Category Archives: TRAN QUANG HAI

Trần Việt Hải : Đôi dòng liên lạc giới thiệu GS NS Trần Quang Hải nhân dịp ra mắt sách tại CSU Long Beach, California ngày 10.02.2019


Đôi dòng liên lạc…
viethai

TRẦN VIỆT HẢI

Nhân dịp GS.NS. Trần Quang Hải sẽ sang Hoa Kỳ từ Paris, và cũng là dịp Tết ta, dịp ra mắt sách Trần Quang Hải 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt, cùng là ngày văn học nghệ thuật của liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, tôi muốn giới thiệu anh Trần Quang Hải cùng quý niên trưởng và quý anh chị em, để chúngta liên lạc qua tinh thần “trước lạ sau quen” nhé.

tqhportrait

Gs. Ts.. Trần Quang Hải Gs. Ns. Trần Quang Hải

Ban tổ chức buổi lễ ra mắt sách Trần Quang Hải tại đại học California State University at Long Beach sẽ phân phối thiệp mời ra cho quý thân hữu, bạn bè cùng quý đồng hương. Để có vé mời, xin quý vị liên lạc với Lâm Dung, Thụy Vy, Khánh Lan hay chị Bích Ty hoặc anh Trần Mạnh Chi.

Trong buổi lễ sẽ có tiết mục trình diển áo dài Việt Nam, BTC cần 14 chị em và 14 anh em tham dự tiết mục này, xin ghi danh với các anh chị trên. Sẽ có một buổi tập dợt. Những tiết mục văn nghệ tại hí viện CSULB hay trong buổi hội ngộ Annual Reunion party, quý thân hữu nào tham dự văn nghệ hay ca hát cũng xin liên lạc với các bạn có tên ở trên.

Tiểu sử Trần Quang Hải
1.Biographie de Tran Quang Hai 2019 in English

TRAN QUANG HAI ‘s biography in English
———————————————————————————-

Trần Việt Hải xin giới thiệu link sau:
https://tranquanghai.info/tran-viet-hai-ngay-ra-mat-sach-1…/

Other sources: https://prabook.com/web/quang_hai.tran/1414545

https://www.allmusic.com/…/tran-quang-hai-mn00007…/biography

The International Who’s Who in Popular Music 2002:
https://www.last.fm/music/Tran+Quang+Hai+and+Bach+Yen/+wiki
—————————————————————————–
TQH-CHEVALIER-Dhonneur-ethnomusicologue-300x248

TQH2-300x300

TQH4-300x168

TQH5-200x300
VietHai Tran

20 Tháng 10

ARTICLES » TRẦN VIỆT HẢI : Ngày ra mắt sách 10 tháng 2, 2019 tại trường đại học CSU-Long Beach, California, USA. Thang 2 2019 Chiều Văn Hóa CSU-LB (Sunday) và vinh danh GS. TQH Paris.

Trần Việt Hải: Ngày ra mắt sách 10 tháng 2, 2019 tại trường đại học CSU-Long Beach, California, USA. Thang 2 2019 Chiều Văn Hóa CSU-LB (Sunday) và vinh danh GS. TQH Paris.
20.10.2018 by Hai Tran Quang.

Trần Việt Hải xin giới thiệu link sau:
https://tranquanghai.info/tran-viet-hai-ngay-ra-mat-sach-1…/

Other sources: https://prabook.com/web/quang_hai.tran/1414545

https://www.allmusic.com/…/tran-quang-hai-mn00007…/biography

The International Who’s Who in Popular Music 2002:
https://www.last.fm/music/Tran+Quang+Hai+and+Bach+Yen/+wiki
—————————————————————————–
TQH-CHEVALIER-Dhonneur-ethnomusicologue-300x248
Ce qui suit est les mots introductifs du Dr Nguyen Vi Son, MD (psychiatrie et neurologie, Texas). Đôi dòng intro với BS. Vi Sơn, Texas:

vi son

BS NGUYỄN VI SƠN

Kính thưa quý bạn:
Bấy nhiêu là hình ảnh, bấy nhiêu là kỷ niệm, và bấy nhiêu đoạn đường đã đi qua của một người mang tên Trần Quang Hải. Mà chúng cũng thể hiện cái đa dạng của tài hoa Trần Quang Hải.

Xin những hình ảnh này, những gì đã mang đến cho tôi bao cảm xúc , sẽ làm tôi luôn nhớ mãi anh Hải là một Người Việt Nam, và là một người bạn. Mà tôi muốn nhắc lại một lần nữa, anh là một người Việt Nam. Một người Việt Nam để cho tôi, để cho bạn hãnh diện vì những cống hiến của anh cho cuộc đời, cho nhân loại. Những Bẳng Legion d’Honneur do Tổng Pháp trao tặng, những âm thanh kỳ ảo cuả đàn muỗng, cuả đàn môi, cũa đàn tranh, , đàn Tây Ban Cầm. và thêm nữa những dấu chân anh cùng người yêu một đời Bạch Yến trên khắp năm châu, bốn bể,cũng không làm sao nói hết sự nghiệp của anh, tình yêu của anh, cái tinh hoa của anh hiến tặng cho đời.

Dear friends:

The above pictures carry with them so many memories, bringing back the scenery of so many byways and highways a man named Trần Quang Hải had covered in his memorable and outstanding life. They are also the embodiment of the multi facet talents of this amazing artist and scholar.

These images, which have brought to me so much emotion, have been a constant reminder that my friend Trần Quang Hải is a Vietnamese and a great friend. And I have to repeat one more time, yes Hải is a VIETNAMESE – a Vietnamese you and me will always be proud of, be inspired by, due to the many contributions he has brought to life and to humanity. The highest honor bestowed on him by the French President, the enchanting albeit mysterious sounds of so many different musical instruments he played , along with the imprints left behind by him and his beloved spouse Bạch Yến will never be enough to reflect the exquisite, the most achieved gift that he had contributed to life.

Dear Hải: It’s a Joy and an Honor I call you a Friend. And what a Great friend to have in this life!.

Vi Sơn

Mes chers amis,

Les images ci-dessus emportent avec elles tellement de souvenirs. Elles me font penser à tous les tronçons de chemins divers parcourus par un homme nommé Trần Quang Hải. Elles reflètent aussi les aspects multiples d’un talent si rare.

Ces images qui m’ont apporté tellement d’émotions, sont aussi un rappel constant dans mon coeur que Trần Quang Hải est un Vietnamien et un grand ami. Et je dois répéter une fois de plus que Hải est Vietnamien. Un Vietnamien à inspirer à vous et à moi un sentiment superbe de fierté quand on pense à toutes les contributions que cet artiste, cet érudit a contribué à la Vie, à l’Humanité. La Légion d’Honneur que le Président de la République Française lui a offert, les sons enchanteurs et ésotériques inculqués dans les pièces de musique qu’il a interprétées, les longues routes qu’il a parcourues avec sa belle épouse Bạch Yến ne seront jamais assez à refléter ce don si rare, ce cadeau si précieux qu’il a apporté à nous tous.

Cher Trần Quang Hải, c’est avec joie et honneur que je t’appelle: MON AMI.

Vi Sơn
———————————————————————————–
Trần Việt Hải: Ngày ra mắt sách 10 tháng 2, 2019 tại trường đại học CSU-Long Beach, 1250 Bellflower Boulevard, Long Beach, CA 90840, USA

Tháng 2 2019 Chiều Văn Hóa CSU-LB (Sunday) và vinh danh GS. TQH Paris.

Ngày 2 thàng 10, năm 2018

Lời Nói Đầu

Ban Biên Tập chúng tôi thật hân hạnh thay mặt cho liên nhóm NVNT và TTG đứng ra thực hiện Tuyển Tập Trần Quang Hải mang tên là « Trần Quang Hải : 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt »; để vinh danh và tri ân người nhạc sĩ đã có những đóng góp quý giá vào kho tàng dân tộc nhạc thế giới và đã đào tạo nhiều môn đệ tiếp nối bước chân ông ở nhiều đại học trên thế giới.

Nhạc sĩ kiêm giáo sư tiến sĩ Trần Quang Hải đã đưa chi nhánh âm nhạc ViệtNam trong dòng dân tộc nhạc học góp mặt ở khắp năm châu. Với cuộc sống ở nước ngoàigần nửa thế kỷ, GS. Hải luôn muốn đưa cái hay của Việt Nam ra dòng chính thếgiới. Ông làm phiên dịch viên khi soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống mà còn chủ trương nỗ lực bảo tồn nó. Ông góp mặt tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của dân tộc ViệtNam. Ngoài ra ông đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc ViệtNam tại hải ngoại. Giáo sư Trần Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âmnhạc về các loại như thanh nhạc ca hát và âm nhạc dựa vào các nhạc cụ truyềnthống Việt Nam. GS. Hải còn viết nhiều bài biên khảo,về những nghiên cứụ vàtham luận về âm nhạc dân tộc học cho nhiều tạp chí nổi tiếng thế giới như TheWorld of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc
Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ)và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết này của ông về âm nhạc ViệtNam và châu Á cũng đã được ghi nhận lại trong từ điển New Grove. Trong phạm vidân tộc nhạc học GS. Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiêncứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểucho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hộiâm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (ở Mỹ và Pháp). Giáo sư Trần Quang Hải còn là thành viên SACEM (Societyof Authors, Composers and Publishers of Music) và ông cũng được trao tặng bảoquốc huân chương (Ordre National de la Légion d’Honneur) của Pháp.

Do vậy Ban Biên Tập chúng tôi hoàn thành tập sách này với mục tiêu ghi nhận sự đóng góp quý báu của GS/TS Trần Quang Hải. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian mong rằng quyển sách này sẽ được quý độc giả các nơi đón nhận như mộttác phẩm tham khảo trong kho tàng văn hóa Việt Nam về người nhạc sĩ độc đáo củachúng ta, với công trình tích cực là duy trì và bảo tồn văn hóa Việt, hầutruyền đạt đến những thế hệ tiếp nối bản sắc dân tộc Việt cho ngày sau. Trong tinh thần đó, Ban biên tập chúng tôi chân thành tri ân ông: GS/TS Trần QuangHải.
Thay mặt,

GS. Dương Ngọc Sum, Cố vấn.
NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN.
———————————————————————————
Subject: GS/TS Trần Quang Hải.

Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải giúp tôn vinh âm nhạc Việt Nam
Trần Quang Hải là một nhạc sĩ tài năng sống ở Pháp và đã tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại 65 quốc gia trên thế giới. Với cha mình, giáo sư nổi tiếng Tiến sĩ Trần Văn Khê, và vợ ông, ca sĩ nổi tiếng Bạch Yến, ông đã đóng góp trong nhiều năm để nghiên cứu, quảng bá và tôn trọng âm nhạc Việt Nam.

Trần Quang Hải sinh ra trong một gia đình có năm thế hệ nhạc sĩ ở miền NamViệt Nam. Cha của ông, Giáo sư Trần Văn Khê, nổi tiếng vì đã giúp quảng bá âmnhạc Việt Nam truyền thống trên khắp thế giới và tôn vinh nó trong các lĩnh vực nghiên cứu và biểu diễn.

Ông Hải tốt nghiệp từ Nhạc viện Quốc gia Sài Gòn trước khi định cư tại Pháp để học tập và nghiên cứu âm nhạc tại Đại học Sorbonne và nhạc dân tộc học tại Đại học Khoa học Xã hội ở Paris. Ông bắt đầu nghiên cứu về âm nhạc phương Đông tại Bảo tàng Man vào năm 1968.

Năm sau, ông Hải được bổ nhiệm vào vị trí tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia trong khi vẫn còn là sinh viên. Anh quyết định tập trung vào kỹ thuật ca hát âm nhạc, mà anh đã phát hiện vào năm 1969. Nghệ thuật, bao gồm cả việcsản xuất hai âm thanh đồng thời từ cổ họng, khiến anh nổi tiếng trên toàn thế giới như chuyên gia số một trong ca hát âm nhạc.

« Sau nhiều tháng nghiên cứu, tôi đã phát triển một hệ thống các phương pháp để ca hát âm nhạc, » nhà âm nhạc dân tộc học nói. « Cho đến nay, tôi đã có 8.000 người học cho chủ đề này ở 65 quốc gia. »

Giáo sư Quang Hải đã nhận được hơn 30 giải thưởng quốc tế cho các nghiêncứu âm nhạc của mình. Năm 2002, Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã trao Huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh cho Tiến sĩ Hải để ghi nhận những đóng góp của ông cho nghiên cứu về ca hát âm nhạc trên thế giới.

Một bậc thầy về âm thanh, nhà nghiên cứu âm nhạc nổi tiếng hầu như có thể chơi nhiều nhạc cụ truyền thống Việt Nam như đàn thập lục 16, đàn cò , sáo và thậm chí cả cặp muỗng. (Anh ấy đã mang lại rất nhiều cải tiến cho kỹ thuật trò chơi muỗng.)

Tiến sĩ Quang Hải thấy mình là một sự pha trộn của một số loại âm nhạc –Đông và phương Tây, truyền thống và đương đại. Âm nhạc của anh ấy không có biên giới. Anh nói anh đã tạo ra một tầm nhìn toàn cầu về thế giới và âm nhạc ViệtNam. Nó nhằm mục đích kết hợp tất cả các thể loại âm nhạc truyền thống trong một thế giới âm nhạc điển hình.

Mặc dù ông đã sống ở nước ngoài được hơn 50 năm, ông Hải luôn nhìn về quê hương của mình với một cảm giác đặc biệt. Ông thực hành lòng yêu nước theo cách riêng của mình. Phiên dịch viên soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống một cách nhiệt tình mà còn nỗ lực bảo tồn nó. Anh đã tổ chức 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của đất nước. Ông cũng đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại Pháp, Ý và Hoa Kỳ.

Giáo sư Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc các loại, bao gồm ca hát và âm nhạc cho các nhạc cụ truyền thống Việt Nam.

Nhà khoa học nổi tiếng đã viết nhiều bài báo và sách cho các tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được xuất bản trên từ điển New Grove.

Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phátbiểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (Mỹ) và Kế hoạch chính thức ( Pháp).
———————————————————————————
L’ethnomusicologue Tran Quang Hai contribue à honorer la musique vietnamienne

Tran Quang Hai est un musicien talentueux qui vit en France et a donné plus de 3000 concerts dans 65 pays à travers le monde. Avec son père, le professeur renommé Dr Tran Van Khe, et sa femme, la célèbre chanteuse Bach Yen, il contribue depuis de nombreuses années à la recherche, à la promotion et au respect de la musique vietnamienne.

Tran QuangHai est né dans une famille avec cinq générations de musiciens dans le sud du Vietnam. Son père, le professeur Tran Van Khe, est bien connu pour aider à promouvoir la musique traditionnelle vietnamienne dans le monde et à l’honorer dans les domaines de la recherche et de la performance.

M. Hai est diplômé du Conservatoire National de Saigon avant de s’installer en France pour étudier la musicologie à l’Université de la Sorbonne et l’ethnomusicologie à l’Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales de Paris. Il a commencé ses recherches sur la musique orientale au Musée de l’Homme en 1968.

L’année suivante, M. Hai a été nommé à un poste au Centre national de la recherche scientifique, alors qu’il était encore étudiant. Il a décidé de se concentrer sur les techniques de chant diphonique, qu’il a découvert en 1969. L’art, qui implique la production de deux sons simultanément à partir de la gorge, l’a rendu célèbre dans le monde entier comme l’expert numéro un en chant diphonique.

« Après plusieurs mois de recherche, j’ai développé un système de méthodes pour le chant diphonique », rappelle l’ethnomusicologue. « Jusqu’à présent, j’ai eu 8000 élèves dans 65 pays. »

Le professeur Quang Hai a reçu plus de 30 prix internationaux pour ses études musicales. En 2002, le président français Jacques Chirac a décerné la médaille de la Légion d’honneur au Dr Hai en reconnaissance de sa contribution à la recherche sur le chant diphonique mondial.

Un maître de l’acoustique, le chercheur de musique renommé peut jouer virtuellement divers instruments traditionnels vietnamiens tels que la cithare à 16 accords, la vìele à deux cordes , la flûte et même la cuillère. (Il a apporté beaucoup d’améliorations à la technique de jeu de cuillère.)

Dr Quang Hai se considère comme un mélange de plusieurs types de musique – orientale et occidentale, traditionnelle et contemporaine. Sa musique est donc sans frontières. Il a dit qu’il a forgé une vision universelle du monde et de la musique vietnamienne. Il vise à combiner tous les genres de musique traditionnelle dans un style de la musique du monde.

Bien qu’ayant vécu à l’étranger pendant plus de 50 ans, M. Hai a toujours regardé sa patrie avec un sentiment particulier. Il pratique le patriotisme à sa manière.L’interprète de musique-compositeur non seulement étudie la musique traditionnelle avec enthousiasme, mais fait aussi des efforts pour la préserver. Il a donné 3000 concerts dans plus de 60 pays pour présenter la musique diversifiée du pays. Il a également produit plus de 30 CD audio et vidéo sur la musique vietnamienne en France, en Italie et aux États-Unis.

Le professeur Quang Hai a composé plus de 400 chansons et morceaux de musique de toutes sortes, y compris le chant diphonique et la musique pour les instruments traditionnels vietnamiens.

L’éminent scientifique a écrit de nombreux articles et livres pour des revues de renommée mondiale telles que Le Monde de la Musique (UNESCO), Journal of Asian Music Society (Université Cornell, États-Unis), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Suisse) et Koukin Journal (Tokyo, Japon). Ses articles sur la musique vietnamienne et asiatique ont également été publiés sur New Grove Dictionary.

L’ethnomusicologueTran Quang Hai est membre de nombreuses sociétés de recherche musicale aux États-Unis, en France, au Royaume-Uni et en Belgique. Il a été conférencier invité de plus d’une centaine d’universités dans le monde et a donné plus de 1500 discours à des élèves d’écoles européennes. Dr Hai a également assisté à plus de 130 festivals de musique internationaux. Son nom est apparu dans de nombreux livres, y compris le Dictionnaire de Biographie internationale (RU),International Who’s Who dans la musique (Royaume-Uni), les dirigeants de l’Europe 500 pour le nouveau siècle (US) et Officiel Planète (France).

Giáo Sư Tiến Sĩ Âm Nhạc Trần Quang Hải:

Đôi nét về nhạc sĩ Trần Quang Hải:
https://tranquanghai1944.com/…/09/21/tieu-su-tran-quang-hai/

GS-TS Trần Quang Hải biểu diễn đàn môi:

GS TS Trần Quang Hải + Bạch Yến tại Trung Tâm Văn Hóa Pháp Vân, Mississauga, Canada: https://www.youtube.com/watch?v=ruBbD7t-tRc

Sầm GiangTái Ngộ 16 – Trần Quang Hải – Thơ tình Anh Việt ngữ:

————————————————————————————-
Danh sách bài viết TQH bằng ngoại ngữ
1. Chủ đề hát đồng song thanh
1.Tran Quang Hai & Denis Guillou : Oriiginal Research and Acoustical Analysis in connection with the Xöömij Style of Biphonic Singing
2.Tran Quang Hai & Hugo Zemp : Recherches expérimentales sur le chant diphonique
3.Tran Quang Hai : About the terminology used in overtone/ undertone for thethroat singing/ overtone singing
4.Tran Quang Hai : Recherches introspectives et expérimentales sur le chant diphonique
5.Tran Quang Hai : Throat Singing vs. Overtone Singing / Tradition vs.Expermient: A Case of Harmonic Singing
6.Tran Quang Hai : Method of Learning of Overtone Singing Khoomei
7.Tran Quang Hai : Harmonic Resonantial Voice vs. Diphonic or Formantic Voice –Physiology and Acoustics of Vocal Production in Religioius Music
8.Tran Quang Hai : Ethnomusicology: The Contemporary use of Tuvan Overtones in Western Music
9. Tran QuangHai : Musique Touva

Chủ đề nhạcViệt Nam
1. Tran Quang Hai : An Introduction to Vietnamese Music
2. Tran QuangHai : Musique de la Diaspora vietnamienne
3. Tran Quang Hai : Vietnamese Music in Exile since 1975
4. Tran Quang Hai : Music of the Montagnards of Vietnam
5. Tran Quang Hai : Entretien avec Tran Quang >Hai , ethnomusicologue
6. Tran Quang Hai : An Interview with Prof.Dr Tran Van Khe

Chuyên mục: ARTICLES, EN FRANCAIS, IN ENGLISH, Ra mắt sách TQH 2019, Tiếng Việt, TRAN QUANG HAI, TRAN QUANG HAI Từ khoá liên quan: California ngày 10.02.2019, Trần Việt Hải : Đôi dòng liên lạc giới thiệu GS NS Trần Quang Hải nhân dịp ra mắt sách tại CSU Long Beach

ca khúc Mừng Phật Đản (nhạc và lời Trần Quang Hải) do Ngọc Huyền, Trọng Nghĩa, Vân Khánh, Tuấn Anh trình bày


Thanh Hiệp : GS-TS Trần Quang Hải: “Bạch Yến mang lại nguồn sống cho tôi” , 22.06.2018


22/06/2018 10:13

(NLĐO)- GS-TS Trần Quang Hải và nữ danh ca Bạch Yến vừa tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm ngày cưới tại Paris-Pháp. Ông nói bà chính là nguồn sống để ông vượt qua căn bệnh ung thư máu.

GS-TS Trần Quang Hải: Bạch Yến mang lại nguồn sống cho tôi - Ảnh 1.

GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến

Trong lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành hôn, gia đình, bạn bè, người thân và rất nhiều thế hệ học trò của GS-TS Trần Quang Hải dành tặng ông và nữ danh ca Bạch Yến nhiều lời chúc tốt đẹp. GS Phương Oanh nói: “Anh chị là cặp đôi đẹp nhất trong làng văn nghệ mà chúng tôi biết. 40 năm qua, cả hai đã song hành, cùng mang đến cho khán thính giả nhiều quốc gia trên thế giới rất nhiều dư vị đẹp về âm nhạc dân tộc, về kiến thức văn hóa nghệ thuật, âm nhạc thế giới, nhất là nghệ thuật gõ muỗng, chơi kèn lá độc đáo” – vị nhạc trưởng Trung tâm Phương Ca Paris – Pháp chia sẻ.

Với các nghệ sĩ sân khấu, NS Hà Mỹ Xuân nói: “Tôi xúc động lắm khi chúng tôi thành lập Hội Sân khấu cải lương Về nguồn tại Paris năm 2013, GS-TS Trần Quang Hải đã đến tham dự, chúc mừng. Tại lễ tưởng niệm 100 ngày mất của GS-TS Trần Văn Khê, anh và chị cũng đã đến tham dự, phát biểu hết sức xúc động về cha mình. Tiếp nối sau thầy Khê, anh là người giữ lửa cho âm nhạc dân tộc Việt Nam trên xứ người luôn tỏa sáng” – nữ nghệ sĩ nổi tiếng với vai diễn Trưng Nhị trong vở “Tiếng trống Mê Linh” tâm sự.

GS-TS Trần Quang Hải: Bạch Yến mang lại nguồn sống cho tôi - Ảnh 2.

GS-TS Trần Quang Hải và nữ danh ca Bạch Yến

Riêng đối với GS-TS Trần Quang Hải, ông nói: “Khi biết mình bị ung thư máu, thời gian đầu tôi rất sốc. Cứ nghĩ sẽ không còn đủ thì giờ làm những việc cần làm cho bản thân, cho sự nghiệp. Nhưng bên cạnh tôi đã có Bạch Yến, người vợ hiền, người bạn chí cốt đồng hành cùng tôi qua biết bao gian nan, khó nhọc, đã động viên, an ủi để tôi có đủ nghị lực và nguồn sống mới, đối diện với bệnh tật và tìm phương thức điều trị. Bạch Yến lo lắng chu đáo cho tôi từng bữa ăn, giấc ngủ, lên kế hoạch để chúng tôi tiếp tục làm những công việc cần thiết. Nhờ đó, tôi đã vượt qua, vẫn đi dạy, nói chuyện về âm nhạc dân tộc và biểu diễn giao lưu với bạn bè, khán giả quốc tế. kỷ niệm 40 năm ngày thành hôn là dấu mốc quan trọng với đời người. Bạch Yến đã mang lại nguồn sống cho tôi, giúp tôi vượt qua tâm bệnh để vui sống” – GS-TS Trần Quang Hải chia sẻ.

GS-TS Trần Quang Hải: Bạch Yến mang lại nguồn sống cho tôi - Ảnh 3.

Niềm vui của nữ danh Bạch Yến hiện nay là chăm sóc chồng, giúp ông vượt qua căn bệnh hiểm nghèo

Ông còn cho biết hai bài thơ mà ông và bà viết cho nhau trong ngày kỷ niệm 40 năm chung sống: “Tôi đã xướng thơ kỷ niệm 40 năm thành hôn vào ngày 17-6 như sau:

Bốn mươi năm hạnh phúc bên nhau

Kỷ niệm hôm nay lắm ngọt ngào

Chồng vợ ngày ngày chung cuộc sống

Tình yêu gìn giữ suốt đời sau!

Và Bạch Yến đã hoạ lại, cũng vào ngày 17-6:

Đã bốn mươi năm diễn với nhau,

Nhờ ca đàn hát bạn đông ngào

Năm châu bốn biển không chùn bước

Mong mãi còn vui tới kiếp sau”.

GS-TS Trần Quang Hải cho biết 24-6 sẽ là ngày giỗ lần thứ 3 của cha mình là GS-TS Trần Văn Khê.

Thanh Hiệp (ảnh do NSCC

Em kính chúc anh chị Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến luôn hạnh phúc ! Chị mãi là điểm tựa của anh trong cuộc sống, giúp anh vượt qua những gian nan trong thời gian điều trị bệnh. 40 năm một chặng đường hạnh phúc! Ngưỡng mộ anh chị ! (Thanh Hiệp)

(1978-2018) 40 năm thành hôn của Trần Quang Hải – Bạch Yến / Ruby marriage (40 years) Noces d’emeraude (40 ans de mariage)


(1978-2018) 40 năm thành hôn của Trần Quang Hải – Bạch Yến . Hình chụp ngày cưới (photo by Hà Phong) . NOCES D’EMERAUDE / RUBY WEDDING
Khắp muôn nơi bè bạn đón mừng
Chúc tân hôn đượm sắc tình nồng
Ước mơ sao tình không đổi dời
Giờ đây yêu nhau cho đến suốt đời

(Trần Quang Hải thảo bài thơ nhân dịp kỷ niệm 4.06.2018)

Celebration of 40 years of Tran Quang Hai & Bach Yen ‘s wedding (1978-2918) – Noces d’Emeraude / Ruby Wedding

Au bout de 40 ans de mariage, j’ en ai vu des vertes et des pas mûres aux côtés de ma moitié, mais ni le vent ni la marée n’ont éreinté cette relation idyllique. Une nouvelle décennie à mon compteur, je peux être fiers de mon bonheur.

Forty years and counting,
What joys along the way,
The love we’ve shared together,
Since our beautiful wedding day,
The ups, the downs along the road,
The occasions that we’ve shared,
Hand in hand we’ve been together,
Showing the world how much we care,
So celebrate the occasion,
Raise a glass to love and life,
For all these years we’ve been together
As a loving husband and wife.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người

https://www.youtube.com/watch?v=S_SbEO8tkjA

[SOL VANG – 13/12/2014] Tân hôn dạ khúc – Bạch Yến

tran quang hai & bach yen , new york, 1980

tran quang hai & bach yen , 1979

tran quang hai & bach yen, austin, usa, 1994

tran quang hai & bach yen, usa, 1991

tran quang hai & bach yen , photo nguyet vy, vietnam

tran quang hai & bach yen , photo nguyet vy , vietnam

disque vietnam re6ves et réalité, 1979

disque VIETNAM / tran quang hai & bach yen, 1983

grand prix du disque charles cros, 1983

tran quang hai & bach yen, austin, usa, 1994

tran quang hai & bach yen, france,

tran quang hai & bach yen, limeil brévannes

poster, bach yen, 50 năm ca hát, virginia, usa, 2006

50 năm ca hát-, bach yen , virginia, usa, 2006

tran quang hai & bach yen

tran quang hai & bach yen, paris, musée guimet, 2011

tran quang hai & bach yen, limeil, 2005

tran quang hai  & bach yen, limeil, 2005

tran quang hai & bach yen, france

tran quang hai & bach yen , limeil , 2009

tran quang hai & bach yen , bretagne, 2011

tran quang hai & bach yen, france

tran quang hai & bach yen, bretagne, 2011

tran quang hai & bach yen , 2015

tran quang hai & bach yen, 2016

tran quang hai & bach yen, vietnam , 2016

tran quang hai & bach yen, paris, 2017

tran quang hai & bach yen, paris, 2018

Ngọc Ánh : Giáo sư Trần Quang Hải: Người đưa âm nhạc Việt Nam đến khắp các châu lục


Giáo sư Trần Quang Hải: Người đưa âm nhạc Việt Nam đến khắp các châu lục

Tác giả:
Ngọc Ánh

Hơn 40 năm làm việc, nghiên cứu tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con Người ở Paris (Pháp) và tham gia giảng dạy tại nhiều trường đại học trên thế giới, Giáo sư Trần Quang Hải đã có những đóng góp lớn trong việc giới thiệu, quảng bá âm nhạc Việt Nam ra nhiều nước trên thế giới. Ông cũng là người sáng tạo ra nghệ thuật gõ muỗng độc đáo, người truyền dạy cho mọi người cách chơi đàn môi của dân tộc Mông…

Sinh ra trong gia đình có nhiều đời hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật-âm nhạc, lại là con trai trưởng của cố GS.TS âm nhạc Trần Văn Khê (1921-2015), Giáo sư Trần Quang Hải sớm được cha định hướng đi theo con đường nghiên cứu âm nhạc cổ truyền của dân tộc. Tốt nghiệp khoa violin tại Trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, ông sang Pháp tiếp tục học nâng cao về violin, sau đó đổi sang học các loại nhạc cụ dân tộc và lấy bằng Tiến sĩ âm nhạc dân tộc của người Việt tại Pháp.

Giáo sư Trần Quang Hải biểu diễn kèn môi.

Trong thời gian làm việc, định cư ở Pháp, Giáo sư Trần Quang Hải tham gia hoạt động trong nhiều tổ chức âm nhạc, đặc biệt là Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Pháp và Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương-nơi cha ông từng công tác. Từ vị thế này, ông có điều kiện đưa âm nhạc dân tộc của Việt Nam đến với công chúng hơn 70 nước trên thế giới; đặc biệt là môn nghệ thuật gõ muỗng và đàn môi của dân tộc Mông.

Từ những chiếc muỗng bình thường vốn được làm ra để phục vụ nhu cầu ẩm thực, qua bàn tay tài nghệ và cách xử lý nhạc học độc đáo của mình, Giáo sư Trần Quang Hải mang đến cho người xem những cung bậc kinh ngạc rồi thán phục. Để giúp mọi người tiếp cận dễ dàng với nghệ thuật gõ muỗng, GS.TS Trần Quang Hải đã tận tình hướng dẫn từ kỹ thuật căn bản như bẻ hai muỗng hơi cong, cho chúng đối đáy vào nhau, lấy ngón trỏ để vào chính giữa hai cán và nâng lên để hai chiếc muỗng luôn giữ một khoảng cách 2,5mm để tạo nên cao độ. Từ những kỹ thuật ban đầu này, những chiếc muỗng được sử dụng thành nhiều cách gõ khác nhau với các ngón tay, rồi kéo lên hết cánh tay hay đánh lên đùi, đánh lên miệng, đánh thành bài bản…

Ngoài gõ muỗng, Giáo sư Hải còn truyền dạy cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài cách chơi đàn môi của dân tộc Mông. Ông giải thích, đàn môi là một loại nhạc cụ độc đáo có mặt ở 30 nước trên thế giới chứ không phải chỉ có ở Việt Nam. Ở châu Âu, đàn môi rất thông dụng với nhiều tên gọi khác nhau. Ở Anh người ta gọi đàn môi là jew’s harp, Pháp là guimbarde, ở Đức và Áo được gọi là maultrommeln…. Đàn môi có nhiều hình dáng và chất liệu khác nhau nhưng đều có hai bộ phận chính là khung cố định và lưỡi gà di động. Đàn môi ở các nước châu Mỹ được làm bằng thép, sắt, đồng hoặc nhôm, kiểu dáng giống nhau. Còn tại châu Á, tùy theo truyền thống và bản sắc từng dân tộc mà đàn môi ở mỗi nước có độ dài ngắn khác nhau với tên gọi rất đa dạng: mukkuri (Nhật Bản), genggong (Bali), kubing (Philippin). Ở Việt Nam, đàn môi là một trong những nhạc cụ được đồng bào các DTTS ưa chuộng. Thời xa xưa, đàn môi của dân tộc Jrai được làm bằng kim khí, của dân tộc Mông làm bằng đồng thau và dân tộc Ba Na, Ê-đê được làm bằng tre…

Năm 2017, nhân chuyến về nước, ông đã trao tặng cho Viện Âm nhạc Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam 40 kiện gồm: 1.000 quyển sách, từ điển, 500 đĩa nhạc cùng một số tư liệu khác của tất cả các tác giả nghiên cứu về âm nhạc dân tộc ở các nước trên thế giới. Giáo sư Trần Quang Hải chia sẻ: “Tôi đã làm công việc mà ba tôi đã từng trao gửi, để góp phần với quê hương, để lại những gì tốt đẹp nhất cho âm nhạc dân tộc thông qua những công trình nghiên cứu của tôi”.

Để gìn giữ và phát triển nhạc cổ truyền dân tộc, Giáo sư Trần Quang Hải cho rằng, điều cấp thiết nhất là cần có sự đào tạo tốt tại Việt Nam, làm thành một phong trào để có nhiều người tiếp nối, giảng dạy, theo nghề. Nên tổ chức những hội thảo, phác họa chương trình giáo dục âm nhạc trong nhà trường, quan tâm đến việc giáo dục âm nhạc từ nội thành đến vùng sâu, vùng xa, để ngay từ nhỏ các em học sinh đã có một kiến thức căn bản về âm nhạc Việt Nam, sau đó học thêm về nhạc cổ điển Tây phương và các nước láng giềng…

Bên cạnh đó, các đài truyền hình nên thực hiện những chương trình giáo dục âm nhạc, định hướng âm nhạc, giới thiệu những nét tinh hoa, độc đáo, tiêu biểu của nhạc truyền thống dân tộc Việt Nam và các nước trên thế giới đến với công chúng cả nước.

Tác giả: Ngọc Ánh

http://www.hoinhacsi.vn/giao-su-tran-quang-hai-nguoi-dua-am-nhac-viet-nam-den-khap-cac-chau-luc-0

Kim Quyên : Giáo sư, nhạc sĩ Trần Quang Hải, cánh én mùa xuân của xứ vú sửa Lò Rèn, Vĩnh Kim.


             Giáo sư, nhạc sĩ Trần Quang Hải, cánh én mùa xuân của xứ vú sửa Lò Rèn, Vĩnh Kim.

 KIM QUYEN (2)                                                                                 

Kim Quyên

Dáng người cao ráo, đỉnh đạc, gương mặt chữ điền đầy cương nghị, đôi mắt sáng, dạt dào niềm tin yêu cuộc sống, nụ cười tươi luôn nở trên đôi môi sinh động, đôi môi biết thể hiện những âm thanh tuyệt vời của những chiếc kèn môi làm từ tre hay bằng kim loại. Nhạc cụ thật đơn sơ mà như nói lên được bao nổi niềm của đôi lứa yêu nhau, những tâm hồn  thổn thức của những người thuộc dân tộc Mông, Charai, Ê Đê, Xê Đăng… cũng là những người Việt Nam của quê hương anh.

Nhìn người nghệ sĩ ấy ngậm chiếc kèn nhỏ bé xinh xinh, bàn tay thoăn thoắt gảy kèn, đôi môi run run theo cảm xúc đang dâng trào từ tận cùng trái tim, những âm thanh trầm bỗng vang lên, rền rền như vọng ra từ núi rừng Tây Nguyên, tiếng của những chàng trai mời gọi bạn tình, có khi là tiếng gầm của con hổ, con mang, có lúc là tiếng thánh thót của những chú chim rừng gọi bầy trong nắng sớm….

Chao ôi! Chỉ là vài miếng tre mỏng mành, đôi miếng kim loại bằng đồng, thao.. mà người nghệ sĩ đàn môi đã đem đến bao âm thanh thật thú vị, thơ mộng, trữ tình, lạ lùng trong phong cách biểu diễn, mới mẻ về giai điệu, tiết tấu khiến người xem không khỏi ngạc nhiên, ngưỡng mộ sự khéo léo, tinh tế của đôi bàn tay làm ra những dụng cụ thô sơ, dễ kiếm dễ tìm, dễ làm ở khắp nơi trên thế giới mà những nghệ nhân, nghệ sĩ đã chế biến ra rồi biến nó thành một nhạc cụ yêu thích cho những người sành điệu trong nước và trên thế giới.

Mang trong người dòng máu nghệ sĩ của nhiều đời, nhạc sĩ nhạc dân tộc Trần Quang Hải đã mày mò nghiên cứu nhiều loại nhạc cụ của Việt Nam và thế giới, rồi chế biến ra, nâng nó lên tầm vóc cao hơn với nhiều loại hình đầy sáng tạo, mà ngoài nghệ thuật đàn môi, anh còn có nghệ thuật Gỏ Muổng. Những chiếc muổng xinh xinh cũng là dụng cụ dễ tìm, dễ kiếm ở khắp nơi, chỉ cần lấy hai cái muổng gỏ nhịp thì đã thêm một nhạc cụ cho dàn nhạc bề thế, hiện đại. Nhạc sĩ Trần Quang Hải nghiên cứu nhạc cụ “ độc đáo” này, biến nó thành nhạc cụ chính và trình diễn độc tấu chỉ một môn Gỏ Muổng. Hai bàn tay khéo léo gỏ từ 2 đến 5 ngón, gỏ trong lòng và mặt trên bàn tay, dài theo cánh tay, trên môi… Một mình anh , đứng, ngồi, dòn dã, rộn ràng với 2 hoặc 3 chiếc muổng,  nghe vui tai và yêu đời làm sao!

Ngoài việc sử dụng thông thạo các nhạc cụ dân tộc thường gặp như đàn kìm, đàn cò, tranh, nguyệt…nghệ sĩ Trần Quang Hải đi khắp năm châu, bốn biển trình bày và biểu diễn nhạc dân tộc Việt Nam. Anh đi tới đâu gây ấn tượng khó quên cho người xem tới đó. Là con cháu của những nghệ sĩ tiếng tăm bao đời nay : Con GS Trần Văn Khê, cháu của nghệ sĩ Trần Văn Trạch, một danh hài nổi tiếng từ những thập niên 60,70, cháu của nghệ sĩ Trần Ngọc Viện, người đã thành lập ra gánh hát Đồng Nữ Ban, gánh cải lương đầu tiên của Nam bộ và của cả nước, xuất phát từ làng Vĩnh Kim ( Tiền Giang)… GS Trần Quang Hải thật không hổ danh là con cháu của các bậc tiền bối đã góp phần xây dựng nền nghệ thuật dân tộc tỉnh nhà, cho cả nước và ra cả thế giới.

Thật cảm động khi thấy hình ảnh của GS Trần Văn Khê hòa tấu đàn kìm cùng con Trần Quang Hải gỏ  muổng trong buổi diễn nhạc cụ dân tộc tại tư gia của GS Trần Văn Khê ở biệt thự đường Huỳnh Đình Hai năm 2014, xem GS Trần Văn Khê khi  ông đã 94 tuổi ngồi ung dung hòa đàn kìm cùng cháu Hải Minh 9 tuổi ( đàn tranh) bài Lưu Thủy Trường thật nhịp nhàng, thánh thót.

Bạch Yến, người vợ cũng là một nữ danh ca tài sắc, có giọng hát trầm, ấm , chị chuyên hát nhạc nước ngoài, sau này  theo dòng dân ca và đôi lúc là Bolero man mác buồn “Cho em quên cơn mộng ảo ngây thơ ngày nào…Đời còn chi trong tay..Mai đây khi hoa tàn úa xanh xao, phong ba dập dùi…Em xin nằm xuống, mang theo con tim ngậm ngùi…Giấc mơ nhỏ nhoi đưa em vào cõi thiên thu..Yêu thương đời đời…”

Bài hát đã lâu tôi không còn nhớ tựa bài, nghe bất chợt khi ngồi một mình buồn hiu trong quán cà phê vắng khách với bao tâm sự đầy vơi. Tôi không thích lắm dòng nhạc Bolero vì có nhiều bài quá buồn làm cho người nghe ủy mị yếu đuối,  nhưng không hiểu sao hôm ấy, có lẽ vì giọng hát trầm buồn, man mác bãng lãng mà tôi thích bài hát và giọng hát của chị. Có thể thời điểm đó đúng với tâm trạng của tôi chăng? Sau này chị thường hát cùng NS Trần Quang Hải, chị như con chim sơn ca luôn cất tiếng hót để làm đẹp cho đời và đẹp mối tình nghệ sĩ bên nhau cho tới ngày tóc đã bạc màu.

Qua những người bạn là con cháu của gia đình GS Trần Văn Khê , tôi hay hỏi thăm về ông và những người trong gia đình ông vì tôi ái mộ họ và cũng vì tôi là người Tiền Giang, đồng hương với họ.

Không gì hạnh phúc, may mắn bằng  khi ta làm nghệ thuật mà có vợ có chồng, có cha, có con, có những người thân cùng đi theo một hướng, say mê một công việc, suy nghĩ gần giống nhau… Qua đó, mọi người sẽ dễ hiểu, dễ thương yêu và thông cảm nhau hơn.

Cuộc đời và sự nghiệp của GS- Nhạc sĩ Trần Quang Hải, tính đến nay, anh đã xây nên những công trình  đồ sộ nhằm cống hiến tài năng cho quê hương Việt Nam và thế giới nhiều sáng tạo đầy màu sắc nghệ thuật độc đáo. Có thể tóm tắt quá trình lập nghiệp cụ thể của GS- NS Trần Quang Hải như sau*

Trần Quang Hải : nhà dân tôc nhạc học, nhạc sĩ và nhà soạn nhạc Viet Nam

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã , tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo viên Anh văn trường nữ trung học Gia Long

Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến  tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc Tây phương lúc khởi đầu của sự nghiệp cầm ca . Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải,  Bạch Yến chuyễn sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới .

Trần Quang Hải xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ dân tộc từ nhiều đời , anh là nhạc sĩ đời thứ năm . Anh  là  nhạc sĩ dân tộc  (ethnomusicologist – ethnomusicologue),  chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, là thuyết trình viên , nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, là thành viên của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique).

GS Trần Quang Hải đã theo gót cha anh, GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu nhạc dân tộc. Anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh .

 

Gia đình nhạc sĩ Trần Quang Hải:

  1. Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ vào Nam , cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. Rất giỏi về nhã nhạc Huế .
  2. Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố là người đàn tỳ bà rất hay , được gởi ra thành nội Huế để học nhạc cung đình , chuyên về đàn tỳ bà . Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho đàn tỳ bà.
  3. Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội là người đàn kìm rất giỏi, biệt hiệu Bảy Triều trong giới cải lương, đã đặt ra cách lên dây TỐ LAN cho đàn kìm để đàn những bài buồn ai oán.
  4. Trần Văn Khê (1921- 2015 ), ba của NS là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng quốc tế và làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới ở địa hạt trình diễn cũng như nghiên cứu. Từng là giáo sư nhạc Đông phưong tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), Giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Paris , Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, từng giữ chức phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO . Ông hưu trí từ năm 1987  nhưng vẫn  tiếp tục nghiên cứu và đóng góp cho hai hồ sơ Nhạc cung đình Huế (được danh hiệu Văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (Văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Ông định cư ở Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và là cố vấn cho hồ sơ Ca Trù để đệ trình lên UNESCO  năm 2007 và hồ sơ Đờn ca tài tử Nam bộ năm 2011 dành cho Văn hóa phi vật thể. Ngày 24 tháng 6 năm 2015 , ông từ trần tại quận Bình Thạnh, TP HCM, Việt Nam .
  5. Trần Quang Hải (1944 – ) , cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký. Sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Sài Gòn với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt). Sau đó NS đi sang Pháp năm 1961, học nhạc học tại trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở trường Cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). NS bắt đầu làm việc cho Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với ê-kíp nghiên cứu tại Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới 2009 thì về hưu).

NS trình diễn trên 3.500 buổi tại 70 quốc gia. Tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại 120 trường đại học, sáng tác 400 bản nhạc dành cho đàn tranh, đàn môi, muỗng , hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại . Đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 4 phim và là hội viên của trên 20 Hội nghiên cứu thế giới .Con đường nghiên cứu của NS nhắm vào sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng , jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ .

 

Quá trình học tập:

  1. 1955-1961 trường quốc gia âm nhạc Saigon, tốt nghiệp vĩ cầm (lớp GS Đỗ Thế Phiệt)
  2. 1954-1961 trường trung học Pétrus Ký, Saigon.
  3. 1963-1970 Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (CEMO – Centre d’Etudes de Musique Orientale – Center of Studies for Oriental Music, Paris) , học các truyền thống nhạc Ba Tư (Iran), Ấn độ (Inde), Trung Quốc (Chine), Nhật Bổn (Japon), Nam Dương (Indonesie), Đông Nam Á (Asie du Sud-Est), Việt Nam (Vietnam)
  4. 1963 trường Ecole du Louvre, Paris
  5. 1965 certificate of proficiency in English (chứng chỉ Anh văn) , University of Cambridge, Anh quốc
  6. 1965 certificat de littérature française (chứng chỉ văn chương Pháp), Université de Sorbonne, Paris.
  7. 1967 cao học dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xã hội, Paris
  8. 1969 chứng chỉ âm thanh học (certificat d’acoustique musicale) , Paris
  9. 1970 văn bằng cao đẳng nhạc Việt trung tâm nghiên cứu nhạc đông phương , Paris
  10. 1973 tiến sĩ dân tộc nhạc học trường cao đẳng khoa học xà hội, Paris
  11. 1989 văn bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống , Paris.

Từ năm 1965 tới 1966 NS theo học lớp nhạc điện thanh (musique électro-acoustique) với GS Pierre Schaeffer, người sáng lập loại nhạc điện tử ở Pháp .

Từ năm 1968 tới 2009, NS làm việc tại Viện dân tộc nhạc học của Viện Bảo Tàng Con Người (Département d’Ethnomusicologie du Musée de l’Homme) ở Paris (Pháp) .

Từ năm 1968 tới 1987, NS làm việc ở Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng nghệ thuật và truyền thống dân gian (Département d’Ethnomusicologie du Musée des Arts et Traditions Populaires) ở Paris (Pháp)

Nhà Nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS) ở Paris từ năm 1968 tới năm 2009 (hưu trí)

Từ 1970 tới 1975, giáo sư đàn tranh của Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương , Paris

Giảng dạy ở các trường đại học , viện bảo tàng và trung tâm nghiên cứu trên thế giới

NS đã từng được mời dạy và thuyết trình tại trên 120 trường đại học, trung tâm nghiên cứu và nhiều viện bảo tàng .

NS đã vinh dự nhận gần 30 giải thưởng của các nước trên thế giới, có những giải thưởng đặc biệt như :   

  • 1983 : Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn Lâm viện dĩa hát Charles Cros) cho dĩa hát “Viet Nam / Tran Quang Hai & Bach Yen” do hãng SM Studio sản xuất tại Paris, Pháp
  • 1986 : Médaille d’Or (Huy chương vàng) của Hàn lâm viện văn hóa Á châu, Paris, Pháp
  • 1987 : D.MUS (Hon) (tiến sĩ danh dự) của International University Foundation, Hoa Kỳ.
  • 1988 : International Order of Merit của International Biographical Centre, Cambridge, Anh quốc.
  • 1989 : Ph.D.(HON) (Tiến sĩ danh dự) của Albert Einstein International Academy Foundation, Hoa Kỳ
  • 1990 : Grand Prix du Festival International du Film Anthropologique et Visuel (Giải thưởng tối cao của đại hội quốc tế phim nhân chủng và hình ảnh) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do tôi là tác giả, diễn viên chánh và viết nhạc cho phim, Parnü, Estonia.
  • 1990 : Prix du Meilleur Film Ethnomusicologique (Giải thưỏng phim hay nhất về dân tộc nhạc học) cho phim “Le Chant des Harmoniques” (Tiếng hát bồi âm) do Hàn lâm viện khoa học cấp, Parnü, Estonia
  • 1990 : Prix Spécial de la Recherche (Giải thuởng đặc biệt về nghiên cứu) của Đại hội quốc tế điện ảnh khoa học dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Palaiseau, Pháp.
  • 1991 : Grand Prix Northern Telecom (Giải thưởng tối cao Northern Telecom) của Đại hội quốc tế Phim khoa học lần thứ nhì của Québec dành cho phim “Le chant des harmoniques” (Tiếng hát bồi âm), Montréal, Canada .
  • 1991 : Prix Van Laurens (Giải thưởng Van Laurens) của British Association of the Voice và Ferens Institute của London tặng cho bài tham luận của tôi mang tên là “Discovery of overtone singing” (Khám phá hát đồng song thanh), London, Anh quốc .
  • 1991 : Alfred Nobel Medal (Huy chương Alfred Nobel)của Albert Einstein Academy Foundation, Hoa Kỳ
  • 1991 : Grand Ambassador (Huy chương Đại sứ lớn) của American Biographical Institute, Hoa kỳ
  • 1991 : Men of the Year (Người của Năm 1991) do American Biographical Institute tặng, Hoa kỳ
  • 1991 : Men of the Year (Người của Năm 1991) do International Biographical Centre tặng, Cambridge, Anh quốc.
  • 1994 : Men of the Year (Người của Năm 1994) do American Biographical Institute tặng , Hoa kỳ
  • 1994 : Gold Record of Achievement (Kỷ lục vàng về thành đạt) do American Biographical Institute tặng, Hoa Kỳ
  • 1995 : Giải thưởng đặc biệt về hát đồng song thanh tại Đại hội liên hoan hát đồng song thanh, Kyzyl, Tuva, Nga
  • 1996 : Médaille de Cristal (Huy chương thủy tinh) do Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học tặng cho 25 năm nghiên cứu hát đồng song thanh, Pháp
  • 1997 : Grand Prix du disque de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng tối cao của Hàn lâm viện Charles Cros) cho dĩa hát “Voix du Monde » (Giọng Thế giới), Pháp.
  • 1997 : Diapason d’Or de l’Année 1997 (Dĩa vàng năm 1997) cho dĩa hát « Voix du Monde », Pháp
  • 1997 : CHOC de l’année 1997 (Ấn tượng mạnh nhất trong năm 1997) cho dĩa hát « Voix du Monde », Pháp
  • 1998 : Médaille d’Honneur (Huy chương danh dự dành cho công dân danh dự) của thành phố Limeil Brévannes (nơi tôi cư ngụ), Pháp.
  • 1998 : Giải thưởng đặc biệt của Đại hội thế giới về Đàn Môi, Molln, Áo quốc
  • 2002 : Chevalier de la Légion d’Honneur (Hiệp sĩ Bắc đẩu bội tinh), huy chương tối cao của Pháp, Pháp .
  • 2009 : Huy chương lao động hạng đại kim (Médaille du Travail, catégorie Grand Or), bộ lao động Pháp.
  • 2015 : Bằng cấp danh dự của Viện Bảo tàng đàn môi, Yakutsk, xứ Yakutia
  • 2017 : Huy chương sáng lập viên hội dân tộc nhạc học Pháp, Paris, Pháp

 

SÁCH DO TRẦN QUANG HẢI VIẾT

 

  • Biên Khảo Nhạc Việt Nam , nhà xuất bản Bắc Đẩu, 362 trang , 1989, Paris, Pháp
  • Musiques du Monde (Nhạc thế giới) : với sự hợp tác của Michel Asselineau và Eugène Bérel, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1993, Courlay, Pháp
  • Musics of the World (Nhạc thế giới) : nhà xuất bản J-M Fuzeau, 360 trang, 3 CD, 1994, Courlay, Pháp . Bản dịch tiếng Đức được xuất bản năm 1996, bản dịch tiếng Tây Ban Nha xuất bản năm 1998.
  • Musiques et Danses Traditionnelles d’Europe (Nhạc và vũ truyền thống Âu châu) : với sự hợp tác của Michel Asselineau, Eugène Bérel và FAMDT, nhà xuất bản J-M Fuzeau, 380 trang, 2 CD, 1996, Courlay, Pháp .

 

DVD do TRẦN QUANG HẢI biên soạn

 

  • Le Chant Diphonique, (Hát đồng song thanh) 27 phút, với 2 bản (tiếng Pháp và tiếng Anh), nhà xuất bản CRDP của đảo Réunion, 2004. Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Luc Souvet
  • Le Chant des Harmoniques (Bài hát bồi âm), 38 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2005, Meudon, Pháp . Đồng tác giả: Trần Quang Hải và Hugo Zemp
  • The Song of Harmonics, (Bài hát bồi âm) 38 phút , bản tiếng Anh, nhà xuất bản CNRS Audiovisuel, 2006, Meudon, Pháp. Đồng tác giả : Trần quang Hải và Hugo Zemp
  • Thèm’Axe 2 LA VOIX (Giọng), 110 phút, bản tiếng Pháp, nhà xuất bản Lugdivine, Lyon, 2006 . Tác giả : Patrick Kersalé với sự hợp tác của Trần Quang Hải .

 

   Dĩa hát của Trần Quang Hải đàn

 

VietNam: Tran Quang Hai & Bach Yen PLAYASOUND PS 33514,Paris 1979, col. Musiques de l’Asie Traditionnelle,vol.10.

  1. Cithare et chants populaires du Vietnam Tran Quang Hai & Bach Yen
  2. Music of Vietnam. LYRICHORD LLST 7337, New York, 1980.
  3. Vietnam/ Tran Quang Hai & Bach Yen. Studio SM 3311.97, Paris,1983 Grand Prix du Disque de l’Academie Charles Cros 1983.
  4. Vietnamese Dan Tranh Music Tran Quang Hai. LYRICHORD LLST 7375,New York, 1983.
  5. MUSAICA: chansons d’enfants des emigres. DEVA RIC 1-2,Paris,1984

Ngoài ra có 5 đĩa Compasdic, 4 đĩa CD làm nhạc nền cho các phim VN và nước ngoài.

 Trần Quang Hải sáng tác nhạc

Nhớ Miền Thượng Du  (Nostalgia of the Highlands) cho Đàn Tranh (1971)

Xuân Về (The Spring Is Coming Back) cho Đàn Tranh (1971)

Tiếng Hát Sông Hương (The Song of the Perfumed River) cho Đàn Độc Huyền (1972)

Ảo Thanh (The Magic Sound) cho Muỗng (1972)

Về Nguồn (Return to the Sources) hợp tác với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tường, (1975)

Shaman cho Giọng, saxo, synthetizer (1982)

Hát Hai Giọng (Diphonic Song) cho hát đồng song thanh(1982)

Ca Đối Ca (Song vs Song) cho hát đồng song thanh (1982)

Tùy Hứng Muỗng (Improvisation of Spoons) for Spoons (1982)

Độc Tấu Đàn Môi Mông  (Solo of Mong Jew’s Harp) for đàn môi (1982)

Tiếng Hát Đàn Môi Tre (The Song of the Bamboo Jew’s Harp) for Đàn môi (1982)

Sinh Tiền Nhịp Tấu (Rhythm of Coin Clappers) for Sinh Tiền (1982)

Tiết Tấu Miền Thượng (Rhythm of the Highlands) for 2 Đàn Môi (1982)

Núi Ngự Sông Hương (Royal Mount and Perfumed River) for Đàn Độc Huyền (1983)

Nam Bắc Một Nhà ( North and South, the Same House) cho Đàn Tranh  (1986)

Chuyển hệ (Modulation) cho Đàn Tranh(1986)

Trở Về Nguồn Cội (Return to the Origin) (electro-acoustical music – nhạc điện thanh) (1988)

Solo Thái cho Đàn Tranh  (1989)

Tambours 89 hợp tác vớiYves Herwan Chotard (1989)

Envol cho hát đồng song thanh (1989)

Chuyển hệ Ba Miền (Metabole on three regions) cho Đàn Tranh (1993)

Mộng Đến Vùng Việt Bắc (Dream of Viet Bac) cho Đàn Tranh (1993)

Vịnh Hạ Long ( Ha Long Bay) cho Đàn Tranh (1993)

Sông Hương Núi Ngự (The Perfumed River and the Royal Mount) cho Đàn Tranh (1993)

Tiếng Vang Đàn Trưng Tây Nguyên (Echo of the musical instrument Trung of the Highlands) cho Đàn Tranh (1993)

Nhớ miền Nam  (Nostalgia of the South) cho Đàn Tranh (1993)

Saigon-Cholon (Saigon-Cholon The Twin Cities) cho Đàn Tranh (1993)

Vĩnh Long thời thơ ấu (Vinh Long, My Childhood) cho Đàn Tranh (1993)

Cửu Long Giang thân yêu (the Beloved Mekong River) cho đàn tranh (1993)

Hồn Viêt Nam (The Soul of Viet Nam) cho đàn tranh (1993)

A Bali, on entend le genggong rab ncas (Ở Bali, người ta nghe đàn Môi) cho đàn Môi  (1997)

Paysage des Hauts-Plateaux (Phong cảnh Cao Nguyên) cho đàn Môi (1997)

Nostalgie au Pays Mong ( Nhớ vùng đất H’Mông) cho đàn Môi (1997)

Souvenir à Alexeiev et Chichiguine (Kỷ niệm với Alexeiev và Chichiguine)  cho Đàn Môi(1997)

Bachkir-Bachkirie (Bashkir-Bashkiria) cho đàn Môi (1997)

Orient-Occident (Đông – Tây) cho đàn Môi (1997)

Souvenir de Norvege (Kỷ niệm xứ Na Uy) cho đàn Môi (1997)

VietNam, mon Pays (Việt Nam, quê hương tôi) cho đàn Môi (1997)

Tuva! Tuva! (Tuva! Tuva!) cho đàn Môi (1997)

La Mélodie des Harmoniques (Giai điệu của bồi âm) cho đàn Môi  (1997)

Ambiance des Hauts-Plateaux du Vietnam (Không Khí Cao Nguyên Việt Nam) cho đàn Môi (1997)

Echo des montagnes (Tiếng Vang Núi Rừng) cho đàn Môi (1997)

Taiga mysterieux (Taiga Huyền Bí) cho đàn Môi (1997)

Le Saut des Crapauds (Cóc nhảy) cho đàn Môi (1997)

Harmonie des Guimbardes (Hòa âm Đàn Môi) cho đàn Môi (1997)

L’Univers harmonique (Vũ Trụ bồi âm) cho đàn Môi (1997)

Consonances ! (Cộng Hưởng !) for Jew’s Harp (1997).

VietNam, My Motherland (Việt Nam , Quê Mẹ của Tôi) cho đàn Môi  (1998)

Welcome to Molln Jew’s Harp Festival 1998 (chào mừng đại hội liên hoan đàn Môi tại Molln)  for Jew’s Harp (1998)

Điều đặc biệt mà ít người viết đề cập đến,  anh là nhạc sĩ đàn tranh trên 50 năm với hơn 20 đĩa hát về đàn tranh được phát hành ở Pháp, Mỹ, Ý.. . Không có một nhạc sĩ đàn tranh nào ở VietNam cũng như ở hải ngoại có số lượng đĩa hát về đàn tranh nhiều như vậy . Đặc biệt là dĩa “Cithare VietNamienne (le Dàn Tranh) par Trần Quang Hải, do hãng Le Chant du Monde phát hành năm 1971 tại Paris . Đặc điểm của dĩa hát này là có 4 trang lớn về lịch sử  đàn tranh, giải thích về kỹ thuật đàn tranh , bảng đối chiếu các loại đàn tranh Á Châu . Thêm vào đó anh đàn bài  “Phong xuy trịch liễu” của ông cậu Năm, Nguyễn Trí Khương (cho tới nay không thấy nơi nào đàn bài này )

Trần Quang Hải là nhạc sĩ Việt Nam tham gia nhiều nhất Ngày Lễ Âm nhạc do Pháp đề xướng từ lúc đầu tiên vào năm 1982, rồi năm 1984, 1985 , 1987, 1989 tại Paris, rồi năm 1991 tại đảo La Réunion, rồi năm 2000, 2001 tại Paris, năm 2002 tại Beirut (Lebanon)

Trần Quang Hải  là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đàn nhạc phim của các nhà viết nhạc phim  Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit , và trình diễn những nhạc phẩm đương đại của các nhà soạn nhạc như Nguyễn Văn Tường, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard.

Những đóng góp cụ thể cho Việt Nam

Tham dự làm hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể cho Việt nam (Quan Họ (2006), Ca Trù(2006), Hát Xoan Phú Thọ (2009) , Đờn ca Tài tử nam bộ(2010), Hát ví giặm Nghệ Tĩnh (2011) hát then Tày Nùng Thái (2013), hát bài chòi (2015) , hát chầu văn (2016)

Thành viên danh dự của Viện âm nhạc Việt Nam , Hà Nội (2005)

Hội kỷ lục Việt Nam phong tặng NS là “Vua Muỗng” vào năm 2010 , và “Ngươi Việt Nam trình diễn đàn môi Việt Nam tại nhiêu quốc gia nhứt trên thế giới” (2012)

Hiến tặng 1000 quyển sách nghiên cứu dân tộc nhạc học và 1.000 dĩa hát các loại nhạc dân tộc năm châu cho Viện Âm nhạc Việt Nam ở Hà Nội vào năm 2017.

Dù ít có dịp về biểu diễn ở Việt Nam nhưng GS- NS Trần Quang Hải  và ca sĩ Bạch Yến là những “nghệ sĩ hát rong” trên mọi miền đất nước của quê người,                              truyền bá nhạc dân tộc mình bằng tất cả sự đắm say nghệ thuật và với tấm lòng luôn hướng về quê cha, đất tổ.

TP Hồ Chí Minh tháng 5/ 2018

K.Q

* Tư liệu do GS- NS Trần Quang Hải cung cấp