ghé căn nhà nhỏ bạn trong một ngõ hẻm ở Phú Nhuận. Tôi không được may mắn gặp chị Dung, vì chị vắng nhà. Tôi chỉ được thấy TMD qua tấm hình đen trắng, chụp người thiếu nữ có nụ cười buồn mênh mông giữa tường vôi trắng.

Hai Mùa Mưa/Trang Mỹ Dung(trước 75)

https://archive.org/details/tienghattrangmydungtruoc1975

Phải nói là tác phẩm ông viết rất đa dạng, đủ mọi thể loại, cũng như thể điệu. Có một dạo tôi rất thích điệu Tango và say đắm tiếng hát Khánh Ly trong bài hát “Người thợ săn và đàn chim nhỏ”. Ca khúc này được ký tên Vương Đức Long, cũng là tên của nhóm Lê Minh Bằng, ca từ do Anh Bằng viết.  Nhạc sĩ Lê Dinh kể: “Nhằm nói lên việc đối xử không mấy tốt đẹp – đôi khi hơi tàn bạo – của một vài cảnh sát viên, tuy nói là bạn dân, nhưng thường hay có thái độ hằn học, không đẹp với dân chúng, đặc biệt là người xử dụng công lộ và nhất là những phụ nữ mua gánh bán bưng… Trong óc tưởng tuợng của anh – người cảnh sát không phải là bạn dân – khi có cây súng trên tay, như người thợ săn và hà hiếp dân chúng mà anh so sánh như đàn chim, để rồi anh viết lời ca:

Một người thợ săn âm thầm mang súng lang thang vào rừng
Còn một bầy chim vô tình vẫn hót líu lo đùa chơi
Nào ngờ thợ săn đang cầm cây súng bắn lên cành cây
Chim chết chim lạc bầy…”

Riêng tôi và đa số người nghe không biết nghĩa bóng và câu chuyện liên hệ nhưng mỗi khi hát đến câu “Rồi người thợ săn âm thầm mang súng mang chim trở về, lề đường bầy chim không thù không oán, hót cho người nghe” lại thấy rưng rưng thương cảm đàn chim vô tội bị thảm sát. Ranh giới tử sinh, thiện ác, giữa cái chết của sinh vật này là cái sống còn của sinh vật kia vẫn là bài toán đố mơ hồ và tàn nhẫn chỉ có thượng đế mới có cơ may giải được. Tôi cảm nhận được nét nhân bản trong nhạc Anh Bằng như một đoá mai từ bi.

Người thợ săn và đàn chim nhỏ/Khánh Ly

https://www.youtube.com/watch?v=NqyIutwTSBE

Nhạc trữ tình của Anh Bằng đi sâu vào lòng người qua những ca khúc có nội dung thương thân trách phận, thất tình, cô đơn, buồn khổ hay xa cách. Sống trong thời ly loạn hầu hết những ca khúc của ông thấp thoáng màu áo trận của người lính chiến, của những biệt ly và lên đường như “Căn nhà ngoại ô”, Lẻ Bóng”, “Sầu lẻ bóng”, Đường khuya”  hay “Nếu hai đứa mình”, “Giấc ngủ cô đơn”.. . Ông còn đề cao tình chiến hữu trong “Huynh đệ chi binh” hoặc vui buồn đời quân ngũ “Binh méo, cai tròn” hay hóm hỉnh như “Đánh cờ người”, tếu táo trong “Tập lái vespa” mà ban AVT thường trình diễn.

Lẻ bóng /Thanh Thúy(trước 75)

https://www.youtube.com/watch?v=8tvQnQVsr_8

Nhạc của ông không dừng lại ở tầng lớp những người bình dân mà còn ngưng đọng ở một tầng lớp chọn lọc khác, nhất là ở lãnh vực thơ phổ nhạc.  Có lẽ ông rất thích thú trong dạng này. Có những bài thơ của các thi sĩ nổi tiếng đã được ông phổ nhạc khiến nhiều người mê đảo một thời như các bài “Khúc thuỵ du” của Du tử lê, “Trúc đào” của Nguyễn Tất Nhiên, “Ai bảo em là giai nhân” của Lưu Trọng Lư, “Anh biết em đi chẳng trở về” của Thái Can, “Hoa học trò” của Nhất Tuấn. Khi phổ nhạc các bài thơ, hầu hết, ông thường lấy ý, mượn ý, nhiều lắm là một hai câu và sau đó dùng ca từ riêng của mình kiểu như lối phóng tác mà nhà văn Hoàng Hải Thủy hay dùng trong tác phẩm của mình. Khi dịch lời nhạc ngoại quốc qua Việt cũng vậy, ông tạo một ngôn ngữ riêng mà vẫn giữ ý chính, như trong bài “Tình nồng cháy”, bản Anh Ngữ “Over and over”, do Cornell Haynes Jr, Jayson “KoKo” Bridges & James D. Hargrove song tác.

Tình nồng cháy/Ái Vân và tiếng đàn Vô Thường

https://www.youtube.com/watch?v=8tvQnQVsr_8

Khi di cư qua Hoa Kỳ, ông tiếp tục hoạt động âm nhạc với Trung tâm sản xuất và phát hành băng nhạc cassette Dạ Lan (1981-1990). ông còn cộng tác với Trung tâm Asia. Những nhạc phẩm ông viết sau này nói lên tâm sự, nỗi lòng hoài hương và những hình ảnh sinh hoạt hàng ngày của người con Việt sống lưu vong như “Căn gác lưu đày” , “Nước mắt quê hương”. Xúc động và phẫn khích trước thảm hoạ xâm lăng của Trung quốc, ông hăng say sáng tác những ca khúc tích cực, rực lửa, khơi dậy lòng ái quốc, đấu tranh cho quê hương, dân tộc như  “Phải lên tiếng”, “Cả nước đấu tranh”, “Hãy đứng lên”, “Tuổi trẻ Việt Nam”..v..v..

Phải lên tiếng/Hợp ca

https://www.youtube.com/watch?v=VRpjjWPP4eE

Hôm nay tôi ngồi đây viết lại những dòng tưởng niệm nhạc sĩ Anh Bằng như một nỗi nhớ, niềm thương kính với người cha, người chú hiền từ, đầy lòng nhân ái. Qua ánh nến lung linh tưởng niệm, hình ảnh người thanh niên xa Hà Nội năm nào, bỗng trở lại chấp chới đầy trời trên những khung nhạc chép giấy hoa tiên lượn bay. Bao nhiêu năm trải lòng, bấy nhiêu năm cảm xúc xôn xao góp phần xây dựng cho kim tự tháp âm nhạc Việt Nam, đáy kim tự tháp tượng trưng cho những người có nhạc được quần chúng mến mộ nhiều, cũng có tên Anh Bằng góp phần. Suốt một đời nghệ sĩ phục vụ và quay cuồng trong vòng xoáy quỹ đạo âm nhạc, có nhiều người đã phải quăng bút, gác đàn vào một góc tối nào đó vì nhiều lý do. Anh Bằng thì không, sức sáng tạo vẫn còn lấp lánh đâu đó thúc đẩy người nghệ sĩ, dù thính giác khiếm khuyết, vẫn ngồi xuống đẩy cung, đưa bậc, thơ dân gian, vần lục bát, điệu quan họ, vào làn hơi tân nhạc. Sáng tác mới “Mình ơi, em chẳng cho về” của Anh Bằng như một minh chứng. Tôi thấy được trong nhạc, ánh mắt dịu dàng nàng thiếu nữ Bắc Ninh, nụ tình lúng liếng níu kéo người đi, động lòng kẻ ở. Tôi trộm nghĩ tôi mà có phép màu quay ngược được thời gian, về lại xóm cổ Ba Mươi Sáu Phố Phường xưa, thay cô gái Hà nội của Anh Bằng, bằng mắt tình lúng liếng người con gái Bắc Ninh, ắt hẳn chàng thanh niên mười tám của “Nỗi lòng người đi” chẳng thể nào dứt áo vì câu “Mình ơi, em chẳng cho về” . Và chúng ta hẳn không có cơ hội trong đời được hát đi, hát lại những lời tha thiết cho tình yêu, cho đất cũ “Hà nội ơi, nào biết ra sao bây giờ. Ai đứng trông ai ven bờ, khua nước trong như ngày xưa” .

Trong một câu viết tình cờ tôi đọc được trên một ngôi mộ trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi ngày còn bé, có viết “Chỉ sự quên lãng của người ở lại, mới làm mờ hình bóng kẻ ra đi”. Có lẽ sự ra đi của ông khó mờ phai trong tâm tưởng những người từng quen biết ông, nhất là những người từng hát, từng mến mộ những ca khúc của ông.

Trịnh Thanh Thủy

trinh thanh thủy

Tháng 11, 2015

Người Biên soạn: Phan Anh Dũng : DANH CA MỘC LAN – KHI ÁNH CHIỀU RƠI …


NỮ DANH CA MỘC LAN – KHI ÁNH CHIỀU RƠI … Biên soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail

                    NỮ DANH CA MỘC LAN – KHI ÁNH CHIỀU RƠI … Biên soạn: Phan Anh Dũng

Sáng ngày 11 tháng 5, 2015 nhận được email của Nhạc sĩ Trần Quang Hải (Paris) gởi cho môt số thân hữu với tin buồn là nữ danh ca Mộc Lan vừa qua đời ở Sài Gòn. Email có kèm thư của Bà Tâm Vấn, một bạn thân của Mộc Lan gởi cho Ca sĩ Bạch Yến, cho biết đang đợi cô con gái của Mộc Lan ở Hoa Kỳ về lo tang lễ.

Nhắc đến Mộc Lan, tôi không thể quên giọng hát đặc biệt của Bà, theo tôi, có âm hưởng tương tự như Ca sĩ Kim Tước trong ban tam ca nổi tiếng Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà; và các bài viết về chuyện tình của Mộc Lan với các cố Nhạc sĩ Châu Kỳ, Đoàn Chuẩn và Hoàng Trọng … (qua ngòi bút của Trần Áng Sơn, em ruột của Mộc Lan và nhà báo Hà Đình Nguyên).
                    Từ trái: Kim Tước, Mộc Lan, Châu Hà và Ban Hoàng Trọng 1958
Tôi nghe lại ca khúc Khi Ánh Chiều Rơi” của Tạ Tấn và Trịnh Kính với giọng ca điêu luyện của Mộc Lan, hát 3 bè, có lời giới thiệu mở đầu và tâm tình của cố Nhạc sĩ Hoàng Trọng ở cuối ca khúc về hoàn cảnh bi đát của Mộc Lan sau 1975.
Khi nhận thông báo Mộc Lan qua đời, nhà thơ Hoàng Song Liêm ở Virginia cho biết khi về thăm Việt Nam năm 2010, Ông đã được cô Hàm Anh chở đến thăm viếng Mộc Lan. Trước khi ra về, Ông có chụp một hình kỷ niệm và tặng Bà một số tiền:
  Nhà thơ Hoàng Song Liêm & Ca sĩ Mộc Lan 2010
Năm ngoái, gia đình cố Ca sĩ Quỳnh Giao có gởi cho tôi một tấm ảnh hiếm quý, chụp trước 1975 ở Đài Phát Thanh hay Truyền Hình Sài Gòn. Trong hình này, các ca sĩ Mộc Lan, Như Thủy, Thái Thanh, Hà Thanh, Châu Hà, Mai Hương và Quỳnh Giao đều tươi mát và trẻ trung:
Không khỏi ngậm ngùi khi nghĩ đến thời kỳ vàng son của danh ca Mộc Lan và những khổ đau Bà âm thầm gánh chịu lúc về già. Xin thành kính chia buồn với tang quyến, những người bạn thân của Bà và cầu mong Bà được an bình nơi chốn vĩnh hằng.

Phan Anh Dũng (Richmond, Virginia USA – 18/5/2015)

Tang Lễ Danh Ca Mộc Lan tại Sài Gòn – tháng 5, 2015

Một số ca khúc do danh ca Mộc Lan trình bày 

  Youtube Playlist 1 /   Youtube Playlist 2Jonathan Tran thực hiện

Tiếng hát Mộc Lan30 bản nhạc chọn lọc (mp3)

Anh Sẽ Về – Hoàng Giác                                      Biệt Ly – Doãn Mẫn
Bóng Người Đi – Văn Phụng                                Chiều – Dương Thiệu Tước – Hồ Dzếnh
Chung Thủy – Văn Phụng                                   Chuyển Bến– Đoàn Chuẩn & Từ Linh
Còn Gì Nữa Đâu – Phạm Duy                               Dạ Khúc – Nguyễn Mỹ Ca
Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa – Tô Vũ        Hoài Cảm – Cung Tiến

Hồ Lãng Bạc – Xuân Tùng                                   Khi Ánh Chiều Rơi -Tạ Tấn & Trịnh Kính
Lời Vũ Nữ – Lê Thương                                       Mộng Đẹp Ngày Xanh – Hoàng Trọng
Một Đời Hoa – Đào Duy                                      Mừng Xuân – Hoàng Trọng
Mùa Hoa Thắm – Hoàng Trọng                            Ngày Trở Lại – Thanh Hiếu
Nhớ Nhung – Thẩm Oánh                                    Nhớ Quê Hương – Phạm Ngữ

Phố Buồn – Phạm Duy                                        Ra Đi Một Chiều Mưa – Văn Thủy
Suối Tóc – Văn Phụng                                         Tha Hương – Hoàng Trọng
Thoi Tơ – Đức Quỳnh                                          Thu Ly Hương – Đan Thọ & Nhật Bằng
Tình Nghệ Sĩ – Nhật Bằng                                    Tống Biệt – Phạm Duy; thơ: Tản Đà
Trở Về Huế – Văn Phụng                                     Ước Hẹn Chiều Thu – Dương Thiệu Tước

                  

            Môt số hình ảnh

Mộc Lan hát với Ban hợp xướng và dàn nhạc của Ban Tiếng Tơ Đồng do Nhạc sĩ Hoàng Trọng điều khiển

  Mộc Lan hát ở Đài Phát Thanh Huế

         Chuyện tình nghệ sĩ Mộc Lan Hà Đình Nguyên

Bài 1: Gặp nữ danh ca

Những người am hiểu và gắn bó với nền tân nhạc Việt Nam, hẳn vẫn còn nhớ về một thế hệ nữ ca sĩ cách đây hơn 60 năm. Đó là những giọng ca: Mộc Lan, Tâm Vấn, Châu Hà, Kim Tước… Thời may, tôi được gặp một người trong số họ: danh ca Mộc Lan.

Tiếng tăm của nữ danh ca một thời Mộc Lan thì tôi đã từng nghe biết từ lâu qua những lời truyền tụng và sách báo. Thời hoàng kim của bà đã cách đây hơn nửa thế kỷ nên một kẻ hậu bối như tôi dù rất ao ước cũng khó lòng gặp được, bởi bà đã “mai danh ẩn tích” từ rất lâu… Qua sự giới thiệu của một nhà thơ, được biết nhà văn Trần Áng Sơn (vốn là chỗ quen biết với tôi) chính là em ruột của bà, tôi nhờ anh Sơn dẫn đến thăm bà. Một ngày cận Tết, anh Trần Áng Sơn đưa tôi đi, nhưng dặn nhỏ: “Hạn chế hỏi chuyện đời tư nhé!”. Tôi vâng dạ mà… buồn thiu bởi thú thực tôi đang rất muốn hỏi bà một số chuyện tình cảm liên quan đến các nhạc sĩ Châu Kỳ, Đoàn Chuẩn…, đành gặp trước rồi tính sau.

Dù đã được anh Trần Áng Sơn báo trước nhưng tôi cũng không thể ngờ người đàn bà tài sắc một thời này, nay lại có hoàn cảnh khó khăn như thế. Bà hiện sống – có thể nói là cô độc trong một căn nhà chỉ chừng mười mấy mét vuông ở cuối con hẻm nhỏ trên đường Lê Văn Sỹ (Q.3, TP.HCM). Càng cô độc hơn khi một mình bà phải nuôi nấng, chăm lo cho người con gái trên 50 tuổi bị bệnh tâm thần. Mảnh lưng ong ngà ngọc một thời nay đã còng xuống, trí nhớ có phần mai một nhưng vẻ xuân sắc ngày ấy vẫn chưa phai nét trên khuôn mặt mà mái tóc đã gội tuyết sương… Bà khoe: “Tôi mới vừa nói chuyện qua điện thoại với nhạc sĩ Trịnh Văn Ngân ở bên Mỹ gọi về (nhạc sĩ Trịnh Văn Ngân là tác giả các ca khúc Buồn thu, Đường tơ lưu luyến, Người đưa thư đã đi qua…). Bây giờ buồn lắm, bạn bè chỉ còn dăm người, ai nhớ đến mình, gọi điện hỏi thăm hay gửi cho chút quà là mừng lắm, cảm động lắm… Châu Hà, Kim Tước đang ở nước ngoài, chỉ có Tâm Vấn thỉnh thoảng có ghé thăm. Tất cả đều già yếu rồi nên chẳng ai trách ai…”.

* Cô đi hát từ bao giờ và bài hát đầu tiên cô biểu diễn trước công chúng là bài nào?

– Tôi tên thật là Phạm Thị Ngà, sinh năm 1931, tuổi Mùi. Đi hát từ thời 14 – 15 tuổi ở Đài Pháp Á. Nghệ danh Mộc Lan do nhạc sĩ Lê Thương đặt cho tôi. Bài hát đầu tiên thì không nhớ nổi nhưng tôi nổi tiếng với bài hát Em đi chùa Hương (thơ Nguyễn Nhược Pháp, nhạc Trần Văn Khê). Ông Khê viết bài này rất kỳ công, có xen kẽ những đoạn vừa nói vừa diễn tả rồi lại hát, cho nên bài hát rất dài và rất kén người hát. Tôi may mắn được coi là người đầu tiên thể hiện thành công bài hát này… Nghe nói ông Khê về nước mấy năm nay rồi, lẽ ra tôi phải đến thăm ông vì cái ơn hồi đó ông uốn nắn cho giọng hát của tôi từng chút một, nhưng giờ cả hai đều già yếu. Tôi nhớ dạo ông ấy còn ở bên Tây, tôi đã từng về quê của ông ấy ở xã Vĩnh Kim (Cái Bè, Mỹ Tho) hát. Mới đó mà đã hơn 50 năm rồi…

Nhạc sĩ Trần Văn Khê thời trẻ

* Ngoài Em đi chùa Hương, cô còn hát thành công những ca khúc nào nữa?

– Nhiều lắm. Tiếng thời gian, Hình ảnh một buổi chiều (Lâm Tuyền), Gởi gió cho mây ngàn bay, Chuyển bến (Đoàn Chuẩn), Thoi tơ (Đức Quỳnh), Nhớ nhung (Thẩm Oánh), Phố buồn (Phạm Duy)… Sau này, tôi hát trong ban Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng. Lúc đó, Hoàng Trọng được mệnh danh là “Vua Tango” nên những bài tango của Hoàng Trọng đều do tôi hát đầu tiên…

* Hiện cô còn giữ băng đĩa nào ghi âm những bài hát này không?

– Hồi xưa, tôi ghi âm nhiều lắm. Thu vào đĩa 45 vòng, vào băng Magne, Akai… nhưng rồi mấy lần dọn nhà đâm ra thất lạc, cái nào giữ được thì ẩm mốc, hư hỏng hết… Có mấy người bạn ở nước ngoài gửi cho vài đĩa nhạc nhưng nhà chẳng có máy mà nghe nên cũng chỉ để đó.

*Nhiều người cho rằng bài hát Gởi người em gái là của Đoàn Chuẩn viết riêng cho Mộc Lan. Điều này đúng không?

– (cười…). (Anh Trần Áng Sơn gật đầu xác nhận: “Đã có rất nhiều tài liệu cho rằng nhân vật nữ trong Gởi người em gái của Đoàn Chuẩn chính là chị Mộc Lan”)… Thực ra thế này, dạo đó tôi ở trong Nam, còn ông Đoàn Chuẩn ở ngoài Bắc, ông ấy sáng tác và gửi bài hát vào Nam cho các ca sĩ, không cứ gì gửi cho riêng tôi. Tôi vào Nam từ rất sớm do ông anh tên là Long dắt vào. Mấy năm sau, khi tôi chung sống với ông Châu Kỳ ở Huế thì tôi đón Trần Áng Sơn vào ở chung (1952).

* Cô nhận xét thế nào về nhạc sĩ Châu Kỳ?

– Ông ấy rất hiền lành, đã hứa làm cái gì thì làm tới nơi. Riêng với phong trào âm nhạc thì ông ấy rất nhiệt tình. Sống có tình cảm nên bạn bè rất quý. Có điều nhậu vô là nói lèm bèm. Tính tôi nghe nhiều không chịu được, bực lắm! Mình đi hát thì phải tiếp xúc với nhiều người mà ông ấy lại quá ghen…

* Nhạc sĩ Châu Kỳ mất, cô có biết tin không?

– (ứa nước mắt)… Trước đó ít lâu, tôi có việc đi ngang Hội quán Nghệ sĩ trên đường Trần Quốc Thảo (Q.3), thấy Châu Kỳ ngồi phía bên ngoài. Thấy tôi, Châu Kỳ ngoắc lia lịa: “Bà vào đây chút đã!”. Tôi xua tay: “Tôi mắc công chuyện phải đi gấp!”… Ít lâu sau nghe tin ông ấy mất. Tâm Vấn và Thanh Nhạn gọi điện thoại bảo tôi nên đến viếng ông ấy một chút nhưng tôi bệnh quá không đi được. Để chừng nào tôi khỏe khỏe một chút, tôi với Tâm Vấn sẽ đến thắp cho ông ấy một nén hương…

…Chia tay người của một thời mà lòng tôi nặng trĩu. Nhan sắc ấy, giọng ca ấy từng khuấy đảo sân khấu ca nhạc cả trong Nam lẫn ngoài Bắc. Kẻ đưa người đón dập dìu mà nay vò võ còng lưng trong căn nhà chật hẹp. Có tâm sự cũng chẳng biết sẻ chia với ai bởi bên cạnh bà giờ chỉ còn người con gái ngờ nghệch, khật khùng… Anh Trần Áng Sơn bảo thậm chí đến cơm nước bà cũng không thể tự nấu, phải đặt cơm tháng, người ta mang đến nhà cho mẹ con bà… Buồn ghê!

 Bài 2: Hương sắc 60 năm trước

Khi biết tôi có ý định viết về nữ ca sĩ một thời vang bóng Mộc Lan, nhà văn Trần Áng Sơn không nói gì nhưng trao cho tôi bộ “Những trang sách khép mở” (3 tập). Để bạn đọc hình dung được một Mộc Lan hương sắc của 60 năm về trước, xin trích từ những trang viết của Trần Áng Sơn:

“Khi tôi chưa đầy một tuổi thì mất cha. Mẹ tôi, người đàn bà chân quê không đủ sức nuôi dưỡng, dạy bảo 8 đứa con đang sức ăn sức lớn. Tình cảnh gia đình thật bi đát, 8 anh chị em tôi ở trong tình trạng xẻ nghé tan đàn bất cứ lúc nào… Cuối cùng người lãnh trách nhiệm hy sinh để cứu những đứa em còn quá nhỏ dại là anh hai tôi – anh Long. Anh phải từ bỏ trường học, từ bỏ võ đài – nơi anh ấy đang nổi lên như một võ sĩ quyền Anh trẻ tuổi đầy hứa hẹn. Anh dắt theo hai chị tôi: chị Ngọc, chị Ngà từ Hải Phòng vào Sài Gòn tha phương cầu thực. Cảnh chia ly ấy diễn ra khi tôi vẫn còn là một đứa trẻ lẫm chẫm tập đi. Tôi lớn dần lên trong cơ cực, trong đạn bom Thế chiến thứ hai, và khi tiếng súng toàn quốc kháng chiến nổi lên cũng là lúc gia đình tôi hoàn toàn bị đứt liên lạc với các anh chị tôi ở Sài Gòn…

Ngày các anh chị rời xa gia đình, tôi còn quá nhỏ nên không hình dung được họ ra sao, nhưng qua lời mẹ tôi kể lại thì các anh chị tôi đều rất đẹp: anh Long cao lớn, đẹp như thầy chúng tôi. Còn chị Ngà (sau này là nữ danh ca Mộc Lan – PV) đẹp như tranh vẽ, mẹ kể da của chị trắng như trứng gà bóc, răng đều tựa như hạt cườm, tay cứ như tay tiên. Tóm lại trong 5 chị gái, chị Ngà tôi đẹp nhất. Tôi giữ hình ảnh đẹp như tranh vẽ của người chị trong tâm hồn như một niềm kiêu hãnh…

Một hôm vừa đi học về, tôi ngạc nhiên thấy nhà có khách – một người phụ nữ sang trọng, rất đẹp, cái đẹp sắc như dao cau. Tôi ngỡ ngàng ngộ nhận đó là chị Ngà tôi ở Sài Gòn mới về. Nhưng không phải, người ấy là chị Thanh, chị dâu tôi – vợ anh Long. Đúng là chị về từ Sài Gòn để tìm lại gia đình sau hơn 10 năm thất lạc. Mẹ tôi rất mừng, cơn ác mộng những đứa con thất lạc trong chiến tranh không còn phủ cái bóng ảm đạm lên gia đình tôi nữa. Mẹ tôi còn cho biết chị Ngà tôi bây giờ đã trở thành ca sĩ nổi tiếng khắp Bắc – Trung – Nam. Chị ấy đang lưu diễn ở Hà Nội theo lời mời của Đài phát thanh Hà Nội cùng với nữ ca sĩ số một của Hà Nội bấy giờ là Minh Đỗ. Tin này đối với tôi thật bất ngờ. Thời thơ ấu khổ cực nhưng tôi luôn giữ hình ảnh người chị đẹp như tranh trong ký ức, chị ấy đã phải rời xa tổ ấm để chia bớt phần ăn cho những đứa em. Thế mà cô gái nghèo ấy sau hơn 10 năm xẻ nghé tan đàn đã trở thành ca sĩ danh tiếng. Tuy chưa biết khi hát chị tôi lấy nghệ danh là gì nhưng tôi tin chắc cái tên phải xứng với sắc đẹp và giọng hát của chị ấy. Vào thời điểm này (1952), tôi sắp bước sang tuổi mười lăm…

Sau chuyến lưu diễn ở Hà Nội, chị Ngà tôi và anh Long về Hải Phòng thăm mẹ và các em sau hơn 10 năm đứt liên lạc. Đúng như mẹ tôi nói, chị tôi đẹp thật, đẹp hơn cả lời miêu tả với tất cả niềm âu yếm của mẹ tôi. Các anh chị tôi nhìn thấy cảnh mẹ và các em sống quá cơ cực đã đi đến quyết định làm thay đổi cuộc đời tôi. Cuối năm 1952, các anh chị tôi về thăm mẹ lần thứ hai và chuyến bay của hãng Air France cất cánh từ sân bay Gia Lâm đến Huế có tôi bay cùng…

Nhà thơ Trần Áng Sơn

Những ngày đầu ở Huế, tôi sống chung với chị và anh rể – đôi vợ chồng ca nhạc sĩ Mộc Lan – Châu Kỳ trong một căn phòng nhỏ phía sau Ty Thông tin Huế dưới chân cầu Tràng Tiền. Căn phòng quá nhỏ cho một đôi uyên ương quá nổi tiếng ở đất Thần Kinh. Tôi cứ ngỡ đẹp và hát hay như chị tôi thì phải ở trong lâu đài khuê các. Vậy mà thực tế lại như thế này ư? Nó khác xa với hình ảnh rực rỡ của chị tôi khi đứng trên sân khấu cất tiếng hát họa mi làm say mê biết bao tâm hồn mơ mộng, đa tình, trong đó có cả tôi. Tiếng hát của chị tôi nâng tâm hồn tôi bay theo cánh diều căng gió trên bầu trời xanh ngắt…

Anh rể tôi – nhạc sĩ Châu Kỳ khá đẹp trai, giỏi nhạc hát hay, không cao lớn nhưng đứng trên sân khấu không đến nỗi bị khuất lấp bởi sự rực rỡ của chị tôi. Giọng hát của anh chị tôi là một sự tô điểm cho nhau, khi họ song ca, cảnh vật trở nên tưng bừng, lòng người rộn rã. Mặc dù lúc đó ở Huế có cặp song ca nổi tiếng Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết nhưng họ thuộc về một lớp khán giả riêng biệt, khác hẳn với đôi uyên ương Mộc Lan – Châu Kỳ, họ thuộc về mọi lứa tuổi, mọi thành phần nhưng trước hết là giới trẻ bởi sự trẻ trung của mình và cũng vì nghệ thuật ca hát mới mẻ mà họ cống hiến mỗi khi xuất hiện…

Nhạc sĩ Châu Kỳ

Ít lâu sau, anh Long có lệnh gọi nhập ngũ. Anh Châu Kỳ và chị tôi vào Sài Gòn và họ chia tay nhau. Tôi rất buồn vì cuộc chia ly này. Người chị đẹp như tranh của tôi bước chân xuống đời cũng vấp váp như bất kỳ cô gái nào, vì yếu đuối, vì ảo vọng. Thế là Huế để lạc mất con chim họa mi của mình. Liệu có còn ai nhớ đến bản nhạc Đi chơi chùa Hương (thơ Nguyễn Nhược Pháp, Trần Văn Khê phổ nhạc) khi duy nhất thời đó chỉ một ca sĩ hát thành công, đó là chị tôi – Mộc Lan.

Mấy năm sau tôi cũng từ biệt Huế vào Sài Gòn. Tôi lại về sống chung với chị tôi đang trong tình trạng phòng không chiếc bóng. Trên bước đường công danh, chị tôi đã tiến một bước dài. Khác với Thái Thanh, Tâm Vấn, chị tôi bước lên sân khấu như một nữ hoàng. Không sân khấu đại nhạc hội nào vắng bóng chị tôi. Các ban nhạc trên đài phát thanh, các câu lạc bộ, phòng trà, nơi nào cũng muốn có ca sĩ Mộc Lan hiện diện…”.

Bài 3: Giai thoại cuộc tình Đoàn Chuẩn – Mộc Lan

Bấy lâu nay, trong giới nghệ sĩ vẫn lưu truyền có một mối tình thật lãng mạn giữa chàng nhạc sĩ phong lưu Đoàn Chuẩn và nữ ca sĩ lừng danh Mộc Lan. Chuyện tình này mang đậm phong cách hào hoa của “Đoàn công tử”. Thực hư như thế nào chỉ những người trong cuộc mới rõ.

Ở đây chúng tôi xin thuật lại như là một giai thoại. Xuất phát của giai thoại này có lẽ là từ bộ sách Chuyện tình các nhạc sĩ tiền chiến (2 tập) do nhạc sĩ Lê Hoàng Long biên soạn, trong đó có bài viết Gởi gió cho mây ngàn bay(Vũ Thái Hòa hát) nói về cuộc gặp gỡ và lối tỏ tình ly kỳ của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn với ca sĩ Mộc Lan. Nhiều bài viết (trên báo chí, trên mạng internet) và cả những lời kể hầu như đều dựa theo những tình tiết mà nhạc sĩ Lê Hoàng Long đã viết.

Nhạc sĩ Lê Hoàng Long

Người viết bài này cũng đã từng gặp gỡ những người trong cuộc (Lê Hoàng Long, Mộc Lan, Châu Kỳ) chỉ trừ nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (do ông ở ngoài Bắc và nay đã mất). Cuối năm 2002, khi thực hiện bài phỏng vấn tác giả ca khúc Gợi giấc mơ xưa(Vũ Khanh hát) tại tư gia của ông ở đường Cách Mạng Tháng Tám (gần Bệnh viện Thống Nhất – ngã tư Bảy Hiền), nhạc sĩ Lê Hoàng Long có tặng cho người viết bộ “Chuyện tình các nhạc sĩ tiền chiến”, do đó mới “thắc mắc” chuyện tình cảm giữa nữ danh ca sắc nước hương trời Mộc Lan và “Ông hoàng nhạc tình” Đoàn Chuẩn.

Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn

Như ở bài trước chúng tôi đã từng nói đến, nữ ca sĩ Mộc Lan nổi tiếng cả nước với bài hát Đi chơi chùa Hương của nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp. Bài hát này có những đoạn xen kẽ giữa hát và nói thơ cho nên rất dài và kén người hát. Dạo ấy (đầu những năm 1950), bài hát này hầu như chỉ có Mộc Lan độc diễn. Nàng là người gốc Hải Phòng nhưng vào Sài Gòn khá sớm (khoảng cuối thập niên 1940), lập gia đình với ca sĩ kiêm nhạc sĩ Châu Kỳ, rồi về quê chồng ở cố đô Huế sinh sống. Tuy nhiên, thỉnh thoảng nàng vẫn được mời đi lưu diễn, kể cả ra Bắc (sau năm 1954, chia đôi đất nước mới cách ngăn sự đi lại giữa hai miền). Và trong một lần hát Đi chơi chùa Hương ở Nhà hát Lớn (Hà Nội), giọng ca và sắc đẹp của nàng đã khiến một anh chàng đẹp trai, tài hoa và phong lưu bậc nhất thời đó ngây ngất. Chàng chính là nhạc sĩ Đoàn Chuẩn…

Thời ấy ở miền Bắc có những sản vật nổi tiếng được truyền khẩu và trở thành “ca dao, thành ngữ”: “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét” (dưa của làng La, cà của làng Láng, nem do làng Báng gói, tương do làng Bần làm, nước mắm của hãng Vạn Vân, cá rô sống ở Đầm Sét mới là món ngon đích thực). Đoàn Chuẩn chính là con của chủ hãng nước mắm Vạn Vân giàu có nức tiếng ở Hải Phòng. “Cái nết” ăn chơi của Đoàn công tử cũng là đề tài râm ran từ Hải Phòng đến tận Hà Nội (có lẽ chỉ thua bậc tiền bối là công tử Bạc Liêu ở trong Nam mà thôi). Chàng có hai thú đam mê, đó là âm nhạc và… ô tô! Về âm nhạc, ông từng học đàn guitar với nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ và học guitar Hawaii với nhạc sĩ Wiliam Chấn. Sáng tác đầu tay của ông là ca khúc Ánh trăng mùa thu (1947) ký tên Đoàn Chuẩn – Từ Linh (kể cả sau này, tất cả tác phẩm của Đoàn Chuẩn đều ký tên Đoàn Chuẩn – Từ Linh. Nhiều người cho rằng đến nay Từ Linh vẫn là một ẩn số, nhưng theo tìm hiểu của người viết thì Từ Linh tên thật Hà Đình Thâu, vốn là nhiếp ảnh gia và là em ruột một người bạn thân của Đoàn Chuẩn. Người được nhạc sĩ chia sẻ từng bản nhạc khi vừa viết xong cũng như trút hết bầu tâm sự về những bóng hồng đi qua đời mình. Sau 1954, Từ Linh vào Nam và mất năm 1992. Một tình bạn “tri âm, tri kỷ” rất đáng trân trọng. Về ô tô thì vào thời điểm đó ông có đến 6 chiếc, trong đó có chiếc Ford Frégatte (cả Việt Nam chỉ có 2 chiếc của ông và… Thủ hiến Bắc kỳ). Tài tử Ngọc Bảo, người cùng thời với nhạc sĩ đồng thời là giọng hát được coi là hát nhạc Đoàn Chuẩn thành công nhất từng thú nhận: “Tôi là tay ăn chơi có hạng nhất Bắc kỳ nhưng còn thua xa người lịch lãm, hào hoa Đoàn Chuẩn”… Đoàn Chuẩn kết hôn từ rất sớm (năm 1942), vợ ông là cô bạn cùng lớp, cùng 18 tuổi – tên Xuyên, đẹp người đẹp nết, chịu đựng sự hào hoa của chồng cũng như chung thủy chăm sóc ông cho đến cuối đời một cách rất đáng khâm phục…

Trở lại với sự kiện sau khi nghe nữ danh ca Mộc Lan hát Đi chơi chùa Hương ở Nhà hát Lớn (Hà Nội), “Đoàn công tử” quyết tâm chinh phục người đẹp nhưng thời gian nàng lưu lại Hà thành quá ngắn, không đủ thời gian cho công tử “xuất chiêu”. Khi Mộc Lan trở về Sài Gòn thì ít lâu sau chàng cũng đáp máy bay theo vào. Nhưng rồi qua dọ hỏi, chàng lâm vào tình trạng bẽ bàng khi biết được cành lan kia đã có chủ, nàng đã là vợ của nhạc sĩ Châu Kỳ. Tuy thế với cách “chơi ngông công tử”, Đoàn Chuẩn đã đặt một khoản tiền rất lớn cho một tiệm hoa, để mỗi buổi sáng người đẹp sẽ nhận được một bó hoa hồng tươi thắm mà không hề có tên người gửi tặng. Suốt 3 tuần đều đặn như thế, Mộc Lan không khỏi xúc động cũng như rất tò mò muốn biết người tặng hoa “mai danh ẩn tích” kia là ai? Nghĩ hết cách, nàng đành phải nhờ chủ tiệm hoa chuyển tới người ấy một bức thư cảm ơn với những lời lẽ chân thành nhưng cũng có những đoạn đầy ẩn ý. Được sự đồng ý của Đoàn Chuẩn, người chủ tiệm hoa đã tiết lộ tên và địa chỉ của “gã tình si hào hoa” – chính là… “Ông vua slow” Đoàn Chuẩn vang danh khắp nước. Mộc Lan thật bất ngờ và xúc động. Đoàn Chuẩn lại tiếp tục gửi tiền vào để tiệm hoa đều đặn tặng hoa cho nàng trong suốt hai tháng nữa… Rồi một ngày, Mộc Lan nhận được một cánh thư gửi từ phương Bắc. Trong phong bì không phải là những lời tỏ tình yêu thương mà là một bài hát. Khuông nhạc được kẻ bằng tay cẩn thận, ca từ được viết nắn nót trên tờ giấy pơ-luya xanh mỏng tang: “Gởi gió cho mây ngàn bay. Gởi bướm đa tình về hoa. Gởi thêm ánh trăng, màu xanh lá thư về đây với thu trần gian…”. Và dường như Đoàn Chuẩn cũng nhận biết đây là mối tình vô vọng nên lời ca càng trở nên da diết: “Nhưng thôi tiếc mà chi, chim rồi bay, anh rồi đi. Đường trần quên lối cũ, người đời xa cách mãi. Tình trần không hàn gắn thương lòng…”.

Ca sĩ Tâm Vấn

Cũng theo nhạc sĩ Lê Hoàng Long thì nhạc sĩ Đoàn Chuẩn còn viết Gởi người em gái (Tuấn Ngọc hát) tựa cũ: Gởi người em gái miền Nam, tặng riêng cho… ca sĩ Tâm Vấn (bạn thân của Mộc Lan). Người viết đã có may mắn được gặp bà Tâm Vấn trong một cuộc triển lãm tranh ở đường Lê Thánh Tôn (Q.1, TP.HCM), bèn đánh bạo hỏi bà chuyện này. Bà cười xòa: “Không, ông ấy làm bài này là để tặng cho Mộc Lan, bạn tôi”.

 Bài 4: Châu Kỳ – Mộc Lan dìu nhau vào mộng

Nàng là chim họa mi với tiếng hát lảnh lót, chàng là con bướm đa tình gieo rắc giọng hát tiếng đàn và cả những mối tình trên chặng đường lưu diễn…

Những năm đầu thập niên 1950, khởi đầu ở Sài Gòn và sau đó là ở Huế nổi lên một đôi uyên ương rực rỡ trên sân khấu ca nhạc, đó là đôi Châu Kỳ – Mộc Lan.

Người viết có được may mắn là chơi rất thân với nhạc sĩ Châu Kỳ khi ông đã gần… 80 tuổi. Tình bạn vong niên này kéo dài được khoảng 10 năm thì nhạc sĩ mất. Quen nhau bên những ly bia ở Hội quán Văn nghệ (81 Trần Quốc Thảo, Q.3, TP.HCM – gọi tắt là 81 TQT), người viết thuộc rất nhiều những ca khúc của Châu Kỳ và thường hát cho ông nghe (say mới dám hát). Ông ngồi im gật gù, đôi lúc “nhắc tuồng”. Dạo ấy, nhà ông ở tuốt bên Tân Quy Đông (Nhà Bè). Hằng ngày, ông đạp xe hơn 20 km đến 81 TQT chỉ để uống vài ly bia, nhìn mặt bạn bè, người quen cho đỡ nhớ rồi lại đạp xe về nhà. Có lẽ nhờ “hoạt động thể thao” này mà sức khỏe của ông khá dẻo dai, 80 tuổi vẫn còn minh mẫn. Ông cũng lập một “kỷ lục” ngồ ngộ: mất 18 chiếc xe đạp chỉ vì ham vui với bạn bè. Bạn bè sau đó cũng gom góp mua lại chiếc khác cho ông, nhưng ít bữa sau… lại mất! (nên họ nhại bài Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa của ông để trêu: “Mất xe này ta sắm xe kia…”). Đến khi nhà ông chuyển về phường Phước Bình (Q.9) xa đến 50 km ông mới giã từ chiếc xe đạp để chuyển qua đi xe ôm. Dăm bữa lại thấy ông đi xe ôm đến 81 TQT gặp bạn bè…

Châu Kỳ sinh năm 1923 tại làng Dưỡng Mong (Thừa Thiên-Huế). Cha ông là Châu Huy Hà, một nghệ nhân ca Huế. Chị ruột là Châu Thị Minh, được xem là nữ minh tinh duy nhất của miền Trung trong “Ngũ nữ minh tinh” (miền Nam có Phùng Há, Năm Phỉ, miền Trung: Châu Thị Minh, miền Bắc: Ái Liên, Bích Hợp). Ở Lycée Khải Định, Châu Kỳ được học nhạc với sư huynh Pière Thiều – giáo sư âm nhạc đầu tiên ở Huế. Vị này còn dạy cho Châu Kỳ kỹ thuật hát. Dạo đó hầu như chưa có nhạc Việt nên Châu Kỳ thường hát những bài do danh ca Pháp Tino Rossi thể hiện như J’ai deux amours, Tant qu’il aura étoiles, Òu vous étiez… đến nỗi bạn bè gọi ông là “Deuxième Tino Rossi”. Khi người chị Châu Thị Minh lập đoàn ca Huế hiệu Hồng Thu, Châu Kỳ trở thành ca sĩ chính của đoàn và nghiệp cầm ca khoác lên đời ông từ đấy.

Năm 1942, đoàn Hồng Thu lưu diễn ở Savanakhet rồi Thakhet (Lào). Ở Thakhet khi đang diễn vở kịch Hồn lao động thì Châu Kỳ bị mật thám Pháp bắt, đem lên giam ở Ba Vì. Rời nhà giam trở về Huế, Châu Kỳ bàng hoàng nghe tin mẹ mình bị chết đuối trong một cơn lũ. Những buổi chiều bên dòng Hương giang ngổn ngang tâm sự, Châu Kỳ viết nhạc phẩm đầu tay Trở về (1943): “Về đây nhìn mây nước bơ vơ. Về đây nhìn cây lá xác xơ. Về đây tìm bóng chiều mơ. Mong tìm mái tranh chờ. Mong tìm thấy người xưa…”. Nhạc phẩm Trở về đã gây một tiếng vang trong giới tân nhạc lúc đó với âm hưởng buồn man mác, càng nghe càng thấm thía. Từ đó cho đến cuối đời, Châu Kỳ đã viết khoảng 200 nhạc phẩm. Về ca từ, ông đã viết được những câu “xuất thần”, chẳng hạn để tả nét đẹp của cô gái Huế, ông chỉ cần 3 câu: “Buổi trưa em che nón lá, cá sông Hương liếc nhìn ngẩn ngơ, lũ chim quyên ngất ngây từ xa…” (Huế xưa)…

Tài hoa như thế nên Châu Kỳ cũng là khách đa tình. Từ những cô gái Lào gặp trên đường lưu diễn, rồi cô tiểu thư con quan thượng thư triều đình Huế (nhân vật chính trong ca khúc Giọt lệ đài trang) đến cô nữ sinh Đoàn Thị Sum ở Nha Trang đã vì tình mà quyên sinh bởi bị bố dượng ngăn cấm (mối tình này được nhạc sĩ viết thành nhạc phẩm Nha Trang, sau này bà Kha Thị Đàng – vợ ông sửa tựa thành Nha Trang hoài nhớ). Bi kịch này xảy ra khi Châu Kỳ đang đi diễn ở Phan Rang. Nghe tin cô Sum tự tử, Châu Kỳ cũng quyết hủy mình theo, nhưng bà chị Châu Thị Minh khóc lóc, khuyên giải nên Châu Kỳ bỏ vào Sài Gòn (năm 1947) để tìm quên.

Sài Gòn chính là nơi định mệnh đã chọn để tạo nên một hiện tượng của làng ca nhạc thời đó với sự xuất hiện của cặp uyên ương Châu Kỳ – Mộc Lan. Chàng là ca sĩ – nhạc sĩ tài hoa, nàng là con họa mi giọng ca vang khắp Bắc – Trung – Nam. Chính nàng đã cho chàng nếm trải hạnh phúc và cũng chính nàng đã cứa vào tim chàng những vết thương đớn đau tưởng chừng không bao giờ nguôi…

Gần 60 năm sau (tức những năm 2000 – NV), mối tình này được nhạc sĩ Châu Kỳ nhiều lần kể riêng với người viết. Rằng khi vào Sài Gòn, ông ở đậu nhà nhạc sĩ Mạnh Phát. Hai người thành lập nhóm “Thần Kinh nhạc đoàn” (sau này là ban nhạc Tiếng Thùy Dương). Một năm sau, nàng ca sĩ gốc Hải Phòng cũng có mặt tại Sài Gòn. Những ngày “chân ướt, chân ráo” ở Sài thành, nàng được nữ ca sĩ Minh Diệu (vợ nhạc sĩ Mạnh Phát) cưu mang. Vậy là tài tử và giai nhân gặp nhau trong căn nhà của một cặp nghệ sĩ cũng rất ư “tài tử, giai nhân”. Tiếng sét ái tình đến ngay từ cái nhìn đầu tiên. Rồi chàng dắt dìu nàng đi hát ở các rạp Văn Cầm (gần cầu chữ Y), Aristo (đường Lê Lai), Thanh Bình (đường Phạm Ngũ Lão), Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi), Khải Hoàn (đối diện chợ Thái Bình)… Chỉ chưa đầy nửa năm, họ chính thức trở thành vợ chồng. Rồi chàng đưa nàng về Huế ra mắt gia đình. Cả hai vợ chồng sau đó được ông Thái Văn Kiểm – Giám đốc Nha Thông tin và Đài Phát thanh Huế là chỗ thân tình tạo điều kiện cho được hát thường xuyên trên đài với mức lương 3.800 đồng/tháng – một mức lương khá hậu hĩnh vào thời điểm bấy giờ.

Ở Huế, danh tiếng của đôi uyên ương Châu Kỳ – Mộc Lan nhanh chóng nổi như cồn, mặc dù ở đất Thần Kinh lúc đó cũng có một đôi vợ chồng nghệ sĩ nổi tiếng không kém, đó là nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết và ca sĩ Ngọc Cẩm (song thân của ca sĩ Hồng Hạnh bây giờ). Có thể nói đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhưng cũng thật ngắn ngủi – một kỷ niệm đẹp nhưng đau thương của nhạc sĩ Châu Kỳ…

 Bài 5: Khúc ly ca

Chàng là nhạc sĩ tài hoa, nàng là ca sĩ nổi tiếng – định mệnh đã đưa họ đến với nhau, yêu nhau ngay lần gặp đầu tiên.

Rồi họ nên duyên vợ chồng, trở thành đôi uyên ương đẹp đôi và nổi tiếng một thời. Tiếc rằng, họ đã không dìu nhau đi hết con đường nghệ thuật cũng như đường đời, để cho nhạc sĩ Châu Kỳ phải đau đớn viết nên Khúc ly ca…

Như chúng tôi đã đề cập ở bài trước, Châu Kỳ và Mộc Lan gặp nhau ở Sài Gòn qua “nhịp cầu” của cặp vợ chồng nghệ sĩ Mạnh Phát – Minh Diệu. Chỉ ít tháng sau, họ tổ chức lễ cưới và đưa nhau về Huế ra mắt gia đình chồng. Tại Huế, họ được ông Thái Bá Kiểm – Giám đốc Nha Thông tin và Đài Phát thanh Huế nâng đỡ, tạo điều kiện cho họ được biểu diễn thường xuyên trước công chúng cũng như trên sóng phát thanh với mức lương khá hậu hĩ. Tuy nhiên, cái “tổ uyên ương” của họ chỉ là “… một căn phòng nhỏ phía sau Ty Thông tin Huế dưới chân cầu Tràng Tiền. Căn phòng quá nhỏ cho đôi uyên ương quá nổi tiếng ở đất Thần Kinh…” (trích trong Những trang sách khép mở – Trần Áng Sơn). Phải chăng đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho cuộc hôn nhân của họ mau chóng đổ vỡ?

Sinh thời, nhạc sĩ Châu Kỳ đã từng nhiều lần tâm sự với người viết: Chung sống ở Huế được 6 năm thì nàng “phải lòng” và đi lại với một người bạn học cũ của Châu Kỳ – người này là con một bà chúa (hoàng tộc), chủ sòng xóc đĩa ở Kim Long (Huế). Vì chuyện đau lòng này mà Châu Kỳ đành đưa vợ trở vào Sài Gòn để giấu không cho gia đình mình biết và cũng để ngăn trở đôi tình nhân. Tuy nhiên, Châu Kỳ vẫn không ngờ tình địch vẫn bám theo. Ở Sài Gòn, đôi nhân tình vẫn hẹn hò, gặp gỡ nhau… Lời ong tiếng ve râm ran nên Châu Kỳ quyết theo dõi vợ. Ông nhờ nhà thơ Đặng Văn Nhân (người đứng ra tổ chức đám cưới cho Châu Kỳ và nàng) chở đi bằng xe hơi bám theo nàng vào tận Chợ Lớn. Châu Kỳ không đủ can đảm chứng kiến người đã từng cùng mình “hương lửa mặn nồng” nay lại ở trong vòng tay người khác nên nhờ ông Đặng Văn Nhân đi bộ theo dõi, còn mình ngồi lại trong xe. Khi ông Nhân trở ra kể lại sự tình, Châu Kỳ thấy trời đất như sụp đổ, ông tông cửa xe, định đâm đầu xuống sông tự tử, may nhờ có ông Nhân ôm ghì lại. Người viết hỏi: “Rồi ông có gặp lại nàng?”. “Có, nhưng mà cũng lâu lắm rồi. Đó là hôm đám tang nhạc sĩ Lê Thương (1996 – NV), cô ấy đi cùng ca sĩ Tâm Vân đến phúng điếu. Chúng tôi chỉ chào hỏi xã giao. Không nói chuyện gì nhiều. Chuyện cũ cũng đã vời xa quá rồi!”.

Chuyện trên là do đích thân nhạc sĩ kể với người viết. Ông không nói tên tình địch, nhưng trong tập sách Những trang sách khép mở, nhà văn Trần Áng Sơn cũng có đề cập đến nhân vật này. Đó là một người đàn ông tuy lớn tuổi nhưng có ngoại hình rất thu hút, khuôn mặt quyến rũ, được mọi người kính trọng gọi là Mệ Phủ (“mệ” là tước hiệu chỉ người thuộc hoàng tộc). Mệ Phủ là trung úy Ngự lâm quân bảo vệ hoàng cung. “Ông ta thường đến thăm các chị tôi vào những buổi chiều, lúc nào cũng mang quà cáp cho mọi người, nhất là các chị tôi. Ông tự lái chiếc xe jeep hiệu “Lăng-Rô-vơ”, tiếng máy nổ rất êm… Mỗi lần ông đến, chị Ngọc tôi mừng rỡ như muốn reo lên. Cũng dễ hiểu, thường thì quà tặng chị là món quà lớn nhất, đẹp nhất. Sau đó, ông còn lái xe đưa cả nhà khi thì đi nhà hàng, khi xem phim ở rạp Morin, cũng có lúc ông đưa cả nhà đi thăm khắp các di tích, dinh thự các đời vua Nguyễn. Tuy tặng những món quà đắt nhất, đẹp nhất cho chị Ngọc nhưng người ông chú ý lại là cô em Mộc Lan, con họa mi tuyệt sắc của cố đô Huế. Tôi nhận ra điều này vì thời gian gần đây anh Châu Kỳ ít đi chung với chị tôi, nhất là trong những lần có sự hiện diện của vị khách quý tộc… Rồi, anh Châu Kỳ đã công khai phản đối gia đình tôi về sự hiện diện quá ư đặc biệt của Mệ Phủ. Với tư cách gia trưởng, anh Long tôi không chấp nhận thái độ của em rể. Cuộc xung đột đi đến kết quả đổ vỡ. Ít lâu sau, anh Long có lệnh gọi nhập ngũ. Anh Châu Kỳ và chị tôi vào Sài Gòn và họ chia tay nhau” (Những trang sách khép mở – Trần Áng Sơn).

Đây là giai đoạn đầy những đau thương, u uất chất chứa trong nhiều ca khúc của Châu Kỳ: Khúc ly ca (Phương Thanh hát), Từ giã kinh thành, Đàn không tiếng hát, Biệt kinh kỳ, Khuya nay anh đi rồi, Tìm nhau trong kỷ niệm, Hương giang tôi còn chờ, Đừng nói xa nhau, Tiếng ca đó về đâu (thơ Nguyễn Tiến Thịnh) và nhất là ông đặt lời cho ca khúc Mưa rơi (Hà Thanh hát) của anh bạn nhạc sĩ hoàng tộc Ưng Lang, lúc đó ở Huế đi đâu cũng nghe thanh niên hát: “Mưa rơi chiều nay vắng người. Bên thềm gió lơi. Mơ bóng ngàn khơi… Mưa rơi màn đêm xuống rồi. Mây sầu khắp nơi. Thương nhớ đầy vơi… Ai đi như xóa bao lời thề. Thuyền theo nước trôi không về, thấu cùng lòng ai não nề, riêng chốn phòng khuê… Mưa rơi đìu hiu dưới trời. Đêm dài vắng ai. Thương nhớ nào nguôi…”.

Nhạc sĩ Ưng Lang (sinh năm 1919, lớn hơn nhạc sĩ Châu Kỳ 4 tuổi), cũng vốn là chỗ thân thiết với người viết (ông từ trần ngày 17.8.2009 tại TP.HCM). Khi tôi hỏi ông về chuyện nhạc sĩ Châu Kỳ đặt lời cho bài Mưa rơi, ông nói: “Bài hát tôi làm lúc đó đã xong cả nhạc lẫn lời. Thế rồi Mộc Lan xa Châu Kỳ mà đi Hà Nội. Châu Kỳ có tâm sự buồn như vậy cho nên khi thấy bài hát của tôi thì đề nghị cho thay đổi vài chỗ trong lời hát cho gần với cảnh ngộ của mình! Tôi đồng ý để Châu Kỳ sửa vài chỗ như thế và đồng ý để Châu Kỳ đứng tên nơi phần lời ca cho đúng với nguyện vọng về mặt tình cảm riêng tư của anh ấy…”.

Đôi uyên ương rẽ cánh, mỗi người bay đi một ngả kể từ lúc ấy…

Bài 6: Hậu Châu Kỳ – Mộc Lan

Họ đã từng có một thời gian chung sống rồi chia tay… Dòng đời cuốn mỗi người về một phía, ở đó họ lại gặp ý trung nhân của riêng mình sau những trải nghiệm về hạnh phúc lẫn khổ đau.

Khoảng năm 1954, đôi uyên ương Châu Kỳ – Mộc Lan từ Huế vào Sài Gòn thì chia tay nhau. Mộc Lan trở về với nếp sống độc thân. Lúc này Mộc Lan đã rất thăng tiến trong lĩnh vực ca hát, tên tuổi của cô nổi như cồn. Cô thuê một căn phòng ở khách sạn Viễn Đông trên đường Phạm Hồng Thái mà hầu như lúc nào cũng nườm nượp khách ra vô. Khách của Mộc Lan phần đông là người trong giới nghệ thuật: nhạc sĩ, ca sĩ, kịch sĩ, họa sĩ, kịch tác gia… Hầu hết họ đến là để liên hệ công việc nghề nghiệp nhưng cũng có những người tự nguyện đến “trồng cây si” trước người phụ nữ “ngọt ngào như một thỏi sô-cô-la” (chữ dùng của Trần Áng Sơn).

Trong số những người ái mộ này có một “ông vua”. Đó chính là nhạc sĩ Hoàng Trọng – Trưởng ban nhạc Tiếng Tơ Đồng mà Mộc Lan đang là ca sĩ chính. Kể cũng lạ, số phận đưa đẩy để Mộc Lan luôn là đối tượng say mê của những ông vua, ông hoàng… không ngai. Hết nhạc sĩ Đoàn Chuẩn “ông hoàng slow” lại đến nhạc sĩ Hoàng Trọng “vua tango” (chưa kể nhạc sĩ Châu Kỳ cũng xứng đáng được gọi là “vua nhạc trữ tình”). Họ được giới mộ điệu xưng tụng và thừa nhận là “vua” của một thể loại âm nhạc nào đó, rồi nghiễm nhiên “lên ngôi” mà không một ai tranh chấp. Hoàng Trọng có nhiều ca khúc nổi tiếng như Gió mùa xuân tới, Dừng bước giang hồ, Ngàn thu áo tím…, nhưng những bài hát viết theo điệu tango mới được coi là “thương hiệu” của ông (Mộng lành, Mộng ban đầu…). Nhà văn Trần Áng Sơn nói về Hoàng Trọng như sau: “Trong con mắt tôi, anh không phải là mẫu người phụ nữ thích. Người tầm thước nhưng hơi nặng nề, nước da ngăm bì bì, gương mặt không có cá tính. Tuy nhiên, tính anh lại rất hiền, củ mỉ cù mì, ít nói, thuộc loại tán gái bằng cách ngồi lì, chẳng nói và có lẽ cũng chẳng liếc mắt đưa tình. Anh rất thường đến thăm chị tôi, mỗi lần anh đến, anh ngồi một đống. Đến âm thầm khi về cũng lặng lẽ. Lối tán này hình như làm chị tôi… hết chịu nổi! Có vẻ như anh không phải là kẻ đi chinh phục, lại không biết gì về tâm lý phụ nữ và thế là anh bị “knock-out” ngay ngưỡng cửa nhà tôi” (Những trang sách khép mở).

  Nhạc sĩ Hoàng Trọng

Điều đáng nói là Châu Kỳ và Hoàng Trọng có một tình bạn thâm giao. Họ từng đứng tên chung trong vài tác phẩm (nhạc Hoàng Trọng, lời Châu Kỳ) như: Nhắn người giang hồ, Tiếng nhạc trong sương, Hững hờ (bài Hững hờ chính là món quà tỏ tình của Châu Kỳ với người vợ sau của ông).

Riêng về Châu Kỳ, sau khi chia tay Mộc Lan, ông sống u uất một thời gian dài. Rồi số phận run rủi cho ông gặp cô nữ sinh Kha Thị Đàng ở nhà một người bạn. 18 tuổi, cô hoa khôi của trường Nữ trung học Gia Long đẹp e ấp như một đóa hoa hàm tiếu (liệt sĩ Kha Vạng Cân là con ông bác ruột, nhưng do cha mất sớm nên được thân phụ Kha Thị Đàng đem về nuôi, sau tham gia cách mạng). Trong hồi ký Thi Đàng Kỳ Duyên, bà Kha Thị Đàng (nay đã 73 tuổi) nhớ lại: “Có vài lần tôi gặp anh Châu Kỳ tại nhà Hương (bạn cùng lớp), anh được ba má và anh Triệu (anh của Hương) rất quý trọng. Riêng tôi cũng chào hỏi dăm ba câu chuyện nhỏ, dửng dưng và vô tư. Rồi một ngày định mệnh đã đến, anh tìm gặp riêng tôi và tặng tôi bài nhạc Hững hờ do anh mới sáng tác (thực ra là sáng tác chung của Hoàng Trọng và Châu Kỳ), với lời tặng “Trách ai khéo hững hờ…”. Sự xúc cảm đột ngột của đứa con gái mười tám tuổi đời như một sức mạnh an bài số phận cho tôi sau này. Tôi biết gia đình, tía má, anh chị đều không vui với tình duyên của chúng tôi nhưng với tình thương con, thương em, dù rất miễn cưỡng cũng có một tiệc cưới nhỏ trong gia đình và giúp chúng tôi tổ chức một tiệc cưới khá linh đình với hơn một trăm khách tại nhà hàng lớn ở đường Tản Đà. Bạn bè, khách yêu nhạc cùng tất cả nghệ sĩ tân nhạc và cả nghệ sĩ cải lương của thành phố đều có mặt. Đây là một đám cưới nghệ sĩ được tổ chức trong tình thương mến thương…”.

Là con gái một gia đình vọng tộc họ Kha, tổ tiên gắn bó với vùng đất Sài Gòn – Chợ Lớn từ thời khai hoang mở cõi, truyền thống gia đình thấm nhuần đạo lý Khổng Mạnh cho nên việc cô nữ sinh 18 tuổi yêu và quyết định lấy một anh chàng nghệ sĩ lớn tuổi, dở dang một đời vợ quả là một quyết định quá khó khăn với cô. Sau khi cưới, cô Đàng phải thích nghi với kiểu sống “lang bạt kỳ hồ” của đời nghệ sĩ: ăn cơm quán, ngủ nhà mướn. Sáng ngủ, trưa ăn sáng, chiều ăn trưa, tối đi hát, khuya ăn chiều. Thời gian này, Châu Kỳ vừa viết nhạc, vừa làm ca sĩ, rồi viết kịch kiêm luôn diễn viên. Rất nhiều nơi mời ông đến hát, nhất là các rạp chiếu bóng (dạo đó, trước khi chiếu phim, người ta thường tổ chức chương trình phụ diễn văn nghệ: hát vài bài tân nhạc hoặc diễn một vở kịch ngắn). Rồi Châu Kỳ thành lập đoàn Cổ kim hòa điệu Tiếng Thùy Dương. Có thể nói trên sân khấu Sài Gòn, Châu Kỳ là người đầu tiên đem các nhạc cụ cổ truyền như đàn tranh, đàn bầu, đàn cò, đàn nguyệt hòa tấu cùng guitar, piano, violon… Người giới thiệu chương trình (bây giờ gọi là MC) cho Tiếng Thùy Dương chính là Kha Thị Đàng, cô luôn xuất hiện trong trang phục toàn trắng: bộ áo dài lụa trắng, tay mang găng trắng, đi giày trắng… hết sức duyên dáng.

Khi Châu Kỳ bước vào thời kỳ đỉnh cao cũng là lúc ông lao vào những cuộc rượu thâu đêm suốt sáng với bạn bè và những người đẹp. Lúc đó, bà Kha Thị Đàng như sống ẩn mình, không thường xuất hiện bên ông nữa, cũng “không thèm” ghen với những bóng hồng luôn vây quanh ông. Để không bị mang tiếng là sống nhờ vào danh tiếng, tiền bạc của chồng, bà xin vào làm kế toán trong nhà máy giấy Tân Mai (Cogivina – Biên Hòa, nay thuộc tỉnh Đồng Nai)… Nhạc sĩ Châu Kỳ tuy đang “hư” như vậy nhưng vẫn có những điểm dễ thương: mỗi đêm dù về khuya đến mấy ông cũng vẫn mang về một món ngon cho vợ con. 6 giờ sáng ông chở vợ ra trạm đợi xe đến rước bà đi làm, 4 giờ rưỡi chiều lại có mặt tại trạm đón bà về hoặc chở vợ ra xa lộ hóng mát…

Những xa hoa, phù phiếm cũng tan sau ngày 30.4.1975, bà Kha Thị Đàng lại phải vừa nuôi 4 đứa con (3 trai, 1 gái) vừa “chăm sóc” chồng. Khi những khó khăn của cuộc sống qua đi thì ông bà cũng đã ở vào ngưỡng xế chiều, người viết vui mừng khi thấy họ luôn tay trong tay một cách hạnh phúc. Ông vẫn minh mẫn sáng tác cho đến cuối đời… Ông nằm liệt giường gần 2 tháng, khi người viết cùng ông Nguyễn Tiến Toàn (chủ doanh nghiệp xe lăn tay Kiến Tường) đến thăm, ông còn bảo bà mua bia về đãi khách… 6 giờ sáng ngày 6.1.2008, người viết đang leo đến lưng chừng núi Bà Rá (khi đi ghi nhận giải việt dã Chinh phục đỉnh cao Bà Rá) thì nhận được điện thoại của bà Kha Thị Đàng: “Nguyên ơi, anh Kỳ đã ra đi lúc 4 giờ sáng nay rồi!”. Tôi ngồi sụp xuống, không thể leo núi được nữa…

Hà Đình Nguyên

Nữ Danh Ca Mộc Lan, tiếng hát “Em đi Chùa Hương, Gái Xuân” đã vào cõi vĩnh hằng

              Ảnh chụp ca sĩ Mộc Lan và Trần Quốc Bảo tại nơi cô ở ngày mùng 6 Tết âm lịch năm 1996

Người viết gặp cô Mộc Lan lần đầu cũng là lần duy nhất, hình như đó là ngày mùng 6 Tết âm lịch của năm 1996. Chẳng nhớ ai đã chở đi nhưng sau nhiều lần tìm kiếm, hỏi han, tôi đã tìm được căn nhà cô ở cuối một con hẻm nhỏ đường Lê Văn Sỹ quận 3. Nơi người nữ danh ca này trú ẩn, chỉ có thể gọi là cái chái nhà, không thể nào đủ cho mấy mẹ con chui ra rúc vào thoải mái. Lúc ấy cô Mộc Lan còn phải săn sóc cho một cô con gái khoảng ba mươi mấy tuổi hình như đang bị bệnh tâm thần, vậy mà cô đã sống như thế – không một lời than van hay ta thán – suốt mấy chục năm trời trong cảnh bịnh tật và nghèo khổ.
Khoảng 5g sáng thứ hai ngày 11 tháng 5 tuần này (giờ Cali), người viết nhận được một lá thư email của nữ ca sĩ Bạch Yến gửi đến báo tin:
“EmTrần Quốc Bảo thân mến,
Chị vừa nhận được tin chị Tâm Vấn từ VN báo: “Chị đau buồn báo tin chị Mộc Lan đã mất sáng nay lúc 8g 30 ngày 11/5/2015, tin này do con gái của chị Mộc Lan ở Mỹ gửi về Sài Gòn cho chị biết. Ở đây đang chờ con chị Mộc Lan từ Mỹ về mới lo đám tang. Em nhận tin này, em cho ngay Thu Hương biết giùm chị. Chị đã thông báo nhiều nơi rồi. Nhớ hôm nào hai chị em mình đi thăm Mộc Lan còn hát vui vẻ”..”

Chỉ cần đọc đến đó, tôi cảm thấy một nỗi bàng hoàng lan tỏa tứ thân và có cảm giác mình không thể nào còn ngồi trên bàn viết được nữa. Nằm xuống giường chỉ được vài phút, tôi lại nhớ đến buổi tao ngộ lần đầu với cô Mộc Lan trong cái chái nhà bé nhỏ ở cái hẻm Lê Văn Sỹ hồi 19 năm xưa..Lúc đó phố xá ngoài kia đón Tết xôn xao, nhưng trong căn nhà của một danh ca lừng lẫy một thời, chỉ có những tiếng thở dài chứa biết bao niềm u uất. Tôi ngồi đối diện với cô, có lúc hình như Mộc Lan cố nhắm chặt đôi mắt như muốn ngăn giòng lệ tuôn trào. Dáng nàng bất động như một pho tượng đá đang hứng chịu những ngọn roi nghiệt ngã của thời gian và định mạng.
Tôi nhớ mình trước khi ra về, có hỏi cô Mộc Lan một câu hỏi chót: “Có khi nào cô nhớ đến ánh đèn sân khấu”, lúc ấy,cô mới thật sự bật khóc và nói: “Tất cả cực khổ tôi đều chịu đựng được, chỉ có nỗi nhục mới làm đau tôi.. Bạn bè, thân hữu ở hải ngoại có nhiều nhưng tôi không muốn làm phiền ai vì lòng tự trọng”..
Lời nói ngậm ngùi đó, đã làm người viết nhớ đến một câu nói của thi hào Tô Đông Pha: “Cố nhân các tại thiên nhất giác.Tương vọng lạc lạc như thần tinh”.. Bạn bè tản mác chia xa,mỗi người một nơi, nhìn quanh rải rác như sao ban mai.. Đêm mưa vắng lạnh, nỗi sầu vô hạn, nghẹn ngào biết khóc cho ai..
19 năm đã trôi qua, nhưng lời nói của cô Mộc Lan khi tiễn chân tôi ra cửa, vẫn còn ghi đậm trong lòng tôi mãi. Những ngày sắp tới, để tưởng nhớ về Mộc Lan, một tài năng đầy kính trọng, Thế Giới Nghệ Sĩ sẽ thực hiện một số báo hoài niệm về giọng ca tuyệt vời này. Mời bạn đọc đón xem.

(trích bài viết của Trần Quốc Bảo đăng trong tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 14 (trong báo Việt Tide) phát hành ngày thứ sáu 15 tháng 5 năm 2015)

Tài liệu từ Nhạc sĩ Trần Quang Hải, Nhà báo Hà Đình Nguyên, MC/Nhà báo Trần Quốc Bảo (Tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ). Phần lớn nhạc từ Jonathan Tran và website http://music.hatnang.com 

  ** VUI LÒNG GỞI THÊM TÀI LIỆU VÀ Ý KIẾN XÂY DỰNG VỀ PHAN ANH DŨNG: dathphan1@gmail.com **

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1240&Itemid=47