Category Archives: TRAN QUANG HAI

Sinh hoạt của Trần Quang Hải và Bạch Yến trong tháng 8, 2006



 Sinh hoạt của Trần Quang Hải và Bạch Yến trong tháng 8, 2006

 Tin Âm Nhạc, TQH

 



Từ 18 tới 20 tháng 8, Trần Quang Hải đại diện cho Việt Nam tham dự đại hội liên hoan nhạc thế giới MELA Festival ở Oslo (Na Uy) với những màn biểu diễn đàn môi, muỗng và hát đồng song thanh. Đây là đại hội nhạc của nhiều quốc gia chuyên về nhạc thế giới (world music), nhạc các dân tộc di dân ở Na Uy như Pakistan, Việt Nam, Trung quốc, Ba Tư, Lỗ Ma Ní (Roumanie), vv… Liên lạc Aud Digernes, email : aud.digernes@horisont.org, Trang nhà :http://www.horisont.org/ 

Ngày chủ nhật 20 tháng 8, 2006 từ 15giờ tới 19 giờ tại vũ trường Majestic, 18582 Beach Blvd, Huntington Beach, California , một chương trình « Chiều nhạc và tâm tình với Bạch Yến » với Bạch Yến, Thanh Lan, Trọng Nghĩa, Hạ Vân, Kevin Khoa, Jean Louis Beydon, Lê Danh Hiền, ban nhạc Y2K, và MC Việt Dzũng . Liên lạc : điện thoại : (408) 802.9938.

Rất hiếm khi Bạch Yến diễn tại miền Nam Cali . Hầu hết mỗi năm Bạch Yến đều có sang trình diễn tại Hoa Kỳ . Trong năm 2006, Bạch Yến đã diễn nhân dịp Tết cộng đồng Việt Nam tại tiểu bang Delaware và tiểu bang Virginia . Sau đó diễn chương trình Tết cộng đồng Việt Nam tại Seattle, tiểu bang Washington vào cuối tháng giêng 2006 .

Ngoài chương trình diễn cho người Việt ở Mỹ, Bạch Yến đã đi khắp Âu châu, Á châu trình diễn nhạc dân tộc với nhạc sĩ Trần Quang Hải trung bình 60 buổi mỗi năm , và tân nhạc ngoại quốc cho khán giả Tây phương . Năm nay để đánh dấu một quãng đường dài trong nghề ca hát, Bạch Yến ghé lại Huntington Beach để cùng tâm tình với khán giả mộ điệu qua những bản nhạc mà Bạch Yến đã từng nổi danh (« Đêm Đông », « Người tình nữ khóc than – La Llorona », « Malaguena ») . Ngoài ra còn có rất nhiều bài tiền chiến hay đương thời cùng với những sáng tác mới của nhạc sĩ hải ngoại cũng như những sáng tác của Trần Quang Hải cùng với Bạch Yến hay các nhạc phẩm nổi tiếng của Tây phương bằng tiếng Anh, Pháp, Ý, Tây ban nha và Do thái . Bạch Yến chỉ hát với một piano do nhạc sĩ Jean Louis Beydon đàn . Ông Jean Louis Beydon là giám đốc nhạc viện thành phố Vanves, là một nhạc sĩ piano nổi tiếng ở Pháp , từng đệm cho nhiều ca sĩ Pháp, Nhật . Ông đã đệm đàn cho Bạch Yến từ hơn 10 năm nay và đã sang Mỹ nhiều lần với Bạch Yến . Đây là lối diễn xuất ít thấy vì ít có ca sĩ nào trình diễn với một nhạc cụ (guitar hay piano). Hầu hết đều hát với một ban nhạc với trống , đàn guitar, synthe, vv…
Chương trình « Chiều Nhạc và Tâm tình với Bạch Yến » do nữ ca sĩ Hạ Vân hợp cùng nam ca sĩ Kevin Khoa tổ chức với sự tham gia của các nghệ sĩ địa phương : Thanh Lan, Trọng Nghĩa, Hoàng Oanh, Hạ Vân, Kevin Khoa, Lê Danh Hiền, ban nhạc Y2K và do MC Việt Dzũng điều khiển chương trình .


Sau khi diễn xong tại Nam Cali, Bạch Yến cùng nhạc sĩ dương cầm Jean Louis Beydon tới Washington D.C. để chuẩn bị một chương trình hoàn toàn khác với chương trình ở Huntington Beach .
Có thể nói chương trình ở tỉnh Annandale , tại Virginia Community College, Annandale Campus, Ernst Cultural Center do bác sĩ Văn Sơn Trường cùng một số anh chị em nhạc sĩ đã từng quen biết với Trần Quang H ải và Bạch Yến đứng ra tổ chức buổi trình diễn đặc biệt « BẠCH YẾN : 50 năm âm nhạc » vào ngày chủ nhật 27 tháng 8, 2006 từ 14 giờ . Một chương trình chú trọng vào hai khía cạnh : tân nhạc và dân nhạc . Tân nhạc với sự trình diễn « one woman show » trên sân khấu , hát những bản nhạc trữ tình thời tiền chiến , cũng như những ca khúc nổi tiếng đã đưa tiếng hát Bạch Yến lên đài danh vọng từ 50 năm qua , không những ca khúc bằng tiếng Việt , mà luôn cả những bản nổi danh của thế giới Tây phương . Qua buổi trình diễn này , khán giả có thể biết qua quá trình cuộc đời đi hát của Bạch Yến từ lúc đi môtô bay vào đầu thập niên 50 .
Sau đó, Bạch Yến đi vào con đường ca hát đầy gian truân trước khi nổi tiếng qua bài « Đêm Đông » vào năm 1957 . Các phòng trà ở Saigon vào cuối thập niên 50 được nghe giọng hát Bạch Yến qua các giai điệu rock Âu Mỹ và những bản nhạc lừng danh do Dalida, Brenda Lee hát .

Sang Pháp vào năm 1961 để học thêm kỹ thuật về giọng, Bạch Yến đã thu 4 dĩa 17cm/45 vòng với hãng dĩa Polydor trong giai đoạn nhạc Twist. Trở về Saigon vào cuối năm 1963, tiếp tục nghề hát ở phòng trà Tự Do .Rồi đi sang Mỹ vào năm 1965 theo lời mời của Ed Sullivan để hát trong chương trình Ed Sullivan Show nổi tiếng nhất xứ Mỹ thời đó . Bạch Yến được mời hai tuần và đã lưu lại sinh sống ở Mỹ 12 năm , đi diễn chung với các danh ca nổi tiếng của Mỹ như Bob Hope, Bing Crosby, Jimmy Durante, Pat Boone, và đi lưu diễn hai năm với nhạc sĩ dương cầm Liberace. Cô được mời hát trong phim « The Green Berets » (Lính Mũ Xanh) với John Wayne vào năm 1968. Cả thời gian ở Mỹ, Bạch Yến đã đi khắp 46 tiểu bang , trình diễn trong thế giới người Mỹ . Từng diễn nhiều shows tại Las Vegas . Đi nhiều nước ở Trung Mỹ (Mexico) và Nam Mỹ (Venezuela).
Năm 1978, Bạch Yến gặp lại Trần Quang Hải tại Paris và sau đó trở thành vợ của nhà nghiên cứu nhạc dân tộc . Từ đó, Bạch Yến quay về với nhạc dân tộc, học hát dân ca, tìm hiểu gia tài âm nhạc cổ truyền qua sự dìu dắt của chồng . Sau một thời gian học hỏi, Bạch Yến cùng Trần Quang Hải trình diễn nhạc dân tộc Việt Nam tại các trung tâm văn hóa, đại hội liên hoan nhạc cổ truyền quốc tế của hơn 60 quốc gia với hơn 2.000 buổi . Hai người đã cùng nhau thực hiện 3 dĩa 30cm / 33 vòng và 4 CD trong đó có một dĩa « Viet Nam : Tran Quang Hai & Bach Yen » do nhà sản xuất dĩa SM Studio ở Paris chiếm giải thưởng tối cao của Hàn lâm viện dĩa hát Charles Cros (Academie de Disque Charles Cros) vào năm 1983.
Bạch Yến tha thiết với sự phát huy nhạc dân tộc vào môi trường giáo dục âm nhạc . Bạch Yến đã cùng Trần Quang Hải lưu diễn tại nhiều trường tiểu , trung và đại học do cơ quan Jeunesses Musicales de France tổ chức trên 500 buổi ở khắp xứ Pháp từ năm 1985 tới năm 1997. Hai người cũng đã giới thiệu nhạc dân ca Việt Nam do Jeunesses Musicales de Belgique của vương quốc Bỉ từ 1983 tới 1985 và do trung tâm Rikskonsertene của Na Uy từ 1978 tới 2005. Chưa có một cặp nghệ sĩ nào diễn trên 1,200 chương trình giới thiệu nhạc dân tộc cho trẻ em Âu châu từ 30 năm nay .
Với tiếng đàn piano của nhạc sĩ Jean Louis Beydon từng theo Bạch Yến khắp nơi ở Pháp và Mỹ trong nhiều năm qua, chương trình tân nhạc Việt và ngoại quốc sẽ dành cho khán giả những bất ngờ .


Người thứ hai của chương trình là nhạc sĩ Trần Quang Hải . Lần này không có phần trình diễn dân ca với Bạch Yến mà là những màn biểu diễn một số nhạc cụ như đàn tranh, muỗng, sinh tiền, đàn môi và hát đồng song thanh . Đây là phần giới thiệu những đặc trưng của một số nhạc cụ mà anh đã trình diễn khắp năm châu . Từ 28 tới 30 tháng 7, 2006 vừa qua, Trần Quang Hải đã tham dự đại hội liên hoan quốc tế đàn môi tại Amsterdam (Hòa Lan) và đã tạo ấn tượng rất tót cho đàn môi Việt Nam . Từ 18 tới 20 tháng 8, 2006, anh lại trình diễn hát đồng song thanh, đàn môi và muỗng tại đại hội liên hoan quốc tế nhạc thế giới MELA Festival tại Oslo (Na Uy) đại diện cho nhạc Việt Nam trong địa hạt nhạc thế giới (World Music).

Với hai nghệ sĩ ngoại hạng , mỗi người ở một lĩnh vực, chương trình này sẽ có thêm một vài màn đặc biệt mà khán giả sẽ khám phá tại chỗ trong sự ngạc nhiên kỳ thú .


Liên lạc : BS Văn Sơn Trường, tel : (703) 283 4561, email : Vstruong@aol.com . Trang nhà để xem hình ảnh , tiểu sử và nghe một vài bản nhạc do Bạch Yến trình bày : http://www.vietdc.org


Back to Top

Formation d’ethnomusicologue de Tran Quang Hai grâce à M Gilbert Rouget, 4juin 2014


Formation d’ethnomusicologue de Tran Quang Hai grâce à M Gilbert Rouget, 4juin 2014

HOMMAGE A GILBERT ROUGET

En sa présence, sous réserve

Programme

Brice Ahounou, modérateur

Projection de plusieurs films ou extraits

Danse des reines à Porto-Novo

Gilbert Rouget (son) Jean Rouch (caméra), 1974 (extraits)

Batteries dogon

Gilbert Rouget en collaboration avec Jean Rouch et Germaine Dieterlen, 1964 (extraits)

Entretiens de Gilbert Rouget avec Bernard Lortat-Jacob et Claude Klejman

Collection L’ethnologie en héritage, dirigée par Alain Morel. Réalisateur Gilles Le Mao, 2008 — extraits

Interview de Gilbert Rouget par Brice Ahounou.

Réalisateur Jacques Merlaud, 2014

Interventions de

Bernard LORTAT-JACOB, Brice GERARD, Tran Quang HAÏ, Madeleine LECLAIR pour la musique.

Cécile REMY et Nolwenn BLANCHARD présenteront la maquette du livre Afrique musiquante (Riveneuve éditions)

Gilbert Rouget, très grand ethnomusicologue, est une figure du XXe siècle. Il fut l’ami des plus grands comme Claude Lévi-Strauss, Michel Leiris, Pierre Verger. Entré au Musée de l’Homme en 1942 comme assistant d’André Schaeffner, chef du département d’ethnologie musicale, il lui succède comme chef du département d’ethnomusicologie. G. Rouget est un découvreur dans le domaine du son. Il crée un studio d’enregistrement au Musée de l’Homme dès 1947 et des éditions de disques appelées par la suite « Collections CNRS/Musée de l’Homme ». Avec Eric de Dampierre il co-fonde les « Editions des Classiques Africains » et avec Jean Rouch le « Laboratoire audio-visuel de l’Ecole Pratique des Hautes Etudes ».

Dès 1968 il crée et met en place au Département d’ethnomusicologie du Musée de l’Homme une formation de recherche du CNRS, nouvelle dans ses principes, comprenant entre autres un laboratoire d’analyse et de transcription automatique du son, géré par un ingénieur. Ses principales missions en Afrique ont été aux Moyen-Congo et Gabon en 1946 où la musique des Pygmées est une véritable révélation pour lui, au Bénin entre 1952 et 1987 où il étudie la musique de Cour du Royaume de Porto-Novo, mais aussi au Nigéria, Sénégal, Côte d’Ivoire, Mali… où il recueille les pratiques musicales traditionnelles des populations visitées.

Sa documentation se compose actuellement de 350 CD. Il a également écrit plusieurs livres enrichis de photos sur ces musiques. Sa dernière publication « Afrique musiquante » sera présentée en avant première au public

Giáo sư, Tiến sĩ, nhạc sĩ Trần Quang Hải: Hiểu âm nhạc cha ông để thoát khỏi mặc cảm


Giáo sư, Tiến sĩ, nhạc sĩ Trần Quang Hải:
 
Hiểu âm nhạc cha ông để thoát khỏi mặc cảm
Thứ tư, 04/06/2014 – 03:30 PM (GMT+7)
    
GS, TS Trần Văn Khê (trái) và GS, TS Trần Quang Hải ngày 17-5-2014.
GS, TS Trần Văn Khê (trái) và GS, TS Trần Quang Hải ngày 17-5-2014.

Vội vội vàng vàng về nước tham dự Hội thảo quốc tế Bảo tồn và phát huy giá trị dân ca trong xã hội đương đại (trường hợp dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh) vừa diễn ra tại thành phố Vinh (Nghệ An), GS, TS nhạc sĩ Trần Quang Hải lại mải miết lên đường. Lịch thỉnh giảng ở Pháp, I-ta-li-a và nhiều quốc gia luôn ken đặc, vẻ đẹp bí ẩn của âm nhạc cổ truyền Việt Nam ngày càng có sức hấp dẫn sinh viên nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới. Đến nay sau nửa thế kỷ miệt mài cùng phận sự của một người truyền bá, khai sáng, “ông vua” đàn môi Trần Quang Hải vẫn chưa có nhiều thời gian để ngơi nghỉ:

Tên tuổi GS, TS Trần Văn Khê và GS, TS, nhạc sĩ Trần Quang Hải thì đã nhiều người biết. Nhưng có lẽ chưa hẳn nhiều người đã tỏ tường ông cùng cha mình từng góp công sức lớn vào các bộ hồ sơ trình UNESCO để được công nhận di sản văn hóa phi vật thể cho ca trù, quan họ, hát xoan, đờn ca tài tử…?

Thân phụ tôi (GSTS Trần Văn Khê) và tôi đã tham gia vào việc bảo tồn và phát huy dân nhạc của Việt Nam. Cha tôi đã đóng góp rất nhiều vào hồ sơ Nhã nhạc cung đình Huế (được công nhận năm 2003) và cồng chiêng Tây Nguyên (2005). Chúng tôi cùng nhau tham gia việc dựng hồ sơ quan họ (2009), ca trù (2009), hát xoan (2011), đờn ca tài tử (2013) và gần đây nhất là hát ví giặm Nghệ Tĩnh.

Ví giặm Nghệ Tĩnh liệu có vượt qua khỏi những thử thách mà UNESCO đưa ra để giúp Việt Nam có thêm một di sản tinh thần nữa trong năm nay, thưa Giáo sư?

Tôi không thể khẳng định điều này vì cần nhất là phải có hồ sơ đủ bề dầy lịch sử và bề sâu nghệ thu   ật. Bề dầy lịch sử đã được xác nhận qua những nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, nhất là đóng góp của cố giáo sư Nguyễn Đổng Chi và cố giáo sư Ninh Viết Giao. Bề sâu nghệ thuật đang được các nghệ nhân Nghệ An, Hà Tĩnh biểu hiện xuyên qua sự hình thành nhiều câu lạc bộ và chương trình giảng dạy các điệu ví giặm ở trường học. Tôi chỉ hy vọng rằng với sự nhiệt tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước có thể mang thêm cho Việt Nam một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại ngay trong năm 2014.

Để thuyết phục một người chưa bao giờ nghe, chưa bao giờ biết đến ví giặm Nghệ Tĩnh có ham muốn tiếp cận loại hình dân ca độc đáo này, Giáo sư sẽ làm gì?

Việc làm đầu tiên theo tôi là cho họ nghe những làn điệu đặc trưng của ví (ví phường nón, ví phường vải) và của giặm (giặm ru, giặm cửa quyền) qua những tài liệu nguyên xi thu thập từ những cuộc điền dã cho thấy loại hát này gắn liền với đời sống hằng ngày, những sinh hoạt liên hoan qua tài diễn xuất của những nghệ nhân tên tuổi.

Sẽ khó để giữ gìn phát huy giá trị của ví giặm Nghệ Tĩnh nói riêng và âm nhạc truyền thống nói chung nếu công chúng trong nước, nhất là giới trẻ chỉ thích nghe nhạc Hàn Quốc, nhạc Anh Mỹ và nhạc trẻ đương đại?

Đối với giới trẻ ít quan tâm tới nhạc dân tộc mà chỉ thích nhạc ngoại hay tân nhạc đương đại, việc làm đòi hỏi khá nhiều khó khăn. Ta có thể từng bước gây sự chú ý của giới trẻ, bước đầu là sân khấu hóa các bộ môn dân nhạc (quan họ, ca trù, hát xoan, hát ví giặm, hát xẩm, hát bài chòi…).

Qua tìm hiểu của Giáo sư, liệu hệ thống nhà trường phổ thông ở Việt Nam đã làm tròn chức phận giới thiệu, hướng dẫn, truyền bá cái hay cái đẹp của âm nhạc truyền thống tới học sinh các lứa tuổi?

 

Một hoạt cảnh trong Liên hoan dân ca ví giặm 2013 tại TP Hà Tĩnh.

 

Như tôi đã nói, hệ thống nhà trường phổ thông ở Việt Nam chưa có đủ điều kiện hoàn tất việc giới thiệu, hướng dẫn, truyền bá cái hay cái đẹp của nhạc truyền thống tới học sinh các lứa tuổi. Thứ nhất là thiếu cán bộ có đủ căn bản hiểu biết và minh họa một số loại hình nhạc dân tộc. Sách vở về nhạc cổ truyền viết cho giới trẻ không có, phim ảnh từng bộ môn không có. Học sinh ở miền nam không biết gì về hát xoan, hát xẩm, hát ví phường vải của miền bắc hay hát bài chòi của miền trung. Học sinh miền trung không có một khái niệm gì về hò và lý, với đờn ca tài tử của miền nam hay các loại nhạc dân ca của miền bắc mà tôi vừa kể phần trên . Học sinh miền bắc không am tường sự phong phú của nhã nhạc cung đình Huế, hát bài chòi, cồng chiêng Tây Nguyên hay đờn ca tài tử Nam Bộ… Tôi chưa thấy một chương trình toàn diện tìm hiểu âm nhạc Việt Nam trong nhà trường. Hầu hết các sinh viên du học Việt Nam mà tôi thường gặp ở Âu Mỹ đều không có một khái niệm sơ đẳng về nhạc dân tộc. Họ chỉ biết vài bài dân ca (quan họ), hoặc chỉ biết đàn tranh, đần bầu, hát cải lương hay một chút ít hát chèo. Đây là việc làm khẩn cấp giúp học sinh ngày nay hiểu biết thêm về sự phong phú của gia tài âm nhạc Việt Nam, để các em không còn bị mặc cảm khi đi du học và có thể trao đổi với các bạn ngoại quốc về sự giao lưu văn hóa nhạc dân tộc.

Cha con GS, TS Trần Văn Khê và GS, TS Trần Quang Hải được coi như những người có đóng góp khó định lượng để đưa dân ca nhạc cổ Việt Nam ra nước ngoài. Trong suốt quá trình đó ông đã chiêm nghiệm được gì từ cha mình và đâu là căn nguyên để một nhạc công violon như ông có bước ngoặt khác xa thế?

Khi còn bé, tôi học đàn violon ở âm nhạc viện Sài Gòn (từ năm 1955 tới 1960). Lúc đó tôi hoàn toàn mù tịt về âm nhạc dân tộc. Từ lúc sang học bộ môn nhạc học (musicology) tại trường đại học Sorbonne, Paris, và dân tộc nhạc học (ethnomusicology) tại trường cao đẳng khoa học xã hội đã giúp tôi khám phá rất nhiều truyền thống nhạc dân tộc của thế giới. Đến khi vào làm việc tại Viện bảo tàng con người (Musée de l’Homme) ở Paris, Pháp, tại viện dân tộc nhạc học, tôi được giao phó nghiên cứu nhạc Việt Nam và Đông-Nam Á. Tôi khám phá kho tàng nhạc dân tộc Việt Nam của dân tộc Kinh và 53 dân tộc anh em (Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Xê Đăng, Mnong Gar, Chăm, Mông, Mường, Dao, Tày, Thái, Nùng) và bắt đầu quay về nguồn, đồng thời đối chiếu với các loại nhạc dân tộc của Ấn Độ, Myanma, Thái-lan, Campuchia, Lào, Indonexia, Philippines. Tôi được cha truyền sự hiểu biết qua những năm học tại trường nghiên cứu nhạc Đông phương (Centre of Studies for Oriental Music) tại Paris. Sinh trưởng trong gia đình có năm đời nhạc sĩ cổ truyền, tôi mới thức tỉnh và nhận thấy bổn phận tiếp nối truyền thống dòng họ. Tôi học về lý thuyết và thực tập về đàn tranh, đàn bầu, đàn nhị, sinh tiền rồi tự phát triển kỹ thuật gõ muỗng và chơi các loại đàn môi (xứ Việt mình là xứ duy nhất trên thế giới có 10 loại đàn môi kim loại và tre). Sự phối hợp giữa lý thuyết và thực tập nhạc cụ đã giúp tôi có kiến thức sâu đậm và đủ điều kiện để phát huy nhạc dân tộc Việt ở Pháp và các quốc gia Âu Mỹ qua các buổi trình diễn nhạc cổ truyền. Sự quay về nhạc cổ Việt Nam sau hơn 41 năm nghiên cứu đã cho tôi một chỗ đứng cao trong việc truyền bá nhạc cổ truyền Việt Nam khắp năm châu. Tôi mong có dịp mang sự hiểu biết của tôi về giảng dạy ở Việt Nam để giúp cho thế hệ trẻ cảm nhận chân giá trị của nền quốc nhạc mà các em sẽ là những người thừa kế và tiếp nối trong tương lai.

Trân trọng cảm ơn GS, TS, nhạc sĩ Trần Quang Hải.

Tôi đã trình diễn khoảng 3.500 buổi tại 70 quốc gia trên thế giới, phát hành 23 đĩa hát về nhạc đàn tranh, đoạt hai giải thưởng quốc tế về đĩa hát tại Pháp (Academy of Record Charles Cros) vào năm 1983 và 1995, phát hành 4 DVD   , viết một quyển sách về nhạc cụ thế giới (bằng tiếng Pháp, Anh, Đức và Tây Ban Nha) và đã giảng dạy tại hơn 130 trường đại học trên thế giới. Công trình nghiên cứu và giảng dạy tại Pháp đã được tổng thống Jacques Chirac ban tặng huân chương Bắc đẩu bội tinh (legion of Honour) vào năm 2002. Trung tâm kỷ lục Việt Nam đã tặng cho tôi một danh hiệu “vua muỗng” vào năm 2011 và một kỷ lục khác là “người đã trình diễn đàn môi Mông tại nhiều quốc gia nhất thế giới” vào năm 2012.

http://www.nhandan.com.vn/hangthang/van-hoa/item/23407102-hieu-am-nhac-cha-ong-de-thoat-khoi-mac-cam.html

GSTS TRẦN QUANG HẢI : VUA ĐÀN MÔI , Chương trình TV do Phương Linh và Mộng Thìn củaTTXVN thực hiện , tháng 5, 2014


GSTS TRẦN QUANG HẢI : VUA ĐÀN MÔI , Chương trình TV do Phương Linh và Mộng Thìn củaTTXVN thực hiện , tháng 5, 2014

dành cho báo THỂ THAO và VĂN HÓA, mục Văn Hóa Toàn Cảnh, chủ đề “Điệm Nhấn Văn Hóa” với GSTS Trần Quang Hải, Vua Đàn môi, phát hình vào ngày 20 tháng 5, 2014, Hà nội, Việt Nam

DƯƠNG KIM THOA : GS,TS Trần Quang Hải Bảo tồn nhạc dân tộc là công việc của nhiều thế hệ


GS,TS Trần Quang Hải

Bảo tồn nhạc dân tộc là công việc của nhiều thế hệ

Thứ Hai, 02/06/2014, 07:37 [GMT+7]
Hai cha con GS, TS Trần Văn Khê và GS, TS Trần Quang Hải hòa đàn tại tư gia.
Hai cha con GS, TS Trần Văn Khê và GS, TS Trần Quang Hải hòa đàn tại tư gia.

Theo GS, TS Trần Quang Hải, đâu cần phải đợi UNESCO xác nhận giá trị của di sản nghệ thuật dân tộc, chính người Việt phải biết nâng niu, gìn giữ trước khi các di sản phi vật thể đó mất đi…

Nhân việc chuẩn bị hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận danh hiệu di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh, GS, TS Trần Quang Hải chia sẻ thêm về việc bảo tồn, phát triển nhạc cổ truyền dân tộc.

GS, TS Trần Quang Hải cho biết:

– Việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã được khởi xướng từ năm 2013. Năm nay, Bộ VH-TT&DL muốn bổ túc để hoàn thiện hồ sơ trước khi đưa trình chính thức vào ngày 30-6.

Tất cả chúng ta đều mong dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh sẽ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhưng chuyện được hay không, theo tôi, cũng chỉ là vấn đề bề mặt. Nhìn sâu hơn, chúng ta không cần phải đợi được UNESCO công nhận rồi mới phát triển.

Tôi thấy mọi người hiện hướng về sự ghi nhận của UNESCO, đó là sai lầm. Chúng ta không thể dựa vào sự phán xét của người nước ngoài. Không có lý do gì cần phải có sự nhìn nhận của UNESCO ta mới thấy đó là loại hình nghệ thuật có giá trị. Chân giá trị của hát ví dặm không phải ở đó. Điều quan trọng nhất là khi chính người dân sở tại thấy được giá trị đặc sắc của nghệ thuật truyền thống ở địa phương mình và tìm cách bảo tồn, phát triển.

* Theo ông, điểm đặc sắc nhất ở dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh là gì?

– Hát ví dặm có điểm khác với hát quan họ và ca trù ở chỗ người hát không phải luyện tập, người dân nào cũng hát được. Họ hát ngẫu hứng, hát trong khi đi chơi, hát trong lúc lao động.

Điểm đặc sắc nữa của nó là tính tương tác, đối đáp. Đó là khi có anh chàng ngồi đan nón bên này, thấy bên kia có cô gái trông “vui vui”, bèn tìm cách hát trêu chọc. Cô gái kia bị chọc thì mắc cỡ, phải tìm cách ứng đối. Trong sự đối đáp đó, giai điệu không quan trọng bằng ngôn từ.

Đặc trưng tiếng nói của người Nghệ khá nặng, chỉ có ba âm. Theo đó, trong âm nhạc chỉ có tam cung, tứ cung chứ không phải ngũ cung như dân ca miền Bắc hay miền Nam. Riêng trong hát dặm, có điệu dặm ru có thang âm ngũ cung của miền Bắc, do sự du nhập từ Bắc vào. Tôi cũng nhận ra sự phong phú trong cách luyến láy rất hay của giai điệu dân ca ví dặm.

* Vậy có sự tương đồng hay khác biệt nào giữa tính ngẫu hứng trong dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh và tính ngẫu hứng trong đờn ca tài tử Nam Bộ?

“Giáo dục một thế hệ, không phải chỉ là vấn đề văn hóa, mà còn là giáo dục về âm nhạc. Đó là cách thức có thể mang tới sự sống còn của nhạc dân tộc”

GS, TS Trần Quang Hải

– Tính ngẫu hứng trong đờn ca tài tử thể hiện rõ nhất trong khi đờn với nhau. Tùy theo trình độ hiểu biết, tùy theo cách đờn chân phương hay hoa lá, một bản đờn hòa chung sẽ diễn ra theo những cách khác nhau. Trong khi đờn, tính ngẫu hứng còn khiến người ta chọc phá để thử tài nhau, điều này không có trong tính ngẫu hứng của dân ca ví dặm.

Trong đờn ca tài tử, một anh chạy xích-lô, anh thợ cắt tóc có thể đờn chung với một ông kỹ sư, bác sĩ. Còn trong hát ví dặm, sự giao lưu thường diễn ra giữa những người cùng một làng hay cùng một nghề như phường vải, phường nón.

Như vậy, khác biệt cơ bản ở chỗ, hát ví dặm Nghệ Tĩnh có sự phóng túng trong lời ca, không phải trong giai điệu. Còn ở đờn ca tài tử, phóng túng trong giai điệu (tiếng đờn), không phải trong lời ca.

* Cũng giống các loại hình nghệ thuật truyền thống khác, để tồn tại và phát triển, cần có không gian của nó, chúng ta vẫn gọi đó là không gian diễn xướng. Ông nói, năm ngoái đã có dịp đi thực địa tại Nghệ An và Hà Tĩnh. Vậy không gian diễn xướng của dân ca ví dặm theo ông thấy như thế nào?

– Bây giờ về lại những vùng đó, tôi không thấy những gì như đã đọc trong sách vở vì tất cả đều được dựng lại. Tuy vậy, có thể thấy họ đã dựng lại với sự cố gắng và hồ hởi của những người muốn bảo vệ giá trị âm nhạc truyền thống. Họ tới gặp các nghệ nhân để thu âm và thống kê các làn điệu ví dặm còn lại.

Nhưng thời đại bây giờ khác nhiều. Chỉ nói riêng chuyện giặt giũ, ngày xưa người ta ra sông giặt áo, bây giờ còn ai ra sông La vừa giặt vừa hát hết nguyên một ngày, rồi vừa làm việc, lại vừa hát đối đáp với một anh đánh tôm đánh cá nào gần đó.

Chưa kể bây giờ người ta phải dùng loa đài để hát vì hát “chay” không mấy người đủ giọng. Cùng với hệ thống máy phóng thanh thì dàn nhạc đệm cũng khiến người hát không còn chú tâm được vào cảm xúc, tình cảm của làn điệu. Dù thế, vẫn phải khẳng định rất nhiều làn điệu trong dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh đã được các nghệ sĩ thanh nhạc vận dụng thành công trong tác phẩm của mình.

* Ông có thể phân tích rõ hơn nguy cơ sân khấu hóa có thể làm mất các giá trị bản sắc của dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh?

– Khi bị sân khấu hóa, ví dặm có nguy cơ không còn là loại hình nghệ thuật ở trong nguồn gốc dân ca nữa. Từ việc bị sân khấu hóa, nó đi tới chỗ hướng về du lịch. Thêm vào đó, người ta còn phụ họa về hòa âm theo kiểu Tây phương. Họ nói làm như vậy để nâng cao giá trị âm nhạc, có bề dày âm nhạc là không đúng. Nhạc Việt Nam là nhạc đơn ca, đơn điệu, không phải nhạc đa âm. Do đó, việc đệm vào hòa âm là đi sai đường.

Thêm nữa, khi biểu diễn trên sân khấu, người hát bị đèn chiếu vào, đủ các loại xanh, đỏ, tím, vàng. Nguy hiểm nhất là vũ đạo. Những màn múa tới lui phụ họa làm phân tán người nghe khi thưởng thức dân ca.

Tôi nhận thấy, tình trạng sân khấu hóa ở ví dặm cũng nằm chung trong tình trạng sân khấu hóa tổng thể trên toàn quốc. Sân khấu hóa trong quan họ chúng ta đã thấy. Sân khấu hóa trong ca trù chúng ta cũng đã thấy. Rồi còn sân khấu hóa trong hát xoan, trong đờn ca tài tử… Tất cả nhạc dân ca Việt Nam đều đi tới tình trạng sân khấu hóa cũng bởi chuyện sinh kế. Người dân bây giờ không để ý tới chân giá trị của âm nhạc, nghe một điệu hát chay thì “chán lắm”. Giới trẻ nghe dân ca mà không có nhạc đệm đúng theo cách các bạn trẻ thường nghe trong các loại nhạc pop, rock thì cũng “chán lắm”.

Chưa kể tới vấn đề trang phục khi trình diễn hoàn toàn không liên hệ gì tới truyền thống. Cho nên nói tóm lại, sân khấu hóa là hướng đi có thể làm sai lệch tất cả những gì chúng ta cần phải bảo vệ và phát huy.

* Từ góc độ của một nhà nghiên cứu âm nhạc đã đi giảng dạy ở nhiều quốc gia trên thế giới, theo ông, đâu là cách giải quyết vấn đề hiệu quả lâu dài để vừa bảo tồn, phát triển, vừa giúp âm nhạc truyền thống của dân tộc hòa nhập với đời sống đương đại?

– Đây là vấn đề quan trọng, liên hệ tới cả một đường lối giáo dục. Phải đưa dân ca, nhạc truyền thống vào chương trình giáo dục. Chúng ta thấy rằng, cho tới hôm nay, trong chương trình giáo dục của Việt Nam, không có chương trình nào về âm nhạc dân tộc. Nếu có chỉ là một phần rất nhỏ, lại không có phần giảng về lịch sử âm nhạc Việt Nam.

Thử hỏi có bao nhiêu sinh viên Việt Nam du học nước ngoài nắm được nguồn gốc âm nhạc và số loại hình nhạc dân tộc của đất nước mình. Cùng lắm họ chỉ biết tới cải lương, quan họ, hát chèo, đàn tranh, đàn bầu, mà quên mất rằng, ngoài dân tộc Kinh, chúng ta còn 53 dân tộc khác, mỗi dân tộc lại có âm nhạc với bản sắc riêng. Làm sao để đưa vào giáo dục kiến thức âm nhạc truyền thống của các dân tộc anh em khác. Chính vì không hiểu hết sự phong phú, độc đáo của gia tài âm nhạc dân tộc, nhiều người trẻ có tâm thế vọng ngoại, xem cái gì của Tây phương cũng hay hơn vốn cổ ông cha để lại.

Như vậy, muốn bảo tồn, phát triển di sản âm nhạc truyền thống, chúng ta cần thực hiện chương trình giáo dục đi từ cấp tiểu học, trung học và đại học. Trong 12 năm học phổ thông, mỗi năm chỉ cần dạy từng chút về lịch sử âm nhạc, giúp người học biết được âm nhạc của những vùng, miền, dân tộc khác. Như vậy phải có các nhạc viện, trong đó đặc biệt quan tâm bộ môn sư phạm âm nhạc, hay giáo dục âm nhạc. Đây là bộ môn không đi vào vấn đề biểu diễn nhạc cụ, mà chỉ tập trung vào phương pháp giáo dục âm nhạc, giúp người học có hiểu biết chính xác về nguồn gốc âm nhạc.

Tôi đã giảng dạy âm nhạc ở nhiều nơi và thấy về thời lượng giảng dạy âm nhạc, ở Pháp mỗi tuần có một giờ, ở Hungary có 6 giờ một tuần về lịch sử âm nhạc. Ở Na Uy mỗi năm tổ chức 5.000 buổi trình diễn âm nhạc cổ truyền cho trẻ em. Tôi đã được mời sang Na Uy giảng 600 buổi về nhạc Việt Nam cho các em từ 3-16 tuổi. Na Uy là đất nước chỉ có khoảng 4 triệu dân mà họ còn để ý tới vấn đề nhạc Việt Nam, họ muốn trẻ em nước họ được thấy sự mới lạ trong âm nhạc của một đất nước tại Á châu.

Một điều quan trọng là một đứa trẻ sẽ nhớ suốt đời những gì được hấp thụ trong giai đoạn từ 6-10 tuổi. Cần đặt vào tiềm thức trẻ những hình ảnh rất đẹp của truyền thống âm nhạc Việt Nam. Đó là bước đầu của việc đào tạo.

Muốn vậy, giới chuyên môn cần bàn bạc, soạn thảo một chương trình giáo dục âm nhạc trên cả nước. Cũng cần có thêm nhiều học viện âm nhạc ở các địa phương khác nhau. Hiện tại, với 90 triệu dân, chúng ta mới chỉ có 3 nhạc viện, vậy là quá ít. Ở Pháp hiện có gần 6.000 nhạc viện. Tỉnh nơi tôi đang ở chỉ có 20.000 dân nhưng cũng có một nhạc viện nhỏ với 40 giáo sư và khoảng 700 sinh viên. Ở các tỉnh có 200.000-300.000 dân thì số sinh viên nhạc viện cũng tới vài ngàn, số giáo sư cũng tới vài trăm người.

Trong lĩnh vực giáo dục âm nhạc, ở Pháp có sự hỗ trợ của chính phủ trong việc bảo đảm đầu ra cho các bộ môn sư phạm âm nhạc, vì sự bảo đảm đó mà các bậc cha mẹ yên tâm gửi con vào học. Nhưng bây giờ thử hỏi, trong số các du học sinh hằng năm của Việt Nam, bao nhiêu người đi nghiên cứu về nhạc học dân tộc? Hầu như không có. Ngay cả những người đi học để biểu diễn cũng chú trọng nhạc cụ Tây phương vì tâm lý vọng ngoại, cho rằng học xong có thể trở về làm việc trong các nhạc viện.

Nhiều sinh viên theo học nhạc cụ dân tộc trong các nhạc viện có tâm lý mặc cảm vì không đủ khả năng, không đủ tiền để học nhạc cụ Tây phương. Thành ra trong xã hội Việt Nam có sự phân chia giai cấp, cho rằng những người có tiền mới học nhạc Tây phương, người nghèo mới học nhạc cổ truyền. Chúng ta phải làm sao xóa bỏ tất cả những chuyện này. Đây không phải câu chuyện của một ngày, một tháng, một năm, mà là công việc của nhiều thế hệ. Nhưng muốn đi tới đó, chúng ta phải bắt đầu ngay từ bây giờ.

Đất nước đã thống nhất 39 năm, nhưng trong 39 năm đó, chúng ta đã làm được gì để chấn hưng âm nhạc Việt Nam? Chưa gì cả. Những nghệ nhân dân gian – các “báu vật” của âm nhạc truyền thống đang mất dần, trong khi chính phủ vẫn chưa làm được nhiều trong việc đãi ngộ họ. Giới trẻ cũng nhìn vào thực tiễn đó để không ai muốn lăn xả vào con đường bảo vệ vốn cổ.

Trong vấn đề này, tôi khẳng định, cần có sự đồng tâm tham gia của chính phủ và hệ thống giáo dục. Giáo dục một thế hệ, không phải chỉ là vấn đề văn hóa, mà còn là giáo dục về âm nhạc. Tôi nghĩ, đó là cách thức có thể mang tới sự sống còn của nhạc dân tộc.

* Xin trân trọng cảm ơn GS, TS Trần Quang Hải.

DƯƠNG KIM THOA thực hiện

http://www.baodanang.vn/channel/5414/201406/gsts-tran-quang-hai-bao-ton-nhac-dan-toc-la-cong-viec-cua-nhieu-the-he-2332998/

NHƯ LAN : GS NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI: Đi tìm học trò trên toàn thế giới


GS NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI: Đi tìm học trò trên toàn thế giới

Thứ tư – 30/04/2014 14:05

GS NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI: Đi tìm học trò trên toàn thế giới

(CLVN.VN) – Ngày 16 tháng 04 vừa qua, GS nhạc sĩ Trần Quang Hải và vợ là ca sĩ Bạch Yến cùng hai người bạn Mỹ là EVA và JACK MARCUSSEN xem triển lãm tranh thuộc trường phái Ấn tượng tại Viện bảo tàng Marmottan Monet (2 rue Louis Boilly, Paris quận 16 – Pháp). Theo ông thì đó là một triển lãm rất đáng xem được kéo dài đến 6/7/2014. Thời gian qua, GS nhạc sĩ Trần Quang Hải đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu về mỹ thuật và những vấn đề chung quanh hành trình phát triển của âm nhạc dân tộc.

Ông vừa thực hiện chuyến đi theo lời mời của một sốtrường Đạihọc tại Đức, cụ thể là giảng dạy tại Berlin, Đức một khóa hát đồngsong thanh. Học trò của ông rất thích bộ môn này vì nét độc đáocủa nó, đồng thời nễ phục ông vì những ddẫn chứng hết sức linhhoạt, mang lại chohọ nhiềukiếnthức về văn hóa, ẩm thực và đấtnước, con người VN qua mỗi bài giảng. Trước đó ông đã thuyếttrình về hát đồng song thanh trongkhung cảnhcủa chương trình“những ngày thứ năm của CNRS – trường đại học liên lứa tuổi Auguste Rodin tạiTrungtâmvăn hóa Robert – Dois neau,thành phố Meudon, ngoại ô Paris và giảng dạy bộ môn này tạiTrường PaulValéry cho sinh viên Pháp.

GS nhạc sĩ Trần Quang Hải là chuyên gia đàn môi. Ông là contrai của Giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê. Trong những ngày về thămquê nhà những năm trước đây, ông đã có buổi biểu diễn tại tư giacủa cha mình, với chủ đề “Rao và ngẫu hứng trong âm nhạc truyềnthống”, thu hút hơn 100 người dự thính.

tqhai_1

Phong cách giản dị và lối nói chuyện hóm hỉnh, GS nhạc sĩ TrầnQuang Hải đưa người xem từ ngạcnhiên này đến ngạc nhiên kháckhi ông biểu diễn các loại “đàn môi cha”,“đàn môi con” của mộtdân tộc thiểu số. Ông còn dùng 2 –3 chiếc thìa để “đàn” cho mộtđiệu nhảy. Thậm chí, giáo sư Hải sử dụng cả tấm card ATM hoặccard điện thoại để đánh một bản nhạc dân tộc trước sự thán phụccủa mọi người.

Theo giáo sư nhạc sĩ Trần Quang Hải, chiếc đàn môi Việt Namthu hút nhiều người trên thế giới thích thú tìm hiểu, nhưng trongnước lại quá ít người biết đến. Ông tâm sự: “Tôi rất muốn chia sẻkinh nghiệm cho giới trẻ song quả thật là rất khó tìm người đi học thứ nhạc cụ này. Trong khi ở các nước, thìnhiều sinh viên đãtìm hiểu và học cho bằng được, nên tôi có đông học trò ở nướcngoài. Và tôi rất hạnh phúc khi có thêm nhiều học trò trên toàn thếgiới”.

tran quang hai overtone singing   GS nhạc sĩ Trần Quang Hải còn biểu diễn hát nhạc Đồng songthanh. Ông giải thích đó là lối ca bắt đầu từ kỹ thuật hát của một sốbộ tộc Mông Cổ được chính ông nghiên cứu và tập luyện thànhthục. Người biểu diễn có thể hát một lúc hai thanh, hát trên nềnthanh trầm, với những bồi âm sẽ tạo thành tiết tấu, ca khúc.

Sống ở Pháp từ lâu, ông Trần Quang Hải là một thuyết trình viên,nhạc sĩ sáng tác và là người thầy nổi tiếng về sư phạm âm nhạc. Ôngđã có hàng nghìn cuộc nói chuyện, giới thiệu âm nhạc Việt Namkhắp nơi trên thế giới. Ông không chỉ chuyên về nhạc dân tộcViệt  còn  chuyêngia vềnhạccụ  âmnhạc của các nước Châu Á.

Trước sự chứng kiến của khángiả trong ngoài nước tạigiaGSTS Trần Văn Khê GS nhạc  Trần Quang Hải đã biểu diễn điệu lả  cảmột đoạntrong Giaohưởngsố9củaBeethoven với mộtlàn hơithật khẻokhoắn,vuitươi  baybổng.GS nhạc  TrầnQuang Hải  thế hệ thứ 5 trong gia nh đình vốn  trtruyền thống âmnhạc lâu đờiÔng sinh năm 44 tại tỉnh Gia Định (nay  Sài Gòn),bộc lộ năng khiếu âmnhạc  từ nhỏĐến năm 1961, giáo  Trần VănKhê đưa con sang Pháp để học tập  trao dồi thêm trong âmnhạc. 

tran quang hai & tran van khe 2010

Nói về con trai của mình, GSTS Trần Văn Khê cho biết: “Hảingày trước đánh violon rất hay. Nhưng nhờ sự góp ý củamột giáosư âm nhạc người nước ngoài rằng, muốn tiến xa hơn nữa thì chỉ cóthể bắt đầu từ cái gốc âm nhạc dân tộc, Hải đã xin tôi truyền nghề.Tôi vô cùng hạnh phúc trước

quyết định đúng đắn của con mình”.

 

NHƯ LAN

Theongocanh

Nguồn tin: Báo sân khấu

http://cailuongvietnam.vn/news/Do-day-gan-xa/GS-NHAC-SI-TRAN-QUANG-HAI-Di-tim-hoc-tro-tren-toan-the-gioi-8652/

DƯƠNG KIM THOA : Cha con GS Trần Văn Khê hòa đàn sau 36 năm


Cha con GS Trần Văn Khê hòa đàn sau 36 năm

18/05/2014 18:25 (GMT + 7)
 
 
TTO – Đêm 17-5, tất cả những ai tham dự buổi nói chuyện về đàn môi tại tư gia GS Trần Văn Khê đều xúc động khi chứng kiến cuộc hòa đàn giữa hai thế hệ nhạc sĩ dòng họ Trần: GS Trần Văn Khê và TS Trần Quang Hải.

TIN BÀI LIÊN QUAN

Bị thấp khớp hơn sáu năm qua, từ lâu GS Trần Văn Khê không còn chơi đàn trước công chúng. Ông chia sẻ vì bệnh tật, ngón tay không cho ông bấm phím đàn như ý muốn, cái tai không nghe rõ thanh âm cần nghe, thành thử lâu nay ông chỉ thi thoảng lặng lẽ chơi đàn một mình cho thỏa.

Lần này, nhân dịp con trai là TS Trần Quang Hải về nước dự hội thảo khoa học về hát ví, dặm do tỉnh Nghệ An tổ chức, trong suốt ba ngày trước buổi sinh hoạt nghệ thuật, GS Trần Văn Khê đã luyện lại ngón đàn kìm để có thể hòa đàn với con.

GS Trần Văn Khê cho biết ông đã rất cố gắng vượt qua đau đớn bệnh tật, để được cùng con trai làm lại một việc hai cha con đã làm từ năm 1978: hòa chung một bản đàn.

Tiếng đàn kìm của GS hôm nay không thể giống với tiếng đàn 36 năm trước. Bản gõ muỗng của TS Trần Quang Hải cũng không như ngày ấy, nhưng sự ngẫu hứng và tương tác ý vị giữa hai cha con thì vẫn đậm đà chất “đờn ca tài tử”. Chỉ một cái liếc mắt của người này, người kia đã hiểu ý để đẩy nhanh hay kéo chậm lại tiết tấu hòa chung.

Cũng tại buổi sinh hoạt âm nhạc, TS Trần Quang Hải đã có bài thuyết trình sinh động, bổ ích về đàn môi của Việt Nam và thế giới. Ông đã cho người nghe hiểu thêm về các loại đàn môi, cấu tạo, chức năng và sự ứng dụng đa dạng của đàn môi trong nghệ thuật cũng như đời sống. Người xem bật cười thích thú khi ông dùng đàn môi “nói chuyện” với những câu ví dụ như “Hôm nay tôi đi chơi vui ghê”, “a lô, a lô”…

Với phần lớn công chúng Việt Nam, đàn môi là nhạc cụ còn tương đối xa lạ. Nhiều người cũng như KTS Nguyễn Hữu Thái nghĩ chơi đàn môi hẳn không dễ. Nhưng TS Trần Quang Hải cho biết nếu được chỉ đúng cách, chỉ vài phút là có thể chơi được. Ông chứng minh thuyết phục điều đó khi mời em trai là KTS Trần Quang Minh lên hòa chung một bản đàn môi. Ông Minh cũng chỉ mới học chơi đàn môi sáng hôm đó.

Theo TS Trần Quang Hải, đàn môi chỉ là một trong số hơn 250 loại nhạc cụ của Việt Nam. Do đó, còn rất nhiều việc nữa cần làm để phổ biến các giá trị âm nhạc cổ truyền dân tộc. Vốn là thành viên sáng lập của Hội Đàn môi quốc tế ra đời năm 2002 tại Na Uy, TS Trần Quang Hải mong muốn góp phần thúc đẩy việc ra đời một trường phái đàn môi tại Việt Nam.

Để làm điều này, ông đã và đang đào tạo, hướng dẫn nhiều bạn trẻ ở Việt Nam loại hình nghệ thuật này. Những tiến bộ vượt trội “hơn cả thầy” như của bạn trẻ Đặng Văn Khai Nguyên ở Đồng Nai tại buổi sinh hoạt âm nhạc chính là cơ sở để “giấc mơ lớn” về đàn môi của TS Trần Quang Hải trở thành hiện thực.

DƯƠNG KIM THOA

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/608012/cha-con-gs-tran-van-khe-hoa-dan-sau-36-nam.html#ad-image-0

WORKSHOP OF OVERTONE SINGING by M° TRAN QUANG HAI in Cosenza Vecchia and Crotone, ITALY, 30 & 31 May 2014


WORKSHOP OF OVERTONE SINGING by

M° TRAN QUANG HAI tran quang hai overtone singing

 in Cosenza Vecchia and Crotone, ITALY, 30 & 31 May 2014

 These 2 workshops are organized by Micòl and Lorenzo

 WStranquanghai

 1)  friday 30 th May 2014

From 9:30 to 12:30  ; then from 15:00 to 18:00

    Place : Il giardino di Shiva

    Address : Via casini 31   City : Cosenza Vecchia

   organizer  Micòl 3333187086 Lorenzo 3471797345

2)  Saturday 31 may 2014

from 9:30 to 12:30  and from 15:00 to 18:00

     Place : Centro Parvati

     Address : Via Tommaso Campanella 9 City : Crotone

     organizer Micòl 333 3187086

 

Description

Workshop Intensivo di CANTO ARMONICO con Tran Quang HaiIl canto armonico, detto anche canto difonico, diplofonico e triplofonico, ed in inglese “overtone singing”, è una tecnica nella quale il cantante sfrutta le risonanze che si creano nel tratto vocale (tra le corde vocali e la bocca) per far risaltare gli armonici presenti nella voce. In questo modo una singola voce può produrre simultaneamente due o più suoni distinti.
Khoomei o il canto di gola è il nome usato in Tuva e in Mongolia per descrivere diversi stili di canto e tecniche in cui un solo cantante produce contemporaneamente due (o più) toni distinti; il più basso è il tono fondamentale della voce e suona come un ronzio costante simile al timbro della cornamusa scozzese, il secondo corrisponde ad una delle parziali armoniche ed è come un fischio che risuona a tonalità molto elevate. 

Durante il workshop, Tran Quang Hai insegnerà le 2 tecniche di base del canto armonico:

– Tecnica di una cavità orale con il registro basso degli armonici;
– Tecnica di due cavità della bocca con una maggiore serie di sfumature.
– Esercizi di improvvisazione e creazione collettiva
– Esercizi per ridurre il suono fondamentale
– Imparare ad ascoltare il proprio tono al fine di creare piccole melodie

Image
Tran Quang Hai
Raffinato interprete delle tradizioni musicali dell’Estremo Oriente, maestro di artisti come Demetrio Stratos, Tran Quang Hai è considerato il più grande specialista del mondo di canto difonico (overtones), tecnica vocale di origine sciamanica che permette l’emissione simultanea di due note, diffusa in Mongolia, in Siberia e in Sudafrica.
Tran Quang Hai proviene da una famiglia di cinque generazioni di musicisti.
tranquanghai.info