Category Archives: TIỂU SỬ NHẠC SĨ

WIKIPEDIA: Hoàng Giác (1924 – 2017)


Hoàng Giác

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hoàng Giác
Hoanggiac.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Hoàng Giác
Sinh 1924
Hà Nội, Đông Dương thuộc Pháp
Mất 14 tháng 9, 2017 (92–93 tuổi)
Hà Nội, Việt Nam
Thể loại nhạc tiền chiến
Ca khúc tiêu biểu “Lỡ cung đàn”, “Mơ hoa”, “Ngày về” , “Quê hương”

Hoàng Giác (1924 – 2017) là nhạc sĩca sĩ nhạc tiền chiến nổi tiếng của nền Tân nhạc Việt Nam. Ông sáng tác không nhiều, song lại sở hữu một số tác phẩm nổi tiếng được biết đến rộng rãi.

Mục lục

Tiểu sử

Hoàng Giác sinh năm 1924; quê gốc của ông là làng Chèm, nay thuộc phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.[1] Cha của Hoàng Giác là một người chơi đàn bầu rất hay nhưng lại ham mê môn quyền anh, từng giữ chức Chủ tịch Liên đoàn Quyền anh Bắc Kỳ. Bản thân Hoàng Giác cũng là người say mê thể thao. Thuở nhỏ, ông học trường Bưởi. Từ khi còn là học sinh, ông đã tìm tòi học hỏi nhạc theo các tài liệu sáng tác cũng như hòa thanh của Pháp.[2] Năm 1945 ông viết ca khúc đầu tay “Mơ hoa”.

Nhạc sĩ Hoàng Giác năm 1949

Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, Hoàng Giác cùng gia đình sơ tán lên chiến khu Việt Bắc. Cuối năm 1946, ông sáng tác bài hát “Ngày về” khi còn là một đội viên trong đoàn tuyên truyền của cách mạng được trở về thăm gia đình sau những chuyến đi công tác. Theo Hoàng Giác, đây chính là ca khúc ông ưng ý nhất.[3] Bài này đã được nhiều ca sĩ thu âm như tài tử Ngọc Bảo, Ái Vân, Mai Hoa, Anh Thơ,… Năm 1948, Hoàng Giác trở lại Hà Nội và là một ca sĩ được nhiều người yêu mến.

Hoàng Giác sáng tác không nhiều, chỉ khoảng 20 ca khúc. Trong số đó, có những bài hát nổi tiếng và vượt thời gian như “Mơ hoa”, “Ngày về”, “Lỡ cung đàn”,…Ông khiêm tốn: “Tôi sáng tác không nhiều và so với các nhạc sĩ cùng thời thì đóng góp của tôi cho nền âm nhạc nước nhà không được bao nhiêu.[3]

Hoàng Giác chuyên sử dụng nhạc cụ là đàn Ghi-ta Hawaii (còn gọi là Hạ Uy cầm) và từng nhiều năm làm giảng viên ghi-ta tại Trường Sư phạm Nhạc – Họa Trung ương và Trường Âm nhạc dân lập.[2]

Hoàng Giác lập gia đình với bà Kim Châu vào năm 1951. Từ khoảng nửa sau thập niên 1960, gia đình ông rơi vào cảnh sống cơ cực ở miền Bắc Việt Nam bởi nhà cầm quyền Việt Nam Cộng hòamiền Nam sử dụng nhạc bản “Ngày về” của ông để làm nhạc hiệu cho chương trình “Chiêu hồi”.[1] Hai ông bà có người con trai là nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm.[3]

Ngày 14 tháng 9 năm 2017, Hoàng Giác qua đời tại nhà riêng ở Hà Nội do tuổi cao sức yếu, hưởng thọ 94 tuổi.[4]

Một số tác phẩm

Tờ nhạc “Ngày về” do Tinh Hoa tái bản
  • Anh sẽ về
  • Binh sếu
  • Bóng ngày qua
  • Giờ vui tàn
  • Hương lúa đồng quê
  • Khúc hát thương binh
  • Lỗi hẹn
  • Lỡ cung đàn
  • Mơ hoa
  • Ngày đi
  • Ngày về
  • Quê hương

Viết lời cho ca khúc của Nguyễn Thiện Tơ:

  • Qua bến năm xưa
  • Tiếng hát biên thùy
  • Trên đường về

Tham khảo

  1. ^ a ă Hà Đình Nguyên (17 tháng 2 năm 2012). “Những bóng hồng trong thơ nhạc – Kỳ 2: Ngày về trong giấc mơ hoa”. Thanh niên online. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  2. ^ a ă N.Chương (3 tháng 11 năm 2003). “Sống cùng Hoàng Giác”. Tuổi trẻ online. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  3. ^ a ă â Trần Lưu (25 tháng 5 năm 2002). “”Cánh chim bạt gió” Hoàng Giác”. Người lao động điện tử. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  4. ^ “Nhạc sĩ “Mơ hoa” Hoàng Giác qua đời”. Báo điện tử Dân Trí. 15 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2017.

Liên kết ngoài

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_Gi%C3%A1c

 

PHẠM CÔNG LUẬN : Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương


13/10/2016 10:56 GMT+7

TTO – Giới ca nhạc Sài Gòn thuật lại rằng trước năm 1975 có hai nhạc sĩ cùng họ Huỳnh được bạn bè trong nghề yêu mến gọi là anh Hai và anh Ba. Anh Ba là nhạc sĩ Huỳnh Anh, còn anh Hai là nhạc sĩ Huỳnh Háo.

Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương 
Nhạc sĩ Huỳnh Hiếu độc tấu trống tại vũ trường Đại Nam, Sài Gòn Ảnh: Tư liệu gia đình nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu

Huỳnh Háo là tên gọi thân mật của nhạc sĩ Huỳnh Thủ Hiếu, gọi tắt là Huỳnh Hiếu. Sau khi sinh ra Huỳnh Hiếu năm 1929 tại Cần Thơ, nghệ sĩ Kim Thoa sinh liên tiếp vài người con nữa nhưng chỉ sau ba tháng mười ngày, như lời kể lại trong gia đình, những đứa em của Huỳnh Hiếu đều mất. Ông bà Tư Chơi – Kim Thoa tìm mọi cách để giữ con.

Lúc thì làm lễ cúng gửi con cho thầy pháp, lúc thì cải sang đạo Thiên Chúa… đều không giữ được đứa nào. Đến khi sinh cô con gái út, bà Kim Thoa phải đổi con từ họ Huỳnh của cha sang họ Phạm của mẹ thì mới sống. Cô là Phạm Thị Mỹ Ngọc, tự Marie. Tuy nhiên, việc đổi họ này đã nảy sinh mâu thuẫn giữa hai vợ chồng. Phải chăng ông Tư Chơi liên tưởng đến việc đổi họ của cô con gái đầu của ông với bà Phùng Há?

Do sinh trong gia đình nghệ sĩ nên từ nhỏ Huỳnh Hiếu đã có năng khiếu về âm nhạc, được tự do theo đuổi chí hướng của mình. Suốt thời tuổi nhỏ và mới lớn, Huỳnh Hiếu học âm nhạc với các nhạc sĩ Philippines trong ban nhạc của đoàn Kim Thoa. Họ lành nghề, đàn hay hát giỏi, năng khiếu âm nhạc rất mạnh. Nhờ có họ trong đoàn, năm 8 tuổi, Huỳnh Hiếu bắt đầu học ký âm pháp và đàn banjo với nhạc sĩ Bénito Cruz.

Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương 
Ban nhạc Music Makers của Huỳnh Hiếu thường chơi tại các vũ trường Crystal Palace, Vân Cảnh năm 1972. Từ trái sang phải: Vương Minh, trống; Trần Vĩnh, saxo alto – được xem là thổi saxo hay nhất thời đó Ảnh: Tư liệu gia đình nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu

Từ Nam Vang 
đến Sài Gòn

Năm 1945, lúc 16 tuổi, Huỳnh Hiếu theo đoàn Kim Thoa của cha mẹ lên Nam Vang lưu diễn. Đợt diễn này không gặp thuận lợi, đoàn không có tiền trả lương cho đào kép, nhân viên và không có tiền về nước. Đang khó khăn thì gặp may mắn, có một người phụ nữ giàu có người Việt có chồng làm nhà Đoan đồng ý bao giàn trong một tuần (sau này Huỳnh Hiếu trở thành con rể của bà).

Một điều may nữa là trong tuần lễ đó, Huỳnh Hiếu gặp lại thầy cũ trước kia đã truyền giao bí quyết môn đánh trống cho ông là nhạc sĩ Ringo – tay trống số 1 của Sài Gòn thập niên 1940. Ông ta đề nghị Huỳnh Hiếu ở lại thay chỗ của ông ở vũ trường tại Nam Vang, nếu nhận lời thì tiền hợp đồng sẽ đủ trang trải cho đoàn về nước.

Huỳnh Hiếu đồng ý ở lại biểu diễn, trả nợ cho cha mẹ, đồng thời rèn tay nghề cùng các nhạc sĩ ngoại quốc bên đó. Đoàn Kim Thoa trở về Sài Gòn và rã gánh luôn do chiến cuộc. Huỳnh Hiếu ở lại Nam Vang hai năm, vừa biểu diễn vừa học hòa âm với nhạc sĩ Nick Abelardo – 
người Pháp gốc Nam Mỹ.

Năm 1946, sau một năm ở lại Nam Vang, Huỳnh Hiếu tham gia cuộc thi đánh trống dành cho các tay trống Đông Dương trong một cuộc đấu xảo tổ chức ở thành phố này. Lúc đó, một người thầy dạy ông đánh trống là Ramola cũng dự thi và cuối cùng Huỳnh Hiếu đoạt danh hiệu “Tay trống đệ nhất Đông Dương”. Tuy được giải, ông không vui vì sợ thầy mình buồn và không bao giờ nhắc đến giải thưởng đó nữa.

Năm 1948, ông trở về Sài Gòn tham gia ban nhạc Nguyễn Văn Dung ở vũ trường Kim Sơn. Từ đó là thời gian hoạt động sôi nổi của Huỳnh Hiếu. Ông được các ban nhạc tranh nhau mời hợp tác biểu diễn. Ông tiếp tục tham gia các ban nhạc: ban nhạc Pháp George de Bruyne ở vũ trường Palis de Jade tại Sài Gòn do nhạc trưởng Larry Czifra, người Hungary điều khiển.

Ông còn được mời sang Bangkok năm 1955 để chơi trong ban nhạc George Meritan. Từ năm 1956, ông thành lập ban nhạc riêng chơi ở các vũ trường Tour D’Ivoire và Tabarin tại Sài Gòn. Ông cũng là tay trống của ban nhạc Lê Văn Thiện ở vũ trường Đại Nam.

Nghệ sĩ đa tài

Huỳnh Hiếu luôn được ca ngợi trong giới biểu diễn ca nhạc trước năm 1975 ở Sài Gòn. Trên báo Kịch Ảnh số 458 ấn hành trước năm 1975, nhạc sĩ Tùng Giang, cũng là một tay trống, nhận xét: “…Hiện anh là một tay trống thần sầu thuộc hàng sư tổ của những tay trống trẻ ngày nay (điều này không ngoa vì chính những tay trống học trò đầu tiên của anh đã là những người đào tạo ra nhiều tay trống xuất sắc cho giới trẻ…)”.

Hữu Thạnh nhớ lại cha anh kể rằng thời Tây, ông chủ xếp lương cho nhạc công tới 8 bậc khác nhau, trong đó nhạc công người Việt đứng hàng thứ 6, nhạc trưởng người Việt thứ 5, nhạc công người Phi thứ 4, nhạc trưởng người Phi thứ 3, nhạc công người Pháp thứ 2 và nhạc trưởng người Pháp thứ 1. Huỳnh Hiếu là người Việt nhưng mức lương là bậc 1, ngang với nhạc trưởng người Pháp.

Để được như vậy, Huỳnh Hiếu vừa say nghề vừa ham học. Ông luôn tìm tòi học hỏi chuyên môn của mình, thường nghe đĩa nhạc nước ngoài để tìm hiểu về kỹ thuật đánh trống của những tài danh về trống trên thế giới, trong đó có hai tay trống ông ngưỡng mộ là Buddy Rich và Shelly Mane. Ông còn sử dụng được đàn guitar, piano và đàn bandonéon (một loại phong cầm sử dụng nút bấm, không xài phím piano).

Ông khiến mọi người ngạc nhiên vì chỉ học trong một tuần đã có thể chơi được bandonéon vốn được xem là khó sử dụng. Ông còn thích hòa âm, sáng tác. Năm 1949, khi mới 20 tuổi, ông đã lập một ban nhạc 10 người lấy tên là ban ABC trình diễn tại rạp Nguyễn Văn Hảo chơi các bản nhạc tự hòa âm. Ông còn sáng tác nhiều ca khúc từng được trình bày trên đài phát thanh và sân khấu ca nhạc như Nhớ người phương xa, Tiếng đàn trong gió đông, Vì ai, Hương quê… Giọng hát của ông là giọng nam kim nhẹ (Ténor Léger) thường trình bày nhạc ngoại quốc.

Sau khi chia tay người vợ đầu là mẹ của nhạc sĩ Huỳnh Hữu Thạnh, Huỳnh Hiếu đi bước nữa với người vợ gốc Hoa, sống cuộc đời an bình cho tới khi mất năm 1994. Người vợ này cũng giúp lo an táng cha ông, nghệ sĩ Tư Chơi năm 1964.

Về người cha thân thương đã mất năm 1994, hình ảnh Hữu Thạnh nhớ mãi là một buổi tối năm 1962, ông Huỳnh Hiếu đi biểu diễn ở khu giải trí Đại Thế Giới về. Lúc đó, mẹ của Hữu Thạnh đã ra đi và ông đang cảnh gà trống nuôi con.

Ông mở cái cặp, từ trong đó có những con dế than, dế lửa bò ra. Sau buổi diễn, ông đã đi lòng vòng khu Đại Thế Giới để bắt dế cho đứa con trai bé nhỏ chơi. Lớn lên, Hữu Thạnh sớm lập gia đình, ra ở riêng. Nhớ một buổi sáng, anh ngủ say vì đêm trước diễn khuya và giật mình tỉnh dậy khi thấy cha đứng lù lù trước mặt đang nhìn mình. Anh hỏi: “Ủa, cha đi đâu vậy?”.

Ông mỉm cười: “Cha thấy nhớ con nên ghé qua thăm, thấy con đang ngủ nên nhìn vậy thôi!”. Thiếu vắng tình yêu thương gần gũi của song thân, Huỳnh Hiếu dồn hết tình thương cho đứa con trai duy nhất.

Hữu Thạnh tự hào về họ, dù sao họ đã sống trọn vẹn đời nghệ sĩ, tận tình với nghệ thuật và cũng đã biết yêu thương hết mình. Họ đã là những ngôi sao thật sự trong lòng của anh.

Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương 
Hai cha con nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu (Huỳnh Háo) và Huỳnh Hữu Thạnh trước một buổi diễn năm 1990 – Ảnh: Tư liệu gia đình nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu

Tự hào và xót xa

Nhớ lại hai người thân là ông nội, soạn giả Huỳnh Thủ Trung – Tư Chơi, và cha, nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu – Huỳnh Háo, anh Huỳnh Hữu Thạnh có nhiều cảm xúc lẫn lộn. Anh vừa tự hào, vừa xót xa cho người ông tài hoa nhưng cuộc đời nhiều lúc điên đảo, lận đận.

Ông Huỳnh Hiếu thường kể con nghe về ông nội, dù thích uống rượu, khi tỉnh táo làm việc rất nghiêm túc, sức sáng tác mạnh mẽ, số tuồng viết ra rất nhiều. Khi điều hành đoàn Kim Thoa, ông dành thời gian trao đổi việc với nhân viên hằng ngày, yêu cầu nhân viên mang giày bata, đồng phục khi làm việc… là điều lạ đối với thời mà nhiều người còn quen đi chân đất.

Bình Luận

VƯƠNG ĐẰNG sưu tầm: Tưởng nhớ nhạc sĩ VĂN GIẢNG (1924 – 2013)


TƯỞNG NHỚ

          Nhạc sĩ VĂN GIẢNG

(Sinh 12/5/1924, Huế –Mất 9 tháng 5, 2013, Victoria, Úc)

Vương Đằng sưu tầm

 

“Vĩnh Biệt Nhạc Sĩ Văn Giảng”

 

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1124&Itemid=1

Tam cá nguyệt san văn học nghệ thuật biên khảo Cỏ Thơm

 

YOUTUBE:  “Cuộc Đời Cố Nhạc Sĩ Văn Giảng”:

 

https://www.youtube.com/watch?v=wdbniuqpvMs

 

“Nhạc sĩ Văn Giảng”

 

http://www.luanhoan.net/gocchung/html/gc877.htm

 

LỤC QUÂN VIỆT NAM

 

Đồng ca (trước 1975)

 

https://www.youtube.com/watch?v=J98GSe8ms7I

 

 

AI VỀ SÔNG TƯƠNG (bút hiệu Thông Đạt)

 

Quang Dũng

 

https://www.youtube.com/watch?v=tRcCAa6ZvE0

 

Hà Thanh

 

https://www.youtube.com/watch?v=3r1EYOFJwdQ

 

 

Tuấn Ngọc

 

https://www.youtube.com/watch?v=wQby8Mf5rcU

 

ĐÊM MÊ LINH

 

Hoàng Oanh (trước 1975)

 

https://www.youtube.com/watch?v=FWRG8d1bXqQ

 

THÚC QUÂN = HỒN QUÂN REO

 

Đồng ca (trước 1975)

 

https://www.youtube.com/watch?v=VHwcRInYHTw

 

 

 

 

 

Attachments area

Preview YouTube video Cuộc Đời Cố Nhạc Sĩ Văn Giảng

Preview YouTube video Lục Quân Việt Nam Cộng Hòa Hành Khúc

Preview YouTube video Ai Về Sông Tương – Quang Dũng

Preview YouTube video Hà Thanh – Ai Về Sông Tương – Nhạc: Thông Ðạt – PPS: Liên Như – Youtube: TMC

Preview YouTube video Tuấn Ngọc – Ai Về Sông Tương

Preview YouTube video Đêm Mê Linh – Hoàng Oanh

Preview YouTube video Thúc quân – Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

 

HÀ TÙNG LONG :Vì sao nhạc sỹ Thanh Tùng không chịu đi bước nữa sau khi vợ mất?


Dân trí   Thứ hai, 21/03/2016 – 12:34

Cho đến bây giờ, nhiều người vẫn đặt câu hỏi: “Vì sao nhạc sỹ Thanh Tùng, một người đàn ông tài ba, đào hoa, phong nhã, đa tình… lại không đi thêm bước nữa khi vợ ông mất từ lúc trẻ?”. Chính các con ông cũng đã không ít lần “bật đèn xanh” hoặc tỏ lời động viên ông tái hôn nhưng ông vẫn ở vậy cho đến khi tạ thế.
 >> Chuyện về nhạc sĩ Thanh Tùng “đào hoa” và 2 ca khúc để đời tặng vợ
 >> “Nhìn Thanh Tùng chật vật ngồi xe lăn mà ứa nước mắt”

Quyết không tái hôn vì một lời hứa!

Anh Nguyễn Thanh Bách, con trai trưởng của cố nhạc sỹ “Một mình” cho biết, thời còn đi học, nhạc sỹ họ Nguyễn học chung lớp với anh trai của vợ. Trong một lần đến nhà bạn học chơi, nhạc sỹ thấy ông bạn có cô em xinh xinh nên lân la làm quen. Tình cảm giữa hai người lúc đầu chỉ là anh em nhưng rồi lớn dần thành tình yêu từ lúc nào không biết. Năm 1971, nhạc sỹ Thanh Tùng quyết định xin cưới bà Phạm Thị Minh làm vợ. Đến năm 1972, anh Nguyễn Thanh Bách ra đời tựa như “trái ngọt tình yêu” của một cuộc tình đầy lãng mạn.


Nhạc sỹ Thanh Tùng lúc còn trẻ. Ảnh: GĐCC.

Nhạc sỹ Thanh Tùng lúc còn trẻ. Ảnh: GĐCC.

Thời đó, sau khi tốt nghiệp lớp Lý – Sáng – Chỉ (lý luận, sáng tác, chỉ huy) tại Nhạc viện Bình Nhưỡng (Triều Tiên), nhạc sỹ Thanh Tùng trở về và công tác tại Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam. Sau đó, ông được cử vào công tác ở Đài Phát thanh Giải phóng. Những ngày đó, bà Minh cũng chuyển vào công tác ở Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh để có điều kiện được chăm sóc ông. Tuy nhiên, sau đó không lâu, bà Minh xin nghỉ làm ở Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh để về làm kinh tế ở ngoài.

Theo anh Bách, sở dĩ bố anh có thể dành nhiều tâm sức cho âm nhạc là bởi khi bà Minh còn khoẻ mạnh, nhạc sỹ Thanh Tùng không phải lo lắng về vấn đề kinh tế và quán xuyến gia đình. Bà Minh lúc đó, không chỉ vừa chăm sóc con, vừa quán xuyến gia đình mà còn đảm trách cả vấn đề kinh tế. Và dù nhạc sỹ có rất nhiều mối quan hệ bên ngoài nhưng cuộc sống gia đình lúc nào cũng hạnh phúc, các con có đầy đủ tình thương của bố mẹ.

Tuy nhiên, cuộc sống không ai nói trước được chữ “Ngờ”. Năm 1990, bà Minh mắc trọng bệnh rồi ra đi khi mới ngoài 40 tuổi. Trước lúc mất, bà có gọi chồng đến bên cạnh dặn dò chuyện chăm sóc các con. Trong đó, bà có hỏi ông một câu: “Nếu em chết anh có lấy vợ mới và bỏ các con không?”, lúc đó ông trả lời “Không”. Sau này nhạc sỹ Thanh Tùng có giải thích rằng, lúc đó ông không có câu trả lời nào khác. Và tình yêu sâu đậm cùng lời hứa với người vợ trước lúc nhắm mắt xuôi tay đã khiến ông không dám bước tiếp trong cuộc sống hôn nhân.

Vợ mất, nhạc sỹ Thanh Tùng đã rất chếnh choáng. Ông phải trải qua một giai đoạn cực kỳ khó khăn. Một tay phải chăm sóc ba con nhỏ, một tay phải làm kinh tế để nuôi sống cả gia đình và vẫn phải nuôi dưỡng niềm đam mê âm nhạc.

Chân dung bà Phạm Thị Minh, người vợ quá cố của cố nhạc sỹ Thanh Tùng khi còn trẻ. Ảnh: GĐCC.
Chân dung bà Phạm Thị Minh, người vợ quá cố của cố nhạc sỹ Thanh Tùng khi còn trẻ. Ảnh: GĐCC.

“Mẹ tôi mất, ba tôi phải đối diện với bao nhiêu là vấn đề về tâm lý và cuộc sống. Trước ông không phải lo gì về kinh tế cả bởi mọi việc mình mẹ tôi lo hết. Mẹ tôi mất, ông phải gánh tiếp gánh nặng của bà. Ông vừa phải đóng vai trò người bố, vừa phải làm mẹ, chăm sóc các con. Trong mắt chúng tôi, ông là người đàn ông có thành tích cao nhất vì vợ mất sớm nhưng vẫn một tay nuôi được ba người con đi học nước ngoài đầy đủ, điều này kể cả những gia đình đầy đủ bố mẹ cũng không thể làm được”, anh Bách xúc động nói.

Sau này, hiểu được chuyện “con chăm cha không bằng bà chăm ông”, các con của nhạc sỹ đã nhiều lần “bật đèn xanh”, kể cả tỏ lời động viên ông đi thêm bước nữa để có người chăm sóc, bầu bạn tuổi già nhưng ông vẫn nhất quyết nói “không”. Biết tính ông khái tính, lại là người rất khó lay chuyển nên sau nhiều lần thuyết phục không được, các con đành phải chiều theo ý ông dù lúc đó ông cũng có khá nhiều người phụ nữ vây quanh.

Vợ chồng gia đình nhạc sỹ Thanh Tùng và ba con trong một lần đi nghỉ mát ở Đà Lạt. Ảnh: GĐCC.
Vợ chồng gia đình nhạc sỹ Thanh Tùng và ba con trong một lần đi nghỉ mát ở Đà Lạt. Ảnh: GĐCC.

“Bố tôi là người tài hoa nhưng sống rất phóng khoáng, tình cảm, các đức tính đó phụ nữ rất thích. Vì thế, bố tôi có rất nhiều người phụ nữ vây quanh nhưng ông vẫn không chịu ai. Chắc ông không muốn mẹ tôi buồn”, anh Bách chia sẻ thêm.

Nguyện ước cuối đời là được đoàn tụ với vợ

Theo anh Bách, lúc sinh thời nhạc sỹ “Hoa tím ngoài sân” rất hay kể cho các con nghe những kỷ niệm về vợ mình. Trong cảm nhận của các con thì tình yêu của ông dành cho bà rất sâu đậm. Cho đến những ngày cuối cùng của năm 2008, trước khi ông bị tai biến nằm liệt một chỗ, ông nằm mơ thấy bà về trong giấc mơ liền bật dậy viết nên ca khúc “Hoa cúc vàng” với đầy sự nhung nhớ, yêu thương và khao khát đoàn tụ. Sau bài hát ấy, ông không sáng tác được thêm ca khúc nào nữa vì bị bệnh và cũng không còn cảm xúc.

Cách đây khá lâu, cũng đã có một vài lần nhạc sỹ họ Nguyễn bày tỏ tâm nguyện với các con là sau này đưa mộ của bà Minh từ TP. Hồ Chí Minh (mộ bà Minh hiện vẫn đang yên vị ở TP. Hồ Chí Minh) để nếu ông có tạ thế thì ông bà được nằm cạnh nhau. Và sắp tới đây, khi hoàn thiện khu nghĩa trang rộng hơn 1000m nằm trong Công viên Nghĩa trang Thiên Đức (Phú Thọ), ba anh em anh Bách cũng sẽ đưa bà Minh về bên cạnh mộ của nam nhạc sỹ để ông bà được đoàn tụ.

Vợ chồng nhạc sỹ Thanh Tùng cùng người thân trong dịp sinh nhật con. Ảnh: GĐCC.
Vợ chồng nhạc sỹ Thanh Tùng cùng người thân trong dịp sinh nhật con. Ảnh: GĐCC.

Nói về người bố vừa nằm xuống, anh Bách luôn dành cho ông một sự yêu thương, kính trọng lẫn khâm phục. Anh Bách cho rằng, dù mẹ anh mất sớm nhưng bố anh đã luôn làm tròn bổn phận của cả hai: mẹ – bố. Ông giáo dục các con rất cẩn thận trong đối nhân xử thế, cách làm việc, cách kinh doanh…

“Những điều ông dạy chúng tôi như thế nào thì bây giờ chúng tôi dạy lại các con của mình như thế. Chính tôi, dù bây giờ trưởng thành rồi nhưng vẫn luôn nhìn vào các sống của bố mình để học tập. Không mong được như bố mình nhưng cũng mong được một phần của bố. Điều đó sẽ khiến chúng tôi tốt hơn lên. Bố tôi là người rất quảng đại, hào sảng, phóng khoáng… Ông rất rộng rãi với người thân, bạn bè và những người xung quanh. Ông chưa bao giờ tính toán chi li từng đồng từng hào với ai cả. Ông viết nhạc xong toàn đưa cho mọi người hát chứ không có đòi hỏi phải thế này thế kia gì cả. Ông cũng sống rất thẳng thắn và chính trực, chưa bao giờ biết “luồn cúi” là gì.

Nhạc sỹ Thanh Tùng cùng con gái út. Ảnh: GDCC.
Nhạc sỹ Thanh Tùng cùng con gái út. Ảnh: GDCC.

Có lẽ vì cách sống đó nên bố tôi rất nhiều bạn bè. Bạn của bố tôi có nhiều người là chính khách, doanh nhân, nghệ sỹ và cả những người thường dân. Bạn bè của ông cũng chơi với ông rất chân tình”, anh Bách nói.

Anh Bách cho biết, dù có tới ba người con nhưng nhạc sỹ Thanh Tùng chưa bao giờ có ý ép các con phải theo nghiệp âm nhạc của mình vì ông vì ông quan niệm theo đuổi âm nhạc cũng phải có năng khiếu. Trong ba anh em, bản thân anh Bách nhìn nhận mình không có chút năng khiếu nào nhưng hai người em thì có chút năng khiếu. Họ cũng biết chơi đàn, cũng hát được nhưng chắc không có duyên với nghệ thuật nên đến bây giờ vẫn chưa thấy bén duyên. Điều này khiến anh hơi tiếc nhưng vẫn có thể trông chờ vào lớp cháu con kế cận.

“Bố tôi quan niệm, nếu đã là nghệ thuật đích thực thì phải để thưởng thức chứ không phải thi thố. Ai thấy hay thì hay, không thì thôi. Chẳng bao giờ ông có suy nghĩ phải sáng tác nhạc để đặt được giải thưởng này giải thưởng kia hoặc tham gia thi cuộc thi này cuộc thi kia. Quan điểm sáng tác của bố tôi là hoạ sỹ hay nhạc sỹ, khi sáng tác đều phải đưa cảm xúc thật vào tác phẩm. Vì chỉ có cái gì xuất phát từ trái tim mới đến được với trái tim. Cảm xúc thật sẽ khiến người nghe nhạc dễ tìm thấy mình trong đó, vì ai cũng có lúc buồn, lúc vui… còn viết theo đơn đặt hàng gì đó nó sẽ bị khiên cưỡng, cảm xúc không thật. Cho nên bố tôi viết bằng cảm xúc thôi chứ không viết theo kiểu bị ai đó ép hoặc viết theo đơn đặt hàng. Các bài hát của ông vì thế mà đều có màu sắc riêng.

Bức ảnh chụp nhạc sỹ Thanh Tùng và các con trong đêm nhạc Một mình diễn ra ở Hà Nội vào năm 2011. Anh Bách mặc áo đen, anh Thông áo sọc và con gái út Bạch Dương.
Bức ảnh chụp nhạc sỹ Thanh Tùng và các con trong đêm nhạc “Một mình” diễn ra ở Hà Nội vào năm 2011. Anh Bách mặc áo đen, anh Thông áo sọc và con gái út Bạch Dương.

Nhờ tốt nghiệp Lý – Sáng – Chỉ nên bố tôi không chỉ biết sáng tác mà còn biết chỉ huy và dàn dựng chương trình. Ông có thể viết được tổng phổ cho một dàn nhạc, kèn đánh như thế nào, dàn dây đánh ra sao, trống đánh thế nào… Kiến thức âm nhạc của ông rất uyên thâm nên ông có thể làm được nhiều thứ”, anh Bách kể thêm.

Dù rất giỏi trong âm nhạc nhưng trong đời nhạc sỹ, nhạc sỹ Thanh Tùng chỉ có hai học trò đúng nghĩa đó là nhạc sỹ Quốc Trung và nhạc sỹ Ngọc Lễ. Theo anh Bách, nhạc sỹ Quốc Trung được nhạc sỹ Thanh Tùng dạy nhiều về hoà âm phối khí, còn nhạc sỹ Ngọc Lễ được dạy nhiều về sáng tác. Sở dĩ nhạc sỹ Ngọc Lễ được nhạc sỹ Thanh Tùng nhận làm học trò vì thời đó Ngọc Lễ thường hay đến nhà riêng của ông dạy anh Bách về đàn guitar và tiếng Anh, đổi lại nhạc sỹ Thanh Tùng dạy anh về sáng tác âm nhạc. Ngoài ra, dù không chính thức nhưng cũng có rất nhiều ca sỹ gọi nhạc sỹ “Chuyện tình của biển” là thầy bởi ông cũng góp phần dạy họ trong âm nhạc và có những ca khúc viết riêng cho họ.

Hà Tùng Long

http://dantri.com.vn/van-hoa/vi-sao-nhac-sy-thanh-tung-khong-chiu-di-buoc-nua-sau-khi-vo-mat-20160321123126031.htm

VIỆT HẢI : TÌM HIỂU VỀ SOẠN GIẢ VIỄN CHÂU


Tìm hiểu về soạn giả Viễn Châu

​Việt Hải

Soạn giả Viễn Châu đã tạo ra một gia tài văn hóa đặc thù rất phong phú của hơn 2.000 bài vọng cổ và 70 vở cải lương… Trong đó tôi rất thích bài tình ca vọng cổ “Tình anh bán chiếu”, được nghệ sĩ  Út Trà Ôn trình bày.

“Hò ơ… 
Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm. 
Công tôi cực lắm, mưa nắng dãi dầu. 
Chiếu này tôi chẳng bán đâu. 
Tìm em không gặp… Hò ơ… 
Tìm em không gặp tôi gối đầu mỗi đêm…
1/ Ghe chiếu Cà Mau đã cấm sào trên bờ kinh ngã bảy, sao người con gái năm xưa chẳng thấy ra chào… Cửa vườn cô đã khoá kín tự hôm nào, tôi vác đôi chiếu bông từ dưới ghe lên xóm rẫy, chiếc áo nhuộm bùn đã lấm tấm giọt mồ hôi. Nhà của cô sau trước vắng tanh gió lạnh chiều hôm bỗng có ai dạo lên tiếng nguyệt cầm như gieo vào lòng tôi một nỗi buồn thê thảm.
2/ Cô đã đặt đôi chiếu bông bề dài hai thước có lẽ để điểm tô ở chốn loan phòng, hôm nay cô đã quên tôi để cất bước theo chồng. Cô ơi đôi chiếu này tự tay tôi dệt lấy, tôi đã lựa từng cọng lát sợi gai nhưng khi tôi đến nơi thì cô đã rời bỏ quê nhà sang qua xứ khác, tôi đứng trước cổng vườn xưa nỗi buồn man mác, còn đôi chiếu này tôi biết tặng cho ai?…
3/ Nhớ năm ngoái khi ghe vừa tới vàm sông ngã Bảy, cô đã tươi cười dẫn tôi đến tận nhà cô; đưa tôi vào chốn phòng riêng để đo ni chiếc giường gõ đỏ và cô đặt tôi làm đôi chiếu, cô hỏi qua gía cả, tôi trả lời lấy giá rẻ làm quen .Năm hôm sau tôi sắp sửa lui ghe cô còn đứng trên bến dặn dò kỹ lưỡng, sau khi cô đà quay gót chiếc áo bông hường cũng khuất dạng sau mấy lùm tre, cô có biết đâu tôi đã lấy nón lá che ngang để dấu đôi giòng nước mắt vì không muốn bàng quan thiên hạ họ cười tôi là một kẻ si tình.
(nói lối) 
Khi hỏi lại xóm riềng tôi mới biết 
Cô theo chồng đã được bốn trăng qua. 
Mình dám đâu sai hẹn với người ta 
Mà họ đành đoạn bỏ nhà đi xứ khác
4/ Tôi vác đôi chiếu bông mà cõi lòng tan nát, bước chân đi như thể xác không hồn… nước mắt tuôn rơi như lá rụng trên đường, gió Đông vụt vù thổi mạnh lạnh đất trời lạnh đến cả tâm can. 
Người ta đã có đôi rồi 
Chiếu chăn đâu ấm bằng người tình chung, 
Để mình vác cặp chiếu bông 
Chờ đợi chi nữa uổng công đợi chờ.
5/ Khuya đêm nay ngồi chờ nước lớn nỗi buồn đau cứ canh cánh bên lòng… tôi thấy đời tôi sao lạnh lẽo khôn cùng… còn chi buồn hơn nghề bán chiếu để tô điểm loan phòng cho những gái còn Xuân… đến khi họ cất bước sang ngang lại không một lời hỏi han từ giã đến đôi chiếu bông tôi đã bỏ công ngồi dệt mấy ngày đêm ròng rã mà nay vẫn còn nằm trơ ở dưới khoan thuyền.
6/ Ngọn gió Đông ơi đừng thổi nữa lòng tôi lạnh lắm gió Đông ơi. Tôi nhổ sào cho ghé chiếu trôi xuôi lòng nặng trĩu một nỗi sầu tê tái, tôi ngồi yên sau lái đôi mắt vẫn hướng về nẻo cũ vườn xưa. Hỡi ơi con sông Phụng Hiệp chảy ra bảy ngã thì lệ của tôi sao nó cũng lai láng muôn giòng. Có ai biết được tấm lòng của tôi với cô gái mỹ miều trên kinh Ngã Bảy 
Sông sâu bên lở bên bồi Tình anh bán chiếu trọn đời không phai.”
Đó là nguyên bài sáu câu tình ca nói lên một chuyện tình buồn. Đại ý của bài vọng cổ này nói lên sự lãng mạn si tình của anh bán chiếu. Khi người con gái đặt mua chiếu, rồi anh bán chiếu đem lòng nhớ thương. Khi ghe đến ngã sông Phụng Hiệp,  nơi chia ra 7 nhánh sông con gọi là Ngã Bảy, cô đã tươi cười dẫn anh đến tận nhà cô, cô đưa anh vào chốn phòng riêng để anh đo ni chiếc giường gõ đỏ và đặt anh làm đôi chiếu. Cô hỏi qua giá cả xong anh trả lời lấy giá rẻ để làm quen. Năm ngày sau khi anh sắp sửa lui ghe cô còn đứng trên bến dặn dò kỹ lưỡng. Sau khi cô đã quay gót chiếc áo bông hường cũng khuất dạng sau mấy lùm tre. Cô biết đâu rằng anh đã lấy nón lá che ngang để che giấu đôi hàng nước mắt chảy dài, và anh không muốn bàng dân thiên hạ chê cười vì anh là gã trai si tình. Yêu một người con gái với trái tim thành thật có xấu không? Rồi si tình người con gái mới quen đến độ sung sướng để hàng lệ rơi có xấu không? Thưa không, nhưng nét đẹp của văn hóa cổ xưa của đất nước chúng ta rất dễ thương vì nhà thơ Xuân Diệu nhớ người tình cũng đã để nước mắt tuôn trào như sau:
“Nằm đêm anh cứ thương em 
Rơi nghiêng nước mắt một bên gối nằm 
Thế này cho hết trăm năm 
Đến muôn năm vẫn âm thầm thương em” 
(bài “Nằm Đêm Anh Cứ Thương Em”, XD)
Nguyễn Bính cũng âu sầu tương tư bóng hình người láng giềng qua giậu mùng tơi, Hàn Mặc Tử nhớ Mai Đình để hàng lệ rơi, những mối  tình xưa trong văn học Việt Nam còn nhiều lắm, và trong đó có “Tình anh bán chiếu” của soạn giả Viễn Châu. Cái đau lòng của anh bán chiếu là khi năm sau anh trở lại chốn xưa thì hỡi ơi cô khách hàng đã theo chồng. Cái đau cho cuộc tình một chiều là ở sự kiện “tan nát tình anh”. Lời ca của nghệ sĩ Út Trà Ôn làm cho người nghe xót xa cho chàng bán chiếu  đã ươm một mối tình quá oan khiên qua mấy câu vọng cổ của soạn giả Viễn Châu.
Vậy soạn giả Viễn Châu là ai?
Tôi tham khảo sách “Ngũ Đại Gia của Sân khấu Cải lương” do soạn giả Nguyễn Phương biên soạn, Trường Kỳ phát hành cùng với tài liệu của nhà văn Ba Bé cung cấp như sau:
Huỳnh Trí Bá là tên thật của nhạc sĩ Bảy Bá, tức soạn giả Viễn Châu. Vì sinh trưởng trong gia đình có 7 người con, ma ông là thứ 7 nên bạn bè trong xóm gọi tên tục thân thiện là “Bảy Bá”. Ông sinh năm 1924 trong một gia đình gia giáo nho học tại xã Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Khi còn học ở trường, ông đã mê đờn ca, cả tân lẫn cổ, thường có mặt trong các buổi đờn ca tài tử, hoặc cùng bạn bè tổ chức đờn ca. Sự hiểu biết về bài bản cải lương là do ông học lóm chương trình ca cổ nhạc ở các dĩa nhựa và đài phát thanh, ngoài ra, ông được dịp làm quen, học hỏi nhiều về đờn ca với nghệ sĩ ở đoàn hát thời xưa như Văn Võ hí ban, bầu Lúa, bầu Phục, bầu Hùng mỗi khi đến địa phương lưu diễn. Bảy Bá có khiếu viết văn , làm thơ và ham mê âm nhạc, năm ông 15 tuổi ông tỏ ra xuất chúng về môn đàn tranh. Đến năm 19 tuổi, ông đàn thạo các loại đàn tranh, violon, guitar và được nhiều người khen ngợi. Ham vui, ông bỏ nhà lên Sài Gòn tìm đến các ban nhạc lừng danh lúc bấy giờ. Nhờ tài hoa nên ông có mặt trong một dàn nhạc cùng với rất nhiều nhạc sĩ tài danh lúc đó như Jean Tịnh (violon), Bảy Hàm (đàn cò), Hai Biểu (tranh), Chín Hòa (kìm)…, là một ban cổ nhạc có tiếng ở đài phát thanh bấy giờ, đàn cho các danh ca lúc đó như: Cô Năm Cần Thơ, Ngọc Nữ, Ba Vĩnh Long, Tư Bé,… Cái tên Bảy Bá được nổi danh từ lúc đó.
Một kỷ niệm đáng nhớ của nhạc sĩ Bảy Bá trong những năm đầu mới vào nghề là ông thường lui tới những nơi có đờn ca tài tử và quen biết với nhạc sĩ Mười Còn, lúc đó đang đờn cho đoàn Việt kịch Năm Châu. Bất ngờ, trước chuyến lưu diễn ra Hà Nội, nhạc sĩ đàn tranh của đoàn bị bệnh, ông dược dịp thế chân. Trước khả năng đó nhạc sĩ Mười Còn thuyết phục Bảy Bá theo đoàn đi lưu diễn suốt hai tháng rưỡi… nhưng khi vừa về tới Sài Gòn thì một người anh của ông là Huỳnh Thanh Tòng bắt ông về quê, không cho theo đoàn hát nữa. Sau khi cha mẹ mất, ông rời những thân nhân cùng cuộc đời ruộng rẫy nghèo khổ để bắt đầu cuộc phiêu lưu mới vào phạm trù âm nhạc. Ông  quyết định trở lên thủ đô, tại Saigòn thì ông ở trọ nhà một người bạn cũng nghèo. Nghệ sĩ Bảy Bá phải mưu sinh bằng nghề đi đờn đám, như các đám cưới, đám hỏi, liên hoan, sinh nhật…Nhiều khi đi về quá khuya, mà cửa nhà đã đóng then cài thì ông không dám kêu cửa vì sợ phá giấc ngủ của người bạn, nên ông kê cây đờn làm gối ngủ phê một giấc cho tới sáng hôm sau ngay ở ngoài hàng ba nhà trọ. Đó là nỗi đam mê yêu nghệ thuật, và chính nó đã khiến nhạc sĩ Viễn Châu gặp nhiều lận đận, rồi cuộc đời chấp nhận sống lang thang, bụi đời trong giai đoạn đầu khởi nghiệp. Năm 1943, nghệ sĩ Bảy Bá tham gia vào đoàn Việt Kịch Năm Châu và lưu diễn khắp mọi miền đất nước, và được bậc thầy của sân khấu cải lương là ông Năm Châu đã tận tình nâng đỡ về nghề nghiệp. Lúc này thì soạn giả Viễn Châu bắt đầu tập viết tuồng vào những năm cuối cùng của thập niên 40, với vở đầu tay tựa đề Nát Cánh Hoa Rừng, cảm tác từ chuyện đường rừng của nhà văn Khái Hưng trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Soạn phẩm này đã thành công trên sân khấu Việt Kịch Năm Châu, mở đường cho những thành công liên tiếp sau đó. Ông đã đ ược nhiều người mến mộ.
Phải nói là trên bước đường nghề nghiệp, Bảy Bá được các nghệ sĩ đàn anh tận tình giúp đỡ, như đã nói trong đó có vợ chồng nghệ sĩ Năm Châu và  Kim Cúc là phần chính. Nhưng với bản thân ông, ông mang một nỗi niềm đam mê dào dạt bộ môn cải lương, một tâm hồn xao xuyến đa cảm và một khả năng sáng tác dồi dào đã đưa ông đến hết thành công này đến thành công khác. Vì trong khoảng thời gian hơn 60 năm mang kiếp nghệ sĩ cổ nhạc, sự nghiệp sáng tác của ông đã có hơn 70 vở tuồng và hơn 2.000 bản vọng cổ. Một gia tài quá lớn mà ông dể lại cho nền âm nhạc Việt Nam. Những khía cạnh đáng nhớ về soạn giả Viễn Châu:
Vọng Cổ Hài Hước: 
Ông là người tạo ra hệ phái vọng cổ hài hước mà sau này nhiều gương mặt nổi danh nhờ những bài ca vui, dí dỏm như nghệ sĩ Văn Hường, Hề Sa,… Sáng kiến này tạo sự mới mẻ và gây tiếng vang lớn về phạm vi vọng cổ hài hước, nhạc ông đã đưa Văn Hường trở thành một ca sĩ vọng cổ hài hước duyên dáng và độc đáo. Đến nay nhiều người còn nhớ những bài: “Tôi đi làm rể”, “Ba chàng rể quý”, “Tư Ếch đi Sài Gòn”, “Vợ tôi tôi sợ”, “Văn Hường nể vợ”, “Tâm sự Văn Hường”, “Vợ tôi nói tiếng Tây”,…
Tân Cổ Giao Duyên: 
Từ năm 1964, ông mạnh dạn làm một cuộc cách mạng bằng một cuộc giao duyên giữa nhạc tân và nhạc cổ. Bản đầu tiên “Chàng là ai?” (Tân nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết), bản nhạc này do nữ nghệ sĩ Lệ Thủy ca. Dù lúc đó có một số ý kiến chống báng, không đồng tình với sự giao duyên tân cổ nhạc này. Nhưng càng về sau quần chúng đã nồng nhiệt chấp nhận những tác phẩm của ông, nên các hãng đĩa thay nhau ký hợp đồng mời soạn giả Viễn Châu cộng tác. Một số đoàn hát lúc đó cũng theo loại nhạc ghép tân cổ giao duyên và thêm vào đôi hai giọng ca tân nhạc và vọng cổ. 
Thời gian trôi qua vọng cổ đã thăng hoa, các danh ca được người xem ưa thích nhờ làn hơi “mùi”, mượt mà, nhưng nội dung bản vọng cổ cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng giúp cho người nghệ sĩ thể hiện giọng ca của mình. Soạn giả Viễn Châu được mệnh danh là “người tạo danh cho các nghệ sĩ”, bởi qua nhiều sáng tác của ông, nhiều nghệ sĩ khi thể hiện đã được cái ưa thích để đông đảo người xem chú ý hơn, ví dụ như: Mỹ Châu với bài “Hòn vọng phu”, Tấn Tài với “Mùa xuân của mẹ”, Út Trà Ôn với “Tình anh bán chiếu”, Bạch Tuyết với “Hai sắc hoa Ti-gôn”, Thanh Nga với “Nguyệt Kiểu xuất gia” và “Hai lối mộng”,…
Vở Tuồng Cải Lương: 
Trong liên tiếp nhiều thập niên kể từ cuối thập niên 1940, soạn giả Viễn Châu đã sáng chói trên vòm trời nghệ thuật sân khấu cải lương, ông thành công với  khoảng 70 vở tuồng được xem là ăn khách hàng đầu, như Sau Bức Màn Nhung, Đời Cô Nga, Hoa Mộc Lan, Hàn Mạc Tử, Nợ Tình, Qua Cơn Ác Mộng…
Tóm lại, tên tuổi của soạn giả Viễn Châu đã thật sự thành công vượt bực trong ngành cổ nhạc. Như trên đã trình bày ông viết nhiều tuồng cãi lương, những bản vọng cổ ăn khách nhất với lời văn mượt mà, bay bướm, nhẹ nhàng đầy chất thơ nhạc, nhiều tác phẩm của ông gợi lại hình ảnh nông thôn lam lũ và bình dị, để châm biếm những cảnh trái tai, gai mắt trong xã hội muôn mặt, hay để hoài niệm về một thời dĩ vãng, bày tỏ tâm sự của những tâm hồn đa cảm và những mối tình dang dở. Người ái mộ ông chưa hẳn là thích cốt chuyện tình tiết éo le, nhưng vì những tuồng tích quen thuộc đó được ông đệm vào bằng những lời ca văn chương trau chuốt, mượt mà và rất trữ tình. Do đó nếu so sánh giữa những bài ca vọng cổ đơn chiếc và những vỏ tuồng cải lương dài thì vì tài viết văn ghép vào nhạc của ông quá xuất sắc hay quá điêu luyện, nên ông được nhiều bình luận gia về cổ nhạc cho rằng ông đã vượt trội về tên tuổi trong các tác phẩm vọng cổ hơn là soạn giả của những vở tuồng dài cải lương. Lời nhận xét này cũng là lời kết luận của bài viết này vậy.

CAO MINH HƯNG : Anh Bằng: Nỗi Lòng Qua Từng Ca Khúc


Anh Bằng: Nỗi Lòng Qua Từng Ca Khúc

anh bằng

19/12/201500:00:00(Xem: 1070)
Anh Bằng: Nỗi Lòng Qua Từng Ca Khúc

“>

Ngày 12 tháng 11 vừa qua, nền âm nhạc Việt Nam của chúng ta đã mất đi một cây đại thụ, đó chính là nhạc sĩ tài hoa Anh Bằng, với hơn 600 nhạc phẩm ông đã để lại trong suốt chiều dài sáng tác của ông. Riêng đối với Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, Nhạc sĩ Anh Bằng còn là vị Sáng Lập Viên, vị Niên Trưởng, người Thầy đã hướng dẫn và dìu dắt các anh chị em, đặc biệt là các anh chị em trong Ban Văn Nghệ trong suốt gần 6 năm qua. Sự ra đi của Ông đã để lại một niềm tiếc thương vô hạn cho những người yêu mến ông và dòng nhạc của ông. Riêng đối với CLB Tình Nghệ Sĩ, chúng tôi mất đi một người luôn khích lệ tinh thần cho các anh chị em cũng như đã cùng chúng tôi sáng tác để Ban Hợp Ca CLB Tình Nghệ Sĩ có thêm những bản nhạc hùng ca góp mặt trong các chương trình văn nghệ đấu tranh cho quê hương Việt Nam.

Đêm thứ Sáu, ngày 11 tháng 12, CLB Tình Nghệ Sĩ đã cùng một số ca sĩ thân hữu tổ chức “Đêm Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Anh Bằng – Người Nhạc Sĩ của Dân Tộc Việt Nam” qua dòng nhac bất hủ của ông.

Trời cuối Thu ở miền Nam Cali đã bắt đầu trở lạnh với những cơn gió nhẹ. Mặc dầu trong thư mời ghi chương trình bắt đầu từ 6:30 pm, nhưng khi hội trường VNCR vừa mở cửa lúc 5:00 pm cho Ban Tổ Chức vào chuẩn bị, đã có hơn 20 đồng hương Việt Nam có mặt. Thật cảm động khi có một vài đồng hương phụ giúp chúng tôi mang ghế và nước vào hội trường vì có lẽ họ biết các anh chị em tổ chức chương trình hoàn toàn từ tấm lòng tự nguyện cho chương trình vào cửa tự do này.

Trước khi chương trình bắt đầu, hội trường VNCR với sức chứa khoảng 200 người đã không còn ghế trống. Một số khán giả tham dự phải đứng dọc theo các bức tường phía sau và hai bên hội trường.

Sau nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam và Hoa Kỳ là giây phút mặc niệm Nhạc sĩ Anh Bằng, người đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho quê hương, dân tộc qua dòng nhạc thắm đượm tình quê hương, những bản tình ca đầy tình tự dân tộc, cho thân phận của con người và đặc biệt là những bản hùng ca bất khuất đấu tranh cho quê hương Việt Nam. Cả hội trường dường như lắng đọng, chỉ có những ngọn nến lung linh theo tiếng nhạc khi ban nhạc The Family Band hòa tấu một đoạn trong bài “Mai Tôi Đi” của Nhạc Sĩ Anh Bằng.

MC Lisa Trần đã nhắc lại mục đích ra đời của CLB Tình Nghệ Sĩ từ hoài bão của nhạc sĩ Anh Bằng. Ông mong ước thành lập một tổ chức để đoàn kết các anh chị em văn nghệ sĩ sinh hoạt trong mục đích bảo tồn và phát huy nền văn hoá Việt Nam ở hải ngoại, khuyến khích và nâng đỡ những tài năng mới và đấu tranh cho quê hương Việt Nam qua các sáng tác đấu tranh. Để hỗ trợ cho mục đích này, Ban Hợp Ca của CLB Tình Nghệ Sĩ đã ra đời và đã có mặt trong nhiều sinh hoạt văn hoá, xã hội và đặc biệt là các chương trình văn nghệ đấu tranh của cộng đồng trong nhiều năm qua.

Sau đó, MC Phiến Đan đã giới thiệu nhạc phẩm “Tình Nghệ Sĩ Hành Khúc”, một sáng tác của Nhạc sĩ Anh Bằng và Cao Minh Hưng, cũng là những người Sáng Lập Viên của CLB Tình Nghệ Sĩ. Đây là một bản nhạc hiệu dùng để mở màn trong những chương trình của CLB Tình Nghệ Sĩ, trên các chương trình talk show, với mục đích là mang tiếng hát lời ca để bảo tồn nền văn hoá và đấu tranh cho quê hương Việt Nam sớm có ngày được “tự do, nhân quyền”. Mặc dầu đã trình bày bài hát này nhiều lần trước đây, nhưng trong “Đêm Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Anh Bằng”, các anh chị em trong Ban Hợp Ca CLB Tình Nghệ Sĩ dường như ai cũng mang trong lòng nỗi xúc động khi hát lại bài hát vì biết rằng người Nhạc Sĩ kính yêu đã không còn ngồi dưới hàng ghế khán giả như trong các chương trình trước đây.

Sau phần phát biểu của GS Nguyễn Thanh Liêm, Nguyên Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục VNCH và cũng là vị Cố vấn về Văn Hóa cho CLB Tình Nghệ Sĩ, vinh danh những đóng góp của Nhạc sĩ Anh Bằng cho nền âm nhạc Việt Nam cũng như trong vai trò sáng lập viên và cố vấn của ông cho CLB Tình Nghệ Sĩ, chương trình văn nghệ với dòng nhạc của Nhạc sĩ Anh Bằng được bắt đầu.

Với hơn 600 nhạc phẩm mà Nhạc sĩ Anh Bằng đã để lại cho nền âm nhạc Việt Nam, thật khó mà có thể chọn lựa và trình diễn hết những nhạc phẩm đã đi vào lòng người nghe trong một chương trình chỉ có vài tiếng đồng hồ. Tuy nhiên, chúng tôi đã cố gắng chọn những bài hát tiêu biểu của ông và sắp xếp trong chương trình theo thứ tự những bài hát ông đã sáng tác trước năm 1975 và sau đó là dòng nhạc lưu vong sáng tác sau năm 1975.

Trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi xin ghi lại những cảm nghĩ qua những nhạc phẩm được trình bày trong chương trình tưởng niệm để chúng ta biết thêm về nỗi lòng của người nhạc sĩ tài ba chất chứa trong những nhạc phẩm này: Nỗi lòng của Người Nhạc Sĩ của Dân Tộc Việt Nam với trái tim luôn dành cho quê hương và dân tộc Việt Nam.

Khi nhắc đến một trong những nhạc phẩm đầu tay của NS Anh Bằng, chúng ta không thể không nhắc đến nhạc phẩm “Nỗi Lòng Người Đi”. Đây là một ca khúc được ông sáng tác trong bối cảnh quê hương Việt Nam với 2 miền Nam Bắc phân ly vào năm 1954 sau hiệp định Geneve, với hơn một triệu người miền Bắc di cư vào Nam để lánh nạn cộng sản. Nhạc sĩ Anh Bằng đã gửi gắm nỗi lòng của chính mình khi phải lìa xa Hà Nội, xa người yêu để vào Sài Gòn. Nỗi lòng của ông cũng chính là nỗi lòng của nhiều người có cùng hoàn cảnh trong lúc đó. Trong Đêm Tưởng Niệm, ca sĩ Trung Chỉnh, cũng là người được vinh hạnh là ca sĩ đầu tiên thâu bản nhạc này trong băng nhựa, đã trình bày lại nhạc phẩm này.

Nỗi lòng của Nhạc sĩ Anh Bằng được thể hiện qua một số nhạc phẩm của ông cũng là tiếng nói chia sẻ những niềm đau, những mảnh đời bất hạnh của những trẻ em mồ côi, lạc loài không nơi nương tựa. Một nhạc phẩm của Nhạc sĩ Anh Bằng với một tựa đề rất ngắn ngủi nhưng nội dung lại chất chứa tình người rất bao la, sâu lắng mang tính chất nhân bản này. Đó chính là nhạc phẩm: “Nó”, một nhạc phẩm mà ông đã sáng tác cùng với Nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ trong nhóm Lê Minh Bằng. Trong chương trình đêm tưởng niệm, tiếng hát của ca sĩ Lâm Dung đã làm cho khán giả một lần nữa cảm nhận được tấm lòng của Nhạc sĩ Anh Bằng với những thân phận mồ côi và bất hạnh trong xã hội.

“Quê hương non nước tôi ai gây hận thù tội tình.
Nhà Việt Nam yêu dấu ơi bao giờ thanh bình?”

Dường như đây là một câu hỏi luôn luôn ray rứt trong lòng của Nhạc sĩ Anh Bằng, một tấm lòng của người Nhạc Sĩ luôn dành cho quê hương với những tình cảm sâu đậm, không những trước đây, mà mãi mãi đến sau này khi ông đã định cư ở Hoa Kỳ. “Đêm Nguyện Cầu” cũng là một sáng tác của Nhạc sĩ Anh Bằng cùng với hai người bạn đồng sáng tác với ông trong nhóm Lê Minh Bằng đã cho chúng ta thấy sự trăn trở của ông cho vận mệnh của dân tộc và luôn mong ước cho quê hương Việt Nam sớm có ngày thanh bình. Ca sĩ Mạnh Hùng đã trình bày với tất cả cảm xúc của anh và đã nhận những tràng vỗ tay khen ngợi của khán giả.

Ngoài khả năng sáng tác rất tài tình, Nhạc sĩ Anh Bằng còn mở lớp nhạc với mong ước của ông là truyền lại kiến thức, đào tạo nhiều học trò mà sau này một số học trò từ lớp nhạc Lê Minh Bằng đã trở thành những ca sĩ thành danh như ca sĩ Ngọc Đan Thanh, ca sĩ Trang Mỹ Dung,v.v… để góp tiếng hát trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam. Trong đêm tưởng niệm nhạc sĩ Anh Bằng, một học trò từ lớp nhạc Lê Minh Bằng ngày nào là ca sĩ Minh Tâm đã gửi đến khán giả nhạc phẩm nổi tiếng “Sài Gòn Thứ Bảy” như một dịp chị tưởng nhớ đến công lao dạy dỗ của người Thầy của mình khi xưa.

Nhạc sĩ Anh Bằng đã phổ nhạc từ thơ của rất nhiều thi sĩ. Với tài phổ nhạc tài tình của ông, những vần thơ như được chắp cánh bay cao. Ví dụ như bài thơ “Cần Thiết” của Thi sĩ Nguyên Sa, được giới thưởng ngoạn biết đến nhiều hơn khi Nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc và đặt tên của bài hát là “Nếu Vắng Anh”. Đó là tấm lòng của ông muốn dành cho những người bạn thi sĩ của mình cơ hội để mang những đứa con tinh thần của mình đến với công chúng. Ca sĩ Michelle Thanh Mai đã trình bày rất xuất sắc nhạc phẩm này trong chương trình tưởng niệm.

Cũng trong dòng nhạc được sáng tác trước năm 1975, nhiều bài hát của Nhạc sĩ Anh Bằng viết thay cho nỗi lòng, cho tâm sự của những người trai trẻ gác bút nghiêng, hy sinh những tình cảm riêng tư trong lứa tuổi thanh niên thật đẹp để lên đường ra chiến tuyến phục vụ quê hương. Đó là điểm son trong nét nhạc của Nhạc sĩ Anh Bằng vì chúng ta không hề nghe những bi lụy, chán nản, than trách về cuộc chiến như một số nhạc sĩ sáng tác cùng thời, mà trái lại, nhạc của ông toát lên niềm tự hào về trách nhiệm của người thanh niên lên đường phục vụ cho Tổ Quốc, có lẽ một phần nào vì ảnh hưởng từ quãng đời quân nhân của ông. Những tâm tình của chàng trai trẻ khi nghĩ đến cảnh người yêu đến thăm mình trên căn gác vắng vì anh đã lên đường ra chiến trận được Nhạc sĩ Anh Bằng viết trong ca khúc “Gõ Cửa” và ca sĩ Huỳnh Anh đã chuyên chở thật trọn vẹn những tâm tình lạc quan này:

“Tôi tin rằng người ấy thêm thương
Vui lòng cho kẻ phong sương
Dấn thân ngoài súng đạn sa trường…”

Dòng nhạc của Nhạc sĩ Anh Bằng rất đa dạng vì ông đã sống qua những thăng trầm với vận mệnh của quê hương, cũng như ông đã từng đặt chân đến nhiều nẻo đường của quê hương. Chúng ta hãy nghe chàng trai đất Bắc mô tả hình ảnh của một “Huế Xưa”, với sông Hương núi Ngự, với Thôn Vỹ, cầu Tràng Tiền, chùa Thiên Mụ như thế nào qua điệu múa thướt tha của các chị em trong nhóm múa của CLB Tình Nghệ Sĩ với tiếng hát “rất Huế” của ca sĩ Mỹ Dung cùng múa chung với các chị Thùy Châu, Sandy, Tuyết Hoa, Thanh Vân và Ngọc Bích.

“Cho dù dâu biển chia phôi
Chiều nao nhìn áng mây trôi
Người ơi còn nhớ nhung này
Tôi yêu người còn hơn yêu tôi…”

Nghe những câu hát này, chúng ta có thể hình dung được trái tim dạt dào với một tình yêu bao la, trải rộng của người nhạc sĩ sáng tác. Và người đó không ai khác hơn, chính là Nhạc sĩ Anh Bằng, tác giả của nhạc phẩm “Biển Dâu”. Trong chương trình tưởng niệm, ca sĩ Mai Ngọc Khánh đã vinh danh và ca ngợi tài năng sáng tác của Nhạc sĩ Anh Bằng trước khi trình bày nhạc phẩm tình ca bất hủ này.

Bên cạnh những sáng tác chất chứa những tình cảm sâu lắng với những thể điệu nhẹ nhàng mà chúng ta đã có dịp nghe qua những nhạc phẩm của Nhạc sĩ Anh Bằng, thỉnh thoảng chúng ta vẫn bắt gặp những bài hát với những điệu nhạc vui tươi trong những sáng tác của Nhạc sĩ Anh Bằng. Theo ông cho biết, mục đích của những nhạc phẩm này là giúp mang lại tinh thần lạc quan, nhằm khích lệ tinh thần chiến đấu của những người chiến sĩ trẻ đang chiến đấu để bảo vệ cho lý tưởng Dân Chủ, Tự Do cho quê hương. Thật là một tấm lòng vì quê hương, vì dân tộc rất đáng ngưỡng mộ. Đối với những người đã từng có dịp gặp gỡ nhạc sĩ Anh Bằng, ai cũng đều quý mến ông ở tinh thần rất lạc quan, yêu đời cho đến những năm tháng cuối khi phải chống chọi với những cơn bệnh tật. Ông luôn muốn mọi người chúng ta ai cũng vui vẻ và sống lạc quan. Với tâm tư này, nữ hoàng nhạc kích động Mai Lệ Huyền đã mang lại chút không khí vui tươi cho khán giả trong đêm tưởng niệm với nhạc phẩm “Đám Cưới Nhà Binh”, mà theo như chị cho biết, đây là một nhạc phẩm đã giúp chị và ca sĩ Hùng Cường được giới khán giả yêu mến nhiều hơn.

Sau một số nhạc phẩm tiêu biểu trong dòng nhạc của Nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác trước năm 1975, khán giả được tiếp tục thưởng thức một số các ca khúc được sáng tác sau năm 1975. Một trong những sáng tác của Nhạc sĩ Anh Bằng sau năm 1975 đã được nhiều ca sĩ chọn để trình bày là nhạc phẩm “Mưa Chiều”, một bản tình ca rất đặc sắc đã được ca sĩ Hương Thơ trình bày rất trọn vẹn trong đêm tưởng niệm.

Một trong những nhạc phẩm gắn liền với tên tuổi nhạc sĩ Anh Bằng trong số những nhạc phẩm được ông phổ nhạc sau này là ca khúc “Anh Còn Nợ Em”. Như Nhạc sĩ Anh Bằng tâm sự, khi tuổi đời đã cao, ông thường tìm những rung động tình cảm qua những bài thơ mà ông tình cờ đọc được. Có những bài thơ khi phổ nhạc, chính Nhạc sĩ Anh Bằng cũng chưa bao giờ biết nhà thơ là ai. Bài thơ “Anh Còn Nợ Em” của thi sĩ Phạm Thành Tài cũng là một trong những trường hợp này. Khán giả trong hội trường dường như đã để tâm hồn thật lắng đọng theo hơi thở của thời gian, để cùng với những nốt nhạc lời ca của bản nhạc “Anh Còn Nợ Em” qua tiếng hát của ca sĩ Trần Hào Hiệp để trở về với những những kỷ niệm tình yêu thật đam mê, chất ngất, với những ghế đá, công viên, dòng xưa, bến cũ, con sông êm đềm, v.v… Càng nghe nhạc phẩm này, chúng ta càng cảm nhận được nỗi lòng của nhạc sĩ Anh Bằng qua ca khúc bất hủ “Anh Còn Nợ Em”.

Có những ca khúc mà chúng ta đã từng hát nghêu ngao từ thuở bé, đến nỗi nó đi vào lòng từ lúc nào không hay, nhưng đôi khi chúng ta lại không biết tác giả là ai vì nó đã trở nên rất gần gũi, mộc mạc, như một phần đời sống của chúng ta. Chắc hẵn trong số chúng ta đã từng có lúc nghêu ngao hát “Tôi kể người nghe đời Lan và Điệp một chuyện tình cay đắng…”, hay lớn lên một chút, ở lứa tưổi mộng mơ với những câu hát như “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi, cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn…” trong bài “Bướm Trắng”. Tuy nhiên, đôi khi có nhiều người không biết đó chính là những ca khúc do Nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác. Ôi, những bài hát thật gần gũi và quen thuộc làm sao. Nhạc phẩm “Bướm Trắng” do Nhạc sĩ Anh Bằng phổ từ bài thơ “Người Hàng Xóm” của thi sĩ Nguyễn Bính đã được ca sĩ Ngọc Hà trình bày rất hay trong đêm tưởng niệm.

Một bài hát nổi tiếng khác theo thể điệu vui cũng lột tả được quan niệm sống rất lạc quan của Nhạc sĩ Anh Bằng, dù cho có những lúc đau khổ, xa cách trong cuộc tình. Ví dụ như những lời ca trong bài hát “Tình Là Sợi Tơ” như sau:

“Nếu lỡ mai sau mình không còn bên nhau
Nếu lỡ mai sau tình trôi vào đớn đau
Đừng buồn nghe em, đừng sầu nghe em
Tình yêu là những ngôi sao bay vèo trong đêm…”

Khán giả đã dành những tràng pháo tay không ngớt sau phần trình bày của ca sĩ Mỹ Lan với nhạc phẩm “Tình Là Sợi Tơ”.

Những người có dịp gần gũi với Nhạc sĩ Anh Bằng, càng thêm hiểu tấm lòng thương mến của ông luôn dành cho mọi người. Bằng một giọng nói pha đầy nước mắt, ca sĩ Thúy Anh đã làm cho khán giả nghẹn ngào, rơi lệ khi Thúy Anh kể lại kỷ niệm về sự ra đời của nhạc phẩm “Mình Ơi! Em Chẳng Cho Về”. Theo như Thúy Anh cho biết, có lẽ vì thương mến hình dáng nho nhỏ của “cô Bắc Kỳ” Thúy Anh, mà nhạc sĩ Anh Bằng đã sáng tác ca khúc này để tặng cho ca sĩ Thúy Anh. Trong tiếng đàn của nhạc sĩ Nguyên Vũ, Thúy Anh đã trình bày ca khúc trong niềm xúc động và có lúc Thúy Anh đã bước xuống phía dưới khán giả để mời mọi người hát chung với mình.

Một trong những ca khúc có thể nói đã gây xúc động và được rất nhiều ca sĩ chọn để trình bày cũng như được thính giả yêu mến ngay sau khi ra đời là nhạc phẩm “Khúc Thụy Du”. “Khúc Thụy Du” được thi sĩ Du Tử Lê viết vào tháng 3, 1968. Bài thơ như một bài kinh ru buồn, một nỗi ám ảnh về thân phận con người trước chia ly, mất mát trong chiến tranh. “Khúc Thụy Du” với chữ “Thụy” lấy từ tên của cô gái tên Thụy Châu và chữ “Du” từ tên của thi sĩ Du Tử Lê. Định mệnh đưa đẩy, mãi đến năm 1985, bài thơ này mới đến tay của Nhạc sĩ Anh Bằng. Nếu như bài thơ “Khúc Thụy Du” của Du Tử Lê nguyên thuỷ miêu tả những nỗi ám ảnh của sự sống chết, những tiếng kêu đau thương cho thân phận con người thì qua đôi tay phổ nhạc phù phép của Nhạc sĩ Anh Bằng, Khúc Thuy Du biến thành một giai điệu êm ái, da diết mang nặng dấu ấn về thân phận tình yêu với những câu hỏi tha thiết bắt đầu bằng 2 chữ “Vì sao…?”. MC kiêm ca sĩ Lisa Trần đã trình bày rất xuất sắc nhạc phẩm này trong đêm tưởng niệm Nhạc sĩ Anh Bằng.

Khi nói đến những nhạc phẩm viết về “Mẹ” nổi tiếng trong âm nhạc Việt Nam, chúng ta có những ca khúc như “Lòng Mẹ” của Nhạc sĩ Y Vân, “Bà Mẹ Gio Linh” của Nhạc sĩ Phạm Duy, v.v… Riêng đối với Nhạc sĩ Anh Bằng, ông cũng có một số sáng tác về người Mẹ, như bài “Chuyện Một Đêm” mà ông đã sáng tác vào năm 1968, nói về nỗi đau của người mẹ trong chiến tranh, khi đứng trước cái chết của con mình. Tuy nhiên, một trong những nhạc phẩm về Mẹ mà ông sáng tác sau này và được nhắc đến nhiều nhất là bài “Khóc Mẹ Đêm Mưa”. Nhạc phẩm “Khóc Mẹ Đêm Mưa” được nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác vào năm 2005 và đã mau chóng đi vào lòng người nghe. Có lẽ vì ngoài melody rất hay, lời của bài hát cũng đã gây nhiều cảm xúc cho những người có cùng chung niềm tâm sự, nhất là những người Việt tị nạn ở hải ngoại, như những lời hát sau đây trong nhạc phẩm nổi tiếng này:

“Còn quê mẹ xa nửa vòng thế giới
Con không về từ ngày mẹ ra đi…”

Ca sĩ Ngọc Diệp đã chọn ca khúc này để trình bày trong đêm tưởng niệm và đã được sự khen ngợi của khán giả.

Nhà thơ Đặng Hiền, một thi sĩ của đất Quảng Nam là người cũng có nhiều ca khúc được phổ nhạc. Từ một câu chuyện tình trong bài thơ “Từ Độ Ánh Trăng Tan” của anh, qua những nốt nhạc tài tình của Nhạc sĩ Anh Bằng, đã làm người nghe biết đến và như cùng tác giả dạo bước trên bờ “Half Moon Bay” mà người Việt chúng ta gọi là vịnh Bán Nguyệt ở miền Bắc Cali. Nhạc phẩm này đã được trình bày qua tiếng hát của Bác sĩ kiêm ca sĩ Ngô Bá Định trong đêm tưởng niệm.

Như có đề cập trong một bài viết trước đây, chúng tôi hân hạnh được sáng tác chung một vài ca khúc với Nhạc sĩ Anh Bằng và bài hát cuối cùng mà chúng tôi có dịp sáng tác chung với ông, đó là bài “Việt Nam Ơi! Việt Nam Ơi!”. Bản nhạc chỉ mới được hoàn thành vào tháng 9 vừa qua, trước khi Nhạc sĩ Anh Bằng vĩnh viễn ra đi. Qua bản nhạc này, chúng tôi muốn nêu cao niềm tự hào về truyền thống hào hùng bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, về những nét đẹp lịch sử của 3 miền quê hương với những địa danh như Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Với lòng tự hào này, chúng ta càng quyết tâm đấu tranh gìn giữ quê hương Việt Nam mến yêu.

Trong dòng nhạc sáng tác mới sau này, nhạc phẩm “Mùa Trăng” là một sáng tác mà Nhạc sĩ Anh Bằng đã phổ nhạc từ bài thơ của Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, người mà ông đã kết nghĩa anh em và gọi là “Sư Đệ”, cũng như phu nhân của ông là chị Phiến Đan được ông gọi là “Hiền Muội”. Bài thơ “Mùa Trăng” của Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh ghi lại một mối tình rất nên thơ của chàng trai “của gió sông hồ kết hợp”, trong một đêm trăng sáng về thăm quê ngoại và đã tình cờ gặp một cô bé với đôi mắt đen e ấp nấp sau lưng mẹ. Để rồi sau 10 năm du học, chàng mới có dịp trở về gặp lại cô bé ngày xưa nay đã lớn. Khán giả trong đêm tưởng niệm đã được nghe hết câu chuyện tình này qua tiếng hát của ca sĩ Ngọc Quỳnh.

Một nhạc phẩm có thể nói rất tiêu biểu trong dòng nhạc lưu vong của NS Anh Bằng: Đó chính là nhạc phẩm “Cõi Buồn”. Nếu chúng ta để tâm hồn mình thật lắng đọng để nghe những lời ca trong bài hát này, chúng ta mới càng thấy thấm thía nỗi lòng của người nhạc sĩ xa quê hương nhưng luôn mang canh cánh trong lòng hình ảnh của quê nhà qua những ước mơ chỉ có thể xuất phát từ tấm lòng của một người yêu quê hương đất nước rất thiết tha như ông, mới có thể nghĩ tới:

“Ta muốn kéo mặt trời lặn đằng Đông, mọc đằng Tây
Ta muốn iam thời gian trong khám tù đày…”

Những tâm tình này đã được diễn tả thật trọn vẹn qua tiếng hát của ca sĩ Nghiêm Bảo Toản trong đêm tưởng niệm Nhạc sĩ Anh Bằng.

Nói về nghệ thuật phổ nhạc của Nhạc sĩ Anh Bằng, chúng tôi được ông cho biết một số bài thơ của các thi sĩ là nguồn cảm hứng giúp cho ông tiếp tục sáng tác. Khi tuổi đời đã cao mà nếu sáng tác về đề tài tình yêu thì ông cho là không thích hợp. Tuy nhiên, đức tính khiêm nhượng đáng quý ở ông mà khi có dịp tâm sự, chúng tôi được ông cho biết trong phần lớn nhạc phẩm mà ông đã phổ nhạc, ông chỉ lấy ý tưởng của bài thơ và sau đó thì sửa lại, dùng nhiều từ ngữ của ông cho bài hát. Tuy nhiên, khi nhạc phẩm được hoàn thành, trong phần lời nhạc, ông không ghi tên của mình chung với thi sĩ mà dành cho tác giả bài thơ như là người đã sáng tác lời cho toàn bộ bài hát. Trúc Đào, một bản nhạc nổi tiếng mà Nhạc sĩ Anh Bằng đã phổ nhạc từ bài thơ cùng tên của một của thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên, tuy ý tưởng của bài thơ và bài hát có hơi khác nhau, nhưng cả bài thơ lẫn bản nhạc đều vẫn giữ được những nét đẹp và có cái hay riêng của nó. Nhạc phẩm Trúc Đào đã được nhiều ca sĩ chọn để trình diễn và trong đêm tưởng niệm, chúng tôi chọn tiếng hát của ca sĩ Lily, một ca sĩ khi rời Việt Nam còn rất trẻ, nhưng có tấm lòng luôn muốn tìm hiểu về cội nguồn, như ý nguyện của Nhạc sĩ Anh Bằng khi thành lập CLB Tình Nghệ Sĩ là mong muốn nâng đỡ những tài năng trẻ ở hải ngoại.

Nhạc sĩ Anh Bằng đã sáng tác rất nhiều nhạc phẩm về người lính Việt Nam Cộng Hoà từ những năm tháng chiến chinh trên quê hương Việt Nam trước năm 1975. Ra đến hải ngoại, sau bao thập niên cuộc chiến đã đi qua, nhưng điều làm mọi người ngạc nhiên là tâm sự của người lính chiến lại một lần nữa được ông diễn tả rất thành công qua nhạc phẩm “Chuyện Giàn Thiên Lý”, được trình bày tiếng hát của ca sĩ Mạnh Đình trong những thập niên 90. Cũng ca khúc này, trong đêm tưởng niệm Nhạc sĩ Anh Bằng, được trình bày bởi một người lính VNCH đã từng trải qua hơn 20 năm trong lao tù cộng sản, đó chính là ca sĩ Nguyễn Nhân.

“Anh rót cho khéo nhé, kẻo lầm vào nhà tôi
Nhà tôi ở cuối chân đồi,
có giàn thiên lý, có người tôi thương…”

Khi nói đến đến cùng một bài thơ, nhưng được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, chúng ta phải nói đến bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của thi sĩ Hữu Loan. Đây là một câu chuyện tình rất bi thương trong thời chiến của một anh lính chiến có người vợ qua đời khi tuổi đời nàng còn rất trẻ trong lúc anh ra chiến trường. Khi anh trở về và đau đớn khi hay tin người vợ trẻ đã qua đời, anh mang chiếc bình hoa, món quà duy nhất anh đã tặng cho nàng trong ngày cưới, để mang ra đặt trên mộ nàng. Câu chuyện tình đau thương trong thời chinh chiến qua bài thơ của thi sĩ Hữu Loan đã được 2 nhạc sĩ phổ nhạc rất thành công là Nhạc sĩ Dũng Chinh và Nhạc sĩ Phạm Duy. Tuy nhiên, khi Nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc lại bài thơ này với lời bài hát có sự thay đổi so với bài thơ nguyên thủy, nhưng bản nhạc “Chuyện Hoa Sim” ngay lập tức đã gây được tiếng vang với tiếng hát của ca sĩ Như Quỳnh và tạo sự thành công về tài chính cho trung tâm Asia mà nhạc sĩ Anh Bằng đã bỏ nhiều tâm huyết để gây dựng. Điều này một lần nữa nói lên thiên tài sáng tác của Nhạc sĩ Anh Bằng. Bài hát “Chuyện Hoa Sim” đã được gửi đến khán giả tham dự đêm tưởng niệm qua tiếng hát của ca sĩ Thùy Châu.

Kết thúc phần văn nghệ trong dòng nhạc của Nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác sau năm 1975 là bài “Mai Tôi Đi” được ca sĩ Kim Yến trình bày. Không phải là một điều ngẫu nhiên khi chúng tôi chọn nhạc phẩm “Mai Tôi Đi” do ban nhạc The Family Band hoà tấu trong giây phút tưởng niệm Nhạc sĩ Anh Bằng trong phần đầu của chương trình. Nhạc phẩm “Mai Tôi Đi” dường như một lời nhắn nhủ mà Nhạc sĩ Anh Bằng muốn mượn những lời thơ của thi sĩ Nguyên Sa để gửi gắm những tâm tình của mình trước khi vĩnh viễn ra đi.

“Mai tôi đi, chắc trời giăng mưa lũ
Mưa thì mưa, chắc tôi không bước vội
Nhưng chẳng thế nào,
Thì cũng sẽ xa nhau,
Mình cũng sẽ xa nhau…”

Cho dù thế nào, rồi cũng sẽ xa nhau. Tuy nhiên, với một người có tâm lòng nhân hậu, một thiên tài về âm nhạc, một người luôn có trái tim khắc khoải với những nỗi đau của vận nước như Nhạc sĩ Anh Bằng, chúng ta không ai muốn xa ông và không muốn thấy ông đi xa. Nhưng dù thế nào, thì ông cũng đã vĩnh viễn lìa xa chúng ta. Tuy nhiên, những bản nhạc của ông chắc chắn sẽ còn ở lại mãi với chúng ta với những tâm tình từ nỗi lòng của ông trải bày qua những ca khúc mà chúng tôi đã lựa chọn để trình bày trong đêm tưởng niệm.

Phần cuối của chương trình là phần nhạc tưởng niệm từ một số sáng tác của các thi nhạc sĩ để tưởng niệm Nhạc sĩ Anh Bằng. Nhạc phẩm “Chào Vĩnh Biệt Anh”, một sáng tác của ca sĩ Hạnh Cư do chính anh trình bày đã làm rơi lệ nhiều khán giả trong hội trường qua giọng ca trầm ấm của anh. “Chào Vĩnh Biệt Anh” như một lời vinh vanh đến Nhạc sĩ Anh Bằng cũng như cảm thông với những trăn trở, những âu lo và nguyện ước của ông cho quê hương Việt Nam sớm có ngày được dân chủ, nhân quyền. Tiếc rằng, ước mơ đó chưa được thực hiện thì ông đã ra đi.

“Anh một ngôi sao sáng đã lịm tắt trên bầu trời cao.
Anh ra đi mang theo nỗi ngậm ngùi, tức tưởi vì những dòng nhạc đấu tranh còn đầy ắp trong tim anh.”

Bài hát “Cánh Chim Bằng Đã Bay Xa”, một sáng tác của Luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa, được chính anh và Ban Hợp Ca của Phong Trào Hưng Ca Việt Nam trình diễn đêm tưởng niệm Nhạc sĩ Anh Bằng để vinh danh một người nghệ sĩ luôn đấu tranh cho quê hương Việt Nam qua những dòng nhạc hùng ca của ông sáng tác sau này, khi quê hương Việt Nam đứng trước hiểm họa xâm lăng của Trung cộng. Luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa đã nhắc đến một số tên bài hát của Nhạc sĩ Anh Bằng trong sáng tác mới của mình.

“Nụ Cười Hiền Hoà-Trái Tim Nhân Hậu” là một bài thơ của thi sĩ Phi Loan. Chị đã ngậm ngùi đọc bài thơ này trước linh cữu của Nhạc sĩ Anh Bằng và trong đêm tưởng niệm, chị đã đọc lại bài thơ này để mọi người cùng nhau nhớ đến người nghệ sĩ có nụ cười hiền hòa, tấm lòng nhân ái và cầu nguyện cho linh hồn của Nhạc sĩ Anh Bằng sớm về cõi vĩnh hằng cũng như cầu mong cho những ước mơ của ông cho một quê hương Việt Nam được tự do, dân chủ, nhân quyền sẽ sớm thành sự thật.

Kết thúc chương trình, Ban Hợp Ca của CLB Tình Nghệ Sĩ với những ngọn đuốc thắp sáng trên tay đã trình bày bài hát “Thắp Sáng Việt Nam”, một sáng tác của Nhạc sĩ Anh Bằng và Cao Minh Hưng, để hy vọng thắp sáng lên niềm ước vọng cho quê hương Việt Nam sớm có ngày được tự do, dân chủ, nhân quyền. Mong rằng những ngọn lửa đấu tranh từ nơi đây sẽ được tiếp tục chuyển tiếp về đến quê hương Việt Nam để chúng ta cùng nhau:

“Đốt nến lên! Đốt nến lên thắp sáng niềm tin hướng đi công bình…”
Đốt nến lên! Đốt nến lên thắp sáng Việt Nam tiến theo nhân quyền…”

Những lá cờ Việt Nam Cộng Hòa đã rợp cánh tung bay trong hội trường VNCH khi các vị quan khách, các anh chị trong Phong Trào Hưng Ca, cùng hát vang ca khúc “Cả Nước Đấu Tranh” với Ban Hợp Ca của CLB Tình Nghệ Sĩ. Mong rằng những âm thanh này qua những video, youtube, v.v. sẽ bay thật cao, thật xa về đến quê hương Việt Nam để mong ngày cả nước cùng vùng lên đấu tranh cho quyền sống con người như ý nguyện của Nhạc sĩ Anh Bằng qua nhạc phẩm này của ông.

Giờ đây, Nhạc sĩ Anh Bằng đã vĩnh viễn rời xa Hà Nội, rời xa Sài Gòn yêu dấu và rời xa mảnh đất mà ông gọi là “Cõi Buồn”, nhưng tâm tình của ông, nỗi lòng của ông trải dài qua từng ca khúc mãi mãi vẫn ở lại với chúng ta. Chúng ta cầu mong sao nỗi lòng của ông dành cho quê hương với ước mơ “nhà Việt Nam yêu dấu ơi, bao giờ thanh bình” sẽ sớm trở thành hiện thực.

Anthony Cao

12/2015

VI THÙY LINH : Nguyễn Thiện Đạo – nhạc sĩ, văn sĩ, tâm hồn lớn


Nguyễn Thiện Đạo – nhạc sĩ, văn sĩ, tâm hồn lớn

authorVI THUỲ LINH Thứ Hai, ngày 23/11/2015 08:04 AM (GMT+7)

(Dân Việt) Rạng sáng 21.11 (giờ Việt Nam), nhà soạn nhạc Nguyễn Thiện Đạo qua đời tại Paris (Pháp), hưởng thọ 75 tuổi. NTNN giới thiệu bài viết của nhà thơ Vi Thùy Linh về cuộc đời và sự nghiệp của nhà soạn nhạc tài ba này.

nguyen thien dao -  nhac si, van si, tam hon lon hinh anh 1

Nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo. Ảnh: I.T

Tôi từng nói với ông, nếu anh không theo âm nhạc thì có thể là một nhà văn nổi tiếng. Yêu nước bằng kết nối tâm linh, tâm hồn dân tộc, Nguyễn Thiện Đạo đã thấy dặm dài lịch sử nước Việt bao trùm lịch sử các thành tựu nghệ thuật tựu lại 2 cụm từ: Hào khí và Trữ tình lai láng. Quan điểm nghệ thuật và tư duy dân tộc trong âm nhạc của Nguyễn Thiện Đạo tương liên ở văn chương. Đến Paris (Pháp) khi 13 tuổi,  dễ nạp, tiếp thu những cái mới và phải thích nghi với cuộc sống đất khách, giữ nguyên quốc tịch Việt Nam dù nhập quốc tịch Pháp từ năm 1980, nhạc sĩ ấp ủ lòng thương nhớ quê hương bằng việc đọc và tìm hiểu văn chương qua sách, văn học lịch sử, những huyền thoại, truyền thuyết. Tôi là một trong rất ít người đầu tiên được nhạc sĩ ký tặng truyện dài “Sống lửa” (NXB Hội Nhà văn, tháng 4.2015).

“Sống lửa” đang được dịch ra tiếng Pháp, tác giả không chờ được đến ngày bản dịch ra đời để hưởng hạnh phúc truyền vẻ đẹp tâm hồn – lịch sử Việt Nam bằng ngôn ngữ, sau âm nhạc. “Sống lửa” vẫn sống cùng tên Nguyễn Thiện Đạo, người đã thấu Ánh sáng thần linh qua bao biến động, chiến tranh, máu chảy, chết chóc truyền ngọn lửa thần kỳ của cái đẹp và niềm tin vào tâm hồn dân tộc.

Kế hoạch làm việc của Nguyễn Thiện Đạo thường kín lịch trước cả năm. Ông đang dồn sức cho giao hưởng Linh giác (tiểu thành vua, vua thành Phật) là câu chuyện âm nhạc mang âm hưởng dân ca Nam Bộ về Lý Công Uẩn và Trần Nhân Tông do vùng Val de Marne (ngoại ô Paris) đặt viết, sẽ diễn vào 8-10.4.2016, tại vùng Choisy le Roy (kết nghĩa với quận Đống Đa), tỉnh nhỏ của Val de Marne và kết thúc tại Ile Saint Louis (Paris). Tháng 9 vừa qua, nhạc sĩ về nước chuẩn bị biểu diễn Thiên sử thần kỳ, do UBND TP.Hà Nội đặt hàng. Chuyến đi dở dang vì ông phải về Pháp gấp do phát hiện ung thư gan. Nguyễn Thiện Đạo lỡ hẹn với tôi trong chuyến về Việt Nam này và cũng không thể chỉ huy trong đêm nghệ thuật kỷ niệm 20 năm cầm bút của tôi Thu 2016. Song tôi vẫn hằng tin ở thế giới tâm linh, tin ông vẫn thức động những hoài bão, từ năng lượng sáng tạo tràn đầy.

Nguyễn Thiện Đạo sành ăn, đi uống, ăn với ông ở Paris hay Hà Nội rất thú vị, bởi ông không chỉ biết về nhiều món ngon mà còn giới thiệu quán, nhà hàng về giá trị lịch sử của nó. Chúng tôi đã ăn một bữa trưa kéo dài ở nhà hàng thuộc Hotel Lutétia (từ 1910, là khách sạn sang trọng duy nhất thuộc tả ngạn sông Seine), tại quận 6 Paris, nơi Hồ Chí Minh đã tới đây năm 1946.

Những con đường trung tâm Paris đầy dấu ấn danh nhân có bước chân Nguyễn Thiện Đạo đi qua, lưu dấu bóng hình người  đàn ông nhỏ bé mà tầm vóc và sự nghiệp bề thế. Người vợ  Nguyễn Thị Thương Hiền đã sống cùng ông 52 năm, nay chỉ còn một mình. Nguyễn Thiện Đạo sống trên phố Đàn Bà (28 Rue Madame), song cả đời chỉ có một người tình – Nghệ thuật. Người tình ấy là ý nghĩa cuộc sống của ông bằng mong mỏi cống hiến hết mình cho Việt Nam, bằng những tác phẩm nghệ thuật kiệt xuất.

Tôi sẽ trở lại Paris, đi bộ trên đại lộ và những con phố đã dạo bước cùng ông, như từng vừa đi vừa nói chuyện, tranh luận, bàn bạc về nghệ thuật mãi không muốn dứt..

 Trong sự nghiệp của mình, Nguyễn Thiện Đạo sáng tác gần trăm tác phẩm âm nhạc: Giao hưởng, opéra, hoà tấu, hợp xướng, nhạc phim “dân tộc đích thực – nhân loại tiên phong” và là một trong số ít các nhạc sĩ có năng lực văn học dù mới chỉ có “Sống lửa” được xuất bản.

http://danviet.vn/van-hoa/nguyen-thien-dao-nhac-si-van-si-tam-hon-lon-642545.html