HỮU TRỊNH : GS-TS Trần Quang Hải và lối hát “cùng lúc 2 giọng” Trường phái hát của tôi có thể để… chữa bệnh!, VIETNAM 2009


GS-TS Trần Quang Hải và lối hát “cùng lúc 2 giọng”

Trường phái hát của tôi có thể để… chữa bệnh!

Thứ Hai, 16/11/2009 13:27 | In trang nàyIn bài viết

(TT&VH) – Đêm 9/11/2009 tại nhà riêng của GS-TS Trần Văn Khê (32 Huỳnh Đình Hai, Q.Bình Thạnh, TP.HCM), GS-TS Trần Quang Hải đã có buổi nói chuyện và biểu diễn hát đồng song thanh, “đàn” muỗng, đàn môi. Như TT&VH đã giới thiệu “đồng song thanh” là lối hát mà một người cùng lúc có thể hát được hai giọng. Người dự buổi nói chuyện này có thể thấy được những bồi âm (khi hát đồng song thanh) hiện trên màn hình và anh có thể điều khiển giọng hát của mình để bồi âm vẽ thành những hình vẽ, với đàn môi anh có thể biểu diễn một đoạn nhạc techno hấp dẫn… Nhưng đằng sau sự thành công như hôm nay, anh đã mất 40 năm nghiên cứu, mày mò tự học và có khi phải đem cả bản thân mình làm vật thí nghiệm bất chấp cả tính mạng. TT&VH đã có cuộc trò chuyện với anh sau đêm biểu diễn 9/11.Tôi đã tạo ra một trường phái hát đồng song thanh

* Theo anh biết, ở Việt Nam có ai hát được đồng song thanh hay không?

– Ở Việt Nam, theo tôi biết là có anh Bùi Trọng Hiền ở Hà Nội là hát được đồng song thanh, nhưng có lẽ anh Hiền phải dành nhiều thời gian để nghiên cứu những vấn đề khác như cồng chiêng Tây Nguyên, ca trù… nên cũng không đào sâu nhiều về lối hát này.

GS-TS Quang Hải ngẫu hứng “đàn” muỗng cùng GS-TS Trần Văn Khê.
Ảnh: Bạch Xuân Sơn

* Chắc anh cũng từng đến Mông Cổ để học hát đồng song thanh?

– Tôi tình cờ nghe một cuốn băng hát đồng song thanh, lúc đó tôi rất ngạc nhiên và tự hỏi, tại sao một người có thể hát cùng lúc 2 giọng? Do sự tò mò mà tôi đã tìm tòi nghiên cứu trong rất nhiều năm để hát được đồng song thanh. Có nhiều người nghĩ rằng chắc tôi cũng đã đến Mông Cổ để học các nghệ nhân, nhưng không có điều đó, tất cả là do tôi tự học. Sau thời gian nghiên cứu tôi đã thực hành được cách hát 2 giọng và từ đó phát triển thành một hệ thống để phổ biến cho nhiều người. Khi tôi đã gây được  tiếng tăm với lối hát và truyền bá đồng song thanh, tôi đã được mời đến Mông Cổ, được gặp những ca sĩ “thứ thiệt” của xứ Mông Cổ. Tôi có dịp đối chiếu kỹ thuật của họ và của tôi. Hai kỹ thuật khác nhau nhưng cùng cho ra một kết quả. Tôi đã tạo ra một trường phái hát đồng song thanh mới mà không giống với trường phái cổ truyền của người Mông Cổ. Nếu với phương pháp của người Mông Cổ, người học cần thời gian vài tháng mới thực hiện được kỹ thuật hát cơ bản thì phương pháp của tôi chỉ trong vài giờ đồng hồ… và đương nhiên muốn hát giỏi thì phải cần thời gian dài hơn, tùy theo năng khiếu của từng người.

Nghiên cứu âm nhạc bất chấp tính mạng…

* Anh có thể nói những ứng dụng của kỹ thuật hát đồng song thanh trong âm nhạc và trong đời sống?

– Thứ nhất có thể ứng dụng nó trong âm nhạc đương đại. Nghệ sĩ nhạc cổ điển có thể dùng kỹ thuật đồng song thanh để bổ túc cho việc hát opera. Trong âm nhạc đương đại (contemporary music), những nghệ sĩ hát với những kỹ thuật rất “kỳ cục” để tạo ra những âm thanh rất lạ lùng, càng lạ lùng chừng nào thì họ càng thích. Chính việc ứng dụng kỹ thuật hát đồng song thanh mà nó sẽ tạo ra được những âm thanh rất mới lạ. Có gần chục người sáng tác âm nhạc đương đại ở Na Uy, Pháp, Mỹ… đã học với tôi để sáng tác những tác phẩm đương đại có những âm thanh lạ từ bồi âm của kỹ thuật hát đồng song thanh.

Thứ hai là giúp cho giọng hát người ca sĩ có được làn hơi dài và mạnh. Và cuối cùng là giúp cho những người nhút nhát có được sự tự tin, những người xướng ngôn viên, những diễn giả có được giọng nói đầy thuyết phục, giúp cho những người bị hư thanh quản có thể nói được nhờ sử dụng một bộ phận khác của cổ họng để phát âm mà không cần đến dây thanh quản.

GS-TS Quang Hải đang biểu diễn hát đồng song thanh. Ảnh: Bạch Xuân Sơn

* Anh có thể kể những gì gian nan nhất trong quá trình nghiên cứu để tạo ra trường phái hát đồng song thanh của Trần Quang Hải và nhất là cái mà anh gọi là có thể để chữa bệnh?

– Tôi đã từng vào một bệnh viện ở Pháp dùng những máy đo thọt vào mũi, miệng để biết được cơ chế hoạt động của dây thanh quản khi hát đồng song thanh. Nguy hiểm hơn tôi đã chấp nhận để người ta chiếu quang tuyến X trong một thời gian dài để thí nghiệm nhằm biết được hoạt động của các thớ thịt ở cổ họng khi không dùng đến dây thanh quản mà vẫn tạo ra được tiếng nói. Về điều này các bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo tôi là có thể bị ung thư cổ họng và tôi đã sẵn sàng ký vào biên bản cam kết, biến mình thành “con vật” thí nghiệm cho những nghiên cứu của mình bất chấp cả tính mạng. Ba tôi (GS-TS Trần Văn Khê) đã nói rằng nếu phải làm điều đó thì ông không dám làm. Nhưng tôi nghĩ rằng có dám như thế mình mới có những cứ liệu xác đáng cho công trình nghiên cứu của mình.

Có thể giúp người hư thanh quản nói được

* Tại sao anh không mở một trung tâm để dạy kỹ thuật đồng song thanh cho những người bị hư dây thanh quản nhằm giúp họ có thể nói được mà không cần phải phẫu thuật để đặt “máy nói” vào cổ họng?

– Trước hết phải nói rằng, nếu áp dụng kỹ thuật hát đồng song thanh để giúp những người bị hư dây thanh quản có thể nói được thì chi phí rất thấp mà không phải phẫu thuật.

Nhưng ở các nước phương Tây, muốn chữa bệnh thì phải có bằng bác sĩ, tôi muốn giúp cho những người bị hư dây thanh quản có thể nói được, trước hết tôi phải là bác sĩ tai, mũi, họng. Nghĩa là tôi phải đi học để trở thành bác sĩ hoặc một bác sĩ nào đó (có năng khiếu âm nhạc) phải học lối hát đồng song thanh thật hoàn hảo như tôi mới đủ năng lực và tư cách pháp lý để chữa bệnh cho mọi người. Nhưng điều này cũng thật oái oăm vì các bác sĩ thì chưa có ai đủ kiên nhẫn để học đồng song thanh với tôi, còn tôi thì không chịu đi học để có bằng bác sĩ…

* Nếu ở Việt Nam mở một trung tâm chữa bệnh bằng kỹ thuật hát đồng song thanh, anh có hợp tác?

– Điều đó còn tùy thuộc vào trang thiết bị và tùy thuộc vào  vấn đề  tài chính, ít ra là trả lương cho tôi như tôi đang làm việc tại Pháp.

* Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện này!

Hữu Trịnh (thực hiện)

TRỌNG THÀNH / RFI :Văn hóa cổ truyền : Làm sao để đến được với công chúng ? (phỏng vấn GS Trần Quang Hải, NS Đặng Hoành Loan), 6 tháng 3, 2013


Thứ tư 06 Tháng Ba 2013
Văn hóa cổ truyền : Làm sao để đến được với công chúng ?
Hiện tượng trình diễn đồng ca quan họ bị nhiều chỉ trích tại Việt Nam. Kỷ lục đồng ca với sự tham gia của hơn 3.500 người, tháng 2/2012, tại hội Lim, Bắc Ninh (DR)

Hiện tượng trình diễn đồng ca quan họ bị nhiều chỉ trích tại Việt Nam. Kỷ lục đồng ca với sự tham gia của hơn 3.500 người, tháng 2/2012, tại hội Lim, Bắc Ninh (DR)

Năm 2013 được chọn làm năm văn hóa Pháp – Việt. Trong năm này, sẽ có nhiều chương trình giới thiệu các hoạt động văn hóa nghệ thuật cổ truyền Việt Nam tại Pháp. Trong bối cảnh các di sản nghệ thuật cổ được tôn vinh, cùng lúc với các hoạt động biểu diễn nghệ thuật mang màu sắc cố truyền có xu hướng lan rộng, có nhiều câu hỏi đặt ra là : Nghệ thuật như thế nào xứng đáng được coi là bảo lưu di sản ? Nên quảng bá các nghệ thuật truyền thống như thế nào với bạn bè quốc tế ? Và nếu có thể cách tân, thì cách tân như thế nào ?

Từ những năm gần đây, đặc biệt sau khi một số loại hình nghệ thuật cổ truyền Việt Nam như quan họ, nhã nhạc cung đình, cồng chiêng Tây Nguyên… được Unesco tôn vinh làm di sản phi vật thể của nhân loại, việc giới thiệu quảng bá với công chúng Pháp và công chúng phương Tây nói chung ngày càng được chú ý.

Tạp chí Cộng đồng của RFI tuần này đặc biệt giới thiệu với quý vị về văn hóa quan họ, như một ví dụ cho các cách nhìn khác nhau xung quanh vấn đề gìn giữ, phát huy và cách tân các di sản nghệ thuật cổ truyền. Quan họ là một di sản có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội Việt Nam, nhất là tại xứ Kinh Bắc, và được Unesco thừa nhận là di sản nhân loại năm 2009, tiếp theo nhã nhạc cung đình Huế và không gian cồng chiêng Tây Nguyên.

Trước hết, mời quý vị theo dõi phần phỏng vấn với nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học Trần Quang Hải. Để quảng bá tốt các môn nghệ thuật cổ truyền Việt Nam, theo giáo sư Trần Quang Hải, cần phải giới thiệu những gì trung thực nhất với truyền thống.

Trung thực với truyền thống : Điều công chúng phương Tây mong đợi

RFI : Xin ông cho một số điều lưu ý để quảng bá tốt nghệ thuật cổ truyền Việt Nam ra bên ngoài.

Ông Trần Quang Hải : Điều thứ nhất là muốn đi quảng bá, thì phải tuyển lựa những nghệ nhân có trình độ cao, và làm đúng theo truyền thống. Đừng có nên, vì cái thị hiếu, muốn vui lòng người Âu Châu, mà pha trộn những khía cạnh gọi là « giao lưu văn hóa », thì sẽ đi đến chỗ làm cho người Pháp sẽ thất vọng. Tại vì, họ muốn tìm hiểu những cái gì gọi là nguyên xi và trung thực với truyền thống, hơn là để làm vui nhộn, theo những hình ảnh múa, theo kiểu vũ đạo, để đệm cho những bài hát.

Ông Trần Quang Hải

06/03/2013

Theo như tôi thấy, ở Việt Nam bây giờ, có xu hướng những bài hát dân gian, những bài hát dân tộc gọi là « canh tân hóa », thêm vào những tiết mục, thêm vào những điệu hòa âm, phối khí, vũ đạo đệm vào mất đi tính chất nguyên xi của một truyền thống nào đó. Thành ra cái đó rất uổng. Nếu chúng ta hiểu biết được cái đòi hỏi của người Tây phương, thì chúng ta sẽ làm những chương trình đúng theo tiêu chuẩn. Tại vì tôi thấy rằng, các xứ khác, giống như xứ Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc, khi họ đi sang Tây phương, họ trình diễn các tiết mục đúng theo truyền thống, chứ không phải có những màu sắc, màu mè, hay làm cho chương trình nó được hoành tráng.

Nghệ thuật của chúng ta không phải là nghệ thuật sử dụng đa âm, tức là polyphonie, hay là các điệu màu mè, mà chúng ta cần làm những loại nhạc đơn điệu, tức là monodie, chú trọng đặc biệt đến khía cạnh gọi là dịu dàng, tha thiết, và đặc biệt là lồng vào trong loại nhạc ngũ cung và những truyền thống mà chúng ta phải phát triển nhiều hơn.

RFI : Xin ông cho biết một thí dụ cụ thể.

Ông Trần Quang Hải : Ví dụ như trong điệu hát quan họ. Ở xứ Việt Nam, quan họ có ba loại. Thứ nhất là quan họ chay, tức là quan họ làng, hát ở trong làng và hát theo đúng truyền thống, có lễ kết nghĩa, tục ngủ bọn, và hát những kỹ thuật gọi là « vang, rền, nền, nảy ». Phải chú ý, phải học nhiều năm, chứ không phải học vài bài, theo như tôi được nghe ở xứ Việt Nam bây giờ. Thứ hai là có quan họ đoàn, tức là những bài dân ca quan họ, đã được đổi đi một chút, tức là theo điệu thanh nhạc. Cái đó có thể là mới mẻ đối với người Việt Nam. Cũng như hội Lim – một hội rất lớn về quan họ vào dịp Tết, nhưng có điều bây giờ ở Việt Nam lại đưa ra cách gọi là « hát du thuyền ». Tức là người quan họ, ngồi trên thuyền, dùng máy vi âm, hát to lên, rồi đi dọc theo bờ sông, rồi đưa cái nón lá ra, để hứng tiền người ta thảy vào trong đó. Cái đó là hình thức đi xin tiền, giống như hát xẩm ngày xưa, thì cái đó là đi sai đường lối. Hay là, hát thật nhiều giọng với nhau, thì hoàn toàn sai. Vì quan họ là chỉ hát, một cặp nữ đối với một cặp nam. Thành ra, vấn đề chúng ta phải phát triển là làm sao hát không có đệm nhạc, hát mà không có làm rùm beng, mà làm sao cho thấy cái kỹ thuật hát nó đi đến cái chỗ rất đặc biệt, mà bên Châu Âu này không có. Đó là cái mà tôi thấy rằng mình nên thận trọng khi đi biểu diễn ở xứ ngoài.

Cái vốn cổ phải giữ làm căn bản

Mình tự hào về cái vốn cổ của mình, thì mình phải làm sao giữ cho được đúng theo truyền thống, thì tôi thấy là hay nhất, chứ không có gì phải thay đổi hay biến chế, đặng cho nó hợp với thị hiếu của đại đa số quần chúng.

Cái vốn cổ của mình, mình giữ cái đó đi, làm căn bản. Ngoài ra, có những sự phát triển, thì mình để cho phát triển. Cái căn bản mình phải giữ hoài, thì từ đó nó mới đẻ ra nhiều chuyện khác nữa. Chứ bây giờ, mình lo mình phát triển mà quên đi cái nguồn gốc, cái vốn cổ, thì dần dần sẽ mất đi, sẽ không còn là vốn cổ nữa.

Tôi muốn lưu ý rằng, khi muốn đưa một đoàn hát, hay đoàn nghệ thuật sang ngoại quốc, thì chúng ta phải ý thức rằng, làm sao đưa nghệ nhân nào có trình độ cao, và hát đúng theo truyền thống, chứ đừng đưa những người trẻ đẹp, mặc quần áo cho thiệt đẹp, đi lên sân khấu để trình diễn. Đối với mình, cái vấn đề nghệ thuật là căn bản, chứ không phải là màu sắc. Làm sao những nghệ nhân (đi quảng bá) phải là những người có căn bản vững chắc, có thể, khi trình diễn ở hải ngoại, đáp ứng được những cái gì mà người Tây phương chờ đợi, tức là sự trung thực với truyền thống.

Di sản xưa và quan họ hôm nay

Ở trong nước, cũng cùng mối lo ngại với ông Trần Quang Hải, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiển nhấn mạnh đến việc « di sản quan họ đã thực sự mai một từ những năm 60 của thế kỷ trước », mặc dù di sản này vừa được Unesco nhìn nhận. Bên cạnh đó cũng có quan điểm, như của nhà nghiên cứu Trần Minh Chính, thì cho rằng : Cần phải thừa kế tối đa các tinh túy của di sản, nhưng điều cốt yếu nhất là tạo dựng được « nền văn hóa quan họ của ngày hôm nay ». Theo ông Trần Minh Chính, « con người quan họ, nhất là lớp trẻ, bắt đầu lúng túng với cảnh ‘‘bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước…’’ ».

Những nghệ nhân – người lưu truyền các « di sản sống » – suy nghĩ như thế nào về văn hóa quan họ ngày hôm nay ? Sau đây là một số chia sẻ của chị hai Thềm (Bắc Ninh), một nghệ nhân nổi tiếng xứ Kinh Bắc :

Chị Nguyễn Thị Thềm

06/03/2013

Chị hai Thềm : Thật ra trong lối chơi quan họ, phải là những người nào rất tâm huyết mới theo được lối chơi này. Bởi vì, chơi quan họ ngày xưa, người ta ý tứ khiêm nhường, mà người ta lịch sự, tinh tế lắm. Ví dụ như, đi hát cả một buổi tối ở « nhà chứa », thì nam ngồi một bên, một bên nữ ngồi, cái ngọn đèn dầu ở giữa, thì có khi hát cả tối có khi không nhìn thấy mặt nhau. Đấy là những cái tinh tế và những cái rất là khác biệt với những loại hình ca hát khác. Ví dụ như ngày xưa, chơi thì đúng thực là chơi tàn canh, rạng sáng. Hát suốt đêm đến rạng sáng, rồi nghỉ, rồi lại hát tiếp. Nhưng mà đấy là theo như thời ngày xưa, còn theo như bây giờ, thì cũng không hát được như thế, vì xã hội bây giờ, cái công việc nó cũng không cho phép mình được chơi bời như thế. Ví dụ trong khuôn khổ hạn hẹp một đêm thôi. Ví dụ như ngày xưa các cụ chơi, các cụ giữ lề, giữ lối, các anh hai, chị hai, chơi với nhau gọi là tình tứ, tình cảm lắm, yêu vụng, nhớ thầm, chứ không như bây giờ, họ đi chơi bời với nhau, có khi đi tới hôn nhân, nhưng ngày xưa các cụ chơi kết chạ các cụ không như thế đâu.

Bây giờ, chúng tôi ở đây, cốt lõi là mình phải gìn giữ những gì cổ, nhưng đồng thời vẫn dạy cho các em những cái phát triển lên, là nó phải lồng nhạc vào, để nó biểu diễn trên sân khấu, ví dụ như ở trong tỉnh, mở những cái cuộc liên hoan tiếng hát của các em bé chẳng hạn, thì mình phải đưa lên sân khấu, mình phải lồng nhạc. Các em mà cho ngồi hát ê a, như tôi và các cụ, thì các em cũng chưa hát được. Cho nên bây giờ cũng khuyến khích các em phải học quan họ nhiều, thì mình phải có các bài hát của lứa tuổi thiếu nhi hoặc mình sáng tác thêm những lời mới, đưa các em để tham gia sân khấu biểu diễn liên hoan.

Còn đồng thời mình vẫn dạy thêm các em những cái gì của vốn liếng cổ của mình, mình vẫn cứ giữ.

Càng thêm bạn, càng thấy cần phát huy lối chơi cổ

Tiếp theo đây là tiếng nói của anh hai Hiển (Bắc Ninh), một liền anh được lớn lên trong một gia đình nhiều đời theo quan họ :

Anh hai Hiển : Tôi được đắm mình trong dòng sữa dân ca. Thứ nhất là tôi học lối chơi quan họ, sau là tôi học hát quan họ. Từ đó, tôi đã có sự tâm huyết rồi. Cứ mùa trảy hội, là tôi đi các làng tôi trảy hội, du xuân. Từ đó tôi được kết bạn rất nhiều, các quý vị từ các tỉnh, thành đến với tôi. Tôi có cảm nhận là cuộc đời tôi cứ mỗi năm tôi lại vui thêm lên, nhân rộng lên, do là tôi được đi ra ngoài, tôi biết ứng xử quan họ, tôi cũng biết cách hát quan họ với du khách. Từ đó du khách thân thiện với mình hơn. Cứ lệ làng là các du khách đều hứa hẹn, hẹn hò sẽ về quê hương của chúng tôi. Thứ nhất là để biết cảnh hội, thứ hai là để tìm hiểu cái nét văn hóa ẩm thực nơi đây.

Ông Ngô Công Hiển

06/03/2013

Tôi cũng rất tự hào là xung quanh hàng xóm, hoặc dân làng cứ ca ngợi là tôi được đi ra ngoài lắm bạn bè về, cũng chẳng phải học cùng, chẳng phải họ hàng gì cả, mà cứ ngày hội là đông chật ních hết cả nhà. Nhưng mà người ta chỉ biết là tôi chơi rộng và quan hệ thôi, nhưng mọi người cũng chưa biết cái sâu sắc của người chơi quan họ như thế nào. Cứ một năm đi trẩy hội là tăng thêm bạn bè lên, rồi các du khách từ xa đến nhiều hơn, từ đó tôi nghĩ là mình càng phải phát huy, làm sao càng phải tìm hiểu, phát huy được cái lối chơi càng nhiều hơn nữa.

Vì đi ra ngoài, tôi ít gặp được các bậc tiền bối có cái lề lối chơi như ngày xưa. Bây giờ các bậc tiền bối hầu như đã mất rồi. Những bậc từ 80 trở lên còn rất ít. Được gặp thì tôi cũng hay hỏi, hay lân la tìm hiểu các cụ ngày xưa chơi quan họ như thế nào, những lời văn nào hay hay, thì mình lại tiếp thu. Tôi tâm huyết là giữ được những lời văn như thế, để truyền cho thế hệ sau.

Dịch vụ quan họ trong thời hiện đại

Các tỉnh cũng có những ngày lễ, ngày hội, người ta nhờ về xây dựng cho một buổi tối vui liên hoan văn nghệ cho dân làng, hoặc chương trình chúc thọ, người ta cũng muốn nghe những làn điệu dân ca quan họ, rồi đám cưới, rồi tân gia, nhà mới, khách sạn… Nói chung họ đều sử dụng dòng nhạc dân ca này. Thì chúng tôi gặp chương trình nào, thì chúng tôi dàn dựng theo đề nghị của khách hàng.

RFI : Còn cái lối chơi quan họ, thì nó có thể hiện qua các chương trình này không ?

Anh hai Hiển : Không. Nếu lối chơi quan họ cổ mà mang ra các tỉnh bạn, thì họ không hiểu, họ chưa hiểu, thì mình cảm giác như là bị « cô đọng lại ». Cái lối chơi cổ tôi chỉ mong gìn giữ được ở vùng quê Kinh Bắc thôi. Thời hiện đại này, mình… những bài cổ thì họ có hiểu đâu, mà không hiểu, thì mình mang ra cũng bằng thừa thôi, cho nên nó khác nhau là như thế. Thời hiện đại mình chỉ mang những lời ca mới, cũng theo điệu quan họ, nhưng lời mới là nhiều.

Thật sự là thế này. Bây giờ là thời hiện đại, chúng tôi đi chơi xuân, « làm chương trình », chúng tôi cũng phải có chút hoa hồng mới làm được. Thứ hai là chúng tôi cũng phải bảo đảm cuộc sống gia đình, có đúng không ? Tất nhiên là thời hiện đại, « vấn đề nào » có tiền là bọn tôi làm.

Lề lối xưa mộc mạc, nhưng mà ngấm

Nhưng mà tôi rất thích và mong muốn giữ được lề lối chơi quan họ ngày xưa, để giữ và phát huy được lối chơi cổ : Ăn quan họ, nói quan họ, rồi cười quan họ… đủ kiểu mới gọi là chơi quan họ. Chứ không phải (chỉ) là biết hát quan họ, mà đã vào chơi. Mình nghĩ là làm sao giữ được các lề lối, lấy những ngôn ngữ, lời văn, ý hay ngày xưa, tuy rằng rất mộc mạc, nhưng mà chứa đựng được rất chi là nhiều cái tình trong cái lời nói đó. Thì mới có cái ngấm.

Còn hiện đại bây giờ, theo nhạc, theo mix. Do cái trào lưu, thì cái dòng dân ca quan họ này rất phát triển và lan tỏa, cho nên là, nếu như không có nhạc, không có mix, thì ra không gian rộng, thì cũng không tỏa được hết.

Tôi mong các quý vị bên ấy, làm sao có cái thông điệp tôn vinh, có những cái tạo điều kiện, về vùng quê Kinh Bắc. Hát quan họ thì đã đành rồi, nhưng xây dựng được cái lối chơi quan họ mới là cái điểm nhấn. Tại sao bây giờ chúng tôi đi, kể cả các du khách mời chúng tôi đến các nhà hàng, khách sạn, chúng tôi cũng phải nói những lời của các cụ ngày xưa, có khi các du khách cũng chưa được nghe bao giờ.

Thật ra là, nếu (thế hệ) chúng tôi mà không (tiếp nối) nữa, thì may ra chỉ có ngọn, còn gốc không biết ở đâu, trôi đến đâu. Tôi chỉ lo là do điều kiện, do xã hội nó đưa đẩy, do họ không để ý nữa, thì… Mong phải có những gì để giữ gìn, phát huy, bảo tồn… cho thế hệ sau này mới còn cái gốc. Lo là thế thôi, nhưng chúng tôi vẫn còn ở đây, thì cái lối chơi vẫn có, vẫn còn.

Cách tân nghệ thuật truyền thống : mâu thuẫn giữa nhà nghiên cứu và nhà quản lý

Khép lại chương trình là tiếng nói của nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan từ Hà Nội. Ông Đặng Hoàng Loan giới thiệu hai quan điểm đối lập nhau về vấn đề tiếp nối truyền thống quan họ, cũng như nhiều môn nghệ thuật cổ truyền khác, tại Việt Nam. Không phải nghệ thuật cổ truyền nào cũng sẵn sàng cho việc cách tân. Trong thời gian gần đây, có nhiều thử nghiệm cách tân di sản nghệ thuật cổ truyền đến từ chính bản thân những người lưu truyền di sản, đặc biệt trong một số môn nghệ thuật mang tính tín ngưỡng như : hát văn, hát then…

Ông Đặng Hoành Loan : Cách nhìn của tôi cũng tương đối thống nhất với một số học giả ở Việt Nam hiện nay, thế nhưng nó lại không thống nhất lắm với các nhà quản lý văn hóa, đặc biệt những nhà gọi là « văn hóa quần chúng ». Thực hiện cái « văn hóa quần chúng » hiện nay, thì có hai ý kiến khác nhau. Cái ý kiến thứ nhất, nói rằng là phải giữ nó trong không gian văn hóa truyền thống, và tất cả các sinh hoạt của nó là phải theo phương thức truyền thống. Thì cái đó nó căn cứ theo yêu cầu của Unesco là, cái hiện tượng văn hóa ấy nó phải là tập tục sinh hoạt có từ thời xưa và được bảo tồn trong đời sống cộng đồng cho đến ngày nay, vì thế gọi là nó có « gốc gác » và nó có tính truyền thống của nó. Cái thứ hai nữa là, cùng với tính truyền thống đấy, (vấn đề là) con người Việt Nam hiện nay còn yêu thích nó không và thích sinh hoạt theo lối đó không, thì cái hồ sơ quốc gia phải trả lời rất minh bạch. Thì đấy là cái quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam, mà tôi cho rằng rất chính xác. Năm ngoái, có một cuộc hát quan họ với sự tham gia của hàng nghìn người, thì người ta cho rằng đấy là « phi truyền thống » và làm mất đi cái tính nghệ thuật, tính âm nhạc của chính bản thân quan họ.

Ông Đặng Hoàng Loan

06/03/2013

Thế nhưng các nhà văn hóa quần chúng hiện nay, thì họ cho rằng bây giờ phải làm như thế, thì mới đưa được âm nhạc cổ truyền, nghệ thuật cổ truyền vào đời sống con người hiện đại. Mà muốn đưa được vào đời sống con người hiện đại, thì họ cho rằng phải cách tân. Cách tân tức là cho nó đông người lên, cho nó sinh hoạt với đầy đủ các thiết bị hiện đại. Thứ hai là phải tạo cho nó những sân khấu lớn để nó có thể được trình diễn trên đó. Hiện nay hai việc đó vẫn cứ tồn tại và vẫn có những ý kiến trái ngược. Hiện nay đây là một mắc mớ khó giải quyết ở Việt Nam.

Đối với nghệ nhân, người ta rất thích trở lại cái không gian truyền thống, mà người ta hát nhỏ nhẹ trong nhà, trong các sinh hoạt nhỏ, vì nó vẫn thể hiện được toàn bộ cái tình cảm, cái nội tâm của họ đối với nhau. Vì thực sự ra, chúng ta biết, quan họ sinh ra để hát trong tất cả các tập tục giao tiếp, tình cảm con người ở Kinh Bắc, chứ nó không phải là một trình diễn nghệ thuật, với người thưởng thức và người ca hát. Hiện nay, chính cái điều mà các nhà nghiên cứu không tán thành lắm, tức là quan họ biến thành nghệ thuật trình diễn. Có nhiều ý kiến cho rằng như thế nó không đúng với truyền thống mà bản thân nó có từ xưa đến nay.

Riêng ý kiến của tôi, thì tôi cho rằng, người dân, nghệ nhân dân gian người ta muốn giữ lại tất cả những gì mà họ biết được từ xưa đến giờ. Họ rất thích trong việc họ gìn giữ, biểu diễn những nghệ thuật đấy đúng như thời xưa. Cho nên, phần lớn khi chúng tôi tổ chức gặp gỡ các nghệ nhân, thì các cụ nói, bây giờ làm mới nó đi, thì không biết để làm gì ? Vì nếu mới, so với mới hiện nay, thì không mới được, còn so với cái cũ, thì không cũ được. Thì như thế là, nó nằm ở lưng chừng. Đấy là ý kiến của nghệ nhân.

Chúng ta biết rằng, năm nay các cụ quan họ rất thích tự hát với nhau, để tìm đời sống tinh thần thưở xưa mà nó còn tồn tại lại trong tâm hồn của họ. Thì tôi cho là giữa nghệ nhân, giữa các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý hiện nay đang chưa có được một cái nhìn thống nhất, toàn diện về cổ truyền và cách tân, chính xác là như thế.

Hát văn, hát then : Nghệ nhân tự cách tân để thu hút công chúng

RFI : Vậy trong các môn nghệ thuật cổ truyền khác ở Việt Nam có sự cách tân hay không ?

Ông Đặng Hoành Loan : Những nghệ thuật « tâm linh » (tín ngưỡng) như là hát văn, hát then… thì lại được bảo lưu rất là tốt. Thì người ta lại không cách tân mấy, thì chính là tự các nghệ nhân, những người hành nghề, người ta cách tân, chúng ta thấy hiện tượng tự cách tân rất lớn. Các nghệ thuật ấy, thì bên ngoài không cách tân nó được, nhưng tự nó thay đổi nó, thì thay đổi được. Thí dụ như, hát văn bây giờ, người ta đưa nhạc cụ mới vào, tức là đưa cả đàn organ vào. Nghệ nhân người ta đưa vào thôi, chẳng ai bảo người ta cả. Người ta đưa thêm những bài hát mới vào. Như thế tức là người ta tự vận động, không ai yêu cầu họ cả. Họ tự vận động với mục đích kéo những người yêu thích cái nghệ thuật ấy (và tín ngưỡng ấy) đến gần nghệ thuật ấy hơn, họ làm cho hấp dẫn hơn. Có nhiều nhóm hát văn đã tạo ra nhiều điệu hát, nhiều âm nhạc khác nhau.

Tôi cho rằng, để cho nghệ nhân họ tự thay đổi, thì hay hơn tác động (từ bên ngoài), vì thường tác động, thì nó biến đổi theo chiều hướng khác. Để cho các nghệ nhân làm, thì tốt hơn là « chúng ta » tác động và tổ chức, vì thường nó sai lệch đi nhiều.

RFI xin chân thành cảm ơn anh Ngô Đức Hiển, chị Nguyễn Thị Thềm, các nhà nghiên cứu Trần Quang Hải và Đặng Hoành Loan đã dành thời gian cho tạp chí

RADIO RFI : GS Trần Quang Hải: “Nhạc Phạm Duy gắn liền với lịch sử Việt Nam” , 28.012013, PARIS


pham duy_0

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Thứ hai 28 Tháng Giêng 2013
GS Trần Quang Hải: “Nhạc Phạm Duy gắn liền với lịch sử Việt Nam”
Nghe (20:27)
Thêm vào danh mục của tôi
Tải về
Embed

Nhạc sĩ Phạm Duy
DR
Thanh Phương

Qua đời ngày 27/01 vừa qua ở tuổi 93, nhạc sĩ Phạm Duy để lại một di sản âm nhạc đồ sộ gồm hơn 1000 bài, trong đó có hàng trăm sáng tác vẫn được lưu truyền cho tới ngày nay, một số đã trở thành bất hủ.

Nhạc của Phạm Duy dễ đi vào lòng người chính là nhờ những sáng tác của ông dựa trên âm hưởng của nhạc dân tộc và những sáng tác đó gắn liền với vận mệnh nổi trôi của đất nước Việt Nam qua mỗi thời kỳ, từ thời kháng chiến, thời nội chiến cho đến thời hòa bình.

Nói chung, nhạc của Phạm Duy xứng đáng là một mẫu mực của thế hệ những người sáng tác nhạc hiện nay. Đó chính là điều mà giáo sư âm nhạc dân tộc học, nhạc sĩ Trần Quang Hải ở Paris nhấn mạnh khi trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ hôm nay. Giáo sư-Nhạc sĩ Trần Quang Hải

28/01/2013

Nghe (13:56)

TỪ KHÓA : Âm nhạc – Tạp chí – Văn hóa – Việt Nam

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20130128-giao-su-tran-quang-hai-“nhac-pham-duy-gan-lien-voi-lich-su-viet-nam”

Đàn Tranh được phổ biến, thịnh hành nhất vào thời gian nào thưa chú? (câu hỏi đặt cho GS Trần Quang Hải)


Đàn Tranh được phổ biến, thịnh hành nhất vào thời gian nào thưa chú?

Thơ Thơ: Đàn Tranh được phổ biến, thịnh hành nhất vào thời gian nào thưa chú?

Music Professor Nguyen Vinh Bao in the south playing the zither
Phạm Thúy Hoan

Trần Quang Hải: Đàn tranh được thịnh hành nhứt từ sau năm 1975 khi người Việt đi tỵ nạn khắp năm châu. Trong xứ, âm nhạc viện Hà Nội và âm nhạc viện TP HCM (Saigon) có nhiều lớp dạy đàn tranh. Học sinh ghi tên học rất đông lên hàng trăm học trò. Nữ nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan ở Saigon đã mở lớp dạy nhạc dân tộc và ban nhạc Tiếng Hát Quê Hương có nhiều em bé đàn tranh rất giỏi. Nữ nhạc sĩ Hải Phượng, con gái của Phạm Thúy Hoan, là người đàn tranh thuộc hạng giỏi nhứt nhì ở Việt Nam. Cô đã từng sang Pháp trình diễn, và được mời đi sang Nhựt, Đại Hàn và nhiều quốc gia khác ở Âu Á. Cô đoạt giải huy chương vàng đàn tranh năm 1992. Nữ nhạc sĩ Thanh Thủy, giảng viên đàn tranh ở âm nhạc viện Hà nội , đoạt huy chương vàng đàn tranh ở Việt Nam và được mời đi trình diễn ở nhiều nước ở Âu và Á . Nhạc sư Vĩnh Bảo tiếp tục làm đàn tranh , kìm , và mở lớp dạy đàn tranh trên mạng cho nhiều người ở hải ngoại học.

Hải Phượng playing the zither
Hải Phượng

Thanh Thủy playing the zither
Thanh Thủy

Trong khi đó ở hải ngoại có rất nhiều nhạc sĩ đàn tranh đã mở lớp dạy đàn tranh và thu hút rất nhiều trẻ em Việt Nam. Ở Pháp có nữ nhạc sĩ Phương Oanh đã mở nhiều lớp đàn tranh tại Paris, ngoại ô Paris từ đầu thập niên 80, và nhiều lớp ở các quốc gia Âu châu như Bỉ, Thụy Sĩ, Na Uy, Hòa Lan, Đức, vv…

Phương Oanh playing the zither
Phương Oanh

Quỳnh Hạnh playing the zither
Quỳnh Hạnh

Hồ Thụy Trang playing the zither
Hồ Thụy Trang

Ngoài ra nữ nhạc sĩ Quỳnh Hạnh cũng có mở lớp dạy đàn tranh tại Paris. Nữ nhạc sĩ Hồ Thụy Trang tới Pháp năm 2000 cũng có mở lớp dạy đàn tranh ở Pháp và Thụy Sĩ. Cả ba nữ nhạc sĩ đều có trình diễn đàn tranh thường xuyên, đóng góp nhiều cho việc bảo tồn nhạc đàn tranh ở Pháp.Ngoài ra còn có GS Trần Văn Khê là người đã thành lập trường Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương tại Paris từ năm 1960 và đã đào tạo hàng trăm học trò Việt và Âu châu. Tôi đã thực hiện 23 dĩa hát về đàn tranh tại Paris và đã nhận được hai giải thưởng Academie du Disque Charles Cros của Pháp năm 1983 và 1996 với sự đóng góp của Bạch Yến.

A woman (Trần Thị Thủy Ngọc) seated and smiling in a coffee shop
Trần Thị Thủy Ngọc

Em gái tôi, Trần thị Thủy Ngọc, đàn tranh rất đúng truyền thống, đã dạy nhiều năm tại Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông Phương ở Paris và có đàn tranh chung với thân phụ, GS Trần Văn Khê hai dĩa CD xuất bản tại Paris.

Ở Canada có nhạc sĩ Đức Thành sử dụng đàn tranh rất tài tình. Anh đã thực hiện cuốn video dạy đàn tranh hàm thụ. Nhạc sĩ Khắc Chí ở Vancouver (Canada) đàn

tranh và đàn độc huyền rất điêu luyện, đã cùng với nữ nhạc sĩ Ngọc Bích thực hiện hai CD về nhạc Việt trong đó có đàn tranh. Nữ nhạc sĩ Lê Kim Uyên từ Úc sang định cư ở Canada, viết luận đề cao học về nhạc Việt, rất giỏi về đàn tranh, thường trình diễn tại Canada.

Nguyễn Thuyết Phong playing the zither
Nguyễn Thuyết Phong

Tại Hoa Kỳ có GS Nguyễn Thuyết Phong chuyên về nhạc Phật Giáo nhưng rất giỏi về đàn tranh và một số nhạc khí khác. Anh giảng dạy nhạc Việt Nam tại một số trường đại học và trình diễn nhiều nơi tại Hoa Kỳ với đàn tranh, đàn kìm, trống. Bác sĩ Đào Duy Anh rất điêu luyện về đàn tranh, thường trình diễn đàn tranh trước khi trở thành bác sĩ

portrait image of Ngọc Dung
Ngọc Dung

y khoa. Nữ nhạc sĩ Ngọc Dung ở San Jose, Cali, Hoa kỳ, là một người đàn tranh nhà nghề, trước là giáo sư đàn tranh thuộc nhóm Hoa Sim ở Saigon trước 1975. Cô thành lập ban cổ nhạc cải lương ở San Jose và trình diễn tại Hoa Kỳ với đàn tranh hay đàn chung với ban nhạc cải lương.

Lê Tuấn Hùng with his zither smiling at the camera
Lê Tuấn Hùng

Tại Úc châu, có Lê Tuấn Hùng và Đặng Kim Hiền là một cặp nhạc sĩ rất tài danh, đóng góp nhiều cho nhạc Việt Nam tại Úc châu. Tiến sĩ dân tộc nhạc học Lê Tuấn Hùng viết luận án tiến sĩ về đàn tranh, viết một số nhạc phẩm đương đại cho đàn tranh và cũng là nhạc sĩ đàn tranh có nhiều tài năng. Nữ nhạc sĩ Đặng Kim Hiền, huy chương vàng hát dân ca ở Việt Nam, thành hôn với Lê Tuấn Hùng, đàn tranh, đàn độc huyền, đàn kìm và hát dân ca rất giỏi. Hai vợ chồng này đã mang lại cho nhạc Việt Nam những bông hoa âm nhạc hiếm có với tiếng đàn tranh đầy màu sắc mới lạ.

Hát Hai Giọng và các loại giọng á châu / trần quang hải, Pháp, 1984


Uploaded on Jan 29, 2008

Trình bày: Trần Quang Hải

Trích trong Video “Thi – Ca – Nhạc-Kịch-Cải Lương Việt Nam”, bài số 14.

© 04/1984 by Hà Phong.

Tran Quang Hai and guests (Vietnam/France) – concert and musical workshop, LJUBLJANA, SLOVENIA, 2006


More

Page d’accueil > Evénements > Tran Quang Hai & guests (Vietnam/France) – concert and musical workshop

TRAN QUANG HAI ‘s interview on ASAHI Shimbun, the most popular Japanese daily newspaper, JAPAN 2009


TRAN QUANG HAI ‘s interview on ASAHI Shimbun, the most popular Japanese daily newspaper
Hello, Dr. Tran Quang Hai.I hope you have been fine as you were in Nara, Japan.
The article about yourself was published in our newspaper on september 8. It is a very prestigious column and very popular among our readers. If only there was the sound !
Please look at the attached file of the copy.
Good luck for your career.村上 伸一
Shinichi MURAKAMI
フォーラム・ディレクター
Forum Director
朝日新聞社フォーラム事務局
Asahi Shimbun Forum Coordination Office
TEL: +81-3-55407442
FAX: +81-3-55407627
E-mail: murakami-s2@asahi.comAll pictures here are copyrights of Asahi Shimbun (2009)

This is the English translation of Nakano’s article on Asahi Shimbun by Tadagawa Leo . Many thanks to Leo .

“Prof. Barnstormer”, an ethnomusicologist tours around the world and performs

Tran Quang Hai (65)

He sings two sounds simultaneously using the traditional style of singing “khoomii” of Mongolia and other places. He plays the Jew’s harp producing sound held by mouth virtuously. When he takes out two spoons form his bag, they instantly become percussion instruments.

He visited Japan to take part a symposium raising awareness among the general public of intangible cultural heritage, organized by Asahi Shinbun and UNESCO. The special lecture took place at Nara Prefectural New Public Hall in August was with the atmosphere of entertainment show. This heterochromatic ethnomusicologist also composes and performs.

He was born as the fourth generation of the Vietnamese musician’s family. When he was seventeen, he went to France to study European music, but he chose the road of researching ethnomusicology so that he could be in touch with traditional music of the world.

“When I understand the mechanism of khoomii, Chinese opera singing and Bunraku articulation, I want to do them by myself.” This kind of curiosity made his unique style of lecture with performance given in universities and other places around the world. His colleague-researchers call him “Prof. Tran the Barnstormer” who visited 70 countries and operates 15 traditional instruments.

Though he got the French nationality in 1972, he is always conscious that he is an Asian.

Traditional music get dwindle remain neglected if we go without doing anything. He starts to entertain the participants with his performance stopping his lecture hastily because he thinks that it is the thing of predetermination to make young generations to become familiar with the traditional music. “People’s tastes change as time goes by. But if the root remains, traditional music can revive under new situations without extinction.”

Text: Nakano Wataru photo:Aramoto Tadahiko

TQH-on-Asahi-Sept-8-2009

TQH on Asahi Sept 8 2009.JPG
  

photo-2

記念撮影GOC.jpeg
  

photo-3

特別講演 トライ・クアン・ハイ②GOC.jpeg
  

photo-4

特別講演 トライ・クアン・ハイ①GOC.jpeg
  

photo-5

特別講演 トライ・クアン・ハイ2GOC.jpeg
  

photo-6

特別講演 トライ・クアン・ハイ⑥GOC.jpeg