Category Archives: TIỂU SỬ NHẠC SĨ

Nguyễn Thụy Kha : Hãnh diện 100 năm âm nhạc Việt nam: “Hòn vọng phu” Lê Thương


Hãnh diện 100 năm âm nhạc Việt nam: “Hòn vọng phu” Lê Thương

22/09/2017 21:53

Trong nhiều năm, nhạc sĩ góp phần khai sinh tân nhạc Việt Nam – Lê Thương đã dựng lên dọc lịch sử tân nhạc Việt Nam 3 “Hòn vọng phu” bằng âm thanh bất tử

Mùa xuân Mậu Dần 1938 cách đây 79 năm, tân nhạc Việt Nam đã chọn được năm khai sinh sau những năm tháng hoài thai, bắt đầu từ cuộc tri ngộ giữa 2 nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên từ Sài Gòn ra miền Bắc với nhạc sĩ Lê Thương ở Hải Phòng.

Người tri âm

Chuyến hành hương phương Bắc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên ấy nhằm mục đích diễn thuyết về âm nhạc cải cách tại miền Bắc. Nhưng ở Hà Nội, ông Tuyên đã được đón tiếp không mặn mà lắm bởi giọng nói Nam Bộ lúc đó còn ít được người kinh thành nghe thấy, bởi tính “phớt ăng-lê” của người Thăng Long. Song ở Hải Phòng, nhờ có Lê Thương vốn bản tính sôi nổi nhiệt tình, mọi điều đã trở nên thú vị. Tại cuộc tri ngộ trên đất Cảng, ông Tuyên đã đề nghị ông Thương hát một bài hát mới của chính mình. Và Lê Thương đã hát bản đàn xuân rạo rực, trữ tình. Sau đó, cũng nhờ Lê Thương, Nguyễn Văn Tuyên đã được hát “Bông cúc vàng” tại rạp cinema Palace nhân kỳ hội của Trường Nữ họ Hoài Đức. Gặp Lê Thương, tuy tuổi đời thua ông Tuyên 5 tuổi, ông Tuyên vẫn coi như đã gặp được một tri âm, một bạn vong niên đồng hành trên con đường tân nhạc mới mẻ. Và chính họ là nhạc sĩ đầu tiên tạo nên tờ khai sinh cho tân nhạc Việt Nam mùa thu 1938 bằng việc ấn hành chính tác phẩm của mình trên báo “Ngày nay”.

Hãnh diện 100 năm âm nhạc Việt nam: Hòn vọng phu Lê Thương - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Lê Thương Ảnh: TƯ LIỆU

Khi “Bản đàn xuân” rung lên

Sau mùa thu 1938, “Bản đàn xuân” của Lê Thương ấn hành trên báo “Ngày nay”, ít tháng sau nhóm Hoàng Quý đã tập tành công phu và lần đầu tiên trình diễn những tác phẩm của Lê Thương như “Tiếng đàn đêm khuya”, “Một ngày xanh”, “Thu trên đảo Kinh Châu”, “Trên sông Dương Tử”… tại Nhà hát Lớn Hải Phòng, trong không khí hoạt động của “Hội ánh sáng” mà nhà thơ Thế Lữ khuấy động lên trong mùa hè 1939. Từ đó, âm nhạc Lê Thương bắt đầu lan tỏa lên Hà Nội, Vĩnh Yên nhờ nhóm kịch Thế Lữ đi diễn vở “Ông ký Cóp” của Vi Huyền Đắc ở nhiều nơi.

Rất tiếc là tới năm 1941, khi nhóm Hoàng Quý khởi lên thành nhóm Đồng Vọng như một luồng gió thênh thang vô ngã, hừng hực thanh xuân thì do Nhật chiếm Hải Phòng, Lê Thương cùng gia đình vào phiêu lưu, mưu sinh trên đất Nam Bộ. Vậy là ông hành nghề ở phương Nam, ngược lại với người tri âm Nguyễn Văn Tuyên khi xưa. Ở Nam Bộ, Lê Thương đã thử một cuộc vận động cho tân nhạc nhờ sự giúp đỡ của văn thi sĩ Nguyễn Văn Cổn và nhạc sĩ Jean Tịnh – một cây vĩ cầm điêu luyện của ca nhạc cải lương. Cả hai ông đều làm việc tại Radio Sài Gòn. Hãng này xuất bản riêng một tờ tạp chí cùng tên. Và “Thu trên đảo Kinh Châu” của Lê Thương đã được ấn hành.

Từ “đồ đó chưa xài” làm nên “Hòn vọng phu”

Nhưng khi ấy, tân nhạc ở Nam Bộ vẫn chưa gây được ảnh hưởng trong quần chúng. Vì yêu nghề, Lê Thương đi gõ cửa các cửa hàng đĩa hát như Béka, Keller, hãng đĩa Asia phim ảnh và hãng Asia đĩa hát. Họ đều nghe và khen tác phẩm của Lê Thương hay nhưng đều trả lời là ở đây, “đồ đó chưa xài”. Chỉ khi đến hội Bắc kỳ ái hữu, Lê Thương mới được hội này tổ chức cho một cuộc diễn thuyết tân nhạc có sự góp mặt của ban nhạc Philippines do Julio phụ trách với 2 cây đàn guitar Hawai Scawell và Nguyễn Thông. Nhưng đó chỉ là một tiếng vang rất nhỏ.

Phải tới năm 1943, Quý Mùi, tân nhạc mới bắt đầu được chú ý ở Sài Gòn. Một loạt bài nhận định về “Phong trào nhạc mới” của Lê Thương đã được tuần báo “Thanh niên” đăng tải từ 25-3-1943 đến 26-8-1944. Ở Sài Gòn, Lê Thương vừa viết báo âm nhạc, vừa dạy học, vừa nung nấu những sáng tác có tầm cỡ hơn. Và trong nhiều năm, ông đã dựng lên dọc lịch sử tân nhạc Việt Nam 3 bài “Hòn vọng phu” bằng âm thanh bất tử.

Theo lời dẫn đầu bằng những câu lục bát nôm na “Đời xưa đời xửa vua gì – Có nàng đứng ngóng chồng về đầu non – Thế rồi mong mỏi mong mòn – Thế rồi hóa đá ôm con đứng chờ…”, Lê Thương đã tạc lên “Hòn vọng phu” thứ nhất bằng một hành khúc hào sảng mà khi nghe âm vang thấy phảng phất hơi thở của “Chinh phụ ngâm”: “Giã nhà đeo bức chiến bào – thét roi cầu vị ào ào gió thu…”

“Hòn vọng phu” thứ hai còn có tên là “Ai xuôi vạn lý” thực sự là một tự sự đầy chất thơ bi tráng. Hình tượng ngày chinh phu đi có đoàn cỏ cây dưới chân còn trẻ thơ, ấy vậy mà đến khi đoàn cỏ cây đã thành đoàn cổ thụ già, chinh phu vẫn chưa về. Quả là một phóng dụ đầy nước mắt.

Nhưng đến lời thứ hai thì quả là kiệt tác của ca từ. Đào Trọng Khánh – tác giả kịch bản và lời bình phim “Hà Nội trong mắt ai” nổi tiếng – đã nhận xét: “Bố Lê Thương giỏi quá. Không hiểu sao bố ấy lại nghĩ ra hình tượng núi non thương tình người vọng phu kéo nhau đi thăm nàng để rồi nằm thành Trường Sơn vạn lý xuyên nước Nam, rồi lại nhiều đồi rủ nhau kéo thành đảo ra xa tới khơi ngàn xem chàng về hay chưa? Tuyệt vô cùng!”. “Hòn vọng phu” thứ hai được Lê Thương viết năm 1946. Ông muốn gửi gắm chút tâm sự về cuộc kháng chiến lúc bấy giờ chăng?

Trong “Hòn vọng phu” thứ ba còn có tên “Người chinh phu về”, Lê Thương đã để người chinh phu bước dọc theo lịch sử Việt Nam qua những địa danh thành Cổ Loa, đền Vạn Kiếp, vượt Hoàng Sơn, vòng thành Huế, đất miền Đồng Nai… để rồi thấy “Núi đá thu rêu đã lấp mờ bao nghìn xưa…”. Như một chuyện kể bằng âm nhạc, 3 “Hòn vọng phu” của Lê Thương đã lan tỏa và đứng sừng sững trong lòng dân chúng từ Nam chí Bắc bao nhiêu năm qua. Và chắc còn mãi mãi.

Tôi được gặp bác Lê Thương lần đầu tiên vào mùa hè năm 1985 ở Sài Gòn. Hôm ấy, tôi cùng vợ chồng nhạc sĩ Văn Cao đến thăm bác tại tư gia 55 Bùi Viện. Bác quả là một người hóm hỉnh, vui tính. Nhất là hôm tất cả kéo sang nhậu ở nhà anh Lê Thắng, đường sông ở mạn cầu chữ Y, Lê Thương sương sương chút men hát rất hay: “Sớm bắt bướm hái hoa tung tăng nô đùa – Chiều lại ra vườn hoa dạo chơi – Tối quyến luyến má ba reo ca bên đèn – Bảy giờ đêm nằm mơ thấy tiên”. Đó là giai điệu bài hát thiếu nhi mang tên “Tuổi thơ” rất hay của Lê Thương mà tôi đã thuộc từ khi còn rất nhỏ.

Bác mong có ngày ra Hải Phòng thăm bố tôi và lại cùng ăn bít-tết bánh mì. Nhưng sức khỏe đã giữ chân bác. Bác mất ngày 18-9-1996. Năm ấy nghe tin bác Hộ qua đời, bố tôi cũng buồn mất một dạo. Chắc sau ngày bố tôi chuyển cõi, bác và bố tôi đã gặp nhau ở cõi xa xăm.

Tôi kính trọng Lê Thương ngoài những kỷ niệm tình cờ giữa bác với tôi, kỷ niệm thuở hàn vi giữa bác với bố tôi và còn vì bác là một nhạc sĩ tân nhạc mà nhạc Việt của cha ông đã ngấm sâu trong mạch máu. Đừng hoài công tìm ở những sáng tác của Lê Thương có chút gì “lai căng”. Bác đã sống, đã thở ra nhạc Việt cho ta tự hào.

Văn Cao luôn gọi là thầy

Lê Thương, tên khai sinh là Ngô Đình Hộ. Ông sinh năm 1913 tại Nam Định. Sau khi tốt nghiệp sư phạm Hà Nội , thầy giáo Hộ về dạy học tại Trường Trung học Lê Lợi, Hải Phòng. Ở đấy, ông trở thành đồng nghiệp với bố tôi – thầy giáo Chín. Bên cạnh cái thú sáng sáng cùng bố tôi đi điểm tâm bít-tết bánh mì, bác Hộ (bố tôi hay gọi nhạc sĩ Lê Thương như vậy) còn có cái thú chơi với nhóm thanh niên trẻ ưa ca hát của Hoàng Quý, Canh Thân, Phạm Ngữ, Hoàng Phú (nay là nhạc sĩ Tô Vũ), Văn Cao, nàng Cúc Phương (tức hoa khôi Nguyễn Thị Cúc Phương), nàng Thư Nhàn… Không biết vô tình hay cố ý, bác Hộ lấy cái tên làm âm nhạc của mình là Lê Thương lại nhằm vào một trong đội ngũ cung (Cung, Thương, Giốc, Thủy, Vũ). Sinh thời, Văn Cao luôn gọi Lê Thương là thầy dạy nhạc của mình.

Nguyễn Thụy Kha

Nguyễn Thụy Kha : Nhạc sĩ Thẩm Oánh – Người bán đường tơ


Hãnh diện 100 năm âm nhạc Việt Nam (*)

Nhạc sĩ Thẩm Oánh – Người bán đường tơ

03/11/2017 22:19

Cuộc đời Thẩm Oánh đã được chính ông viết ra trong ca khúc “Tôi bán đường tơ”: “Tôi bán đường tơ – Ca ca hát hát, điên điên rồ rồ – quên quên nhớ nhớ, mơ mơ hồ hồ – thương vay khóc mướn – khéo vui cợt đùa, khéo se tình hờ – rút tơ lòng ra, chiều nhân thế say ước mơ…”

Sau ngày 30-4-1975 một thời gian, học sinh một số trường trung học ở Sài Gòn được học ngoại ngữ của thầy giáo đã ở tuổi lục tuần tên là Thẩm Oánh. Nhiều học sinh, nhất là những học sinh từ miền Bắc vào, chỉ biết đó là thầy giáo Thẩm Oánh, ít ai biết rằng đó là một trong những cây đại thụ của nền tân nhạc Việt Nam từng lừng lẫy tiếng tăm.

Xuất thân danh gia vọng tộc

Nhạc sĩ Thẩm Oánh sinh ngày 14-8-1916 tại Hà Nội. Tên khai sinh của ông là Thẩm Ngọc Oánh, xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc. Hiệu thuốc tây nhà họ Thẩm ở Cửa Nam đã tồn tại vững chãi từ lâu. Ngày toàn quốc kháng chiến, thuốc của cửa hiệu đã được các chiến sĩ bám trụ thủ đô sử dụng rất hữu hiệu. Trong căn nhà ấu thơ, Thẩm Oánh đã được học vỡ lòng từ một thầy đồ. Nhờ thầy mà ông biết chơi các loại đàn Đông phương, tạo nên ý niệm về thẩm mỹ âm nhạc. Sau khi học thầy đồ, Thẩm Oánh tiếp tục học âm nhạc qua một số sách tiếng Pháp, ở Viễn Đông Âm nhạc học và ở các trường trung học thời ấy. Năm 1938, Thẩm Oánh đã bắt đầu dạy nhạc và tham gia nhóm nhạc Myosotis cùng Dương Thiệu Tước, Vũ Khánh, Nguyễn Thiện Tơ…

Tuy cùng trong nhóm nhạc, nhưng Thẩm Oánh có chủ trương âm nhạc khác Dương Thiệu Tước mặc dù người yêu ông (sau là vợ ông), bà Trần Anh Đào cũng vốn là một nhạc sĩ và là em họ Dương Thiệu Tước. Ông có chủ trương theo đạo “Trung dung”. Theo ông, những sáng tác tân nhạc phải theo ý nhạc Việt Nam và phải có những cảm xúc thuần túy Á Đông. Ông đã viết ra hàng loạt các tác phẩm như “Hồ xưa”, “Xuân về”, “Tiếng khóc trong phòng the”, “Khúc yêu đương”, “Trên mây”…

Sự nghiệp sáng tác đồ sộ

Thẩm Oánh có một sự nghiệp sáng tác đồ sộ tới cỡ cả ngàn bài hát như “Vương tơ”, “Gió hoan ca”… và đặc biệt là “Vợ chồng Ngâu”, “Thiếu phụ Nam Xương” đầy âm hưởng ca trù, có khi nằm ở những rung động, có khi nằm ở những không gian khác biệt và có khi nằm ở những quan niệm thẩm mỹ. Ba nhạc kịch của ông là “Quán giang hồ”, “Bá Nha – Tử Kỳ”, “Đoàn kết là sức mạnh”. Ngay từ khi khai sinh tân nhạc, ngày 13-9-1938, bài hát “Khúc yêu đương” của ông đã được biểu diễn cùng bài hát của Dương Thiệu Tước tại rạp Olympia trước buổi chiếu phim do Hội Ánh sáng tổ chức. Một năm sau, ông có “Nhà Việt Nam”: “Nhà Việt Nam, Nam Bắc Trung sáng trưng Á Đông… Bốn ngàn năm văn hiến…” ai ai cũng biết.

Nhạc sĩ Thẩm Oánh - Người bán đường tơ - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Thẩm Oánh. (Ảnh tư liệu)

Sau cuộc diễn thuyết về âm nhạc cải cách của Nguyễn Văn Tuyên tại Hội Trí Tri 1938, năm 1941, Thẩm Oánh cũng có cuộc diễn thuyết tại đây cùng đề tài này. Năm 1942, khi chùa Quán Sứ khánh thành, ông viết bài hát “A di đà phật”, sau đó, ông làm phó hội trưởng Hội Khuyến nhạc, chủ bút tờ bán nguyệt san “Khuyến nhạc”.

Tìm ra ca sĩ Thanh Hằng

Toàn quốc kháng chiến, Thẩm Oánh cùng Dương Thiệu Tước ở lại Hà Nội. Ông phụ trách văn nghệ Đài Pháp – Á và chủ bút bán nguyệt san “Việt Nhạc”, nhiều lần đăng đàn về tân nhạc Việt Nam tại các trường đại học và Nhà hát Lớn Hà Nội.

Mùa hè 1953, ông tổ chức cuộc thi hát cho thanh niên Hà Nội ở Đài Pháp – Á. Ban giám khảo toàn các nhạc sĩ tên tuổi như Dương Thiệu Tước, Hùng Lân, Vũ Văn Tuyên… Cuộc thi đã trao giải nhất cho nữ thí sinh Thanh Hằng, giải nhì cho nam thí sinh Trần Ngọc, giải ba cho nam thí sinh Trần Hiếu… Thanh Hằng ngay lập tức đã lọt mắt xanh của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và trở thành “người tình áo xanh” hát nhạc Đoàn Chuẩn hay nhất thời kỳ ấy. Sau giải phóng thủ đô, Thanh Hằng trở thành ca sĩ Lê Hằng nổi tiếng với những ca khúc “Trước ngày hội bắn” (hát với Trịnh Quý – tác giả ca khúc), “Lời anh vọng mãi ngàn năm”…

Trần Ngọc cũng như Thẩm Oánh di cư vào Nam và trở thành nhạc sĩ Tuấn Khanh với ca khúc “Chiếc lá cuối cùng” nổi tiếng. Hai ca sĩ vẫn thân nhau cho đến sau này. Cuộc thi có câu chuyện vui sau sàn diễn Nhà hát Lớn là để bảo đảm cho người đẹp Thanh Hằng chắc chắn giải nhất, nhạc sĩ Tu My – tác giả “Tan tác” nổi tiếng đã chơi trò tinh nghịch làm lỏng chân cắm đèn điện tử của máy tăng âm khi Trần Ngọc hát, nên mặc dù hát rất tốt ở vòng ngoài, Trần Ngọc chỉ được giải nhì ở vòng trong do khi hát, micro bị rè. Khi gặp Trần Ngọc ở Đài Phát thanh Sài Gòn, Thẩm Oánh – lúc đó đã biết chuyện, rất đàng hoàng xin lỗi Trần Ngọc về quyết định ngày ấy. Cả thầy trò đều cười vì chuyện cũ đã qua rồi.

Rút tơ lòng ra chiều nhân thế

Ở Sài Gòn, Thẩm Oánh vừa làm hiệu trưởng Trường Âm nhạc – Kịch trường, vừa phụ trách văn nghệ Đài Phát thanh Sài Gòn. Trong Hội nghị Âm nhạc Đông Nam Á, ông là ủy viên thuyết trình tại Manila, Philippines. Nữ diễn viên kịch Thẩm Thúy Hằng vốn tên thật là Nguyễn Thị Minh Phụng vì kính trọng ông đã lấy họ Thẩm của ông để tạo thành nghệ danh Thẩm Thúy Hằng.

Có thể nhận ra những đề tài chính trong ngàn bài hát của Thẩm Oánh. Đó là nhạc hùng ca, nhạc Phật giáo, nhạc tuổi thơ, nhạc tình cảm. Bài “Việt Nam cùng tiến” đã từng được dùng làm nhạc hiệu cho đài Pháp – Á ở Hà Nội và Sài Gòn. Rồi “Nhà Việt Nam”, “Trưng nữ vương”, “Chu Văn An hành khúc”… Bài “Xuân về” dùng ngũ cung (nhưng ngũ cung Trung hoa có biến cung) rất đặc sắc:

“Xuân về rồi muôn đóa hoa đào tươi. Cười trong nắng sáng tươi. Buông mành xuống tơ liễu soi hồ gương…”

Có thể là họ Thẩm của ông có gốc gác Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử chăng? Nhưng với bài hát đầu tay “Khúc yêu đương” thì lại thuần khiết, tự nhiên ngũ cung Việt: đồ – rê – fa- sol – la tuy ở hóa biểu vẫn ghi nốt si giáng như viết theo điệu thức fa trưởng hoặc rê thứ của thất cung, nhưng trong giai điệu không hề xuất hiện một nốt si giáng nào:

“Ngọn trào gió cuốn mang đến nơi đâu. Chiếc thuyền tình xa chìm nổi. Thuyền ơi hãy ghé vào bờ. Để tôi đỡ phải mong chờ. Mượn lái thuyền mà đi kiếm người mơ…”.

Cuộc đời Thẩm Oánh đã được chính ông viết ra ở “Tôi bán đường tơ”: “Tôi bán đường tơ – Ca ca hát hát, điên điên rồ rồ – quên quên nhớ nhớ, mơ mơ hồ hồ – thương vay khóc mướn – khéo vui cợt đùa, khéo se tình hờ – rút tơ lòng ra, chiều nhân thế say ước mơ…”.

(*) Xem Báo Người Lao Động số thứ bảy từ ngày 26-8

Hưởng đủ “Phúc – lộc – thọ – khang – sinh”

Ở lại Sài Gòn tới năm 1991, Thẩm Oánh sang định cư ở Mỹ. Nhưng với cách suy tư của ông, hẳn ông không thể quen nơi đất lạ và lòng vẫn nhớ nhung, vương vấn quê hương. Bởi thế, năm 1993, tại thủ đô Washington D.C, các học sinh của ông đã tổ chức đêm nhạc nhân 60 năm làm nghề cho ông và xuất bản tuyển tập “Nhớ nhung” vinh danh ông. Thẩm Oánh từ trần năm 1996, thọ 80 tuổi, cùng hưởng đủ “Phúc – lộc – thọ – khang – sinh” như Dương Thiệu Tước. Nhưng mang tâm sự “Thân tàn đất lạ chơi vơi – Nhìn lên chỉ thấy bầu trời là quen”.

Nguyễn Thụy Kha

WIKIPEDIA: Hoàng Giác (1924 – 2017)


Hoàng Giác

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hoàng Giác
Hoanggiac.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Hoàng Giác
Sinh 1924
Hà Nội, Đông Dương thuộc Pháp
Mất 14 tháng 9, 2017 (92–93 tuổi)
Hà Nội, Việt Nam
Thể loại nhạc tiền chiến
Ca khúc tiêu biểu “Lỡ cung đàn”, “Mơ hoa”, “Ngày về” , “Quê hương”

Hoàng Giác (1924 – 2017) là nhạc sĩca sĩ nhạc tiền chiến nổi tiếng của nền Tân nhạc Việt Nam. Ông sáng tác không nhiều, song lại sở hữu một số tác phẩm nổi tiếng được biết đến rộng rãi.

Mục lục

Tiểu sử

Hoàng Giác sinh năm 1924; quê gốc của ông là làng Chèm, nay thuộc phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.[1] Cha của Hoàng Giác là một người chơi đàn bầu rất hay nhưng lại ham mê môn quyền anh, từng giữ chức Chủ tịch Liên đoàn Quyền anh Bắc Kỳ. Bản thân Hoàng Giác cũng là người say mê thể thao. Thuở nhỏ, ông học trường Bưởi. Từ khi còn là học sinh, ông đã tìm tòi học hỏi nhạc theo các tài liệu sáng tác cũng như hòa thanh của Pháp.[2] Năm 1945 ông viết ca khúc đầu tay “Mơ hoa”.

Nhạc sĩ Hoàng Giác năm 1949

Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, Hoàng Giác cùng gia đình sơ tán lên chiến khu Việt Bắc. Cuối năm 1946, ông sáng tác bài hát “Ngày về” khi còn là một đội viên trong đoàn tuyên truyền của cách mạng được trở về thăm gia đình sau những chuyến đi công tác. Theo Hoàng Giác, đây chính là ca khúc ông ưng ý nhất.[3] Bài này đã được nhiều ca sĩ thu âm như tài tử Ngọc Bảo, Ái Vân, Mai Hoa, Anh Thơ,… Năm 1948, Hoàng Giác trở lại Hà Nội và là một ca sĩ được nhiều người yêu mến.

Hoàng Giác sáng tác không nhiều, chỉ khoảng 20 ca khúc. Trong số đó, có những bài hát nổi tiếng và vượt thời gian như “Mơ hoa”, “Ngày về”, “Lỡ cung đàn”,…Ông khiêm tốn: “Tôi sáng tác không nhiều và so với các nhạc sĩ cùng thời thì đóng góp của tôi cho nền âm nhạc nước nhà không được bao nhiêu.[3]

Hoàng Giác chuyên sử dụng nhạc cụ là đàn Ghi-ta Hawaii (còn gọi là Hạ Uy cầm) và từng nhiều năm làm giảng viên ghi-ta tại Trường Sư phạm Nhạc – Họa Trung ương và Trường Âm nhạc dân lập.[2]

Hoàng Giác lập gia đình với bà Kim Châu vào năm 1951. Từ khoảng nửa sau thập niên 1960, gia đình ông rơi vào cảnh sống cơ cực ở miền Bắc Việt Nam bởi nhà cầm quyền Việt Nam Cộng hòamiền Nam sử dụng nhạc bản “Ngày về” của ông để làm nhạc hiệu cho chương trình “Chiêu hồi”.[1] Hai ông bà có người con trai là nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm.[3]

Ngày 14 tháng 9 năm 2017, Hoàng Giác qua đời tại nhà riêng ở Hà Nội do tuổi cao sức yếu, hưởng thọ 94 tuổi.[4]

Một số tác phẩm

Tờ nhạc “Ngày về” do Tinh Hoa tái bản
  • Anh sẽ về
  • Binh sếu
  • Bóng ngày qua
  • Giờ vui tàn
  • Hương lúa đồng quê
  • Khúc hát thương binh
  • Lỗi hẹn
  • Lỡ cung đàn
  • Mơ hoa
  • Ngày đi
  • Ngày về
  • Quê hương

Viết lời cho ca khúc của Nguyễn Thiện Tơ:

  • Qua bến năm xưa
  • Tiếng hát biên thùy
  • Trên đường về

Tham khảo

  1. ^ a ă Hà Đình Nguyên (17 tháng 2 năm 2012). “Những bóng hồng trong thơ nhạc – Kỳ 2: Ngày về trong giấc mơ hoa”. Thanh niên online. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  2. ^ a ă N.Chương (3 tháng 11 năm 2003). “Sống cùng Hoàng Giác”. Tuổi trẻ online. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  3. ^ a ă â Trần Lưu (25 tháng 5 năm 2002). “”Cánh chim bạt gió” Hoàng Giác”. Người lao động điện tử. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  4. ^ “Nhạc sĩ “Mơ hoa” Hoàng Giác qua đời”. Báo điện tử Dân Trí. 15 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2017.

Liên kết ngoài

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_Gi%C3%A1c

 

PHẠM CÔNG LUẬN : Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương


13/10/2016 10:56 GMT+7

TTO – Giới ca nhạc Sài Gòn thuật lại rằng trước năm 1975 có hai nhạc sĩ cùng họ Huỳnh được bạn bè trong nghề yêu mến gọi là anh Hai và anh Ba. Anh Ba là nhạc sĩ Huỳnh Anh, còn anh Hai là nhạc sĩ Huỳnh Háo.

Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương 
Nhạc sĩ Huỳnh Hiếu độc tấu trống tại vũ trường Đại Nam, Sài Gòn Ảnh: Tư liệu gia đình nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu

Huỳnh Háo là tên gọi thân mật của nhạc sĩ Huỳnh Thủ Hiếu, gọi tắt là Huỳnh Hiếu. Sau khi sinh ra Huỳnh Hiếu năm 1929 tại Cần Thơ, nghệ sĩ Kim Thoa sinh liên tiếp vài người con nữa nhưng chỉ sau ba tháng mười ngày, như lời kể lại trong gia đình, những đứa em của Huỳnh Hiếu đều mất. Ông bà Tư Chơi – Kim Thoa tìm mọi cách để giữ con.

Lúc thì làm lễ cúng gửi con cho thầy pháp, lúc thì cải sang đạo Thiên Chúa… đều không giữ được đứa nào. Đến khi sinh cô con gái út, bà Kim Thoa phải đổi con từ họ Huỳnh của cha sang họ Phạm của mẹ thì mới sống. Cô là Phạm Thị Mỹ Ngọc, tự Marie. Tuy nhiên, việc đổi họ này đã nảy sinh mâu thuẫn giữa hai vợ chồng. Phải chăng ông Tư Chơi liên tưởng đến việc đổi họ của cô con gái đầu của ông với bà Phùng Há?

Do sinh trong gia đình nghệ sĩ nên từ nhỏ Huỳnh Hiếu đã có năng khiếu về âm nhạc, được tự do theo đuổi chí hướng của mình. Suốt thời tuổi nhỏ và mới lớn, Huỳnh Hiếu học âm nhạc với các nhạc sĩ Philippines trong ban nhạc của đoàn Kim Thoa. Họ lành nghề, đàn hay hát giỏi, năng khiếu âm nhạc rất mạnh. Nhờ có họ trong đoàn, năm 8 tuổi, Huỳnh Hiếu bắt đầu học ký âm pháp và đàn banjo với nhạc sĩ Bénito Cruz.

Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương 
Ban nhạc Music Makers của Huỳnh Hiếu thường chơi tại các vũ trường Crystal Palace, Vân Cảnh năm 1972. Từ trái sang phải: Vương Minh, trống; Trần Vĩnh, saxo alto – được xem là thổi saxo hay nhất thời đó Ảnh: Tư liệu gia đình nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu

Từ Nam Vang 
đến Sài Gòn

Năm 1945, lúc 16 tuổi, Huỳnh Hiếu theo đoàn Kim Thoa của cha mẹ lên Nam Vang lưu diễn. Đợt diễn này không gặp thuận lợi, đoàn không có tiền trả lương cho đào kép, nhân viên và không có tiền về nước. Đang khó khăn thì gặp may mắn, có một người phụ nữ giàu có người Việt có chồng làm nhà Đoan đồng ý bao giàn trong một tuần (sau này Huỳnh Hiếu trở thành con rể của bà).

Một điều may nữa là trong tuần lễ đó, Huỳnh Hiếu gặp lại thầy cũ trước kia đã truyền giao bí quyết môn đánh trống cho ông là nhạc sĩ Ringo – tay trống số 1 của Sài Gòn thập niên 1940. Ông ta đề nghị Huỳnh Hiếu ở lại thay chỗ của ông ở vũ trường tại Nam Vang, nếu nhận lời thì tiền hợp đồng sẽ đủ trang trải cho đoàn về nước.

Huỳnh Hiếu đồng ý ở lại biểu diễn, trả nợ cho cha mẹ, đồng thời rèn tay nghề cùng các nhạc sĩ ngoại quốc bên đó. Đoàn Kim Thoa trở về Sài Gòn và rã gánh luôn do chiến cuộc. Huỳnh Hiếu ở lại Nam Vang hai năm, vừa biểu diễn vừa học hòa âm với nhạc sĩ Nick Abelardo – 
người Pháp gốc Nam Mỹ.

Năm 1946, sau một năm ở lại Nam Vang, Huỳnh Hiếu tham gia cuộc thi đánh trống dành cho các tay trống Đông Dương trong một cuộc đấu xảo tổ chức ở thành phố này. Lúc đó, một người thầy dạy ông đánh trống là Ramola cũng dự thi và cuối cùng Huỳnh Hiếu đoạt danh hiệu “Tay trống đệ nhất Đông Dương”. Tuy được giải, ông không vui vì sợ thầy mình buồn và không bao giờ nhắc đến giải thưởng đó nữa.

Năm 1948, ông trở về Sài Gòn tham gia ban nhạc Nguyễn Văn Dung ở vũ trường Kim Sơn. Từ đó là thời gian hoạt động sôi nổi của Huỳnh Hiếu. Ông được các ban nhạc tranh nhau mời hợp tác biểu diễn. Ông tiếp tục tham gia các ban nhạc: ban nhạc Pháp George de Bruyne ở vũ trường Palis de Jade tại Sài Gòn do nhạc trưởng Larry Czifra, người Hungary điều khiển.

Ông còn được mời sang Bangkok năm 1955 để chơi trong ban nhạc George Meritan. Từ năm 1956, ông thành lập ban nhạc riêng chơi ở các vũ trường Tour D’Ivoire và Tabarin tại Sài Gòn. Ông cũng là tay trống của ban nhạc Lê Văn Thiện ở vũ trường Đại Nam.

Nghệ sĩ đa tài

Huỳnh Hiếu luôn được ca ngợi trong giới biểu diễn ca nhạc trước năm 1975 ở Sài Gòn. Trên báo Kịch Ảnh số 458 ấn hành trước năm 1975, nhạc sĩ Tùng Giang, cũng là một tay trống, nhận xét: “…Hiện anh là một tay trống thần sầu thuộc hàng sư tổ của những tay trống trẻ ngày nay (điều này không ngoa vì chính những tay trống học trò đầu tiên của anh đã là những người đào tạo ra nhiều tay trống xuất sắc cho giới trẻ…)”.

Hữu Thạnh nhớ lại cha anh kể rằng thời Tây, ông chủ xếp lương cho nhạc công tới 8 bậc khác nhau, trong đó nhạc công người Việt đứng hàng thứ 6, nhạc trưởng người Việt thứ 5, nhạc công người Phi thứ 4, nhạc trưởng người Phi thứ 3, nhạc công người Pháp thứ 2 và nhạc trưởng người Pháp thứ 1. Huỳnh Hiếu là người Việt nhưng mức lương là bậc 1, ngang với nhạc trưởng người Pháp.

Để được như vậy, Huỳnh Hiếu vừa say nghề vừa ham học. Ông luôn tìm tòi học hỏi chuyên môn của mình, thường nghe đĩa nhạc nước ngoài để tìm hiểu về kỹ thuật đánh trống của những tài danh về trống trên thế giới, trong đó có hai tay trống ông ngưỡng mộ là Buddy Rich và Shelly Mane. Ông còn sử dụng được đàn guitar, piano và đàn bandonéon (một loại phong cầm sử dụng nút bấm, không xài phím piano).

Ông khiến mọi người ngạc nhiên vì chỉ học trong một tuần đã có thể chơi được bandonéon vốn được xem là khó sử dụng. Ông còn thích hòa âm, sáng tác. Năm 1949, khi mới 20 tuổi, ông đã lập một ban nhạc 10 người lấy tên là ban ABC trình diễn tại rạp Nguyễn Văn Hảo chơi các bản nhạc tự hòa âm. Ông còn sáng tác nhiều ca khúc từng được trình bày trên đài phát thanh và sân khấu ca nhạc như Nhớ người phương xa, Tiếng đàn trong gió đông, Vì ai, Hương quê… Giọng hát của ông là giọng nam kim nhẹ (Ténor Léger) thường trình bày nhạc ngoại quốc.

Sau khi chia tay người vợ đầu là mẹ của nhạc sĩ Huỳnh Hữu Thạnh, Huỳnh Hiếu đi bước nữa với người vợ gốc Hoa, sống cuộc đời an bình cho tới khi mất năm 1994. Người vợ này cũng giúp lo an táng cha ông, nghệ sĩ Tư Chơi năm 1964.

Về người cha thân thương đã mất năm 1994, hình ảnh Hữu Thạnh nhớ mãi là một buổi tối năm 1962, ông Huỳnh Hiếu đi biểu diễn ở khu giải trí Đại Thế Giới về. Lúc đó, mẹ của Hữu Thạnh đã ra đi và ông đang cảnh gà trống nuôi con.

Ông mở cái cặp, từ trong đó có những con dế than, dế lửa bò ra. Sau buổi diễn, ông đã đi lòng vòng khu Đại Thế Giới để bắt dế cho đứa con trai bé nhỏ chơi. Lớn lên, Hữu Thạnh sớm lập gia đình, ra ở riêng. Nhớ một buổi sáng, anh ngủ say vì đêm trước diễn khuya và giật mình tỉnh dậy khi thấy cha đứng lù lù trước mặt đang nhìn mình. Anh hỏi: “Ủa, cha đi đâu vậy?”.

Ông mỉm cười: “Cha thấy nhớ con nên ghé qua thăm, thấy con đang ngủ nên nhìn vậy thôi!”. Thiếu vắng tình yêu thương gần gũi của song thân, Huỳnh Hiếu dồn hết tình thương cho đứa con trai duy nhất.

Hữu Thạnh tự hào về họ, dù sao họ đã sống trọn vẹn đời nghệ sĩ, tận tình với nghệ thuật và cũng đã biết yêu thương hết mình. Họ đã là những ngôi sao thật sự trong lòng của anh.

Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương 
Hai cha con nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu (Huỳnh Háo) và Huỳnh Hữu Thạnh trước một buổi diễn năm 1990 – Ảnh: Tư liệu gia đình nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu

Tự hào và xót xa

Nhớ lại hai người thân là ông nội, soạn giả Huỳnh Thủ Trung – Tư Chơi, và cha, nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu – Huỳnh Háo, anh Huỳnh Hữu Thạnh có nhiều cảm xúc lẫn lộn. Anh vừa tự hào, vừa xót xa cho người ông tài hoa nhưng cuộc đời nhiều lúc điên đảo, lận đận.

Ông Huỳnh Hiếu thường kể con nghe về ông nội, dù thích uống rượu, khi tỉnh táo làm việc rất nghiêm túc, sức sáng tác mạnh mẽ, số tuồng viết ra rất nhiều. Khi điều hành đoàn Kim Thoa, ông dành thời gian trao đổi việc với nhân viên hằng ngày, yêu cầu nhân viên mang giày bata, đồng phục khi làm việc… là điều lạ đối với thời mà nhiều người còn quen đi chân đất.

Bình Luận

VƯƠNG ĐẰNG sưu tầm: Tưởng nhớ nhạc sĩ VĂN GIẢNG (1924 – 2013)


TƯỞNG NHỚ

          Nhạc sĩ VĂN GIẢNG

(Sinh 12/5/1924, Huế –Mất 9 tháng 5, 2013, Victoria, Úc)

Vương Đằng sưu tầm

 

“Vĩnh Biệt Nhạc Sĩ Văn Giảng”

 

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1124&Itemid=1

Tam cá nguyệt san văn học nghệ thuật biên khảo Cỏ Thơm

 

YOUTUBE:  “Cuộc Đời Cố Nhạc Sĩ Văn Giảng”:

 

https://www.youtube.com/watch?v=wdbniuqpvMs

 

“Nhạc sĩ Văn Giảng”

 

http://www.luanhoan.net/gocchung/html/gc877.htm

 

LỤC QUÂN VIỆT NAM

 

Đồng ca (trước 1975)

 

https://www.youtube.com/watch?v=J98GSe8ms7I

 

 

AI VỀ SÔNG TƯƠNG (bút hiệu Thông Đạt)

 

Quang Dũng

 

https://www.youtube.com/watch?v=tRcCAa6ZvE0

 

Hà Thanh

 

https://www.youtube.com/watch?v=3r1EYOFJwdQ

 

 

Tuấn Ngọc

 

https://www.youtube.com/watch?v=wQby8Mf5rcU

 

ĐÊM MÊ LINH

 

Hoàng Oanh (trước 1975)

 

https://www.youtube.com/watch?v=FWRG8d1bXqQ

 

THÚC QUÂN = HỒN QUÂN REO

 

Đồng ca (trước 1975)

 

https://www.youtube.com/watch?v=VHwcRInYHTw

 

 

 

 

 

Attachments area

Preview YouTube video Cuộc Đời Cố Nhạc Sĩ Văn Giảng

Preview YouTube video Lục Quân Việt Nam Cộng Hòa Hành Khúc

Preview YouTube video Ai Về Sông Tương – Quang Dũng

Preview YouTube video Hà Thanh – Ai Về Sông Tương – Nhạc: Thông Ðạt – PPS: Liên Như – Youtube: TMC

Preview YouTube video Tuấn Ngọc – Ai Về Sông Tương

Preview YouTube video Đêm Mê Linh – Hoàng Oanh

Preview YouTube video Thúc quân – Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

 

HÀ TÙNG LONG :Vì sao nhạc sỹ Thanh Tùng không chịu đi bước nữa sau khi vợ mất?


Dân trí   Thứ hai, 21/03/2016 – 12:34

Cho đến bây giờ, nhiều người vẫn đặt câu hỏi: “Vì sao nhạc sỹ Thanh Tùng, một người đàn ông tài ba, đào hoa, phong nhã, đa tình… lại không đi thêm bước nữa khi vợ ông mất từ lúc trẻ?”. Chính các con ông cũng đã không ít lần “bật đèn xanh” hoặc tỏ lời động viên ông tái hôn nhưng ông vẫn ở vậy cho đến khi tạ thế.
 >> Chuyện về nhạc sĩ Thanh Tùng “đào hoa” và 2 ca khúc để đời tặng vợ
 >> “Nhìn Thanh Tùng chật vật ngồi xe lăn mà ứa nước mắt”

Quyết không tái hôn vì một lời hứa!

Anh Nguyễn Thanh Bách, con trai trưởng của cố nhạc sỹ “Một mình” cho biết, thời còn đi học, nhạc sỹ họ Nguyễn học chung lớp với anh trai của vợ. Trong một lần đến nhà bạn học chơi, nhạc sỹ thấy ông bạn có cô em xinh xinh nên lân la làm quen. Tình cảm giữa hai người lúc đầu chỉ là anh em nhưng rồi lớn dần thành tình yêu từ lúc nào không biết. Năm 1971, nhạc sỹ Thanh Tùng quyết định xin cưới bà Phạm Thị Minh làm vợ. Đến năm 1972, anh Nguyễn Thanh Bách ra đời tựa như “trái ngọt tình yêu” của một cuộc tình đầy lãng mạn.


Nhạc sỹ Thanh Tùng lúc còn trẻ. Ảnh: GĐCC.

Nhạc sỹ Thanh Tùng lúc còn trẻ. Ảnh: GĐCC.

Thời đó, sau khi tốt nghiệp lớp Lý – Sáng – Chỉ (lý luận, sáng tác, chỉ huy) tại Nhạc viện Bình Nhưỡng (Triều Tiên), nhạc sỹ Thanh Tùng trở về và công tác tại Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam. Sau đó, ông được cử vào công tác ở Đài Phát thanh Giải phóng. Những ngày đó, bà Minh cũng chuyển vào công tác ở Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh để có điều kiện được chăm sóc ông. Tuy nhiên, sau đó không lâu, bà Minh xin nghỉ làm ở Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh để về làm kinh tế ở ngoài.

Theo anh Bách, sở dĩ bố anh có thể dành nhiều tâm sức cho âm nhạc là bởi khi bà Minh còn khoẻ mạnh, nhạc sỹ Thanh Tùng không phải lo lắng về vấn đề kinh tế và quán xuyến gia đình. Bà Minh lúc đó, không chỉ vừa chăm sóc con, vừa quán xuyến gia đình mà còn đảm trách cả vấn đề kinh tế. Và dù nhạc sỹ có rất nhiều mối quan hệ bên ngoài nhưng cuộc sống gia đình lúc nào cũng hạnh phúc, các con có đầy đủ tình thương của bố mẹ.

Tuy nhiên, cuộc sống không ai nói trước được chữ “Ngờ”. Năm 1990, bà Minh mắc trọng bệnh rồi ra đi khi mới ngoài 40 tuổi. Trước lúc mất, bà có gọi chồng đến bên cạnh dặn dò chuyện chăm sóc các con. Trong đó, bà có hỏi ông một câu: “Nếu em chết anh có lấy vợ mới và bỏ các con không?”, lúc đó ông trả lời “Không”. Sau này nhạc sỹ Thanh Tùng có giải thích rằng, lúc đó ông không có câu trả lời nào khác. Và tình yêu sâu đậm cùng lời hứa với người vợ trước lúc nhắm mắt xuôi tay đã khiến ông không dám bước tiếp trong cuộc sống hôn nhân.

Vợ mất, nhạc sỹ Thanh Tùng đã rất chếnh choáng. Ông phải trải qua một giai đoạn cực kỳ khó khăn. Một tay phải chăm sóc ba con nhỏ, một tay phải làm kinh tế để nuôi sống cả gia đình và vẫn phải nuôi dưỡng niềm đam mê âm nhạc.

Chân dung bà Phạm Thị Minh, người vợ quá cố của cố nhạc sỹ Thanh Tùng khi còn trẻ. Ảnh: GĐCC.
Chân dung bà Phạm Thị Minh, người vợ quá cố của cố nhạc sỹ Thanh Tùng khi còn trẻ. Ảnh: GĐCC.

“Mẹ tôi mất, ba tôi phải đối diện với bao nhiêu là vấn đề về tâm lý và cuộc sống. Trước ông không phải lo gì về kinh tế cả bởi mọi việc mình mẹ tôi lo hết. Mẹ tôi mất, ông phải gánh tiếp gánh nặng của bà. Ông vừa phải đóng vai trò người bố, vừa phải làm mẹ, chăm sóc các con. Trong mắt chúng tôi, ông là người đàn ông có thành tích cao nhất vì vợ mất sớm nhưng vẫn một tay nuôi được ba người con đi học nước ngoài đầy đủ, điều này kể cả những gia đình đầy đủ bố mẹ cũng không thể làm được”, anh Bách xúc động nói.

Sau này, hiểu được chuyện “con chăm cha không bằng bà chăm ông”, các con của nhạc sỹ đã nhiều lần “bật đèn xanh”, kể cả tỏ lời động viên ông đi thêm bước nữa để có người chăm sóc, bầu bạn tuổi già nhưng ông vẫn nhất quyết nói “không”. Biết tính ông khái tính, lại là người rất khó lay chuyển nên sau nhiều lần thuyết phục không được, các con đành phải chiều theo ý ông dù lúc đó ông cũng có khá nhiều người phụ nữ vây quanh.

Vợ chồng gia đình nhạc sỹ Thanh Tùng và ba con trong một lần đi nghỉ mát ở Đà Lạt. Ảnh: GĐCC.
Vợ chồng gia đình nhạc sỹ Thanh Tùng và ba con trong một lần đi nghỉ mát ở Đà Lạt. Ảnh: GĐCC.

“Bố tôi là người tài hoa nhưng sống rất phóng khoáng, tình cảm, các đức tính đó phụ nữ rất thích. Vì thế, bố tôi có rất nhiều người phụ nữ vây quanh nhưng ông vẫn không chịu ai. Chắc ông không muốn mẹ tôi buồn”, anh Bách chia sẻ thêm.

Nguyện ước cuối đời là được đoàn tụ với vợ

Theo anh Bách, lúc sinh thời nhạc sỹ “Hoa tím ngoài sân” rất hay kể cho các con nghe những kỷ niệm về vợ mình. Trong cảm nhận của các con thì tình yêu của ông dành cho bà rất sâu đậm. Cho đến những ngày cuối cùng của năm 2008, trước khi ông bị tai biến nằm liệt một chỗ, ông nằm mơ thấy bà về trong giấc mơ liền bật dậy viết nên ca khúc “Hoa cúc vàng” với đầy sự nhung nhớ, yêu thương và khao khát đoàn tụ. Sau bài hát ấy, ông không sáng tác được thêm ca khúc nào nữa vì bị bệnh và cũng không còn cảm xúc.

Cách đây khá lâu, cũng đã có một vài lần nhạc sỹ họ Nguyễn bày tỏ tâm nguyện với các con là sau này đưa mộ của bà Minh từ TP. Hồ Chí Minh (mộ bà Minh hiện vẫn đang yên vị ở TP. Hồ Chí Minh) để nếu ông có tạ thế thì ông bà được nằm cạnh nhau. Và sắp tới đây, khi hoàn thiện khu nghĩa trang rộng hơn 1000m nằm trong Công viên Nghĩa trang Thiên Đức (Phú Thọ), ba anh em anh Bách cũng sẽ đưa bà Minh về bên cạnh mộ của nam nhạc sỹ để ông bà được đoàn tụ.

Vợ chồng nhạc sỹ Thanh Tùng cùng người thân trong dịp sinh nhật con. Ảnh: GĐCC.
Vợ chồng nhạc sỹ Thanh Tùng cùng người thân trong dịp sinh nhật con. Ảnh: GĐCC.

Nói về người bố vừa nằm xuống, anh Bách luôn dành cho ông một sự yêu thương, kính trọng lẫn khâm phục. Anh Bách cho rằng, dù mẹ anh mất sớm nhưng bố anh đã luôn làm tròn bổn phận của cả hai: mẹ – bố. Ông giáo dục các con rất cẩn thận trong đối nhân xử thế, cách làm việc, cách kinh doanh…

“Những điều ông dạy chúng tôi như thế nào thì bây giờ chúng tôi dạy lại các con của mình như thế. Chính tôi, dù bây giờ trưởng thành rồi nhưng vẫn luôn nhìn vào các sống của bố mình để học tập. Không mong được như bố mình nhưng cũng mong được một phần của bố. Điều đó sẽ khiến chúng tôi tốt hơn lên. Bố tôi là người rất quảng đại, hào sảng, phóng khoáng… Ông rất rộng rãi với người thân, bạn bè và những người xung quanh. Ông chưa bao giờ tính toán chi li từng đồng từng hào với ai cả. Ông viết nhạc xong toàn đưa cho mọi người hát chứ không có đòi hỏi phải thế này thế kia gì cả. Ông cũng sống rất thẳng thắn và chính trực, chưa bao giờ biết “luồn cúi” là gì.

Nhạc sỹ Thanh Tùng cùng con gái út. Ảnh: GDCC.
Nhạc sỹ Thanh Tùng cùng con gái út. Ảnh: GDCC.

Có lẽ vì cách sống đó nên bố tôi rất nhiều bạn bè. Bạn của bố tôi có nhiều người là chính khách, doanh nhân, nghệ sỹ và cả những người thường dân. Bạn bè của ông cũng chơi với ông rất chân tình”, anh Bách nói.

Anh Bách cho biết, dù có tới ba người con nhưng nhạc sỹ Thanh Tùng chưa bao giờ có ý ép các con phải theo nghiệp âm nhạc của mình vì ông vì ông quan niệm theo đuổi âm nhạc cũng phải có năng khiếu. Trong ba anh em, bản thân anh Bách nhìn nhận mình không có chút năng khiếu nào nhưng hai người em thì có chút năng khiếu. Họ cũng biết chơi đàn, cũng hát được nhưng chắc không có duyên với nghệ thuật nên đến bây giờ vẫn chưa thấy bén duyên. Điều này khiến anh hơi tiếc nhưng vẫn có thể trông chờ vào lớp cháu con kế cận.

“Bố tôi quan niệm, nếu đã là nghệ thuật đích thực thì phải để thưởng thức chứ không phải thi thố. Ai thấy hay thì hay, không thì thôi. Chẳng bao giờ ông có suy nghĩ phải sáng tác nhạc để đặt được giải thưởng này giải thưởng kia hoặc tham gia thi cuộc thi này cuộc thi kia. Quan điểm sáng tác của bố tôi là hoạ sỹ hay nhạc sỹ, khi sáng tác đều phải đưa cảm xúc thật vào tác phẩm. Vì chỉ có cái gì xuất phát từ trái tim mới đến được với trái tim. Cảm xúc thật sẽ khiến người nghe nhạc dễ tìm thấy mình trong đó, vì ai cũng có lúc buồn, lúc vui… còn viết theo đơn đặt hàng gì đó nó sẽ bị khiên cưỡng, cảm xúc không thật. Cho nên bố tôi viết bằng cảm xúc thôi chứ không viết theo kiểu bị ai đó ép hoặc viết theo đơn đặt hàng. Các bài hát của ông vì thế mà đều có màu sắc riêng.

Bức ảnh chụp nhạc sỹ Thanh Tùng và các con trong đêm nhạc Một mình diễn ra ở Hà Nội vào năm 2011. Anh Bách mặc áo đen, anh Thông áo sọc và con gái út Bạch Dương.
Bức ảnh chụp nhạc sỹ Thanh Tùng và các con trong đêm nhạc “Một mình” diễn ra ở Hà Nội vào năm 2011. Anh Bách mặc áo đen, anh Thông áo sọc và con gái út Bạch Dương.

Nhờ tốt nghiệp Lý – Sáng – Chỉ nên bố tôi không chỉ biết sáng tác mà còn biết chỉ huy và dàn dựng chương trình. Ông có thể viết được tổng phổ cho một dàn nhạc, kèn đánh như thế nào, dàn dây đánh ra sao, trống đánh thế nào… Kiến thức âm nhạc của ông rất uyên thâm nên ông có thể làm được nhiều thứ”, anh Bách kể thêm.

Dù rất giỏi trong âm nhạc nhưng trong đời nhạc sỹ, nhạc sỹ Thanh Tùng chỉ có hai học trò đúng nghĩa đó là nhạc sỹ Quốc Trung và nhạc sỹ Ngọc Lễ. Theo anh Bách, nhạc sỹ Quốc Trung được nhạc sỹ Thanh Tùng dạy nhiều về hoà âm phối khí, còn nhạc sỹ Ngọc Lễ được dạy nhiều về sáng tác. Sở dĩ nhạc sỹ Ngọc Lễ được nhạc sỹ Thanh Tùng nhận làm học trò vì thời đó Ngọc Lễ thường hay đến nhà riêng của ông dạy anh Bách về đàn guitar và tiếng Anh, đổi lại nhạc sỹ Thanh Tùng dạy anh về sáng tác âm nhạc. Ngoài ra, dù không chính thức nhưng cũng có rất nhiều ca sỹ gọi nhạc sỹ “Chuyện tình của biển” là thầy bởi ông cũng góp phần dạy họ trong âm nhạc và có những ca khúc viết riêng cho họ.

Hà Tùng Long

http://dantri.com.vn/van-hoa/vi-sao-nhac-sy-thanh-tung-khong-chiu-di-buoc-nua-sau-khi-vo-mat-20160321123126031.htm

VIỆT HẢI : TÌM HIỂU VỀ SOẠN GIẢ VIỄN CHÂU


Tìm hiểu về soạn giả Viễn Châu

​Việt Hải

Soạn giả Viễn Châu đã tạo ra một gia tài văn hóa đặc thù rất phong phú của hơn 2.000 bài vọng cổ và 70 vở cải lương… Trong đó tôi rất thích bài tình ca vọng cổ “Tình anh bán chiếu”, được nghệ sĩ  Út Trà Ôn trình bày.

“Hò ơ… 
Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm. 
Công tôi cực lắm, mưa nắng dãi dầu. 
Chiếu này tôi chẳng bán đâu. 
Tìm em không gặp… Hò ơ… 
Tìm em không gặp tôi gối đầu mỗi đêm…
1/ Ghe chiếu Cà Mau đã cấm sào trên bờ kinh ngã bảy, sao người con gái năm xưa chẳng thấy ra chào… Cửa vườn cô đã khoá kín tự hôm nào, tôi vác đôi chiếu bông từ dưới ghe lên xóm rẫy, chiếc áo nhuộm bùn đã lấm tấm giọt mồ hôi. Nhà của cô sau trước vắng tanh gió lạnh chiều hôm bỗng có ai dạo lên tiếng nguyệt cầm như gieo vào lòng tôi một nỗi buồn thê thảm.
2/ Cô đã đặt đôi chiếu bông bề dài hai thước có lẽ để điểm tô ở chốn loan phòng, hôm nay cô đã quên tôi để cất bước theo chồng. Cô ơi đôi chiếu này tự tay tôi dệt lấy, tôi đã lựa từng cọng lát sợi gai nhưng khi tôi đến nơi thì cô đã rời bỏ quê nhà sang qua xứ khác, tôi đứng trước cổng vườn xưa nỗi buồn man mác, còn đôi chiếu này tôi biết tặng cho ai?…
3/ Nhớ năm ngoái khi ghe vừa tới vàm sông ngã Bảy, cô đã tươi cười dẫn tôi đến tận nhà cô; đưa tôi vào chốn phòng riêng để đo ni chiếc giường gõ đỏ và cô đặt tôi làm đôi chiếu, cô hỏi qua gía cả, tôi trả lời lấy giá rẻ làm quen .Năm hôm sau tôi sắp sửa lui ghe cô còn đứng trên bến dặn dò kỹ lưỡng, sau khi cô đà quay gót chiếc áo bông hường cũng khuất dạng sau mấy lùm tre, cô có biết đâu tôi đã lấy nón lá che ngang để dấu đôi giòng nước mắt vì không muốn bàng quan thiên hạ họ cười tôi là một kẻ si tình.
(nói lối) 
Khi hỏi lại xóm riềng tôi mới biết 
Cô theo chồng đã được bốn trăng qua. 
Mình dám đâu sai hẹn với người ta 
Mà họ đành đoạn bỏ nhà đi xứ khác
4/ Tôi vác đôi chiếu bông mà cõi lòng tan nát, bước chân đi như thể xác không hồn… nước mắt tuôn rơi như lá rụng trên đường, gió Đông vụt vù thổi mạnh lạnh đất trời lạnh đến cả tâm can. 
Người ta đã có đôi rồi 
Chiếu chăn đâu ấm bằng người tình chung, 
Để mình vác cặp chiếu bông 
Chờ đợi chi nữa uổng công đợi chờ.
5/ Khuya đêm nay ngồi chờ nước lớn nỗi buồn đau cứ canh cánh bên lòng… tôi thấy đời tôi sao lạnh lẽo khôn cùng… còn chi buồn hơn nghề bán chiếu để tô điểm loan phòng cho những gái còn Xuân… đến khi họ cất bước sang ngang lại không một lời hỏi han từ giã đến đôi chiếu bông tôi đã bỏ công ngồi dệt mấy ngày đêm ròng rã mà nay vẫn còn nằm trơ ở dưới khoan thuyền.
6/ Ngọn gió Đông ơi đừng thổi nữa lòng tôi lạnh lắm gió Đông ơi. Tôi nhổ sào cho ghé chiếu trôi xuôi lòng nặng trĩu một nỗi sầu tê tái, tôi ngồi yên sau lái đôi mắt vẫn hướng về nẻo cũ vườn xưa. Hỡi ơi con sông Phụng Hiệp chảy ra bảy ngã thì lệ của tôi sao nó cũng lai láng muôn giòng. Có ai biết được tấm lòng của tôi với cô gái mỹ miều trên kinh Ngã Bảy 
Sông sâu bên lở bên bồi Tình anh bán chiếu trọn đời không phai.”
Đó là nguyên bài sáu câu tình ca nói lên một chuyện tình buồn. Đại ý của bài vọng cổ này nói lên sự lãng mạn si tình của anh bán chiếu. Khi người con gái đặt mua chiếu, rồi anh bán chiếu đem lòng nhớ thương. Khi ghe đến ngã sông Phụng Hiệp,  nơi chia ra 7 nhánh sông con gọi là Ngã Bảy, cô đã tươi cười dẫn anh đến tận nhà cô, cô đưa anh vào chốn phòng riêng để anh đo ni chiếc giường gõ đỏ và đặt anh làm đôi chiếu. Cô hỏi qua giá cả xong anh trả lời lấy giá rẻ để làm quen. Năm ngày sau khi anh sắp sửa lui ghe cô còn đứng trên bến dặn dò kỹ lưỡng. Sau khi cô đã quay gót chiếc áo bông hường cũng khuất dạng sau mấy lùm tre. Cô biết đâu rằng anh đã lấy nón lá che ngang để che giấu đôi hàng nước mắt chảy dài, và anh không muốn bàng dân thiên hạ chê cười vì anh là gã trai si tình. Yêu một người con gái với trái tim thành thật có xấu không? Rồi si tình người con gái mới quen đến độ sung sướng để hàng lệ rơi có xấu không? Thưa không, nhưng nét đẹp của văn hóa cổ xưa của đất nước chúng ta rất dễ thương vì nhà thơ Xuân Diệu nhớ người tình cũng đã để nước mắt tuôn trào như sau:
“Nằm đêm anh cứ thương em 
Rơi nghiêng nước mắt một bên gối nằm 
Thế này cho hết trăm năm 
Đến muôn năm vẫn âm thầm thương em” 
(bài “Nằm Đêm Anh Cứ Thương Em”, XD)
Nguyễn Bính cũng âu sầu tương tư bóng hình người láng giềng qua giậu mùng tơi, Hàn Mặc Tử nhớ Mai Đình để hàng lệ rơi, những mối  tình xưa trong văn học Việt Nam còn nhiều lắm, và trong đó có “Tình anh bán chiếu” của soạn giả Viễn Châu. Cái đau lòng của anh bán chiếu là khi năm sau anh trở lại chốn xưa thì hỡi ơi cô khách hàng đã theo chồng. Cái đau cho cuộc tình một chiều là ở sự kiện “tan nát tình anh”. Lời ca của nghệ sĩ Út Trà Ôn làm cho người nghe xót xa cho chàng bán chiếu  đã ươm một mối tình quá oan khiên qua mấy câu vọng cổ của soạn giả Viễn Châu.
Vậy soạn giả Viễn Châu là ai?
Tôi tham khảo sách “Ngũ Đại Gia của Sân khấu Cải lương” do soạn giả Nguyễn Phương biên soạn, Trường Kỳ phát hành cùng với tài liệu của nhà văn Ba Bé cung cấp như sau:
Huỳnh Trí Bá là tên thật của nhạc sĩ Bảy Bá, tức soạn giả Viễn Châu. Vì sinh trưởng trong gia đình có 7 người con, ma ông là thứ 7 nên bạn bè trong xóm gọi tên tục thân thiện là “Bảy Bá”. Ông sinh năm 1924 trong một gia đình gia giáo nho học tại xã Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Khi còn học ở trường, ông đã mê đờn ca, cả tân lẫn cổ, thường có mặt trong các buổi đờn ca tài tử, hoặc cùng bạn bè tổ chức đờn ca. Sự hiểu biết về bài bản cải lương là do ông học lóm chương trình ca cổ nhạc ở các dĩa nhựa và đài phát thanh, ngoài ra, ông được dịp làm quen, học hỏi nhiều về đờn ca với nghệ sĩ ở đoàn hát thời xưa như Văn Võ hí ban, bầu Lúa, bầu Phục, bầu Hùng mỗi khi đến địa phương lưu diễn. Bảy Bá có khiếu viết văn , làm thơ và ham mê âm nhạc, năm ông 15 tuổi ông tỏ ra xuất chúng về môn đàn tranh. Đến năm 19 tuổi, ông đàn thạo các loại đàn tranh, violon, guitar và được nhiều người khen ngợi. Ham vui, ông bỏ nhà lên Sài Gòn tìm đến các ban nhạc lừng danh lúc bấy giờ. Nhờ tài hoa nên ông có mặt trong một dàn nhạc cùng với rất nhiều nhạc sĩ tài danh lúc đó như Jean Tịnh (violon), Bảy Hàm (đàn cò), Hai Biểu (tranh), Chín Hòa (kìm)…, là một ban cổ nhạc có tiếng ở đài phát thanh bấy giờ, đàn cho các danh ca lúc đó như: Cô Năm Cần Thơ, Ngọc Nữ, Ba Vĩnh Long, Tư Bé,… Cái tên Bảy Bá được nổi danh từ lúc đó.
Một kỷ niệm đáng nhớ của nhạc sĩ Bảy Bá trong những năm đầu mới vào nghề là ông thường lui tới những nơi có đờn ca tài tử và quen biết với nhạc sĩ Mười Còn, lúc đó đang đờn cho đoàn Việt kịch Năm Châu. Bất ngờ, trước chuyến lưu diễn ra Hà Nội, nhạc sĩ đàn tranh của đoàn bị bệnh, ông dược dịp thế chân. Trước khả năng đó nhạc sĩ Mười Còn thuyết phục Bảy Bá theo đoàn đi lưu diễn suốt hai tháng rưỡi… nhưng khi vừa về tới Sài Gòn thì một người anh của ông là Huỳnh Thanh Tòng bắt ông về quê, không cho theo đoàn hát nữa. Sau khi cha mẹ mất, ông rời những thân nhân cùng cuộc đời ruộng rẫy nghèo khổ để bắt đầu cuộc phiêu lưu mới vào phạm trù âm nhạc. Ông  quyết định trở lên thủ đô, tại Saigòn thì ông ở trọ nhà một người bạn cũng nghèo. Nghệ sĩ Bảy Bá phải mưu sinh bằng nghề đi đờn đám, như các đám cưới, đám hỏi, liên hoan, sinh nhật…Nhiều khi đi về quá khuya, mà cửa nhà đã đóng then cài thì ông không dám kêu cửa vì sợ phá giấc ngủ của người bạn, nên ông kê cây đờn làm gối ngủ phê một giấc cho tới sáng hôm sau ngay ở ngoài hàng ba nhà trọ. Đó là nỗi đam mê yêu nghệ thuật, và chính nó đã khiến nhạc sĩ Viễn Châu gặp nhiều lận đận, rồi cuộc đời chấp nhận sống lang thang, bụi đời trong giai đoạn đầu khởi nghiệp. Năm 1943, nghệ sĩ Bảy Bá tham gia vào đoàn Việt Kịch Năm Châu và lưu diễn khắp mọi miền đất nước, và được bậc thầy của sân khấu cải lương là ông Năm Châu đã tận tình nâng đỡ về nghề nghiệp. Lúc này thì soạn giả Viễn Châu bắt đầu tập viết tuồng vào những năm cuối cùng của thập niên 40, với vở đầu tay tựa đề Nát Cánh Hoa Rừng, cảm tác từ chuyện đường rừng của nhà văn Khái Hưng trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Soạn phẩm này đã thành công trên sân khấu Việt Kịch Năm Châu, mở đường cho những thành công liên tiếp sau đó. Ông đã đ ược nhiều người mến mộ.
Phải nói là trên bước đường nghề nghiệp, Bảy Bá được các nghệ sĩ đàn anh tận tình giúp đỡ, như đã nói trong đó có vợ chồng nghệ sĩ Năm Châu và  Kim Cúc là phần chính. Nhưng với bản thân ông, ông mang một nỗi niềm đam mê dào dạt bộ môn cải lương, một tâm hồn xao xuyến đa cảm và một khả năng sáng tác dồi dào đã đưa ông đến hết thành công này đến thành công khác. Vì trong khoảng thời gian hơn 60 năm mang kiếp nghệ sĩ cổ nhạc, sự nghiệp sáng tác của ông đã có hơn 70 vở tuồng và hơn 2.000 bản vọng cổ. Một gia tài quá lớn mà ông dể lại cho nền âm nhạc Việt Nam. Những khía cạnh đáng nhớ về soạn giả Viễn Châu:
Vọng Cổ Hài Hước: 
Ông là người tạo ra hệ phái vọng cổ hài hước mà sau này nhiều gương mặt nổi danh nhờ những bài ca vui, dí dỏm như nghệ sĩ Văn Hường, Hề Sa,… Sáng kiến này tạo sự mới mẻ và gây tiếng vang lớn về phạm vi vọng cổ hài hước, nhạc ông đã đưa Văn Hường trở thành một ca sĩ vọng cổ hài hước duyên dáng và độc đáo. Đến nay nhiều người còn nhớ những bài: “Tôi đi làm rể”, “Ba chàng rể quý”, “Tư Ếch đi Sài Gòn”, “Vợ tôi tôi sợ”, “Văn Hường nể vợ”, “Tâm sự Văn Hường”, “Vợ tôi nói tiếng Tây”,…
Tân Cổ Giao Duyên: 
Từ năm 1964, ông mạnh dạn làm một cuộc cách mạng bằng một cuộc giao duyên giữa nhạc tân và nhạc cổ. Bản đầu tiên “Chàng là ai?” (Tân nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết), bản nhạc này do nữ nghệ sĩ Lệ Thủy ca. Dù lúc đó có một số ý kiến chống báng, không đồng tình với sự giao duyên tân cổ nhạc này. Nhưng càng về sau quần chúng đã nồng nhiệt chấp nhận những tác phẩm của ông, nên các hãng đĩa thay nhau ký hợp đồng mời soạn giả Viễn Châu cộng tác. Một số đoàn hát lúc đó cũng theo loại nhạc ghép tân cổ giao duyên và thêm vào đôi hai giọng ca tân nhạc và vọng cổ. 
Thời gian trôi qua vọng cổ đã thăng hoa, các danh ca được người xem ưa thích nhờ làn hơi “mùi”, mượt mà, nhưng nội dung bản vọng cổ cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng giúp cho người nghệ sĩ thể hiện giọng ca của mình. Soạn giả Viễn Châu được mệnh danh là “người tạo danh cho các nghệ sĩ”, bởi qua nhiều sáng tác của ông, nhiều nghệ sĩ khi thể hiện đã được cái ưa thích để đông đảo người xem chú ý hơn, ví dụ như: Mỹ Châu với bài “Hòn vọng phu”, Tấn Tài với “Mùa xuân của mẹ”, Út Trà Ôn với “Tình anh bán chiếu”, Bạch Tuyết với “Hai sắc hoa Ti-gôn”, Thanh Nga với “Nguyệt Kiểu xuất gia” và “Hai lối mộng”,…
Vở Tuồng Cải Lương: 
Trong liên tiếp nhiều thập niên kể từ cuối thập niên 1940, soạn giả Viễn Châu đã sáng chói trên vòm trời nghệ thuật sân khấu cải lương, ông thành công với  khoảng 70 vở tuồng được xem là ăn khách hàng đầu, như Sau Bức Màn Nhung, Đời Cô Nga, Hoa Mộc Lan, Hàn Mạc Tử, Nợ Tình, Qua Cơn Ác Mộng…
Tóm lại, tên tuổi của soạn giả Viễn Châu đã thật sự thành công vượt bực trong ngành cổ nhạc. Như trên đã trình bày ông viết nhiều tuồng cãi lương, những bản vọng cổ ăn khách nhất với lời văn mượt mà, bay bướm, nhẹ nhàng đầy chất thơ nhạc, nhiều tác phẩm của ông gợi lại hình ảnh nông thôn lam lũ và bình dị, để châm biếm những cảnh trái tai, gai mắt trong xã hội muôn mặt, hay để hoài niệm về một thời dĩ vãng, bày tỏ tâm sự của những tâm hồn đa cảm và những mối tình dang dở. Người ái mộ ông chưa hẳn là thích cốt chuyện tình tiết éo le, nhưng vì những tuồng tích quen thuộc đó được ông đệm vào bằng những lời ca văn chương trau chuốt, mượt mà và rất trữ tình. Do đó nếu so sánh giữa những bài ca vọng cổ đơn chiếc và những vỏ tuồng cải lương dài thì vì tài viết văn ghép vào nhạc của ông quá xuất sắc hay quá điêu luyện, nên ông được nhiều bình luận gia về cổ nhạc cho rằng ông đã vượt trội về tên tuổi trong các tác phẩm vọng cổ hơn là soạn giả của những vở tuồng dài cải lương. Lời nhận xét này cũng là lời kết luận của bài viết này vậy.