Category Archives: TRAN QUANG HAI

Trần Quang Hải : Âm nhạc có thể dùng để trị bịnh hay không ?


Trần Quang Hải : Âm nhạc có thể dùng để trị bịnh hay không ?

Image

Hỏi : Không biết nhạc có thể dùng để trị bịnh được hay không ? và trị bịnh gì ? Xin nhờ ban biên tập chuyển câu hỏi đến một chuyên gia về bộ môn này .

Đáp : Trong lĩnh vực âm nhạc có hai bô môn dùng âm nhạc để trị bịnh là : âm nhạc điều trị học (musicothérapie) và tâm lý điều trị học (psychothérapie) . Cả hai bô môn này được phát triển từ vài mươi năm nay tại Pháp . Có thể học tại Paris và Montpellier tại trường đại học từ cử nhân tới tiến sĩ .
Lúc trước (cách đây 30 năm, vào khoảng thập niên 70), âm nhạc cổ điển tây phương (nhạc Mozart, Haydn, Bach, loại nhạc cổ điển êm dịu) dùng để trị bịnh an thần tại các nhà thương dưỡng trí viện (hôpital psychiatrique). Nhưng từ khi nhạc cổ truyền thế giới (musiques traditionnelles du monde) được phát triển ở Tây phương , và bộ môn dân tộc nhạc học (ethnomusicologie) được chánh thức giảng dạy ở cấp bực đại học, thì nhạc cổ truyền thế giới được đưa thể nghiệm vào môn âm nhạc điều trị học .

Trị bịnh thần kinh có hai cách :
1. Trị bịnh cá nhân : có nghĩa là bịnh nhân được trị riêng biệt . Muốn khám bịnh để biết phản ứng bịnh nhân, thì cho nghe một số loại nhạc (10 thí dụ đủ loại nhạc : cổ điển tây phương , cổ truyền thế giới, nhac pop, rock, techno, jazz) để xem phản ứng của bịnh nhân . Để bịnh nhân trong một phòng sơn màu xanh, rồi đỏ, vàng , trắng, đen, nói chung là đủ các loại màu để xem bịnh nhân phản ứng ra sao khi bên ngoài có màu sắc khác nhau dù là nghe một loại nhạc ở thời điểm khác nhau (mỗi ngày nghe một lần ở một phòng màu khác nhau) . Sau 10 ngày, thì mới cho một « toa thuốc » chỉ gồm có nhạc mà thôi . Thí dụ : 5 phúc nhạc Mozart buổi sáng, 4 phút nhạc jazz New Orleans sau khi ăn cơm, 5 phút nhạc techno lúc 4 giờ chiều, 5 phút đàn tranh Việt Nam độc tấu nhạc vui nhẹ theo điệu Bắc . Đó là trường hợp cá nhân .
2. Trị bịnh tâp thể : có nghĩa là một nhóm người bị bịnh thần kinh hoặc có thái độ thụ động (attitude passive) hay có thái đọ kích động (attitude active). Nếu người thụ động thì cho nhạc giựt gân bắt họ phải nhảy múa theo điệu nhạc hoặc múa máy tùy hứng chung với nhau . Nếu người kích động thì phải cho nghe nhạc thiệt giựt gân để cho họ nhảy múa điên cưổng theo điệu nhạc . Sau 15 phút nhảy múa thì họ sẽ mệt phờ người thì họ sẽ không cón sức lực để gây hấn, hung hăng . Sau đó cho họ nghe một loại nhạc thật êm dịu .
3. Có khi dạy họ thiền với một điệu đọc kinh Tây tạng hòa chung với cách thở nhẹ để tìm lại sự quân bình trong tâm hồn .
4. Có khi gặp người hung hăng thì cho họ tự do đập vào trống và các nhạc cụ gõ để họ tha hồ đập phá theo tiết tấu thay vì đập đồ đạc hay đánh người ta .
Những phương pháp này được áp dụng trong các dưỡng trí viện ở Âu Mỹ để giải quyết một phần nào những bịnh tâm thần của thời đại . Có những người chỉ bị quẫn trí nhẹ thôi như trường hợp những cán bộ cao cấp, luật sư, giáo sư gặp khó khăn trong nghề nghiệp rồi sanh ra quẫn trí , phải vào dưỡng trí viện để trị bịnh thần kinh nhẹ.

PHương pháp trị bịnh tâm thần đã được giới Tây phương ứng dụng trong cách tham thiền và dùng nhạc êm dịu (gọi là nhạc bay bổng – musique planante ; nhạc thiền – musique méditative ; nhạc xả hơi – musique relaxante ). Đối với tôi, những người theo phương pháp này là những người bị bịnh tâm thần thụ động , chỉ thích nghe nhạc để tìm lại sự bình thản trong tâm hồn. Họ không có bịnh nhưng có một vài vấn đề không giải quyết được nên tìm một ngưồn an ủi qua âm nhạc nhẹ thanh thoát .

Phương pháp hát đồng song thanh của tôi đã được áp dụng trong các trị bịnh tâm thần (khủng hoảng tinh thần, tánh nhút nhát, bịnh cà lăm, không dám phát biểu trước công chúng vì bị khớp, vv…) Hát đồng song thanh đã giúp cho người học hát có thêm nghị lực, không còn sợ sệt, lấy lại niềm tin, và làm giảm bớt bịnh cà lăm. Rất nhiều kịch sĩ học với tôi để cho giọng được mạnh hơn, một số nhà chính trị gia học hát đồng song thanh để tạo cho giọng nói của mình có bề dày (giọng nói mạnh hơn, nhiều bồi âm để thu hùt và chinh phục cử tri), những người hát sai không còn phải bị mặc cảm vì hát đồng song thanh không dựa vào cao độ cố định giúp cho họ lấy lại tự tin , vv…

Ngoài ra có những phương pháp khác dùng nhạc để tri bịnh như những phù thủy (chamane Tây bá lợi Á) dùng nhạc để giúp họ đi tới gặp thần thánh rồi trở về đất liền để giải đáp thắc mắc của bịnh nhân (trường hợp xứ Tuva, Mông Cổ, Yakutia, và nhiều sắc tộc ở cực Bắc Tây Bá lợi á) .
Ở Đông Nam Á thì có hiện tượng lên đồng . Nhạc không dùng để trị bịnh mà để giúp cho mấy người lên đồng nghe nhạc để gọi các ông hoàng bà chúa nhập vào xác bà bóng để nhảy múa, hay tiên đoán tương lai, trị bịnh người đau yếu .

Để biết thêm về hai bộ môn âm nhạc điều trị học (musicothérapie / music therapy ) và tâm lý điều trị học (psychothérapie / psychotherapy), xin mới Cô vào www.google.fr và gõ những chữ sau đây trong chỗ tìm kiếm (rercherche / research)
« musicotherapie » , sẽ có 26.500 trang nhà
« psychotherapie », sẽ có 604.000 trang nhà liên hệ tới bộ môn này

« music therapy » tiếng Anh có nhiều hơn với 328.000 trang nhà
« psychotherapy » tiếng Anh có 1.710.000 trang nhà

Tôi nghĩ rằng với những trang nhà kể trên ở www.google.fr cũng đủ mang lại cho Cô những tài liệu cần thiết cho việc tìm hiểu âm nhạc dùng trong cách trị bịnh như thế nào .

Trần Quang Hải

Trần Quang Hải : VÔ THƯỜNG (1940 – 2003): Một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt Nam hải ngoại


Trần Quang Hải : VÔ THƯỜNG (1940 – 2003): Một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt Nam hải ngoại

Image

Từ nhiều năm qua, tôi đã nghe rất nhiều băng nhạc, dĩa CD, gặp gỡ rất nhiều danh ca cũng như nhạc sĩ Việt Nam từ những người nổi tiếng từ lúc còn ở Việt Nam đến những người bắt đầu tạo nên tiếng tăm ở hải ngoại . Tôi muốn nói đến các nhạc sĩ đàn anh như Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Phạm Đình Chương, Phạm Mạnh Cương, Nhật Bằng, Hoàng Trọng, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Trịnh Hưng, Lê Hữu Mục, Mạnh Bích, đến các danh ca có nhiều tên tuổi như Thái Thanh, Khánh Ly, Bạch Yến, Lệ Thu, Thanh Thúy, Hương Lan, Elvis Phương, Chế Linh, Anh Khoa, Tuấn Ngọc, Duy Quang ,Thanh Tuyền, Kim Tước, Châu Hà, vv… 

VÔ THƯỜNG (1940 – 2003): Một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt Nam hải ngoại

Trần Quang Hải (Paris, Pháp) 

 

Tôi muốn nói tới những nhạc sĩ trẻ như Đức Huy, Trần Quãng Nam, Trịnh Nam Sơn, các nhạc sĩ phong trào Hưng Ca,các nhạc sĩ các quán Nhạc Việt, Em Ca Hát , các nữ nhạc sĩ trẻ xuất hiện ở hải ngoại như Nguyệt Ánh, Khúc Lan, Lê Khắc Thanh Hoài, Trang Thanh Trúc, Bảo Trâm, Hoàng Kim Chi ,hay các ca sĩ trẻ như Ngọc Lan, Ý Lan, Linda Trang Đài, Như Quỳnh, Dalena, Thanh Hà, Tuấn Anh, Tuấn Vũ, Mạnh Đình, vv…

Băng nhạc đã được sản xuất quá nhiều. Rồi tới CD, VCD, DVD đủ tất cả các loại . Các trung tâm băng nhạc « mọc » lên như nấm . Từ những cuốn băng đầu tiên được thu ở hải ngoại của Thanh Thúy khoảng tháng 4, năm 1976 cho tới ngày hôm nay , bìa băng đã ghi nhận một sự tiến bộ vượt bực từ cách trình bày trang nhã, đơn sơ đến phần chữ nổi, đến những tấm hình ca sĩ hay « người đẹp » chụp rất « hấp dẫn » . Kỹ thuật trình bày có tiến bộ. Kỹ thuật thu thanh tân kỳ hơn . Một vài trung tâm thu băng đầu tiên do nhạc sĩ Việt đứng ra làm chủ như Trung Tâm Tùng Giang, trung tâm Anh Tài . Cả hai Tùng Giang và Anh Tài đều là nhạc sĩ nên họ chú trọng đến kỹ thuật âm thanh nhiều dù rằng người mình vẫn còn mắc phải bịnh để quá nhiều « écho » .

Trong thập niên 80, thị hiếu của người mua băng nhạc có vẻ « thoái bộ ». Qua những cuốn băng được xuất bản từ giữa năm 1985 cho tới 1989, tôi chỉ thấy hình bìa với những cô gái Việt Nam đẹp thì không chỗ chê, nhưng càng ngày càng ăn mặc hở hang . Nếu người mua chỉ thích mua vì hình bìa « hở hang » khêu gợi thì chắc người đó sẽ không để ý tới nghệ thuật âm nhạc của cuốn băng đó .

 

Lý do biết tới nhạc sĩ Vô Thường

Tình cờ đọc trên báo Hồn Việt phát hành tại Glendale, Quận Cam, Cali hồi tháng 5 năm 1987, tôi thấy có một bài quảng cáo 2 cuốn băng chuyên về tây ban cầm do anh Vô Thường độc tấu các bản nhạc quen thuộc của giới nghe nhạc Việt Nam . Tôi tự hỏi : » Vô Thường là ai vậy cà ? » Cái biệt hiệu cũng lạ nữa Tại sao lại Vô Thường ? Như vậy có nghĩa là « không có bình thường » hay là « Khác thường », « Dị thường », « Bất thường » ?

Tôi tự đánh dấu hỏi trong đầu hoài . Anh này đâu có gì là người « không có bình thưòng » mà chắc cũng không phải là người « khác thường ». Theo tôi hiểu chữ « Vô Thường » có nghĩa là « lúc có lúc không » hay « biến cố thình lình đến » theo định nghĩa cua ông Đào Duy Anh trong quyển Hán Việt tự điển . Anh Vô Thường đàn tây ban cầm hồi nào mà tôi không bao giờ nghe tiếng biêt tên ? Tôi chỉ biết có anh chàng trẻ tuổi nổi tiếng bên Mỹ tên là Trịnh Bách hay anh Lê thành Đông, giáo sư Tây ban cầm ở Pháp, hay anh Hoàng Ngọc Tuấn ở Sydney bên Úc mà thôi . Anh này là ai mà mãi tới bây giờ mới xuất đầu lộ diện ???

Thế là tôi liền viết thơ cho anh Vô Thường để nhờ anh ấy gởi cho tôi mấy cuốn băng do anh tự sản xuất lấy, và tự trình diễn . Rồi một hôm , tôi nhận được 2 cuốn băng tựa đề là « Ru Khúc Mộng Thường » 1 và 2 .

Ngồi lắng nghe cuốn « Ru khúc Mộng Thường » 1, những âm điệu của các nhạc phẩm quen biết của Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Trần Định, Đoàn Chuẩn, Phạm Đình Chương qua ngón đàn tây ban cầm của anh Vô Thường gây cho tôi từ ngạc nhiên nây đến ngạc nhiên nọ . Người này là ai mà có ngón đàn có hồn như vậy mà mình chẳng bao giờ quen hay biết tới ? Nghe một lần, chưa đủ để nhận định . Nghe lần thứ hai, rồi lần thứ ba . Càng nghe càng thấm. Tiếng đàn chạy khắp cơ thể, vào tận trong tim não . Càng về khuya, tiếng đàn càng ảo não, như gợi cho tôi một hình ảnh đau buồn, một tâm hồn tuyệt vọng, một ảo thanh của thế giới huyền mộng chứ không phải là « mộng thường » của một anh chàng mang tên là Vô Thường . Tôi không muốn để đầu óc chuyên phân tách nhạc ngữ của tôi làm chi phối tôi mà tôi muốn để tâm hồn tôi bay theo tiếng đàn . Quên đi kỹ thuật mà chỉ nhắm vào tình cảmû, để tìm hiểu con người yêu nhạc, muốn mượn tiếng đàn của mình để nói lên một cái gì đó . Và chính « cái gì đó » làm cho tôi tò mò muốn tìm hiểu thêm về con người, về hứng nhạc của anh nhạc sĩ có tên khá đặc biệt là VÔ THƯỜNG .

 

Vài dòng về thân thế anh Vô Thường

Anh tên thật là Võ Văn Thường, sinh năm 1940 tại Phan Rang, đỗ khóa 9 trường sĩ quan Thủ Đức, phục vụ ngành tâm lý chiến . Lúc nhỏ, anh rất yêu nhạc, có thể nói là mê nhạc nhưng không có phương tiện để học nhạc vì nơi anh ở không có trường quốc gia âm nhạc như Saigon và Huế . Cho nên anh tự học đàn lấy một mình . Nhờ có khiếu, anh đánh đàn măng cầm (mandoline) rất khá, và đã chiếm giải « người đánh đàn mandoline hay nhứt của quân khu » vào năm 1962 .

Tên VÔ THƯỜNG đã được xuất hiện từ lúc đó, nhưng chỉ được một số người trong binh chủng biết đến mà thôi . Anh cũng có giao dịch và gặp gỡ những tay đàn mandoline nổi tiếng ở Việt Nam lúc đó như Pierre Trần ( Trần Anh Tuấn), Lê Duyên , Khánh Băng, Nguyễn Mạnh, Đức Qưê, Văn Lạc. Cũng như nhạc sĩ Khánh Băng, anh chuyển từ mandoline qua tây ban cầm vào năm 1966 . Có một điều là anh đàn tây ban cầm bằng tay trái, ngược đối với tất cả cao thủ đàn ghi-ta. Tuy vậy anh cũng thường xuyên đàn trong một số ban nhạc ở các club Mỹ tại Phan Rang , nơi anh làm việc ở tại trung tâm Bình Định phát triển ở tòa hành chánh Ninh Thuận .

Cuộc đời binh chủng cũng như văn nghệ của anh tưởng cứ như thế mà tiến triển một cách trầm lặng. Nào dè 30 tháng 4, 1975 đến với sự xâm chiếm miền Nam của cộng sản, anh đã phải tự tháo thân , không kịp đem theo vợ và hai con gái trên con đường tạm dung . Anh đã theo lớp người Việt đầu tiên đến xứ Mỹ .

Không biết làm nghề gì trong giai đoạn đầu của cuộc sống mới, anh mới nẩy ra ý mở một cửa hàng bán bàn ghế, tủ giường . Anh trở thành ngưới Việt đầu tiên hành nghề này tại vùng Quận Cam . Từ đó cho tới năm 1987 anh làm chủ tiệm Kim’s Furniture ở Santa Ana, California . Có một dạo, anh mở tới 5 tiệm nhưng vì coi không xuể, lớp vì có máu văn nghệ mạnh quá, anh mới «thử thời vận » hùn với một người bạn mở một khiêu vũ trường mang tên là RITZ vào tháng 3, năm 1983. Nhưng tới tháng 7, 1984, sau 16 tháng « lăn lóc » có dịp thù tạc chén anh chén em, anh đã nhường khiêu vũ trường RITZ lại cho Ngọc Chánh, trưởng ban Shotgun, để quay về nghề bán bàn ghế như trước .

Tuy không có hợp mặt cùng anh em nghệ sĩ trên sân khấu, anh vẫn tiếp tục mượn tiếng đàn tây ban cầm để dạo những khúc nhạc của thời vàng son của miền Nam . Không những nhạc Việt mà còn cả nhạc ngoại quốc . Trong một lá thơ anh viết cho tôi, anh đã kể như sau : « tôi đàn tay trái, thành ra phải học mò và đàn lấy một mình khi còn nhỏ . Không học ký âm pháp nhiều, chỉ quọt quẹt chút ít, nên đôi khi nhìn bản nhạc mà đàn thì chẳng ra hồn . Tôi chỉ ân hận những ngày còn nhỏ vứt đi những thời giờ quý báu . Thành ra cho tới bây giờ, nghĩ cũng muốn để đi vào khuôn khổ . Tôi kỳ vọng gởi hồn vào những bản nhạc những khi hứng đàn, hát và viết nhạc .. Đền bù vào đó, tôi rất nhớ dai và dễ học . Những bản nhạc nghe qua một lần hai lần là tôi mò ra và đánh được, dầu không đúng hẳn 100 % ».

Rồi một ngày chủ nhật 19 tháng 4, 1987, tại quán Phở Ngon ở quận Cam, Cali, anh Vô Thường đã cho trình làng hai cuốn « Ru khúc mộng thưòng » 1 và 2, kết quả của tiếng đàn tây ban cầm mà anh đã để hết tâm hồn cho hai đứa con gái của anh đã đòi hỏi anh đàn cho chúng nghe vì khi anh ra đi, chúng chỉ mới có 6 và 4 tuổi . Giờ đây đãø 18 tuổi và 16 tuổi xuân xanh .

Hai cuốn băng trình làng với sự hiện diện của 200 bạn bè đã gặt hái một kết quả tài chánh và nghệ thuật rất đáng kể . Anh đã dành số tiền 800 Mỹ kim bán băng buổi ra mắt để tặng cho Ủy ban cứu trợ quốc tế (International Rescue Committee) để giúp những trẻ mồ côi tại các trại tỵ nạn Đông Nam Á .

Băng của Anh đã được tái bản nhiều lần, hơn hẳn những băng nhạc « chuyên nghiệp » và báo chí đã cho hiện tượng đó là « ngựa về ngược ». Anh tiếp tục cho trình làng thêm hai cuốn băng khác vào tháng 6 với tựa đề « Hạnh phúc nửa vời » gồm những bản nhạc do Anh sáng tác qua một số giọng hát có tên tuổi trình bày, và một cuốn « Hải Âu » do ca sĩ và nhạc sĩ Phạm Hoàng Dũng phụ trách .

Con đường âm nhạc anh đãø dấn thân vào chỉ mới có mấy tháng trong năm 1987 mà đã gây một tiếng vang. Và dư âm đã vang dội cho tới ngày anh ra đi vào tháng 4, 2003 sau nhiều tháng chống trả với tử thần vì bịnh ung thư , 16 năm thành công với hơn 120 CD đã lưu lại cho hậu thế .

 

Vơ Thường : Ca sĩ và Nhạc sĩ

Anh Vô Thường có viết cho tôi rằng anh không phải là ca sĩ hay nhạc sĩ gì cả . Giọng anh thì khàn, loại « khao khao vọng cổ », nếu không nói là « giọng vịt đực ». Nhưng anh Vô Thưòng đâu có biết rằng giọng hát đó rất khó tìm, vì nó lạ, vì nó khác giọng thường nghe, vì chất nhựa của thuốc, của rượu đã quện lại thành một loại giọng của người đã từng lăn lóc trong trường đời .Đó là cái may mắn của anh mà anh Vô Thường không biết hay không muốn biết .

Ở Pháp có ca sĩ Charles Aznavour cò một giọng hát the thé, hát lên cứ rung hoài. Vậy mà « ăn khách » đến nỗi anh ta phải tìm hãng bảo hiểm giọng hát của anh ta . Ở Mỹ có Louis Amstrong cũng nhờ có giọng khàn đặc biệt mà thế giới thần tượng hóa trong lĩnh vực nhạc Jazz . Nhờ vào cái tâm hồn rất phong phú mà khi anh Vô Thường hát , tiếng hát đó dễ đi sâu vào lòng người nghe, như truyền đi những gì anh muốn nói qua lời ca, qua tiếng nhạc .

Lúc đó tôi chưa gặp anh Vô Thường . Tôi chỉ nghe giọng hát, nghe lời nhạc anh viết , tôi mường tượng con người đã bị đời cho nhiều « vố » đau điếng nên xuyên qua giọng hát , tôi có cảm tưởng một bầu trời bi quan, chán chường, tuyệt vọng, một khung cảnh u sầu, uất hận .

Bản nhạc anh vừa sáng tác vào tháng 8, 1987 với tựa đề « Giọt nước mắt lưu đày » gói ghém nỗi lòng của anh .

 

Đêm thức giấc quanh đây trời đất lạ

Ta một mình biết nói với ai đây

Bao ưu phiền ray rứt bấy lâu nay

Thân lạc loài viễn xứ mấy ai hay.

Giòng nước mắt no đầy kiếp lưu đày

Ly rượu này chưa uống sao ta say ?

Một đoạn khác của bài hát nói lên tâm tư của anh

 

Bây giờ đây, bên kia đại dương cha ta nhục nhã đói

Bây giờ đây, lao tù giam tù nhân đến mấy kiếp

Bây giờ đây căn nhà hoang mẹ ta vừa nhắm mắt

Chiếc quan tài, hay manh chiếu rách gói thân mẹ ta

Ôi trẻ thơ, ôi đàn con đang lang thang ngoài phố trời,

Đi về đâu, không ngày mai, tương lai là bóng tối,

Saigon ơi ! Saigon ơi ! Thay tên và hấp hối

Xác bạn bè, ngã xuống không mồ chôn .

Cuốn băng « Hạnh phúc nửa vời » của anh Vô Thường phát hành giữa năm 1987. Tất cả những nhạc phẩm trong cuốn băng đầu tay có tính cách « chuyên nghiệp » hơn qua các giọng ca đầy triển vọng của Uyên Lan, Lê Uyên, Phạm Hoàng Dũng, Việt Dzũng, Hằng Nga, Ngọc Giao, Như Mai và Vô Thường . Nữ ca sĩ Uyên Lan , một tài năng mới xuất hiện, trước kia ở Houston, nay đã dời đô về Cali, có một giọng hát nghiêng về « alto » hơn là « soprano ». Đa số nữ ca sĩ Việt đều có giọng cao « soprano ». Bản nhạc « Hạnh phúc phù du » cũng như bài « Hạnh phúc nửa vời » đã được Uyên Lan diễn tả với tất cả tâm hồn làm người nghe như lắng đọng trong không gian hư vô .

« Hạnh phúc nửa vời vì không trọn vẹn, vì bên em mà nửa hồn anh như cùng mềm . Khách khoảng thương quê hương vì mòn mỏi đợi chờ , mơ một ngày trở lại . Anh thốt gọi tên em trong câm lặng. Hạnh phúc phù du, hạnh phúc nửa vời » . Đó là lời anh Vô Thường khơi mào vào đầu cuốn băng .

Hạnh phúc nửa vời, qua nhịp điệu habanera chậm buồn, tôi có cảm giác anh Vô Thường muốn gởi trọn nỗi lòng của anh trong tiếng hát của Uyên Lan :

 

Có bao giờ anh khóc một mình

Có bao giờ anh thương nhớ cuộc tình

Một đêm mưa, mưa đêm dĩ vãng

Đến bên anh, lại vuốt vai gầy

Lời tính đầu , cho nhau bỡ ngỡ

Chút ngây thơ, tình thuở dại khờ

Có bao giờ em nhớ trong đời

Có bao giờ em tiếc nuối một thời

Bài nhạc sầu yêu thương với nhớ

Nhớ đêm mưa là nhớ mãi một người

Trong cuốn băng «Hạnh phúc nửa vời », bài tôi thích nhất có lẽ là bản nhạc « Tình khúc cho Saigon » được Lê Uyên diễn tả rất đậm đà, chân tình trong một giọng hát nồng ấm . Cặp Lê Uyên Phương giờ đây không còn nữa . Phương tức Lộc đã ra người thiên cổ sau khi hai người đã xa nhau một thời gian. Lê Uyên hiện vẫn còn hát và điều khiển quán Cà phê LUP, nơi tụ họp của những người làm văn nghệ tại Quận Cam, Cali . Dòng nhạc của bài « Tình khúc cho Saigon » nghe như đi nhẹ vào hồn, như dìu ta về dĩ vãng của thời Saigon xa xưa .

 

Saigon ơi, chớp mắt mười năm qua,

Đời tha hương vẫn thấy buồn trong ta

Giờ lưu vong, mang kiếp sống xa nhà,

Saigon ơi, còn đó ơi xa thật xa

Mười năm trời, ôi nhớ quá Saigon tôi

Đầy đau thưong trống, vắng và đơn côi

Và hôm nay, lê thân xác nơi quê người

Bầy chim non lạc tổ quên lối về

Ngày trôi đi, tôi cứ ngỡ ngày về không xa

Mà mười năm qua, ta hỏi đã được gì cho ta

Nhìn lại ta vẫn sống kiếp xa nhà

Saigon ơi, còn đó nhưng xa thật xa

Dù nơi đây ai có sống đời yên vui

Một mình tôi, tôi vẫn thấy lòng buồn không nguôi

Dù hôm nay tôi sống sót nơi que người

Tim yêu cuối đời, tôi xin gửi hết lại SAIGON tôi

Tất cả những bản nhạc (11 bài tất cả) đều được thể hiện qua hai chủ đề : thương nhớ quê hương , nuối tiếc hạnh phúc mà vì hoàn cảnh đất nước anh đã mất đi và tuyệt vọng trong kiếp sống lưu đầy .

Anh đã bị đời dày xéo . Nếu còn đươc giây phút nào để nói về thân phận , về cuộc đời trên giấy bút , trên âm nhạc, trên văn thơ, thì anh Vô Thường sẽ không ngần ngại .

Nhục nhã của 16 năm làm lính, mất « quê hương », mất gia đình, mất tất cả, lại thêm một nhục lớn là phải ở xứ lạ quê người. Đời chỉ được một lần sinh ra và chết, nhưng bổn phận làm người và tình không còn nữa . Anh Vô Thường đã tâm tình với tôi rằng :

 

« Tôi xin được nói những khi còn có thể nói,

Tôi xin được viết những khi tôi còn có thể viết,

Xin còn đủ lý trí để nhận định và không gì thay đổi

Dù sang hay hèn,

Nghèo hay giàu,

Dù có danh hay không ? »

Đúng như nhà Phật đã nói : « Sắc sắc không không . Không tức thị Sắc . Sắc tức thị Không ».

Cuộc đời của anh Vô Thường được gói ghém qua mấy câu

« Một quê hương trước khi nhắm mắt không hiểu còn có thấy lại hay không ?

Một cuộc đời toàn những hạnh phúc phù du, người đây, vợ và con một ngã, của 12 năm

Ước muốn chi nhiều, rồi cũng bấy nhiêu thôi . »

Khi Anh sang thăm chúng tôi tại Paris vào đầu thập niên 90, anh Vô Thường giới thiệu Tín Hương, một người đàn bà miền Trung rất đẹp . Một bài nhạc đã được viềt ra trên đất Pháp, dọc sông Seine, giữa thành phố Paris hoa lệ .

 

Một chút tình bỏ quên

Đầu cơn mưa mùa hạ

Em lạc bước chân xa

Paris dường như đã

Nghe tình lên trong ta

Từ Anh lặng lẽ tới

Cho nhung nhớ đầy vơi

Cho mộng tràn chăn gối

Hao gầy trái tim côi .

Một chút duyên để nhớ

Một chút tình để quên

Một thoáng thơ mộng vỡ

Nửa vời hạnh phúc ơi

Đừng trách nhau lầm lờ

Dù tình ta lỡ lầm

Một chút ân tình vỡ

Tình buồn mãi trăm năm

Từng đêm mưa hững hờ

Em xuống phố ngẩn ngơ

Paris tình muôn thuở

Nhớ thương Anh dại khờ

Hàng cây sầu im tiếng

Hiu hắt bên sông Seine

Có một lần Anh đến

Nhớ chút tình bỏ quên

Bạch Yến đã dịch bài thơ của anh Vô Thường ra tiếng Pháp vài năm sau với tựa « Souvenir d’un amour oublié »

 

On s’est rencontés

Un beau soir d’été

Au coeur de Paris

Notre amour est né

Depuis je te vois

En rêve chaque nuit

Et ne pense qu’à toi

Qui toujours me fuis

Cet amour si beau

Si tendre et si doux

Où l’on s’aime trop

A s’en rendre fou

Si tu pars un jour

Me laissant sans toi

O ! Mon bel amour

Je ne te suivrais pas

Paris et la Seine

Bercent mon âme meurtrie

Qu’importe ma peine

Je veux que tu ris

Que tombe la pluie

Que règne l’ennui

Nos beaux souvenirs

Deviendront ma vie

 

Ít lâu sau , anh loan bào tin anh lập gia đình . Chúng tôi có sang Cali mấy lần gặp anh và Tín Hương . Anh đã giúp và khuyến khích Tín Hương sáng tác nhạc . Và Tín Hương đã thực hiện được hai CD . Cuộc tình tưởng như sẽ tốt đẹp như bài thơ . Nhưng có ai ngờ là vào cuối năm 1999, Tín Hương và anh không còn chung sống với nhau . Anh Vô Thường có buồn thật nhưng sau đó , anh tìm lại nguồn vui và đã cùng anh Lữ Mộc Sinh sáng tác một nhạc phẩm « Từ lúc yêu em » .

Anh vẫn tiếp tục sản xuất CD nhạc khiêu vũ, nhạc ngoại quốc, nhạc để nghe , loại nhạc ûkhông lời » mà anh đã tạo một chỗ đứng « không đối thủ ». Nhạc của anh đàn đã đi vào thị trường Mỹ . Mỗi tuần anh nhận được nhiều thơ hỏi mua, hoặc viết lời khen anh , cám ơn Anh đã mang lại cho họ những giây phút êm ái qua những ca khúc du đương .

Thỉnh thoảng Anh mang thơ của những người ái mộ người Mỹ từ khắp xứ Mỹ đưa cho tôi đọc để cùng chung vui với Anh .

Anh Vô Thường đã thành công mang hai đứa con gái Diễm và Khanh sang Mỹ và đã giúp cho hai cháu có một nghề chắc chắn và cả hai đều lập gia đình với hai chàng rể thật dễ thương . Anh đã hoàn thành sứ mạng của một người cha trước khi nhắm mắt . Tôi có gặp anh lần chót vào tháng 10 , 2001 tại San Jose khi chúng tôi sang diền . Anh tuy ốm nhưng vẫn còn tếu như mọi khi . Anh có trở về Việt Nam lần chót để thực hiện CD « Tình Ca Vô Thường / Giọt Nước Mắt Vô Thường » qua tiếng hát của Quỳnh Lan, Đức Minh, Vô Thường và bài « Nhớ chút tình bỏ quên » do Bạch Yến hát cả hai lời Việt / Pháp . Đây là dĩa CD với nhạc và tiếng hát Vô Thường và là dĩa « có lời » nhưng chưa kịp « kiếm lời » là anh đã ra đi . Bạch Yến đến thăm Anh lần chót vào ngày mùng 1 Tết Quý Mùi ( tháng 2, 2003) , hai tháng trước khi anh lìa trần

Anh Vô Thường đã trở về với cát bụi , nhưng Anh đã để lại cho đời một số sáng tác nhạc, hàng trăm dĩa CD ghi lại tiếng đàn ghi-ta tay trái bất hủ của anh . Anh ra đi nhưng đã để lại bao tiếc thương một người bạn tốt với bạn, với người đồng hương (Anh đã đóng góp rất nhiều cho các cơ quan từ thiện qua số dĩa CD và băng nhựa anh tặng ), với đất nước .

Những sáng tác mới của anh Vô Thường là những điểm son trong làng nhạc Việt . Sự đóng góp của anh Vô Thường , tuy không to tác nhưng rất có ý nghĩa vì anh viết nhạc đặt lời rất thành thật tự đáy lòng phát ra . Anh Vô Thường là một ngôi sao sáng , một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt ở hải ngoại .

Trần Quang Hải (Paris, mùa thu 2003) 

 

TRAN QUANG HAI , Chevalier de la Légion d’Honneur, FRANCE, 2002


Décret du 29 mars 2002 portant promotion et nomination

Ministère de la cultureet de la communication

Au grade de chevalier

M. Barrère (Jacques, Marcel, Antoine), expert, négociant en objets d’arts d’Extrême-Orient ; 35 ans d’activités professionnelles et de services militaires.
M. Berthier de Lioncourt (Vincent, Paul, François), directeur d’un centre musical ; 29 ans d’activités professionnelles et de services civils.
M. Brossmann (Jean-Pierre), directeur d’un théâtre ; 42 ans d’activités professionnelles et de services militaires.
M. Campana (André, Gaëtan, Philippe), journaliste, producteur ; 39 ans d’activités professionnelles et de services militaires.
Mme Clément (Marie, Thérèse, Aurore), comédienne ; 28 ans d’activités artistiques.
Mme Colleu (Chantal, Yvonne, Jeanne), épouse Dumond, directrice de l’abbaye royale de Fontevraud ; 21 ans d’activités professionnelles et de services civils.
M. Erdös (Thomas), conseiller artistique, producteur ; 55 ans d’activités professionnelles et artistiques.
Mme Fortier (Marie, Odile, Jeanne), épouse Masek, traductrice ; 40 ans d’activités professionnelles.
Mme Genin (Alice, Louise), épouse Eleftheriades dite Teriade, experte de l’oeuvre de l’éditeur Teriade, donatrice ; 31 ans d’activités professionnelles et culturelles.
Mme Jacquin de Margerie (Diane, Jeanne, Marie), romancière, traductrice ; 34 ans d’activités littéraires.
M. Lachat (Raymond, Jean-Louis), directeur des affaires culturelles de Bretagne ; 38 ans de services civils.
Mme de Lacretelle (Anne, Marie, Jeanne), directrice du mécénat culturel dans un établissement bancaire ; 50 ans d’activités professionnelles.
M. Mollat (Denis, Albert, Jean), libraire ; 24 ans d’activités professionnelles et de services militaires.
Mme Rouault (Danielle, Valentine, Renée), épouse Heude, conservatrice générale du patrimoine, inspectrice générale des musées ; 41 ans de services civils.
M. Sabatier (Daniel), maître de conférences ; 35 ans d’activités professionnelles et de services civils.
M. Sabatier (Jean, Aimé, Pierre), sculpteur plasticien ; 50 ans d’activités artistiques.
M. Tran (Quang Hai), musicien, musicologue ; 42 ans d’activités musicales.
M. Vincent (Jean-Marie, Etienne), conservateur général du patrimoine, chef du service de l’inspection générale à la direction de l’architecture et du patrimoine au ministère ; 42 ans d’activités professionnelles et de services civils.
M. Vincent (Jean-Pierre), directeur de théâtre, metteur en scène ; 44 ans d’activités professionnelles et théâtrales.

One of our jury members, Tran Quang Hai has sent me the following email:

Dear Friends,

I have the pleasure to announce … that Mr. Jacques Chirac, President of the Republic of France has decided to nominate me at the grade of Chevalier dans l’ordre National de la Legion d’Honneur (Knight in the National Order of Legion of Honour) the highest medal of French Distinctions to reward the multiple talent of the one who,at the same time researcher and musician, ethnomusicologist and composer, teacher,singer and imitator, knows how to combine study and music , East and West, vietnamese traditions and contemporary music in the very original way .
HOping that all my friends will share with me this happy moment and exceptional event in my life. Thank you in advance.

Tran Quang Hai >>> WEBSITE

I have sent him congratulations in the name of the forum expressing that we participate in his honour, feeling proud to have been selected by him.
http://www.titanicahoy.com/asfp/news-2.htm