NGUYEN THANH HIEP : CAM TUONG SAU KHI NHAN SACH “5O NAM NGHIEN CUU NHAC DAN TOC VIET” cua TRAN QUANG HAI , 01.07.2021


Nguyễn Thanh Hiệp added 2 new photos to the album: GSTS TRÂN VĂN KHÊ — feeling grateful with Lê Thu Imbert and 13 others at Báo Người Lao Động.

tScponsdomre12ihd  · Ho Chi Minh City, Vietnam  · Nhận được món quà từ thủ đô Paris của GSTS Trần Quang HảiĐó là quyển sách quý “Trần Quang Hải : 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt” đã từng ra mắt tại CSU LB , California, USA ngày 10-2-2019.

Hôm nay anh gửi về tặng trong niềm xúc động bởi đó là pho tư liệu quý trong quá trình nghiên cứu về văn hóa, nghệ thuật và âm nhạc dân tộc Việt.Sách đã trình bày và giới thiệu các loại đàn, hát của dân tộc ta từ thời nhà Đinh, thế kỷ thứ 10, cho tới ngày nay.

Phần trình bày rành rẽ của anh là tài liệu quý báu cho những người biên khảo về âm nhạc Việt Nam, cổ nhạc lẫn tân nhạc.Tôi thích nhất phần cổ nhạc, anh đã giới thiệu về các loại nhạc như nhạc cung đình, nhạc lễ, nhạc tôn giáo, nhạc thính phòng, nhạc tuồng, dân ca, nhạc dân tộc thiểu số.

Các nhạc cụ: đàn tranh, đàn đá thêm vào những nhạc cụ đặc hữu của Việt Nam, các loại hát như hát xoan, hát Then, Tày, Nùng, Thái… Ở phần tân nhạc được anh ghi chép khá tỉ mỉ các giai đoạn tượng hình (1928-1937), thành lập (1938-1945), kháng Pháp (1946-1954), giai đoạn đất nước bị chia cắt (1954-1975) và giai đoạn từ 1975 đến nay.

Thừa hưởng từ cha – cố GSTS Trần Văn Khê, anh ghi chép cẩn thận, đối chiếu khoa học và có những so sánh toát lên tinh thần tự hào dân tộc khi nói về cội nguồn văn hóa Việt, trong đó màu sắc chủ đạo là âm nhạc dân tộc.

Đây là công trình sáng tác, khảo cứu mà anh đã bảo vệ luận án tiến sĩ nhạc dân tộc tại trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội Pháp tại Paris năm 1973, năm anh 29 tuổi, về những khám phá mới mẻ trong kỹ thuật hát đồng song thanh.Tới năm 1989, anh được cấp bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống nhưng đã làm việc khảo cứu từ năm 1968 tại Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học CNRS ở Paris. Đồng thời, anh còn làm việc trong Viện Dân Tộc Nhạc Học của Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật và Truyền Thống Dân Gian tại Paris.

Sở trường của anh là hát đồng song thanh và đàn môi. Ở bộ môn nghệ thuật độc đáo này, GSTS Trần Quang Hải là người tài ba nhất thế giới. Anh đã sáng tác hơn 50 bài kể chung cho đàn tranh, cho muỗng, hát đồng song thanh hay là nhạc cho phim.

Qua quyển sách cũng hiểu hơn về cuộc hành trình của anh khi đã trình diễn trên 3500 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 nước từ năm 1966 đến nay. Và trong hơn 1500 buổi nói chuyện, giảng dạy cho học sinh các trường học ở Âu Châu, tại 100 trường đại học trên thế giới đã cho thấy nỗ lực phi thường của anh. Thích nhất vẫn là những kỷ niệm, ký ức khi anh tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có hơn 8000 người theo học hát đồng song thanh do anh giảng dạy.

Trong từng câu chuyện, anh đã nhắc đến dòng dõi bốn đời tài danh trong ngành nhạc dân tộc và anh là đời thứ năm – một trái tim nồng nàn dành cho âm nhạc dân tộc không kém gì cha của mình và một nghệ sĩ tài hoa đã làm rạng danh nhạc dân tộc Việt khắp năm châu.

Cảm ơn anh – mong một ngày sau khi dịch bệnh được đẩy lùi sẽ hội ngộ cùng anh tại quê nhà. Nhớ mãi đóa hoa anh tặng trong kỷ niệm 100 ngày mất của GSTS Trần Văn Khê do GS Phương Oanh tổ chức tại Pháp mà anh và chị (ca sĩ Bạch Yến) đến tặng cho Thanh Hiệp.#trănuanghai

NGUYEN THANH HIEP

bia sach : tran quang hai : 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing

BĂNG CHÂU : Hôn nhân 43 năm ngọt ngào của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến


Thứ năm, 17/06/2021 – 15:27

Hôn nhân 43 năm ngọt ngào của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến

Dân trí

Nhân kỷ niệm 43 năm ngày cưới, GS-TS Trần Quang Hải đã trải lòng về cuộc sống hạnh phúc bên danh ca Bạch Yến tại nước Pháp.

Giáo sư – Tiến sĩ (GS-TS) Trần Quang Hải, sinh năm 1944, là con trai trưởng của cố GS.TS Trần Văn Khê. Trong hơn 60 năm gắn bó với hoạt động nghệ thuật, trình diễn và nghiên cứu, ông đạt được nhiều thành tựu với gần 30 giải thưởng Quốc tế. Bên cạnh thành công trong sự nghiệp, GS Trần Quang Hải còn có cuộc hôn nhân hạnh phúc cùng danh ca Bạch Yến.

Ngày 17/6/2021 là ngày kỷ niệm 43 năm thành hôn của GS.TS Trần Quang Hải – Bạch Yến. Sau hơn 4 thập kỷ gắn bó trong hôn nhân, dù không có người con chung nào nhưng ông bà vẫn có cuộc sống gia đình hạnh phúc và sự thành công trong sự nghiệp âm nhạc.

Hôn nhân 43 năm ngọt ngào của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến - 1
Ảnh cưới năm 1978 của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến.

Nhân kỷ niệm 43 năm ngày cưới, GS-TS Trần Quang Hải đã trải lòng về cùng Dân trí về cuộc sống hạnh phúc bên danh ca Bạch Yến tại nước Pháp.

Tôi thành công nhờ có vợ… sắp đặt

Với hơn 43 năm gắn bó trong cuộc sống hôn nhân, điều gì khiến GS-TS Trần Quang Hải trân trọng nhất ở người bạn đời của mình – danh ca Bạch Yến?

Tôi trân trọng vợ mình vì có tình thương, chung thủy và sự hy sinh nghề nghiệp. Bạch Yến đã chuyển từ hát tân nhạc sang học hỏi hát dân ca để cùng tôi đi truyền bá nhạc dân tộc khắp thế giới. 

Trong 43 năm qua, chúng tôi đã cùng thực hiện nhiều CD, trình diễn qua 60 quốc gia và hơn 100 đại nhạc hội quốc tế.

Ông thương vợ mình nhất ở điều gì trong tính cách và cách sống?

Vợ tôi sống rất ngăn nắp, ăn uống cẩn thận để giữ gìn sức khỏe. Đặc biệt, Bạch Yến rất chú trọng về cách trình diễn trên sân khấu và thận trọng khi xếp đặt chương trình.

Vợ bảo tôi ăn mặc đúng phong cách người Việt xưa khi chúng tôi đi diễn. Mỗi khi lên sân khấu yêu cầu tôi phải mặc áo dài the, khăn đóng đen, dép Gia Định, áo quần trắng bên trong… Cả cách đi đứng trên sân khấu, cách chào cung kính theo người Việt Nam.

Còn về phía vợ tôi thì móng tay, móng chân phải để trắng, không đeo nữ trang vì đóng vai gái quê. Bà mặc trang phục theo nội dung bài hát. Là khăn mỏ quạ, áo tứ thân cho dân ca Bắc; khăn rằn ri, áo bà ba trắng quần đen cho dân ca Nam Bộ. Khi đi ra sân khấu, luôn luôn đi sau chồng. 

Hôn nhân 43 năm ngọt ngào của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến - 2
Hình ảnh vợ chồng GS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến trình diễn cùng nhau năm 1998.

Nhờ vậy mà chúng tôi chỉ có hai người không cần phải rườm rà áo quần, trình diễn mộc không cần micro, âm thanh. Chỉ có hai người với vài nhạc cụ do tôi trình diễn, như đàn tranh, đàn cò, sinh tiền, muỗng… mà vẫn chinh phục khán giả Tây phương vì giữ đúng phong cách cổ truyền. 

Nên tôi khẳng định, nhờ xếp đặt của vợ để chúng tôi đi đến thành công.

Theo ông, có phải khi người ta có cuộc sống riêng an ổn thì mới có thể chuyên tâm cho sự nghiệp? Ông có thấy mình may mắn khi gặp được người bạn đời ăn ý như bà Bạch Yến?

Có thể nói, tôi rất may mắn khi cưới được Bạch Yến làm vợ. Chính vợ đã giúp tôi thành công trong sự nghiệp âm nhạc và nghiên cứu. 

« Đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng cạn », từ ngày chúng tôi thành vợ chồng tới nay, tôi đã gặt hái nhiều thành công rực rỡ.

Và có điều gì vợ làm khiến ông « bực mình » mà không dám nói không?

Vợ tôi tính quá kỹ lưỡng, đâu ra đó đàng hoàng. Đôi khi tôi không quen vì tính hay buông đùa, xí xóa. Cũng có lúc bực mình, nhưng tôi không dám thổ lộ (cười). Nhưng rồi nghĩ lại, thấy mình bực bội hoàn toàn vô lý. Vậy là tìm cách giải hòa.

Trong cuộc sống sẽ không tránh khỏi những lúc bất đồng. Vậy điều gì khiến ông bà bất đồng với nhau nhiều nhất? Và cả hai làm sao để chấp nhận những bất đồng của nhau?

Không ai có thể sống hoàn toàn trong một cuộc sống yên lặng. Chúng tôi thường hay bất đồng ý kiến trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng dù có gây sự với nhau thường cũng chỉ trong chốc lát, lâu hơn là trong một ngày thì cả hai hòa hợp lại với lời xin lỗi của đôi bên.

Mỗi ngày, tôi luôn chọc vợ cười vì tính tôi hay đùa. Chúng tôi gọi nhau bằng ba-má nên vợ tôi thường nói « Ngày nào ba không làm má cười thì thôi nhau ».

Có bao giờ giữa ông bà xảy ra mâu thuẫn đến mức muốn chia tay nhau không?

Có đôi lúc chúng tôi gây nhau « dữ tợn » lắm, nhưng chưa đi tới chỗ muốn chia tay. Cả hai đều có một « quá khứ sôi động », với sự hiểu biết nhau, thương yêu nhau, kính trọng nhau cho nên dễ làm hòa.

Tôi biết ơn vì vợ – « kế mẫu » đã dạy dỗ con gái tôi nên người

Hôn nhân 43 năm ngọt ngào của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến - 3
Vợ chồng GS Trần Quang Hải tại New York năm 1980

Ông có cảm thấy buồn hay tiếc gì khi ông bà không có người con chung nào?

Chúng tôi không buồn vì không có con với nhau. Trời Phật định đoạt như thế nào thì mình phải chấp nhận. 

Tôi đã có con với người vợ trước. 3 năm sau khi ly dị tôi gặp Bạch Yến. Vợ tôi là « kế mẫu » nhưng thương yêu con gái của tôi như con ruột của mình. Bà còn dạy dỗ con tôi đúng theo truyền thống Việt Nam. 

Nhờ vậy con gái tôi dù sinh ở Pháp nhưng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt thông thạo. Tôi không bao giờ quên công ơn này của vợ.

Hôn nhân 43 năm ngọt ngào của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến - 4
GS Trần Quang Hải và con gái Minh Tâm

Ông bà đều lớn tuổi, bên cạnh không có con cháu, cả hai chăm sóc nhau như thế nào?

Vợ lúc nào cũng chăm lo sức khỏe cho tôi. Mỗi ngày bà « coi chừng » và khuyên tôi không nên ăn nhiều thịt mà nên ăn rau, trái cây. 

Năm 2017, khi biết tôi mắc bệnh ung thư máu, tiểu đường nặng, suy thận, áp huyết cao… tôi không còn lái xe vì uống nhiều thuốc. Bà ấy trở thành tài xế lái xe đưa tôi đi bệnh viện, nhắc chừng tôi phải uống thuốc đúng ngày giờ.

Tôi uống 20 viên mỗi ngày, y tá tới nhà chích ba lần mỗi tuần, thử máu một lần mỗi tháng. Tôi ba lần « xém chết » vì kỵ thuốc uống.

Tôi suýt bị tai biến não vì độ đường xuống quá thấp phải cấp cứu. May nhờ vợ tôi hay, kịp kêu xe cấp cứu. Tôi nằm bệnh viện 3 lần trong 3 năm 2017, 2018 và 2019.

Ngoài ra, vợ còn lo cơm nước, giặt ủi quần áo, đi chợ búa… cùng đi bộ với tôi 2km mỗi ngày. Nhờ sự chăm sóc chu đáo của vợ mà sức khỏe tôi đã tốt hơn rất nhiều và tôi càng thương vợ hơn. 

Như GS Trần Quang Hải chia sẻ, vợ chăm cho ông từ miếng ăn, giấc ngủ. Vậy ngược lại, ông sẽ chăm lo cho bà như thế nào?

Từ lúc về hưu tới nay, tôi nói vợ để mình làm bếp. Tôi muốn giúp vợ đỡ lo phần nấu nướng. Lúc đầu vợ không chịu vì « nghi ngờ » tài làm bếp của tôi (cười).

Vợ chỉ bằng lòng chỉ dạy tôi cách căn bản pha nước mắm tỏi ớt theo gu miền Nam, cách ướp thức ăn theo Việt, Hàn, Trung Quốc… 

Tôi thường xem các chương trình dạy nấu nướng trên mạng để thay đổi thực đơn mỗi ngày. Dần dần, vợ đã thấy tôi từ « nấu tạm được » thành càng ngày nấu càng ngon.

Hiện, tôi đã biết nấu trên 60 món, một nửa là món ăn Việt Nam, một nửa là các xứ khác. Tôi lo việc rửa chén dĩa, chuẩn bị đồ ăn sáng, cà phê, bánh mì để vợ chồng cùng ăn với nhau. Tuy không nhiều nhưng đó là cách tôi chăm lo cho vợ.

Giấc mơ ấp ủ sau 60 năm xa quê

Một ngày của ông sẽ bắt đầu như thế nào?

Khi còn làm việc công sở, tôi đi làm ở Viện bảo tàng Con người. Cuối tuần hai vợ chồng cùng nhau đi trình diễn khắp Châu Âu theo lịch trình mỗi năm.

Hôn nhân 43 năm ngọt ngào của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến - 5
GS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến chụp ảnh cùng Tổng thống Pháp Jacques Chirac năm 2002. 

Từ năm 2009, khi về hưu, cuộc sống thường nhật có thay đổi. Tôi vẫn dậy sớm như hồi còn đi làm, nhưng để nghiên cứu hát đồng song thanh (Hát đồng song thanh là sự hài hòa âm thanh mà người hát có thể sản xuất từ sâu trong cổ họng – PV), viết bài và sửa soạn các bài tham luận cho các hội nghị quốc tế.

Tôi đã tham gia hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam do UNESCO đề xướng trong thời gian hưu trí. 

Trước khi phát hiện bị bệnh ung thư máu, năm 2017 tôi đã tặng cho Viện Âm nhạc Hà Nội hơn 1000 CD nghiên cứu nhạc dân tộc thế giới và hơn 1000 quyển sách tài liệu nghiên cứu dân tộc nhạc học.

Từ ngày biết mình bệnh, tôi có viết hai quyển sách kể lại 50 năm nghiên cứu nhạc truyền thống Việt nam và hát đồng song thanh.

Những năm tháng đã đi qua, ngoài công việc thì điều gì khiến ông cảm thấy hạnh phúc nhất? Vui vẻ nhất?

Suốt 43 năm qua, tôi cảm thấy hạnh phúc nhất là vợ chồng tôi đã tạo một hình ảnh đẹp cho thế giới nghệ sĩ. Đó là lòng chung thủy với nhau, không một tiếng xấu trong cuộc sống, và luôn làm đẹp hình ảnh Việt Nam trong làng văn nghệ thế giới.

Hôn nhân 43 năm ngọt ngào của GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến - 6
« Mỗi ngày tôi nói với vợ « Ba thương Má » và bà luôn đáp lời « Má cũng vậy », rồi cả hai cùng cười xòa. Nhờ vậy mà ít khi gây với nhau và tình yêu ngày càng đậm đà ».

Ông bà có định về sống tại Việt Nam những năm tháng sau này không?

Vợ chồng tôi mong muốn trở về sống ở Việt Nam trong những ngày cuối đời. Đó là giấc mơ của những người xa quê hương gần 60 năm. Chúng tôi chỉ sợ người trong nước không coi chúng tôi là người Việt mà chỉ coi là Việt Kiều!

Xin trân trọng cảm ơn ông đã dành thời gian chia sẻ. Kính chúc ông bà luôn nhiều sức khỏe và an vui trong cuộc sống!

Băng Châu

https://dantri.com.vn/van-hoa/hon-nhan-43-nam-ngot-ngao-cua-gsts-tran-quang-hai-va-danh-ca-bach-yen-20210617141835109.htm

Site : spoons players around the world created by tran quang hai ON FACEBOOK


https://www.facebook.com/groups/449977632019384/

TRAN QUANG HAI

About

Ce groupe créé par TRAN QUANG HAI a pour but de réunir toutes les personnes qui aiment jouer des cuillers dans le monde

This group created by TRAN QUANG HAI has the intention to gather all peop… See More

PublicAnyone can see who’s in the group and what they post.

VisibleAnyone can find this group.Paris, France

General Group

TRAN QUANG HAI practises the deep and low voice with sub fundamental, 21.02.2021 in Valenton


TRAN QUANG HAI practises the deep and low voice with sub fundamental, 21.02.2021 in Valenton

13 views•Feb 21, 202120ShareSaveQuangHai Tran 6.73K subscribers TRAN QUANG HAI practises the low and deep voice with the sub fundamental . This is his own style .

STEPHANE LAGARDE : Tran Quang Hai, 52 ans, ethnomusicologue, est son propre cobaye pour ses recherches sur la voix. L’empire des sons, Journal LIBERATION 10.10.1996


Portrait

Tran Quang Hai, 52 ans, ethnomusicologue, est son propre cobaye pour ses recherches sur la voix. L’empire des sons.

Par Stéphane LAGARDE

Tout commence par un embouteillage. «Je chantais coincé sur le

périph’ lorsque, tout à coup, en prononçant la lettre L, j’ai entendu un sifflement. J’ai couru à la maison et je me suis enregistré.» Tran Quang Hai ­ Océan illuminant ­ n’a rien d’un illuminé. Pourtant, quand en 1971 il perce le mystère des voix mongoles, ses collègues chercheurs s’étonnent. La technique a de quoi surprendre: elle permet à l’interprète de produire deux sons en même temps à des niveaux différents.

Tran est depuis vingt-six ans son propre sujet de recherche. De concert en colloque, son chant enchante le monde entier. L’an passé, au Tuva, il a obtenu non sans fierté la carte de membre du Khoomei, distinction réservée aux chanteurs de gorge professionnels. «Si vous trouvez quelqu’un qui chante mieux que moi, dites-le, on fera un duo.» Passé maître du chant triphonique, Tran fredonne la Neuvième de Beethoven d’un seul souffle. Debout, le corps tendu, la tête en arrière, tout son être se met à vibrer. Un son échappe, venu de nulle part. C’est l’Hymne à la joie! Les visiteurs n’en reviennent pas: «Ce type est une chorale à lui tout seul!» Deux harmoniques sur une base fondamentale, soit trois voix en une seule gorge. Cela valait bien une médaille.

Dans son petit bureau saturé d’appareils de mesure, Tran ne participe guère au branle-bas qui agite le musée de l’Homme depuis la décision présidentielle de transférer certains objets au Louvre. Juste le temps pour un état des lieux furieux sur le manque de moyens, le manque d’envie d’un musée sans subventions. Les huit mille instruments de la réserve d’ethnomusicologie, recouverts de plastique, le désolent. Il plaisante en imitant le timbre métallique du synthétiseur. C’est lui qui doublait Nono le petit robot dans le dessin animé japonais des années 80. «Je dois mon talent au travail et à mes ancêtres.» Avec un arrière-arrière-grand-père musicien de cour, un grand-père joueur de luth et un père vice-président du Conseil international de musique à l’Unesco, on a la musique dans la peau. Sa fille chante à deux voix depuis l’âge de 5 ans. Auteur de plusieurs disques à la vièle chinoise, à la cithare vietnamienne ou encore à la vina indienne, il compose également pour le cinéma.

Les enregistrements qu’il archive au musée de l’Homme servent de base à sa recherche: «Je préfère le travail de bureau aux grands espaces.» Quand l’émission Envoyé spécial lui propose une semaine de tournage en Mongolie, il refuse. L’aventure est ailleurs. A Paris, par exemple, lorsqu’il expose ses cordes vocales aux rayons X pendant 10 minutes. La science réclame du concret, et la radiographie permet de constater directement les effets de son travail. Le résultat est probant (le Chant des harmoniques, un film plusieurs fois primé), mais pas sans danger. «C’est l’équivalent de 6 000 radios des poumons. Je sacrifie ma vie à mes recherches, heureusement Dieu est là.» Quand Tran chante, il ferme les yeux. Et il chante partout: en voiture, sous la douche, au bureau. Ses collègues admirent ce regard intérieur, «cette force de concentration que n’ont pas les Occidentaux».

Quand on lui parle de sérénité, il sourit. Se rallume une beedie, bredouille deux trois trucs sur les arts martiaux et reparle musique. Avec les années, sa voix est devenue plus grave. Il a commencé baryton, désormais il se consacre à l’étude du chant des moines tibétains. Le «O» de la prière, la fameuse harmonique n$10 qui demande tellement de travail et n’a rien à voir avec le «snobisme» des club de zen pour stressés occidentaux. Il en fait la preuve. Sur le sonographe, Tran voit sa voix, elle oscille entre 35 (très grave) et 2 000 Hz (aigu). Le «O» moyen est de 185 Hz, on est loin de l’harmonie universelle.

Hors du CNRS, le chercheur devient médecin. De gentil docteur Jekyll, il se transforme en un Mister Hyde doux rêveur. Tran veut changer la vie par le chant. Une voix dans tous ses éclats, utilisée jusqu’à l’accouchement sans douleur. A l’écouter, les problèmes conjugaux sont solvables dans l’air. Il conseille le «faux baiser de Rodin» aux couples en péril: les amants enlacés se font face, bouche à bouche. Pendant que l’un chante, l’autre remue les lèvres et produit la mélodie. Il s’amuse: «30% des disputes peuvent être résolus par cette méthode.» Il songe même à repeupler l’Europe.

Mais derrière le côté savant fou se dissimule l’humoriste. Physique d’opérette, ventre rond et grande bouche, il peut jouer Pop Corn avec n’importe quel instrument traditionnel. «Je suis le virtuose de la guimbarde, lance-t-il, fier de son effet. Je fais de la musique comme d’autres de la cuisine, en mélangeant les ingrédients.» Un opéra bouffe revendiqué sérieux. Avec des élèves du bac option musique, il monte un orchestre de 100 cuillères et décroche le titre de professeur au Conservatoire. La cuillère à café comme la louche deviennent de véritables instruments rythmiques et mélodiques. D’ailleurs la mélodie est partout, y compris dans les langues. Il en parle une dizaine, reproduit leurs intonations, parfois sans les comprendre. Car depuis l’en- fance, Tran jalouse les imitateurs. Il les connaît tous, de Le Luron à Leeb, en passant par «ce Canadien formidable qui imite 120 personnes dans son spectacle.» Modeste, il déclare: «Je ne peux pas chanter comme France Gall, mais j’arrive à reproduire les accents de l’opéra de Pékin.» Dans le bruit et la fureur du monde, Tran Quang Hai reprend le chant des autres avec enthousiasme. Son bras bat la mesure, il entonne Marinella de Tino Rossi, suivi d’un jodel des montagnes suisses. Les Voix du monde, une anthologie des expressions vocales à laquelle il a collaboré, sortira fin septembre.

Un vaste chant des possibles reste encore à explorer. Dans son laboratoire, Tran se met à rêver: «Mon prochain but, jusqu’à ma mort, c’est de chanter à quatre voix.» Il a bon espoir. Le petit homme sait que, comme le cygne, on ne meurt pas en chantant.

photo LAURENT MONLAÜ Tran Quang Hai en 6 dates 1944 Naissance à Linh Dông Xa, au Viêt-nam 1968 Intègre le départe-ment ethno-musicologie du musée de l’Homme 1984 Rencontre du chanteur mongol Sundui, qu’il considère comme son maître 1989 Sortie du film le Chant des harmoniques 1995 Président du jury d’un festival de chant au Tuva 1996 Reçoit la médaille de cristal du CNRS.

Stéphane LAGARDE

LỜI NGỎ CỦA TRẦN QUANG HẢI nhân dịp lễ tổ chức sinh nhựt thứ 99 của cố GS TRẦN VĂN KHÊ tại VIỆT NAM 24.07.2020


LỜI NGỎ CỦA TRẦN QUANG HẢI nhân dịp lễ tổ chức sinh nhựt thứ 99 của cố GS TRẦN VĂN KHÊ tại VIỆT NAM 24.07.2020

Kính chào quý vị ban tổ chức và quan khách,

Tôi tên là TRẦN QUANG HẢI, trưởng nam của cố GS TRẦN VĂN KHÊ, xin thành thật cám ơn ban lãnh đạo trường đại học VĂN LANG, chị THẾ THANH, chị KIM CƯƠNG, anh NGUYỄN ĐẮC XUÂN, chú BÁ THÙY và cô HỶ KHƯƠNG , anh NGUYỄN NHÃ, anh LÊ QUỐC ÂN, các em SĨ HOÀNG, HUỲNH KHẢI , THANH HIỆP và cháu NGỌC HÂN đã tận tình tổ chức ngày sinh nhựt lần thứ 99 của thân phụ tôi đã quá vãng 5 năm nay.

Vì  đang điều trị bịnh ung thư máu , bịnh tiểu đường khá nặng và bịnh suy thận, thêm vào đó bịnh dịch COVID-19 lan tràn khắp thế giới tôi không thể trở về Việt Nam để tham dự chương trình này.

Tôi trân trọng chúc buổi lễ thành công như ý và tin rằng thân phụ tôi sẽ ngậm cười nơi chín suối trước tấm lòng  ưu ái của những người bạn còn thương nhớ thân phụ tôi.

Nay kính

TRẦN QUANG HẢI

TRẦN QUANG HẢI & TRẦN VĂN KHÊ
TRẦN QUANG HẢI (23.07.2020)

HAPPY BIRTHDAY TO BACH YEN MY BELOVED WIFE (09.06.2020)


 

What do you want to do ?

New mailCopy

HAPPY BIRTHDAY TO BACH YEN MY BELOVED WIFE (09.06.2020)

HAPPY BIRTHDAY TO BACH YEN MY BELOVED WIFE

WITH JOY AND HAPPINESS during her special day 09.06.2020

JOYEUX ANNIVERSAIRE À MA BIEN AIMEE BACH YEN

QUE CETTE JOURNEE SPECIALE LUI APPORTE JOIE ET BONHEUR 09.06.2020

Một bài thơ con cóc tặng người vợ đã chung sức với tôi trên 40 năm qua

Hôm nay mừng đón ngày sinh

Của người vợ quý mà mình cưng thương

Một ngày hạnh phúc yêu đương

Vợ chồng sát cánh trên đường dân ca.

Limeil Brevannes 09.06.2020

Trần Quang Hải

Trương Như Bá – Kyluc.vn: Đặng Văn Khai Nguyên – Người kế vị “vua đàn môi” Việt Nam


 

What do you want to do ?

New mailCopy

Đặng Văn Khai Nguyên – Người kế vị “vua đàn môi” Việt Nam

12-08-2016

(Vietkings) Mới ngoài 20 tuổi Đặng Văn Khai Nguyên đã chơi được 25 loại Đàn môi, sở hữu 600 chiếc Đàn môi và đi biểu diễn loại đàn này ở nhiều nơi trong nước và châu Âu. Anh là học trò xuất sắc của GS.TS.Trần Quang Hải – người được tôn vinh là “vua muỗng” và “vua Đàn môi” của Việt Nam. Khai Nguyên được xem là người kế vị xuất sắc của GS.TS.Trần Quang Hải.

Qua e-mail GS.TS Trần Quang Hải từ Pháp với nội dung giới thiệu về một cậu học trò chơi đàn môi“Cậu Khai Nguyên năm nay 25 tuổi, là học trò đàn môi của tôi từ nhiều năm qua. Hiện Khai Nguyên chơi đàn môi giỏi hơn tôi và đã trình diễn ở nhiều chương trình truyền hình Việt Nam từ năm 2015”, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã tiếp nhận hồ sơ, xem xét, thẩm định và chính thức công bố xác lập kỷ lục Việt Nam đến chàng trai Đặng Văn Khai Nguyên.

Cổng Thông tin kỷ lục Việt Nam đã có cuộc trò chuyện cùng Khai Nguyên xung quanh chuyện sử dụng “chiếc Đàn tỏ tình” của các thanh niên dân tộc vùng cao Việt Nam này:

Chào anh, được biết anh là một trong số những môn sinh ưu tú về Đàn môi của GS.TS Trần Quang Hải, anh cho biết cơ duyên nào đã đưa anh đến với Thầy Hải và anh đã học “nghề” này trong bao lâu?

Đặng Văn Khai Nguyên: Cơ duyên đến với Đàn môi của tôi cũng rất tình cờ, khoảng 6 năm trước tôi được xem một chương trình Văn hoá nghệ thu�����t trên đài truyền hình, có giới thiệu GS.TS Trần Quang Hải từ Pháp về Việt Nam biểu diễn nghệ thuật Đàn môi và đánh muỗng, tôi rất ấn tượng những loại hình âm nhạc dân tộc độc và lạ này. Tôi tự tìm mua 2 cây Đàn môi H’mông đầu tiên để tập chơi và thời gian ngắn sau đó, tôi trực tiếp liên lạc qua email với GS.TS Trần Quang Hải để nhờ sự hướng dẫn chuyên môn và được ông hướng dẫn rất nhiệt tình, đồng thời nhận tôi làm học trò. Từ đó, hai thầy trò thường xuyên trao đổi với nhau qua email và các video clip hướng dẫn và thực hành, tính đến nay đã được 5 năm.

Màn biểu diễn đàn môi mang tên “Sơn ngôn” của Đặng Văn Khai Nguyên – Kỷ lục gia Việt Nam với kỷ lục Người chơi được nhiều loại đàn môi nhất.

Trước khi học Đàn môi, anh có học qua những loại Đàn nào chưa?

Đặng Văn Khai Nguyên:  Như đã nói ở trên, cái duyên đến với Đàn môi của tôi thật sự tình cờ, vì từ trước tôi không theo đuổi bất kỳ bộ môn nghệ thuật nào cũng như chơi một loại nhạc cụ nào khác.

Hiện nay anh chơi được tất cả bao nhiêu loại Đàn môi?

Đặng Văn Khai Nguyên: Hiện tại tôi chơi được hơn 25 loại Đàn môi của Việt Nam và trên thế giới, tiêu biểu nhất là Đàn môi H’mông Việt Nam, Đàn môi Morchang của Ấn Độ, Khomus của Yakutia-Nga, Karinding của Indonesia, Maranzano của Italia…

Vậy theo anh Đàn môi nào khó chơi nhất? Đàn nào là dễ chơi nhất?

Đặng Văn Khai Nguyên: Theo đánh giá chung của những người chơi Đàn môi thì Đàn môi đồng Kou Xiang của Trung Quốc là loại khó chơi nhất, ngoài ra còn có Đàn môi tre. Còn loại Đàn dễ chơi nhất có lẽ là Đàn môi H’mông Việt Nam, loại Đàn này nhỏ gọn, đặt lên miệng khảy là có thể tạo ra âm thanh, rất dễ tập chơi.

Vậy trước đây, Đàn môi chủ yếu được dùng như một phương tiện tỏ tình của các chàng trai cô gái ở vùng cao, thì ngày nay loại nhạc cụ này được sử dụng như thế nào?

Đặng Văn Khai Nguyên:  Hiện nay một số nhạc sĩ, nghệ sĩ chuyên nghiệp dùng Đàn môi để độc tấu hay hòa tấu với những nhạc cụ khác, ứng dụng Đàn môi trong âm nhạc điện tử, lồng tiếng, nhạc nền cho phim..sử dụng Đàn môi đang dần phổ biến hơn trước.

GS.TS Trần Quang Hải và trò cưng (Ảnh FB)

Đàn môi thường hòa tấu với các loại nhạc cụ nào?           

Đặng Văn Khai Nguyên: Ở Việt Nam, những người nghệ sĩ đã chuyển hóa và làm mới âm thanh của Đàn môi qua việc kết hợp với những nhạc cụ dân tộc khác để tạo một giai điệu mới lạ, hấp dẫn. Còn trên thế giới thì từ lâu Đàn môi được trình diễn độc tấu, song tấu hay tập thể, ngoài ra còn kết hợp với những nhạc cụ hiện đại như: trống, piano, organ, violon, didgeridoo (một loại sáo châu Úc) Hang (trống làm bằng kim thép), Beatbox (trống miệng)…

Anh chơi Đàn môi theo bài bản có sẵn (của nhạc sĩ sáng tác) hay tự phát từ cảm hứng của mình?

Đặng Văn Khai Nguyên: Hiện nay tôi vẫn chưa tìm được một bản nhạc nào dành riêng cho Đàn môi, mà Đàn môi chỉ được kết hợp với một số những nhạc cụ khác để tạo nên một tác phẩm hoàn chỉnh.

Hiện tại anh có tất cả bao nhiêu loại Đàn môi trên thế giới?

Đặng Văn Khai Nguyên: Về số lượng Đàn môi, hiện tôi có 600 cây Đàn (gọi là “cây Đàn” nhưng thực ra cây Đàn lớn nhất chỉ chừng 2 gang tay và cây nhỏ nhất chỉ bằng ngón tay út hoặc nhỏ hơn nữa), trong đó có hơn 100 cây của 25 nước trên thế giới (trên tổng số 30 nước có Đàn môi).

 

Bộ sưu tập đàn môi của Khai Nguyên

 

Nguyên nhân nào đưa anh đến với khán giả nước ngoài ở Italia, Nga? Cảm xúc của họ như thế nào khi nghe anh biểu diễn?

Đặng Văn Khai Nguyên: Qua một số thông tin từ báo chí, tôi có cơ hội được tập luyện một số tiết mục có Đàn môi trong chương trình âm nhạc dân tộc Việt Nam ở sự kiện triển lãm thế giới Expo Milano 2015. Ngoài ra do có kỹ thuật chơi Đàn môi Khomus (Yakutia-Nga) theo đúng truyền thống người Yakutia nên tôi đã được mời góp mặt vào một số chương trình truyền hình và báo chí của đất nước Italia, Nga. Khi biểu diễn xong, những tràng pháo tay nồng nhiệt của khán giả đã nói lên tất cả tình cảm mà họ đối với tôi cũng như tiếng đàn môi.

Đặng Văn Khai Nguyên trong một lần biểu diễn đàn môi (Ảnh Internet)

Nắm vững những nguyên tắc kỹ thuật, nghệ thuật của Đàn môi, anh đã chế tạo ra những chiếc Đàn môi nào của riêng anh chưa?

Đặng Văn Khai Nguyên: Hiện tại tôi đã sáng tạo ra được các loại Đàn môi tre với đủ kỹ thuật chơi là “Khảy”, “Gõ” và “Giật dây”. Tôi là nghệ nhân Đàn môi đầu tiên trên thế giới sáng chế và thực hành thành công loại Đàn môi tre có từ 1 đến 4 lưỡi, ngoài ra còn tạo thêm một số loại Đàn môicó hai đầu (Đàn môi hai đầu với hai kỹ thuật chơi khác nhau) và Đàn môi tre bé bằng đầu đũa…Cũng xin nói thêm, vừa qua một Viện Bảo tàng chuyên Sưu tập các loại Đàn môi trên thế giới (đặt tại Nga) có lời mời tôi gửi vào Bảo tàng ấy một bộ Đàn môi tre do tôi sáng chế. Có lẽ trong năm nay, Bộ Đàn môi tre của tôi sẽ hiện diện ở một khu trưng bày nào đó của Bảo tàng này.

 

Khai Nguyên nhận bằng xác lập kỷ lục Việt Nam trong Hội ngộ Kỷ lục gia Việt Nam lần thứ 31

Cho biết cảm tưởng khi được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục: “Người chơi được nhiều loại Đàn môi nhất”?

Đặng Văn Khai Nguyên: Tôi thật sự vui mừng vì những cố gắng của mình trong việc sưu tầm, nghiên cứu và chơi được nhiều loại Đàn môi đã được cộng đồng người yêu nhạc, yêu văn hóa truyền thống Việt Nam biết đến. Xin chân thành cảm ơn người Thầy yêu quý của tôi là GS.TS Trần Quang Hải đã hướng dẫn, dìu dắt tôi để tôi có được ngày hôm nay. Cám ơn Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu, thẩm định để công nhận kỷ lục Việt Nam cho tôi với danh hiệu: “Người chơi được nhiều loại Đàn môi nhất”.

 

Cám ơn tài năng trẻ, chúc anh luôn vui khỏe và thành công trên bước đường nghệ thuật.

Clip Khai Nguyên biểu diễn đàn môi:

Trương Như Bá – Kyluc.vn