Category Archives: TRAN QUANG HAI

STEPHANE LAGARDE : Tran Quang Hai, 52 ans, ethnomusicologue, est son propre cobaye pour ses recherches sur la voix. L’empire des sons, Journal LIBERATION 10.10.1996


Portrait

Tran Quang Hai, 52 ans, ethnomusicologue, est son propre cobaye pour ses recherches sur la voix. L’empire des sons.

Par Stéphane LAGARDE

Tout commence par un embouteillage. «Je chantais coincé sur le

périph’ lorsque, tout à coup, en prononçant la lettre L, j’ai entendu un sifflement. J’ai couru à la maison et je me suis enregistré.» Tran Quang Hai ­ Océan illuminant ­ n’a rien d’un illuminé. Pourtant, quand en 1971 il perce le mystère des voix mongoles, ses collègues chercheurs s’étonnent. La technique a de quoi surprendre: elle permet à l’interprète de produire deux sons en même temps à des niveaux différents.

Tran est depuis vingt-six ans son propre sujet de recherche. De concert en colloque, son chant enchante le monde entier. L’an passé, au Tuva, il a obtenu non sans fierté la carte de membre du Khoomei, distinction réservée aux chanteurs de gorge professionnels. «Si vous trouvez quelqu’un qui chante mieux que moi, dites-le, on fera un duo.» Passé maître du chant triphonique, Tran fredonne la Neuvième de Beethoven d’un seul souffle. Debout, le corps tendu, la tête en arrière, tout son être se met à vibrer. Un son échappe, venu de nulle part. C’est l’Hymne à la joie! Les visiteurs n’en reviennent pas: «Ce type est une chorale à lui tout seul!» Deux harmoniques sur une base fondamentale, soit trois voix en une seule gorge. Cela valait bien une médaille.

Dans son petit bureau saturé d’appareils de mesure, Tran ne participe guère au branle-bas qui agite le musée de l’Homme depuis la décision présidentielle de transférer certains objets au Louvre. Juste le temps pour un état des lieux furieux sur le manque de moyens, le manque d’envie d’un musée sans subventions. Les huit mille instruments de la réserve d’ethnomusicologie, recouverts de plastique, le désolent. Il plaisante en imitant le timbre métallique du synthétiseur. C’est lui qui doublait Nono le petit robot dans le dessin animé japonais des années 80. «Je dois mon talent au travail et à mes ancêtres.» Avec un arrière-arrière-grand-père musicien de cour, un grand-père joueur de luth et un père vice-président du Conseil international de musique à l’Unesco, on a la musique dans la peau. Sa fille chante à deux voix depuis l’âge de 5 ans. Auteur de plusieurs disques à la vièle chinoise, à la cithare vietnamienne ou encore à la vina indienne, il compose également pour le cinéma.

Les enregistrements qu’il archive au musée de l’Homme servent de base à sa recherche: «Je préfère le travail de bureau aux grands espaces.» Quand l’émission Envoyé spécial lui propose une semaine de tournage en Mongolie, il refuse. L’aventure est ailleurs. A Paris, par exemple, lorsqu’il expose ses cordes vocales aux rayons X pendant 10 minutes. La science réclame du concret, et la radiographie permet de constater directement les effets de son travail. Le résultat est probant (le Chant des harmoniques, un film plusieurs fois primé), mais pas sans danger. «C’est l’équivalent de 6 000 radios des poumons. Je sacrifie ma vie à mes recherches, heureusement Dieu est là.» Quand Tran chante, il ferme les yeux. Et il chante partout: en voiture, sous la douche, au bureau. Ses collègues admirent ce regard intérieur, «cette force de concentration que n’ont pas les Occidentaux».

Quand on lui parle de sérénité, il sourit. Se rallume une beedie, bredouille deux trois trucs sur les arts martiaux et reparle musique. Avec les années, sa voix est devenue plus grave. Il a commencé baryton, désormais il se consacre à l’étude du chant des moines tibétains. Le «O» de la prière, la fameuse harmonique n$10 qui demande tellement de travail et n’a rien à voir avec le «snobisme» des club de zen pour stressés occidentaux. Il en fait la preuve. Sur le sonographe, Tran voit sa voix, elle oscille entre 35 (très grave) et 2 000 Hz (aigu). Le «O» moyen est de 185 Hz, on est loin de l’harmonie universelle.

Hors du CNRS, le chercheur devient médecin. De gentil docteur Jekyll, il se transforme en un Mister Hyde doux rêveur. Tran veut changer la vie par le chant. Une voix dans tous ses éclats, utilisée jusqu’à l’accouchement sans douleur. A l’écouter, les problèmes conjugaux sont solvables dans l’air. Il conseille le «faux baiser de Rodin» aux couples en péril: les amants enlacés se font face, bouche à bouche. Pendant que l’un chante, l’autre remue les lèvres et produit la mélodie. Il s’amuse: «30% des disputes peuvent être résolus par cette méthode.» Il songe même à repeupler l’Europe.

Mais derrière le côté savant fou se dissimule l’humoriste. Physique d’opérette, ventre rond et grande bouche, il peut jouer Pop Corn avec n’importe quel instrument traditionnel. «Je suis le virtuose de la guimbarde, lance-t-il, fier de son effet. Je fais de la musique comme d’autres de la cuisine, en mélangeant les ingrédients.» Un opéra bouffe revendiqué sérieux. Avec des élèves du bac option musique, il monte un orchestre de 100 cuillères et décroche le titre de professeur au Conservatoire. La cuillère à café comme la louche deviennent de véritables instruments rythmiques et mélodiques. D’ailleurs la mélodie est partout, y compris dans les langues. Il en parle une dizaine, reproduit leurs intonations, parfois sans les comprendre. Car depuis l’en- fance, Tran jalouse les imitateurs. Il les connaît tous, de Le Luron à Leeb, en passant par «ce Canadien formidable qui imite 120 personnes dans son spectacle.» Modeste, il déclare: «Je ne peux pas chanter comme France Gall, mais j’arrive à reproduire les accents de l’opéra de Pékin.» Dans le bruit et la fureur du monde, Tran Quang Hai reprend le chant des autres avec enthousiasme. Son bras bat la mesure, il entonne Marinella de Tino Rossi, suivi d’un jodel des montagnes suisses. Les Voix du monde, une anthologie des expressions vocales à laquelle il a collaboré, sortira fin septembre.

Un vaste chant des possibles reste encore à explorer. Dans son laboratoire, Tran se met à rêver: «Mon prochain but, jusqu’à ma mort, c’est de chanter à quatre voix.» Il a bon espoir. Le petit homme sait que, comme le cygne, on ne meurt pas en chantant.

photo LAURENT MONLAÜ Tran Quang Hai en 6 dates 1944 Naissance à Linh Dông Xa, au Viêt-nam 1968 Intègre le départe-ment ethno-musicologie du musée de l’Homme 1984 Rencontre du chanteur mongol Sundui, qu’il considère comme son maître 1989 Sortie du film le Chant des harmoniques 1995 Président du jury d’un festival de chant au Tuva 1996 Reçoit la médaille de cristal du CNRS.

Stéphane LAGARDE

LỜI NGỎ CỦA TRẦN QUANG HẢI nhân dịp lễ tổ chức sinh nhựt thứ 99 của cố GS TRẦN VĂN KHÊ tại VIỆT NAM 24.07.2020


LỜI NGỎ CỦA TRẦN QUANG HẢI nhân dịp lễ tổ chức sinh nhựt thứ 99 của cố GS TRẦN VĂN KHÊ tại VIỆT NAM 24.07.2020

Kính chào quý vị ban tổ chức và quan khách,

Tôi tên là TRẦN QUANG HẢI, trưởng nam của cố GS TRẦN VĂN KHÊ, xin thành thật cám ơn ban lãnh đạo trường đại học VĂN LANG, chị THẾ THANH, chị KIM CƯƠNG, anh NGUYỄN ĐẮC XUÂN, chú BÁ THÙY và cô HỶ KHƯƠNG , anh NGUYỄN NHÃ, anh LÊ QUỐC ÂN, các em SĨ HOÀNG, HUỲNH KHẢI , THANH HIỆP và cháu NGỌC HÂN đã tận tình tổ chức ngày sinh nhựt lần thứ 99 của thân phụ tôi đã quá vãng 5 năm nay.

Vì  đang điều trị bịnh ung thư máu , bịnh tiểu đường khá nặng và bịnh suy thận, thêm vào đó bịnh dịch COVID-19 lan tràn khắp thế giới tôi không thể trở về Việt Nam để tham dự chương trình này.

Tôi trân trọng chúc buổi lễ thành công như ý và tin rằng thân phụ tôi sẽ ngậm cười nơi chín suối trước tấm lòng  ưu ái của những người bạn còn thương nhớ thân phụ tôi.

Nay kính

TRẦN QUANG HẢI

TRẦN QUANG HẢI & TRẦN VĂN KHÊ
TRẦN QUANG HẢI (23.07.2020)

HAPPY BIRTHDAY TO BACH YEN MY BELOVED WIFE (09.06.2020)


 

What do you want to do ?

New mailCopy

HAPPY BIRTHDAY TO BACH YEN MY BELOVED WIFE (09.06.2020)

HAPPY BIRTHDAY TO BACH YEN MY BELOVED WIFE

WITH JOY AND HAPPINESS during her special day 09.06.2020

JOYEUX ANNIVERSAIRE À MA BIEN AIMEE BACH YEN

QUE CETTE JOURNEE SPECIALE LUI APPORTE JOIE ET BONHEUR 09.06.2020

Một bài thơ con cóc tặng người vợ đã chung sức với tôi trên 40 năm qua

Hôm nay mừng đón ngày sinh

Của người vợ quý mà mình cưng thương

Một ngày hạnh phúc yêu đương

Vợ chồng sát cánh trên đường dân ca.

Limeil Brevannes 09.06.2020

Trần Quang Hải

Trương Như Bá – Kyluc.vn: Đặng Văn Khai Nguyên – Người kế vị “vua đàn môi” Việt Nam


 

What do you want to do ?

New mailCopy

Đặng Văn Khai Nguyên – Người kế vị “vua đàn môi” Việt Nam

12-08-2016

(Vietkings) Mới ngoài 20 tuổi Đặng Văn Khai Nguyên đã chơi được 25 loại Đàn môi, sở hữu 600 chiếc Đàn môi và đi biểu diễn loại đàn này ở nhiều nơi trong nước và châu Âu. Anh là học trò xuất sắc của GS.TS.Trần Quang Hải – người được tôn vinh là “vua muỗng” và “vua Đàn môi” của Việt Nam. Khai Nguyên được xem là người kế vị xuất sắc của GS.TS.Trần Quang Hải.

Qua e-mail GS.TS Trần Quang Hải từ Pháp với nội dung giới thiệu về một cậu học trò chơi đàn môi“Cậu Khai Nguyên năm nay 25 tuổi, là học trò đàn môi của tôi từ nhiều năm qua. Hiện Khai Nguyên chơi đàn môi giỏi hơn tôi và đã trình diễn ở nhiều chương trình truyền hình Việt Nam từ năm 2015”, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã tiếp nhận hồ sơ, xem xét, thẩm định và chính thức công bố xác lập kỷ lục Việt Nam đến chàng trai Đặng Văn Khai Nguyên.

Cổng Thông tin kỷ lục Việt Nam đã có cuộc trò chuyện cùng Khai Nguyên xung quanh chuyện sử dụng “chiếc Đàn tỏ tình” của các thanh niên dân tộc vùng cao Việt Nam này:

Chào anh, được biết anh là một trong số những môn sinh ưu tú về Đàn môi của GS.TS Trần Quang Hải, anh cho biết cơ duyên nào đã đưa anh đến với Thầy Hải và anh đã học “nghề” này trong bao lâu?

Đặng Văn Khai Nguyên: Cơ duyên đến với Đàn môi của tôi cũng rất tình cờ, khoảng 6 năm trước tôi được xem một chương trình Văn hoá nghệ thu�����t trên đài truyền hình, có giới thiệu GS.TS Trần Quang Hải từ Pháp về Việt Nam biểu diễn nghệ thuật Đàn môi và đánh muỗng, tôi rất ấn tượng những loại hình âm nhạc dân tộc độc và lạ này. Tôi tự tìm mua 2 cây Đàn môi H’mông đầu tiên để tập chơi và thời gian ngắn sau đó, tôi trực tiếp liên lạc qua email với GS.TS Trần Quang Hải để nhờ sự hướng dẫn chuyên môn và được ông hướng dẫn rất nhiệt tình, đồng thời nhận tôi làm học trò. Từ đó, hai thầy trò thường xuyên trao đổi với nhau qua email và các video clip hướng dẫn và thực hành, tính đến nay đã được 5 năm.

Màn biểu diễn đàn môi mang tên “Sơn ngôn” của Đặng Văn Khai Nguyên – Kỷ lục gia Việt Nam với kỷ lục Người chơi được nhiều loại đàn môi nhất.

Trước khi học Đàn môi, anh có học qua những loại Đàn nào chưa?

Đặng Văn Khai Nguyên:  Như đã nói ở trên, cái duyên đến với Đàn môi của tôi thật sự tình cờ, vì từ trước tôi không theo đuổi bất kỳ bộ môn nghệ thuật nào cũng như chơi một loại nhạc cụ nào khác.

Hiện nay anh chơi được tất cả bao nhiêu loại Đàn môi?

Đặng Văn Khai Nguyên: Hiện tại tôi chơi được hơn 25 loại Đàn môi của Việt Nam và trên thế giới, tiêu biểu nhất là Đàn môi H’mông Việt Nam, Đàn môi Morchang của Ấn Độ, Khomus của Yakutia-Nga, Karinding của Indonesia, Maranzano của Italia…

Vậy theo anh Đàn môi nào khó chơi nhất? Đàn nào là dễ chơi nhất?

Đặng Văn Khai Nguyên: Theo đánh giá chung của những người chơi Đàn môi thì Đàn môi đồng Kou Xiang của Trung Quốc là loại khó chơi nhất, ngoài ra còn có Đàn môi tre. Còn loại Đàn dễ chơi nhất có lẽ là Đàn môi H’mông Việt Nam, loại Đàn này nhỏ gọn, đặt lên miệng khảy là có thể tạo ra âm thanh, rất dễ tập chơi.

Vậy trước đây, Đàn môi chủ yếu được dùng như một phương tiện tỏ tình của các chàng trai cô gái ở vùng cao, thì ngày nay loại nhạc cụ này được sử dụng như thế nào?

Đặng Văn Khai Nguyên:  Hiện nay một số nhạc sĩ, nghệ sĩ chuyên nghiệp dùng Đàn môi để độc tấu hay hòa tấu với những nhạc cụ khác, ứng dụng Đàn môi trong âm nhạc điện tử, lồng tiếng, nhạc nền cho phim..sử dụng Đàn môi đang dần phổ biến hơn trước.

GS.TS Trần Quang Hải và trò cưng (Ảnh FB)

Đàn môi thường hòa tấu với các loại nhạc cụ nào?           

Đặng Văn Khai Nguyên: Ở Việt Nam, những người nghệ sĩ đã chuyển hóa và làm mới âm thanh của Đàn môi qua việc kết hợp với những nhạc cụ dân tộc khác để tạo một giai điệu mới lạ, hấp dẫn. Còn trên thế giới thì từ lâu Đàn môi được trình diễn độc tấu, song tấu hay tập thể, ngoài ra còn kết hợp với những nhạc cụ hiện đại như: trống, piano, organ, violon, didgeridoo (một loại sáo châu Úc) Hang (trống làm bằng kim thép), Beatbox (trống miệng)…

Anh chơi Đàn môi theo bài bản có sẵn (của nhạc sĩ sáng tác) hay tự phát từ cảm hứng của mình?

Đặng Văn Khai Nguyên: Hiện nay tôi vẫn chưa tìm được một bản nhạc nào dành riêng cho Đàn môi, mà Đàn môi chỉ được kết hợp với một số những nhạc cụ khác để tạo nên một tác phẩm hoàn chỉnh.

Hiện tại anh có tất cả bao nhiêu loại Đàn môi trên thế giới?

Đặng Văn Khai Nguyên: Về số lượng Đàn môi, hiện tôi có 600 cây Đàn (gọi là “cây Đàn” nhưng thực ra cây Đàn lớn nhất chỉ chừng 2 gang tay và cây nhỏ nhất chỉ bằng ngón tay út hoặc nhỏ hơn nữa), trong đó có hơn 100 cây của 25 nước trên thế giới (trên tổng số 30 nước có Đàn môi).

 

Bộ sưu tập đàn môi của Khai Nguyên

 

Nguyên nhân nào đưa anh đến với khán giả nước ngoài ở Italia, Nga? Cảm xúc của họ như thế nào khi nghe anh biểu diễn?

Đặng Văn Khai Nguyên: Qua một số thông tin từ báo chí, tôi có cơ hội được tập luyện một số tiết mục có Đàn môi trong chương trình âm nhạc dân tộc Việt Nam ở sự kiện triển lãm thế giới Expo Milano 2015. Ngoài ra do có kỹ thuật chơi Đàn môi Khomus (Yakutia-Nga) theo đúng truyền thống người Yakutia nên tôi đã được mời góp mặt vào một số chương trình truyền hình và báo chí của đất nước Italia, Nga. Khi biểu diễn xong, những tràng pháo tay nồng nhiệt của khán giả đã nói lên tất cả tình cảm mà họ đối với tôi cũng như tiếng đàn môi.

Đặng Văn Khai Nguyên trong một lần biểu diễn đàn môi (Ảnh Internet)

Nắm vững những nguyên tắc kỹ thuật, nghệ thuật của Đàn môi, anh đã chế tạo ra những chiếc Đàn môi nào của riêng anh chưa?

Đặng Văn Khai Nguyên: Hiện tại tôi đã sáng tạo ra được các loại Đàn môi tre với đủ kỹ thuật chơi là “Khảy”, “Gõ” và “Giật dây”. Tôi là nghệ nhân Đàn môi đầu tiên trên thế giới sáng chế và thực hành thành công loại Đàn môi tre có từ 1 đến 4 lưỡi, ngoài ra còn tạo thêm một số loại Đàn môicó hai đầu (Đàn môi hai đầu với hai kỹ thuật chơi khác nhau) và Đàn môi tre bé bằng đầu đũa…Cũng xin nói thêm, vừa qua một Viện Bảo tàng chuyên Sưu tập các loại Đàn môi trên thế giới (đặt tại Nga) có lời mời tôi gửi vào Bảo tàng ấy một bộ Đàn môi tre do tôi sáng chế. Có lẽ trong năm nay, Bộ Đàn môi tre của tôi sẽ hiện diện ở một khu trưng bày nào đó của Bảo tàng này.

 

Khai Nguyên nhận bằng xác lập kỷ lục Việt Nam trong Hội ngộ Kỷ lục gia Việt Nam lần thứ 31

Cho biết cảm tưởng khi được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục: “Người chơi được nhiều loại Đàn môi nhất”?

Đặng Văn Khai Nguyên: Tôi thật sự vui mừng vì những cố gắng của mình trong việc sưu tầm, nghiên cứu và chơi được nhiều loại Đàn môi đã được cộng đồng người yêu nhạc, yêu văn hóa truyền thống Việt Nam biết đến. Xin chân thành cảm ơn người Thầy yêu quý của tôi là GS.TS Trần Quang Hải đã hướng dẫn, dìu dắt tôi để tôi có được ngày hôm nay. Cám ơn Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu, thẩm định để công nhận kỷ lục Việt Nam cho tôi với danh hiệu: “Người chơi được nhiều loại Đàn môi nhất”.

 

Cám ơn tài năng trẻ, chúc anh luôn vui khỏe và thành công trên bước đường nghệ thuật.

Clip Khai Nguyên biểu diễn đàn môi:

Trương Như Bá – Kyluc.vn

TRẦN VIỆT HẢI : CẢM NGHĨ VỀ GS TRẦN QUANG HẢI


Chapeau intro:
Cách đây không lâu tôi tình cờ được biết tin không vui là GS. TS. Trần Quang Hải bị vướng chứng bịnh ung thư. Anh là một nhân tài về ngành nhạc dân tộc học (ethnomusicologie /ethnomusicology), ngành học được giảng dạy tại các đại học trên thế giới, hầu phổ biến, lưu truyền về các loại nhạc cổ truyền của các dân tộc trên thế giới bao gồm nhiều thể loại, trong đó nhất là có dân ca, và nghệ thuật sử dụng các khí cụ âm nhạc hay về nghệ thuật âm nhạc, một sắc thái văn hóa độc đáo nào đó của một dân tộc hay một quốc gia..
.
Link: https://www.youtube.com/watch?v=anypfOH7mRI&t=860s

  1. TS. Trần Quang Hải, cũng như thân phụ của anh, GS. NS. Trần Văn Khê là những học giả am tường và nghiên cứu sâu xa về âm nhạc ở đẳng cấp quốc tế công nhận, tên tuổi được thế giới biết đến. Trần Quang Hải mang cá tính xuề xòa, dung dị, dí dỏm, có lẽ phần nào như chú 3 Trần Văn Trạch. Và cũng có lẽ ít ai biết nhạc sĩ Trần Quang Hải là cháu của dũng tướng Nguyễn Tri Phương.

Trong tâm tình với đàn anh đồng môn cùng sân trường Petrus Ký, tôi cầu xin Chúa Phật phù hộ cho sức khỏe của anh Trần Quang Hải được tai qua nạn khỏi, khi mà khoa học tiến bộ trên thế giới càng tiến gần đến việc khắc phục để chế ngự các căn bịnh nan y hiểm nghèo như ung thư. Đây là 2 chữ khó ưa đối với tôi. Tôi chúa ghét nó, vì chính tôi cũng bị dính búa với nó, tuy chưa ngủm củ tỏi, nhưng hơi ơn ớn xương sống vậy.

Cher anh Trần Quang Hải,
Nous prions toujours pour vous, et nous serons sûrement avec vous à travers la profonde vallée de la tristesse jusqu’au grand espoir de la montagne, …
Que Dieu vous bénisse!

Phan Anh Dũng, Trần Mạnh Chi, Phạm Hồng Thái và Trần Việt Hải/ Nhóm NATV & TTG.

Mystères des voix du monde (VF):
https://www.youtube.com/watch
———————————————————————————————————
Dân tộc nhạc học là gì?, GS. TS. Trần Quang Hải (Paris):
http://minhtrietviet.net/dan-toc-nhac-hoc-la-gi/

Mes mots d’intro du Prof. Tran Quang Hai…
Dr. Tran Quang Hai est un professeur renommé dans le domaine de l’ethnomusicologie et de l’étude de la musique folklorique dans le monde entier, ainsi que le professeur Tran est excellent dans l’interprétation et l’enseignement des instruments, musiques traditionnelles, … VHLA
——————————————————————————————————
Subject: Viet Nam musique traditionnelle – Prof. Tran Quang Hai
From: Pham Hong Thai
To: VietHai Tran, Tran Manh Chi
cc: Tran Quang Hai, Nghiem Phu Phuc, Phan Anh Dung
Mar 28 at 2:41 AM
Link: https://www.youtube.com/watch?v=anypfOH7mRI&t=860s

Yêu Nhau Cởi Áo Cho Nhau – bài Hưng Yên.

rfviet.com- Cũng chịu ông thật, mới nằm xuống chừng mươi, mười lăm phút là đã ngáy được ngay, trong khi “người ta” thì trằn trọc mãi đến một, hai giờ sáng mà vẫn chưa chợp mắt được!

– Ờ ờ dễ ngủ thế đấy, nhưng cũng chỉ được vài ba tiếng đồng hồ rồi hai mắt lại thao láo chứ có ngủ tiếp được đâu, sau đó thì thấy đêm sao mà nó dài quá!

Đó là câu “than thở” mà đôi vợ chồng già này thường hay thở vắn than dài với nhau như thế đấy các vị ạ! Nói ra thì lại sợ bị chê là già rồi mà còn không nên nết, hay sẽ bị bà xã cằn nhằn cho là vạch áo cho người xem, lưng chứ ở với nhau đã 52 năm, con đàn cháu đống rồi mà chẳng khi nào phải sống xa nhau, trừ cái đận trên 6 năm ở tù cải tạo của Việt Cộng là nằm khác giường, chứ ngoài ra bao giờ cũng chỉ “chung một giường” thôi. Nó quen đi rồi, không nghe thấy tiếng thở của nhau, hay là lâu lâu không đụng vào nhau một tí thì cứ thấy nó trống vắng làm sao ấy, không ngủ được, âu cũng là cái tật!

Nằm chung giường, nhưng một người thì trằn trọc đến một, hai giờ sáng vẫn chưa ngủ được, còn một người thì đặt lưng xuống mới chỉ mươi, mười lăm sau đã ngáy khò khò. Vâng, thế nhưng mà có phải là ngáy khò khò rồi thì “làm một phát” cho tời sáng đâu? Chỉ hai, ba tiếng đồng hồ sau là hai mắt lại thao láo, nên mới thấy sao mà đêm nó dài quá?

Đêm nó dài quá, không ngủ được nên đầu óc cứ nghĩ lung tung, hết chuyện nọ rọ chuyện kia, mới thấy như là: Ngày xưa các cụ ta hình như không có cái gọi là “tiếng sét ái tình” thì phải? Bởi nếu không “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” thì lấy nhau cũng là do bà mai, ông mối chứ chẳng phải tự nhiên mà nên vợ nên chồng đâu. Bởi thế mới có câu: “Ở đời có 4 cái ngu, làm mai lãnh nợ gác cu cầm chầu”! Đẹp tốt thì chúng hưởng, còn nếu chẳng ra gì thì cứ ông mối bà mai chúng chửi, như thế có phải là nghề mai mối là nghề bạc bẽo nhất không?

Vâng, nếu chỉ nghĩ phớt qua thì nó vậy, nhưng nếu chịu khó đi sâu vào tục ngữ, ca dao của ta một chút thì lại thấy các cụ ta ngày xưa chẳng những đã yêu nhiều mà còn có những cử chỉ tỏ lộ tình yêu rất đẹp, nếu không thì làm sao lại có những câu như thế này:

“Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay”

“Yêu nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua”

“Yêu nhau chẳng lọ chiếu giường
Chỉ một tầu lá che sương cũng vừa”

“Yêu nhau trăm sự chẳng nề,
Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”

Và còn rất nhiều câu có nói đến chữ “Yêu” nữa, thí dụ như: “Yêu nhau cau bảy bổ ba, ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười”. Hoặc: “Khi yêu trái ấu cũng tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo”. Hoặc: “Khi yêu yêu cả đường đi, khi ghét ghét cả tông ti họ hàng…!” Một hôm chỉ có hai vợ chồng già với nhau, tôi hỏi bà xã: Theo mình thì câu “Yêu nhau cởi áo cho nhau, về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay” là người con trai cởi áo cho người con gái, hay người con gái cởi áo cho người con trai?

Cũng cần phải nói cho rõ ràng ba chữ “cởi áo cho” ở đây có nghĩa là người này cởi áo mình đang mặc “đưa” hoặc “khoác” cho người kia, chứ không có nghĩa “mập mờ” như sự giải thích trong một bài phiếm của một vị mà chúng tôi đọc được ở trên “net” là người này cở áo của người kia ra để làm sự gì đó?

Nghe tôi hỏi là người con trai cởi áo cho người con gái hay người con gái cởi áo cho người con trai? Bà xã tôi trả lời ngay không cần nghĩ ngợi: “Rõ ràng là người con trai cởi áo đang mặc ra khoác cho người con gái chứ người con gái cởi áo của mình ra thế nào được”! Tôi cho là câu trả lời chính xác, rồi trong đầu lại hình dung ra cảnh:

Một buổi chiều mùa thu đất Bắc, gió se se lạnh, chàng với nàng cùng đi trên con đường vắng, thấy nàng phong phanh chỉ một manh áo mỏng, run rẩy vì rét thương quá đi thôi! Thế là mặc dù cũng chỉ mặc một tấm áo, chàng vẫn cởi ra khoác lên người nàng. Còn “Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay” chỉ là một câu nói dối thậm vô lý nhưng lại rất có duyên. Trời rét căm căm thế này thì áo mặc trên người chứ cởi ra vắt vai hay sao mà “qua cầu gió bay” được? Không nói thì mẹ cũng biết thừa là đã cho ai rồi?!

Một điều nữa khẳng định hành động “cởi áo” là hành động của người con trai bởi hầu hết là người nam “đô” con hơn người nữ, nên người nữ mặc được áo của người nam chứ người nam không thể mặc vừa áo của người nữ được. Chẳng cần nói đâu xa, cứ ngay như vợ chồng già này thôi, áo của bà xã, tôi xỏ một cánh tay cũng không lọt chứ nói chi đến mặc cả một cái lên vào người. Các vị cứ tưởng tượng đi, một người nặng trên 160 pounds có thể mặc vừa áo của một người mà khi có da có thịt nhất cũng chỉ nặng không quá 115 pounds không? Thế nào chả có vị không đồng ý, hỏi rằng: Thế ca dao (hay là dân ca) ta cũng có những câu như thế này:

“Bồng bồng cõng chồng đi chơi
Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng
Ông ơi cho tôi mượn cái gầu sòng
Để tôi tát nước đem chồng tôi lên!”

Thế không phải là “chàng” nhỏ con hơn “nàng” hay sao?

Dĩ nhiên, nhưng trong trường hợp này dù “nàng” có cởi áo đưa cho “chàng” mặc thì cũng không thể ứng với câu “Yêu nhau cởi áo cho nhau” được!

Tuy tình yêu của các cụ ta xưa không ồn ào, không một sống hai chết như ngày nay, nhưng cũng không kém phần lãng mạn, những câu sau đây nói lên sự lãng mạn đó:

“Ước gì sông hẹp một gang
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”

“Ước sao ăn ở một nhà
Ra vào gặp mặt kẻo mà nhớ thương”

“Ước gì có cánh như chim
Bay cao lượn thấp đi tìm người thương”

Tình yêu chẳng những đã lãng mạn mà lại còn rất đẹp, hứa hẹn những điều chẳng biết có thực tế và có thực hiện nổi hay không:

“Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây tím chung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch bát tràng về xây
Xây dọc anh lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân”

Tình yêu tuy lãng mạn như thế, nhưng kết thúc lại hiếm khi vượt ra ngoàt vòng lễ giáo của gia đình. Dù có yêu nhau thế nào đi nữa cũng vẫn phải được sự chấp thuận của đôi bên cha mẹ, vẫn phải qua mọi thủ tục, đủ mọi lễ nghi mới nên vợ nên chồng được. “Nhà có nóc, áo mặc không qua khỏi đầu”! Đó là những câu nói tỏ rõ sự tôn kính và uy quyền của cha mẹ đối với con cái. Cũng chính vì thế mà khi đã kết hợp lại thành vợ, thành chồng rồi thì hình như nó có một sự ràng buộc tuy vô hình nhưng rất bền vững. Xã hội Việt Nam ta ngày xưa hầu hết có nếp sống tập trung như những đại gia đình. Không phải chỉ con cái tuy đã lập gia đình rồi mà vẫn ở với cha với mẹ mà có khi ông bà, cha mẹ, con cái, cháu chắt đến 3, 4 đời vẫn sống quây quần, ràng buộc lấy nhau trong một khu nhà, vì thế mà tôn ti, trật tự rất được coi trọng. Con cái, cháu chắt làm điều sai quấy chẳng những sợ làm ông bà, cha mẹ buồn lòng, mà có khi còn sợ bị ông bà, cha mẹ quở mắng, trách phạt.

Người con gái ngày xưa đi lấy chồng là gánh cả giang sơn nhà chồng. “Thân gái 12 bến nước, trong nhờ đục chịu”. “Đàn bà như hạt mưa sa, hạt rơi xuống giếng hạt ra ngoài đường”. Và còn có những câu:

“Có chồng phải luỵ cùng chồng
Đắng cay phải chịu mặn nồng phải theo
Lên non cũng phải lên theo
Tay vịn chân trèo hái trái nuôi nhau”

Khi người con gái đã lấy chồng rồi thì coi nhà chồng mới là nhà của mình, coi cha mẹ chồng có khi còn quan trọng hơn cả cha mẹ đẻ ra mình, vì thế nên mới có câu: “Con gái là con người ta, con dâu chính thực mẹ cha mua về”, và mới có hai chữ “gả bán”.

Người con gái thì thế, còn người con trai, có gặp phiền toái gì khi muốn lấy vợ không? Dĩ nhiên là có, chúng ta hãy nghe những câu than vãn sau đây:

“Trời mưa cho ướt lá khoai
Công anh làm rể đã hai năm ròng
Nhà em lắm ruộng nhiều đồng
Bắt anh tát nước cực lònh anh thay
Tháng Chín mưa bụi gió may
Cất lấy gầu nước hai tay rụng rời”

Còn nữa, một anh khác lại than:

“Công anh làm rể chương đài
Đến nay đã được mười hai năm tròn
Sức anh ngày một hao mòn
Dù có cố gắng chẳng còn mấy hơi”

Con gái thì đi làm dâu còn con trai thì đi ở rể, tuy vậy mà dù lấy nhau vì yêu hay chỉ do sự định đoạt, “gả bán” của cha mẹ mà một khi đã trở thành chồng, thành vợ rồi thì cũng thuỷ chung, cũng ăn ở với nhau suốt đời suốt kiếp. Mấy câu thơ trong bài “Tình già” của ông Phan Khôi cho ta thấy 2 chữ “Thuỷ chung” đó:

“Hay! nói mới bạc làm sao chớ
Buông nhau làm sao cho nỡ
Thương được chừng nào hay chừng nấy
Chẳng qua ông trời bắt đôi ta phải vậy
Ta là nhân ngãi đâu có phải vợ chồng mà tính việc thủy chung?”

Ý nghĩa thật rõ ràng “buông nhau làm sao cho nỡ, thương được chừng nào hay chừng nấy” vì ta mới chỉ là nhân ngãi “đâu có phải vợ chồng mà tính việc thủy chung?”

Ngày xưa các cụ ta chẳng thấy nói tới tiếng sét ái tình, chẳng có nặng lời thề thốt, chẳng có mấy tháng, mấy năm tìm hiểu. Ngày xưa các cụ ta làm gì có cảnh anh dẫn em đi ăn nhà hàng, rồi đưa em đi shopping, rồi nay tặng bông, mai tặng nhẫn, mốt tặng kim cương, hột xoàn… Có chăng là khoác cho nhau manh áo cũ nặng mùi mồ hôi (cởi áo cho nhau) với những lời ước mơ nghe như viễn vông, không thực tế: Anh lấy được nàng, anh mua gạch bát tràng về xây, “xây dọc anh lại xây ngang, xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân”! Ấy thế mà khi đã thành vợ, thành chồng rồi thì chung thuỷ với nhau cho đến già, đến chết, sinh con đẻ cái, làm nên một dòng họ vững bền cho tới mãi về sau.

So sánh với thời các cụ, chúng ta bây giờ sướng hơn nhiều. Chúng ta được tự do lựa chọn người chúng ta sẽ lấy. Chúng ta yêu nhau, tìm hiểu nhau chán chê rồi cưới hay không cưới là do mình quyết định, chẳng cha mẹ nào ép buộc. Ngày cưới, sự có mặt của cha mẹ đôi khi chỉ có tính cách lễ nghi hay chỉ như một sự trang trí chứ không có tính cách quyết định, bởi vì có mặt cha mẹ hay không thì người ta cũng vẫn cứ cưới nhau. Còn “làm dâu” với “ở rẻ” thì hầu như đã trở thành truyện cổ tích. Bây giờ có khi mẹ chồng còn phải sợ nàng dâu chứ “bà cô bên chồng” là cái thá gì? Có nàng dâu còn ra điều kiện không cho mẹ chồng ở chung nhà. Có cặp đã mua hay thuê nhà sẵn rồi “cưới nhau xong là đi “, năm thỉnh mười thoảng anh chị mới dẫn nhau “đáo” về nhà cha mẹ chồng một lần cho phải phép.

Chúng ta có “tiếng sét ái tình”, có tình yêu lý tưởng như thế và cũng đã có thời gian tìm hiểu nhau kỹ càng như thế, ấy vậy mà sao mới chỉ sau có mấy năm thì đã chán nhau như chán cơm nếp nát? Đã chẳng có thiếu gì các anh, các chị học hành đỗ đạt bằng nọ bằng kia và tuổi đời cũng mới chỉ quá 40 một tí đã mấy lần thay vợ, đổi chồng, hay cho như thế mới thật sự là văn minh? Rồi còn con cái chúng ta nữa, đã có không thiếu những đứa trẻ có mẹ mà thiếu cha hoặc có cha mà không có mẹ. Có thể vật chất chúng không thiếu, nhưng tinh thần của chúng thì sao? Đã có một lúc nào chúng ta ngồi bình tâm suy nghĩ và giật mình vì thấy là mình chẳng những đã quá ích kỷ lại còn thua xa các cụ ta ngày xưa hay không?

Source: MachSongMedia.
———————————————————————————————————
Un peu parler de Tran Quang Hai et Bach Yen…

Fils de l’éminent Professeur Tran Van Khé, récemment disparu, musicien et musicologue, Tran Quang Hai déploie une impressionnante palette de techniques vocales et instrumentales alliées à une créativité sans faille.
Il forme avec son épouse, la chanteuse Bach Yen, un duo complémentaire aux riches rebondissement et saveurs toujours à découvrir.

Tran Quang Hai anime aussi régulièrement des stages de chant diphonique au Centre Mandapa. A l’occasion de son 40ème anniversaire, le Centre Mandapa a le plaisir d’accueillir à nouveau de nombreux musiciens, danseurs et conteurs, qui ont enrichi de leur présence l’histoire du lieu, ou qui souhaitent à leur tour rendre hommage à ceux qui ne sont plus, au fil des temps forts de ces soirées et de cette programmation exceptionnelle, qui prendra cours jusqu’en juillet 2016.

En 2009, Bui Xuan Quang a réalisé pour Paris Vietnam Productions des Variations sur la musique vietnamienne par le musicologue TRAN QUANG HAI avec la voix de BACH YEN. Nguyen Van Dong est à la caméra, Blandine Brière a assuré le son.

https://www.youtube.com/watch?v=anypfOH7mRI&t=860s

Qua Cầu Gió Bay
Tác giả: Dân Ca

Yêu nhau cởi áo ối à trao nhau
Về nhà dối rằng cha dối mẹ a à a á a
Rằng a ối a à qua cầu, tình tình tình gió bay
Rằng a ối a à qua cầu, tình tình tình gió bay

Yêu nhau cởi nón ối à cho nhau
Về nhà dối rằng cha dối mẹ a à a á a
Rằng a ối a à qua cầu, tình tình tình sứt quai
Rằng a ối a à qua cầu, tình tình tình sứt quai

Yêu nhau cởi nhẫn ối à trao nhau
Về nhà dối rằng cha dối mẹ a à a á a
Rằng a ối a à qua cầu, tình tình tình đánh rơi
Rằng a ối a à qua cầu, tình tình tình đánh rơi..

Ref.link: https://www.facebook.com/langquanho/videos/1670913859796684/
——————————————————————————————————–
Mystères des voix du monde (VF)
https://www.youtube.com/watch?v=7Cvd2W-b840

Le célèbre ethnomusicologue Trân Quang Hai nous invite avec humour à un extraordinaire tour du monde des timbres de voix. Un voyage initiatique en quelque sorte ! Il lève le voile sur les techniques de travestissement vocal des sorciers africains, sur le chant diphonique mongol ou encore sur la voix extrêmement grave des moines bouddhistes tibétains.
© Patrick Kersalé 2012

Prof. Tran Quang Hai, un musicien Vietnamien maîtrisant le chant diaphonique mongol (« cette technique consiste pour une personne à produire plusieurs sons simultanément en réalisant principalement un bourdon vocal guttural et une mélodie d’harmoniques.
Dans la technique vocale du chant diphonique connu surtout en Asie centrale, une seule personne chante à deux voix : un bourdon (une note grave) constitué par le son fondamental, et une mélodie superposée formée par des harmoniques sélectionnées dans la cavité buccale.
Tran Quang Hai, ethnomusicologue et musicien, enseigne cette technique dans un atelier d’initiation. Des images radiologiques et spectrales, en temps réel et son synchrone, permettent de visualiser les procédés vocaux du point de vue physiologique puis acoustique. Deux artistes mongols sont interviewés et filmés lors d’un concert à Paris.

Le chant diphonique, et la notion d’Harmoniques.
Le phénomène sonore est très complexe. Des physiciens étudient l’acoustique et les sons, et grâce aux machines apparues au XXè siècle on a pu confirmer physiquement, et scientifiquement que la constitution d’un son est l’addition de plusieurs fréquences. Elles sont exprimées en Hertz (Hz). Une fréquence FAIBLE, est un son GRAVE. Une fréquence ELEVEE est un son AIGU.

Une note est simplement une fréquence fondamentale, avec au-dessus, d’autres fréquences. Ces fréquences sont entendues à certaines intensités bien plus faibles (volume). Ce qui fait que nous distinguons le son du piano, d’un saxophone par exemple, vient du fait que ces fréquences ne sont pas entendues aux mêmes intensités. C’est ce qu’on appelle LE TIMBRE.

Pour comprendre et approfondir cette notion physique, je vous invite à découvrir un site remarquable, avec des extraits sonores explicites : CLIQUEZ ICI : Découverte de la notion de Timbre

En Mongolie, et d’autres pays d’Asie (Tibet…), les moines bouddhistes en particulier ont développé la technique du chant diphonique, qui leur permet de mieux entrer en communication avec leurs Dieux. Outre la Mongolie, l’Inde et l’Afrique du sud comptent également des chanteurs diphoniques. Certains moines tibétains pratiquent également ce chant et vont même jusqu’à se briser les cordes vocales volontairement pour obtenir un timbre de voix plus grave.

Le chant diphonique fait partie intégrante de la vie musicale en Mongolie et au Touva. Pratique vocale ancestrale, il est lié par tradition à la nature et aux forces qui l’animent. Il est chargé de rythmer les évènements de la vie quotidienne (imitation du vent, cris d’animaux…). On le rencontre également dans d’autres régions du monde comme au Tibet où les moines Gyuto l’utilisent dans leur pratique spirituelle ainsi que chez les femmes de la tribu Xhosa en Afrique du Sud.

Cette pratique vocale a commencé à susciter de l’intérêt chez les musiciens occidentaux depuis la fin des années 60 avec K. Stockhausen (Stimmung), David Hykes, Tran Quang Haï…

Cette technique, très difficile demande un travail vocal rigoureux. Elle consiste à chanter un bourdon (une note tenue dans le registre grave), et en formant des voyelles spécifiques, et en plaçant astucieusement sa langue, placer une mélodie au-dessus de ce bourdon. Cette mélodie correspond aux harmoniques. Le chanteur aura réussi à sélectionner des fréquences d’harmoniques, en sachant quelle voyelle, et quelle placement de la langue il devait utiliser pour faire « sonner » ou « sortir » l’harmonique voulue.

website: http://tranquanghai.info
blog: https://tranquanghai1944.wordpress.com
http://www.overtone.cc/profile/TRANQU

Data References:
https://haidiphonie.com/category/tran-quang-hai-2/

http://seem.paris-sorbonne.fr/…/l_ethnomusicologie_en_franc…

https://www.google.com/search

 

TQH1TQH2TQH3TQH4TQH5TQH6TQH7TQH8TQH9

BĂNG HUYỀN: Chiều văn học nghệ thuật ra mắt sách Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt


Chiều văn học nghệ thuật ra mắt sách Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt

GS Quyên Di thay mặt bà khoa trưởng trao tặng bằng vinh danh GS. TS Trần Quang Hải. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Bài BĂNG HUYỀN

Trưa Chủ Nhật, ngày 10 tháng 2, 2019 tại phòng hội của Đại Học Cal State Long Beach (CSULB) thuộc Phân Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ Gốc Á Châu (Asian & Asian American Studies) đã diễn ra buổi “Chiều Văn Học Nghệ Thuật” năm thứ III do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức.
Chương trình này rất đặc biệt, là buổi ra mắt sách “Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian kết hợp cùng Nhóm Văn Thơ Lạc Việt tại San Jose thực hiện, và vinh danh Giáo Sư Tiến Sĩ (GSTS) Trần Quang Hải. Ông là con trai đầu của cố Giáo sư Tiến Sĩ Trần Văn Khê và cháu của “quái kiệt” Trần Văn Trạch.

GS.TS Trần Quang Hải diễn thuyết và trình diễn hát Đồng Song Thanh và đàn Môi. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Ông là một thuyết trình viên, nhạc sĩ sáng tác và là người thầy nổi tiếng về sư phạm âm nhạc. Ông đã có hàng nghìn cuộc nói chuyện, giới thiệu âm nhạc Việt Nam khắp nơi trên thế giới. Ông không chỉ chuyên về nhạc dân tộc Việt, mà còn là chuyên gia về nhạc cụ và âm nhạc của các nước châu Á. Ông sống tại Paris, Pháp, đã thực hiện rất nhiều công trình vĩ đại với nhiều sáng tạo đầy màu sắc nghệ thuật độc đáo.
Giáo sư Quyên Di là giảng viên Phân Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ Gốc Á Châu của Đại Học Cal State Long Beach và là thành viên của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Giáo sư Quyền Di cho biết, “Đây là chương trình thường niên lần thứ ba Chiều Văn Học Nghệ Thuật của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức, dưới sự bảo trợ của Khoa Nghiên Cứu về Người Mỹ gốc Á Châu của Đại Học Cal State Long Beach. Tôi sẽ đại diện cho phân khoa và bà khoa trưởng, Giáo Sư Tiến Sĩ Teri Yamada, hiện đang công tác tại Ấn Độ, nên không thể có mặt trong chương trình lần này, để trao giải thưởng cho Giáo sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải và tôi cũng đại diện chương trình tiếng Việt của trường, trao cho ông giải thưởng. Giải thưởng ghi nhận sự đóng góp không biết mệt mỏi của Giáo sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải vào gia tài âm nhạc Việt Nam.

Cùng nhau hát “Và Con Tim Đã Vui Trở Lại” (Băng Huyền/ Viễn Đông)

“Giáo sư Trần Quang Hải có nhiều công trình lắm, ngoài những công trình về sáng tác âm nhạc, công trình về thu thanh thu hình âm nhạc và trình diễn. Ông còn là một người nghiên cứu rất sâu về âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Cuốn sách Trần Quang Hải 50 năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt, tập hợp rất nhiều bài nghiên cứu của ông. Trong quyển sách này đặc sắc nhất và tôi được học hỏi nhiều là bài Nguồn Gốc Âm Nhạc Việt Nam.”

Ông Trần Mạnh Chi, trưởng Ban Tổ Chức và là đại diện cho Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, bày tỏ, “Chúng tôi hân hạnh đón tiếp mọi người đến dự ra mắt sách của Giáo sư Trần Quang Hải từ Pháp qua. Nhạc sư đã bỏ công 50 năm nghiên cứu về âm nhạc nghệ thuật Việt Nam. Đây là niềm hãnh diện cho người Việt Nam khắp nơi trên thế giới. Tất cả những chương trình mà nhóm đã tổ chức trong quá khứ và sắp tới, chúng tôi mong mỏi vinh danh những nhà văn học, nhà văn hóa nghệ thuật, những ai đóng góp công sức cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam. Hôm nay đặc biệt còn có một buổi triển lãm tranh mini của các họa sĩ Hoàng Vinh, họa sĩ Hồ Thành Đức, họa sĩ Beky, họa sĩ Lưu Anh Tuấn… bên ngoài phòng hội trước khi diễn ra chương trình chính.”

GS. TS Tahara (người đầu tiên từ trái qua) hát Qua Cầu Gió Bay chung với Thụy Vy và Hậu Nguyễn. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Giáo sư Tiến sĩ Trần Quang Hải có mặt từ rất sớm để ký tặng sách cho mọi người, cùng xem tranh của các họa sĩ triển lãm bên ngoài phòng hội và chụp hình lưu niệm với bạn hữu, thân hữu, những khán giả yêu mến tài năng của ông. Nói về cảm xúc của mình, Giáo sư Trần Quang Hải chia sẻ, “Đây là chương trình rất đặc biệt và vinh dự cho tôi, là một người từ phương xa đến. Sự tiếp đãi rất nồng hậu, tất cả những cảm tình, sự tiếp đón của anh em trong cộng đồng đem lại cho tôi niềm vui, để tôi thấy rằng người Việt Nam vẫn còn yêu thương nhau. Đây là buổi giới thiệu quyển sách, là công trình nghiên cứu của tôi về nhạc dân tộc Việt trong 50 năm qua, như lĩnh vực hát đồng song thanh, không những phổ biến giọng hát, phổ biến dùng giọng hát để chữa bệnh, giúp những người câm có thể nói chuyện được mà không phải mổ, đó là những đóng góp rất nhỏ không chỉ trong âm nhạc mà nó liên hệ đến nhiều lĩnh vực khác nhau, và được gặp gỡ người đồng hương tại vùng Nam Cali sau 13 năm tôi mới trở lại gặp những người Việt sống tại đây.

GS. TS Trần Quang Hải chụp lưu niệm tại triển lãm tranh mini (Băng Huyền/ Viễn Đông)

“Tôi rất lấy làm vui mừng và hân hạnh được tiếp đón ở trường Đại Học Cal State Long Beach, là niềm vui cho tôi và tôi cũng chia sẻ niềm vui đó với cộng đồng người Việt tại California nói riêng và cho tất cả những người Việt của cộng đồng Việt Nam tại đất Mỹ này nói chung. Sự vinh danh này chỉ là cá nhân thôi, nhưng điều tôi thấy trường Đại Học Mỹ bắt đầu chú trọng về văn hóa Việt, đó là điểm son do sự đóng góp của rất nhiều những vị giáo sư mà chúng tôi được hân hạnh gặp và một số vị đã đóng góp một cách trực tiếp hay gián tiếp trong công trình xây dựng văn hóa Việt Nam ở hải ngoại.”

Các thành viên trình diễn tiết mục thời trang. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Sau khi thức khai mạc trang trọng với sự điều hợp của MC Thụy Vy, Ban Hợp Ca nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã gợi nhắc bao nỗi bồi hồi trong tim khán giả qua ca khúc Nắng Đẹp Miền Nam (Lam Phương) và bồi hồi nhiều suy nghiệm về cuộc đời về tình thương giữa người với nhau qua ca khúc Phút Chan Hòa (Thơ Trần Việt Hải, nhạc Hồng Tước).

Phần nghi thức vinh danh GS. TS Trần Quang Hải với GS Quyên Di của trường Cal State Long Beach, Bà Nguyễn Thế Thủy đại diện của Học Khu Westminster trao bằng tưởng lục đến GSTS Trần Quang Hải. GS Dương Ngọc Sum là cố vấn Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian cùng các cựu học sinh của trường Petrus Ký tặng quà lưu niệm cho GS Trần Quang Hải, là một cựu học sinh của Petrus Ký. Vài thành viên Nhóm Văn Thơ Lạc Việt tại San Jose đã tặng GS. TS Trần Quang Hải hai cuốn sách “Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” tiếng Việt và tiếng Anh do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian kết hợp cùng Nhóm Văn Thơ Lạc Việt tại San Jose thực hiện,

Những tiết mục phụ diễn văn nghệ đặc sắc

Những người mẫu không chuyên của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã trình diễn tiết mục Thời Trang Áo Dài Việt Nam Theo Dòng Thời Gian, dưới sự dẫn dắt dí dỏm của Giáo sư Quyên Di và cô Thủy Vân đã giới thiệu tên gọi, thời gian ra đời của từng bộ áo dài Ngũ Thân, áo dài Lemur/Cát Tường, áo dài Tứ thân/ Lê Phổ, áo dài Raglan/ Trần Kim, áo dài Trần Lệ Xuân…

GS Quyên Di giới thiệu ba sinh viên của mình lần lượt đọc lá thư của bà khoa trưởng gửi đến GS. TS Trần Quang Hải về lý do bà không có mặt trong buổi vinh danh. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Chương trình càng thêm đậm đà phong vị dân tộc với giọng hát của dược sĩ Thanh Mai qua ca khúc Rất Huế của Võ Tá Hân sáng tác, do chính nhạc sĩ Võ Tá Hân đệm guitar cho giọng hát của Thanh Mai. Giọng ca ngọt ngào của Ngọc Quỳnh hát “Dạ Cổ Hoài Lang” và nét duyên dáng, luyến láy, nhấn nhá từng câu chữ của ca sĩ Thúy Anh (Là – xướng ngôn viên, biên tập viên của chương trình radio Chiều Thứ Bảy) hát bài Mình Ơi Em Chẳng Cho Về của nhạc sĩ Anh Bằng, với tiếng đàn guitar của anh Nguyên Vũ.

Giáo sư Tiến Sĩ Hiroki Tahara, phó giám đốc Trung Tâm Giáo Dục Ngôn Ngữ Học tại đại học APU Nhật, không những nói, viết tiếng Việt rất lưu loát mà anh còn am hiểu văn hoá Việt rất sâu. Trong bộ áo dài cách điệu, anh cùng với MC Thụy Vy và ông Hậu Nguyễn là thành viên trong Ban Tổ Chức đã hát rất tình bài hát Qua Cầu Gió Bay.

Anh Hiroki Tahara đã tiết lộ với người viết, cách nay hơn 20 năm, hồi còn là sinh viên năm thứ nhất Cử nhân ngoại ngữ học tiếng Việt tại trường Đại Học Ngoại Ngữ Tokyo, anh đã từng tập hát bài Qua Cầu Gió Bay, hát chung với các sinh viên khoa tiếng Việt. Lần này tham dự trong chương trình, ban tổ chức đề nghị anh hát bài này, anh đã tập lại trong một tuần để hát. Anh rất thích bài hát này nên dù hai mươi mấy năm rồi vẫn chưa quên. Lúc còn sinh viên, anh hát nhưng hoàn toàn không hiểu ý nghĩa bài hát. Dù vậy bài hát để lại ấn tượng đẹp để anh nhớ hoài, anh rất thích câu hát “Tình tình tình gió bay… tình tình tình gió bay, vì âm điệu nên thơ.

Những giọng ca tài tử của các ca sĩ khách mời góp vui cho chương trình, bằng tài năng và sự duyên dáng của mình, họ đã giúp người nghe có mặt trong buổi diễn càng yêu cái chất thơ tinh tế vô cùng của dân ca, ca khúc mang âm hưởng dân ca của các nhạc sĩ, càng nghe lại càng thấm cái ý nhị đẹp đẽ trong nội dung câu hát, cái thanh lịch nhẹ nhàng, cái tình rất nồng đượm mà không vồn vã của người Việt Nam.

Diễn thuyết và trình diễn

Có lẽ tiết mục đặc biệt và nhận được những tràng pháo tay cùng những lời ngợi khen, hâm mộ từ những người tham dự nhiều nhất, chính là tiết mục diễn thuyết kết hợp trình diễn của Gíao sư Trần Quang Hải trong khoảng 20 phút.

Với lối nói chuyện hài hước và phong thái giản dị, mộc mạc, GS. TS Trần Quang Hải đã chia sẻ súc tích những nghiên cứu của ông về Nhạc Dân tộc xoay quanh hai công trình: Hát đồng song thanh, và đàn môi. Trong hai công trình ấy, Hát đồng song thanh là công trình mà ông dày công nghiên cứu nhiều nhất. Hát đồng song thanh, còn được biết đến trên thế giới với cái tên Tuvan Throat Singing, Khoomei (Khơ mây), Hooliin Chor.

Là một biến thể đặc biệt của hòa âm giọng hát, được hình thành và phát triển từ Mông Cổ, Nội Mông, Tuva và Siberia. Nó được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể năm 2009 dưới cái tên Nghệ thuật hát Mông Cổ, Khơ mây. Trong kĩ thuật hát này, người trình diễn sẽ tạo ra một cao độ cơ bản và đồng thời tạo ra thêm một cao độ khác cao hơn cùng lúc.

GS TS Trần Quang Hải ký tặng sách. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Công trình nghiên cứu Hát đồng song thanh của GS.TS Trần Quang Hải là một quá trình nghiên cứu, từ vị trí phát âm và các kỹ thuật hát của mỗi dân tộc trên thế giới, cho đến các lối hát đồng song thanh của các nước Tây Á và kiểu thức cầu kinh của các vị Lạt Ma- Tây Tạng. Từ cơ sở đó, ông phát triển và sáng tạo lối hát Đồng song thanh theo kiểu của riêng ông, mà hiện nay không những để biểu diễn âm nhạc mà còn ứng dụng vào lĩnh vực Y khoa.

Đây còn là cách điệu trị học cho các căng bệnh đứt dây thanh quản và khuyết tật về phát âm. Song song với diễn thuyết ông còn thể hiện tài nghệ độc đáo của mình minh họa các giọng hát bằng giọng ngực, minh họa bằng hát một đoạn ngắn opera. Giọng mũi, minh họa bằng hát bài nhạc cổ truyền Nhật Bản. Giọng óc, minh họa hát đoạn kinh kịch.

Giáo sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải giới thiệu cây đàn Môi của người Mông là một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Ông cho biết ông đã giới thiệu cây đàn Môi của người Mông cách nay 45 năm khắp nơi trên thế giới. Ông đã ngậm chiếc kèn nhỏ bé, bàn tay thoăn thoắt gảy kèn, đôi môi run run theo cảm xúc tạo nên những âm thanh trầm bỗng vang lên, rền rền thánh thót, tạo nên những âm thanh thật thú vị, mới mẻ về giai điệu, tiết tấu khiến mọi người hải trầm trồ thích thú.

Lúc đầu ông đánh đàn môi đơn giản trình diễn bài Happy Birthday To You, sau đó ông đàn lại bài này nhưng thêm tiết tấu vô, khiến bài hát nghe đặc sắc hơn. Ông còn dùng đàn môi để nói chuyện, ông nhép miệng nói không phát ra tiếng, nhưng thông qua đàn môi tiếng nhép miệng câu nói đó phát ra tròn câu rõ ràng, làm cho không khí cả khán phòng sôi động hẳn lên và không ngớt vang lên những tràng pháo tay thán phục. Kết thúc phần trình diễn của mình, ông nhận lời đề nghị của MC Thụy Vy, đã nhái lại giọng của người chú là nghệ sĩ Trần Văn Trạch, hát lại bài Sổ Xố Kiến Thiết Quốc Gia trong tiếng vỗ tay giòn giã của khán giả.
Có mặt trong chương trình, GS Lê Văn Khoa đã chia sẻ với nhật báo Viễn Đông, “Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian là nhóm tập hợp một số anh em yêu thích nghệ thuật và văn chương, không phải là những nhà văn lớn, những nghệ sĩ lớn, nhưng họ yêu thích và đã làm được. Đây là điều rất quý. Anh Việt Hải là người sáng lập ra nhóm, rất có lòng, đã thúc đẩy anh em làm nhiều sách. Họ đang có danh sách dài để ra mắt sách suốt năm tới, chứ không chỉ trong năm nay thôi đâu. Đây là điều mừng.

“Người Việt ra nước ngoài cũng có ước vọng làm sao để văn hóa, nghệ thuật của mình vươn lên, thành ra họ tiếp tục sinh hoạt. Mình ở ngoài nước, vẫn làm được. Thì như vậy, theo tôi, văn hóa và nghệ thuật Việt Nam sẽ càng rộng lớn hơn, và nó không nằm dưới một chiêu bài, sự chỉ huy của người nào cả. Vì đó là dân tộc, chứ không phải là cá nhân. Đây là ý của tôi. Còn anh Trần Quang Hải thì tôi có biết anh lâu rồi, thỉnh thoảng gặp nhau mỗi lần anh bên Pháp qua, thỉnh thoảng chúng tôi có gặp nhau.

“Thân phụ của ông Trần Quang Hải là Trần Văn Khê, là người tôi rất kính quý, là người có tâm hồn về nhạc chính thống Việt Nam và họ muốn phát huy. Nhưng cái mình làm rộng rãi hơn hết, đem nhạc Việt đi phổ biến trong những buổi diễn thuyết khắp thế giới, thì tôi nghĩ người Việt không có ai làm được tương xứng như anh Trần Quang Hải đâu.

“Chúng ta rất hãnh diện có những nhân tài đó trong cộng đồng Việt Nam chúng ta và tôi hy vọng mọi người sẽ tiếp trợ, làm sao để thế hệ sau này còn vươn xa nữa, để đưa nhạc Việt chúng ta đi rộng ra trên thế giới.”
Giáo sư Tiến Sĩ Hiroki Tahara thì bày tỏ, “Tahara rất vui vì được ngồi chung với những bạn Việt Nam của cộng đồng người Việt hải ngoại tại Nam Cali. Bản thân tôi rất thích hát bài Qua Cầu Gió Bay, và được hát trước mặt Giáo sư Tiến sĩ Trần Quang Hải là một vinh dự đối với tôi.”

Anh cũng nêu lên suy nghĩ và mong ước của mình, “Điều hơi buồn là sao chương trình này toàn người già, tôi năm nay 47 tuổi, không phải người trẻ. Đáng lẽ chương trình như thế này phải có thanh niên ngoài 20, dự thật đông. Lẽ ra phải có thanh niên tham gia vào ban tổ chức để rút kinh nghiệm cách tổ chức, cách tiếp khách, cách biểu diễn. Vì không có người trẻ sẽ không có người kế thừa, vì người già đến tuổi phải về hưu, nghỉ ngơi, không có người trẻ kế thừa thì tiếc lắm.”

Kết thúc buổi diễn, các thành viên trong ban Hợp Ca, Ban Tổ Chức, GS. TS Trần Quang Hải, GS Dương Ngọc Sum… và các khán giả đã cùng hát vang ca khúc “Và ConTim Đã Vui Trở Lại” (Đức Huy) như một sự cổ vũ về sự lạc quan, phấn khởi và luôn trong tư thế chủ động hướng đến sống tích cực, là thông điệp ca khúc của nhạc sĩ Đức Huy gửi đến người nghe và cũng là điều mà Ban Tổ Chức mong muốn GS. TS Trần Quang Hải và một vài thành viên trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đang bị bệnh nan y. Mong các vị ấy sẽ sớm chữa trị thành công, hồi phục và vui khỏe để tiếp tục những công trình văn hóa nghệ thuật đang thực hiện, góp vào vườn hoa Việt Nam những bông hoa tươi thắm.

Link: http://m.viendongdaily.com/chieu-van-hoc-nghe-thuat-ra-mat-…
———————————————————————————-

Ra mắt sách 10 tháng 2, 2019 tại trường đại học CSU-Long Beach, California, USA.
Ban Biên Tập chúng tôi thật hân hạnh thay mặt cho liên nhóm NVNT và TTG đứng ra thực hiện Tuyển Tập Trần Quang Hải mang tên là « Trần Quang Hải : 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt »; để vinh danh và tri ân người nhạc sĩ đã có những đóng góp quý giá vào kho tàng dân tộc nhạc thế giới và đã đào tạo nhiều môn đệ tiếp nối bước chân ông ở nhiều đại học trên thế giới.

Nhạc sĩ kiêm giáo sư tiến sĩ Trần Quang Hải đã đưa chi nhánh âm nhạc Việt Nam trong dòng dân tộc nhạc học góp mặt ở khắp năm châu. Với cuộc sống ở nước ngoài gần nửa thế kỷ, GS. Hải luôn muốn đưa cái hay của Việt Nam ra dòng chính thế giới. Ông làm phiên dịch viên khi soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống mà còn chủ trương nỗ lực bảo tồn nó. Ông góp mặt tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của dân tộc Việt Nam. Ngoài ra ông đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại. Giáo sư Trần Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc về các loại như thanh nhạc ca hát và âm nhạc dựa vào các nhạc cụ truyền thống Việt Nam. GS. Hải còn viết nhiều bài biên khảo,về những nghiên cứụ và tham luận về âm nhạc dân tộc học cho nhiều tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc
Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết này của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được ghi nhận lại trong từ điển New Grove. Trong phạm vi dân tộc nhạc học GS. Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (ở Mỹ và Pháp). Giáo sư Trần Quang Hải còn là thành viên SACEM (Society of Authors, Composers and Publishers of Music) và ông cũng được trao tặng bảo quốc huân chương (Ordre National de la Légion d’Honneur) của Pháp.

Do vậy Ban Biên Tập chúng tôi hoàn thành tập sách này với mục tiêu ghi nhận sự đóng góp quý báu của GS/TS Trần Quang Hải. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian mong rằng quyển sách này sẽ được quý độc giả các nơi đón nhận như một tác phẩm tham khảo trong kho tàng văn hóa Việt Nam về người nhạc sĩ độc đáo của chúng ta, với công trình tích cực là duy trì và bảo tồn văn hóa Việt, hầu truyền đạt đến những thế hệ tiếp nối bản sắc dân tộc Việt cho ngày sau. Trong tinh thần đó, Ban biên tập chúng tôi chân thành tri ân ông: GS/TS Trần Quang Hải.
Thay mặt,

GS. Dương Ngọc Sum, Cố vấn.
NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN.

________________________________________________

Khi nói đến Trần Quang Hải, rất nhiều người trong chúng ta đều biết anh là con trai Gs.Ts.Trần Văn Khê; nhưng có lẽ ít ai biết anh là một Giáo sư về Dân tộc Nhạc học, một Nhạc sĩ chuyên về Nhạc cổ truyền Việt Nam, một nhà nghiên cứu về Âm nhạc truyền thống Dân tộc. Sinh ra trong một gia đình Nhạc sĩ Nhạc cổ truyền từ hơn 150 năm, là đời thứ 5 trong gia đình họ Trần, Trần Quang Hải được hấp thụ hai nền âm nhạc Đông Tây. Sau hơn 50 năm nghiên cứu, anh đã hệ thống hóa và phát triển các kỹ thuật về hát Đồng song thanh, Gõ muỗng, và Đàn môi. Hơn nữa, Trần Quang Hải cũng đã cùng người vợ, nữ danh ca Bạch Yến, thực hiện được hơn 3,000 buổi giới thiệu và trình diễn ở nhiều quốc gia trên thế giới, về những nét độc đáo và đa dạng của nền âm nhạc Dân tộc Việt Nam.

Ngoài danh hiệu được UNESCO công nhận “kiệt tác Văn hóa phi vật thể” qua nhạc Cung đình (năm 2003), Cồng chiêng (2005), Ca trù và Quan họ (tháng 10/2009) ; cũng như nhiều bộ môn khác như : Hát xẩm, Hát chèo, Hát xoan, Đờn ca tài tử… đang được tuyên dương, và được thế giới biết đến. Gs.Ts. Trần Quang Hải quan niệm “Đâu cần phải đợi UNESCO xác nhận giá trị của di sản Nghệ thuật Dân tộc, chính người Việt phải biết nâng niu, gìn giữ trước khi các di sản phi vật thể đó mất đi…”. Đối với anh, bảo tồn Nhạc Dân tộc là công việc của nhiều thế hệ. “Giáo dục một thế hệ, không phải chỉ là vấn đề văn hóa, mà còn là giáo dục về âm nhạc. Đó là cách thức có thể mang tới sự sống còn của Nhạc Dân tộc”.

Quyển sách “Trần Quang Hải: 50 Năm nghiên cứu Nhạc Dân tộc Việt” được thực hiện để tri ân người Nhạc sĩ đã dành gần trọn cuộc đời nghiên cứu và đóng góp cho nền âm nhạc Dân tộc Việt Nam cũng như nền âm nhạc của thế giới, với thành quả thật đáng trân quí.

Xin trân trọng giới thiệu đến quý độc giả.

Gs. Dương Ngọc Sum, Cố vấn

Nhân văn Nghệ thuật & Tiếng Thời Gian

Tiểu sử Trần Quang Hải
Nhân Văn Nghệ Thuật

(Theo tài liệu do Gs. Ts. Trần Quang Hải cung cấp)

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã, tỉnh Gia Định, miền Nam nước Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê (sinh ngày 24 tháng 7, 1921) và bà Nguyễn Thị Sương (sinh ngày 19 tháng 9, 1921), cựu giáo sư Anh văn trường nữ trung học Gia Long.

Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17 tháng 6, 1978 tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc ngoại quốc Tây phương lúc đầu của sự nghiệp cầm ca. Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải, Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng với chồng phổ biến nhạc dân tộc trên khắp thế giới.

Trần Quang Hải xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời và anh là nhạc sĩ đời thứ năm. Ngoài ra, anh là Nhà nguyên cứu Nhạc dân tộc (Ethnomusicologist – Ethnomusicologue) chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, vừa là thuyết trình viên, nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, và thành viên của Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học Pháp. (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique). Theo gót cha anh, GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu Nhạc dân tộc, anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc theo ngẫu hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh.

Gia Đình Nhạc Sĩ (NS) Cổ Truyền

NS Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ của Trần Quang Hải là Quan án sát, theo Phan Thanh Giản sang Pháp để thương thuyết nhưng thất bại, treo ấn từ quan, vào Nam, cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. Rất giỏi về Nhã nhạc Cung đình Huế.
NS Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố của Trần Quang Hải là người Đàn tỳ bà rất hay, được gởi ra thành nội Huế để học nhạc Cung đình, chuyên về Đàn tỳ bà. Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho Đàn tỳ bà, nhưng rất tiếc tất cả tài liệu đó đã bị thất lạc vì chiến tranh.
NS Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội của Trần Quang Hải là người Đàn kìm rất giỏi, trong giới cải lương có biệt hiệu Bảy Triều, đã đặt ra cách lên dây Tố Lan cho Đàn kìm, để đàn lên những khúc nhạc buồn ai oán. Hiện nay chỉ còn một số rất ít nhạc sĩ Cổ nhạc biết đàn dây này (như Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, GS Trần Văn Khê).
GSTS Trần Văn Khê (1921- 2015), thân phụ củaTrần Quang Hải là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng Quốc tế, làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới trong lãnh vực trình diễn cũng như nghiên cứu. Con trai trưởng trong gia đình có ba người con (GS Trần Văn Khê, Quái kiệt Trần Văn Trạch, và Trần Ngọc Sương từng nổi tiếng là ca sĩ Tân nhạc vào đầu thập niên 50), GS Trần Văn Khê đã hăng hái trong phong trào Tân nhạc lúc trẻ (cùng thời với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Phạm Duy) và quay về Cổ nhạc khi soạn luận án tiến sĩ tại Pháp. Từng là giáo sư nhạc Đông phương tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), giám đốc nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (Paris, Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, và từng giữ chức Phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO. Ông nghỉ hưu từ năm 1987, nhưng vẫn tiếp tục nghiên cứu và đóng góp một vai trò lớn cho hai nghiên cứu Nhạc Cung đình Huế (được danh hiệu “Kiệt tác văn hóa phi vật thể” UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (Kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Ông hồi cư về Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và là cố vấn cho công việc nghiên cứu Ca Trù để đệ trình lên UNESCO cho năm 2007, và nghiên cứu Đờn ca tài tử Nam bộ cho năm 2011, dành cho kiệt tác văn hóa phi vật thể. Ngày 24 tháng 6 năm 2015, ông từ trần tại quận Bình Thạnh, TP HCM, Việt Nam.
Trần Quang Hải (1944 –), cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp Trường Quốc gia Âm nhạc Saigon với bộ môn Vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), đi sang Pháp năm 1961 và học nhạc tại trường đại học Sorbonne, và Nhạc dân tộc ở trường Cao đẳng Khoa học Xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). Trần Quang Hải bắt đầu làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với đội ngũ nghiên cứu tại Viện nhạc dân tộc của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới 2009 về hưu). Anh đã có trên 3,500 buổi trình diễn tại 70 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác hơn 400 bản nhạc dành cho Đàn tranh, Đàn môi, muỗng, hát đồng song thanh, nhạc ngẫu hứng, đương đại. Anh cũng đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Dân tộc Việt Nam, hoàn tất ba quyển sách, 4 DVD, 4 bộ phim, và hội viên của trên 20 Hội nghiên cứu thế giới. Con đường nghiên cứu của anh nhắm về sự giao lưu giữa các loại nhạc cổ truyền với các loại nhạc trên thế giới (World music), pha trộn nhạc ngẫu hứng, jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại quốc gia âm nhạc hoàn toàn mới lạ.
SỰ NGHIỆP

1955-1961: Học tại Saigon, tốt nghiệp Vĩ cầm (Lớp GS Đỗ Thế Phiệt).
1954-1961: Học trường trung học Pétrus Ký, Saigon.
1963-1970 : Học tại Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (CEMO – Centre d’Etudes de Musique Orientale – Center of Studies for Oriental Music, Paris), học các loại nhạc truyền thống Ba Tư, Ấn độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia, Đông Nam Á, Việt Nam.
1963: Học tại trường Ecole du Louvre, Paris.
1965: Chứng chỉ Anh văn (Certificate of Proficiency in English), University of Cambridge, Anh quốc.
1965: Chứng chỉ văn chương Pháp (Certificat de Littérature Française), Université de Sorbonne, Paris.
1967: Cao Học Dân Tộc Nhạc Học trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội, Paris.
1969: Chứng chỉ Âm Học (Certificat D’acoustique Musicale), Paris.
1970: Văn bằng Cao Đẳng Nhạc Việt Trung Tâm Nghiên Cứu Nhạc Đông Phương, Paris.
1973: Tiến Sĩ Dân Tộc Nhạc Học trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội, Paris.
1989: Văn bằng Quốc Gia Giáo Sư Nhạc Truyền Thống, Paris.
Từ năm 1965 tới 1966: Theo học lớp Nhạc điện (Musique Electro-Acoustique) với GS Pierre Schaeffer, người sáng lập loại Nhạc điện tử ở Pháp.

Từ năm 1968 tới 2009: Làm việc tại Viện Dân tộc Nhạc học của Viện Bảo Tàng Con Người (Département d’Ethnomusicologie du Musée de l’Homme) ở Paris (Pháp).

Từ năm 1968 tới 1987: Làm việc ở Viện Dân tộc Nhạc học của Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Và Truyền Thống Dân Gian (Département d’Ethnomusicologie du Musée des Arts et Traditions Populaires) ở Paris (Pháp).

Từ 1970 tới 1975: Giáo sư Đàn tranh của Trung Tâm Nghiên Cứu Nhạc Đông Phương, Paris.

Trần Quang Hải là Nghiên cứu sư của Trung tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học (CNRS) ở Paris từ năm 1968. Và từng là thành viên của nhiều đội ngũ nghiên cứu (RCP 178 – Recherche coopérative sur programme từ 1968 tới 1973; ER 65 – Equipe de recherche từ 1974 tới 1981; Laboratoire Associé từ 1974 tới 1987; UPR 165 – Unité Propre de Recherche từ 1982 tới 1985; UMR 9957 – Unité Mixte de Recherche từ 1986 tới 1997; UMR 8574 – Unité Mixte de Recherche từ 1997 tới 2004; UMR 7173 – Unité Mixte de Recherche từ 2005 trở đi).

Trong suốt thời gian 55 năm hành nghề nhạc sĩ chuyên nghiệp (1962 -2017), anh đã trình diễn trên 3,500 buổi cho khán giả Tây phương, và trên 1,500 buổi diễn cho học trò trên thế giới do các cơ quan chính thức của Na Uy (Rikskonsertene), Bỉ (Jeunesses Musicales de Belgique), Thụy Sĩ (Jeunesses Musicales Suisses), Pháp (Jeunesses Musicales de France, Association départementale pour diffusion et initiation musicale – ADDIM).

Từ 1971: Làm 15 dĩa 30cm / 33 vòng và 8 CD về nhạc cổ truyền Việt Nam, đặc biệt là về Đàn tranh. Nhiều sáng tác của anh đã được thu vào dĩa và được đăng trong các quyển tự điển Who’s Who in Music (từ năm 1987), Who’s Who in the World (từ năm 1981), và Who’s Who in France (từ năm 1997).

Về sáng tác nhạc, Trần Quang Hải có viết 12 ca khúc Thiếu nhi với sự cộng tác của nhà văn Duyên Anh năm 1984. Anh đã sáng tác trên 400 nhạc phẩm đủ loại với các ca khúc viết tiếng Việt, Pháp, Anh; và nhạc cho Đàn tranh, Đàn bầu, muỗng, Đàn môi, và hát Đồng song thanh. Ngoài ra, anh còn viết nhạc cho phim « Long Vân Khánh Hội»của Lê Lâm vào năm 1980, phim « Le Chant des Harmoniques » (Bài Ca Bồi Âm) vào năm 1989, và cho phim « La Rencontre du Coq et du Dragon » (Cuộc hội ngộ giữa Gà và Rồng) vào năm 1998.

Với tư cách nhà nghiên cứu Dân tộc nhạc học, Trần Quang Hải đã viết nhiều bài cho các tập san nghiên cứu nhạc học như « The World of Music » (UNESCO), « Journal of Asian Music Society (Cornell University, Hoa Kỳ), « Yearbook of the International Council for Traditional Music –ICTM, Hoa Kỳ), « Cahiers de Musiques Traditionnelles » (Thụy Sĩ), « Koukin Journal » (Tokyo, Nhật Bản).

Anh có viết một bài về nhạc Campuchiacho New Grove Dictionary of Music and Musicians, ấn bản lần thứ 1 (1980) (20 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa vài nhạc cụ Việt Nam cho New Grove Dictionary of Music, ấn bản lần thứ nhì (2001) (29 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa cho trên 200 từ nhạc cụ của Việt Nam, và Đông Nam Á cho New Grove Dictionary of Musical Instruments, London, Anh quốc, Ấn bản lần thứ nhất (1984) (3 quyển).

Trần Quang Hải viết lịch sử nhạc Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan cho quyển tự điển Algemeine Muziekencyclopedia (1082-1984, Hòa Lan), và nhiều bài cho tự điển Encyclopaedia Universalis (1984, 1986, 1988, 1990, 1991, Paris).

Anh đã làm 4 DVD về giọng, và hát đồng song thanh: « Le Chant diphonique » với CRDP (Trung Tâm Địa Phương Tài Liệu Sư Phạm và Hàn Lâm Viên La Réunion, 2004), « Le chant des Harmoniques » (CNRS – Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học, 2005), « La Voix » với nhà xuất bản Lugdivine (2006, Lyon, Pháp), và « The Song of Harmonics » với CNRS, Paris, 2006.

Ngoài ra, nhà nghiên cứu Nhạc Dân tộc, cùng đạo diễn Pháp Patrick Kersalé đã thực hiện hai chương trình video « Mystères des Voix du Monde » (Sự huyền bí của các giọng thế giới) (2012), và « Le Chant des Harmoniques » (Bài ca bồi âm) (2013), trong đó Trần Quang Hải là nhân vật chính của hai video này.

Link: https://nhanvannghethuat.com/206-2/
———————————————————————————
Đại Học Cal State Long Beach, California
vinh danh GS Trần Quang Hải

NGUỒN https://vietbao.com/ – 21/02/2019
Trịnh Thanh Thủy thực hiện
Từ lúc nghe tin Trần Quang Hải, giáo sư tiến sĩ ngành Dân Tộc Nhạc Học (Ethnomusicology) mắc một bệnh nan y là ung thư máu, các anh chị em trong nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian” rất xúc động và có ý định làm một cái gì đó cho ông. Ngày 10 tháng 2, 2019, hai chi nhánh Bắc và Nam Cali của nhóm đã đồng phối hợp thực hiện một buổi chiều văn hoá nghệ thuật và ra mắt sách cho Trần Quang Hải.

GS Quyên Di trao bằng tưởng lục cho GS Trần Quang Hải

Bà Frances Thế Thủy trao bằng cho GS TQHải

Cuốn sách “Trần Quang Hải: 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt” là một tổng hợp các công trình nghiên cứu về âm nhạc của ông đã được góp mặt cùng kho tàng tài liệu âm nhạc VN. GS Hải đã từ Paris bay qua để dự buổi hội ngộ và ra mắt sách hy hữu này. Ngoài một số sinh viên của hai trường đại học Cal State và Fullerton, khoảng gần 200 thân hữu và đồng hương người Việt nghe tin đã về tham dự.

Nguyên GS TQHải là chồng của nữ danh ca Bạch Yến, con trai của cố GS Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu văn hoá và âm nhạc cổ truyền rất nổi tiếng ở VN. GS Hải lấy bằng Tiến sĩ âm nhạc dân tộc người Việt tại Pháp, làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con người ở Pháp (Musée de l’Homme). Ông đã có những nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực Dân tộc âm nhạc học như: hát đồng song thanh, phát triển gõ muỗng. Ông được tôn xưng danh hiệu “vua muỗng” và Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Ông là người trình diễn đàn môi Mông (Hmong) tại nhiều quốc gia nhất thế giới.” Ông cũng là thành viên của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế. Ông và danh ca Bạch Yến đã thực hiện hơn 3000 buổi giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở 70 nước trên thế giới…(Theo Wiki)

Ban đại diện nhóm NVNT&TTG

Ban hợp ca

Nhân dịp buổi ra mắt sách được tổ chức tại Đại học Cal State Long Beach, CA, USA, bà Teri Yamada, khoa trưởng Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ gốc Á đã vinh danh GS TS TQHải.

Thật tiếc, bà Teri Yamada đã không được gặp mặt giáo sư vì giờ cuối bà phải bay qua Ấn Độ dự một buổi lễ hội về văn hoá, nên bà viết một lá thư rất chân tình gởi ông. Bà cáo lỗi và ủy nhiệm GS Quyên Di thay bà chào mừng, vinh danh và trao bằng tưởng lục cho ông.

GS Quyên Di dạy ở đây và cũng là thành viên trong khoa nghiên cứu này cho biết thêm, “Đây là một vinh dự cho Cộng đồng VN vì hiếm khi Khoa trưởng Yamada viết một lá thư trân trọng như thế này. Tôi đã từng dự nhiều buổi vinh danh nhưng chưa bao giờ tôi thấy bà viết một lá thư như thế. Trước đó bà đã đọc tất cả các tài liệu viết về GS, cả những tài liệu của GS viết, nghiên cứu rồi đúc kết lại thành bức thư nói trên và trân trọng trao bằng tưởng lục cho GS. Bà thay mặt Đại học Cal State Long Beach vinh danh GS Hải đã có công phi thường đóng góp vào kho tàng âm nhạc VN qua các công trình nghiên cứu âm nhạc, văn hoá, nghệ thuật dân tộc qua thời gian, qua các thế hệ.

Hàng đứng: Nhóm NVNT&TTG, Hàng ngồi: GS Tahara, GS TQHải, TT Kiều Chinh, NV Nguyễn Quang, NV Quyên Di

Quan Khách

Ngoài ra bà Frances Thế Thủy, Ủy viên giáo dục học khu Westminster cũng lên trao bằng tưởng lục cho ông. Hiện diện trong buổi lễ có tài tử Kiều Chinh, GS Tahara Hiroki, BS Steven Le, nhà văn Nguyễn Quang (phu quân NV Minh Đức Hoài Trinh), NS Lê Văn Khoa và phu nhân, NS Võ Tá Hân và phu nhân, BS Phạm Gia Cổn và phu nhân, bà quả phụ Lê Trọng Nguyễn, Nhạc Trưởng Bùi Quỳnh Giao..v..v…

Sự có mặt của GS người Nhật Tahara Hiroki hôm nay đã khiến tôi rất ngạc nhiên. Ông là người Nhật 100% mà nói và viết tiếng Việt rất sành sõi, thích ăn nước mắm, thích nhạc Việt Bolero. Tôi hỏi ông duyên cớ nào ông lại có mặt ở đây hôm nay. Ông nói ông hâm mộ tài năng của GS TQ Hải mà bay qua Mỹ để được gặp GS Hải. GS Hải rất nổi tiếng ở bên Nhật vì GS đã có nhiều đề tài nghiên cứu về âm nhạc và làm việc chung với các nhà nghiên cứu âm nhạc của Nhật Bản về nhạc cung đình Huế và nhạc dân tộc VN nói chung. GS Tahara cũng nghe tiếng của cố GS Trần Văn Khê là cha của GS Hải nhưng tiếc quá không được gặp cụ vì cụ đã qua đời.

Tôi hỏi thêm là GS Tahara thích nhạc Bolero vậy GS có thấy nhạc cổ truyền VN có gần gụi với nhạc Bolero VN không? Ông bảo ông thấy nhạc Bolero VN gần giống với nhạc Tanka của Nhật hơn, nhưng khác ở chỗ Tanka không có tố chất ngọt ngào còn Bolero phải hát ngọt ngào, mượt mà, đầy cảm xúc mới được.
Ông bà GS Lê Văn Khoa, Nguyễn Hùng và NV Việt Hải (ngồi)

Trình diễn thời trang áo dài Bà Nhu

GS Trần Mạnh Chi là trưởng nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng thời gian”, đồng thời là Trưởng ban tổ chức đã lên giới thiệu các thành viên Bắc và Nam Cali của nhóm, có nhà văn Trần Việt Hải là cố vấn. GS Quyên Di và Thụy Vy là 2 MC chính của buổi vinh danh.

GS TQHải được mời lên và ông xuất hiện với một vóc dáng rất khoẻ mạnh, giọng nói thì hùng hồn, sang sảng. Ông cám ơn BTC đã thực hiện buổi rms này và nói về quá trình hoạt động của ông ở hải ngoại.

Ông qua Pháp năm 1961 tới nay đã 58 năm. Thời gian đầu để học nhạc Tây Phương và nghiên cứu về nhạc học. Sau đó ông đi tìm hiểu thêm và khám phá ra âm nhạc VN không chỉ đơn thuần có Hò, Xang, Xê, Cống, đàn cò, đàn tỳ bà, độc huyền hay hát chèo, cải lương. Nhạc VN còn có nhạc của 53 sắc tộc khác của những dân tộc ở cao nguyên Trung phần như Ba na, Gia Rai, Êđê, Xê đăng… Ở phía Bắc có người Thái, Tày, Thổ, Nùng, Dao…. cũng có nhạc. Nghĩa là nhạc VN có thiên hình vạn trạng do sự phối hợp của nhiều loại. Trong số các nhạc cụ được sáng chế ngày nay có 3 cây đàn là niềm tự hào cho cái đẹp của VN. Đó là đàn T’rưng của người sắc tộc Gia Rai, đàn K’ni 2 giây và cây đàn đá. Ông đã đi khắp nơi trên thế giới để giới thiệu những cái hay cái đẹp của âm nhạc VN, như nhạc Cung Đình Huế, nhạc của đồng bào thiểu số, các loại Hát Tuồng, hát Chèo, Ca Trù, Ca Huế, Đàn Ca Tài Tử Nam Bộ. Ông giới thiệu cho toàn cầu biết sự phong phú đa dạng của nhạc VN.

Triển lãm tranh

Ông đã giới thiệu và trình diễn lối hát Đồng Song Thanh và biểu diễn Đàn Môi khiến các cử toạ kinh ngạc và vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt. Trong quá trình nghiên cứu ông khám phá ra loại hát Đồng Song Thanh của người Mông Cổ vùng Tây Bá Lợi Á tức là hát 2 giọng cùng một lúc, có thể đổi từ giọng chính thành giọng cao. Để cải tiến, ông đã tạo ra phương pháp hát Đồng Song Thanh mới. Hơn thế nữa, có thể dùng phương pháp hát này để trị bệnh cho những người bị đứt thanh quản có thể nói được mà không phải phẫu thuật. Lúc nghiên cứu ông đã chấp nhận để người ta chiếu quang tuyến X trong một thời gian dài để thí nghiệm, nhằm biết được hoạt động của các thớ thịt ở cổ họng khi không dùng đến dây thanh quản mà vẫn tạo ra được tiếng nói. Các bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo ông có thể bị ung thư cổ họng nhưng ông đã sẵn sàng ký vào biên bản cam kết, biến mình thành “con vật” thí nghiệm cho những nghiên cứu của mình bất chấp cả tính mạng.

Để buổi ra mắt sách đầy tính văn hoá nghệ thuật thêm đặc sắc, BTC đã trình diễn một màn “Thời trang với áo dài qua thời gian” với sự góp mặt của các anh chị em trong nhóm cùng sự tham gia của Hội Ái Hữu Sinh Viên VN Fullerton. Những chiếc áo dài từ cổ truyền, Lemur Cát Tường, Bà Nhu, Bà Ba, cho tới cách tân qua các thời đại đã làm khán giả thích thú và kinh ngạc. Những hoạ phẩm nghệ thuật cũng được triển lãm do các hoạ sĩ đóng góp như: Lưu Anh Tuấn, Lê Thúy Vinh, Hồ Thành Đức, Bé Ký, Hoàng Vinh, Đàm Quốc Cường, Lương Nguyễn, Nguyễn Thái Bình… Các màn hợp ca, song ca mang đầy tính dân tộc do các nhạc sĩ, ca sĩ đồng trình bày đã góp phần phong phú cho buổi rms.

Tôi được tiếp xúc với GS Lê Văn Khoa và xin ông chia sẻ cảm nghĩ về âm nhạc cổ truyền khi ông là một nhạc trưởng chuyên về âm nhạc Tây Phương. Ông nói “Âm nhạc là ngôn ngữ không lời khi con người không hiểu nhau thì âm nhạc giúp để hiểu nhau. Cho nên dù là nhạc cổ truyền hay tây phương nó cũng vẫn là âm nhạc. Từ lâu người Việt cổ súy và bảo vệ tối đa nhạc truyền thống, không muốn nó lai nhạc Tây Phương. Người theo nhạc Tây phương thì cho rằng phương thức làm việc của Tây phương có hệ thống ngon lành hơn, nên coi thường nhạc cổ. Như vậy thì thiệt hại quá, tôi dung hoà cả hai bằng cách dùng dân ca VN viết cho nhạc cổ truyền của người Ukraine và họ rất ngạc nhiên. Họ nói lần đầu tiên trên thế giới mới có người làm như vậy. Tôi dùng đàn tranh, đàn t’rưng bằng tre cho hoà tấu với dàn nhạc Tây Phương mới trình diễn ở Houston tháng 11/2018 khiến ai cũng ngạc nhiên hết. Họ thấy thích thú vì cả hai đều hoà điệu. Mục đích của tôi là làm sao phổ cập để cho cả 2 hoà nhịp.”

Trịnh Thanh Thủy thực hiện
Orange County, CA.

Link: http://cothommagazine.com/index.php…

LUCY DURAN / BBC : Vietnam Tran Quang Hai in Saigon


World Routes / BBC

LLUCY DURAN

LUCY DURAN

index

TRAN QUANG HAI & BACH YEN

Lucy and her guides, Vietnamese musicians, Tran Quang Hai and Bach Yen, are in Saigon –the first time these two musicians have stepped back into the city of their birth after 41 years in exile. Along the way, she hears ritual music played on two drums, representing Yin and Yang. She also meets Bach Yen, and discovers more about his return to Saigon after being in exile and how she is affected by the melodies of ritual music she last heard as a child.

Vietnam

Tran Quang Hai in Saigon

 

Please click on the link below to listen to the bbc radio programme :

https://www.bbc.co.uk/sounds/play/p005xjpn

 

 

World Routes / BBC : Vietnam Tran Quang Hai in Hanoi


World Routes / BBCLLUCY DURAN

LUCY DURAN / BBC

69566-tran-quang-hai-et-bach-yen.jpg

BACH YEN & TRAN QUANG HAI

Vietnam

Tran Quang Hai in Hanoi

Lucy Duran presented two programmes from Vietnam. In the first she is joined by Vietnamese musician Tran Quang Hai who makes the long journey home for the first time after 41 years of exile in Paris. They visit the bustling capital Hanoi, a city brimming with traditional music and culture.

PLEASE CLICK ON THIS LINK BELOW TO LISTEN TO THE BBC RADIO PROGRAMME

https://www.bbc.co.uk/sounds/play/p005xjph

 

TRAN QUANG HAI: 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing Paperback – January 29, 2019. This book is on AMAZON https://www.amazon.com/gp/product/1794125671?pf_rd_p=2d1ab404-3b11-4c97-b3db-48081e145e35&pf_rd_r=KBP8AKY8ZDHVK5NV6ER5


TRAN QUANG HAI: 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing Paperback – January 29, 2019. This book is on AMAZON https://www.amazon.com/gp/product/1794125671?pf_rd_p=2d1ab404-3b11-4c97-b3db-48081e145e35&pf_rd_r=KBP8AKY8ZDHVK5NV6ER5

TRAN QUANG HAI: 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing Paperback – January 29, 2019

cover book tran quang hai 2019.jpg

Hide other formats and editions

Price
New from Used from
Paperback, January 29, 2019
$15.00
$15.00
PREFACE :
Professor Hai’s road of musicology practice and musicology research goes beyond the confines of his country of origin. It covers Vietnamese/Oriental Music, from traditional Vietnamese Music of all genres, to the musical background of the Montagnards in the Vietnamese Highlands. It went on beyond borders to address the wonderful aspects of the Musical Heritage of different countries spanning from Southeast Asia to Central Asia to reach as far as Israel, Central Europe to Western Europe.Professor Hai has been working for the National Center for Scientific Research (CNRS) in France since 1968, and is now retired after working for 41 years at the Department of Ethnomusicology of the Musée de l’Homme (Paris). He was a lecturer on South East Asian music at the University of Paris X – Nanterre (1988-1995).He plays 15 musical instruments from Vietnam, China, India, Iran, Indonesia and Europe. Since 1966, he has given over 3,000 concerts in 70 countries, and has taken part in a hundred or so international traditional music festivals. He has taken part in radio and television broadcasts in Europe, America, Asia, Africa, and Australia.Professor Hai has perfected and made us understand more the Jew’s Harp, the Song of Harmonics, he is the greatest specialist in overtone singing.
Dr. Nguyen Vi Son
51E+0NQvK1L.jpg

Product details

CONTENTS :

Tran Quang Hai’sBiography………………………………………………………………………………………….1

Vietnamese Music from a Cultural Perspective…………………………………………………………45

About the Terminology Used in Overtone/Undertone fro the Throat Singing/

Overtone Singing………………………………………………………………………………………………………… 83

Cithare Vietnamienne, Guimbarde, Cuillères au service de la musique

électro-acoustique………………………………………………………………………………………………………..93

Music of the Montagnards of Vietnam………………………………………………………………………105

Recherches Introspectives et Expérimentales sur le chant diphonique…………………145

Original Research and Acoustical Analysis in Connection with the Xoomij Style

of Biphonic Singing……………………………………………………………………………………………………..177

Recherches Expérimentales sur le chant diphonique………………………………………………201

Numbers in Asian Music……………………………………………………………………………………………..313

Caratteristiche fisiologiche e acustiche del Canto diphonico……………………………………339

Photos of Tran Quang Hai ‘s friends in the world of Ethnomusicology……………………367

Selection of Video Clips performed by Tran Quang Hai…………………………………………….400

 

https://www.amazon.com/gp/product/1794125671?pf_rd_p=2d1ab404-3b11-4c97-b3db-48081e145e35&pf_rd_r=SW7657QT41Z10T6XGD52

 

This blog is focused on Trân Quang Hai