THU HẰNG : LƯƠNG Y HÙYNH THỊ LỊCH – NGƯỜI KHAI SÁNG THẬP THỦ ĐẠO VIỆT NAM


Y học & đời sống » Lương y Huỳnh Thị Lịch – Người khai sáng Thập Thủ Đạo Việt Nam


Bà là người sáng lập ra phương pháp Bấm huyệt Thập thủ đạo hay còn gọi là Thập chỉ đạo (Thập Chỉ Liên Tâm Pháp).
Suốt mấy chục năm làm nghề lương y, chuyên trị bấm huyệt theo phương pháp Thập chỉ đạo, bà đã điều trị cho hàng vạn bệnh nhân và đào tạo hàng nghìn học trò theo phương pháp này. Bà đã chữa dứt điểm hoặc tạo tiến triển tốt đối với nhiều loại bệnh, đặc biệt là 5 loại bệnh: câm, mù, bướu, liệt, suyễn… Lương y Huỳnh Thị Lịch được ca ngợi là “thần y” bấm huyệt chữa được rất nhiều bệnh cho mọi người.Lương y Huỳnh Thị Lịch (1927 - 2007)
Bà Huỳnh Thị Lịch tên thật là Trần Thị Kim Thanh (1927-2007), quê bà ở vùng Ý Yên,Nam Định. Theo bà, phương pháp này do cha nuôi, người Pakistan truyền dạy (phương pháp này đã được người Ai Cập cổ đại phổ biến trong các hình vẽ). Sau đó, với nhiều năm thực nghiệm đã giúp bà sáng tạo ra phương pháp bấm huyệt ngày càng độc đáo.

Ngay từ nhỏ, cô bé Thanh đã gặp cảnh éo le. Mẹ mất sớm, cha lấy vợ hai, người thân đói khát, bỏ làng bỏ xứ đi cả. Bé Thanh bơ vơ, không ai nuôi dưỡng. Chỉ nghe kể rằng, làm công nhân cao su sẽ có miếng ăn, cô bé Thanh 11 tuổi, đã tìm đường vào Nam. Tuy nhiên, đồn điền cao su chẳng nhận cô bé đen nhẻm, còi cọc, Thanh đành tìm về Sài Gòn xin ăn.

Trong một lần đi xin ăn, Thanh đã gặp một võ sư người Bình Định, lập nghiệp ở Bình Dương, với một lò dạy võ nổi tiếng. Võ sư họ Huỳnh gốc Bình Định đem Trần Thị Kim Thanh về nuôi dưỡng. Thấy cô bé giúp việc có vẻ mê võ thuật, võ sư họ Huỳnh đã cho Thanh học võ sau giờ làm. Vị võ sư này đã hết sức ngạc nhiên bởi sự tiếp thu võ thuật rất tốt của Thanh, ông dạy đến đâu, Thanh học được đến đó.

Võ sư họ Huỳnh rất quý Thanh, đã nhận làm học trò, sau đó nhận con nuôi. Ông đã đổi lại tên cho con nuôi. Từ đó, Trần Thị Kim Thanh có tên là Huỳnh Thị Lịch, tức mang họ của vị võ sư. Chính vì được học võ thuật kỹ lưỡng nên bà hiểu rất rõ kinh lạc trên cơ thể người.

Sau khi rời võ đường của võ sư họ Huỳnh ở Bình Dương, bà tham gia công tác từ thiện của một đoàn bác sĩ người Pháp ở Sài Gòn. Bà được một bác sĩ Pháp nhận vào làm tại Bệnh viện Hỏa Xa.Năm 18 tuổi, Lịch gặp anh thanh niên tên Trần Văn Hải, người Củ Chi. Hai người yêu nhau, muốn xây dựng gia đình. Không được gia đình chấp nhận, ông Hải đã bỏ nhà ở riêng với người yêu. Ông Hải xin làm công nhân trong nhà máy sản xuất đèn. Hai người được cách mạng cảm hóa, nên đã theo Việt Minh, hoạt động bí mật trong lòng địch.

Năm 1948, ông Hải đã hy sinh anh dũng khi làm chiến sĩ quân báo, để lại 3 đứa con cho bà Lịch nuôi dưỡng. Không may thay, bi kịch liên tiếp xảy đến với người đàn bà bất hạnh này. Trong quá trình tiếp tục hoạt động cách mạng, lần lượt cô con gái 13 tuổi và 2 đứa con trai còn nhỏ xíu đã lần lượt qua đời.
Thảm kịch kinh hoàng khiến bà Lịch tưởng như không gượng dậy được. Bà về Sài Gòn, lang thang các con phố như người mất trí, miệng gọi tên con. Trong lúc đi lang thang, bà gặp lại vị bác sĩ người Pháp. Ông bác sĩ tốt bụng này đã đưa bà về nhà chăm sóc, điều trị. Để bà quên đi nỗi đau quá lớn, bác sĩ này đã đưa bà sang Pháp, giúp việc cho gia đình này.

Ở nhà vị bác sĩ người Pháp này một thời gian, bà quyết tâm chu du thiên hạ. Biết tiếng Pháp, lại chăm chỉ, nên bà dễ dàng kiếm được việc làm. Cứ có tiền, bà lại lên đường tìm đến vùng đất mới. Sau mấy năm lưu lạc, thì bà dạt tới tận biên giới Ấn Độ, giáp Pakistan. Tại đây, bà gặp một đạo sĩ, sống trong một ngôi chùa trong núi. Vị đạo sĩ này có khả năng bấm huyệt kỳ tài.

Hàng ngày, đạo sĩ bấm huyệt cho rất nhiều người. Bà Lịch vừa phụ giúp ông, vừa học tập cách bấm huyệt. Môn bấm huyệt của ông có tên là Thập thủ đạo, tức là phương pháp bấm huyệt dựa vào kinh mạch trên 10 ngón tay, chân. Ông đã giúp hàng ngàn người đang câm tự dưng bật ra tiếng nói, đang điếc bỗng nghe được, thậm chí đang chống nạng thì bỏ nạng, ngồi xe lăn thì đứng lên đi… Thấy môn bấm huyệt này rất thần thông, bà Lịch chuyên tâm học hỏi. Vừa học vừa thực hành, nên bà Lịch nắm bắt rất nhanh, có khả năng bấm huyệt trị được nhiều thứ bệnh.

Năm thứ 12, biết mình không sống được nữa, vị đạo sĩ này gọi bà Lịch đến răn dạy và trao lại tập tài liệu cho học trò. Ngay đêm hôm đó, vị đạo sĩ người Pakistan trút hơi thở cuối cùng. Chỉ một năm sau, vừa tự học, vừa trị bệnh, bà đã cũng đã trở thành thần y bấm huyệt nổi danh khắp vùng, là truyền nhân duy nhất của vị đạo sĩ bí ẩn được tôn xưng như thánh ở biên giới Ấn Độ. Luyện được công năng đặc dị của môn bấm huyệt Thập thủ đạo của vị đạo sĩ người Pakistan ẩn tu ở Ấn Độ, bà Huỳnh Thị Lịch tìm đường về nước. Từ đó, dù trải qua nhiều khó khăn, bà vẫn tiếp tục tìm tòi, chữa trị miễn phí cho người bệnh và dạy lại cho các học trò của mình. Những căn bệnh tưởng như vô phương cứu chữa đã được bà Lịch chữa khỏi. Vượt lên trong những thăng trầm, mười ngón tay của người chủ trì phương pháp Thập thủ đạo vẫn luôn lan toả dịu dàng và mãnh liệt. Sự lan tỏa từ một tâm thế vị tha sâu sắc của một người đàn bà đã hành trình suốt gần một trăm năm của một đời người.

Có thể nói, bà Huỳnh Thị Lịch là “thần y” bấm huyệt bí ẩn nhất Việt Namdo không tiếp xúc với giới truyền thông. Bà để lại di sản kiến thức bấm huyệt đồ sộ, nhưng gần như chưa được nghiên cứu, áp dụng môn bấm huyệt này rộng rãi, trị bệnh, nâng cao sức khỏe cho người dân.

Thu Hằng
Theo thầy Nguyễn Tam Kha – Truyền nhân của lương y Huỳnh Thị Lịch

ĐỖ NGỌC QUANG : Lương y Huỳnh Thị Lịch – thập chỉ đạo, tảo tần, dâng hiến


Lương y Huỳnh Thị Lịch – thập chỉ đạo, tảo tần, dâng hiến

Lương y Huỳnh Thị Lịch.

Lương y Huỳnh Thị Lịch.

Suốt mấy chục năm làm nghề lương y, chuyên trị bấm huyệt theo phương pháp Thập chỉ đạo, bà đã điều trị cho hàng vạn bệnh nhân và đào tạo hàng nghìn học trò theo phương pháp này. Bà đã chữa dứt điểm hoặc tạo tiến triển tốt đối với nhiều loại bệnh, đặc biệt là 5 loại bệnh: câm, mù, bướu, liệt, suyễn…

Lời tri ân từ bao cảnh ngộ…

1. Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM.), ngày 2/5/2003

Thư cảm tạ
Kính gửi: Lương y Huỳnh Thị Lịch
Kính thưa Lương y
Tôi tên là Nguyễn Hữu Thành, địa chỉ: 216C/10 đường Huỳnh Văn Bánh, phường 11, quận Phú Nhuận, số điện thoại 8448129, có 2 đứa con trai tên là Nguyễn Hữu Khánh Trình, 9 tuổi, Nguyễn Hữu Nhật Nguyên, 7 tuổi. Hai con tôi bị bệnh chậm nói từ bé, 6 năm nay tôi đã chạy chữa khắp nơi, từ bệnh viện Chợ Quán đến Bệnh viện Y học dân tộc TP.HCM, châm cứu nhưng không có kết quả, cháu vẫn chưa nói được, 6 năm nay tôi chịu nhiều công sức tốn kém và đau buồn vô cùng.

May thay, nhờ ơn trời, cách đây 1 tháng, qua giới thiệu, tôi được Lương y Huỳnh Thị Lịch nhận lời chữa cho con tôi, thật là kỳ diệu, chỉ với đôi bàn tay vàng của Lương y, không cần thuốc men, dụng cụ… các con tôi đã chuyển biến rất tốt chỉ sau 1 tháng điều trị.

Cháu lớn tên Trình đã bớt nóng tính và biết nghe lời dạ thưa. Cháu nhỏ tên Nguyên đã biết dạ thưa và biết nói các từ như là: chùa, ba bà, cô, chờ…

Tôi vui mừng khôn xiết và xin chân thành tri ân Lương y Huỳnh Thị Lịch đã không quản tuổi già sức yếu đã bỏ công chữa chạy cho con tôi mà không đòi hỏi điều kiện gì. Bà chữa cho 2 cháu biết nói, biết đi học thì chẳng khác nào bà đã cứu sống cháu, sau này khi lớn lên, lấy vợ, đẻ con, gia đình cháu mai sau sẽ mãi mãi nhớ đến ơn bà.

Xin cầu chúc cho Lương y nhiều tuổi thọ để cứu nhân độ thế.

Xin các cấp chính quyền tạo điều kiện để Lương y Huỳnh Thị Lịch được giúp đời nhiều hơn nữa.

Một lần nữa, gia đình chúng tôi xin tri ân bà, kính chúc bà được Đại Thượng Thọ và nhiều sức khoẻ để giúp cho đồng bào…

Vào lúc 6h45 phút sáng ngày 25-6-2003, người viết bài này đã có cuộc trao đổi trên điện thoại với anh Nguyễn Hữu Thành, tác giả của lá thư trên, để biết thêm diễn biến mới nhất về bệnh tình của hai cháu Trình, Nguyên. Và được nghe anh thông báo: Thằng lớn con tôi, thằng Trình, giờ này thuần tính hơn một bước nữa và nói được 3 từ đầu tiên: ba, cơm, đi. Thằng nhỏ, thằng Nguyên, nói thêm được nhiều từ, lanh lợi hơn và nhớ dai hơn. Tôi vẫn đưa con đi chữa bệnh hàng ngày ở bà Lịch. Bà cũng yếu lắm rồi, bà mà mất đi thì nhà tôi khổ lắm, không biết trông cậy vào đâu. Tôi chạy khắp nơi bệnh viện và y học hiện đại rồi, cả cổ truyền nữa, không nơi nào trị được. Lúc mới đưa hai cháu vô, bà nói ngay nguyên nhân là trước đây uống nhầm thuốc. Khi đó, tôi không nhớ ra uống nhầm thuốc lúc nào. Sau đó, có một người bạn bác sĩ bên Mỹ về nước, đi cùng với một bác sĩ người Mỹ, tới thăm tôi và các cháu. Bác sĩ người Mỹ này nói rằng, ở Mỹ cũng đang xem xét lại việc chích ngừa cho trẻ em, vì đã có một số trẻ bị phản ứng thuốc. Có thể hai cháu cũng rơi vào trường hợp phản ứng này. Anh biết, từ hồi trước, thương và lo cho các cháu nhiều, nên cứ có loại chích ngừa nào mới xuất hiện là tôi cho các cháu đi chích ngay, có ai ngờ đâu… Lúc nhận bệnh, bà Lịch nói rằng bà phải xem kinh mạch cháu thế nào, xem nó lè được lưỡi ra thì mới chữa được. Lúc đầu, lưỡi cháu vẫn chưa lè ra. Đến lúc, bà bấm ở đầu gối, lưỡi cháu đột nhiên lè ra, bà mừng quá, chảy nước mắt… Con tôi, rồi tôi phải lạy bà thôi…

2. Đỗ Mạnh Hùng, sinh năm 1928, địa chỉ: số 14 Nguyễn Ngọc Phương, phường 19, quận Bình Thạnh, TP.HCM. Hay bị chuột rút. Qua điều trị, mảnh đạn trong 2 chân lòi ra 14 mảnh nhỏ.

3. Anh Minh, con tướng Chi, Hà Nội. Bệnh tê liệt, ngồi xe lăn. Điều trị hơn 1 năm, đi lại được.

4. Bà Trương Thị Đông, 74A Nguyễn Thông, quận 3, TP.HCM, u vú phải, sưng to. Điều trị 2 tháng, hết khối u, bệnh nhân trở lại bình thường.

5. Bà Bùi Thị Loan, sinh năm 1946, số nhà 21 đường Gò Công, phường 13, quận 5. TP.HCM, tự kể ngày 17/8/1995, viết trong hồ sơ lưu: Tôi nằm viện u bướu Nguyễn Văn Học (số hồ sơ 371). Tôi nằm gần 3 tháng, cũng nhờ tập thể y bác sĩ tận tình giúp đỡ nên sau khi điều trị để theo dõi thì bệnh ổn định, không bị mổ. Tôi mừng vô cùng. Ra viện được hơn 1 năm, tôi đau lại toàn thân, có lúc nửa thân bên phải và đầu đau không chịu được. Vào bệnh viện Nguyễn Trãi, bệnh viện u bướu, lại kêu là phải mổ mới có thể đỡ. Tôi sợ quá, ai chỉ đâu hay tôi cũng đến, nhưng không đỡ. Đến năm 1994, tôi kiệt sức và mất tinh thần, chán, không còn hướng để chữa, lúc này 1 tuần tôi đi cầu 1 lần mà phải dùng thuốc bơm vào hậu môn mới được, không muốn ăn uống gì, rất buồn. Đến tháng 4/1995, bệnh phát nặng (nửa đầu và thân bên phải tôi tê, cổ to dần và tiếng nói không ra, chỉ nói bằng hơi). Tôi đi châm cứu 2 tháng không đỡ. Tôi nghĩ cũng rất hên, gặp người biết bà thầy chữa bệnh tài giỏi, 6/7/1995, đưa tôi đến. Bà thầy coi bệnh nói tôi bị bệnh trên 10 năm (nói đúng như bệnh tôi nói trên), tôi quá nhiều bệnh trong mình và thầy nhận bệnh. Tôi mừng quá, sau hôm đó, tôi về nhà đi cầu được, và thoải mái mỗi ngày một lần. Cho tới nay, tôi không đau đầu như trước nữa, cổ tôi mềm và nhỏ dần, tay chân tôi cử động dễ hơn, nay tôi nói ra tiếng rõ bình thường rồi. Mới hơn 1 tháng mà bệnh đỡ nhiều. Tôi rất mừng và cám ơn bà thầy. Tôi đi chữa rất nhiều nơi, chưa có một người thầy nào thương bệnh nhân như vậy, mà lại chữa từ thiện, động viên bệnh nhân, không kể dơ bẩn, nhất là tuổi đã 80, mà bà thầy vẫn tỉnh táo, nâng niu tay chân…

Bí quyết Thập chỉ đạo

Lương y Huỳnh Thị Lịch tiếp chuyện tác giả bài viết.

Lương y Huỳnh Thị Lịch tiếp chuyện tác giả bài viết.

Sinh năm 1917, theo cách tính tuổi truyền thống, năm nay Lương y Huỳnh Thị Lịch đã 87 tuổi. Hành nghề từ thời chế độ Sài Gòn cũ đến nay, không ít lần vì sự đố kỵ của một số người theo tây y, sự áp đặt của cơ chế, sự cạnh tranh ác ý của một số cá nhân và cơ sở điều trị khác, bà đã không được yên ổn hành nghề, thậm chí đã phải phiêu bạt khắp nơi. Nhưng ý chí sống cống hiến của bà không tắt, dòng chảy Thập chỉ đạo không hề vơi cạn. Chỉ, theo một nghĩa của tiếng Hán, nghĩa là ngón tay, ngón chân. Mười đường kinh đi từ 10 đầu ngón tay, ngón chân là cơ sở cốt lõi của phương pháp Thập chỉ đạo. Để góp phần hoá giải những băn khoăn, vén bức màn tưởng chừng huyền bí quanh việc chữa bệnh từ xưa đến nay của bà, xin mời bạn đọc dõi theo phần nói về những bí quyết của phương pháp Thập chỉ đạo này.

Theo bác sĩ Hồ Kiên, cho tới nay, chưa tìm được tài liệu nào chính thức xác nhận cơ sở lý luận của nó. Khoảng năm 1973, một học trò của bà Lịch là tu sĩ Hoàng Tam khi đó còn sống đã cố gắng giúp bà Lịch đúc kết từng kinh nghiệm chữa bệnh của bà và phác họa ra mười đường kinh của phương pháp Thập chỉ đạo. Anh làm việc đó với sự trực tiếp tham gia ý kiến của bà và được ghi lại trong tài liệu chép tay. Ngay lúc đó, anh Tam cũng đã nghĩ rằng việc bấm huyệt nhẹ nhàng theo tần số nhất định, sẽ tạo ra những xung động hưng phấn đối với các dây thần kinh, các Synac thần kinh sẽ có thể hoạt hoá trở lại nhờ ở sự kích thích tiết ra các chất hoá học trung gian dẫn truyền xung động các Synac đó. Theo bà Lịch và anh Tam, 10 đường kinh đi từ đầu 10 ngón tay, ngón chân gọi là 10 đường kinh của Tam Tinh (mặt, bụng, ngón) và Ngũ Bội (mặt lưng, có móng của ngón tay, chân).

I. Ngũ bội, tam tinh tay:

Ngón 1 (cái): Từ đầu ngón theo động mạch quay lên khuỷu tay nách, từ nách chia làm hai nhánh: nhánh thanh quản, vùng mặt và nhánh xuống vùng ngực.

Ngón 2 (trỏ): Từ ngón trỏ lên cổ tay, ra mặt ngoài cánh tay, lên hố xương đòn và cổ.

Ngón 3 (giữa): Từ ngón giữa, mặt ngoài cánh tay, qua nách vào ngực, hướng vào tim.

Ngón 4 (nhẫn): Từ ngón áp út dọc giữa cẳng tay, qua khuỷu tay lên vai, cổ, mặt và não bộ.

Ngón 5 (út): Từ ngón út dọc cánh tay vòng qua sau vai, thẳng lên gáy, dọc qua tay lên đầu.

II. Ngũ bội, tam tinh chân:

Ngón 1 (cái): Từ ngón cái tới trước mắt cá trong, lên đùi, bộ phận sinh dục, lên vùng ngực, qua miệng, mũi, mắt.

Ngón 2 (trỏ): Từ ngón 2 đi dọc bàn chân, lên đầu gối cạnh sườn, cột sống lưng, chia làm hai nhánh: Một nhánh vào háng, bộ phận sinh dục, phân bố ở bụng, lên cổ, mép miệng, xương gò má, mũi và vùng ở trước tai. Một nhánh từ háng sang chân bên kia.

Ngón 3 (giữa): Từ ngón giữa tới mu bàn chân, đầu gối, đùi, bụng, lên ngực, qua hoành cách mô, hướng về tim.

Ngón 4 (áp út): Từ ngón áp út tới mắt cá ngoài, đầu gối, háng, qua mặt tiếp đùi, qua xương cùng, lên cạnh sườn, vùng vú nách, lên tai, trán, đỉnh đầu, xuống hàm lại lên má cạnh mũi, tới đây có một nhánh về đôi mắt.

Ngón 5 (út): Từ ngón út tới mắt cá ngoài lên đầu gối, qua phần ngoài cẳng chân, lên mông, dọc cột sống, chia thành 2 nhánh: nhánh vào lưỡi và nhánh lên đỉnh đầu, qua mặt, mũi, gò má mắt.

Căn cứ theo đường kinh này, có thể giúp chúng ta ghi nhớ được một số công năng của các huyệt tam tinh, ngũ bội, biết những vùng đường kinh đi qua và chữa được bệnh gì. Vạch ra các đường kinh này, các tác giả đã dựa vào hiện tượng giật cơ, thường được gọi là các ven lên hay hướng tê tức. Những đường kinh này chưa được hoàn chỉnh chặt chẽ, tương tự như một cung phản xạ của thần kinh, hoặc sự khép kín thành một vòng tuần hoàn trong 14 đường kinh châm cứu, nhưng không thể vội vàng bác bỏ mà phải bình tĩnh học hỏi và suy xét thêm. Thập chỉ đạo không sử dụng các huyệt châm cứu thông thường. Dùng kiến thức tây y thuần tuý cũng khó giải thích nhiều trường hợp điều trị của Thập chỉ đạo, như điều trị chứng suyễn, cao huyết áp, mất ngủ… Nhưng thực tế điều trị nhiều năm, nhiều bệnh nhân và hiệu quả cao cộng với đặc điểm truyền nghề của y học truyền thống khiến chúng ta phải thừa kế trân trọng đối với những thói quen, nguyên tắc và quy trình của Lương y Huỳnh Thị Lịch.

Về mặt chẩn đoán, khi tiếp xúc và khám bệnh cho bệnh nhân, bà quan tâm trước tiên tới chứng bệnh mà bệnh nhân cảm thấy như động kinh, nhức đầu, câm, điếc, suyễn, bại liệt… Bà không chẩn đoán các hội chứng thần kinh kiểu y học hiện đại, như Tabét, Páckinsơn, liệt rung… Tiếp theo, bà bắt mạch và nhiều khi sau bắt mạch, bà ngẫm nghĩ và nói về bệnh của bệnh nhân nhưng không theo quy tắc của chẩn mạch đông y (phù, trầm, trì, sát ở vị trí Xích, Quan, Thốn…). Bà bắt mạch với hai tác dụng: Một là, căn cứ vào trạng thái của mạch như nhanh chậm, trương lực của mạch, dáng đi của sóng mạch… kết hợp với nhận xét trạng thái bên ngoài của sức khoẻ bệnh nhân như niêm mạc mắt, rêu lưỡi, màu da, vết quầng mắt… Nghĩa là cùng thực hiện vọng, văn, vấn, thiết của đông y ở mức độ nào đó để đánh giá thể trạng bệnh nhân, từ đó quyết định: nếu yếu hoặc bệnh không quen chữa thì không nhận trị, nếu mạch khoẻ, bấm không sợ ngất xỉu, bà sẽ nhận chữa. Hai là, khi bấm huyệt, vừa bấm vừa theo dõi mạch xem tác dụng của bấm có chuyển biến sắc mặt không, từ đó điều chỉnh cường độ và trường độ bấm huyệt.

Sự độc đáo trong cách chẩn đoán của bà là nhận xét rất tinh vi tỉ mỉ, có khi đến bất ngờ, về những dị dạng thay đổi vị trí của hệ tĩnh mạch đến độ căng chùng của các gân cơ mà bà gọi chung là ven. Tây y thường chỉ để ý đếm tần số mạch nhanh chậm hoặc sắc mạch, có đôi khi để ý đến tình trạng của hệ tĩnh mạch. Đông y có dựa vào tĩnh mạch ở ngón tay để chẩn đoán bệnh trẻ con (chỉ văn), nhưng cũng không sử dụng rộng rãi như bà Lịch.

Dựa vào vị trí di lệch của ven (so sánh hai bên và so sánh với người lành, nhất là những tĩnh mạch lớn), các hình dạng của tĩnh mạch nhỏ (như hình móc câu, hình giun, hình sóng), tình trạng dẫn tĩnh mạch do ứ đọng máu… để suy ra vùng tổn thương ở chỗ bà không nhìn thấy. Bệnh nhân không cởi quần áo, nhưng nhiều khi bà gọi đúng vị trí nơi tổn thương, tình trạng không cân đối của các nhóm cơ. Tình trạng căng cứng của các gân cơ là những căn cứ để chẩn đoán và theo dõi kết quả của bà ngay sau lúc bấm huyệt hay sau một liệu trình điều trị có kết hợp với tình trạng phát triển của các cơ liệt bị teo, cũng như mức độ phục hồi của chức năng vận động để đánh giá. Khi khám bệnh, bà thường chỉ cho học viên và reo lên: Đấy, đấy, ven nó lên rồi đấy. Hoặc: Hai ven này đè lên nhau, bao giờ nó tách ra thì bệnh khỏi. Tình trạng máu bị ứ lại làm tĩnh mạch phồng lên, co bóp và giật được bà gọi là ven lên và xẹp đi sau khi bấm huyệt làm chuyển động các cơ teo liệt, do đó máu bị dồn đi là dấu hiệu quan trọng để đánh giá kết quả và tiên lượng khả năng chữa khỏi bệnh.

Về phương pháp chữa bệnh, bà Lịch có nhiều nét độc đáo.

Sau khi chẩn đoán bệnh, bà thường có 2 thái độ xử lý: Nếu đó là chứng bệnh đã quen thuộc (cao huyết áp, suyễn, bướu cổ…), bà bấm huyệt ngay theo phác đồ đã thành quy trình nhất định. Nếu là bệnh ít gặp, hơi khó, bà suy nghĩ rồi đi đến kế hoạch phối huyệt để chữa bệnh. Bà chủ yếu dựa vào lý luận dẫn máu, dồn máu xuống, đưa máu lên. Rồi dùng thủ thuật bấm huyệt day, xoa, nắn cho khối cơ di chuyển để dẫn máu xuống chỗ trũng, làm giảm máu chỗ lồi, chỗ sưng cứng. Nét độc đáo ở chỗ bà bấm từ đầu ngón chân, ngón tay cho các cơ di chuyển, co giật nhằm mục đích đẩy máu, không đơn thuần dựa vào day bấm xoa bóp tại chỗ đau. Đây là một điều khó, nhưng có hiệu quả tốt. Đôi khi, bà dùng thước dây đo lại vùng cương tụ máu ở chi khi bấm huyệt dẫn máu thoát đi để xác định lại kích thước.

Trước khi bấm huyệt chính thức, nguyên tắc bắt buộc đối với y sinh Thập chỉ đạo là phải khai thông huyệt đạo cho bệnh nhân. Khai thông huyệt đạo nhiều hay ít là do sức khoẻ bệnh nhân. Về thực chất, đó là sự khởi động cho các cơ tê liệt ở mức độ nặng nhẹ khác nhau, được chuẩn bị để đi vào chịu sự bấm huyệt mạnh hơn, tránh bấm mạnh đột ngột gây nên phản xạ đột biến co cứng cơ, đau đớn bệnh nhân, làm tổn thương thêm các cơ bị liệt. Khai thông huyệt đạo vừa mức và được điều chỉnh bằng bắt mạch để dò biết tình trạng cơ thể có sẵn sàng đáp ứng phản xạ hay không. Bà thường dặn dò: Nếu tăng xông thấp phải đưa lên, nếu tăng xông cao phải đưa xuống cho vừa mới bấm huyệt chính, không thế là bệnh nhân xỉu liền.

Khi bấm huyệt, tay y sinh bao giờ cũng ở tư thế khoá huyệt đối với bệnh nhân. Đây là một nét rất độc đáo của môn này. Có 4 loại khoá chính: khoá hổ khẩu ở cổ tay, khoá khô khốc ở cổ chân, khoá cơ bản ở ngón tay, khoá bí huyền ở đầu gối. Khoá có tác dụng thứ nhất là hãm phanh, chỉ cho các cơ co giật vừa phải với thể lực bệnh nhân, tác dụng thứ hai là giúp kích thích phản xạ như thể những ngón tay bấm nốt đàn, còn tay bấm huyệt như tay gẩy dây đàn.

Nét độc đáo của Thập chỉ đạo còn ở tính nguyên tắc về việc sử dụng các huyệt hồi sinh. Có rất nhiều huyệt được gọi là huyệt hồi sinh, chính là những huyệt trợ sức, tăng cường sức chịu đựng và có tác dụng cấp cứu tốt khi có rối loạn huyết động học. Những huyệt hồi sinh bắt nguồn từ những huyệt dưỡng sinh của người thầy Ấn Độ đã dạy bà trước đây. Đôi khi, người bệnh yếu quá, bấm huyệt hồi sinh không đủ, chuyển sang bấm huyệt chính, bà thường sử dụng một thủ pháp độc đáo khác mà gọi là biến điện. Biến điện là một thủ pháp dùng ngón cái bấm hoặc day đi trên một số huyệt vị nhất định trong một thời gian nhất định, với tâm niệm hết sức tập trung – Hãy truyền cho người bệnh sinh lực của mình, hãy cứu họ! Bà gọi là vận nội công. Sau khi làm thế, quả thật mạch đập của bệnh nhân có khá hơn. Y sinh chỉ được phép sử dụng thủ pháp biến điện khi thấy mình thực sự khoẻ mạnh. Chỉ với những động tác bấm rất nhẹ nhàng, như múa, các cơ tê liệt giật rất nhẹ, nhưng bệnh nhân đã ra mồ hôi hoặc nóng bừng, mặt đỏ như vừa qua một vận động quá tải. Sự nhẹ nhàng ấy đòi hỏi y sinh phải điêu luyện về thủ pháp day bấm. Bà kể: Tôi phải học 12 năm cách bấm đó. Cốt bấm trúng huyệt, không dùng sức mạnh làm đau bệnh nhân. Phải bấm đúng như bấm nốt đàn, bấm mạnh mà sai thì vô ích.

Không hề giấu nghề, Lương y Huỳnh Thị Lịch luôn mong có những học trò tâm huyết để học hỏi, thừa kế phương pháp Thập chỉ đạo này để trị bệnh cứu người. Bà có 4 yêu cầu chủ yếu đối với các y sinh:

1. Thương yêu vô hạn đối với bệnh nhân, đặc biệt là đối với trẻ em và những người tật nguyền, khốn khổ.

2. Say sưa tìm tòi trong nghề nghiệp.

3. Giữ cho mình một tâm hồn, đạo đức trong sạch, một sức khoẻ tốt, không làm tiền bệnh nhân.

4. Chú ý rèn luyện những ngón tay bấm huyệt, không phải bằng sức mạnh ngón tay mà với tất cả nội khí của toàn thân mình…

Một đời gian truân, mồ hôi và nước mắt…

Sinh ra ở vùng Ý Yên, Hà Nam Ninh, cha mẹ chết sớm, năm 12 tuổi, cô bé Trần Thị Kim Thanh đã theo người làng vào làm ở đồn điền cao su Nam Bộ, trong âm hưởng của câu ca buồn thương… Chạy vào đất đỏ làm phu – Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng… Nhưng từ 18 tuổi trở lên mới làm công nhân được. Cô bé bơ vơ không có việc làm, đứng ôm gốc cây cao su mà khóc. Một bà chủ người Tây thấy vậy, đem Thanh về giúp việc nhà, hàng ngày đưa con cái bà chủ đi học. Cô bé đã trải qua tất cả những gì cực nhọc và tủi nhục nhất của một người làm thuê thuở ấy. Đến thì, cô Thanh tóc dài ngày một xinh ra trong sự lóng lánh âm thầm. Cô đi ở với một gia đình ở Củ Chi, có chàng trai Trần Văn Hải, làm ở nhà đèn. Cô em gái của Hải, quý chị Thanh quá, nói với anh trai rằng: Chị hai hiền lành, tử tế, suốt bao nhiêu năm trời không gian dối với ai một lần. Lại đẹp vậy. Anh chịu không để em nói với chị Hai. Chịu chớ sao không? Thế là nên vợ nên chồng. Khi đó cô mới 18 tuổi. Cô Thanh tóc dài còn phải chịu đựng những lời cay nghiệt đầy định kiến thô lậu của đôi người bà con kiểu giặc bên Ngô của nhà chồng, đại loại như: thiếu gì người Nam không lấy mà đi lấy con Bắc Kỳ cọc cạch, Bắc Kỳ ăn cá rô cây. Nhưng rồi chính cô Thanh Bắc Kỳ ấy lại chính là người con dâu hiếu thảo nhất trong gia đình. Phần mộ của ba má chồng giờ này vẫn được cô Thanh tảo tần chăm sóc. Ông Hải trở thành người chiến sĩ quân báo cách mạng, rồi ông hy sinh năm 1948. Lấy chồng thời chiến chinh – Mấy người đi trở lại – Lỡ khi mình không về – Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê… Khác với bài thơ Màu tím hoa sim của nhà thơ Hữu Loan, người vợ bé bỏng chiều quê ấy không chết mà gánh chịu thêm biết bao tang tóc. Con gái 13 tuổi bị Tây hãm hiếp chết, khi đang theo bà con đi cắt lúa ma ở Đồng Tháp Mười. Hai đứa con trai nhỏ cùng chết thương tâm trong một dòng kênh, vì phải gục mặt xuống nước, tuyệt đối im lặng khi bọn địch hành quân đến kề bên. Bọn lính khố xanh ập đến, cô chỉ tay đánh lạc hướng. Lần đó, một đoàn quân cách mạng tránh được một cuộc vây ráp hiểm nghèo nhờ sự bình tĩnh, mưu trí của cô Thanh tóc dài. Còn lại một mình với họa vô đơn chí, tưởng chừng người đàn bà bé nhỏ ấy phải gục ngã trước những ngọn roi oan nghiệt của số phận. Nhưng cô đã lại đứng dậy…

Lương y Huỳnh Thị Lịch chữa cho bệnh nhân.

Lương y Huỳnh Thị Lịch chữa cho bệnh nhân.

Đôi mắt sáng, thông minh đã giúp bà tìm cách học lỏm những khi có thể, kể cả với những ông bà chủ hay bạn bè lương y, bác sĩ của họ. Kể cả việc học các huyệt và thế võ Bình Định của một người cha nuôi, hay học nghề y khi làm nữ cứu thương trong chiến khu Đ và khi làm y tá của một bệnh viện Công giáo. 12 năm lưu lạc ở nước ngoài như Pháp, Pakistan, Nhật, Ấn Độ… bà cũng đã học hỏi được biết bao điều. Lớn lên trong một gia đình có 7 đời làm nghề y, cộng với một tấm lòng, năng khiếu trời cho, cha mẹ sinh, bà vẫn không nguôi ý định học hỏi, trưởng thành trong cái nghiệp trị bệnh cứu người. Khó ai có thể nghĩ cô bé Thanh làm con ở ngày ấy lại trở thành bà Sáu Lịch, bà Thầy bấm, bà Lang Hàng Xanh nổi tiếng trong dân gian sau này. Bà đã học hỏi tất cả những gì có thể, thậm chí pha trộn kiến thức, rồi bằng thực tế cứu người, đúc rút dần dần. Bà tâm sự chân thành và khiêm nhường: Tôi đâu có được học. Tôi chỉ là một người giúp việc, hoàn toàn học lỏm. Tôi cũng không ngờ tôi chữa được thành công. Nhiều khi trăn trở suốt đêm không ngủ được vì chữa mãi mà bệnh nhân ấy vẫn không khỏi…

Hết lòng dâng hiến…

Suốt mấy mươi năm, hầu như không ngày nào bà được nghỉ. Sau những thời gian phiêu bạt từ Sài Gòn xuống Bệnh viện Y học dân tộc tỉnh Tiền Giang, rồi trở về Tổng cục Cao su, và bây giờ là căn nhà số 4, Lô B1, Cư xá 30-4, đường Đ1, sát chợ Văn Thánh, quận Bình Thạnh, TP.HCM, vòng tay bà vẫn luôn rộng mở đối với các bệnh nhân từ muôn phương. Hàng trăm chiếc nạng, xe lăn để lại nơi điều trị của bà từ xưa đến nay quả là những kỷ vật hùng hồn về cuộc giải thoát tật nguyền từ mười ngón tay dâng hiến của bà. Quan Âm Bồ Tát tảo tần – Nghiêng bàn tay xuống cõi trần thương đau…Nguyên tắc không đòi tiền, đặt giá đối với bệnh nhân, bà vẫn luôn giữ từ trước tới nay. Bệnh nhân khỏi bệnh, cảm kích, tặng tiền hay vật chất thì bà lại tích góp, dành cho hoạt động từ thiện. Bà không có ham muốn vật chất gì cho riêng bà. Khi bà chữa khỏi bệnh cho con của nghệ sĩ cải lương Phùng Há thì nghệ sĩ này lạy bà, rồi trở thành thân thiết. Cách đây chưa lâu, Lương y Huỳnh Thị Lịch cùng Nghệ sĩ Phùng Há đã đi làm công tác từ thiện cho 17 tỉnh, thành phố. Mới đây, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM đã tuyên dương bà như một tấm gương người tốt việc tốt để mọi người học tập. Cuộc tổ chức mừng thọ 87 tuổi của bà ngày 1/6/2003 tại TP.HCM đã quy tụ biết bao bệnh nhân, các chuyên gia đông, tây y, các quan chức… đến chúc mừng bà với lòng tri ân và cảm thông.

Hồi còn sống, cựu Bộ trưởng Bộ Y tế, Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, đã viết thư gửi Lương y Huỳnh Thị Lịch với những lời cảm kích:

TP.HCM 29/2/1992

Cô Sáu Lịch,

Đọc bài thơ của Cô rồi, tôi rất phục Cô và thương Cô vì trong lòng Cô còn vương vấn chút khổ đau trần tục, chưa được thanh thoát như Phật Thích Ca trên toà sen.

Phục Cô ở chỗ: Có lòng tự hào dân tộc, nhân từ, đạo đức, lo cho nhân dân, lấy chân lý làm vinh, làm lương y với đôi tay thần luyện, với lòng thương bao la không biên giới, cao như Hy mã lạp sơn, như biển đông xanh mát, có đạo Phật từ bi bác ái. Bao nhiêu đức tính ấy đã đủ cho một người tự an ủi mình trong cuộc đời gian khổ để sống hạnh phúc!

Thương Cô ở chỗ: Chưa thoát hết trần tục, còn vấn vương chưa được tuyên dương công nhận, chưa thấy rằng nhân dân công nhận là tối cao, tột đỉnh. Nhà nước làm sao thấy hết được sự việc của nhân dân đã làm. Địa vị của nhà nước ban chẳng qua là phù vân của xã hội. Ban hay không ban, mình cứ việc làm tròn nhiệm vụ đối với nhân dân.

Tôi vui với bản tình ca
Cứu người khỏi bệnh mới là đẹp cao

Nhưng tại sao có người kỳ thị thua hờn, lại có người muốn hỏi về đời sống của người lương y thần hiệu? Vì một lẽ rất đơn giản! Vì Cô đã nổi danh chữa bệnh mà quần chúng muốn hiểu rõ đời cô như của đức Phật. Đó là cái khổ của những người đã nổi tiếng! Quần chúng muốn đọc một cuốn sách về đời Cô như một tiểu thuyết dài thật dài mới thoả mãn được nhu cầu tình cảm của quần chúng. Đi Pháp, Nhật Bản, Ấn Độ, Pakistan… ở mỗi nơi có gì lạ, trong óc suy nghĩ ra sao, học lỏm cách nào? Sự kết tinh trong óc để tạo ra cách bấm huyệt… Làm sao trình bày cho rõ như trong một khối thuỷ tinh trong suốt.

Tôi hết lòng thương Cô, phân tích rõ ngọn ngành để cô bước lên đài vinh quang mà quần chúng mong đợi.

Rồi phải tập hợp học trò cũ lại, viết lại kỹ thuật khám bệnh tài tình, học trò chưa hiểu rõ, lựa chọn người tiến bộ để đào tạo huấn luyện viên đặc biệt sẽ nối nghiệp Cô…

Vượt lên trong những thăng trầm, mười ngón tay của người chủ trì phương pháp Thập chỉ đạo vẫn luôn lan toả dịu dàng và mãnh liệt. Sự lan tỏa từ một tâm thế vị tha sâu sắc của một người đàn bà đã hành trình suốt gần một trăm năm của một đời người. Chính Lương y Huỳnh Thị Lịch đã có một bài thơ với tựa đề Mục đích đời tôi: Phụng sự.

Thiếu thời gian nan ẩn ức
Giữa lớp người khổ cực lầm than
Thiếu ăn thiếu mặc cơ hàn
Lại thêm bệnh tật đa mang thảm sầu
Mong gánh vác cơ cầu thiên hạ
Mến thương đời hết dạ ưu tư
Vì chưa sánh được mẫu từ
Lo toan chăm sóc cũng như chị hiền
May học được bí truyền thập chỉ
Biết mạng trời kế chí tổ tiên
Quyết làm cho dữ hoá hiền
Cậy nhờ mười ngón tay tiên cứu người
Chớ coi nhẹ, nụ cười nửa miệng
Không thuốc thang, xem chuyện hoang đường
Mà quên căn bản âm dương
Hoà kinh thuận khí, làm phương quân bình
Tuy không thuốc vẫn tinh y dược
Không nhâm thần, biết được bệnh đau
Biết căn do tự thuở nào
Biết những biến chuyển, khởi đầu, tiếp theo
Mạch chằng chịt đường cheo lối hố
Huyệt nhiều trăm phân bố châu thân
Nắm vững huyệt mạch, ân cần
Coi như xong, một nửa phần trị an
Người trong nước, nước ngoài khắp chỗ
Hiếm chi người, thuốc bổ, thầy chê
Nhất sinh, thập tử, ê chề
Một phen trị liệu đến về tại đây
Có những bệnh tuổi chày hãm lụn
Cuối đường đời xương sụn rã rời
Có người còn trẻ đời tươi
Mang chút bệnh ngặt, kêu trời thấu chăng?
Có đông đủ giai tầng xã hội
Bệnh nghiệp nghề vô khối dị hình
Cũng như có tật bẩm sinh.
Câm, què, bại liệt, thần kinh… thiếu gì
Kể từ thuở xuân thì thiện nguyện
Nguyện giúp đời khang thiện thân tâm
Mãi lo phục vụ âm thầm
Quên mình tuổi tác bao năm qua rồi
Ấy, mục đích đời tôi phụng sự
Làm con người, danh dự thế gian
Đồng sanh trong cõi tuần hoàn
Người tôi đứng giữa muôn ngàn người ta
Còn một khắc, lìa xa cuộc thế
Vẫn quyết tâm tìm kế cứu đời
Quyết tâm nhiệm vụ một người
Vì lợi ích vạn vạn người chung quanh…

Những câu thơ như những lời kinh kệ, giản dị thốt lên tự đáy lòng, trong sự lặng im của mười ngón tay tảo tần, dâng hiến. Nghe như có tiếng chuông, vừa ấm nồng vừa mơ hồ của một cõi người…

Đỗ Ngọc Quang
Việt Báo (Theo_VietNamNet)

http://dienchan.vn/khong-dung-thuoc/thap-thu-dao/luong-y-huynh-thi-lich-thap-chi-dao-tao-tan-dang-hien.html

Học trò cụ bà Huỳnh Thị Lịch giới thiệu về Thập Chỉ Đạo


Published on Jul 25, 2014

“Các đường kinh trong Thập Chỉ Đạo không hề có trong các sách trong Đông Y từ trước đến giờ.
Hầu hết các huyệt trong Thập Chỉ Đạo của Lương y Huỳnh Thị Lịch khác hẳn các huyệt châm cứu, không giống bất cứ các hệ thống huyệt nào có sẵn trong các phương pháp bấm huyệt khác. Vị trí huyệt cũng khác và cách sử dụng, công năng của huyệt cũng khác.
Điểm đặc biệt nữa của Thập Chỉ Đạo là hiệu quả rõ rệt thần kỳ ngay tức khắc chính là nhờ việc sử dụng các bộ khóa nhuần nhuyễn.
Thập Chỉ Đạo là do chính bà Huỳnh Thị Lịch sáng tạo ra. Nó đặc sắc và hiệu quả kỳ diệu, xứng đáng là niềm tự hào là của dân tộc Việt Nam.
Mặc dù có mấy chục năm nghiên cứu và thực hành chữa bệnh nhưng Thập Chỉ Đạo chưa có hệ thống lý luận và chưa đưa ra được một lý thuyết khoa học dựa trên một cơ sở nào hoàn chỉnh.
Do đó, những chia sẻ vẫn chỉ là những điều còn hạn hẹp, mong muốn nhận được sự hợp tác để nghiên cứu và phát triển môn bấm huyệt Thập Chỉ Đạo…” – là phát biểu của thầy Nguyễn Văn Hóa, một học trò của cụ bà Huỳnh Thị Lịch.
Trong phim, thầy Nguyễn Văn Hóa, học trò của bà Huỳnh Thị Lịch hiện đang sống tại Hoa Kỳ chia sẻ đôi lời giới thiệu về phương pháp bấm huyệt Thập Chỉ Đạo độc đáo do thầy mình sáng tạo ra.

LỢI ÍCH CỦA THẬP CHỈ LIÊN TÂM PHÁP
Trong thời đại môi trường ô nhiễm và biến đổi khí hậu toàn cầu, dịch bệnh tràn lan, nhiều căn bệnh lạ quái ác xuất hiện thành đại dịch lớn đe dọa cộng đồng người do virus gây ra mà con người chưa tìm hiểu được hết và sự khống chế còn yếu ớt, hoặc còn chưa thể khống chế được như AIDS, đại dịch SARS, H5N1, H7N7, H7N9, cúm gia cầm, Ebola… thì việc bảo vệ bản thân tốt nhất là tìm mọi cách để tự nâng cao sức đề kháng cho chính mình.
Thập Chỉ Liên Tâm Pháp với kỹ thuật khai thông kinh khí, khai thông huyết mạch, bơm máu dẫn huyết toàn thân là một phương pháp hữu hiệu và nhanh chóng lưu thông máu huyết, cung cấp ô xi, thay máu mới cho tế bào, giúp nâng cao sức miễn dịch, tăng khả năng phòng tránh bệnh tật.

Đường huyết hạ tức thì sau 1 giờ chườm đá Thập Chỉ Liên Tâm với Giáo sư Trần Quang Hải


Ajoutée le 27 janv. 2015

Phong trào chườm gan Thập Chỉ Liên Tâm lan đến châu Âu và đã nhanh chóng thu được những phản hồi tốt
Tại Paris, ngày Chủ nhật 25 tháng 1 năm 2015, trong buổi sinh hoạt thường kỳ của nhóm Thập Chỉ Liên Tâm do ông Maurice Thái Trường Quới chủ trì, các thành viên sôi nổi chia sẻ về kết quả rất tích cực của việc chườm gan.
Bác Nguyễn Nhân Đức 82 tuổi sau chuyến về Việt Nam được tham gia lớp Thập Chỉ Liên Tâm của thầy Dư Quang Châu đã thực hiện chườm gan. Trở lại Paris bác vẫn duy trì chườm gan đều đặn. Chỉ sau hai tháng thực hiện ứng dụng của liệu pháp Y mao mạch Thập Chỉ Liên Tâm, nhìn bác thấy trẻ và khỏe hơn lúc trước nhiều. Chúng ta sẽ nghe chia sẻ của bác về kết quả chườm đá.
Cũng trong buổi sinh hoạt của nhóm Thập Chỉ Liên Tâm tại Paris lần này có mặt giáo sư Trần Quang Hải là con trai GS Trần Văn Khê và là chồng của ca sĩ Bạch Yến. Giáo sư Trần Quang Hải bị chứng cao huyết áp và tiểu đường. Thật kỳ diệu, ngay tại buổi họp mặt, ông Maurice Thái Trường Quới đã thực hiện chườm đá cho giáo sư Trần Quang Hải. Kết quả: kiểm tra chỉ số đường máu là 141 trước khi chườm đá và 109 sau khi chườm đá liền 1 giờ đồng hồ.

Đây là email mà giáo sư Trần Quang Hải đã gửi để cảm ơn ông Maurice Thái Trường Quới: “Anh rất vui được em chữa bịnh máu chạy không đều và tiểu đường với viên đá. Kết quả trông thấy rõ rệt và hiệu quả”.
LỢI ÍCH CỦA THẬP CHỈ LIÊN TÂM – Liệu pháp Y mao mạch
Trong thời đại môi trường ô nhiễm và biến đổi khí hậu toàn cầu, dịch bệnh tràn lan, nhiều căn bệnh lạ quái ác xuất hiện thành đại dịch lớn đe dọa cộng đồng người do virus gây ra mà con người chưa tìm hiểu được hết và sự khống chế còn yếu ớt, hoặc còn chưa thể khống chế được như AIDS, đại dịch SARS, H5N1, H7N7, H7N9, cúm gia cầm, Ebola… thì việc bảo vệ bản thân tốt nhất là tìm mọi cách để tự nâng cao sức đề kháng cho chính mình.
Thập Chỉ Liên Tâm với kỹ thuật khai thông kinh khí, khai thông huyết mạch, bơm máu dẫn huyết toàn thân là một phương pháp hữu hiệu và nhanh chóng lưu thông máu huyết, cung cấp ô xi, thay máu mới cho tế bào, giúp nâng cao sức miễn dịch, tăng khả năng phòng tránh bệnh tật.

CHƯỜM ĐÁ MATXA SẼ CÓ TÁC DỤNG VỚI CÁC CHỨNG SAU:
• Làm tan chất vữa chống xơ vữa động mạch
• Loại bỏ mỡ trong máu, làm tiêu cholesterol , • Điều chỉnh huyết áp
• Khắc phục chứng mệt mỏi, yếu sức, suy nhược
• Giải tỏa stress, lo lắng, trầm cảm, • Giúp ngủ ngon
• Cải thiện bệnh trĩ
• Phòng chống đột quỵ, thiếu máu cơ tim, tai biến mạch máu não
• Thoái hóa cột sống , • Giúp tăng sự linh hoạt trong vận động
• Giảm quá trình lão hóa, trẻ hóa tế bào
• Phù nề tuyến tiền liệt – tiểu đêm , • Nhuận trường, • Giải độc cơ thể
• Tăng cường sức đề kháng – hệ thống miễn dịch
• Dị ứng phấn hoa, • Nổi mề đay, ngứa toàn thân
• …

LM Giuse Hoàng Minh Thắng Roma : cạo gió : triệu chứng, cách chữa, cách cạo gió


Cạo gió

CẢM LẠNH VÀ CÁC HẬU QỦA BIẾN CHỨNG.

1240312020-caogiotricam1146128610

Cảm lạnh là một một bệnh rất thông thường. Nhưng ngoại trừ một số dấu chỉ quen thuộc như sổ mùi, tịt mũi, nhức đầu, người gai gai sốt, khó chịu ai cũng biết, cảm lạnh thường khiến cho nhiều cơ phận khác bị suy yếu và gây ra một số bệnh, mà các bác sĩ tây y và cả đông y cũng không khám ra, không biết lý do tại sao, vì không có các vết nội thương ngoại thương, cũng không có vi khuẩn và không có cơ phận nào bị hư hỏng. Tuy không biết là bệnh gì nhưng các bác sĩ vẫn cho thuốc, thường là thuốc giảm đau, càng uống càng không khỏi, lâu ngày bị mất trí nhớ, loét bao tử, hư thận và khiến cho hệ thống thần kinh bị tê liệt. Cảm lạnh thường gây đau nhức tứ chi mình mẩy đến tê bại không cử động được, nên có bác sĩ cho là hệ thần kinh bị hư và để nghị giải phẫu…

I. Lý do:

1. Trời mưa, trời gió hay trời lạnh mà mặc không đủ ấm, đầu không đội mũ, chân không đi      giầy, không mang tất ấm, cổ không quấn khăn vv… vì thế các cơ phận thuộc bộ máy hô     hấp (mũi, miệng, cổ họng, phổi… ) và tuần hoàn (tim, dạ dày, ruột, gan, thận, lá lách…) bị     lạnh. Khí âm xâm nhập nhiều qúa làm mất thế quân bình trong cơ thể, gây bế tắc kinh     mạch, và suy yếu các cơ phận.

2. Ngồi trúng chỗ có luồng gió (ở tư gia, trong nhà thờ, nhà hội có mở cửa trước cửa sau, hay     cửa ngang hông, trong xe mở cửa kính hay máy lạnh qúa vv… ) có thể đưa đến chỗ bị     cảm.

3. Đặc biệt tại những vùng sáng sớm và ban chiều trời lạnh, nhưng ban trưa trời nóng (điển     hình như California, Texas… ), có rất nhiều người bị cảm lạnh, vì không để ý, mặc không     đủ ấm khi đi làm ban sáng và về nhà lúc chiều tối. Cứ thế, khí âm nhập vào người mỗi     ngày một chút, và từ từ khiến cho cơ thể bị suy nhược và sinh ra nhiều triệu chứng mà     không biết là bệnh gì.

II. Một số triệu chứng thông thường dễ nhận ra

1. Các triệu chứng bình thường dễ nhận ra:

– Sổ mũi, tịt mũi
– Nhức đầu, nặng đầu
– Ho
– Cảm thấy người vừa nóng vừa lạnh: hơi sốt hay sốt nặng (khi có vi khuẩn gọi là bệnh    cúm)
– Bần thần, mỏi mệt trong người

2. Nhưng chính vì khí âm xâm nhập thân thể, khiến bế tắc kinh mạch, máu huyết và làm suy     yếu các cơ phận hô hấp và tuần hoàn, nên cảm lạnh làm nảy sinh ra nhiều triệu chứng, mà     cả các bác sĩ cũng không biết và không ngờ tới.

– Trằn trọc, khó ngủ ban đêm
– Ngủ không thẳng giấc, đi tiểu lắp nhắp ban đêm, hay bị chuột rút
– Đổ mồ hôi ban đêm
– Đầy bụng, khó tiêu
– Nhất là đau và nhức mỏi trong người: đặc biệt là hai cánh tay, cổ, bả vai, sống lưng, đầu    gối, hai chân và hai bắp chân.
– Nhiều khi có cảm tưởng như bị đau nhức thần kinh hay từ trong xương, đến độ bị bại xuội,    cổ không quay được, không giơ hay co tay chân lên được, không cúi xuống được hay    không thể mặc và cài cúc áo quần vv….
– Đi khám bác sĩ, chụp phim thì không có cơ phận nào bị hư hại hay tật bệnh gì.
Các bác sĩ chỉ biết cho thuốc giảm đau, bệnh nhân có cảm tưởng giảm đau nhức, nhưng    càng uống càng tệ hại thêm, vì người ngày càng bần thần, mỏi mệt và đau nhức hơn.    Thuốc giảm đau, thuốc ngủ sinh ra bệnh mất trí nhớ, đau bao tử và đau thận…
– Tức ngực, nhói ngực, khó thở, hụt hơi
– Nghẹt tim, tim hồi hộp, ngộp thở, hay có cảm tưởng bị bệnh tim
– Khó tiêu, táo bón, nặng bụng, ở chua
– Đau bụng lâm râm
– Tiêu chảy
– Đau tức bên hông phải trên vùng gan,
– Đau tức bên hông trái trên vùng lá lách
– Teo tĩnh động mạch trên đầu (dẫn tới chỗ đau đầu và bị tai biến mạch máu não vì lượng    hồng huyết cầu và dưỡng khí không lưu thông đủ để nuôi óc)
– Da mặt xanh xao, tái mét hay thâm, và người lúc nào cũng cảm thấy bần thần, mệt mỏi như    mất hết sức lực, chán nản, buồn sầu, chỉ muốn đi nằm, không muốn làm gì, và không làm    được gì, vì người lúc nào cũng mệt mỏi.
– Đi khám bac sĩ, thử máu, thử phân, thử nước tiểu, chiếu điện, thì không tìm ra bệnh gì, và ai    cũng bảo là bệnh giả đò.
– Trẻ em bị cảm lạnh thì khó ngủ, hay ói sữa, biếng ăn, táo bón (hai ba ngày mới đi một lần,    mà phải dùng thuốc, phân hôi), tiêu chảy, hay khóc, quấy, da không trắng và hồng hào,    nhưng tái mét, khi khóc thì tím ngắt mặt mũi chân tay và không dỗ được.
– Tất cả các triệu chứng trên đây đều có thể do cảm lạnh mà ra, đặc biệt các trường hợp đau    nhức số 5, trường hợp số 15 và số 16 là dấu chứng đã bị cảm lạnh từ rất lâu, chứ không    phải các cơ phận bị hư hại.
– Khi bị cảm lạnh, phần nào trong cơ thể yếu thì phần đó thường dễ bị ảnh hưởng.
– Có nhiều người bị cảm lạnh hàng chục năm mà không biết, đi khám hết mọi bác sĩ tại mọi    nhà thương nổi tiếng và uống biết bao nhiêu thứ thuốc, mà vẫn không khỏi bệnh. Và các    bác sĩ vẫn không biết chính xác là bệnh gì, kể cả các bác sĩ dông y và châm cứu. Đây là    các trường hợp bị đau nhức (số 5) và người mất sắc, bần thần, kiệt sức (số 15) và trẻ em

III. Cách chữa, Có nhiều cách chữa

1. Bình thường có thể cạo gió.

1) Cách cạo:

– Dùng đồng bạc hay tốt nhất là cái thìa lớn (nếu bằng bạc nguyên chất càng tốt)
cạo gió bằng dầu nóng (bất cứ loại nào cũng được) nhưng tốt nhất là long não pha với dầu   ô liu,
– Tỳ mạnh đồng bạc sát xuống da,
– Cạo chậm rãi và kéo đường càng dài càng tốt,
– Như thế sẽ ít đau và không trầy da.

2) Chỗ cạo: khắp nơi trên người.

– Cạo: cổ, gáy, trán, trên đầu, hai thái dương, bả vai, bên trong bên ngoài hai cánh tay, mu   bàn tay, ngón tay, lưng, ngực, bụng, bụng dưới, mông, bên trong bên ngoài đùi, chân, bắp   vế và mu bàn chân, ngón chân.

3) Cạo gió rất khoa học nhưng ông bà cha mẹ chúng ta không giải thích nên mình không hiểu. Thật ra:

– cạo gió là đả thông kinh mạch để cho khí huyết lưu thông đều đặn trở lại
– tái lập thế quân bình cho cơ thể
– dầu nóng tăng khí dương,
– đồng bạc hay cái thìa, tức chất kim khí, rút khí âm trong người ra.
Cạo gió xong là tự nhiên hết các triệu chứng kể trên và khỏi bệnh, thường là ngay tức khắc.
– Chỉ khi bị cảm (cảm nắng cũng như cảm gió và cảm lạnh) cạo da mới đỏ hay có hột và bầm   tím nếu bị cảm nặng từ lâu. Càng bị cảm lâu càng bầm. Nhưng chỉ vài hôm sau là các vết đỏ   và bầm sẽ biến đi.

Vì thế nói cạo gió vỡ mạch máu da là không đúng. Ngày nay nhiều bác sĩ Mỹ cũng bắt đầu tin, vì người ta đã cạo ngay trước mặt cho bác sĩ thấy.

– Tuy nhiên vì sống tại Tây Âu có nhiều người không quen hay chưa cạo gió bao giờ, nên sợ   đau hay sợ bị dị nghị, mà quên đi hay khinh thường cách chữa bệnh rất hữu hiệu này của   ông bà cha mẹ.

4) Cách pha long não với dầu ô liu:

– 100 gr bột long não nguyên chất đã tán sẵn mua ở tiệm thuốc bắc (không phải long não bỏ   quần áo hay giết gián)
– pha với 1 lít dầu ô liu (dầu trộn sà lát loại nào cũng đựợc)
– bình thường các tiệm thuốc bắc bán bịch 1 pound long não (10 US$), thì pha với 1 galon   dầu ôliu, rồi chia nhau.
– Dầu ô liu pha với long não còn có thể dùng để thoa bóp, chữa trặc hay sưng chân tay và   thấp khớp rất công hiệu.

1. Xông với nước lá

– nấu một nồi nước lớn với lá sả, lá cây dầu huynh diệp, lá chanh, lá cam, lá quít, lá bưởi hay   ngải cứu vv…
– trước khi trùm chăn xông trong phòng kín gió, thì bỏ thêm 10-20 gr bột long não, nếu có   (thường tiệm thuốc bắc có bán bịch lá xông có thêm gói bột long não nhỏ)

– xông xong, lau mồ hôi khô, và mặc quần áo ấm ngay rồi uống vài viên thuốc cảm với nước   trà gừng nóng, đắp chăn nằm nghỉ hay ngủ được một giấc, sẽ thấy người khỏe ngay. Vì khi   xông chảy mồ hôi nhiều nên cơ thể mất nhiều muối đạm, do đó cần phải cẩn thận, kiêng ra   ngoài, để đừng bị lạnh trở lại.

2. Đánh cảm bằng cám rang

– lấy cám bỏ vào chảo rang nóng lên
– bỏ vào miếng vải túm lại
– rồi vuốt từ trên đỉnh đầu vuống xuống
– vuốt khắp nơi trong người: đầu tóc, mặt, ngực, bụng, cơ quan sinh dục, lưng, mông, đàng   trước đàng sau tay chân, lòng bàn tay bàn chân và ngón tay ngón chân… Cảm nặng thì   phải rang 2, 3 mẻ và vuốt vài lần sẽ đỡ ngay, vì mọi kinh mạch đều
được đả thông và khí huyết di chuyển bình thường trở lại.

3. Đánh cảm bằng gừng

– 100 gr gừng giã dập
– túm vào một chiếc khăn hay vải mỏng
– nhúng vào một bát rượu mạnh (rượu đế, volka vv…)
– vuốt từ đỉnh đầu xuống cả người phía trước: mặt mũi, ngực, bả vai, cánh tay bên trong bên   ngoài, lòng và mu bàn tay, rồi các ngón tay, bụng, bắp vế xuống cho tới lòng và mu bàn   chân và các ngón chân, phía sau: đầu, ót, gáy, lưng, mông xuống cho tới lòng bàn chân và   các ngón chân.

4. Đánh cảm bằng trứng gà và đồng bạc nguyên chất (pure silver coin)

– luộc 5-7 trứng gà chín lên (18 phút thì trứng chín), luôn để nước sôi
– bóc vỏ, bổ đôi, bỏ lòng đỏ
– nhét đồng bạc nguyên chất vào giữa
– túm vào khăn hơi dầy một chút để khỏi bị xước da
– rồi cứ thế vuốt từ trên đỉnh đầu xuống y như đánh cảm bằng cám và gừng
– vuốt cho tới khi nào trứng hoàn toàn nguội mới thay trứng và thay đồng bạc khác.

Nếu bị cảm nắng, thì đồng bạc mầu đồng.
Nếu bị cảm lạnh, thì đồng bạc mầu đen, càng cảm lạnh nặng càng đen.
Nếu bị cảm gió nữa thì đồng bạc mầu đen nhánh có sắc xanh. Nếu vừa cảm nắng vừa
cảm lạnh, thì đồng bạc có cả hai mầu.

1) Tùy trường hợp nặng nhẹ, có thể đánh từ 4 trứng trở lên. Bình thường mỗi lần đánh khoảng 4-5 trái là được. Để tránh bị lạnh trở có thể đánh đầu, ngực và lưng trước, rồi mặc áo, che khăn hay đắp chăn, sau đó mới đánh tới phần dưới của cơ thể. Nếu muốn đánh một lần cho cả phía trước hay phía sau, thì lấy chăn đắp phần thân thể đã đánh rồi hay chưa đánh.

2) Đặc biệt là trường hợp 5 và nhất là 15, có khi phải đánh tới 40-50 hay hàng trăm cái trứng. Nghĩa là đánh làm nhiều lần, cho tới khi nào cảm thấy người dễ chịu, khỏe khoắn, da dẻ hồng hào trở lại thì thôi.

3) Trẻ em bị cảm (đặc biêt các em nhỏ) chỉ nên đánh cảm bằng trứng. Trường hợp các em được vài tháng, nếu sợ bỏng da, có thể đánh cảm bên ngoài áo cũng được. Nhưng nếu bọc trứng trong một khăn dầy vừa đủ sễ không sao.

4) Cũng có thể để nguyên vỏ trứng, để có nhiều sức nóng hơn, nhưng phải dùng loại khăn rửa mặt hơi dầy, để khỏi bị vỏ trứng làm xước da.

5) Đánh cảm bằng trứng hơi tanh. Nhưng sau đó không được tắm. Chỉ nên dùng lotion hay chút dầu thơm pha chút nước nóng, nhúng khăn lau sơ người thôi.

6) Đặc biệt trường hợp số 15 và khi bị thương hàn, tức cảm lạnh ngấm tới xương, thì phải đánh cảm bằng trứng và đồng bạc (vì cạo gió, bấm huyệt thoa bóp chỉ bớt
chứ không khỏi).

7) Đồng bạc bị đen bỏ vào một cái chén bên dưới lót một miếng giấy bạc rồi đổ nước sôi lên, đồng bạc sẽ trắng trở lại ngay và dùng để đánh tiếp.

Cách mua hay đặt đồng bạc đánh cảm:

1) Ai có thân nhân nhân ở Việt Nam có thể nhờ họ đặt cho mươi đồng bạc đánh cảm tại các tiệm bán vàng bạc (mỗi đồng khoảng 4-5 US$ làm hình bầu dục theo hình trái trứng là tiện nhất, vừa dùng để đánh cảm vừa dùng để cạo gió rất tốt)

2) Dễ nhất là vào Internet để mua và trả qua credit card ngay tại Mỹ. Họ sẽ gửi tới tận nhà. Mấy gia đình chung nhau, vì mỗi sét có 20 đồng 1 dollar lớn và dầy. Đồng 1 dollar lớn này có thể đánh được 2-3 trứng mới đen hết đồng bạc.

6. Giác, lẩy (thường phức tạp hơn, vì cần có bộ đồ nghề và không công hiệu bằng các cách kể trên, vì chỉ hạn chế vào một số nơi có bắp thịt).

– Giác bằng alcool hay rượu mạnh, nếu không khéo có thể bị bỏng da.
– Giác bằng hơi tránh được ngy hiểm này, nhưng phải có bộ đồ nghề.
– Nếu biết lẩy có thể nặn máu bầm ra, nhưng phải cẩn thận để không bị nhiễm trùng.

IV. Phòng bệnh hơn chữa bệnh

Vì cảm lạnh có thể gây ra các hệ lụy nguy hại tới các cơ phận trong người như thế nên chúng ta phải cẩn thận.

1. Luôn mặc ấm áp khi đi làm hay đi lễ ban sáng và về nhà lúc chiếu tối
2. Đầu đội mũ, trùm khăn
3. Giữ hai vai, vùng thận và chân ấm (đi vớ, cả khi ở trong nhà)
4. Khi có các triệu chứng kể trên, cứ áp dụng mấy cách chữa bệnh trên đây của ông bà cha     mẹ, trước khi đi khám bác sĩ. Trong các năm qua tôi đã từng chữa bệnh cho hằng trăm     người và đoán bệnh ít khi sai. Thí dụ một người bị tiêu chảy suốt 3 năm đi khám bác sĩ tại     nhiều nhà thương khác nhau và uống bao nhiêu thuốc nhưng không khỏi. Các bác sĩ     không tìm ra lý do. Sau khi cạo gió bụng, lưng và ngực, bệnh tiêu chảy dứt ngay. Một     người khác ăn lương tàn tật 2 năm vì không thể giơ hai tay lên được và đau nhức không     thể lái xe được. Đi khám tại nhiều nhà thương nhưng các bác sĩ không biết bệnh gì, chỉ cho     uống thuốc giảm đau và đoán là thần kinh bị hư nên đề nghị mổ. Sau khi cạo gió hai cánh     tay và lưng xong là hết đau nhức và hai tay cử động bình thường ngay lập tức. Một người     khác nữa bị đau đầu gối 3 tháng, đi khám các bác sĩ, chiếu điện nhiều lần cũng như uống     nhiều thứ thuốc, mà không hết đau nhức. Bác sĩ nói thần kinh bị hư, phải mổ. Cạo gió mấy     phút là hết đau nhức ngay.Thế mới biết rất nhiều trường hợp đau nhức là do cảm lạnh. Vì     vậy trước khi đi bác sĩ hay vào nhà thương, chúng ta nên áp dụng cách chữa bênh của     ông bà cha mẹ, vừa dễ dàng, vừa rẻ tiền lại rất khoa học và công hiệu tức khắc, giúp giữ     gìn sức khỏe và nhất là khỏi bị tàn tật oan.

LM Giuse Hoàng Minh Thắng Roma

http://www.canhdongtruyengiao.net/NhipSongQuanhTa/Suc%20khoe/28.6.11/Caogio/caogio.html

THÂN THẾ HÙNG tổng hợp : LÁ ĐU ĐỦ CHỐNG UNG THƯ GAN


UNG THƯ GAN GIAI ĐOẠN CUỐI, GIẢI PHÁP TỐI ƯU: LÁ ĐU ĐỦ VÀ SẢ

Chữa ung thư bằng đu đủ và xả

35 sức khỏeung thư 22:37A+A-SHARE ON EMAILEMAILSHARE ON PRINTPRINTCách đây hơn hai năm , anh em VHV trường Võ Bị Dalat nhận được hai tin không vui về một cựu Giáo sư, anh Phùng Văn Bộ là việt kiều Canada đang gặp phải: – một là hơn nửa triệu đô la đầu tư về VN bi. mất trắng và – hai là Anh gặp bệnh nan y: Ung thư gan giai đoạn cuối, sau xét nghiệm cuối cùng về y khoa ở bệnh viện ở Canada . Anh đã nằm viện mấy tháng, khối u gan trên 04 cm đã được xử dụng kỹ thuật cao chặn đứng sự di -căn bằng cách cắt, cô lập cách mạch máu nuôi u và đưa thuốc vào nội tạng gan để cô lập. Anh Bộ sinh năm 1933, nay đã trên 80 tuổi, không đủ sức chịu đựng, nên mất sức nhanh, tóc rụng và đứng đi không nổi. Bệnh viện cũng cho anh hay với tình trạng sức khoẻ của anh khó vựợt qua nổi sáu tháng. Trước 2009 anh Phùng Văn Bộ, bị ung thư tuyến tiền liệt giai đoan đầu, bệnh viện đề nghị giải phẩu,anh không chịu cho mổ, cố chịu cảnh “đái rắc” vì thấy mình cũng tuổi già, không nên đụng vào dao kéo làm gì.
Vừa ung thư gan và tiền liệt tuyến (cả hai đều là ung thu nguyên phát), vừa được y khoa tiến triển của Tây Y “báo tử”, là anh không đủ sức chịu nổi “xạ trị” và các ca dao kéo.

Vốn là thầy thuốc châm cứu, và hiểu rõ y lý đông phương, hơn nữa cũng sẵn tâm thuận đạo sinh tử lẻ thừơng, anh trở về VN, Vĩnh Long, thử chữa theo cách của mình. Dẫu sao, ru mình những ngày cuối đời ở quê nhà vẫn là hạnh phúc!
Anh Phạm Kế Viêm,một Giáo Sư toán nổi danh ,người suốt đời nghiên cứu tử vi, bạn VHV Đà Lạt,với anh Bộ , gửi thư động viên anh Phùng Văn Bộ giữa năm 2011: “cái rủi mất tiền. đầu tư sai chỗ ở VN của anh biết đâu là “của đi thay người” gánh cho anh cái nạn bệnh nan y này. Anh qua được năm này, tôi tin Anh sẽ còn thọ, sẽ tốt”.
Tất cả anh em VHV đều tin rằng anh Viêm chỉ an ủi, còn việc anh Bộ về quê với ung thư gan giai đọan cuối, tóc rụng, chân run , đi một bước có người dìu đỡ… đưa được thân xác tàn tạ về quê hương những ngày cuối đời đã là điều quý.(!!)
Vậy mà hôm qua, ngày 02/04/2013, Hay tin anh Phùng- Văn- Bộ từ Vĩnh Long lên Saigon để về Canada. Tôi và anh Diệp VHV , đến thăm anh và tôi không thể tin ở mắt mình: Một ông già 81 tuổi chắc nịch, mắt sáng, dáng đi cứng cáp bước lên xuống cầu thang gác đon tôi và anh Nguyễn -Văn -Diệp như là một “trung niên hán tử” !
– Hai năm qua anh đă chữa trị ung thư bằng cách nào, mà mới ngày nào tôi gặp anh, xin lỗi tôi nghĩ anh không qua được sáu tháng.?.Tôi hỏi.
-Bệnh viện Canada nó cho mình bản án báo tử. Mình về quê-hương “còn nước còn tát ” .Mình chỉ có kiên trì 1 thứ thuốc đó là:”Nước trà lá đu đủ với sả,”. uống thay mọi thức uống. Chỉ có vậy. Mình muốn nói với các bạn, lấy kinh nghiệm bản thân của mình mà nói cho mọi người. Giúp được ai thì mừng nấy các bạn à.
Anh Bộ, nhấn mạnh cách chữa trị ung thư của anh như sau :
– Ung thư gan, nội tạng, phổi… Đều xử dụng trà lá đu đủ và sả chữa trị được. Nhưng cũng tùy tạng người, có người chữa dứt, có người được giai đọan đầu biến chuyển nhanh, nhưng sau đó chậm. Ung thư gan thì tôi thấy biến chuyển rõ rệt. Tôi dùng trà lá đủ đủ và sả trong hai năm, nay đi tái khám và xét nghiệm thì đã hòan tòan hết sạch bứơu trong gan cũng như sưng phù tuyến tiền liệt.Tôi đã chỉ vẻ nhiều người dưới quê , kết quả rất tốt , nhất là các bệnh ung thư gan , phổi , bao tử , siêu vi B , siêu vi C…Nó là loại trà giải độc , lọc máu số một , không bệnh uống ngừa bệnh cũng rất hay.
Cách chế biến như sau: lá đu đủ xắt tươi phơi khô, sả củ xắt mỏng phơi khô, cả hai thứ trộn lẫn, nấu như nấu nước chè, bỏ vào chai để nguội uống suốt ngày. Tỉ lệ sả trong đu đủ ít thôi, khỏan 1 phần mười sả làm mùi nước thơm dễ uống và nó dẫn chất thuốc rất nhanh.Thời gian đầu, khỏan hai tuần, khi mới uống thì phân và tiểu thải ra có mùi hôi thối nồng nặc. Đó là chất độc đã được trục ra khỏi máu.
Nhìn cách anh Phùng Văn Bộ trình bày, cách anh nói cười diễn đạt tôi không tin vào mắt mình rằng đây là nguòi trước đây hơn một năm , tôi bắt bàn tay lạnh giá của anh với ý nghĩ là lần vĩnh biệt.Cách đây mấy ngày tôi vừa nhận đựơc tin bạn tôi, Lê Thiệp, ở Mỹ cũng đang đi vào kiếp nạn ung thư gan giai đọan cuối. Trong phát biểu trước thân hửu tại Lễ kỉ niệm 10 năm Tủ-Sách Tiếng Quê Hương, bạn Lê Thiệp cho biết thi sĩ Uyên Thao nhờ uống trà lá đu đủ mà thóat tay tế bào ung thư. Thế thì món thuốc đơn giản này không phải là khám phá mới ,nhưng theo Anh Phùng -văn -Bộ khó nhất và cần nhất là kiên trì, kiên trì uống!! .Chỉ đơn giản có vậy!!Tôi mong bạn tôi Lê -Thiệp, Nguyễn -khắc -Nhượng… cũng được như anh Phùng- Văn -Bộ, 81 tuổi, nói cười ha hả khoe với tôi và anh Diệp: “Tôi nói các bạn chia vui, khỏan ung thư thì nay đã qua khỏi rồi, mà khỏan “sức sống “thì nay mình nay hơn tám mươi mà lạ quá mình cũng còn “rạo rực” lắm lắm mấy bạn à!!”

NGUYỄN QUANG TUYẾN
Cập nhật về tình hình sức khỏe của bác Phùng Văn Bộ:

Bác Sỹ Phạm Doãn: Bs Phùng Văn Bộ (Canada) là bạn cao niên và cùng lớp.Đã chiến thắng K Gan bằng lá Đu Đủ và lá Sả Đây là bằng chứng rất khích lệ cho việc trị liệu ung thư bằng cây lá tự nhiên.
Thông tin chia sẻ từ BS Phạm Doãn:Bac SiAnh Phùng Văn Bộ hiện nay rất khỏe, đang ở Vĩnh Long (từ 15 tháng 10 năm 2013) và sắp về lại Canada vào 10 tháng 4 năm 2014.

LÁ ĐU ĐỦ CHỐNG UNG THƯ
Các nhà khoa học Nhật Bản và Mỹ vừa phát hiện thêm một tác dụng mới của cây đu đủ: chất chiết xuất từ lá đu đủ có khả năng diệt tế bào ung thư.

Kết quả nghiên cứu mới này được đăng tải trên “Tạp chí dược lý dân tộc” của Nhật Bản. Theo phát hiện mới của nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học của Văn phòng thí nghiệm lâm sàng thuộc Trung tâm Ung thư, Đại học Florida, Mỹ và Đại học Tokyo, chất chiết xuất từ lá đu đủ có khả năng kháng ung thư và hiệu quả này tương thích với tất cả các tế bào ung thư được gây dựng trong phòng thí nghiệm, gồm ung thư cổ tử cung, ung thư buồng trứng, ung thư gan, phổi, ung thư tuyến tụy…
Khi cho 10 loại tế bào ung thư khác nhau tiếp xúc với chất chiết xuất này, 24 giờ sau có thể thấy tốc độ phát triển của tế bào chậm hẳn lại, và nếu nồng độ chất chiết xuất càng cao, hiệu quả kháng tế bào ung thư, thậm chí giết chết nó càng rõ rệt. Cũng trong một thí nghiệm tương tự, các nhà khoa học còn phát hiện ra chất chiết xuất từ lá đu đủ có khả năng thúc đẩy tế bào Th1 – tế bào đóng vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch – sinh trưởng và phát triển.Mặt khác, việc sử dụng chất chiết xuất từ lá đu đủ kháng ung thư còn có ưu điểm ở chỗ nó không mang độc tính và không gây ra tác dụng phụ. Nó có thể tiêu diệt tế bào ung thư, song không ảnh hưởng xấu đến các tế bào khỏe mạnh, vì vậy sẽ tránh được các trường hợp làm tổn thương đến cơ thể người bệnh như khi dùng các loại thuốc thông thường.“Chúng ta từng biết đến đu đủ như một loại trái cây rất có ích trong việc phục hồi sức khỏe”, tiến sỹ Bharat Gawol thuộc Trung tâm Ung thư Anderson, Đại học Texas cho biết, “Đu đủ có rất nhiều thành phần có lợi, trong đó phải kể đến chất papain, một ezyme có rất nhiều trong quả và lá của chúng”. Hiện các nhà khoa học đang đẩy mạnh nghiên cứu để thử nghiệm trên động vật và người.
Gia VinhTHƯ NGƯỜI DÙNG LÁ ĐU ĐỦ
Anh chị Bình thân quý,Tôi thật tiếc đã không được biết sớm hơn bệnh tình của anh. Nếu biết sớm, tôi tin chắc anh đã không phải chịu đau đớn vì cái bệnh nan y đó vì người ta đã có cách chữa khỏi, vừa rẻ tiền, vừa công hiệu làm kinh ngạc nhiều người, như thể phép lạ.Đó là dùng lá Đu Đủ làm thuốc chữa ung thư mà chính tôi biết rõ. Anh Bình có biết anh Thái Quang Minh Tuấn thuộc trường Phi Hành ngoài Nha Trang ngày xưa không? Anh Tuấn bị ung thư phổi rất nặng và bác sĩ cho xuất viện về nhà… đợi chết, nói anh ấy chỉ có thể sống được thêm 5 ngày tới một tuần lễ mà thôi. Cả nhà tuyệt vọng nhưng anh Tuấn có nghe biết về Lá Đu Đủ nên nấu dùng thử. Tụi tôi có đến thăm, thấy anh ấy không khác gì những người tù Do Thái trong trại tập trung Đức Quốc Xã, đợi lùa vào phòng hơi ngạt! Chị ấy kể rằng máu mủ từ phổi chảy ra qua ống nylon chảy ra ngoài, hôi thối không ai chịu nổi, kể cả con cái. Thế mà, kỳ diệu thay, mới chỉ uống nước Lá Đu Đủ được 3 ngày, anh ta thấy bớt đau và phổi không còn thải ra nước hôi thối nữa! Qua tuần lễ đó, anh vẫn sống, vẫn tiếp tục uống và khỏi luôn khiến bác sĩ và các y tá điều trị cho anh ở bệnh viện Fort-Worth phải cực cùng kinh ngạc.Anh phục hồi sức khỏe rất nhanh chóng, bây giờ không hút thuốc lá nữa, phương phi khỏe mạnh như xưa. Hôm gặp anh ấy trong một tiệc cưới, tôi ngạc nhiên không thể ngờ. Lúc đó bà cụ tôi vừa khám phá ra bệng ung thư xương. Cancer ăn tiêu mất 1/3 xương hông, nơi đó đùn lên một cái mass cancer to bằng cái chén và cụ tôi đau đớn không đi lại được, phải ngồi xe lăn. Mỗi ngày tôi phải đưa cụ vào bệnh viện chạy radiation và rồi làm chemo-therapy. Anh Tuấn cho tôi một ít lá đu đủ, nói để Me tôi dùng thử, may ra khỏi vì anh không biết nó có công hiệu cho các ung thư khác không…. Tôi lấy về cho Me tôi dùng thay nước trà mỗi ngày, gửi thư về VN nói cô em tôi kiếm gửi qua nữa. Cụ tôi 81 tuổi. Khi chữa thuốc tây, tôi vẫn cho cụ uống lá đu đủ song song và bác sĩ phải lấy làm lạ lùng vì cụ không bị rụng tóc hay bất cứ một phản ứng gì khác do chất hóa học và radiation làm ra như skin rash, táo bón…Sau đó còn một vài trường hợp như ung thư bao tử, trực tràng, phổi… cả Việt lẫn Mỹ đều khỏi rất nhanh chóng. Một ông bạn già của tôi có ông con rể người Hoa Kỳ bị bác sĩ chê, sắp sửa ra đi, vậy mà mới uống lá đu đủ vài tuần đã đi làm lại được và tin tưởng tuyệt đối vào môn thuốc ngoại khoa này. Thật ra việc dùng lá đu đủ chữa bệnh ung thư, hồi mới qua đây được ít năm, tôi có đọc một tài liệu y khoa trên báo Mỹ nói đến thổ dân ở Úc đã lấy Lá Đu Đủ chữa khỏi bệnh cancer. Tài liệu này do một bác sĩ người Đức làm việc ở Canberra viết và phổ biến.Tôi cũng xin gửi kèm thư này cái eMail tôi gửi cho thân hữu có kèm thư anh Văn Quang từ Saigon mới gửi cho tôi cách đây hai tuần. Anh Văn Quang cho biết trường hợp một bà bị ung thư tử cung mà khỏi nhờ lá đu đủ do tôi mách bảo. Hồi đó nghe tin nhà văn Mặc Thu bị ung thư phổi, tôi bèn viết eMail nhờ Văn Quang nói với gia đình ông Mặc Thu nhưng họ không tin. Văn Quang cũng nghi ngờ nhưng bây giờ thì tin lắm.Vậy anh Bình ơi, anh hãy nghe tôi, chịu khó dùng xem sao. Nó không khó uống đâu và làm rất giản dị. Chỉ bốc một nhúm cho vào bình nước sôi như ta pha trà rồi uống thay nước mỗi ngày, càng nhiều càng tốt. Đừng pha nhạt quá mà cũng đừng pha đặc quá khó uống. Tôi gửi gói này, cũng phải mấy tháng mới dùng hết. Anh chị đừng lo. Nếu thấy đỡ và cần thêm, tôi sẽ cung cấp cho anh chị.Tụi này nhớ đến hai bác rất thường. Hôm trước có gọi thăm nhưng không được, tôi tưởng hai bác dọn nhà hay đổi số mới mà không cho biết nên định bụng năm nay gửi thiệp Giáng Sinh sẽ hỏi số điện thoại và địa chỉ eMail của anh chị hay của cháu Trang, cháu Tiến để liên lạc nhanh chóng hơn.Chúng tôi vẫn bình thường và vừa có cháu ngoại đầu lòng được hơn tháng rồi, bận với thằng nhỏ cũng vui lắm.Chúng tôi mong chúc anh chóng bình phục. Thăm cả nhà và mong có dịp sẽ gặp lại anh chị và hai cháu.

Bài nên đọc về bệnh ung thư:
Báo cáo về bệnh Ung thư

Tôi Đã Chữa Ung Thư Da Cho Mẹ Tại Nhà Như Thế Nào

Tài liệu nói về bênh ung thư của Bệnh viện Johns Hopkins

Thân Thế Hùng Tổng hợp từ internet