Category Archives: TIỂU SỬ NHẠC SĨ

Trịnh Thanh Thủy : Phần 2 của NS Nguyễn Văn Đông và những điều chưa nói hết (NS Nguyễn Văn Đông nói về nhạc của mình)


Phần 2 của NS Nguyễn Văn Đông và những điều chưa nói hết
(NS Nguyễn Văn Đông nói về nhạc của mình)

trinhthanhthuy.jpg

Trịnh Thanh Thủy biên sọan
Sau khi nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông nằm xuống, trên mạng mọi người bắt
đầu truyền nhau nghe nhạc ông sáng tác. Càng nghe lại càng yêu mến
ông hơn vì tôi và biết bao nhiêu người Việt ở miền Nam trước 75 đã
sống và chia sẻ cùng ông những tư duy, tâm sự, hay cảnh ngộ ngang trái
của con người trong một đất nước có chiến tranh trên cả hai miền Nam
và Bắc. Nhất là trong cái cảnh mưa phùn, gió rít của một mùa xuân Cali
2018, xứ người, trời gây gây lạnh, cái buồn nhè nhẹ bỗng lãng đãng
trong tôi. Giọng ca mê hoặc lòng người của Hà Thanh mà người ta gọi
là sang cả, quấn quít, ám ảnh óc tôi khôn nguôi. Hình như nỗi thương,
niềm nhớ một mùa xuân nó bàng bạc trong nhạc của Nguyễn Văn Đông
và vận vào ông đến nỗi ông đã ra đi vào một ngày xuân và đã không bao
giờ trở lại.
Trong buổi gặp gỡ tháng 12 năm 2011, tôi có nói chuyện với ông về các
tác phẩm đã làm sáng danh ông vào thập niên 60 như "Chiều mưa biên
giới, Mấy dặm Sơn Khê, và Về mái nhà xưa.v..v..". Ông đem ra một cái
máy hát cầm tay cũ, một tập nhạc và một chồng CD trong đó có những
đĩa nhạc của ông. Ông bảo "Đây là những CD có nhạc của chú do các ca
sĩ hát nhạc chú, tặng chú. Chú cho cháu thâu lại hay lấy bất cứ bản copy
nhạc nào của chú nhưng không được bán hay làm thương mại". Tôi chọn
ra những bài hát tôi ưa thích và ông đã ký đề tặng tôi. Nhìn những dòng
chữ như rồng bay phượng múa “Quý mến tặng cháu Trịnh Thanh Thủy”,
tôi giật mình tự hỏi khi nào chữ viết tay đẹp như vậy tuyệt chủng, bởi
lâu lắm rồi tôi không nhìn thấy những dòng chữ viết tay đẹp như vậy, vì
thời đại này, tôi và nhiều người quen nhìn những dòng chữ đánh máy
của máy tính, của Iphone hằng ngày.
Tôi thấy trong các CD nhạc có rất nhiều bài do Hà Thanh hát, nhân đấy
tôi hỏi "Cháu có biết và hay nói chuyện với cô Hà Thanh, cô Hà Thanh
hát nhạc chú rất hay". Nghe tôi nói vậy, mắt ông bỗng xa xăm. Ông cầm
cuốn CD của Hà Thanh lên một cách trân quí, "Hà Thanh hát nhạc của

chú đạt nhất". Rồi ông mở cái máy hát cũ, giọng trong và cao của con
hoạ mi xứ Huế vút lên, người nhạc sĩ chìm vào dĩ vãng và thế giới của
riêng mình. Tôi bắt đầu bàn luận với ông về âm vực của Hà Thanh, tôi
thích cái lối cô luyến láy. Ông bảo Hà Thanh hát dễ dàng những bài có
âm vực rộng của ông viết. Từ ngày cô qua Mỹ, ông không còn gặp cô
nhưng ông vẫn theo dõi theo tiếng hát của cô đều đặn. Tôi bảo tôi thích
nhất là bài "Mấy dặm sơn khê" của ông nó vừa buồn vừa lãng mạn nhất
là do Thái Thanh hát. Ông đồng ý nói, Thái Thanh có âm vực rất tốt, hát
được những bài có nốt cao như “Mấy dặm sơn khê” của ông thật tuyệt
vời. Tôi hỏi thêm, hình như những bản nhạc của chú đều viết cho những
người có âm vực rộng. Ông cười nói, do đó có những bản chú phải viết
lại cho các ca sĩ khác dễ hát hơn. Tôi tò mò “Trong quá trình sáng tác,
chú có viết nhạc cho riêng một ca sĩ nào, hình bóng nào rõ rệt không?”.
Ông bảo “Khi có, khi không, tùy lúc và tùy hứng, cháu ơi”.
Tôi bắt đầu nhắc đến thời vàng son của ông với những bản nhạc nổi
tiếng như “Chiều mưa biên giới, Hải ngoại thương ca, Tình khúc hàng
hàng lớp lớp ..v..v…” Tôi bảo chú là người đầu tiên trong âm nhạc trước
1975, dùng chữ “Hải ngoại” đó. Tôi tiếp tục nhận xét “Cháu yêu thích
những câu kết trong nhạc của chú, câu nào cũng mang ấn tượng sâu đậm
cho nguời hát và người nghe khiến họ nhớ mãi. Như câu “Em ái yêu
trong chiều đông gió, mang áo xanh theo chồng sang sông, quên mái
tranh quên, con đò xưa”. Tôi cười cười, dí dỏm hỏi, “vừa âu yếm, vừa
nao lòng, có phải bài này chú viết cho người yêu đầu đời không?”. Chú
cũng cười bảo tôi, muốn hiểu sao cũng được, nhưng bài này có hình ảnh
quê cũ là Tây Ninh, ngày chú trở lại, nên trong đầu bài nhạc có ghi
“Dâng mảnh đất quê nghèo -Tây Ninh-. Về sau 10 năm xa cách, ngày về
vẫn với tâm hồn bơ vơ, cô độc, và tấm lòng dễ tin, dễ yêu như ở buổi ra
đi. N.V. Đ. 1964.”
Ông nói thêm rằng, sau này ông nghe có những ca sĩ hát bài này, lời bị
sai mà họ cứ hát khiến ý nghĩa lời hát bị méo mó. Đó là câu “Tôi lắng
nghe tâm tình nhân thế, qua đáy tim chưa đục sông Mê…”. Họ hát thành

“qua đáy tim chưa đục “song mê” hay “song khuya”. Ông bảo trong bản
nhạc phát hành hồi đó ông đã cẩn thận ghi chú “Sông Mê, nghĩa bóng,
tức lòng không bợn nhơ”. Rồi ông ngồi tỉ mỉ giải thích cho tôi nghe
nghĩa của Sông Mê. Khi người ta chết phải đi qua cầu Nại Hà, dưới đó là
Sông Mê, rồi uống chén cháo lú để quên kiếp trước, không còn thương
tiếc nuối về cảnh cũ mà lộn kiếp trở lại. Nghe ông giải thích tôi mới vỡ
lẽ ra ý nghĩa sâu sắc của câu “Tôi lắng nghe tâm tình nhân thế qua đáy
tim chưa đục sông Mê”, có nghĩa lòng người trở về còn y như lúc đi, yêu
mảnh đất quê, yêu mái tranh và chưa quên hình bóng người xưa. Nhất là
còn yêu lắm lắm, thế mà nhân tình thế thái đổi thay “và em ái yêu đã
mang áo xanh theo chồng sang sông mất rồi”.
Về Mái Nhà Xưa – Hà Thanh

Tôi tấn công thêm “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng, thì đường trần
mưa bay gió cuốn, còn nhiều anh ơi”, theo cháu, câu cuối lại là câu sâu
sắc nhất trong bài nhạc “Chiều mưa Biên giới” chú ơi”. Mặt ông bỗng sa
sầm, giọng đầy cảm xúc “Chính câu này đã là câu hát gây rắc rối cho đời
chú.”. Ông hồi tưởng lại những giây phút gặp khó khăn phải đương đầu
với chính quyền VNCH. Những câu hát trong bài “Chiều mưa biên giới”
đã làm ông khó xử. Ông tiếp "Những gì chú viết đều là cảm xúc thật,
những câu hát trong bài "Chiều mưa biên giới" là những câu hát nói lên
nỗi lòng thương nhớ của người đi chiến đấu, dành lại non sông, mà
chính chúng lại khiến chú khó xử với chính quyền đương thời ngày đó".
Ông không kể tôi nghe chi tiết, nhưng sau này tôi đọc các bài viết thì
biết ông bị phạt trọng cấm 15 ngày và tác phẩm này cùng “Mấy dặm sơn
khê” bị cấm lưu hành một thời gian với lý do nội dung làm suy yếu tinh
thần binh sĩ. Bản nhạc có lời đề tặng rất cảm động “Kính tặng các chiến
sĩ một nắng hai sương, lao mình nơi tiền tuyến. Kỷ niệm Đồng Tháp
Mười(biên giới Việt-Cambod- 1956)”.

Chiều Mưa Biên Giới – Trần Văn Trạch- Shot Gun11 trước 75-

Thái Thanh – Mấy Dặm Sơn Khê – Thu Âm Trước 1975

Thấy ông buồn tôi lãng sang chuyện khác, bảo “Nói đến nhạc lính, theo
nhận xét riêng của cháu, nhạc chú có những giai điệu rất quý phái, mà
vẫn gần gũi, đi thẳng vào lòng người, điều mà có nhạc sĩ được học hành
chỉnh chu cũng không làm nổi, những tình khúc viết cho người lính của
chú không giống với các nhạc sĩ khác như Trần Thiện Thanh, Trịnh Lâm
Ngân, Lam Phương chẳng hạn.". Ông nhấn mạnh rằng, ông sáng tác
những bài hát về người lính khác với những nguời khác, tại ông sống
thực. Ông là một sĩ quan tác chiến cùng các quân nhân xông pha trong
lửa đạn nên những gì ông viết là cảm xúc thực của người lính đã ôm
súng ngoài chiến trường. Còn những nhạc sĩ khác viết nhạc lính vì nhu
cầu, lý do thương mại, chính trị hay bởi đơn đặt hàng, có khi cảm xúc vì
cái chết, sự hy sinh của những người lính trận mà viết, nên nghe ra khác
với nhạc lính của ông. Ngoài ra không có sự chi phối nào giữa một
người quân nhân và một người lãnh đạo trong khi sáng tác, dù ông làm
tới Trung Tá trong quân lực VNCH. Ông kể thêm ngày xưa ông đã từng
làm Trưởng Đoàn văn nghệ Vì Dân, Trưởng ban Ca nhạc Tiếng thời
gian của Đài Phát thanh Sài Gòn, gồm có những ca nhạc sĩ tên tuổi như
Thu Hồ, Mạnh Phát, Thái Thanh, Anh Ngọc và từng nhận giải Âm nhạc
Quốc gia. Tuy nhiên ông hiểu trong cương vị một người lãnh đạo trong
quân đội lại sáng tác hay sinh hoạt tích cực trong âm nhạc thì không thể
tiến xa trong quân đội. Do đó hoạt động âm nhạc chỉ là dòng phụ chứ
không phải là dòng chính trong sinh hoạt của ông. Sau này ông được
vinh thăng Đại Tá. Tôi thêm "Tuy nhiên những hoạt động phụ này đã
làm nên tên tuổi của chú".
Khi ông kể chuyện "sông mê", tôi biết ông am tường triết lý nhà Phật và
ông thường đi chùa, tôi nêu thắc mắc tại sao ông lại viết rất nhiều những
ca khúc Thiên Chúa Giáo, cũng như chuyển ngữ lời ngoại quốc sang lời
Việt. Đó là những "Đêm Thánh vô cùng, Ave Maria, Màu xanh Noel,

Bóng nhỏ giáo đường, Mùa sao sáng, Giáo đường chiều chủ
nhật…v..v…" Ông trả lời rằng, trong quá khứ sinh hoạt và giao tiếp với
các vị cố đạo và linh mục Thiên Chúa Giáo, ông có học hỏi nghiên cứu
thêm về đạo này và rất mến họ. Chính vì vậy, lòng ông rung động và
cảm xúc với thánh ca và ông thường viết nhạc đạo Thiên Chúa dù ông
theo đạo Phật.
Lúc tôi dở tập nhạc lấy bản sao, những tác phẩm ông đề tặng, ông vui
miệng kể thêm, trong đó có mười mấy gần 20 bài được nhà nước cho
phép phát hành hay lưu hành trong nước. Tuy nhiên, ông không cảm
thấy đó là điều may mắn hay hài lòng vì những tác phẩm được lưu hành
không phải là những tác phẩm ông ưa thích. Những bài hát như "Trái
tim Việt Nam" không phải là những bài xuất sắc làm sáng chói tên tuổi
ông như "Chiều mưa biên giới hay Mấy dặm sơn khê". Thật ra, họ cũng
rất dè dặt trong việc cho lưu hành các tác phẩm của ông. Tôi hỏi liền,
"Bây giờ họ cho lưu hành một số nhạc của chú, vậy chú có phát hành
hay tổ chức các buổi show nhạc như Phạm Duy đã từng làm không?".
Ông lắc đầu ngay "Nếu phát hành những bài hát không hay lắm hoặc
không ai biết đến, thì phát hành làm gì, thôi khỏi làm". Ông kể thêm, có
lần nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ khi còn sống trở về nước gặp ông và nói
HTThơ biết một nhân vật rất quan trọng trong chính quyền có thể giúp
ông can thiệp và nhờ người đó cho lưu hành nhạc của ông. Ông nói với
HTThơ rằng, đâu có dễ dàng như vậy và người đó làm sao có quyền hạn
như vậy được, chỉ có ban Tuyên Huấn Trung Ương mới có thể cho phép
lưu hành nhạc, nên cho dù có nhân vật nổi tiếng nào đó chăng nữa, cũng
không thể cho phép lưu hành nhạc. Làm gì có chuyện ảo tưởng như vậy.
Tuy gặp ông có một lần trong đời, nhưng tôi cảm thấy mình rất may mắn
được cơ duyên tiếp xúc với một người nhạc sĩ tài hoa. Hơn thế nữa, là
một vị sĩ quan VNCH tuy thất thế nhưng vẫn khiêm cung, có khí phách
và rất tư cách. Ông còn một người nghệ sĩ đầy sáng tạo khi đi tiên phong
trong lãnh vực khai sinh ra “Tân cổ giao duyên” là một hình thái nghệ
thật kết hợp giữa âm nhạc phương Đông và phương Tây, giữa tân nhạc và vọng cổ miền Nam. Xin thắp nén hương lòng đầy quý mến của tôi
gởi về NS Nguyễn Văn Đông nơi cõi tịnh.
Trịnh Thanh Thủy thực hiện

Pic 1 Mấy dặm sơn Khê.jpg

Pic 1 Nhạc phẩm Mấy dặm sơn khê với lời tác giả đề tặng

Pic 2 Chieu mua bien gioi (Nguyen Van Dong) inside 1.jpg

Pic 2 Chiều mưa biên giới

Pic 3 Ve mai nha xua (Nguyen Van Dong) 2.jpg

Pic 3 Về mái nhà xưa

Pic 4 tờ Quảng cáo NguyenVanDong-TranVanTrach-S.jpg

Pic 4 Tờ quảng cáo chương trình xưa

Pic 5 Nguyễn Văn Đông.jpg

Pic 5 NS Nguyễn Văn Đông với quân phục

Trịnh Thanh Thủy : Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và những điều chưa nói hết, phâ`n 1


Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và những điều chưa nói hết.

Trịnh Thanh Thủy biên soạn

trinh-thanh-the1bba7y
Thế là chú ấy đã giả từ chốn này và bắt đầu cuộc rong chơi miền phương
ngoại rồi. Lần cuối tôi gặp chú là tháng 12 năm 2011. Sau đó, tôi thường
liên lạc bằng điện thoại và điện thư với chú nhưng bất thình lình chú thôi
không trả lời, bởi vì chú sợ chính quyền theo dõi nên bặt tin chú. Giờ
chú đã nằm xuống, thôi lo lắng, hết băn khoăn, khỏi lo sợ và thật sự
được yên bình. Mời bạn đọc bài viết kể lại cuộc gặp gỡ của tôi với chú
Nguyễn Văn Đông vào ngày tháng 12 năm 2011 đã lưu lại nhiều ấn
tượng trong tôi, mà bây giờ tôi mới có thể viết, sau khi chú đã nằm
xuống.
Nhân một lần về thăm Việt Nam, nhà văn Bích Huyền kiêm xướng ngôn
viên đài VOA có nhờ tôi đem vài món quà biếu ông nên tôi có cơ duyên
gặp và tiếp xúc với ông tại nhà riêng. Cô Bích Huyền dự định làm một
buổi văn nghệ tuởng niệm những người lính VNCH ở Quận Cam Hoa
Kỳ và có ý nhờ ca sĩ hát mấy bài của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Tiện
thể, cô nhờ tôi ghé thăm và viết bài về ông. Nhà ông nho nhỏ trên đường
Nguyễn Trọng Tuyển, Phú Nhuận, phía trước có chiếc xe bán bánh mì ổ
do phu nhân ông là cô Nguyệt Thu đứng bán. Cô rất dễ thương và hiếu
khách. Cô cũng là người đầu ấp tay gối đã chăm sóc ông suốt quãng đời
còn lại từ ngày ông đi cải tạo về bằng chiếc xe bán bánh mì giò chả này.
Bây giờ căn nhà đã thành tiệm thực phẩm và bánh mì Nhiên Hương
khang trang và tươm tất hơn năm tôi ghé 2011 rất nhiều.
Tôi thuộc thế hệ con cháu, nên khi nói chuyện tôi gọi ông bằng chú. Lần
ấy, ông tiếp tôi rất thân mật, niềm nở nhưng không kém phần nghiêm
túc. Ông có nhấn mạnh rằng, sau 36 năm, đây là lần đầu tiên ông tiếp
người lạ, từ ngày 30 tháng tư năm 1975, ông không tiếp xúc ai hết, kể cả
các giới truyền thông, báo chí, nghệ sĩ, ca sĩ là những người ngày xưa đã
từng quen biết ông hay khán thính giả ái mộ và thương mến ông. Vì có
sự giới thiệu đặc biệt của cô Bích Huyền, ông mới tiếp tôi. Ông có nói
thêm rằng sở dĩ ông không tiếp xúc hay cho ai phỏng vấn vì ông rất e
ngại, dè dặt trong việc tiếp cận hay ngoại giao và ông muốn sống yên

thân đừng ai nói hoặc nhắc tới ông nữa. Ông sợ sự liên hệ hay tin đồn
không đúng lan rộng, bất lợi cho ông để tránh những rắc rối phiền phức
sau này.
Thật ra trước đó vào mùa xuân Bính Tuất 2006, trong chương trình phát
thanh Nghệ Sĩ và Đời Sống do Trường Kỳ thực hiện ông đã dành cho
đài VOA một cuộc phỏng vấn rất lý thú và đầy đủ về cuộc đời binh
nghiệp và âm nhạc của ông. Ông cũng không quên kể nguyên do và
động cơ khiến ông sáng tác những tác phẩm như "Chiều mưa biên giới,
Phiên gác đêm xuân, Hải ngoại thương ca, Thiếu nhi hành khúc
…v..v..”.,trong cuộc phỏng vấn của Trường Kỳ nàyệ
Tôi bày tỏ lòng ngưỡng mộ của tôi với những sáng tác của ông trước
năm 1975, về cuộc sống hay những mối tình của những người trai thời
chiến, đã chiến đấu hy sinh cho đất nước trong các ca khúc trên. Ý định
của tôi là gặp gỡ tác giả để hiểu thêm về tác phẩm, hầu viết một bài về
ông cho đúng đắn và trung thực, trước khi buổi tưởng niệm diễn ra. Ông
và tôi nói chuyện rất tương đắc về âm nhạc, tác phẩm của ông và những
ca sĩ đã trình bày nhạc của ông thế nào và ra sao. Tuy nhiên ông vẫn dè
dặt dặn tôi phải cẩn trọng vì ông không muốn gặp rắc rối kẻo lụy cho
ông và người nhà.
Về đến Hoa Kỳ, tôi bắt đầu viết thì ông gởi điện thư bảo tôi, thôi đừng
viết, vì ông muốn mọi người quên ông đi, ông không tha thiết gì nữa,
nên đừng nhắc đến tên ông. Tuân theo ý nguyện của ông, tôi xếp lại và
thầm cảm thương cho một người nhạc sĩ tài hoa chịu nhiều bất hạnh, giờ
bệnh tật triền miên mà không muốn ai nhớ đến mình nữa. Có lẽ ông nghĩ
đúng, biết đâu những hệ lụy của cái tài danh mang đến cho ông nhiều
bất lợi hơn là thứ tiếng tăm hư ảo của người đời. Tuy nhiên, ông quên
một điều là ông còn có một số lượng rất lớn người trong và ngoài nước
vẫn còn mến mộ, yêu, hát, và rung động chân thành khi nghe những con
Sơn Ca ngày cũ hát nhạc của ông. Những Hà Thanh, Thanh Tuyền, Thái
Thanh hay Trần Văn Trạch, Duy Trác… những giọng hát thiết tha, đầy
cảm xúc trong "Chiều mưa biên giới, Mấy dặm sơn khê, Khúc tình ca

hàng hàng, lớp lớp, Hải ngoại thương ca, Nhớ một chiều xuân…" đã cho
các tác phẩm của ông một chỗ đứng trang trọng nhưng riêng biệt trong
con tim những thính giả mến mộ.
Khi hỏi đến sức khoẻ, ông bảo, ông bị đau bao tử kinh niên, đau tai, thấp
khớp và cao máu, những thứ này hành hạ ông thường xuyên từ khi đi tù
cải tạo về. Tôi liền hỏi lý do tại sao ông không qua Hoa Kỳ định cư theo
chương trình HO. Ông bảo sau khi vào tù 9 năm, vì bị bệnh nặng sắp
chết nên ông được trả về với lý do: “Ðương sự bị bệnh sắp chết, nên cho
phép gia đình đem về nhà chôn cất!” chứ không phải họ tha vì lý do
chính trị. Khi về đến nhà, ông được cô Nguyệt Thu và gia đình chăm
sóc, thuốc thang mãi và có lẽ vì chí khí kiên cường dũng mãnh lắm, ông
mới sống lại được.
Đến khi có chương trình H.O., chính phủ Mỹ có gởi giấy báo cho ông
biết về chương trình, ông trộm nghĩ, mình đã già lại bệnh hoạn thế này,
qua Mỹ làm gì, vả lại đời sống ông cũng tạm ổn định bên người thân nên
từ chối ra đi. Họ có gởi giấy cho ông nhiều lần hỏi ông đã suy nghĩ kỹ
chưa? Ông quyết định chọn giải pháp ở lại, với lý do gia đình không
muốn đi, nên ông ở lại với gia đình.
Sau này khi Paris By Night có ý định mời ông qua Mỹ để thực hiện cho
ông một chương trình dành riêng cho dòng nhạc của ông, ông lại gặp rắc
rối trong vấn đề thủ tục. Chính quyền chỉ cho phép ông đi trong 15 ngày
mà chương trình họ mời cần đến ít nhất là 1 tháng. Thời gian 15 ngày
không đủ cho việc phỏng vấn và thực hiện thu hình..v…v… Có người
ngỏ ý bảo lãnh ông qua Canada rồi sau đó sẽ qua Mỹ. Paris By Night sẽ
tổ chức show ở đó, vì ở Mỹ còn rất đông người yêu nhạc ông, việc thu
nhập mới cao hơn được. Ông bảo tôi, ông có khí phách của một người
nhạc sĩ ngày xưa đã từng từ chối đi Mỹ theo chương trình H.O., rồi bây
giờ lại đi đường vòng như thế còn gì khí phách ngày xưa nữa. Sau họ có
mời ông nhiều lần ông đã từ chối không đi. Ông tâm sự tuy mất cơ hội
được có mặt và tiếp xúc cùng đám đông, vẫy vùng trong thế giới âm
nhạc mà ông yêu thích nhưng ông cam chịu. Có lẽ vì ông muốn tâm
được an bình, không phải lo lắng sợ sệt, bỏ danh lợi ngoài thân và yên

phận trong tuổi già. Nhà văn Chu Tất Tiến là 1 bạn tù được ông nhận
làm đệ tử kể tôi nghe, một trong những lý do chính là ông không muốn
phải xin xỏ, lạy lục, đi lên đi xuống với chính quyền, đòi thêm thời gian,
vì dù gì ông còn cái khí tiết của một người sĩ quan quân lực ngày xưa.
Ông có bảo Chu Tất Tiến rằng “Anh ghét phải đi lạy lục, xin xỏ, rồi
nghe hạch hỏi tra vấn, làm mất hết khí phách của mình”.
Trong lúc vui chuyện, ông kể về thời gian còn trong trại cải tạo ở Suối
Máu. Ông bệnh nhiều lắm nhưng được các bạn tù thương mến và giúp
đỡ ông rất nhiều vì họ biết tiếng ông, và tìm cách giúp ông. Nhắc đến
trại cải tạo Suối Máu, Trong bài một bài viết cho NS Nguyễn Văn Đông
của nhà văn Chu Tất Tiến có đoạn “ Em nhớ lại thời gian khi còn trong
tù, anh chỉ dẫn cho em từng nốt nhạc vọng cổ, và vì lúc đó anh bệnh
nặng quá, nên sự cố gắng dậy bảo của anh làm anh ứa máu, em đã sợ
hãi mà ngăn anh lại: “Thôi! Thôi! Anh nghỉ đi! Đừng nói nữa! Máu
chẩy ra miệng anh kìa!” Anh lắc đầu, lấy vạt áo tay chùi máu miệng, và
nói: “Không ngừng được! Anh phải dậy em bây giờ! Anh không biết lúc
nào anh chết, nên phải truyền hết kinh nghiệm cho em, kẻo mai mốt anh
chết, thì không có người tiếp tục!” Và cứ thế, bất chấp sức khỏe càng
ngày càng sa sút, máu cứ chẩy ra ngoài miệng, anh đã dậy cho em từng
câu nhạc Vọng cổ, từng cách viết kịch bản cho một vở tuồng cải lương,
cổ nhạc. Vì các đốt ngón tay anh đã bị chất vôi phù lên, cứng ngắc,
không sử dụng được, anh đã ngồi xổm trên chiếu, kẹp chiếc bút chì vào
giữa ngón chân cái và ngón kế tiếp để vẽ lên các nốt nhạc to bằng quả
trứng gà, cũng như các tiết tấu và kết cấu từng câu nhạc, thật công phu
vô cùng. Em biết là viết như vậy, anh đau lắm và vất vả lắm, nhưng anh
vẫn kiên trì truyền hết kinh nghiệm cho thằng em kém cỏi này và cũng vì
biết nỗ lực của người Thầy như anh thật là hiếm có trên đời, nên em đã
cố gắng làm vui lòng anh bằng cách sáng tác các bài ca Vọng cổ, cũng
như các bài tân nhạc rồi hát cho anh nghe, để thấy anh mỉm cười, mãn
nguyện là em mừng. Dĩ nhiên, khả năng của em không đủ để theo kịp sự
dậy dỗ của anh, khiến có vài lần anh nhăn mặt, mắng: “Em cứ có cái tật
phăng-tê- di! Không chịu theo khuôn phép gì cả! Hòa âm gì kỳ cục thế!

Viết lại!” Để sau khi em sửa lại rồi, anh vẫn lắc đầu, thở dài: “Thôi!
Cái tật ẩu không bỏ được!” rồi anh lại gật đầu, cười mỉm: “Thế mà lại
hay! Mỗi người sáng tác đều có những cái riêng của mình, không ai
giống ai.”
Phải nói rằng không những ông có cái khí tiết của một người lính VNCH
mà còn có cái lòng tận tụy của một người thầy đam mê với âm nhạc, dạy
học trò tới thổ huyết mà vẫn không chịu ngừng đến nỗi “…, anh chỉ có
thể nằm trên một miếng ván nhỏ có gắn bánh xe do anh em cùng tù làm
cho anh, để anh lấy tay đẩy miếng ván trôi đi, y như một người bị què
cụt sắp chết. Nhìn hình ảnh đó, anh em đều sa lệ. Còn đâu người hùng
năm xưa? Còn đâu hình dáng người nhạc sĩ với cây đàn và những bản
nhạc tuyệt vời, hát mãi không chán?”.
Đám tang ông diễn ra đơn sơ vì có lẽ ông sống khép kín không tiếp xúc
với ai và không cho phúng điếu vì hai ông bà không có con sợ không ai
trả lễ.
Trịnh Thanh Thủy thực hiện
Xin xem tiếp Kỳ 2
“Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông nói về các tác phẩm của ông”
Tiểu sử
NS Nguyễn Văn Đông (1932 – 2018) nguyên là sĩ quan quân lực
VNCH, cấp bậc Đại tá. Nhiều người biết đến ông với tư cách Nhạc sĩ
nổi tiếng trước năm 1975, với các ca khúc Chiều Mưa Biên Giới, Phiên
Gác Đêm Xuân, Nhớ Một Chiều Xuân, Sắc Hoa Màu Nhớ, Hải Ngoại
Thương Ca…Một số bút danh khác của ông là Phượng Linh, Phương Hà,
Vì Dân và Đông Phương Tử trên một số nhạc phẩm tình cảm như "Khi
đã yêu", "Thầm kín", "Niềm đau dĩ vãng", "Nhớ một chiều xuân"… ông
cũng đã viết nhạc nền và đạo diễn cho trên 50 vở tuồng, Cải lương nổi
tiếng ở Miền Nam trước năm 1975 như Nửa đời hương phấn, Đoạn
tuyệt, Tiếng hạc trong trăng, Mưa rừng…

Ông còn là giám đốc hãng băng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca, Trưởng
Đoàn văn nghệ Vì Dân, Trưởng ban Ca nhạc Tiếng thời gian của Đài
Phát thanh Sài Gòn, và từng nhận giải Âm nhạc Quốc gia
Sau 30 tháng 4, 1975, Nguyễn Văn Đông bị bắt đi học tập cải tạo 10
năm và ngừng

Foot note

Pic 1 NS NVĐông ngày còn trẻ.jpg

Pic 1: Chân Dung NS Nguyễn Văn Đông lúc còn trẻ

Pic 2 Nhac si NVDong 2011

Pic 2: Chân Dung NS Nguyễn Văn Đông vào năm 2011

Pic 3 TTThủy với NS NVĐông2

Pic 3: Trịnh Thanh Thủy ghé thăm NS NVĐông năm 2011

Pic 4 Trước cửa tiệm Nhiên Hương.jpg

Pic 4: Trước cửa tiệm bánh mì Nhiên Hương cũng là nhà của NS Đông ở Phú Nhuận

Pic 5 Trước linh cữu NS NVĐông.jpg

Pic 5: Trước linh cữu của NS NVĐông- Ảnh của Nhà  Thơ Trần Tiến Dũng

pic 6 TTDũng và Quả phụ NVĐông.jpg

Pic 6: Nhà Thơ Trần Tiến Dũng và bà quả phụ NVĐông, trong đám tang – Ảnh của Nhà  Thơ Trần Tiến Dũng

pic 7 Cáo phó tang lễ.jpg

Pic 7: Cáo phó Tang Lễ

Trần Quang Hải: Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo: 80 năm với đàn tranh


Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo: 80 năm với đàn tranh

Tác giả:

Nói tới nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Bảo, cõ thể những người trẻ không biết là ai, nhưng đối với người yêu nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc Đàn Tài tử , và nhứt là Đàn Tranh, ai cũng biết và khâm phục ngón đờn có một không hai của Việt Nam và tài sáng chế đàn tranh theo kích thước và số dây thêm vô (từ 16 lên tới 21 dây ) . Ông là một trong những nhạc sĩ hiếm hoi còn lại ở Việt Nam có lối đờn ứng tấu ứng tác . Ở Việt Nam ông là người duy nhứt vừa là nhạc sĩ trình tấu, vừa là giáo sư giảng dạy âm nhạc truyền thống , lại vừa là người đóng đàn sáng tạo . Tôi được may mắn có hai cây đờn do nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo đóng , một cây do cô Tư Ngọc Sương ( em gái của Ba tôi, GS Trần Văn Khê) mua tặng năm 1974, và một cây với ba chữ ký phía sau lưng cây đàn – Nguyễn Vĩnh Bảo, Trần Văn Khê và Phạm Văn Nhu do bạn tôi Cao An Lộc tặng )

Viết cuộc đời của một nhạc sĩ tài danh đã có nhiều ảnh hưởng đến việc phổ biến tiếng đàn tranh của tôi trên thế giới ( dùng đàn tranh của ông để thâu dĩa, và trình diễn suốt gần 40 năm qua), tôi đã liên lạc thơ từ với nhạc sư Vĩnh Bảo nhiều lần, hỏi thăm về quá trình của ông . Tôi mong rằng bài viết của tôi sẽ giúp cho những ai thích đàn tranh, thích nhạc cổ miền Nam biết rõ một danh tài của đất nước mà hiện nay chỉ thích sống ẩn dật tại một nhà nhỏ ở Saigon, vui thú điền viên, tìm sự thanh thản qua tiếng đàn, qua sự truyền dạy những ai muốn tìm đến, và khảo cứu nhạc truyền thống Việt Nam và đặc biệt là làm thơ bằng ba thứ tiếng Pháp, Anh, và Việt (thêm một khía cạnh dấu kín khác của nhạc sư Vĩnh Bảo) .

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là ai ?

Ông tên thật là NGUYỄN VĨNH BẢO, nhưng trong giới nghệ sĩ quen gọi là VĨNH BẢO, cho nên có một số người tưởng ông thuộc dòng dõi hoàng tộc .

Sinh năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp), nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là con thứ sáu trong một gia đình trung lưu nho học gồm 4 trai, 3 gái, cả thảy đều chơi đàn dân tộc . Cụ thân sinh ông , tên là Nguyễn Hàm Ninh, một đông y sĩ rất sành các cây tranh, kìm, cò và gáo, luôn cả hát bội . Người anh cả và người anh kế đều đờn kìm và tranh khá giỏi. Đặc biệt là anh Ba có ngón đờn kìm và xến rất tươi và ngọt , lại độc đáo nữa đến nỗi nhạc sư Sáu Tửng nghe phải tấm tắc khen và phục . Tất cả con cái trong nhà lớn lên trong bầu không khí nhạc cổ truyền và dùng tiếng đờn làm nguồn giải trí .Riêng ông Vĩnh Bảo, lúc lên 6 tuổi, cũng như các anh của ông, rất đam mê âm nhạc. Lúc đầu ông chỉ mò mẩm các cây đàn đoản, đàn nhị và đàn gáo . Dần dần ông học qua các cây đờn tranh, kìm, đàn độc huyền, măng cầm (mandoline), Tây ban cầm ( guitare espagnole), vĩ cầm (violon), và dương cầm (piano). Nói tóm lại ông đã đờn được tất cả nhạc khí của đàn tài tử miền Nam ngoại trừ sáo và tiêu . Với óc thích sáng chế, ông đã khởi sự đóng đàn cò từ lúc 10 tuổi vì lúc đó trong nhà có thợ mộc giúp việc .

Năm 12 tuổi, ông được may mắn gặp những nhạc sư nổi tiếng trong xứ tân tình hướng dẫn đàn tranh và các nhạc khí khác ngoại trừ ống tiêu và sáo . Ông đã học đờn với các thầy Hai Lòng (Vĩnh Long), Sáu Tý, Năm Nghĩa (Trà Ôn), vv… . Cả gia đình đều thích nhạc nhưng ông thân của nhạc sư Vĩnh Bảo cho các con có quyền yêu nhạc nhưng không được xao lãng việc học hành .Tính ra ông đã học với gần 200 ” thầy ” (theo nghĩa nhất tự vi sư, bán tự vi sư) ở khắp ba miền Nam Trung Bắc trên xứ Việt .

Năm 1935, khi ông học ở đất Chùa Tháp (Cao Miên), ông đã sáng chế ra dây Tỳ (Hò Liêu – Sol -Sol) và dây Xề Liêu (Re – Sol) trong lúc đi thăm viếng một ngôi chùa trong một đêm trăng sáng , có tiếng ếch kêu . Ông cố tạo âm thanh của tiếng ếch trên cây đàn gáo

Nhà ông ở Cao Lãnh là nơi hội tụ các nghệ sĩ các gánh hát cải lương hay hát bội ghé diễn tại Cao Lãnh. Mỗi khi các nghệ sĩ diễn xong là thường tới nhà thân phụ ông để ăn cháo gà và hàn huyên cho tới 2 giờ sáng . Ngoài ra còn có các đông y sĩ, nhà thơ , nhà văn hay các nhạc sư đều ghé ngang mỗi khi tới Cao Lành . Quý cụ Lý Tòng Ba, Phạm Đăng Đàn, Nguyễn Quang Đại, và luôn cả ông cố tôi là Trần Quang Diệm nổi tiếng về tiếng đàn tỳ bà ở Vình Kim. Nhờ vây, nhạc sư Vĩnh Bảo có dịp gặp rất nhiều nghệ sĩ và làm quen với cổ nhạc từ lúc ấu thơ và là động cơ thúc đẩy ông đi vào con đường âm nhạc . Cụ Nguyễn Hàm Ninh, thân phụ nhạc sư Vĩnh Bảo, và người anh thứ hai , Nguyễn Văn Phát, thường hay nhắc đến ngón đờn kìm tươi mướt ngọt ngào của ông nội tôi , Trần Văn Triều, tự Bảy Triều. Ông nội tôi đã chế ra dây Tố Lan (Xừ liêu / La Sol) với chủ âm phải bấm dây Tiếu phím 1. Ông rất hiếm đờn cho người ta nghe , phải chờ khi ông ngẫu hứng thì ông mới lấy đờn ra đờn . Dịp may cho nhạc sư Vĩnh Bảo là năm 1932, ông nội tôi có tới nhà của cụ thân phụ nhạc sư Vĩnh Bảo thăm và có đàn kìm dây Tố Lan cho mọi người nghe . Nhờ đó nhạc sư Vĩnh Bảo mới nghe và thích cách lên đây Tố Lan . Dây Tố Lan có thể nghe trong CD ” Vietnam : tradition du Sud ” một bản rao dây buồn trên đàn kìm do hãng OCORA sản xuất vào năm 1973.

80 năm trong nghề nghiệp âm nhạc

Ngoài đàn tranh là sở trường của ông, các cây đàn kìm, đàn cò, đàn gáo ông đều sử dụng một cách thành thạo .

Hơn 10 năm học hỏi với cha, với anh tại nhà, thêm vào đó với sự dẫn dắt tận tình của các vị thầy giỏi ở các tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, ông đã có một vốn liếng âm nhạc khá vững vàng từ lúc 20 tuổi. Vào cuối thập niên 30, ông đã tạo một chỗ đứng quan trọng trong hàng ngũ nhạc sĩ trẻ miền sông Cữu Long .

Năm 1938 đánh dấu bước đầu của sự nghiệp nhạc sĩ của ông. Ông được hãng dĩa BEKA mời đàn cho cô Ba Thiệt (chị của cô Năm Cần Thơ) ca . Nhạc sư Năm Nghĩa ở Trà Ôn đờn tranh, Ba Cần đờn kìm, và Vĩnh Bảo đờn gáo . Và cũng bắt đầu từ đó, ông tạo uy tín vang dậy cho sự nghiệp của ông .

Lúc còn trẻ ông thường đờn trình diễn ở khắp miền Nam . Ông còn đi qua Nam Vang đờn cho khán giả Việt Nam . Có một lần ông gặp một anh đạp xích lô rất mê nhạc . Sau khi nghe ông đờn, anh ta chạy lại xe xích lô , lôi ra cây đờn cò và xin được song tấu với ông vài bản và anh ta đờn khá hay . Đó là một kỷ niệm khó quên của ông tại Cao Miên .

Năm 1947, ông dạy tiếng Pháp ở trường tư thục Ngô Quang Vinh . Lúc đó thân phụ tôi, GS Trần Văn Khê, dạy Anh văn cũng ở cùng trường đó . Ông đã biết cha tôi đàn tranh, cò, kìm nhưng vì tánh khiêm nhượng , ông không có thổ lộ với cha tôi . Năm 1949, trước ngày cha tôi đi sang Pháp, ban giám đốc trường cùng các giáo sư chụp chung hình kỷ niệm . Tình cờ nhạc sư Vĩnh Bảo đứng cạnh phĩa tay trái của cha tôi. Mãi tới năm 1967, nhờ bác sĩ Phạm Kim Tương trong một dịp thu thanh nhạc gởi qua cho cha tôi mà nhạc sư Vĩnh Bảo và cha tôi bắt đầu bắt liên lạc trở lại và trở thành đôi bạn thân trên 30 năm .

Năm 1955, trường quốc gia âm nhạc Saigon được thành lập. Lúc ban đầu, trường được đặt trụ sở tại trường kỹ thuật ở đường Phạm Đăng Hưng (nay là Mai thị Lựu, Dakao). Năm sau mới dời về 72 đường Nguyễn Du. Ông Vĩnh Bảo được trường mời dạy môn đàn tranh, cùng lúc với các nhạc sư , nhạc sĩ Chín Kỳ (Nguyễn Văn Kỳ), Hai Biểu, Chín Trích, Hai Khuê, Bảy Hàm . Sau đó, ông được trường cử làm trưởng ban cổ nhạc miền Nam .

Nhạc sư Chín Kỳ, tên thật là Nguyễn Văn Kỳ, có vợ là bà Hai Hoa, một danh ca thời thập niên 30-40. Ông chuyên về đàn tranh, thuộc rất nhiều bài. Học trò của ông đa số là những người thượng lưu khoa bảng như cố bác sĩ Nguyễn Văn Nhã, cố bác sĩ Nguyễn văn Bửu (người đã in tập bài bản lớn của đàn tranh với ký âm của ông Chín Kỳ, nhưng chỉ quảng bá trong phạm vi nhỏ), những ái nữ của cố bàc sĩ Phan Văn Đệ Năm 1956, ông Chín Kỳ được mời dạy đàn tranh ở trường quốc gia âm nhạc Saigon với tư cách là giáo sư dạy giờ Ông dạy theo lối truyền khẩu mặc dù có bài bản viết ra đàng hoàng . Sau bốn tháng , ông bi. cảm nặng . Bác sĩ Phan Văn Đệ đưa ông về nhà riêng để trị bịnh , nhưng ông qua đời tại Hòa Hưng sau đó . Ông có một con gái được ông bà Phan Văn Nghi, giáo sư trường quốc gia âm nhạc đem về nuôi dưỡng và dạy ca hát múa .

Ông Nguyễn Văn Thinh (thầy giáo Thinh), từng làm giám học ngành quốc nhạc của trường quốc gia âm nhạc Saigon từ năm 1958 . Ông biết đờn Kìm và Tranh . Ngoài ra cũng có biết qua đàn Tỳ Bà . Lúc nhỏ ông học đờn với ông Sáu Thới . Ông từng đoạt giải nhứt sáng tác nhạc truyền thống Hoàng Mai Lưu. Ông mất năm 1989, thọ 86 tuổi .

Ông Phạm Văn Nghi là công chức tại quận Gò Vấp, có vợ là danh ca Hồ thị Bửu . Ông Nghi biết đờn nhiều cây như Tranh , Kìm, Cò, Gáo. Bài bản ông thuộc khá nhiều. Hai ông bà nuôi nhiều con trẻ vì không có con . Trong số các trẻ em được ông nuôi có nữ nhạc sĩ đàn tranh Ngọc Dung, cựu giáo sư đàn tranh của nhóm Hoa Sim . Sau 1975, cô sang định cư tại thành phố San Jose và thường tổ chức những buổi đàn tài tử tại nhà hay trình diễn ở Hoa kỳ. Hai ông bà Nghi từng dạy tại trường quốc gia âm nhạc Saigon trong vòng 10 năm, ông dạy đàn tranh, bà dạy hát cổ nhạc. Hai người qua đời vào đầu thập niên 80 tại Định Quán

Ông Võ Văn Tiểng, tự Mười Tiểng sinh trưởng ở Gò Công, hành nghề chánh là kế toán, và nghề tay trái là đàn kìm .Trong giới cổ nhạc miền Nam chỉ biết ông qua tiếng đàn Kìm gân guốc, sâu sắc . Ông đàn tranh và cò cũng sành lắm . Ông đàn chậm rãi, khoan thai chứ không chạy chữ như các nhạc sĩ đàn kìm hiện nay . Nếu ai có dịp nghe cuốn băng Nam Bình 1 được phát hành tại Saigon vào đầu thập niên 70, các bản Nam Xuân, Nam Ai, Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán với tiếng đàn kìm của ông Mười Tiểng và tiếng đàn tranh của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo thì mới thấy tiếng đờn của ông có một sắc thái riêng biệt , hiếm có trong làng chơi nhạc đàn tài tử miền Nam .

Nhạc sĩ Năm Vĩnh, chuyên về đàn kìm và đàn hạ uy cầm (guitare hawaienne). Ông đờn tay trái và chế ra dây hò Năm cho đàn kìm .Trong băng Nam Bình 2, ông sử dụng Đàn Kìm chung với nhạc sĩ Hai Thơm đờn vĩ cầm (violon / violin) và nhạc sư Vĩnh Bảo đờn tranh qua bài ” Đảo Ngũ Cung “. Ông hòa đờn Kìm trên dây Hò Năm với ông Hai Thơm đờn vĩ cầm trong bài Vọng cổ 6 câu. Ông Hai Thơm với tiếng đàn vĩ cầm vuốt lã lướt , mượt mà cùng với tiếng đàn kìm tuyệt diệu của ông Năm Vĩnh tạo cho người nghe những giây phút thần tiên

Ông Mười Còn , sinh quán ở Cần Đước, là nhạc sĩ đàn cò nổi tiếng ở miền Nam . Ông có dịp nghe nhạc sĩ Jean Tịnh khoảng năm 1936 biểu diễn đàn vĩ cầm bản Vọng cổ nhịp 8. Lối đờn của ông Mười Còn hay, nhưng nặng về cơ bản, trong khi ông Tư Huyện thì vừa cơ bản vừa lả lướt linh động . Ông Mười Còn thấy đàn vĩ cầm là cây đờn phối hợp cả hai cây cò và gáo nên ông liền học vĩ cầm . Năm 1938, nhạc sư Vĩnh Bảo có dịp nghe tiếng đờn vĩ cầm của ông Mười Còn ướt át hơn tiếng đờn vĩ cầm của ông Jean Tịnh .

Ông Nguyễn Thế Huyện , tức Tư Huyện ,sinh trong gia đình chuyên về nhạc lễ có tiếng ở Cần Đước . Ông chuyên về đàn cò và dàn gõ nhạc lễ nhưng rất thạo vĩ cầm, Tranh, Kìm và thổi ống Tiêu rất điêu luyện . Em trai của ông Tư Huyện là ông Sáu Quí, chuyên về đàn tranh . Nếu ai có dịp nghe bài vọng cổ nhịp 16 thu trong dĩa ” Sao hôm lốm đốm điểm thưa rồi “, ông Sáu Quí đệm đàn tranh cho ca sĩ Ba Tuất Sa Đéc ca thì sẽ thấy hồn lâng lâng tận chốn thiên đình . Ông qua đời lúc tuổi chưa đầy 40 sau một cuộc sống giang hồ trác táng bịnh hoạn .

Ông Hà Văn Tân , tự Chín Trích , là thân phụ của nữ nghệ sĩ Tú Trinh. Ai cũng biết tên Chín Trích hơn là tên Hà Văn Tân. Thầy của ông là ông Cò Quốc. Người ta thấy ông thường đi theo ông Cò Quốc nên gọi ông là Trích . Quốc và Trích là hai loại chim ở đồng ruộng . Ông là con thứ chín trong gia đình nên từ đó mang biệt hiệu Chín Trích luôn . Ông chuyên về đàn cò, có cách đàn kéo cung ngắn , khác với cách kéo của ông Tư Huyện (kéo cung dài). Ông chuyên đờn cho gánh hát , đài phát thanh và thâu băng dĩa .

Ông Năm Cơ , chuyên về đàn kìm và xến. Ngoài ra ông cũng có đàn ghi-ta lõm. Năm 1950, ông cùng ông Sáu Lắc đờn quảng cáo cho nhà thuốc cao đơn hoàn tán Đại Từ Bi ở đường Phan Đình Phùng (Nguyễn Đình Chiểu bây giờ). Có một dạo ông đờn tại quán ăn của cô Ba Trà Vinh, một nữ ca sĩ cổ nhạc tại đường Douaumont (Cô Giang bây giờ). Tiếng đờn của ông trên Đàn Kìm và Đàn Xến rất xôm tụ, rộn ràng, hạp với tiếng đờn ghi-ta lõm của cố nhạc sĩ mù Văn Vĩ . Trong băng Nam Bình 2, bài vọng cổ ” Thư về quê mẹ ” do ca sĩ Thành Được hát và bản ” Lan và Điệp ” qua tiếng hát của Út Bạch Lanvới tiếng đờn xến thần sầu của Năm Cơ, tiếng đàn tranh óng chuốt của Bảy Bá và tiếng đờn ghi ta lõm huyền ảo của Văn Vĩ . Ông đã ra đi, mang theo tiếng đờn khó kiếm và để lại trong lòng giới mộ điệu một sự tiếc thương

Năm 1960, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo lập ban ” Tinh Hoa ” gồm một số ca sĩ, nhạc sĩ chuyên về loại nhạc tài tử miền Nam để trình diễn trên đài phát thanh Saigon. Tri kỷ mộ điệu thưởng thức được 4 chương trình thì nhạc sư Vĩnh Bảo, trưởng ban ” Tinh Hoa ” tự ý khai tử ban nhạc này . Lý do là đài phát thanh Saigon ra chỉ thị cho ông trưởng ban phải soạn lời ca mang nội dung ” xuy tôn Ngô Tổng thống “.

Trong thời gian dạy tại trường quốc gia âm nhạc Saigon, ông Vĩnh Bảo có sáng chế phương pháp ký âm bài bản nhạc truyền thống .

Về việc sáng chế loại đàn tranh cải tiến, ai cũng đều nhìn nhận rằng ông là người đầu tiên đã cải tiến đàn tranh từ 16 dây ra loại đàn tranh có kích thước lớn với 17 , 19 và 21 dây rất tiện lợi để có thể đờn các loại ” hơi, điệu ” mà khi đờn không cần sửa dây, kéo nhạn .

Ông đã bị một số nhạc sư, nhạc sĩ nhạc cổ truyền thời bấy giờ lên tiếng chỉ trích việc cải tiến đàn tranh của ông. Từ cuối thập niên 50 cho tới nay , nhiều nhà sản xuất đàn tranh bắt chước làm những cây đàn tranh theo kiểu ông sáng chế. Vì vậy sau này ít thấy đàn tranh 16 dây, và cũng không còn nghe ai chỉ trích về việc cải tiến đàn tranh .

Nhạc sư Vĩnh Bảo dạy đàn tranh ở trường Quốc gia âm nhạc Saigon từ 1955 tới 1964. Trong giai đoạn này , ông thường có mặt tại những buổi thuyết trình về nhạc truyền thống bằng tiếng Anh, Pháp, Việt, và cũng có lúc trình diễn nhạc cổ truyền tại Trung tâm văn hóa Pháp, Đức, hội Việt Mỹ tại Saigon . Năm 1963 ông được mời tham dự hội nghị về âm nhạc với 11 nước Đông Nam Á tại Tân gia ba .

Vào năm 1967, bác sĩ Phạm Kim Tương là một nhà mạnh thường quân đối với nhạc sĩ cổ nhạc . Chính bác sĩ Phạm Kim Tương là người đúng ra mời các nhạc sĩ nổi tiếng hàng đầu của nhạc đàn tài tử miền Nam thời đó như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, các nhạc sĩ Năm Cơ đàn cò, Chín Trích đàn cò, Tư Huyện thổi sáo, Văn Vĩ đàn ghi ta phím lõm để thâu vô băng nhựa gởi làm quà cho GS Trần Văn Khê . Tôi được may mắn nghe cuốn băng đó vào năm 1967 và lần đầu tiên ” khám phá ” tiếng đàn tranh huyền bí của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo . Cuốn băng này được tàng trữ tại âm thanh viện của Viện Bảo Tàng Con Người (Archives sonores du Musée de l’Homme / Sound Archives of the Museum of Mankind) ở Paris quận 16 (là nơi tôi làm việc từ năm 1968 tới nay một cách liên tục). Vào đầu thập niên, hai cuốn băng Nam Bình 1 và 2 được phát hành giới thiệu những bài bản căn bản của truyền thống đàn tài tử qua các tiếng đàn bất hủ của các nhạc sư nhạc sĩ tài ba nhứt của làng cổ nhạc miền Nam mà cho tới nơi khó kiếm người thay thế .

Năm 1970, ông được đài truyền hình NHK của Nhật Bổn mời sang Đông Kinh để thuyết trình về nhạc cổ truyền Việt Nam với phần minh họa đàn tranh .

Đến giữa năm 1970, trường đại học Illinois (Hoa kỳ)mời ông sang giảng dạy nhạc cổ truyền Việt Nam với tư cách giáo sư biệt thính. Trong thời gian này , GS TS Trần Văn Khê có sang dạy và cùng với nhạc sư Vĩnh Bảo góp mặt trong nhiều buổi hội thảo về âm nhạc học với các nhà dân tộc nhạc học Mỹ

GS Trần Văn Khê , nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sư Vĩnh Bảo

Năm 1972, Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương (Centre d’Etudes de Musique Orientale / Center of Studies for Oriental Music) tại Paris mời ông sang Pháp để cùng vơí GS Trần Văn Khê bàn bạc nhiều chủ đề về âm nhạc dân tộc . Trong chuyến đi này, trung tâm âm thanh nhạc học (Laboratoire d’Acoustique Musicale) do cố GS Emile Leipp, một nhà nghiên cứu nổi tiếng về âm thanh học đã mời ông tới nói chuyện một buổi về nghệ thuật đóng đờn . GS Trần Văn Khê và nhạc sư Vĩnh Bảo có thực hiện một dĩa 33 vòng về Nhạc tài tử miền Nam ( ” Vietnam : tradition du Sud “) do hãng dĩa OCORA thực hiện và một dĩa 33 vòng cho UNESCO, collection Sources Musicales / Musical Sources. Trong thời gian này , tôi có nhiều dịp gặp nhạc sư Vĩnh Bảo hoặc tại tư gia hoặc tại các buổi hòa nhạc cho công chúng Pháp, Việt, và được giải thích cách nhấn, vuốt, làm sao cho tiếng đàn tranh thêm trong sáng, tươi mát với điệu Bắc, hay buồn thảm, sầu bi, não ruột với điệu Ai , Oán . Ngón đàn tranh nhẹ nhàng , sang trọng của nhạc sư Vĩnh Bảo rất dễ đưa người nghe vào thế giới âm thanh thơ thới, lâng lâng .Tôi biết đàn tranh, học với GS Trần Văn Khê là thân phục của tôi, có dịp nghe nhiều nhạc sư khác đàn (Hai Biểu, Ba Dư, Chín Kỳ, hay nhữøng nhạc sĩ thế hệ trẻ hơn như Thúy Hoan, Phương Bảo, Quỳnh Hạnh, Phương Oanh, Ngọc Dung của nhóm HOA SIM, Hoàng Cơ Thụy , hay trẻ hơn nữa như Minh Thành, Đặng Kim Hiền, Ngọc Thanh, hay thuộc thế hệ đương đại như Hải Phượng, Thanh Thủy. Nhưng cho tới ngày nay , tôi chưa nghe ai có ngón đàn sang trọng, đài các như ngón đàn của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo .

Nhạc sư Vĩnh Bảo & GS Trần Văn Khê
Dĩa hát OCORA với nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo và GS Trần Văn Khê
Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo và dĩa hát do Unesco phát hành

Từ 1975 đến nay, nhạc sư Vĩnh Bảo vẫn tiếp tục dạy đờn tại gia và đóng đờn . Công việc của ông là dạy trực tiếp hay hàm thụ qua băng cho một số người Việt Nam hay ngoại quốc đến Việt Nam, hay cho một số nhạc sinh ở Pháp, Bỉ, Hòa Lan, Thụy Sĩ, Hoa kỳ . Ông cũng thường tiếp những nhà âm nhạc học, nhạc sĩ của nhiều quốc gia khác nhau để trao đổi văn hóa .

Vào tháng 4, 1993, GS Trần Văn Khê, trong một buổi thuyết trình về nhạc Việt Nam tại Hòa Lan, đã nói là chưa nghe được ngón đàn tranh nào hay hơn ngón đàn của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo vừa “bay bướm “, ” sâu sắc ” (ghi lại từ cuồn K7) .

Nhạc sư Vĩnh Bảo & GS Trần Văn Khê

Đêm 14 tháng 3, 1994, nhạc sư Vĩnh Bảo thuyết trình về nhạc Việt , đã nói : ” Bản sắc nhạc Việt nằm ở chỗ ” nhấn nhá “. Rao của bản đờn cổ truyền là đặc hữu Việt Nam “. Ông không nói suông, mà lại dẫn chứng cụ thể với tiếng đàn tranh qua bài ” Đảo ngũ cung û, qua cách rao Bắc, rao Nam, hơi nhạc lễ, hơi Quảng. Với những ngón tay khẳng khiu đầy gân xanh, ông đã để hồn vào tiếng đờn lã lướt, nhẹ nhàng , thanh thoát, nhưng nghe rất ” nhức xương “, ai nghe cũng bị thu hút bởi tiếng đờn sang trọng khi đờn các bài Nam Xuân, Lưu Thủy, hay não ruột khi đờn bài Tứ đại oán, Nam Ai , Vọng cổ . Tiếng đờn của nhạc sư Vĩnh Bảo là một liều thuốc làm tan đi ưu phiền, làm dịu lòng người, .

Năm 1997, Jean Christophe Maillard, phó giáo sư nhạc học cũa trường đại học tỉnh Toulouse, đến Saigon để học hỏi nhạc Việt . Anh chuyên về đàn musette thuộc nhạc thời Phục Sinh (Renaissance) nhưng đã có nhiều dịp nghe GS Trần Văn Khê và tôi trình diễn ở Pháp nên cũng hiểu chút đỉnh về nhạc Việt và Á châu . Anh đã gặp nhạc sư Vĩnh Bảo vài lần , được nghe ông giải thích sữ khác biệt giữa nhạc Đông và Tây, và hòa đàn những bản Lưu Thủy, Kim Tiền, Tứ Đại và Vọng cổ với người học trò cưng của ông là Hoàng Cơ Thụy (tuổi trạc ngũ tuần), một nhạc sĩ có thể nối nghiệp nhạc sư Vĩnh Bảo về đàn tranh .

Những năm 1998-1999, nhạc sư Vĩnh Bảo được ban giám đốc trường Colette mời dạy nhạc cổ truyền Việt Nam cho các học sinh người Pháp .

Năm 2002, hãng dĩa OCORA của Pháp đã phát hành một CD với nhạc sư Vĩnh Bảo và ban nhạc đàn tài tử gồm Sáu Tý và Hoàng Cơ Thụy đã tạo một tiếng vang lớn ở hải ngoại và được bán khắp nơi trên thế giới ( tìm trên mạng lưới internet , gõ http://www.google.com , sau đó gõ ” nguyen vinh bao ” thì sẽ thấy hiện ra trên 150 trang nhà có nói về Nguyễn Vĩnh Bảo hay những nơi có bán CD

Sách ” Thử tư học đàn tranh ” do nhạc sư Vĩnh Bảo biên soạn

Vào cuối năm 2003 ,Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh Long An đã ấn hành quyển sách ” Thử tự học đàn tranh ” do nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo biên soạn giúp cho những ai muốn tự học đàn tranh với một số bài bản căn bản . Đây là một công trình nghiên cứu khoa học rất có giá trị sư phạm và nghệ thuật âm nhạc dân tộc mà nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo đã dày công nghiêu cứu sưu tầm . Sách dày 229 trang , khổ lớn (20cm/ 28cm) vừa hướng dẫn lý thuyết và thực tập tự học đàn tranh , có dĩa hình CD minh họa nên rất dễ học, dễ hiểu. Với hai phương pháp ký âm quốc tế (do , ré, mi, fa sol, vv…) và ký hiệu riêng do tác giả sáng tạo rất chính xác và khoa học . Phần lý thuyết không quan trọng vì đây là loại sách chú trọng về thực tập đằn tranh Có khoảng 100 bài bản giai điệu từ các bài đàn tài tử, cải lương từ dễ tới khó. Rất tiếc là sách này chỉ ấn hành trong phạm vi của tỉnh và dành tặng khách phương xa , không có phổ biến rộng rãi trên toàn quốc.

Trong căn phòng đầy những sách vở, những cây đờn, ông tiếp tục nghiên cứu , viết sách, làm thơ . Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo có con và cháu đờn rất khá nhưng lại không có ai tiếp tục con đường nhạc dân tộc mà nhạc sư đã vạch sẵn . Ngay cả người học trò giỏi nhứt là Hoàng Cơ Thụy (tuổi khoảng 50), chịu nhiều ảnh hưởng cách luyến lái và cách đàn tranh khoan thai của nhạc sư , nhưng không hành nghề nhạc sĩ cổ truyền .Và ông bàn đến Thiền trong tiếng đờn , trong âm nhạc . Lòng ông muốn thanh thản mượn qua tiếng đờn. Ông đã đi nhiều, chu du thế giới, sống nhiều , qua bao nỗi gian truân biểu dâu thời cuộc. Tiếng đàn tranh của nhạc sư phản ảnh tâm trạng của ông . Ông đã gởi nỗi lòng của mình qua tiếng đờn, khi vui khi buồn tùy theo lúc và tùy theo tình cảm của ông lúc đờn . Âm nhạc là muôn thuở . Âm nhạc là trường cữu .Âm nhạc là bất diệt .

Có thể nói, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là một trong những người tiên phong trong việc dạy đàn cho người nước ngoài qua phương pháp hàm thụ. Từ những năm 1960 đến 2004, ông đã ghi âm tiếng đàn vào băng cassette gửi ra nước ngoài qua đường bưu điện. Sau này những học trò của ông đã trang bị cho thầy dàn máy vi tính, Mp3, máy in… để ông chuyển sang dạy trực tuyến (online) cho học trò nước ngoài. Tới nay dù ở tuổi 97, nhạc sư Vĩnh Bảo vẫn tiếp tục dạy đờn trên mạng internet cho một số người Việt hay ngoại quốc (Pháp , Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ, Mỹ…).

Nhạc sư Vĩnh Bảo dạy đàn tranh qua máy vi tính

Năm 2006, tại hội thảo Dân tộc nhạc học thế giới lần thứ 51 ở Honolulu (Hawaii, Mỹ), GS-TS Nguyễn Thuyết Phong qua bài tham luận Considering the Fate of Tài tử Music: Nguyễn Vĩnh Bảo, the Last Guardian of the Tradition (Nỗi quan tâm đến vận mạng của đờn ca tài tử: Nguyễn Vĩnh Bảo, người bảo vệ sau cùng của truyền thống) đã đề nghị tôn vinh nhạc sư Vĩnh Bảo là một trong sáu nhạc sư của thế giới có công đóng góp cho nhạc dân tộc và nổi tiếng nhất trong nước. Năm 2008, Tổng thống Pháp tặng ông huy chương văn học nghệ thuật (médaille des Arts et des Lettres) bậc “officier”. Ở Việt Nam chỉ có hai người được huy chương bậc này là GS-TS Trần Văn Khê và nhạc sư Vĩnh Bảo.

Nhạc sư Vĩnh Bảo nhận huy chương nghệ thuật và văn chương tháng 1, 2008

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, một trong 5 cá nhân được vinh danh trong lễ trao giải Phan Chu Trinh năm 2015 cho biết: “Những món quà đột xuất đến với mình là những món quà thú vị. Là một nhạc sĩ sống nội tâm, đối với tôi không có cái gì lớn, không có cái gì nhỏ nhưng khi được nhận giải thưởng này tôi thấy rất vui. Tôi trân trọng giải thưởng này vì nó mang tên nhà chính trị lớn, nhà yêu nước lớn, nhà văn, nhà thơ Phan Châu Trinh”.

Nhạc sư Vĩnh Bảo với giải thưởng Phan Châu Trinh năm 2015

Sự đóng góp của nhạc sư NGUYỄN VĨNH BẢO rất to lớn và chưa có một nghệ nhân nào ở Việt Nam có đủ khả năng để phát huy đờn ca tài tử như ông .Làm sao có thể hội tụ ở một nhạc sĩ cổ truyền vừa là một nhạc sĩ tài ba, một nhà đóng đờn sáng tạo, một giáo sư quán thông cổ nhạc (từng là giáo sư đờn tranh ở trường quốc gia âm nhạc Saigon trong hai thập niên 50 và 60, từng giảng dạy ở Hoa Kỳ, Pháp), một nhà nghiên cứu đờn tranh qua âm thanh học (acoustique), từng được nhiều bằng khen thưởng (giải Đào Tấn, bằng ban khen về đờn ca tài tử) và huy chương nghệ thuật và văn học (officier des Arts et des Lettres của Pháp), người duy nhứt ở Việt Nam và cả thế giới về cách truyền dạy đờn tranh qua mạng (enseignement sur internet), người có nhiều học trò Mỹ (Alexander Cannon), Pháp (Jean Christophe Maillard), Việt (nhiều học trò ở Mỹ, Pháp, Úc) tới học hỏi về đờn ca tài tử

Tôi là người có diễm phúc được học hỏi với nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo trực tiếp hay qua hệ thống SKYPE từ nhiều năm qua và đã được nhạc sư chỉ dạy tận tường khai sáng sự hiểu biết của tôi về nguồn gốc đờn ca tài tử, tiểu sử của những bậc nhạc sĩ tài danh , và nguồn gốc bản Dạ cổ hoài lang .

Cách giảng dạy của giảng sư thật khoa học. Mỗi học trò ông đều có hồ sơ riêng, ông soạn từng giáo trình cho từng người. Tự tay ông đóng đàn cho học trò rồi gửi đi khắp thế giới.

Ông là một trong số những nhạc sư hiếm hoi đã cải tiến thành công nhạc cụ dân tộc và được ứng dụng rộng rãi trong nhân dân. Ông cải tiến đàn tranh từ 16 dây thành đàn tranh 17 , 19 và 21 dây với kích thước và âm vực rộng hơn.

Theo giáo sư âm nhạc Trần Quang Hải thì nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo “là một trong những nhạc sĩ hiếm hoi còn lại ở Việt Nam có lối đờn ứng tấu ứng tác. Ở Việt Nam ông là người duy nhứt vừa là nhạc sĩ trình tấu vừa là giáo sư giảng dạy âm nhạc truyền thống , lại vừa là người đóng đàn sáng tạo”.

GS Trần Văn Khê từng nói “chưa nghe được ngón đàn tranh nào hay hơn ngón đàn của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo vừa bay bướm, sâu sắc”. Năm 2008 nhạc sư Vĩnh Bảo được chính phủ Pháp tặng huy chương nghệ thuật và văn học, cấp bực Officier, ngoài ông có Trần Văn Khê. Trước đó, năm 2005 nhạc sư Vĩnh Bảo và giáo sư Trần Văn Khê cũng đã nhận giải thưởng Đào Tấn của Việt Nam tại TPHCM.

Quyển sách Nguyễn Vĩnh Bảo – Những giai điệu cuộc đời được GS-TS Nguyễn Thuyết Phong chủ biên với sự cộng tác của một số cộng sự rất chuyên nghiệp như nhà báo – TS Nguyễn Thị Kim Ửng, Tổng Biên tập Tạp chí Kiến thức Ngày nay; ThS Nguyễn Thúy Uyển, giảng viên Nhạc viện TP HCM.

Phần 1 là hồi ký được nhà báo Kim Ửng chấp bút theo lời kể của nhạc sư Vĩnh Bảo. Phần 2 và 3, dưới ngòi bút của GS-TS Nguyễn Thuyết Phong, người đọc không những cảm nhận được phong thái, cốt cách qua tiếng đàn “tinh tường và tinh tế” của người nghệ sĩ mà còn nể phục trí nhớ siêu việt của ông.

Qua chương này, người đọc còn thấy được một hình ảnh của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo dù qua nhiều thăng trầm của cuộc đời nhưng vẫn rất an nhiên tự tại, vẫn yêu đời và yêu người. Có lẽ chính vì vậy nên ở tuổi 98 mà ông vẫn còn rất minh mẫn. Ngoài ra, ở phần này, với một số kiến thức về dân tộc nhạc học, cũng rất bổ ích cho những người làm công tác nghiên cứu.

Qua 353 trang sách đã cho người đọc thấy một nhạc sư Vĩnh Bảo “đệ nhất danh cầm” nhưng cuộc đời lại không hề êm đềm, suôn sẻ; một Vĩnh Bảo không chỉ là chàng lãng tử chỉ biết ôm đàn mộng mơ. Ông đã đi qua gần một thế kỷ, chứng kiến biết bao biến cố lịch sử, đã trải qua bao thăng trầm của cuộc đời, với bao cung bậc cảm xúc, từ đó nhà báo Kim Ửng đã đặt tên cho quyển sách là Nguyễn Vĩnh Bảo – Những giai điệu cuộc đời.

Nhạc sư Vĩnh Bảo & Trần Quang Hải

Nhạc sư Vĩnh Bảo  sống với âm nhạc dân tộc lên đến mức tuyệt đỉnh. Vì ông là người có khả năng đi vào tiếng đàn của người khác, nương nhẹ và nâng người chơi cùng mình lên đến mức thăng hoa. Đối với người chơi đàn tài tử, đó là bản lĩnh của tài năng.

Ngoài đời nhạc sư là người dí dỏm, thông minh Những câu chuyện của nhạc sư phần lớn đều mang ý nghĩa sâu sắc được kể rất hài hước. Ngoài ra nhạc sư còn là một nghệ nhân đóng đàn tuyệt vời. Bất kỳ một người chơi nhạc dân tộc nào cũng cố gắng có cây đàn “made by Vĩnh Bảo”. Cây đàn do nhạc sư làm ra được xem như một trong những chuẩn mực đóng dấu cho sự chuyên nghiệp của nghệ sĩ chơi đàn dân tộc.

Đệ nhất danh cầm Nguyễn Vĩnh Bảo là một “báu vật của đờn ca tài tử” còn sót lại sau sự ra đi của GS-TS Trần Văn Khê và mới nhất là NSND Bảy Bá (Viễn Châu). Tiếng đàn của ông không chỉ thuộc hàng đẳng cấp mà đến hôm nay vẫn là độc nhất vô nhị

Nhạc sư Vĩnh Bảo là một nhân vật đã sống trọn vẹn cuộc đời cho đờn ca tài tử nam bộ qua việc dạy học, diễn giảng , biểu diễn, đóng đàn và sang tạo nhạc cụ và các loại lên dây (tunings),cùng với kỹ thuật diễn tấu cũng như tư duy mỹ quan âm nhạc Việt Nam. Ông là “cây cổ thụ, đại thụ”,  là “báu vật sống” , là “gia tài âm nhạc cổ truyền” , là “hậu tổ của đờn ca tài tử” (theo GSTS Trần Văn Khê), là “nhạc sĩ toàn tài – đàn, dạy và đóng đàn – duy nhứt của Việt Nam và Thế giới “ (theo GS Trần Quang Hải).

Trần Quang Hải (Paris, Pháp)

SÁCH và DĨA HÁT PHÁT HÀNH

“Vietnam / Tradition du Sud” do hãng  dĩa OCORA phát hành, OCR 68, Paris Pháp, 1973, với nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo và GSTS Trần Văn Khê. (dĩa 30cm/33 vòng)

“South Vietnam / Entertainment Music” do hang dĩa Philips phát hành, 658028, collection UNESCO/Musical Sources, Amsterdam , Hà Lan, 1973 (dĩa 30cm/33 vòng)  (2)

“Vietnam / Tradition du Sud” do OCORA sản xuất , C580043, Paris, Pháp, 1993 (dĩa CD) với nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo và GSTS Trần Văn Khê

“South Vietnam / Entertainment Music” do hang AUVIDIS phát hành, D8049, Paris , Pháp (dĩa CD) với nhạc sư Vĩnh Bảo và GSTS Trần Văn Khê.

“Vietnam / Ensemble Nguyen Vinh Bao” do OCORA sản xuất , C 560160, Paris , Pháp, 2002,(dĩa CD)

“Thử tự học đàn tranh” do Trung tâm Văn Hóa Thông Tin của tỉnh Long An ấn hành, 229 trang , 2003 .

Đây là công trình nghiên cứu khoa học rất có giá trị về mặt sư phạm và nghệ thuật âm nhạc cổ truyền do nhạc sư Vĩnh Bảo đã dày công nghiên cứu chú trọng về hai mặt lý thuyết và thực tạp tự học đàn tranh. Có dĩa CD kèm theo để minh họa , cho nên rất dễ học, dễ hiểu. Với hai phương pháp ký âm (do re mi vv…) và ký hiệu riêng do nhạc sư sang tạo rất chính xác và khoa học. Có khoảng 100 bài bản từ các bài đàn tài tử  đến các bài trong cải lương từ dễ tới khó

“Thử tự học đàn tranh” do một nhóm học trò Việt Nam ở Hoa Kỳ sản xuất , 4 DVD bằng tiếng Việt do nhạc sư Vĩnh Bảo dẫn giải và minh họa, 2004, Hoa Kỳ

“Self taught Vietnamese Zither” do một nhóm học trò Việt Nam của nhạc sư Vĩnh Bảo ở Hoa Kỳ sản xuất, 3 DVD bằng tiếng Anh do nhạc sư Vĩnh Bảo giải thích và minh họa, 2004, Hoa Kỳ

1. Giải thưởng

–  2005 : Giải thưởng ĐÀO TẤN do hội đồng  giải thưởng Đào Tấn khen tặng ông là người đã có nhiều cống hiến trong sự nghiệp, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hóa nghệ thuật dân tộc

–  2006: GSTS Nguyễn Thuyết Phong tại hội thảo dân tộc nhạc học thế giới lần thứ 51 tại thành phố Honolulu (Hawaii, Hoa Kỳ) qua bài tham luận “Considering the Fate of Tài tử Music : Nguyễn Vĩnh Bảo , the Last Guardian of the Tradition” (Nỗi quan tâm đến vận mạng của đờn ca tài tử : Nguyễn Vĩnh Bảo, người bảo vệ vau cùng của truyền thống) đã đề nghị tôn vinh nhạc sư Vĩnh Bảo là một trong sáu nhạc sư của thế giới là người có công đóng góp cho nhạc dân tộc và nổi tiếng nhứt trong xứ

GSTS Nguyễn Thuyết Phong và nhạc sư Vĩnh Bảo

–  2008 : xứ Pháp ban tặng ông huy chương văn học nghệ thuật (médaille des Arts et des Lettres) cấp bực “officier” . Ở Việt Nam chỉ có hai người thuộc cấp bực này là GSTS Trần Văn Khê và nhạc sư Vĩnh Bảo. Sự vinh danh này không chỉ dành riêng cho nhạc sư Vĩnh Bảo mà cho toàn bộ mộn đờn ca tài tử nam bộ (lời phát biểu của nhạc sư trong buổi gắn huy chương tại toà Tổng lãnh sự Pháp ở TH Hồ Chí Minh)

Nhạc sư VĨNH BẢO nhân huân chương Nghệ thuật và văn học
đứng giữa ông đại sứ Pháp và GSTS Nguyễn Thuyết Phong

–  2010 : trung tâm kỷ lục Việt Nam trao bằng kỷ lục Việt Nam cho nhạc sư Vĩnh Bảo về việc truyền dạy cổ nhạc Việt Nam và đàn tranh trên toàn thế giới qua phương pháp mạng trên vi tính

Nhạc sư VĨNH BẢO dạy trên mạng​

2. Sách về đàn tranh

Nguyễn Vĩnh Bảo, 2003 : ” Thử tự học đàn tranh “, Trung tâm văn hóa thông tin tỉnh Long An, 229 trang, CD minh họa, 100 giai điệu bài bản cơ bản, tài tử cải lương .

Địa chỉ của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo

282/B21 Bùi Hữu Nghĩa
Ph 2, Q. Bình Thạnh
TP Hồ Chí Minh
Việt Nam
Điện thoại : 84-8-8430 454
Điện thư (email) : vb1908@gmail.com

(Nguồn: https://tranvankhe-tranquanghai.com)

Nguyễn Thụy Kha : Hãnh diện 100 năm âm nhạc Việt nam: “Hòn vọng phu” Lê Thương


Hãnh diện 100 năm âm nhạc Việt nam: “Hòn vọng phu” Lê Thương

22/09/2017 21:53

Trong nhiều năm, nhạc sĩ góp phần khai sinh tân nhạc Việt Nam – Lê Thương đã dựng lên dọc lịch sử tân nhạc Việt Nam 3 “Hòn vọng phu” bằng âm thanh bất tử

Mùa xuân Mậu Dần 1938 cách đây 79 năm, tân nhạc Việt Nam đã chọn được năm khai sinh sau những năm tháng hoài thai, bắt đầu từ cuộc tri ngộ giữa 2 nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên từ Sài Gòn ra miền Bắc với nhạc sĩ Lê Thương ở Hải Phòng.

Người tri âm

Chuyến hành hương phương Bắc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên ấy nhằm mục đích diễn thuyết về âm nhạc cải cách tại miền Bắc. Nhưng ở Hà Nội, ông Tuyên đã được đón tiếp không mặn mà lắm bởi giọng nói Nam Bộ lúc đó còn ít được người kinh thành nghe thấy, bởi tính “phớt ăng-lê” của người Thăng Long. Song ở Hải Phòng, nhờ có Lê Thương vốn bản tính sôi nổi nhiệt tình, mọi điều đã trở nên thú vị. Tại cuộc tri ngộ trên đất Cảng, ông Tuyên đã đề nghị ông Thương hát một bài hát mới của chính mình. Và Lê Thương đã hát bản đàn xuân rạo rực, trữ tình. Sau đó, cũng nhờ Lê Thương, Nguyễn Văn Tuyên đã được hát “Bông cúc vàng” tại rạp cinema Palace nhân kỳ hội của Trường Nữ họ Hoài Đức. Gặp Lê Thương, tuy tuổi đời thua ông Tuyên 5 tuổi, ông Tuyên vẫn coi như đã gặp được một tri âm, một bạn vong niên đồng hành trên con đường tân nhạc mới mẻ. Và chính họ là nhạc sĩ đầu tiên tạo nên tờ khai sinh cho tân nhạc Việt Nam mùa thu 1938 bằng việc ấn hành chính tác phẩm của mình trên báo “Ngày nay”.

Hãnh diện 100 năm âm nhạc Việt nam: Hòn vọng phu Lê Thương - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Lê Thương Ảnh: TƯ LIỆU

Khi “Bản đàn xuân” rung lên

Sau mùa thu 1938, “Bản đàn xuân” của Lê Thương ấn hành trên báo “Ngày nay”, ít tháng sau nhóm Hoàng Quý đã tập tành công phu và lần đầu tiên trình diễn những tác phẩm của Lê Thương như “Tiếng đàn đêm khuya”, “Một ngày xanh”, “Thu trên đảo Kinh Châu”, “Trên sông Dương Tử”… tại Nhà hát Lớn Hải Phòng, trong không khí hoạt động của “Hội ánh sáng” mà nhà thơ Thế Lữ khuấy động lên trong mùa hè 1939. Từ đó, âm nhạc Lê Thương bắt đầu lan tỏa lên Hà Nội, Vĩnh Yên nhờ nhóm kịch Thế Lữ đi diễn vở “Ông ký Cóp” của Vi Huyền Đắc ở nhiều nơi.

Rất tiếc là tới năm 1941, khi nhóm Hoàng Quý khởi lên thành nhóm Đồng Vọng như một luồng gió thênh thang vô ngã, hừng hực thanh xuân thì do Nhật chiếm Hải Phòng, Lê Thương cùng gia đình vào phiêu lưu, mưu sinh trên đất Nam Bộ. Vậy là ông hành nghề ở phương Nam, ngược lại với người tri âm Nguyễn Văn Tuyên khi xưa. Ở Nam Bộ, Lê Thương đã thử một cuộc vận động cho tân nhạc nhờ sự giúp đỡ của văn thi sĩ Nguyễn Văn Cổn và nhạc sĩ Jean Tịnh – một cây vĩ cầm điêu luyện của ca nhạc cải lương. Cả hai ông đều làm việc tại Radio Sài Gòn. Hãng này xuất bản riêng một tờ tạp chí cùng tên. Và “Thu trên đảo Kinh Châu” của Lê Thương đã được ấn hành.

Từ “đồ đó chưa xài” làm nên “Hòn vọng phu”

Nhưng khi ấy, tân nhạc ở Nam Bộ vẫn chưa gây được ảnh hưởng trong quần chúng. Vì yêu nghề, Lê Thương đi gõ cửa các cửa hàng đĩa hát như Béka, Keller, hãng đĩa Asia phim ảnh và hãng Asia đĩa hát. Họ đều nghe và khen tác phẩm của Lê Thương hay nhưng đều trả lời là ở đây, “đồ đó chưa xài”. Chỉ khi đến hội Bắc kỳ ái hữu, Lê Thương mới được hội này tổ chức cho một cuộc diễn thuyết tân nhạc có sự góp mặt của ban nhạc Philippines do Julio phụ trách với 2 cây đàn guitar Hawai Scawell và Nguyễn Thông. Nhưng đó chỉ là một tiếng vang rất nhỏ.

Phải tới năm 1943, Quý Mùi, tân nhạc mới bắt đầu được chú ý ở Sài Gòn. Một loạt bài nhận định về “Phong trào nhạc mới” của Lê Thương đã được tuần báo “Thanh niên” đăng tải từ 25-3-1943 đến 26-8-1944. Ở Sài Gòn, Lê Thương vừa viết báo âm nhạc, vừa dạy học, vừa nung nấu những sáng tác có tầm cỡ hơn. Và trong nhiều năm, ông đã dựng lên dọc lịch sử tân nhạc Việt Nam 3 bài “Hòn vọng phu” bằng âm thanh bất tử.

Theo lời dẫn đầu bằng những câu lục bát nôm na “Đời xưa đời xửa vua gì – Có nàng đứng ngóng chồng về đầu non – Thế rồi mong mỏi mong mòn – Thế rồi hóa đá ôm con đứng chờ…”, Lê Thương đã tạc lên “Hòn vọng phu” thứ nhất bằng một hành khúc hào sảng mà khi nghe âm vang thấy phảng phất hơi thở của “Chinh phụ ngâm”: “Giã nhà đeo bức chiến bào – thét roi cầu vị ào ào gió thu…”

“Hòn vọng phu” thứ hai còn có tên là “Ai xuôi vạn lý” thực sự là một tự sự đầy chất thơ bi tráng. Hình tượng ngày chinh phu đi có đoàn cỏ cây dưới chân còn trẻ thơ, ấy vậy mà đến khi đoàn cỏ cây đã thành đoàn cổ thụ già, chinh phu vẫn chưa về. Quả là một phóng dụ đầy nước mắt.

Nhưng đến lời thứ hai thì quả là kiệt tác của ca từ. Đào Trọng Khánh – tác giả kịch bản và lời bình phim “Hà Nội trong mắt ai” nổi tiếng – đã nhận xét: “Bố Lê Thương giỏi quá. Không hiểu sao bố ấy lại nghĩ ra hình tượng núi non thương tình người vọng phu kéo nhau đi thăm nàng để rồi nằm thành Trường Sơn vạn lý xuyên nước Nam, rồi lại nhiều đồi rủ nhau kéo thành đảo ra xa tới khơi ngàn xem chàng về hay chưa? Tuyệt vô cùng!”. “Hòn vọng phu” thứ hai được Lê Thương viết năm 1946. Ông muốn gửi gắm chút tâm sự về cuộc kháng chiến lúc bấy giờ chăng?

Trong “Hòn vọng phu” thứ ba còn có tên “Người chinh phu về”, Lê Thương đã để người chinh phu bước dọc theo lịch sử Việt Nam qua những địa danh thành Cổ Loa, đền Vạn Kiếp, vượt Hoàng Sơn, vòng thành Huế, đất miền Đồng Nai… để rồi thấy “Núi đá thu rêu đã lấp mờ bao nghìn xưa…”. Như một chuyện kể bằng âm nhạc, 3 “Hòn vọng phu” của Lê Thương đã lan tỏa và đứng sừng sững trong lòng dân chúng từ Nam chí Bắc bao nhiêu năm qua. Và chắc còn mãi mãi.

Tôi được gặp bác Lê Thương lần đầu tiên vào mùa hè năm 1985 ở Sài Gòn. Hôm ấy, tôi cùng vợ chồng nhạc sĩ Văn Cao đến thăm bác tại tư gia 55 Bùi Viện. Bác quả là một người hóm hỉnh, vui tính. Nhất là hôm tất cả kéo sang nhậu ở nhà anh Lê Thắng, đường sông ở mạn cầu chữ Y, Lê Thương sương sương chút men hát rất hay: “Sớm bắt bướm hái hoa tung tăng nô đùa – Chiều lại ra vườn hoa dạo chơi – Tối quyến luyến má ba reo ca bên đèn – Bảy giờ đêm nằm mơ thấy tiên”. Đó là giai điệu bài hát thiếu nhi mang tên “Tuổi thơ” rất hay của Lê Thương mà tôi đã thuộc từ khi còn rất nhỏ.

Bác mong có ngày ra Hải Phòng thăm bố tôi và lại cùng ăn bít-tết bánh mì. Nhưng sức khỏe đã giữ chân bác. Bác mất ngày 18-9-1996. Năm ấy nghe tin bác Hộ qua đời, bố tôi cũng buồn mất một dạo. Chắc sau ngày bố tôi chuyển cõi, bác và bố tôi đã gặp nhau ở cõi xa xăm.

Tôi kính trọng Lê Thương ngoài những kỷ niệm tình cờ giữa bác với tôi, kỷ niệm thuở hàn vi giữa bác với bố tôi và còn vì bác là một nhạc sĩ tân nhạc mà nhạc Việt của cha ông đã ngấm sâu trong mạch máu. Đừng hoài công tìm ở những sáng tác của Lê Thương có chút gì “lai căng”. Bác đã sống, đã thở ra nhạc Việt cho ta tự hào.

Văn Cao luôn gọi là thầy

Lê Thương, tên khai sinh là Ngô Đình Hộ. Ông sinh năm 1913 tại Nam Định. Sau khi tốt nghiệp sư phạm Hà Nội , thầy giáo Hộ về dạy học tại Trường Trung học Lê Lợi, Hải Phòng. Ở đấy, ông trở thành đồng nghiệp với bố tôi – thầy giáo Chín. Bên cạnh cái thú sáng sáng cùng bố tôi đi điểm tâm bít-tết bánh mì, bác Hộ (bố tôi hay gọi nhạc sĩ Lê Thương như vậy) còn có cái thú chơi với nhóm thanh niên trẻ ưa ca hát của Hoàng Quý, Canh Thân, Phạm Ngữ, Hoàng Phú (nay là nhạc sĩ Tô Vũ), Văn Cao, nàng Cúc Phương (tức hoa khôi Nguyễn Thị Cúc Phương), nàng Thư Nhàn… Không biết vô tình hay cố ý, bác Hộ lấy cái tên làm âm nhạc của mình là Lê Thương lại nhằm vào một trong đội ngũ cung (Cung, Thương, Giốc, Thủy, Vũ). Sinh thời, Văn Cao luôn gọi Lê Thương là thầy dạy nhạc của mình.

Nguyễn Thụy Kha

Nguyễn Thụy Kha : Nhạc sĩ Thẩm Oánh – Người bán đường tơ


Hãnh diện 100 năm âm nhạc Việt Nam (*)

Nhạc sĩ Thẩm Oánh – Người bán đường tơ

03/11/2017 22:19

Cuộc đời Thẩm Oánh đã được chính ông viết ra trong ca khúc “Tôi bán đường tơ”: “Tôi bán đường tơ – Ca ca hát hát, điên điên rồ rồ – quên quên nhớ nhớ, mơ mơ hồ hồ – thương vay khóc mướn – khéo vui cợt đùa, khéo se tình hờ – rút tơ lòng ra, chiều nhân thế say ước mơ…”

Sau ngày 30-4-1975 một thời gian, học sinh một số trường trung học ở Sài Gòn được học ngoại ngữ của thầy giáo đã ở tuổi lục tuần tên là Thẩm Oánh. Nhiều học sinh, nhất là những học sinh từ miền Bắc vào, chỉ biết đó là thầy giáo Thẩm Oánh, ít ai biết rằng đó là một trong những cây đại thụ của nền tân nhạc Việt Nam từng lừng lẫy tiếng tăm.

Xuất thân danh gia vọng tộc

Nhạc sĩ Thẩm Oánh sinh ngày 14-8-1916 tại Hà Nội. Tên khai sinh của ông là Thẩm Ngọc Oánh, xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc. Hiệu thuốc tây nhà họ Thẩm ở Cửa Nam đã tồn tại vững chãi từ lâu. Ngày toàn quốc kháng chiến, thuốc của cửa hiệu đã được các chiến sĩ bám trụ thủ đô sử dụng rất hữu hiệu. Trong căn nhà ấu thơ, Thẩm Oánh đã được học vỡ lòng từ một thầy đồ. Nhờ thầy mà ông biết chơi các loại đàn Đông phương, tạo nên ý niệm về thẩm mỹ âm nhạc. Sau khi học thầy đồ, Thẩm Oánh tiếp tục học âm nhạc qua một số sách tiếng Pháp, ở Viễn Đông Âm nhạc học và ở các trường trung học thời ấy. Năm 1938, Thẩm Oánh đã bắt đầu dạy nhạc và tham gia nhóm nhạc Myosotis cùng Dương Thiệu Tước, Vũ Khánh, Nguyễn Thiện Tơ…

Tuy cùng trong nhóm nhạc, nhưng Thẩm Oánh có chủ trương âm nhạc khác Dương Thiệu Tước mặc dù người yêu ông (sau là vợ ông), bà Trần Anh Đào cũng vốn là một nhạc sĩ và là em họ Dương Thiệu Tước. Ông có chủ trương theo đạo “Trung dung”. Theo ông, những sáng tác tân nhạc phải theo ý nhạc Việt Nam và phải có những cảm xúc thuần túy Á Đông. Ông đã viết ra hàng loạt các tác phẩm như “Hồ xưa”, “Xuân về”, “Tiếng khóc trong phòng the”, “Khúc yêu đương”, “Trên mây”…

Sự nghiệp sáng tác đồ sộ

Thẩm Oánh có một sự nghiệp sáng tác đồ sộ tới cỡ cả ngàn bài hát như “Vương tơ”, “Gió hoan ca”… và đặc biệt là “Vợ chồng Ngâu”, “Thiếu phụ Nam Xương” đầy âm hưởng ca trù, có khi nằm ở những rung động, có khi nằm ở những không gian khác biệt và có khi nằm ở những quan niệm thẩm mỹ. Ba nhạc kịch của ông là “Quán giang hồ”, “Bá Nha – Tử Kỳ”, “Đoàn kết là sức mạnh”. Ngay từ khi khai sinh tân nhạc, ngày 13-9-1938, bài hát “Khúc yêu đương” của ông đã được biểu diễn cùng bài hát của Dương Thiệu Tước tại rạp Olympia trước buổi chiếu phim do Hội Ánh sáng tổ chức. Một năm sau, ông có “Nhà Việt Nam”: “Nhà Việt Nam, Nam Bắc Trung sáng trưng Á Đông… Bốn ngàn năm văn hiến…” ai ai cũng biết.

Nhạc sĩ Thẩm Oánh - Người bán đường tơ - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Thẩm Oánh. (Ảnh tư liệu)

Sau cuộc diễn thuyết về âm nhạc cải cách của Nguyễn Văn Tuyên tại Hội Trí Tri 1938, năm 1941, Thẩm Oánh cũng có cuộc diễn thuyết tại đây cùng đề tài này. Năm 1942, khi chùa Quán Sứ khánh thành, ông viết bài hát “A di đà phật”, sau đó, ông làm phó hội trưởng Hội Khuyến nhạc, chủ bút tờ bán nguyệt san “Khuyến nhạc”.

Tìm ra ca sĩ Thanh Hằng

Toàn quốc kháng chiến, Thẩm Oánh cùng Dương Thiệu Tước ở lại Hà Nội. Ông phụ trách văn nghệ Đài Pháp – Á và chủ bút bán nguyệt san “Việt Nhạc”, nhiều lần đăng đàn về tân nhạc Việt Nam tại các trường đại học và Nhà hát Lớn Hà Nội.

Mùa hè 1953, ông tổ chức cuộc thi hát cho thanh niên Hà Nội ở Đài Pháp – Á. Ban giám khảo toàn các nhạc sĩ tên tuổi như Dương Thiệu Tước, Hùng Lân, Vũ Văn Tuyên… Cuộc thi đã trao giải nhất cho nữ thí sinh Thanh Hằng, giải nhì cho nam thí sinh Trần Ngọc, giải ba cho nam thí sinh Trần Hiếu… Thanh Hằng ngay lập tức đã lọt mắt xanh của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và trở thành “người tình áo xanh” hát nhạc Đoàn Chuẩn hay nhất thời kỳ ấy. Sau giải phóng thủ đô, Thanh Hằng trở thành ca sĩ Lê Hằng nổi tiếng với những ca khúc “Trước ngày hội bắn” (hát với Trịnh Quý – tác giả ca khúc), “Lời anh vọng mãi ngàn năm”…

Trần Ngọc cũng như Thẩm Oánh di cư vào Nam và trở thành nhạc sĩ Tuấn Khanh với ca khúc “Chiếc lá cuối cùng” nổi tiếng. Hai ca sĩ vẫn thân nhau cho đến sau này. Cuộc thi có câu chuyện vui sau sàn diễn Nhà hát Lớn là để bảo đảm cho người đẹp Thanh Hằng chắc chắn giải nhất, nhạc sĩ Tu My – tác giả “Tan tác” nổi tiếng đã chơi trò tinh nghịch làm lỏng chân cắm đèn điện tử của máy tăng âm khi Trần Ngọc hát, nên mặc dù hát rất tốt ở vòng ngoài, Trần Ngọc chỉ được giải nhì ở vòng trong do khi hát, micro bị rè. Khi gặp Trần Ngọc ở Đài Phát thanh Sài Gòn, Thẩm Oánh – lúc đó đã biết chuyện, rất đàng hoàng xin lỗi Trần Ngọc về quyết định ngày ấy. Cả thầy trò đều cười vì chuyện cũ đã qua rồi.

Rút tơ lòng ra chiều nhân thế

Ở Sài Gòn, Thẩm Oánh vừa làm hiệu trưởng Trường Âm nhạc – Kịch trường, vừa phụ trách văn nghệ Đài Phát thanh Sài Gòn. Trong Hội nghị Âm nhạc Đông Nam Á, ông là ủy viên thuyết trình tại Manila, Philippines. Nữ diễn viên kịch Thẩm Thúy Hằng vốn tên thật là Nguyễn Thị Minh Phụng vì kính trọng ông đã lấy họ Thẩm của ông để tạo thành nghệ danh Thẩm Thúy Hằng.

Có thể nhận ra những đề tài chính trong ngàn bài hát của Thẩm Oánh. Đó là nhạc hùng ca, nhạc Phật giáo, nhạc tuổi thơ, nhạc tình cảm. Bài “Việt Nam cùng tiến” đã từng được dùng làm nhạc hiệu cho đài Pháp – Á ở Hà Nội và Sài Gòn. Rồi “Nhà Việt Nam”, “Trưng nữ vương”, “Chu Văn An hành khúc”… Bài “Xuân về” dùng ngũ cung (nhưng ngũ cung Trung hoa có biến cung) rất đặc sắc:

“Xuân về rồi muôn đóa hoa đào tươi. Cười trong nắng sáng tươi. Buông mành xuống tơ liễu soi hồ gương…”

Có thể là họ Thẩm của ông có gốc gác Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử chăng? Nhưng với bài hát đầu tay “Khúc yêu đương” thì lại thuần khiết, tự nhiên ngũ cung Việt: đồ – rê – fa- sol – la tuy ở hóa biểu vẫn ghi nốt si giáng như viết theo điệu thức fa trưởng hoặc rê thứ của thất cung, nhưng trong giai điệu không hề xuất hiện một nốt si giáng nào:

“Ngọn trào gió cuốn mang đến nơi đâu. Chiếc thuyền tình xa chìm nổi. Thuyền ơi hãy ghé vào bờ. Để tôi đỡ phải mong chờ. Mượn lái thuyền mà đi kiếm người mơ…”.

Cuộc đời Thẩm Oánh đã được chính ông viết ra ở “Tôi bán đường tơ”: “Tôi bán đường tơ – Ca ca hát hát, điên điên rồ rồ – quên quên nhớ nhớ, mơ mơ hồ hồ – thương vay khóc mướn – khéo vui cợt đùa, khéo se tình hờ – rút tơ lòng ra, chiều nhân thế say ước mơ…”.

(*) Xem Báo Người Lao Động số thứ bảy từ ngày 26-8

Hưởng đủ “Phúc – lộc – thọ – khang – sinh”

Ở lại Sài Gòn tới năm 1991, Thẩm Oánh sang định cư ở Mỹ. Nhưng với cách suy tư của ông, hẳn ông không thể quen nơi đất lạ và lòng vẫn nhớ nhung, vương vấn quê hương. Bởi thế, năm 1993, tại thủ đô Washington D.C, các học sinh của ông đã tổ chức đêm nhạc nhân 60 năm làm nghề cho ông và xuất bản tuyển tập “Nhớ nhung” vinh danh ông. Thẩm Oánh từ trần năm 1996, thọ 80 tuổi, cùng hưởng đủ “Phúc – lộc – thọ – khang – sinh” như Dương Thiệu Tước. Nhưng mang tâm sự “Thân tàn đất lạ chơi vơi – Nhìn lên chỉ thấy bầu trời là quen”.

Nguyễn Thụy Kha

WIKIPEDIA: Hoàng Giác (1924 – 2017)


Hoàng Giác

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hoàng Giác
Hoanggiac.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Hoàng Giác
Sinh 1924
Hà Nội, Đông Dương thuộc Pháp
Mất 14 tháng 9, 2017 (92–93 tuổi)
Hà Nội, Việt Nam
Thể loại nhạc tiền chiến
Ca khúc tiêu biểu “Lỡ cung đàn”, “Mơ hoa”, “Ngày về” , “Quê hương”

Hoàng Giác (1924 – 2017) là nhạc sĩca sĩ nhạc tiền chiến nổi tiếng của nền Tân nhạc Việt Nam. Ông sáng tác không nhiều, song lại sở hữu một số tác phẩm nổi tiếng được biết đến rộng rãi.

Mục lục

Tiểu sử

Hoàng Giác sinh năm 1924; quê gốc của ông là làng Chèm, nay thuộc phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.[1] Cha của Hoàng Giác là một người chơi đàn bầu rất hay nhưng lại ham mê môn quyền anh, từng giữ chức Chủ tịch Liên đoàn Quyền anh Bắc Kỳ. Bản thân Hoàng Giác cũng là người say mê thể thao. Thuở nhỏ, ông học trường Bưởi. Từ khi còn là học sinh, ông đã tìm tòi học hỏi nhạc theo các tài liệu sáng tác cũng như hòa thanh của Pháp.[2] Năm 1945 ông viết ca khúc đầu tay “Mơ hoa”.

Nhạc sĩ Hoàng Giác năm 1949

Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, Hoàng Giác cùng gia đình sơ tán lên chiến khu Việt Bắc. Cuối năm 1946, ông sáng tác bài hát “Ngày về” khi còn là một đội viên trong đoàn tuyên truyền của cách mạng được trở về thăm gia đình sau những chuyến đi công tác. Theo Hoàng Giác, đây chính là ca khúc ông ưng ý nhất.[3] Bài này đã được nhiều ca sĩ thu âm như tài tử Ngọc Bảo, Ái Vân, Mai Hoa, Anh Thơ,… Năm 1948, Hoàng Giác trở lại Hà Nội và là một ca sĩ được nhiều người yêu mến.

Hoàng Giác sáng tác không nhiều, chỉ khoảng 20 ca khúc. Trong số đó, có những bài hát nổi tiếng và vượt thời gian như “Mơ hoa”, “Ngày về”, “Lỡ cung đàn”,…Ông khiêm tốn: “Tôi sáng tác không nhiều và so với các nhạc sĩ cùng thời thì đóng góp của tôi cho nền âm nhạc nước nhà không được bao nhiêu.[3]

Hoàng Giác chuyên sử dụng nhạc cụ là đàn Ghi-ta Hawaii (còn gọi là Hạ Uy cầm) và từng nhiều năm làm giảng viên ghi-ta tại Trường Sư phạm Nhạc – Họa Trung ương và Trường Âm nhạc dân lập.[2]

Hoàng Giác lập gia đình với bà Kim Châu vào năm 1951. Từ khoảng nửa sau thập niên 1960, gia đình ông rơi vào cảnh sống cơ cực ở miền Bắc Việt Nam bởi nhà cầm quyền Việt Nam Cộng hòamiền Nam sử dụng nhạc bản “Ngày về” của ông để làm nhạc hiệu cho chương trình “Chiêu hồi”.[1] Hai ông bà có người con trai là nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm.[3]

Ngày 14 tháng 9 năm 2017, Hoàng Giác qua đời tại nhà riêng ở Hà Nội do tuổi cao sức yếu, hưởng thọ 94 tuổi.[4]

Một số tác phẩm

Tờ nhạc “Ngày về” do Tinh Hoa tái bản
  • Anh sẽ về
  • Binh sếu
  • Bóng ngày qua
  • Giờ vui tàn
  • Hương lúa đồng quê
  • Khúc hát thương binh
  • Lỗi hẹn
  • Lỡ cung đàn
  • Mơ hoa
  • Ngày đi
  • Ngày về
  • Quê hương

Viết lời cho ca khúc của Nguyễn Thiện Tơ:

  • Qua bến năm xưa
  • Tiếng hát biên thùy
  • Trên đường về

Tham khảo

  1. ^ a ă Hà Đình Nguyên (17 tháng 2 năm 2012). “Những bóng hồng trong thơ nhạc – Kỳ 2: Ngày về trong giấc mơ hoa”. Thanh niên online. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  2. ^ a ă N.Chương (3 tháng 11 năm 2003). “Sống cùng Hoàng Giác”. Tuổi trẻ online. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  3. ^ a ă â Trần Lưu (25 tháng 5 năm 2002). “”Cánh chim bạt gió” Hoàng Giác”. Người lao động điện tử. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  4. ^ “Nhạc sĩ “Mơ hoa” Hoàng Giác qua đời”. Báo điện tử Dân Trí. 15 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2017.

Liên kết ngoài

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_Gi%C3%A1c

 

PHẠM CÔNG LUẬN : Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương


13/10/2016 10:56 GMT+7

TTO – Giới ca nhạc Sài Gòn thuật lại rằng trước năm 1975 có hai nhạc sĩ cùng họ Huỳnh được bạn bè trong nghề yêu mến gọi là anh Hai và anh Ba. Anh Ba là nhạc sĩ Huỳnh Anh, còn anh Hai là nhạc sĩ Huỳnh Háo.

Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương 
Nhạc sĩ Huỳnh Hiếu độc tấu trống tại vũ trường Đại Nam, Sài Gòn Ảnh: Tư liệu gia đình nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu

Huỳnh Háo là tên gọi thân mật của nhạc sĩ Huỳnh Thủ Hiếu, gọi tắt là Huỳnh Hiếu. Sau khi sinh ra Huỳnh Hiếu năm 1929 tại Cần Thơ, nghệ sĩ Kim Thoa sinh liên tiếp vài người con nữa nhưng chỉ sau ba tháng mười ngày, như lời kể lại trong gia đình, những đứa em của Huỳnh Hiếu đều mất. Ông bà Tư Chơi – Kim Thoa tìm mọi cách để giữ con.

Lúc thì làm lễ cúng gửi con cho thầy pháp, lúc thì cải sang đạo Thiên Chúa… đều không giữ được đứa nào. Đến khi sinh cô con gái út, bà Kim Thoa phải đổi con từ họ Huỳnh của cha sang họ Phạm của mẹ thì mới sống. Cô là Phạm Thị Mỹ Ngọc, tự Marie. Tuy nhiên, việc đổi họ này đã nảy sinh mâu thuẫn giữa hai vợ chồng. Phải chăng ông Tư Chơi liên tưởng đến việc đổi họ của cô con gái đầu của ông với bà Phùng Há?

Do sinh trong gia đình nghệ sĩ nên từ nhỏ Huỳnh Hiếu đã có năng khiếu về âm nhạc, được tự do theo đuổi chí hướng của mình. Suốt thời tuổi nhỏ và mới lớn, Huỳnh Hiếu học âm nhạc với các nhạc sĩ Philippines trong ban nhạc của đoàn Kim Thoa. Họ lành nghề, đàn hay hát giỏi, năng khiếu âm nhạc rất mạnh. Nhờ có họ trong đoàn, năm 8 tuổi, Huỳnh Hiếu bắt đầu học ký âm pháp và đàn banjo với nhạc sĩ Bénito Cruz.

Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương 
Ban nhạc Music Makers của Huỳnh Hiếu thường chơi tại các vũ trường Crystal Palace, Vân Cảnh năm 1972. Từ trái sang phải: Vương Minh, trống; Trần Vĩnh, saxo alto – được xem là thổi saxo hay nhất thời đó Ảnh: Tư liệu gia đình nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu

Từ Nam Vang 
đến Sài Gòn

Năm 1945, lúc 16 tuổi, Huỳnh Hiếu theo đoàn Kim Thoa của cha mẹ lên Nam Vang lưu diễn. Đợt diễn này không gặp thuận lợi, đoàn không có tiền trả lương cho đào kép, nhân viên và không có tiền về nước. Đang khó khăn thì gặp may mắn, có một người phụ nữ giàu có người Việt có chồng làm nhà Đoan đồng ý bao giàn trong một tuần (sau này Huỳnh Hiếu trở thành con rể của bà).

Một điều may nữa là trong tuần lễ đó, Huỳnh Hiếu gặp lại thầy cũ trước kia đã truyền giao bí quyết môn đánh trống cho ông là nhạc sĩ Ringo – tay trống số 1 của Sài Gòn thập niên 1940. Ông ta đề nghị Huỳnh Hiếu ở lại thay chỗ của ông ở vũ trường tại Nam Vang, nếu nhận lời thì tiền hợp đồng sẽ đủ trang trải cho đoàn về nước.

Huỳnh Hiếu đồng ý ở lại biểu diễn, trả nợ cho cha mẹ, đồng thời rèn tay nghề cùng các nhạc sĩ ngoại quốc bên đó. Đoàn Kim Thoa trở về Sài Gòn và rã gánh luôn do chiến cuộc. Huỳnh Hiếu ở lại Nam Vang hai năm, vừa biểu diễn vừa học hòa âm với nhạc sĩ Nick Abelardo – 
người Pháp gốc Nam Mỹ.

Năm 1946, sau một năm ở lại Nam Vang, Huỳnh Hiếu tham gia cuộc thi đánh trống dành cho các tay trống Đông Dương trong một cuộc đấu xảo tổ chức ở thành phố này. Lúc đó, một người thầy dạy ông đánh trống là Ramola cũng dự thi và cuối cùng Huỳnh Hiếu đoạt danh hiệu “Tay trống đệ nhất Đông Dương”. Tuy được giải, ông không vui vì sợ thầy mình buồn và không bao giờ nhắc đến giải thưởng đó nữa.

Năm 1948, ông trở về Sài Gòn tham gia ban nhạc Nguyễn Văn Dung ở vũ trường Kim Sơn. Từ đó là thời gian hoạt động sôi nổi của Huỳnh Hiếu. Ông được các ban nhạc tranh nhau mời hợp tác biểu diễn. Ông tiếp tục tham gia các ban nhạc: ban nhạc Pháp George de Bruyne ở vũ trường Palis de Jade tại Sài Gòn do nhạc trưởng Larry Czifra, người Hungary điều khiển.

Ông còn được mời sang Bangkok năm 1955 để chơi trong ban nhạc George Meritan. Từ năm 1956, ông thành lập ban nhạc riêng chơi ở các vũ trường Tour D’Ivoire và Tabarin tại Sài Gòn. Ông cũng là tay trống của ban nhạc Lê Văn Thiện ở vũ trường Đại Nam.

Nghệ sĩ đa tài

Huỳnh Hiếu luôn được ca ngợi trong giới biểu diễn ca nhạc trước năm 1975 ở Sài Gòn. Trên báo Kịch Ảnh số 458 ấn hành trước năm 1975, nhạc sĩ Tùng Giang, cũng là một tay trống, nhận xét: “…Hiện anh là một tay trống thần sầu thuộc hàng sư tổ của những tay trống trẻ ngày nay (điều này không ngoa vì chính những tay trống học trò đầu tiên của anh đã là những người đào tạo ra nhiều tay trống xuất sắc cho giới trẻ…)”.

Hữu Thạnh nhớ lại cha anh kể rằng thời Tây, ông chủ xếp lương cho nhạc công tới 8 bậc khác nhau, trong đó nhạc công người Việt đứng hàng thứ 6, nhạc trưởng người Việt thứ 5, nhạc công người Phi thứ 4, nhạc trưởng người Phi thứ 3, nhạc công người Pháp thứ 2 và nhạc trưởng người Pháp thứ 1. Huỳnh Hiếu là người Việt nhưng mức lương là bậc 1, ngang với nhạc trưởng người Pháp.

Để được như vậy, Huỳnh Hiếu vừa say nghề vừa ham học. Ông luôn tìm tòi học hỏi chuyên môn của mình, thường nghe đĩa nhạc nước ngoài để tìm hiểu về kỹ thuật đánh trống của những tài danh về trống trên thế giới, trong đó có hai tay trống ông ngưỡng mộ là Buddy Rich và Shelly Mane. Ông còn sử dụng được đàn guitar, piano và đàn bandonéon (một loại phong cầm sử dụng nút bấm, không xài phím piano).

Ông khiến mọi người ngạc nhiên vì chỉ học trong một tuần đã có thể chơi được bandonéon vốn được xem là khó sử dụng. Ông còn thích hòa âm, sáng tác. Năm 1949, khi mới 20 tuổi, ông đã lập một ban nhạc 10 người lấy tên là ban ABC trình diễn tại rạp Nguyễn Văn Hảo chơi các bản nhạc tự hòa âm. Ông còn sáng tác nhiều ca khúc từng được trình bày trên đài phát thanh và sân khấu ca nhạc như Nhớ người phương xa, Tiếng đàn trong gió đông, Vì ai, Hương quê… Giọng hát của ông là giọng nam kim nhẹ (Ténor Léger) thường trình bày nhạc ngoại quốc.

Sau khi chia tay người vợ đầu là mẹ của nhạc sĩ Huỳnh Hữu Thạnh, Huỳnh Hiếu đi bước nữa với người vợ gốc Hoa, sống cuộc đời an bình cho tới khi mất năm 1994. Người vợ này cũng giúp lo an táng cha ông, nghệ sĩ Tư Chơi năm 1964.

Về người cha thân thương đã mất năm 1994, hình ảnh Hữu Thạnh nhớ mãi là một buổi tối năm 1962, ông Huỳnh Hiếu đi biểu diễn ở khu giải trí Đại Thế Giới về. Lúc đó, mẹ của Hữu Thạnh đã ra đi và ông đang cảnh gà trống nuôi con.

Ông mở cái cặp, từ trong đó có những con dế than, dế lửa bò ra. Sau buổi diễn, ông đã đi lòng vòng khu Đại Thế Giới để bắt dế cho đứa con trai bé nhỏ chơi. Lớn lên, Hữu Thạnh sớm lập gia đình, ra ở riêng. Nhớ một buổi sáng, anh ngủ say vì đêm trước diễn khuya và giật mình tỉnh dậy khi thấy cha đứng lù lù trước mặt đang nhìn mình. Anh hỏi: “Ủa, cha đi đâu vậy?”.

Ông mỉm cười: “Cha thấy nhớ con nên ghé qua thăm, thấy con đang ngủ nên nhìn vậy thôi!”. Thiếu vắng tình yêu thương gần gũi của song thân, Huỳnh Hiếu dồn hết tình thương cho đứa con trai duy nhất.

Hữu Thạnh tự hào về họ, dù sao họ đã sống trọn vẹn đời nghệ sĩ, tận tình với nghệ thuật và cũng đã biết yêu thương hết mình. Họ đã là những ngôi sao thật sự trong lòng của anh.

Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương 
Hai cha con nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu (Huỳnh Háo) và Huỳnh Hữu Thạnh trước một buổi diễn năm 1990 – Ảnh: Tư liệu gia đình nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu

Tự hào và xót xa

Nhớ lại hai người thân là ông nội, soạn giả Huỳnh Thủ Trung – Tư Chơi, và cha, nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu – Huỳnh Háo, anh Huỳnh Hữu Thạnh có nhiều cảm xúc lẫn lộn. Anh vừa tự hào, vừa xót xa cho người ông tài hoa nhưng cuộc đời nhiều lúc điên đảo, lận đận.

Ông Huỳnh Hiếu thường kể con nghe về ông nội, dù thích uống rượu, khi tỉnh táo làm việc rất nghiêm túc, sức sáng tác mạnh mẽ, số tuồng viết ra rất nhiều. Khi điều hành đoàn Kim Thoa, ông dành thời gian trao đổi việc với nhân viên hằng ngày, yêu cầu nhân viên mang giày bata, đồng phục khi làm việc… là điều lạ đối với thời mà nhiều người còn quen đi chân đất.

Bình Luận