Voix ornées, voix travesties : film présenté dans l’expo LA VOIX, Cité des Sciences, Paris


10 janvier 2014
L’ethnomusicologue Trân Quang Hai nous fait la démonstration des possibles ornementations de la voix aux 4 coins du globe. Une épisode de la série VOIX du Monde.
Film présenté dans l’exposition LA VOIX , l’expo qui vous parle à la Cité des Sciences jusqu’au 28 septembre 2014

NAM ĐẢO : Ðôi uyên ương đẹp của làng âm nhạc truyền thống : Trần Quang Hải / Bạch Yến


nd-cuoituan

Chân dung nghệ sĩ
Ðôi uyên ương đẹp của làng âm nhạc truyền thống
Trong giới mộ điệu âm nhạc dân gian trong nước và nước ngoài, mấy ai không biết đến đôi vợ chồng rất sáng tạo trong công việc mà lại chỉn chu trong đời sống gia đình, đó là Giáo sư, nhạc sĩ Trần Quang Hải và nữ ca sĩ nổi tiếng Bạch Yến. Họ là hình ảnh đẹp về dòng nhạc truyền thống của Việt Nam trong thời toàn cầu hóa.
Trần Quang Hải: Không dựa bóng cha

Giáo sư nhạc sĩ Trần Quang Hải là một trong hai người con trai của Giáo sư, Tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê. Anh là người con trai duy nhất nối nghiệp cha đi theo con đường âm nhạc, nỗ lực bảo vệ, phát huy âm nhạc truyền thống.

Gia đình anh nhiều đời làm nghệ thuật cổ truyền. Cụ cố Trần Quang Thọ là nhạc công trong cung đình Huế. Bên ngoại là dòng dõi của Nguyễn Tri Phương, vị quan yêu nước đã tử tiết khi Pháp chiếm thành Hà Nội. Trong gia đình của cụ Nguyễn Tri Phương từng nuôi nhiều nhạc sư nổi tiếng.

Bố anh, Giáo sư Trần Văn Khê là người say mê âm nhạc, rất nhiều cao vọng trong sự nghiệp, lại tham gia phong trào văn nghệ sĩ chống Pháp cùng Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng… Thấy thế, gia đình vội lo chuyện gia đình, để có người nối dõi sự nghiệp sau này. Trần Quang Hải cho biết:  Lúc đó còn đang học trường thuốc, Trần Văn Khê nghe lời người cô Trần Ngọc Viện, người đã lo cho ăn học từ nhỏ tới lớn, để lập gia đình, với hy vọng có con trai nối dòng họ Trần. Trong gia đình họ Trần, thân phụ Trần Văn Khê đã qua đời sớm , để lại hai trai là Trần Văn Khê và Trần Văn Trạch (từ trần năm 1994 tại Paris, Pháp). Nếu không may hai cậu trai ấy qua đời mà chưa có con trai nối dòng thì dòng họ Trần sẽ tuyệt. Nghe theo lời của cô, Trần Văn Khê chịu lập gia đình.

Trần Quang Hải ra đời ngày 13-5-1944, tại Linh Ðông, Thủ Ðức, Sài Gòn. Không chỉ dòng tộc vui mừng mà bạn bè của Trần Văn Khê cũng vô cùng háo hức. Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã viết ca khúc “Trần Quang Hải bao nỗi mừng” để chia vui với người bạn chí thân!

Tiếng là con nhạc sĩ nổi tiếng, nhưng Trần Quang Hải phải sống cuộc đời tự lập từ bé. Gia đình anh tản cư về đồng bằng. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông Huỳnh Văn Tiểng (Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Bộ) bổ nhiệm bố anh làm “Nhạc trưởng quân đội Nam Bộ” với cấp đại đội trưởng trong chiến khu, nên bố con không mấy khi gặp nhau. Sau đó bố anh về thành, hoạt động cùng với anh em văn nghệ sĩ, bị lộ, năm 1948 Trần Văn Khê bị bắt.  Năm 1949, Trần Văn Khê sang Pháp, vừa “lánh nạn”, vừa du học với hai bàn tay trắng, để lại gia đình sau lưng. Sự nghiệp âm nhạc của Trần Văn Khê thành công rực rỡ, uy tín khắp toàn thế giới. Ở quê nhà, Trần Quang Hải phải tự lập để học tập và phấn đấu vươn lên, khi người cha không còn ở Việt Nam nữa. Anh học ở Trường trung học Petrus Ký, Sài Gòn, theo đuổi sự nghiệp âm nhạc, tốt nghiệp Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn năm 1961.

Sang Pháp năm 1961, Trần Quang Hải miệt mài học tập. Ban đầu, anh mơ ước trở thành một nghệ sĩ violon. Nhưng nhờ sự góp ý khéo léo của cha mình, anh hiểu rằng, cái đang cần và anh có thể thành công chính là trở thành một chuyên gia về âm nhạc Việt Nam, âm nhạc châu Á. 

Trần Quang Hải học khá nhiều ngành về nghệ thuật, để bổ trợ lẫn nhau. Anh lấy chứng chỉ văn chương Pháp, Ðại học Xoóc-bon, Pa-ri, 1963, chứng chỉ dân tộc nhạc học, Viện Dân tộc học Pa-ri, 1964, chứng chỉ Anh văn  Cambridge năm 1964. Sau đó anh tốt nghiệp cao học dân tộc nhạc học, Trường Cao đẳng Khoa học Nhân văn, Pa-ri, rồi tốt nghiệp Trung tâm Nghiên cứu nhạc Ðông Phương về lịch sử năm 1969, lấy chứng chỉ Âm thanh học, Ðại học Khoa học, Pa-ri.

Trần Quang Hải là tiến sĩ Dân tộc nhạc học  năm 1973. Năm 1989, anh tốt nghiệp giáo sư nhạc cổ truyền trong kỳ thi do Bộ Văn hóa Pháp tổ chức. Trần Quang Hải chính thức trở thành một chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu âm nhạc truyền thống châu Á.

Bạch Yến – Diễn mô-tô bay và hát nhạc ngoại

Ca sĩ Bạch Yến có giọng hát rất đặc biệt. Chị nổi tiếng ở nước ngoài hơn là trong nước.

Lúc còn nhỏ Bạch Yến đã đoạt huy chương vàng ca nhạc thiếu nhi của Ðài phát thanh Pháp Á năm 1953. Tuy nhiên do kinh tế sa sút, bố mẹ chia tay, cuộc sống của chị rất khó khăn. Chị đi diễn xiếc mô-tô bay khi còn rất nhỏ, và có lần bị xe đè lên người gây chấn thương.

Bạch Yến bước vào sự nghiệp ca hát ở Việt Nam từ năm 1956, vất vả lặn lội trong các phòng trà, vũ trường. Năm 1961 chị sang Pháp học thanh nhạc và thật may mắn, với tài năng của mình, trong hai năm chị đã được mời thu 3 đĩa hát tại Pháp!

 Khi chị về nước, với tiếng tăm của mình, chị đã được mời tham gia vào chương trình Ed. Sullivan show đang rất nổi ở Mỹ. 

Bạch Yến không ngờ, với hợp đồng ban đầu tại Mỹ hai tuần, chị đã ở Mỹ biểu diễn 12 năm ròng, từ năm 1965 đến năm 1977. Chị là ca sĩ Việt Nam duy nhất từng trình diễn chung với những tên tuổi nổi tiếng của Mỹ như Bob Hope, Bing Crosby, Pat Boone, Mike Douglas… ngay tại Mỹ. 

Ðến khi gặp Trần Quang Hải, chị quyết định rời Mỹ sang định cư ở Pháp, đó là năm 1978.

Hai người vốn biết nhau từ năm 1963 ở Pháp. Bẵng một thời gian dài, năm 1978, chị tình cờ gặp lại anh trong một đại nhạc hội ở Paris. Chị từng bộc bạch: “Anh Trần Quang Hải mời tôi đi ăn cơm. Sau bữa cơm, anh nói “mình cưới nhau đi”, tôi tưởng anh đùa nên cũng đùa “ừ, cưới thì cưới”, chẳng dè anh ấy làm thật, hai tuần sau cưới liền“.

Chị cũng cho biết, hồi nhỏ như bao người khác, mong có tấm chồng để nhờ. Khi thành đạt rồi, chị thấy có thể sống một mình, tự do thoải mái. “Vậy mà không hiểu sao khi anh Hải nói mình cưới nhau đi, tôi lại gật đầu liền”.  Họ thực là một sự kết hợp thú vị. Như đôi uyên ương, thời gian tưởng chia cắt họ, nhưng rồi họ vẫn tự nhiên mà đến với nhau. Như một định mệnh!

Cùng bước đi trên con đường âm nhạc dân tộc

Theo truyền thống Việt Nam, “lấy chồng thì phải theo chồng”, Bạch Yến đã từ bỏ sự nghiệp hát nhạc quốc tế để hát nhạc truyền thống của Việt Nam. 15 năm trời chị chuyên tâm học hát nhạc cổ truyền của dân tộc.

Họ đi hát với nhau, chồng áo dài khăn đóng, vợ áo nâu sòng, áo tứ thân, năm tà, đi guốc mộc, hài đen, vấn khăn đen… Chị rất nỗ lực, bởi như có lần chị tâm sự: “Ði biểu diễn là đi làm văn hóa, đi truyền bá văn hóa dân tộc chứ không chỉ là làm văn nghệ”. Hai vợ chồng chị đến hơn 70 quốc gia đã biểu diễn nhạc truyền thống Việt Nam.

Nhạc sĩ Trần Quang Hải có người nâng khăn sửa túi, càng thêm hăng hái làm việc. Anh là Hội viên của 20 hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế; giảng dạy âm nhạc tại hơn 100 trường đại học của 50 quốc gia trên thế giới. 

Trần Quang Hải và Bạch Yến đã diễn khoảng 3.000 buổi biểu diễn nghệ thuật truyền thống Việt Nam tại hơn 100 đại hội liên hoan nhạc cổ truyền quốc tế. Họ đã phát hành 15 đĩa nhựa, tám CD, bốn phim vi-đê-ô, và tham gia vào 10 CD của những cơ quan nghiên cứu quốc tế… Ðặc biệt, hai vợ chồng có 8.000 học trò tại 70 quốc gia trên thế giới.

Một kỷ niệm chung đáng nhớ đánh dấu sự ăn ý của cặp uyên ương này, trong lĩnh vực âm nhạc dân gian,  đó là vào năm 1983, Bạch Yến cùng Trần Quang Hải đoạt giải thưởng lớn nhất dành cho một đĩa nhạc dân ca cổ (Grand Prix Du Disque de l’Académie Charles Cros).

Nhưng có lẽ niềm vui lớn nhất của Trần Quang Hải và Bạch Yến là trong thời mở cửa giao lưu, phát triển thông tin in-tơ-nét, họ có điều kiện về nước làm việc và biểu diễn nhiều hơn. Sau 50 năm ca hát, nổi tiếng khắp nơi, Bạch Yến có dịp gần gũi hơn với người xem trong nước. Giáo sư, nhạc sĩ Trần Quang Hải cũng có tham gia nhiều hơn vào công tác bảo tồn phát huy âm nhạc truyền thống tại Việt Nam. Con gái của anh chị cũng có điều kiện để gắn bó với đất nước Việt Nam của mình.

http://www.nhandan.com.vn/mobile/_mobile_ndct/_mobile_vanhoa_ndct/_mobile_chandungnghesi/item/17977002.html

Workshop intensivo di canto armonico con Tran Quang Hai [dal 1 al 7 Settembre 2014] / Intensive Tran Quang Hai’ overtone singing workshop [1-7september 2014]


tran quang hai workshop in Pontedera , Italy

Workshop intensivo di canto armonico con Tran Quang Hai [dal 1 al 7 Settembre 2014]

1499580_10201134165252652_548417314_nPhoto: Enrico Borrometi

 

 

<english version below>

 

 

Lunedì 1 settembre ore 21

Lezione Concerto di Tran Quang Hai

 

allo spazio NU

Workshop intensivo di canto armonico
con Tran Quang Hai [2-7 Settembre 2014]

Il canto armonico, detto anche canto difonico, diplofonico e triplofonico, ed in inglese overtone singing, è una tecnica nella quale il cantante sfrutta le risonanze che si creano nel tratto vocale (tra le corde vocali e la bocca) per far risaltare gli armonici presenti nella voce. In questo modo una singola voce può produrre simultaneamente due o più suoni distinti.
Khoomei o il canto di gola è il nome usato in Tuva e in Mongolia per descrivere diversi stili di canto e tecniche in cui un solo cantante produce contemporaneamente due (o più) toni distinti; il più basso è il tono fondamentale della voce e suona come un ronzio costante simile al timbro della cornamusa scozzese, il secondo corrisponde ad una delle parziali armoniche ed è come un fischio che risuona a tonalità molto elevate.
Durante il workshop, Tran Quang Hai insegnerà le 2 tecniche di base del canto armonico:
  • Tecnica di una cavità orale con il registro basso degli armonici;
  • Tecnica di due cavità della bocca con una maggiore serie di sfumature.
  • Esercizi di improvvisazione e creazione collettiva
  • Esercizi pe ridurre il suono fondamentale
  • Impare ad ascoltare il propio tono al fine di creare piccole melodie
Tran Quang Hai
Raffinato interprete delle tradizioni musicali dell’Estremo Oriente, maestro di artisti comeDemetrio Stratos, Tran Quang Hai è considerato il più grande specialista del mondo di canto difonico (overtones), tecnica vocale di origine sciamanica che permette l’emissione simultanea di due note, diffusa in Mongolia, in Siberia e in Sudafrica.
Tran Quang Hai proviene da una famiglia di cinque generazioni di musicisti.
_____________________________________________________________________________________________

 

Informazioni
Domenica 7  il gruppo farà una performance aperta al pubblico di coro armonico guidato dall’insegnante.
dal 2 al 6 settembre
dalle ore 16:00  alle ore  21:00
domenica 7 settembre 
preparazione e concerto del Coro Armonico
per informazioni e prenotazioni scrivere a spazionu@gmail.com
_____________________________________________________________________
//ENGLISH VERSION//

Lecture with Tran Quang Hai [1 september 2014]

Intensive Tran Quang Hai’ overtone singing workshop [2-7september 2014]

tran quang haiPhoto: Enrico Borrometi

Khoomei or throat singing is the name used in Tuva and Mongolia to describe a large family of singing styles and techniques in which a single vocalist simultaneously produces two (or more) distinct tones. The lower one is the usual fundamental tone of the voice and sounds as a sustained drone or a Scottish bagpipe sound. The second corresponds to one of the harmonic partials and is like a resonating whistle in a high, or very high register. During the workshop, Tran Quang Hai will teach the 2 basic techniques of overtone singing:

  • Technique of one mouth cavity with lower series of overtones;
  • Technique of two mouth cavities with higher series of overtones.
  • Exercices for improvisation and collective creation.
  • Exercices for the control of each overtone
  • Improvement of overtones by learning how to reduce the fundamental sound
  • Learning of how to listen to own overtones in order to create small melodies
TRAN QUANG HAI
Tran Quang Hai ,a talented and renowned musician who comes from a family of five generations of musicians. had been working as an ethnomusicologist for the National Center for Scientific Research in France since 1968, attached to the Department of Ethnomusicology of the Musee de l’Homme. He is retired since May 2009.
His field is Vietnamese music, Overtone singing in Siberia. He is member of many international societies : Society for Ethnomusicology, ICTM (executive board member since 2005), Asian Music Society, French Society for Ethnomusicology (founding member), International Jew’s Harp Society (founding member), etc…
He has published 23 records on Vietnamese music (from 1971 to 1997), 4 DVD on overtone singing (2004, 2005, 2006), 2 DVD on traditional music of Vietnam (2000, 2009), 1 DVD on his life by the Belgian TV Production (2005), articles in New Grove Dictionary Music and Musicians (1st – 1980 and 2nd (2001) editions), New Grove Dictionary of Musical Instruments (1984) and some few hundreds of articles in different countries .
Recipient of the Medal of Cristal of the National Center for Scientific Research (France) in 1995 , of the Medal of the Knight of the Legion of Honour (France) in 2002, and of the Medal of Honour of Work, Grand Gold category (France) in 2009.
More details of his activities can be found on his website: http://tranquanghai.info
Info:
00393491371631; 00393290908119

QUANG ANH : GS Trần Quang Hải hát dân ca 3 miền tại Malaysia


GS Trần Quang Hải hát dân ca 3 miền tại Malaysia

Báo TTVH – 01/07/2013 10:19

Georgetown festival 2013 diễn ra ở Penang, thành phố Georgetown, Malaysia, từ 26 tới 30/6. Ở tuổi 70, GS Trần Quang Hải là người gốc Việt duy nhất tham dự sự kiện này.

Sau chuyến về Việt Nam thẩm định dân ca ví, dặm đóng góp cho hồ sơ trình duyệt lên UNESCO, GS Hải bay từ Hà Nội về Paris sáng 25/6, không vào thành phố mà chờ máy bay đi tiếp Malaysia. Tại đây, ông sẽ biểu diễn đàn môi, trình diễn “nhạc muỗng” và hát dân ca Bắc – Trung – Nam. Ngày 28/6, GS Hải dạy gõ muỗng cho 60 học trò tại đảo Penang. Sau đó, ông đã có cuộc trả lời phỏng vấn Truyền hình quốc gia về phương pháp truyền dạy gõ muỗng, đàn môi và hát đồng song thanh (có tác dụng cho y học). Ngày 29/6, GS Trần Quang Hải trình diễn cùng với các nghệ sĩ bản xứ, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Myanmar. GS Trần Quang Hải và vợ – danh ca Bạch Yến, đã quảng bá nhạc truyền thống Việt Nam hơn 70 nước trên thế giới.

Quang Anh
Thể thao & Văn hóa

 http://www.baomoi.com/GS-Tran-Quang-Hai-hat-dan-ca-3-mien-tai-Malaysia/71/11366247.epi

DƯƠNG KIM THOA : TS. Trần Quang Hải: “Tôi Tự Hào Vì Được Ba Tin Tưởng!”


“Điều tự hào nhất với tôi cho tới lúc này là được ba tôi công nhận. Ba đã khẳng định với mọi người, tôi sẽ là người đủ năng lực nối tiếp ba trong lĩnh vực nghiên cứu và truyền bá âm nhạc dân tộc”. Đó là chia    sẻ của TS. Trần Quang Hải – người con cả của GS. Trần Văn Khê.

images1023744_22_5__cha_con_hoa_dan

GS Trần Văn Khê và con trai trưởng GS Trần Quang Hải hòa tấu tùy hứng đàn kìm và muỗng

Hai    sáu năm không được ba nhắc tới

Có lẽ, với một người đã ở tuổi bảy mươi tuổi như TS. Trần Quang Hải, câu nói ấy thật đáng suy ngẫm. Ông được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh vì những đóng góp trong nghiên cứu âm nhạc năm 2002. Người ta gọi ông là “vua muỗng” vì nghệ thuật gõ muỗng (thìa) có một không hai. Ông là nghệ sỹ đàn môi bậc thầy của thế giới, từng tham gia biểu diễn trong không ít sự kiện âm nhạc quốc tế. Ông cũng là thầy của khoảng 8000 học trò trên bảy mươi quốc gia….

Nhưng tất cả những thành tựu đó, với ông, không thể sánh với sự công nhận từ ba ông, GS. Trần Văn Khê.

Khi nói điều ấy, TS. Trần Quang Hải cũng cho biết, ba ông, GS. Trần Văn Khê chỉ thực sự tin tưởng năng lực của ông bắt đầu từ khoảng năm, sáu năm trở lại đây. Trước đó, trong suốt hai sáu năm kể từ ngày về nước (từ 1976-2002), GS. Trần Văn Khê chưabao    giờ nhắc tới tên người con trai cả của ông trước công chúng hay báo giới.

Hướng nghiên cứu kỹ thuật hát đồng song thanh của TS. Trần Quang Hải bắt nguồn từ niềm đam mê với lối hát của người Mông Cổ. Đó là hướng nghiên cứu GS. Trần Văn Khê không muốn con trai ông dồn tâm sức. Dành cả đời cho sự nghiệp nghiên cứu, bảo tồn, phát huy và quảng bá âm nhạc dân tộc, GS. không tán đồng chuyện con trai cứ lo tìm tòi, nghiên cứu âm nhạc ngoại quốc. Thái độ “tảng lờ” của ông cụ với TS. Trần Quang Hải cũng là vì thế.

Cũng chính GS. Trần Văn Khê đã hết lời ngăn cản con trai đem chính bản thân ra làm thí nghiệm với các tia X. Trong 45 năm nghiên cứu kỹ thuật hát đồng song thanh, TS. Trần Quang Hải đã tự “biến mình thành một con vật để tự thí nghiệm” theo    lời ông.

Mỗi ngày, ông chấp nhận rọi tia X khoảng 10 phút chỉ vào một điểm nhất định của cơ thể, điều đó tương đương với khoảng 6000 lần chụp X-quang (như thông thường ta vẫn chụp phổi) để nghiên cứu cơ chế phát âm, cơ chế hoạt động tinh vi bên trong của não bộ.

Ai cũng biết, những tia X mang theo chất phóng xạ khi vào cơ thể người, gây tổn thương hoặc biến đổi tế bào, gây nguy cơ ung thư rất cao. Tuy nhiên, vì niềm đam mê quá đỗi say sưa, TS. Trần Quang Hải đã bỏ ngoài tai    lời can ngăn của ba.

Đam mê và quyết tâm đi đến tận cùng

Từ năm 1969, TS. Trần Quang Hải gặp một nhà nghiên cứu nước ngoài và được bà cho nghe đoạn băng ghi âm một người đàn ông Mông Cổ có cách hát rất lạ. Chỉ một mình nhưng với cách hát độc đáo, người nghe tưởng có hai giọng hát cùng thể hiện. Nhà nghiên cứu đó đã khẳng định với TS. Trần Quang Hải, chính bà là người thu âm trực tiếp và cũng hết sức ngạc nhiên.

Trong suốt hơn hai năm, TS. Trần Quang Hải đã nghe đi nghe lại tới vài ngàn lần đoạn băng dài cỡ một phút rưỡi ghi âm tiếng hát đồng song thanh của người Mông Cổ. Ông nghe và phân tích, hát theo để cố hiểu được kỹ thuật đặc biệt của cách hát.

Thế rồi một lần, trong lúc chờ đèn đỏ, ông bật băng âm thanh đó và hát theo. Rất bất ngờ, ông nhận ra mình đã có thể làm được như người hát trong băng ghi âm. Ngỡ ngàng, sung sướng, về tới nhà, ông vội vàng thu âm lại cách hát đó bằng giọng mình rồi hôm sau mang tới nhờ một vị giáo sư thẩm định.

Vị giáo sư thoạt đầu không tin, yêu cầu TS. Trần Quang Hải làm lại. Sau vài lần bất thành vì quá hồi hộp, rốt cuộc, ông đã chứng minh được khám phá mới về kỹ thuật hát đồng song thanh.

Kỹ thuật đã biết, vấn đề còn lại là tiếp tục rèn luyện cho thành thục và sau đó, mô tả cách thức luyện tập để truyền đạt cho người khác. Những bước liệt kê ra thì đơn giản thế nhưng để làm được, đã “ngốn” mất của TS. Trần Quang Hải gần nửa thế kỷ nghiên cứu, làm việc, thực hành và biểu diễn.

Mất hai năm liên tục để tìm ra kỹ thuật, ông lại tìm cách mô tả và rút ngắn dần thời gian cho người học. Từ một giờ đồng hồ, tới nửa tiếng, rồi mười lăm phút, mười phút, 5 phút, và hiện tại chỉ còn 1 phút để người học nắm được kỹ thuật hát. Dĩ nhiên, biết kỹ thuật chỉ cần vậy, nhưng quá trình rèn luyện để có hiệu quả sẽ phải mất hàng chục năm.

Cho tới nay, kỹ thuật hát đồng song thanh (thực chất là kỹ thuật làm chủ giọng nói) không chỉ giúp ích trong lĩnh vực nghệ thuật âm nhạc, biểu diễn, nghệ thuật lồng tiếng, mà còn có tác dụng trị liệu các chứng bệnh như ung thư thanh quản, vỡ tiếng, khàn tiếng, v.v…

Cũng theo TS. Trần Quang Hải, tới nay, sau 26 năm kể từ khi công bố kết quả nghiên cứu (1988) tất cả các công trình nghiên cứu về kỹ thuật hát đồng song thanh trên thế giới đều trích dẫn nghiên cứu của ông như một tài liệu lý thuyết kinh điển. Ông là người khởi xướng nghiên cứu có tính khoa học và sau đó trở thành chuyên gia duy nhất của thế giới về hát đồng song thanh. Ngay việc Chính phủ Pháp trao tặng ông Huân chương Bắc đẩu bội tinh năm 2002 cũng vì đóng góp này.

Tới nay, TS. Trần Quang Hải là người duy nhất trong lĩnh vực âm nhạc được trao huân chương Bắc đầu bội tinh. Nếu xét về cấp độ, ông đã làm được việc gọi là “con hơn cha” vì GS. Trần Văn Khê cũng mới chỉ được tặng Huân chương về văn học và nghệ thuật của chính phủ Pháp, một cấp độ vinh danh thấp hơn so với Huân chương Bắc đẩu bội tinh.

Trong một chia sẻ riêng, TS. Trần Quang Hải cho rằng, ở Pháp cũng như ở các nước phát triển khác như Mỹ, Canada   , muốn tồn tại, muốn có việc làm, người ta phải chuyên nghiệp và độc đáo trong lĩnh vực mình theo đuổi. Việc đi sâu vào nghiên cứu kỹ thuật hát đồng song thanh của TS. Trần Quang Hải cũng chịu tác động phần lớn từ thực tiễn này. Cũng như thế là đam mê của ông với đàn môi và đánh muỗng (thìa).

Tâm đắc với đàn môi

TS. Trần Quang Hải đã cùng 1300 người ở Yakutia (vùng tự trị ở Xi-bê-ria) biểu diễn đàn môi tại một thời điểm năm 2011. Sự kiện này đã được đã được Guiness xác nhận kỷ lục.

Thật thú vị khi biết, khu tự trị Yakutia chỉ có chín trăm ngàn dân, nhưng có tới 700 ngàn người chơi đàn môi. Đàn môi được coi là một trong những nhạc cụ phổ biến nhất ở đây, từ em bé lên ba tới cụ già tám mươi tuổi đều chơi đàn môi. Họ có riêng một bảo tàng dành cho đàn môi, và TS. Trần Quang Hải vinh dự có hình ảnh và tiểu sử cá nhân tại bảo tàng đó

Dịp trở về nước gần đây dự hội thảo khoa học về hát ví, dặm tại Nghệ An, TS. Trần Quang Hải có dịp gặp mặt một “đệ tử chân truyền” về đàn môi mà chưa từng gặp mặt ở Đồng Nai. Đó là bạn Đặng Văn Khai Nguyên, mới 23 tuổi ở Đồng Nai.

Qua internet, những đam mê đồng điệu đã kết nối với nhau thật tuyệt vời. Ông gửi cho học trò tất cả những tài liệu có được về đàn môi. Được biết, tới nay, Nguyên đã sáng tạo ra vài loại đàn môi khác nhau bằng tre rất độc đáo. Không chỉ thế, cậu còn cải tiến, làm mới thêm các cây đàn môi của nước khác. Đàn môi do Nguyên làm giờ đã được cậu gửi tặng tới bạn bè chung ở thích ở nhiều quốc gia như Nhật, Nepal, Ấn Độ, Bangladesh, Argentina,… TS. Trần Quang Hải tin, đó sẽ là người kế tục đáng tin cậy của ông trong việc phát triển nghệ thuật đàn môi ở Việt Nam.

Lần này về Việt Nam, TS. Trần Quang Hải cũng mua 150 chiếc đàn môi mang qua Pháp cho những người bạn yêu thích. Cứ tưởng ông chỉ “chơi” thôi, chẳng dè, đàn môi cũng đem lại cho ông những lợi ích kinh tế không nhỏ. Tham gia biểu diễn độc tấu đàn môi cho cả ngàn người thưởng thức, lồng tiếng cho các bộ phim cao bồi của Mỹ, TS. Trần Quang Hải được nhận những khoản thù lao hàng ngàn euro.

Cũng vì lẽ ấy, ông rất ngạc nhiên khi ở Việt Nam, đàn môi của đồng bào Tây Bắc cũng như ở Tây Nguyên gần như không được biết tới. Trong khi đó, Việt Nam là xứ có nhiều loại đàn môi nhất thế giới, có cả chục loại khác nhau. Trong những lần đi, về Việt Nam, ông luôn tìm cách phát triển loại hình nghệ thuật âm nhạc này.

Nhân tiện nói về đàn môi, ông khoe đã “xúi” thành công một người bán nhạc cụ ở phố Hàng Mành (Hà Nội). Nghe lời ông bán thêm đàn môi, người chủ cửa hàng đã ăn nên làm ra, bán được cả trăm ngàn cây đàn môi, mua được nhà, tậu được xe hơi cũng từ việc đó. Một chiếc đàn môi ở Việt Nam chỉ có giá 1 đô la, nhưng khi đưa sang nước ngoài, giá bán đã đội lên gấp mười. Chẳng trách giàu nhanh thế! Ông cười sảng khoái.

Trên thế giới có rất nhiều người giỏi chơi đàn môi, nhưng số người biết làm đàn môi không nhiều, cũng chưa ai viết ra quy cách làm đàn môi. Chính vì thế, TS. Trần Quang Hải đã đề nghị học trò làm công việc này. Đó sẽ là đóng góp rất lớn trong việc cung cấp thông tin về việc chế tạo đàn môi bằng tre mà thế giới đang rất cần.

Tự tin nối nghiệp cha

Theo TS. Trần Quang Hải, việc ba ông – GS. Trần Văn Khê quyết định về hẳn Việt Nam có mục đích lớn nhất là “lôi kéo” ông trở về nghiên cứu âm nhạc dân tộc.

Suốt từ những năm được ba “lôi” vào các công trình nghiên cứu âm nhạc, TS. Trần Quang Hải phải nỗ lực tự học rất nhiều. Trước đó, ông dành nhiều thời gian nghiên cứu kỹ thuật hát đồng song thanh và âm nhạc nước ngoài, nay trở về nghiên cứu âm nhạc dân tộc, thách thức không hề nhỏ, dù “vốn liếng” âm nhạc dân tộc của ông không hề ít.

TS. Trần Quang Hải đã chơi đàn tranh hơn 50 năm, đã làm 23 đĩa hát đàn tranh, cũng đã bán hơn một triệu đĩa đàn tranh toàn thế giới. Ông là một trong những người bán nhiều đĩa đàn tranh nhất trên thế giới. Tuy nhiên, với ông, đó vẫn là “những việc phụ thuộc”, theo lời ông.

Nhớ những năm đầu mới về Việt Nam dự các hội thảo nghiên cứu, vốn liếng tiếng Việt chưa đủ, nhất là tiếng Việt chuyên ngành âm nhạc, ông phải dùng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh. Dần dần, ông rèn luyện, tích lũy tiếng mẹ đẻ thông qua đọc sách, xem báo. Qua các lần tham gia chuẩn bị hồ sơ đề nghị UNESCO trao tặng danh hiệu di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho Ca trù, Hát xoan, Đờn ca tài tử,… ông đã dần tự tin hơn với hoạt động nghiên cứu âm nhạc dân tộc trong nước.

Điều ông sung sướng nhất là trong một năm trở lại đây, ông đã có thể viết tham luận và trao đổi tại các hội thảo bằng tiếng Việt. Với một người đã ở nước ngoài hơn năm mươi năm như ông, xóa bỏ được khoảng cách ngôn ngữ với chính đồng bào của mình quả là dấu mốc không thể quên. Và từ đó, niềm tin vào bản thân và niềm sung sướng được ba tin tưởng trở thành động lực khiến ông muốn làm được nhiều việc hơn nữa cho văn hóa nước nhà.

Dịp gần đây nhất ông được mời tham gia Hội thảo khoa học của tỉnh Nghệ An để chuẩn bị hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận danh hiệu di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho hát ví, dặm Nghệ Tĩnh. Nếu trong tất cả các lần chuẩn bị hồ sơ âm nhạc trước, GS. Trần Văn Khê đều tham gia và góp tiếng nói quan trọng, thì lần này, TS. Trần Quang Hải đã có thể thay mặt ba đảm trách công việc tự tin và hiệu quả.

Với TS. Trần Quang Hải, sự công nhận của ba ông là điều quan trọng nhất, bởi ông đã làm được cho ba mãn nguyện, tiếp nối đời thứ năm trong gia đình họ Trần ở lĩnh vực nghiên cứu âm nhạc dân tộc.

Trong buổi sinh hoạt âm nhạc định kỳ gần đây tại nhà riêng, trước mặt bạn bè thân hữu và khách khứa, GS. Trần Văn Khê và con trai – GS. TS. Trần Quang Hải hòa đàn với nhau thật ngẫu hứng theo đúng phong cách của đờn ca tài tử.

Sau 36 năm, kể từ lần hòa đàn năm 1978, tới giờ, hai cha con – hai thế hệ nhạc sỹ dòng họ Trần – mới lại có dịp hòa chung một bản đàn như thế. Ở tuổi 94, GS. Trần Văn Khê chia sẻ nguyện vọng về việc con trai ông, sau những chuyến phiêu du trong âm nhạc của thế giới, sẽ trở về Việt Nam, nối nghiệp cha, góp sức vào sự nghiệp nghiên cứu âm nhạc dân tộc.

***

Có một sự thật thú vị không phải ai cũng biết, hồi nhỏ TS. Trần Quang Hải mắc chứng cà lăm suốt nhiều năm. Ông từng phải ngậm bi trong miệng để chữa tật. Có lần, vô tình nuốt luôn hòn bi, ông suýt bị tắc họng, may có người giúp kịp, nhả ra được. Dĩ nhiên, sau sự cố ông không dám ngậm bi nữa. Sau đó ông phát hiện, những người mắc tật cà lăm, dù nặng cỡ nào, khi hát đều không bị lắp. Thế là trong giao tiếp đời sống, thay vì nói, ông chuyển thành hát. Thoạt đầu mọi người trêu chọc rất nhiều, nhưng bất chấp, ông kiên trì rèn luyện. Tới giờ, ngoài những tình huống hy hữu do quá bất ngờ, xúc động, chứng cà lăm có thể tái diễn, nhìn chung, ông đã triệt bỏ được tật phát âm khó chịu đó./.

Dương Kim Thoa

http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:7SVfxDVdfZQJ:timtrongkhobau.vnweblogs.com/post/25927/454812+%22t%E1%BB%B1+h%C3%A0o+v%C3%AC+%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c+ba+tin+t%C6%B0%E1%BB%9Fng%22&cd=1&hl=fr&ct=clnk&gl=fr

Sinh hoạt của Trần Quang Hải và Bạch Yến trong tháng 8, 2006



 Sinh hoạt của Trần Quang Hải và Bạch Yến trong tháng 8, 2006

 Tin Âm Nhạc, TQH

 



Từ 18 tới 20 tháng 8, Trần Quang Hải đại diện cho Việt Nam tham dự đại hội liên hoan nhạc thế giới MELA Festival ở Oslo (Na Uy) với những màn biểu diễn đàn môi, muỗng và hát đồng song thanh. Đây là đại hội nhạc của nhiều quốc gia chuyên về nhạc thế giới (world music), nhạc các dân tộc di dân ở Na Uy như Pakistan, Việt Nam, Trung quốc, Ba Tư, Lỗ Ma Ní (Roumanie), vv… Liên lạc Aud Digernes, email : aud.digernes@horisont.org, Trang nhà :http://www.horisont.org/ 

Ngày chủ nhật 20 tháng 8, 2006 từ 15giờ tới 19 giờ tại vũ trường Majestic, 18582 Beach Blvd, Huntington Beach, California , một chương trình « Chiều nhạc và tâm tình với Bạch Yến » với Bạch Yến, Thanh Lan, Trọng Nghĩa, Hạ Vân, Kevin Khoa, Jean Louis Beydon, Lê Danh Hiền, ban nhạc Y2K, và MC Việt Dzũng . Liên lạc : điện thoại : (408) 802.9938.

Rất hiếm khi Bạch Yến diễn tại miền Nam Cali . Hầu hết mỗi năm Bạch Yến đều có sang trình diễn tại Hoa Kỳ . Trong năm 2006, Bạch Yến đã diễn nhân dịp Tết cộng đồng Việt Nam tại tiểu bang Delaware và tiểu bang Virginia . Sau đó diễn chương trình Tết cộng đồng Việt Nam tại Seattle, tiểu bang Washington vào cuối tháng giêng 2006 .

Ngoài chương trình diễn cho người Việt ở Mỹ, Bạch Yến đã đi khắp Âu châu, Á châu trình diễn nhạc dân tộc với nhạc sĩ Trần Quang Hải trung bình 60 buổi mỗi năm , và tân nhạc ngoại quốc cho khán giả Tây phương . Năm nay để đánh dấu một quãng đường dài trong nghề ca hát, Bạch Yến ghé lại Huntington Beach để cùng tâm tình với khán giả mộ điệu qua những bản nhạc mà Bạch Yến đã từng nổi danh (« Đêm Đông », « Người tình nữ khóc than – La Llorona », « Malaguena ») . Ngoài ra còn có rất nhiều bài tiền chiến hay đương thời cùng với những sáng tác mới của nhạc sĩ hải ngoại cũng như những sáng tác của Trần Quang Hải cùng với Bạch Yến hay các nhạc phẩm nổi tiếng của Tây phương bằng tiếng Anh, Pháp, Ý, Tây ban nha và Do thái . Bạch Yến chỉ hát với một piano do nhạc sĩ Jean Louis Beydon đàn . Ông Jean Louis Beydon là giám đốc nhạc viện thành phố Vanves, là một nhạc sĩ piano nổi tiếng ở Pháp , từng đệm cho nhiều ca sĩ Pháp, Nhật . Ông đã đệm đàn cho Bạch Yến từ hơn 10 năm nay và đã sang Mỹ nhiều lần với Bạch Yến . Đây là lối diễn xuất ít thấy vì ít có ca sĩ nào trình diễn với một nhạc cụ (guitar hay piano). Hầu hết đều hát với một ban nhạc với trống , đàn guitar, synthe, vv…
Chương trình « Chiều Nhạc và Tâm tình với Bạch Yến » do nữ ca sĩ Hạ Vân hợp cùng nam ca sĩ Kevin Khoa tổ chức với sự tham gia của các nghệ sĩ địa phương : Thanh Lan, Trọng Nghĩa, Hoàng Oanh, Hạ Vân, Kevin Khoa, Lê Danh Hiền, ban nhạc Y2K và do MC Việt Dzũng điều khiển chương trình .


Sau khi diễn xong tại Nam Cali, Bạch Yến cùng nhạc sĩ dương cầm Jean Louis Beydon tới Washington D.C. để chuẩn bị một chương trình hoàn toàn khác với chương trình ở Huntington Beach .
Có thể nói chương trình ở tỉnh Annandale , tại Virginia Community College, Annandale Campus, Ernst Cultural Center do bác sĩ Văn Sơn Trường cùng một số anh chị em nhạc sĩ đã từng quen biết với Trần Quang H ải và Bạch Yến đứng ra tổ chức buổi trình diễn đặc biệt « BẠCH YẾN : 50 năm âm nhạc » vào ngày chủ nhật 27 tháng 8, 2006 từ 14 giờ . Một chương trình chú trọng vào hai khía cạnh : tân nhạc và dân nhạc . Tân nhạc với sự trình diễn « one woman show » trên sân khấu , hát những bản nhạc trữ tình thời tiền chiến , cũng như những ca khúc nổi tiếng đã đưa tiếng hát Bạch Yến lên đài danh vọng từ 50 năm qua , không những ca khúc bằng tiếng Việt , mà luôn cả những bản nổi danh của thế giới Tây phương . Qua buổi trình diễn này , khán giả có thể biết qua quá trình cuộc đời đi hát của Bạch Yến từ lúc đi môtô bay vào đầu thập niên 50 .
Sau đó, Bạch Yến đi vào con đường ca hát đầy gian truân trước khi nổi tiếng qua bài « Đêm Đông » vào năm 1957 . Các phòng trà ở Saigon vào cuối thập niên 50 được nghe giọng hát Bạch Yến qua các giai điệu rock Âu Mỹ và những bản nhạc lừng danh do Dalida, Brenda Lee hát .

Sang Pháp vào năm 1961 để học thêm kỹ thuật về giọng, Bạch Yến đã thu 4 dĩa 17cm/45 vòng với hãng dĩa Polydor trong giai đoạn nhạc Twist. Trở về Saigon vào cuối năm 1963, tiếp tục nghề hát ở phòng trà Tự Do .Rồi đi sang Mỹ vào năm 1965 theo lời mời của Ed Sullivan để hát trong chương trình Ed Sullivan Show nổi tiếng nhất xứ Mỹ thời đó . Bạch Yến được mời hai tuần và đã lưu lại sinh sống ở Mỹ 12 năm , đi diễn chung với các danh ca nổi tiếng của Mỹ như Bob Hope, Bing Crosby, Jimmy Durante, Pat Boone, và đi lưu diễn hai năm với nhạc sĩ dương cầm Liberace. Cô được mời hát trong phim « The Green Berets » (Lính Mũ Xanh) với John Wayne vào năm 1968. Cả thời gian ở Mỹ, Bạch Yến đã đi khắp 46 tiểu bang , trình diễn trong thế giới người Mỹ . Từng diễn nhiều shows tại Las Vegas . Đi nhiều nước ở Trung Mỹ (Mexico) và Nam Mỹ (Venezuela).
Năm 1978, Bạch Yến gặp lại Trần Quang Hải tại Paris và sau đó trở thành vợ của nhà nghiên cứu nhạc dân tộc . Từ đó, Bạch Yến quay về với nhạc dân tộc, học hát dân ca, tìm hiểu gia tài âm nhạc cổ truyền qua sự dìu dắt của chồng . Sau một thời gian học hỏi, Bạch Yến cùng Trần Quang Hải trình diễn nhạc dân tộc Việt Nam tại các trung tâm văn hóa, đại hội liên hoan nhạc cổ truyền quốc tế của hơn 60 quốc gia với hơn 2.000 buổi . Hai người đã cùng nhau thực hiện 3 dĩa 30cm / 33 vòng và 4 CD trong đó có một dĩa « Viet Nam : Tran Quang Hai & Bach Yen » do nhà sản xuất dĩa SM Studio ở Paris chiếm giải thưởng tối cao của Hàn lâm viện dĩa hát Charles Cros (Academie de Disque Charles Cros) vào năm 1983.
Bạch Yến tha thiết với sự phát huy nhạc dân tộc vào môi trường giáo dục âm nhạc . Bạch Yến đã cùng Trần Quang Hải lưu diễn tại nhiều trường tiểu , trung và đại học do cơ quan Jeunesses Musicales de France tổ chức trên 500 buổi ở khắp xứ Pháp từ năm 1985 tới năm 1997. Hai người cũng đã giới thiệu nhạc dân ca Việt Nam do Jeunesses Musicales de Belgique của vương quốc Bỉ từ 1983 tới 1985 và do trung tâm Rikskonsertene của Na Uy từ 1978 tới 2005. Chưa có một cặp nghệ sĩ nào diễn trên 1,200 chương trình giới thiệu nhạc dân tộc cho trẻ em Âu châu từ 30 năm nay .
Với tiếng đàn piano của nhạc sĩ Jean Louis Beydon từng theo Bạch Yến khắp nơi ở Pháp và Mỹ trong nhiều năm qua, chương trình tân nhạc Việt và ngoại quốc sẽ dành cho khán giả những bất ngờ .


Người thứ hai của chương trình là nhạc sĩ Trần Quang Hải . Lần này không có phần trình diễn dân ca với Bạch Yến mà là những màn biểu diễn một số nhạc cụ như đàn tranh, muỗng, sinh tiền, đàn môi và hát đồng song thanh . Đây là phần giới thiệu những đặc trưng của một số nhạc cụ mà anh đã trình diễn khắp năm châu . Từ 28 tới 30 tháng 7, 2006 vừa qua, Trần Quang Hải đã tham dự đại hội liên hoan quốc tế đàn môi tại Amsterdam (Hòa Lan) và đã tạo ấn tượng rất tót cho đàn môi Việt Nam . Từ 18 tới 20 tháng 8, 2006, anh lại trình diễn hát đồng song thanh, đàn môi và muỗng tại đại hội liên hoan quốc tế nhạc thế giới MELA Festival tại Oslo (Na Uy) đại diện cho nhạc Việt Nam trong địa hạt nhạc thế giới (World Music).

Với hai nghệ sĩ ngoại hạng , mỗi người ở một lĩnh vực, chương trình này sẽ có thêm một vài màn đặc biệt mà khán giả sẽ khám phá tại chỗ trong sự ngạc nhiên kỳ thú .


Liên lạc : BS Văn Sơn Trường, tel : (703) 283 4561, email : Vstruong@aol.com . Trang nhà để xem hình ảnh , tiểu sử và nghe một vài bản nhạc do Bạch Yến trình bày : http://www.vietdc.org


Back to Top

Formation d’ethnomusicologue de Tran Quang Hai grâce à M Gilbert Rouget, 4juin 2014


Formation d’ethnomusicologue de Tran Quang Hai grâce à M Gilbert Rouget, 4juin 2014

HOMMAGE A GILBERT ROUGET

En sa présence, sous réserve

Programme

Brice Ahounou, modérateur

Projection de plusieurs films ou extraits

Danse des reines à Porto-Novo

Gilbert Rouget (son) Jean Rouch (caméra), 1974 (extraits)

Batteries dogon

Gilbert Rouget en collaboration avec Jean Rouch et Germaine Dieterlen, 1964 (extraits)

Entretiens de Gilbert Rouget avec Bernard Lortat-Jacob et Claude Klejman

Collection L’ethnologie en héritage, dirigée par Alain Morel. Réalisateur Gilles Le Mao, 2008 — extraits

Interview de Gilbert Rouget par Brice Ahounou.

Réalisateur Jacques Merlaud, 2014

Interventions de

Bernard LORTAT-JACOB, Brice GERARD, Tran Quang HAÏ, Madeleine LECLAIR pour la musique.

Cécile REMY et Nolwenn BLANCHARD présenteront la maquette du livre Afrique musiquante (Riveneuve éditions)

Gilbert Rouget, très grand ethnomusicologue, est une figure du XXe siècle. Il fut l’ami des plus grands comme Claude Lévi-Strauss, Michel Leiris, Pierre Verger. Entré au Musée de l’Homme en 1942 comme assistant d’André Schaeffner, chef du département d’ethnologie musicale, il lui succède comme chef du département d’ethnomusicologie. G. Rouget est un découvreur dans le domaine du son. Il crée un studio d’enregistrement au Musée de l’Homme dès 1947 et des éditions de disques appelées par la suite « Collections CNRS/Musée de l’Homme ». Avec Eric de Dampierre il co-fonde les « Editions des Classiques Africains » et avec Jean Rouch le « Laboratoire audio-visuel de l’Ecole Pratique des Hautes Etudes ».

Dès 1968 il crée et met en place au Département d’ethnomusicologie du Musée de l’Homme une formation de recherche du CNRS, nouvelle dans ses principes, comprenant entre autres un laboratoire d’analyse et de transcription automatique du son, géré par un ingénieur. Ses principales missions en Afrique ont été aux Moyen-Congo et Gabon en 1946 où la musique des Pygmées est une véritable révélation pour lui, au Bénin entre 1952 et 1987 où il étudie la musique de Cour du Royaume de Porto-Novo, mais aussi au Nigéria, Sénégal, Côte d’Ivoire, Mali… où il recueille les pratiques musicales traditionnelles des populations visitées.

Sa documentation se compose actuellement de 350 CD. Il a également écrit plusieurs livres enrichis de photos sur ces musiques. Sa dernière publication « Afrique musiquante » sera présentée en avant première au public

Giáo sư, Tiến sĩ, nhạc sĩ Trần Quang Hải: Hiểu âm nhạc cha ông để thoát khỏi mặc cảm


Giáo sư, Tiến sĩ, nhạc sĩ Trần Quang Hải:
 
Hiểu âm nhạc cha ông để thoát khỏi mặc cảm
Thứ tư, 04/06/2014 – 03:30 PM (GMT+7)
    
GS, TS Trần Văn Khê (trái) và GS, TS Trần Quang Hải ngày 17-5-2014.
GS, TS Trần Văn Khê (trái) và GS, TS Trần Quang Hải ngày 17-5-2014.

Vội vội vàng vàng về nước tham dự Hội thảo quốc tế Bảo tồn và phát huy giá trị dân ca trong xã hội đương đại (trường hợp dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh) vừa diễn ra tại thành phố Vinh (Nghệ An), GS, TS nhạc sĩ Trần Quang Hải lại mải miết lên đường. Lịch thỉnh giảng ở Pháp, I-ta-li-a và nhiều quốc gia luôn ken đặc, vẻ đẹp bí ẩn của âm nhạc cổ truyền Việt Nam ngày càng có sức hấp dẫn sinh viên nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới. Đến nay sau nửa thế kỷ miệt mài cùng phận sự của một người truyền bá, khai sáng, “ông vua” đàn môi Trần Quang Hải vẫn chưa có nhiều thời gian để ngơi nghỉ:

Tên tuổi GS, TS Trần Văn Khê và GS, TS, nhạc sĩ Trần Quang Hải thì đã nhiều người biết. Nhưng có lẽ chưa hẳn nhiều người đã tỏ tường ông cùng cha mình từng góp công sức lớn vào các bộ hồ sơ trình UNESCO để được công nhận di sản văn hóa phi vật thể cho ca trù, quan họ, hát xoan, đờn ca tài tử…?

Thân phụ tôi (GSTS Trần Văn Khê) và tôi đã tham gia vào việc bảo tồn và phát huy dân nhạc của Việt Nam. Cha tôi đã đóng góp rất nhiều vào hồ sơ Nhã nhạc cung đình Huế (được công nhận năm 2003) và cồng chiêng Tây Nguyên (2005). Chúng tôi cùng nhau tham gia việc dựng hồ sơ quan họ (2009), ca trù (2009), hát xoan (2011), đờn ca tài tử (2013) và gần đây nhất là hát ví giặm Nghệ Tĩnh.

Ví giặm Nghệ Tĩnh liệu có vượt qua khỏi những thử thách mà UNESCO đưa ra để giúp Việt Nam có thêm một di sản tinh thần nữa trong năm nay, thưa Giáo sư?

Tôi không thể khẳng định điều này vì cần nhất là phải có hồ sơ đủ bề dầy lịch sử và bề sâu nghệ thu   ật. Bề dầy lịch sử đã được xác nhận qua những nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, nhất là đóng góp của cố giáo sư Nguyễn Đổng Chi và cố giáo sư Ninh Viết Giao. Bề sâu nghệ thuật đang được các nghệ nhân Nghệ An, Hà Tĩnh biểu hiện xuyên qua sự hình thành nhiều câu lạc bộ và chương trình giảng dạy các điệu ví giặm ở trường học. Tôi chỉ hy vọng rằng với sự nhiệt tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước có thể mang thêm cho Việt Nam một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại ngay trong năm 2014.

Để thuyết phục một người chưa bao giờ nghe, chưa bao giờ biết đến ví giặm Nghệ Tĩnh có ham muốn tiếp cận loại hình dân ca độc đáo này, Giáo sư sẽ làm gì?

Việc làm đầu tiên theo tôi là cho họ nghe những làn điệu đặc trưng của ví (ví phường nón, ví phường vải) và của giặm (giặm ru, giặm cửa quyền) qua những tài liệu nguyên xi thu thập từ những cuộc điền dã cho thấy loại hát này gắn liền với đời sống hằng ngày, những sinh hoạt liên hoan qua tài diễn xuất của những nghệ nhân tên tuổi.

Sẽ khó để giữ gìn phát huy giá trị của ví giặm Nghệ Tĩnh nói riêng và âm nhạc truyền thống nói chung nếu công chúng trong nước, nhất là giới trẻ chỉ thích nghe nhạc Hàn Quốc, nhạc Anh Mỹ và nhạc trẻ đương đại?

Đối với giới trẻ ít quan tâm tới nhạc dân tộc mà chỉ thích nhạc ngoại hay tân nhạc đương đại, việc làm đòi hỏi khá nhiều khó khăn. Ta có thể từng bước gây sự chú ý của giới trẻ, bước đầu là sân khấu hóa các bộ môn dân nhạc (quan họ, ca trù, hát xoan, hát ví giặm, hát xẩm, hát bài chòi…).

Qua tìm hiểu của Giáo sư, liệu hệ thống nhà trường phổ thông ở Việt Nam đã làm tròn chức phận giới thiệu, hướng dẫn, truyền bá cái hay cái đẹp của âm nhạc truyền thống tới học sinh các lứa tuổi?

 

Một hoạt cảnh trong Liên hoan dân ca ví giặm 2013 tại TP Hà Tĩnh.

 

Như tôi đã nói, hệ thống nhà trường phổ thông ở Việt Nam chưa có đủ điều kiện hoàn tất việc giới thiệu, hướng dẫn, truyền bá cái hay cái đẹp của nhạc truyền thống tới học sinh các lứa tuổi. Thứ nhất là thiếu cán bộ có đủ căn bản hiểu biết và minh họa một số loại hình nhạc dân tộc. Sách vở về nhạc cổ truyền viết cho giới trẻ không có, phim ảnh từng bộ môn không có. Học sinh ở miền nam không biết gì về hát xoan, hát xẩm, hát ví phường vải của miền bắc hay hát bài chòi của miền trung. Học sinh miền trung không có một khái niệm gì về hò và lý, với đờn ca tài tử của miền nam hay các loại nhạc dân ca của miền bắc mà tôi vừa kể phần trên . Học sinh miền bắc không am tường sự phong phú của nhã nhạc cung đình Huế, hát bài chòi, cồng chiêng Tây Nguyên hay đờn ca tài tử Nam Bộ… Tôi chưa thấy một chương trình toàn diện tìm hiểu âm nhạc Việt Nam trong nhà trường. Hầu hết các sinh viên du học Việt Nam mà tôi thường gặp ở Âu Mỹ đều không có một khái niệm sơ đẳng về nhạc dân tộc. Họ chỉ biết vài bài dân ca (quan họ), hoặc chỉ biết đàn tranh, đần bầu, hát cải lương hay một chút ít hát chèo. Đây là việc làm khẩn cấp giúp học sinh ngày nay hiểu biết thêm về sự phong phú của gia tài âm nhạc Việt Nam, để các em không còn bị mặc cảm khi đi du học và có thể trao đổi với các bạn ngoại quốc về sự giao lưu văn hóa nhạc dân tộc.

Cha con GS, TS Trần Văn Khê và GS, TS Trần Quang Hải được coi như những người có đóng góp khó định lượng để đưa dân ca nhạc cổ Việt Nam ra nước ngoài. Trong suốt quá trình đó ông đã chiêm nghiệm được gì từ cha mình và đâu là căn nguyên để một nhạc công violon như ông có bước ngoặt khác xa thế?

Khi còn bé, tôi học đàn violon ở âm nhạc viện Sài Gòn (từ năm 1955 tới 1960). Lúc đó tôi hoàn toàn mù tịt về âm nhạc dân tộc. Từ lúc sang học bộ môn nhạc học (musicology) tại trường đại học Sorbonne, Paris, và dân tộc nhạc học (ethnomusicology) tại trường cao đẳng khoa học xã hội đã giúp tôi khám phá rất nhiều truyền thống nhạc dân tộc của thế giới. Đến khi vào làm việc tại Viện bảo tàng con người (Musée de l’Homme) ở Paris, Pháp, tại viện dân tộc nhạc học, tôi được giao phó nghiên cứu nhạc Việt Nam và Đông-Nam Á. Tôi khám phá kho tàng nhạc dân tộc Việt Nam của dân tộc Kinh và 53 dân tộc anh em (Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Xê Đăng, Mnong Gar, Chăm, Mông, Mường, Dao, Tày, Thái, Nùng) và bắt đầu quay về nguồn, đồng thời đối chiếu với các loại nhạc dân tộc của Ấn Độ, Myanma, Thái-lan, Campuchia, Lào, Indonexia, Philippines. Tôi được cha truyền sự hiểu biết qua những năm học tại trường nghiên cứu nhạc Đông phương (Centre of Studies for Oriental Music) tại Paris. Sinh trưởng trong gia đình có năm đời nhạc sĩ cổ truyền, tôi mới thức tỉnh và nhận thấy bổn phận tiếp nối truyền thống dòng họ. Tôi học về lý thuyết và thực tập về đàn tranh, đàn bầu, đàn nhị, sinh tiền rồi tự phát triển kỹ thuật gõ muỗng và chơi các loại đàn môi (xứ Việt mình là xứ duy nhất trên thế giới có 10 loại đàn môi kim loại và tre). Sự phối hợp giữa lý thuyết và thực tập nhạc cụ đã giúp tôi có kiến thức sâu đậm và đủ điều kiện để phát huy nhạc dân tộc Việt ở Pháp và các quốc gia Âu Mỹ qua các buổi trình diễn nhạc cổ truyền. Sự quay về nhạc cổ Việt Nam sau hơn 41 năm nghiên cứu đã cho tôi một chỗ đứng cao trong việc truyền bá nhạc cổ truyền Việt Nam khắp năm châu. Tôi mong có dịp mang sự hiểu biết của tôi về giảng dạy ở Việt Nam để giúp cho thế hệ trẻ cảm nhận chân giá trị của nền quốc nhạc mà các em sẽ là những người thừa kế và tiếp nối trong tương lai.

Trân trọng cảm ơn GS, TS, nhạc sĩ Trần Quang Hải.

Tôi đã trình diễn khoảng 3.500 buổi tại 70 quốc gia trên thế giới, phát hành 23 đĩa hát về nhạc đàn tranh, đoạt hai giải thưởng quốc tế về đĩa hát tại Pháp (Academy of Record Charles Cros) vào năm 1983 và 1995, phát hành 4 DVD   , viết một quyển sách về nhạc cụ thế giới (bằng tiếng Pháp, Anh, Đức và Tây Ban Nha) và đã giảng dạy tại hơn 130 trường đại học trên thế giới. Công trình nghiên cứu và giảng dạy tại Pháp đã được tổng thống Jacques Chirac ban tặng huân chương Bắc đẩu bội tinh (legion of Honour) vào năm 2002. Trung tâm kỷ lục Việt Nam đã tặng cho tôi một danh hiệu “vua muỗng” vào năm 2011 và một kỷ lục khác là “người đã trình diễn đàn môi Mông tại nhiều quốc gia nhất thế giới” vào năm 2012.

http://www.nhandan.com.vn/hangthang/van-hoa/item/23407102-hieu-am-nhac-cha-ong-de-thoat-khoi-mac-cam.html

GSTS TRẦN QUANG HẢI : VUA ĐÀN MÔI , Chương trình TV do Phương Linh và Mộng Thìn củaTTXVN thực hiện , tháng 5, 2014


GSTS TRẦN QUANG HẢI : VUA ĐÀN MÔI , Chương trình TV do Phương Linh và Mộng Thìn củaTTXVN thực hiện , tháng 5, 2014

dành cho báo THỂ THAO và VĂN HÓA, mục Văn Hóa Toàn Cảnh, chủ đề “Điệm Nhấn Văn Hóa” với GSTS Trần Quang Hải, Vua Đàn môi, phát hình vào ngày 20 tháng 5, 2014, Hà nội, Việt Nam

DƯƠNG KIM THOA : GS,TS Trần Quang Hải Bảo tồn nhạc dân tộc là công việc của nhiều thế hệ


GS,TS Trần Quang Hải

Bảo tồn nhạc dân tộc là công việc của nhiều thế hệ

Thứ Hai, 02/06/2014, 07:37 [GMT+7]
Hai cha con GS, TS Trần Văn Khê và GS, TS Trần Quang Hải hòa đàn tại tư gia.
Hai cha con GS, TS Trần Văn Khê và GS, TS Trần Quang Hải hòa đàn tại tư gia.

Theo GS, TS Trần Quang Hải, đâu cần phải đợi UNESCO xác nhận giá trị của di sản nghệ thuật dân tộc, chính người Việt phải biết nâng niu, gìn giữ trước khi các di sản phi vật thể đó mất đi…

Nhân việc chuẩn bị hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận danh hiệu di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh, GS, TS Trần Quang Hải chia sẻ thêm về việc bảo tồn, phát triển nhạc cổ truyền dân tộc.

GS, TS Trần Quang Hải cho biết:

– Việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã được khởi xướng từ năm 2013. Năm nay, Bộ VH-TT&DL muốn bổ túc để hoàn thiện hồ sơ trước khi đưa trình chính thức vào ngày 30-6.

Tất cả chúng ta đều mong dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh sẽ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhưng chuyện được hay không, theo tôi, cũng chỉ là vấn đề bề mặt. Nhìn sâu hơn, chúng ta không cần phải đợi được UNESCO công nhận rồi mới phát triển.

Tôi thấy mọi người hiện hướng về sự ghi nhận của UNESCO, đó là sai lầm. Chúng ta không thể dựa vào sự phán xét của người nước ngoài. Không có lý do gì cần phải có sự nhìn nhận của UNESCO ta mới thấy đó là loại hình nghệ thuật có giá trị. Chân giá trị của hát ví dặm không phải ở đó. Điều quan trọng nhất là khi chính người dân sở tại thấy được giá trị đặc sắc của nghệ thuật truyền thống ở địa phương mình và tìm cách bảo tồn, phát triển.

* Theo ông, điểm đặc sắc nhất ở dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh là gì?

– Hát ví dặm có điểm khác với hát quan họ và ca trù ở chỗ người hát không phải luyện tập, người dân nào cũng hát được. Họ hát ngẫu hứng, hát trong khi đi chơi, hát trong lúc lao động.

Điểm đặc sắc nữa của nó là tính tương tác, đối đáp. Đó là khi có anh chàng ngồi đan nón bên này, thấy bên kia có cô gái trông “vui vui”, bèn tìm cách hát trêu chọc. Cô gái kia bị chọc thì mắc cỡ, phải tìm cách ứng đối. Trong sự đối đáp đó, giai điệu không quan trọng bằng ngôn từ.

Đặc trưng tiếng nói của người Nghệ khá nặng, chỉ có ba âm. Theo đó, trong âm nhạc chỉ có tam cung, tứ cung chứ không phải ngũ cung như dân ca miền Bắc hay miền Nam. Riêng trong hát dặm, có điệu dặm ru có thang âm ngũ cung của miền Bắc, do sự du nhập từ Bắc vào. Tôi cũng nhận ra sự phong phú trong cách luyến láy rất hay của giai điệu dân ca ví dặm.

* Vậy có sự tương đồng hay khác biệt nào giữa tính ngẫu hứng trong dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh và tính ngẫu hứng trong đờn ca tài tử Nam Bộ?

“Giáo dục một thế hệ, không phải chỉ là vấn đề văn hóa, mà còn là giáo dục về âm nhạc. Đó là cách thức có thể mang tới sự sống còn của nhạc dân tộc”

GS, TS Trần Quang Hải

– Tính ngẫu hứng trong đờn ca tài tử thể hiện rõ nhất trong khi đờn với nhau. Tùy theo trình độ hiểu biết, tùy theo cách đờn chân phương hay hoa lá, một bản đờn hòa chung sẽ diễn ra theo những cách khác nhau. Trong khi đờn, tính ngẫu hứng còn khiến người ta chọc phá để thử tài nhau, điều này không có trong tính ngẫu hứng của dân ca ví dặm.

Trong đờn ca tài tử, một anh chạy xích-lô, anh thợ cắt tóc có thể đờn chung với một ông kỹ sư, bác sĩ. Còn trong hát ví dặm, sự giao lưu thường diễn ra giữa những người cùng một làng hay cùng một nghề như phường vải, phường nón.

Như vậy, khác biệt cơ bản ở chỗ, hát ví dặm Nghệ Tĩnh có sự phóng túng trong lời ca, không phải trong giai điệu. Còn ở đờn ca tài tử, phóng túng trong giai điệu (tiếng đờn), không phải trong lời ca.

* Cũng giống các loại hình nghệ thuật truyền thống khác, để tồn tại và phát triển, cần có không gian của nó, chúng ta vẫn gọi đó là không gian diễn xướng. Ông nói, năm ngoái đã có dịp đi thực địa tại Nghệ An và Hà Tĩnh. Vậy không gian diễn xướng của dân ca ví dặm theo ông thấy như thế nào?

– Bây giờ về lại những vùng đó, tôi không thấy những gì như đã đọc trong sách vở vì tất cả đều được dựng lại. Tuy vậy, có thể thấy họ đã dựng lại với sự cố gắng và hồ hởi của những người muốn bảo vệ giá trị âm nhạc truyền thống. Họ tới gặp các nghệ nhân để thu âm và thống kê các làn điệu ví dặm còn lại.

Nhưng thời đại bây giờ khác nhiều. Chỉ nói riêng chuyện giặt giũ, ngày xưa người ta ra sông giặt áo, bây giờ còn ai ra sông La vừa giặt vừa hát hết nguyên một ngày, rồi vừa làm việc, lại vừa hát đối đáp với một anh đánh tôm đánh cá nào gần đó.

Chưa kể bây giờ người ta phải dùng loa đài để hát vì hát “chay” không mấy người đủ giọng. Cùng với hệ thống máy phóng thanh thì dàn nhạc đệm cũng khiến người hát không còn chú tâm được vào cảm xúc, tình cảm của làn điệu. Dù thế, vẫn phải khẳng định rất nhiều làn điệu trong dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh đã được các nghệ sĩ thanh nhạc vận dụng thành công trong tác phẩm của mình.

* Ông có thể phân tích rõ hơn nguy cơ sân khấu hóa có thể làm mất các giá trị bản sắc của dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh?

– Khi bị sân khấu hóa, ví dặm có nguy cơ không còn là loại hình nghệ thuật ở trong nguồn gốc dân ca nữa. Từ việc bị sân khấu hóa, nó đi tới chỗ hướng về du lịch. Thêm vào đó, người ta còn phụ họa về hòa âm theo kiểu Tây phương. Họ nói làm như vậy để nâng cao giá trị âm nhạc, có bề dày âm nhạc là không đúng. Nhạc Việt Nam là nhạc đơn ca, đơn điệu, không phải nhạc đa âm. Do đó, việc đệm vào hòa âm là đi sai đường.

Thêm nữa, khi biểu diễn trên sân khấu, người hát bị đèn chiếu vào, đủ các loại xanh, đỏ, tím, vàng. Nguy hiểm nhất là vũ đạo. Những màn múa tới lui phụ họa làm phân tán người nghe khi thưởng thức dân ca.

Tôi nhận thấy, tình trạng sân khấu hóa ở ví dặm cũng nằm chung trong tình trạng sân khấu hóa tổng thể trên toàn quốc. Sân khấu hóa trong quan họ chúng ta đã thấy. Sân khấu hóa trong ca trù chúng ta cũng đã thấy. Rồi còn sân khấu hóa trong hát xoan, trong đờn ca tài tử… Tất cả nhạc dân ca Việt Nam đều đi tới tình trạng sân khấu hóa cũng bởi chuyện sinh kế. Người dân bây giờ không để ý tới chân giá trị của âm nhạc, nghe một điệu hát chay thì “chán lắm”. Giới trẻ nghe dân ca mà không có nhạc đệm đúng theo cách các bạn trẻ thường nghe trong các loại nhạc pop, rock thì cũng “chán lắm”.

Chưa kể tới vấn đề trang phục khi trình diễn hoàn toàn không liên hệ gì tới truyền thống. Cho nên nói tóm lại, sân khấu hóa là hướng đi có thể làm sai lệch tất cả những gì chúng ta cần phải bảo vệ và phát huy.

* Từ góc độ của một nhà nghiên cứu âm nhạc đã đi giảng dạy ở nhiều quốc gia trên thế giới, theo ông, đâu là cách giải quyết vấn đề hiệu quả lâu dài để vừa bảo tồn, phát triển, vừa giúp âm nhạc truyền thống của dân tộc hòa nhập với đời sống đương đại?

– Đây là vấn đề quan trọng, liên hệ tới cả một đường lối giáo dục. Phải đưa dân ca, nhạc truyền thống vào chương trình giáo dục. Chúng ta thấy rằng, cho tới hôm nay, trong chương trình giáo dục của Việt Nam, không có chương trình nào về âm nhạc dân tộc. Nếu có chỉ là một phần rất nhỏ, lại không có phần giảng về lịch sử âm nhạc Việt Nam.

Thử hỏi có bao nhiêu sinh viên Việt Nam du học nước ngoài nắm được nguồn gốc âm nhạc và số loại hình nhạc dân tộc của đất nước mình. Cùng lắm họ chỉ biết tới cải lương, quan họ, hát chèo, đàn tranh, đàn bầu, mà quên mất rằng, ngoài dân tộc Kinh, chúng ta còn 53 dân tộc khác, mỗi dân tộc lại có âm nhạc với bản sắc riêng. Làm sao để đưa vào giáo dục kiến thức âm nhạc truyền thống của các dân tộc anh em khác. Chính vì không hiểu hết sự phong phú, độc đáo của gia tài âm nhạc dân tộc, nhiều người trẻ có tâm thế vọng ngoại, xem cái gì của Tây phương cũng hay hơn vốn cổ ông cha để lại.

Như vậy, muốn bảo tồn, phát triển di sản âm nhạc truyền thống, chúng ta cần thực hiện chương trình giáo dục đi từ cấp tiểu học, trung học và đại học. Trong 12 năm học phổ thông, mỗi năm chỉ cần dạy từng chút về lịch sử âm nhạc, giúp người học biết được âm nhạc của những vùng, miền, dân tộc khác. Như vậy phải có các nhạc viện, trong đó đặc biệt quan tâm bộ môn sư phạm âm nhạc, hay giáo dục âm nhạc. Đây là bộ môn không đi vào vấn đề biểu diễn nhạc cụ, mà chỉ tập trung vào phương pháp giáo dục âm nhạc, giúp người học có hiểu biết chính xác về nguồn gốc âm nhạc.

Tôi đã giảng dạy âm nhạc ở nhiều nơi và thấy về thời lượng giảng dạy âm nhạc, ở Pháp mỗi tuần có một giờ, ở Hungary có 6 giờ một tuần về lịch sử âm nhạc. Ở Na Uy mỗi năm tổ chức 5.000 buổi trình diễn âm nhạc cổ truyền cho trẻ em. Tôi đã được mời sang Na Uy giảng 600 buổi về nhạc Việt Nam cho các em từ 3-16 tuổi. Na Uy là đất nước chỉ có khoảng 4 triệu dân mà họ còn để ý tới vấn đề nhạc Việt Nam, họ muốn trẻ em nước họ được thấy sự mới lạ trong âm nhạc của một đất nước tại Á châu.

Một điều quan trọng là một đứa trẻ sẽ nhớ suốt đời những gì được hấp thụ trong giai đoạn từ 6-10 tuổi. Cần đặt vào tiềm thức trẻ những hình ảnh rất đẹp của truyền thống âm nhạc Việt Nam. Đó là bước đầu của việc đào tạo.

Muốn vậy, giới chuyên môn cần bàn bạc, soạn thảo một chương trình giáo dục âm nhạc trên cả nước. Cũng cần có thêm nhiều học viện âm nhạc ở các địa phương khác nhau. Hiện tại, với 90 triệu dân, chúng ta mới chỉ có 3 nhạc viện, vậy là quá ít. Ở Pháp hiện có gần 6.000 nhạc viện. Tỉnh nơi tôi đang ở chỉ có 20.000 dân nhưng cũng có một nhạc viện nhỏ với 40 giáo sư và khoảng 700 sinh viên. Ở các tỉnh có 200.000-300.000 dân thì số sinh viên nhạc viện cũng tới vài ngàn, số giáo sư cũng tới vài trăm người.

Trong lĩnh vực giáo dục âm nhạc, ở Pháp có sự hỗ trợ của chính phủ trong việc bảo đảm đầu ra cho các bộ môn sư phạm âm nhạc, vì sự bảo đảm đó mà các bậc cha mẹ yên tâm gửi con vào học. Nhưng bây giờ thử hỏi, trong số các du học sinh hằng năm của Việt Nam, bao nhiêu người đi nghiên cứu về nhạc học dân tộc? Hầu như không có. Ngay cả những người đi học để biểu diễn cũng chú trọng nhạc cụ Tây phương vì tâm lý vọng ngoại, cho rằng học xong có thể trở về làm việc trong các nhạc viện.

Nhiều sinh viên theo học nhạc cụ dân tộc trong các nhạc viện có tâm lý mặc cảm vì không đủ khả năng, không đủ tiền để học nhạc cụ Tây phương. Thành ra trong xã hội Việt Nam có sự phân chia giai cấp, cho rằng những người có tiền mới học nhạc Tây phương, người nghèo mới học nhạc cổ truyền. Chúng ta phải làm sao xóa bỏ tất cả những chuyện này. Đây không phải câu chuyện của một ngày, một tháng, một năm, mà là công việc của nhiều thế hệ. Nhưng muốn đi tới đó, chúng ta phải bắt đầu ngay từ bây giờ.

Đất nước đã thống nhất 39 năm, nhưng trong 39 năm đó, chúng ta đã làm được gì để chấn hưng âm nhạc Việt Nam? Chưa gì cả. Những nghệ nhân dân gian – các “báu vật” của âm nhạc truyền thống đang mất dần, trong khi chính phủ vẫn chưa làm được nhiều trong việc đãi ngộ họ. Giới trẻ cũng nhìn vào thực tiễn đó để không ai muốn lăn xả vào con đường bảo vệ vốn cổ.

Trong vấn đề này, tôi khẳng định, cần có sự đồng tâm tham gia của chính phủ và hệ thống giáo dục. Giáo dục một thế hệ, không phải chỉ là vấn đề văn hóa, mà còn là giáo dục về âm nhạc. Tôi nghĩ, đó là cách thức có thể mang tới sự sống còn của nhạc dân tộc.

* Xin trân trọng cảm ơn GS, TS Trần Quang Hải.

DƯƠNG KIM THOA thực hiện

http://www.baodanang.vn/channel/5414/201406/gsts-tran-quang-hai-bao-ton-nhac-dan-toc-la-cong-viec-cua-nhieu-the-he-2332998/