Category Archives: TRAN QUANG HAI’ BIO

Nguyễn Vi Sơn : Giới thiệu Trần Quang Hải & Bạch Yến


Nguyễn Vi Sơn : Giới thiệu Trần Quang Hải & Bạch Yến

Trong bài viết gởi quý thân hữu nhân ngày sinh của tôi . Vi Sơn có nói tới những khắc khoải mà chúng mình ở cái tuổi này sẽ phải trải qua . Tôi cũng có nói tới cuộc hành trình của toa xe lửa của cuộc đời trên thiết lộ quanh co. Và những người thân yêu đã đến và đi trong đời chúng ta. Trong khuôn khổ của bài viết , tôi đã không có dịp nói nhiều về những dấu chân trên cuộc hành trình đó mà mính có thể đã để lại trong đời . Những dấu chân, không phải ích kỷ, không cho phép ai được xóa bỏ đi. Những dấu chân bon chen với đời ngay cả sau khi mình không còn hiện hữu. Thật ra đó không đến từ sự ích kỷ, mà nó là một cái thực thể trường tồn qua thời gian để lập lên lịch sữ, và cái nền văn minh nhân loại mà ta có ngày nay.

Thua quy ban than men:

La nguoi Cong Giao, toi nghi la Chua Cao Ca da cho toi mot Su Mang, mot Muc Tieu de thuc hien trong doi nay. Va khi toi da ra di thi cai viec lam do, cai su nghiep do cung se con luu truyen cho con em minh de loai nguoi co duoc su noi tiep va sinh ton.

Noi nhu vay, de ma nhin lai cac nguoi than huu trong TMC cua chung ta. Minh khong phai la Nostradamus thi cung biet rang se co mot so cong trinh se duoc de lai khi chung ta khong con nua. Nhung ten tuoi nhu Vo Ta Han, Pham Anh Dung, Nguyen Bich, Nguyen Minh Tam, Pham Gia Con, va con bao nhieu than huu nua se de lai dau chan cua minh o mot giai doan than ky cua lich su Nguoi Viet, nhat la Nguoi Viet Hai Ngoai. Chung ta khong phai la mot hoi quan tu cho minh la o “thuong thang” (elitist). Chac chan khong phai la vay. Nhung chung ta cung hanh dien la da co bao than huu cua chung ta se de lai nhung dau chan tot dep cho hau sinh noi theo. Co mot  nguoi ma cuoc doi tuong nhu qua ngan de chua het cac cong trinh trong am nhac ma anh da xay dung. Anh cung chi co 24 gio dong ho trong mot ngay. Mot nam cua anh cung chi la 365 ngay. Nhung khong biet anh tim thoi gio o dau de lam het moi chuyen anh da thuc hien. Do la anh Tran Quang Hai, mot hau due xung dang cua mot dai gia ve am nhac gom nhung ten tuoi lon nhu Tran Van Trach, Tran Van Khe. Qua that, mot cuoc doi, bay nhieu su nghiep.

Toi cu nho hoi con di hoc, co mot cai ten ma khi nguoi ddo`i nhac toi thi cai danh hieu Nu Hoang luon luon di truoc, NU HOANG MOTO BAY. Nguoi nu hoang nay co cai ten de thuong nhu nhung con nhan trang bay bong khap may ngan: Bach Yen. Nu Hoang Moto Bay Bach Yen, it ai trong chung ta ma lai khong tung nghe toi. Roi nang nu hoang de lai chiec moto on ao de di vao the gioi am nhac, cat tieng goi den khach thuong ngoan o bon phuong troi. Roi co mot ngay nang cong chua buoc vao mong voi mot hoang tu mang ten Tran Quang Hai de the gioi tinh yeu cua Hai Yen duoc det bang soi to troi mang ten Hanh Phuc. Hanh Phuc Cua Mot Doi. Vi the, TMC, mot hoi quan voi chu truong khuyen khich Tinh Yeu, Tinh Gia Dinh, Tinh Than Huu, xin chan thanh cam on anh chi Hai Yen ve su hien dien cua anh chi trong Hoi Quan. No da lam cac  tinh cam quy gia do duoc the hien o cung bac cao nhat. Xin de anh chi Hai va Yen tu gioi thieu den quy than huu.

Vi Son/TMC

visontmc.com

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã , tỉnh Gia Định, miền Nam nước Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê (sinh ngày 24 tháng 7, 1921) và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn trường nữ trung học Gia Long (sinh ngày 19 tháng 9, 1921).

Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17 tháng 6, 1978 tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc ngoại quốc Tây phương lúc đầu của sự nghiệp cầm ca . Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải , Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới .

Xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời, anh là nhạc sĩ đời thứ năm . Ngoài ra anh là dân tộc nhạc học gia (ethnomusicologist – ethnomusicologue) chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, thuyết trình viên , nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, và thành viên của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique)

Vài dòng về khuôn mặt Trần Quang Hải. Anh đã theo gót cha anh , GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu dân tộc nhạc học. Anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh .

Gia đình nhạc sĩ cổ truyền

Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ của là quan án sát, theo Phan Thanh Giản sang Pháp để thương thuyết nhưng thất bại , treo ấn từ quan , vào Nam , cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. là người có trình độ đáng nói về nhã nhạc Huế .

2. Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố của TQH là người rất giỏi về đàn tỳ bà , được gởi ra thành nội Huế để học nhạc cung đình và chuyên về đàn tỳ bà . Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho đàn tỳ bà , nhưng tiếc thay là tất cả tài liệu đó bị thất lạc vì chiến tranh .

3. Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội của tôi là người đàn kìm rất giỏi, biệt hiệu Bảy Triều trong giới cải lương, đã đặt ra cách lên dây TỐ LAN cho đàn kìm để đàn những bài buồn ai oán. Hiện nay chỉ còn một số rất ít nhạc sĩ cổ nhạc biết đàn dây này (như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo , GS Trần Văn Khê)

4. Trần Văn Khê (1921 – ), ba của tôi là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng quốc tế và làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới ở địa hạt trình diễn cũng như nghiên cứu . Con trai trưởng trong gia đình có ba người con (ba tôi GS Trần Văn Khê, chú ba tôi là Quái kiệt Trần Văn Trạch, cô tư tôi là Trần Ngọc Sương từng nổi tiếng là ca sĩ tân nhạc vào đầu thập niên 50) , ông đã hăng hái trong phong trào nhạc mới lúc trẻ (cùng thời với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Phạm Duy) và quay về nhạc cổ khi soạn luận án tiến sĩ tại Pháp . Từng là giáo sư nhạc Đông phưong tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Paris , Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, và từng giữ chức phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO . Hưu trí từ năm 1987, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu và đóng góp một vai trò lớn cho hai hồ sơ Nhạc cung đình Huế (được danh hiệu kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Hiện ông định cư ở Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và đang là cố vấn cho hồ sơ Ca Trù để đệ trình lên UNESCO cho năm 2007 dành cho kiệt tác văn hóa phi vật thể .

5. Trần Quang Hải (1944 – ) , cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Saigon với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), đi sang Pháp năm 1961 và học nhạc học tại trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở trường cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). Bắt đầu làm việc cho trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với ê-kíp nghiên cứu tại Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới bây giờ (2006). Trình diễn trên 3,000 buổi tại 65 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác nhạc hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng , hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại . Đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 3 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới .Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng , jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ.

Sáng tạo một số kỹ thuật mới cho muỗng được thấy ở Việt Nam vào cuối thập niên 40 (gần 70 năm).Ngoài ra đã khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh từ năm 1969 và hiện nay được xem như chuyên gia có được nhiều giới nghiên cứu về dân tộc nhạc học, âm thanh học, nhạc đương đại, y học biết tới khắp nơi trên thế giới .

Thể nghiệm nhiều loại nhạc với tư cách nhạc sĩ. Đã từng chơi nhạc Free Jazz với nhóm Alain Brunet Quartet), nhạc pop, nhạc điện thanh (electro- acoustical music) qua bài Về Nguồn (soạn chung với Nguyễn Văn Tường được trình bày lần đầu tiên năm 1975 tai Champigny sur Marne, Pháp), nhạc tùy hứng (hợp tác với Arlette Bon vũ sư đương đại năm 1972, với Muriel Jaer, vũ sư đương đại nhiều năm từ 1973 tới 1980, qua bài Shaman với Misha Lobko vào năm 1982, Paris).

Cộng tác trình diễn trong các dĩa CD như với Philip Peris (tôi chơi đàn môi và hát đồng song thanh hòa với kèn thổ dân Úc didjeridu năm 1997), với các nhạc sĩ đàn môi qua hai CD về đàn môi năm 1999 và một CD đàn môi với John Wright, Leo Tadagawa và Svein Westad năm 2000. Dĩa VIETNAM / TRAN QUANG HAI & BACH YEN do hãng SM Studio sản xuất tại Paris năm 1983 đã đưọc giải thưỏng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1983, và dĩa LES VOIX DU MONDE do hãng Le Chant Du Monde sản xuất năm 1996 tại Paris cũng được giải thưởng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1996.

Hội Viên các hội nghiên cứu

• Society for Ethnomusicology (Hội Dân tộc nhạc học), Hoa Kỳ, từ 1969

• Asian Music Society (Hội Nhạc Á châu), Hoa Kỳ, từ 1978

• ICTM (Hội đồng quốc tế nhạc truyền thống), Hoa Kỳ, từ 1976

(đưọc bầu làm thành viên của ủy ban chấp hành – member of the Executive Board từ 2005)

• Société Internationale de Musicologie (Hôi quốc tế nhạc học), Thụy Sĩ, từ 1977

• International Association of Sound Archives (IASA) (Hội quốc tế âm thang viện), Úc châu từ 1978

• Association of the Foundation of Voice (Hội về Giọng), Hoa Kỳ từ 1997

• Société de Musicologie (Hội nhạc học), Pháp, từ 1980

• Société Francaise d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Pháp) từ 1985 (sáng lập viên)

• CIMCIM (Unesco) từ 1983

• Séminaire Européen d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Âu châu), Thụy Sĩ , từ 1983.

• Association Francaise d’Archives sonores (Hội âm thanh viện Pháp) từ 1979

• Centre d’Etudes de Musique Orientale (Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương), Paris, từ 1962 (giáo sư của trung tâm từ 1970 tới 1975)

• Centre d’Etudes Vietnamiennes (Trung tâm nghiên cứu Việt học), Pháp ,từ 1987

• Association Francaise de Recherche sur l’Asie du Sud-Est (Hội nghiên cứu Đông Nam Á Pháp), Pháp từ 1986.

• Société des Auteurs , Compositeurs et Editeurs de la Musique (SACEM) , Pháp, từ 1980

• International Center of Khoomei (Trung tâm quốc tế Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga từ 1995.

• International Jew’s Harp Society (Hội quốc tế Đàn Môi) , Áo quốc, từ 1998 (sáng lập viên)

• Scientific Association of Vietnamese Professionals (Hội khoa học chuyên gia Việt Nam) (hội viên danh dự) , Canada từ 1992.

• Vietnamese Institute for Musicology (Viện Âm nhạc Hà nội), Việt Nam từ 2004, (hội viên danh dự)

• American Biographical Institute and Research Association (ABIRA) , Hoa kỳ, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)

• International Biographical Association (IBA), Anh quốc, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)

• Encyclopaedia Universalis Tự điển, Pháp, từ 1985 (cố vấn cho giải thưởng Diderot)

• American Order of Excellency, Hoa Kỳ, từ năm 1998 (sáng lập viên)

• World Wide Library, Hoa Kỳ (thành viên).

• Vietnamese Public Library of Knowledge (ViPLOK) (founding member of the editorial board), Hoa Kỳ từ 2006.

NHỮNG QUYỂN SÁCH CÓ TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI

Sau đây là những quyển tiểu sử Who’s Who và các quyển sách khác có đăng tiểu sử của tôi :

• Dictionary of International Biography, ấn bản thứ 15, Anh quốc

• Men of Achievement, ấn bản thứ 5, 6, và 7, Anh quốc

• International Who’s Who in Music, từ ấn bản thứ 8 cho tới hiện nay (2008), Anh quốc

• Who’s Who in Europe, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc

• Men and Women in Distinction, ấn bản thứ 1 và 2, Anh quốc

• International Register of Profiles, ấn bản thứ 4 và 5 , Anh quốc .

• International Who’s Who of Intellectuals, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc

• The First Five Hundred, ấn bản thứ nhất, Anh quốc

• Who’s Who in the World, từ ấn bản thứ 5 tới nay (2008), Hoa Kỳ

• 5,000 Personalities in the World, ấn bản thứ nhất, Hoa kỳ

• International Directory of Distinguished Leadership, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• International Book of Honor, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• Who’s Who in Entertainment, ấn bản thứ 3, Anh quốc

• Who’s who in France, từ ấn bản thứ 29 tới nay (2008), Pháp

• Nouvelle Dictionnaire Européen, từ ấn bản thứ 5 tới ấn bản thứ 9, Bỉ

• Who’s Who in International Art, ấn bản thứ nhất, Thụy Sĩ

• Vẻ Vang Dân Việt – The Prid of the Vietnamese, quyển 1, ấn bản thứ 1 và 2, Hoa Kỳ

• Fils et Filles du Viet Nam , ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• Tuyển tập nghệ sĩ (Selection of Artists), quyển 1, Canada

• Guide du Show Business, từ 1986 tới nay (2008), Pháp

• The Europe 500 Leaders for the New Century, Barons Who’s Who, Hoa Kỳ

• QUID, từ 2000 tới nay (2008) , Pháp

• 500 Great Minds of the Early 21st Century, Bibliotheque World Wide, Hoa Kỳ

• Officiel Planète,từ năm 2000 tới nay (2008), nhà xuất bản IRMA, Pháp

NHỮNG BIẾN CỐ QUAN TRỌNG TRÊN THẾ GIỚI

Nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên tham gia trình diễn tại những biến cố lịch sử quan trọng trên thế giới

• 1988 : 200 năm thành lập xứ Úc

• 1989 : 200 năm Cách mạng Pháp

• 1991 : 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ

• 1992 : 350 năm thành lập thành phố Montréal, Canada

• 1992 : 500 năm khám phá Mỹ châu của Chritophe Colombus

• 1994 : 600 năm thành lập thủ đô Seoul, Đại Hàn

• 1996 : 50 năm vua Thái Lan trị vì

• 2000 : 100 năm thành lập âm thanh viện Berlin, Đức

• 2004 : Genova , thành phố văn hóa Âu châu, Ý

• 2004 : Lille , thành phố văn hóa Âu châu, Pháp

• 2005 : 100 năm xứ Na Uy được độc lập .

Nhạc sĩ Việt Nam tham gia nhiều nhất Ngày Lễ Âm nhạc do Pháp đề xướng từ lúc đầu tiên vào năm 1982, rồi năm 1984, 1985 , 1987, 1989 tại Paris, rồi năm 1991 tại đảo La Réunion, rồi năm 2000, 2001 tại Paris, năm 2002 tại Beirut (Lebanon)

Nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đàn nhạc phim của các nhà viết nhạc phim của Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit , và trình diễn những nhạc phẩm đương đại của các nhà soạn nhạc như Nguyễn Văn Tường, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard.

Nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3.000 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 quốc gia từ năm 1966, 1.500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy tại hơn 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8.000 người theo học hát đồng song thanh .

BACH YEN

Mở mắt chào đời tại vùng châu thổ sông Cửu Long (miền Nam Việt Nam), Bạch Yến gia nhập làng ca nhạc khi còn nhỏ tuổi và sớm nổi tiếng tại Saigon với giọng hát đặc biệt trầm mặc dù giọng thuộc loại cao (mezzo soprano), ngân nga phong phú qua những nhạc phẩm Việt Nam bất hủ như “Đêm Đông” và các nhạc phẩm ngoại quốc hát bằng tiếng Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Ý hoặc Do Thái.

Năm 1961, Bạch Yến sang Paris để trau dồi nghệ thuật. Được hãng dĩa Polydor mời thâu và đưa đi trình diễn một vòng qua Bỉ, Đức và Áo . theo giao kèo, Bạch Yến phải hát loại nhạc twist thịnh hành lúc bấy giờ. thời gian ở Âu châu này được đánh dấu bởi ba dĩa hát và vài đoạn phim scopitones (như clips hiện giờ)

Năm 1965, Bạch Yến được Ed Sullivan mời sang Hoa kỳ tham gia chương trình truyền hình ăn khách nhất xứ Mỹ (với trên 30 triệu khán giả). Một hợp đồng hai tuần với Ed Sullivan Show đã trở thành 12 năm lưu diễn khắp 46 tiểu bang xứ Bắc Mỹ với những danh ca nghệ sĩ thượng thặng như Bob Hope, Bing Crosby, Jimmy Durante, Liberace, Pat Boone, Frankie Avalon, Joey Bishop, Mike Douglas, và một số quốc gia Mỹ Châu như Gia nã đại (Canada), Mễ Tây Cơ (Mexico), xuất hiện trên các đài truyền hình Nam Mỹ, Caracas /Venezuela, Bogotá /Colombia,  đài truyền hình Panama /Trung Mỹ và Curaçao (Antille).

Mike Wayne mời Bạch Yến về Hollywood để hát trong phim “Mũ nồi xanh” (The Green Berets) do tài tử John Wayne đóng vai chánh.

Lúc Bạch Yến tái ngô. Paris cũng là lúc cuộc đời và sự nghiệp của Bạch Yến bước vào một giai đoạn mới cực kỳ quan trọng với sự gặp gỡ nhạc sĩ kiêm nghiên cứu dân tộc nhạc học gia Trần Quang Hải, sau trở thành phu quân của BạchYến.

Trần Quang Hải thuyết phục Bạch Yến trở về với nhạc dân tộc Việt Nam và kết quả là hai người đã cùng nhau trình diễn trên 3.000 buổi hát dân ca khắp năm châu, mặc dầu thỉnh thoảng Bạch Yến vẫn hát tân nhạc để đáp lại tấm thạnh tình của những người hâm mộ mình.

Hai người đã thâu chung 7 dĩa hát 33vòng, và một dĩa laser, với một dĩa trong đó được giải thưởng Grand Prix du disque de l’Académie Charles Cros năm 1983.

Tran Quang Hai biêu diên dàn môi, muông và hat dông song thanh

http://www.youtube.com/watch?v=okdYHbzTyjk

Tran Quang Hai  dàn tranh

http://www.youtube.com/watch?v=aFJlXmMYmsg

Bach Yen hat Ghen và nhay claquettes

http://www.youtube.com/watch?v=OARn3CLRjAk

Bach Yen hat Di Voi Tôi

http://www.youtube.com/watch?v=vr4cX0C5zEQ&feature=related

NGUYỄN VI SƠN : BẠN TÔI , ANH TRẦN QUANG HẢI


 
tran quang hai ở Slovenie 2011
 
 
     
 
 
 
 
 

 

Kính thưa quý bạn:

      Bấy nhiêu là hình ảnh, bấy nhiêu là kỷ niệm, và bấy nhiêu đoạn đường đã đi qua của một người mang tên Trần Quang Hải. Mà chúng cũng thể hiện cái đa dạng của tài hoa Trần Quang Hải.

Xin những hình ảnh này, những  gì đã mang đến cho tôi  bao cảm xúc , sẽ làm tôi  luôn nhớ  mãi anh Hải là một Người Việt Nam, và là một người bạn. Mà tôi muốn nhắc  lại một lần nữa, anh là một người Việt Nam. Một người Việt Nam để cho tôi, để cho bạn hãnh diện vì những cống hiến của anh cho cuộc đời, cho nhân loại. Những Bẳng Legion d’Honneur do Tổng Pháp trao tặng, những âm thanh kỳ ảo cuả đàn muỗng, cuả đàn môi, cũa đàn tranh, đàn thập lục, đàn Tây Ban Cầm.   và thêm nữa những dấu chân anh cùng người yêu một đời Bạch Yến trên khắp năm Châu, Bốn Bể, cũng không làm sao nói hết sự nghiệp của anh, tình yêu của anh cái tinh hoa của anh hiến tặng cho đời.

Dear friends:

The above pictures carry with them so many memories, bringing back the scenery of  so  many byways and highways a man named Trần Quang Hải had covered in his memorable and outstanding life. They are also the embodiment of the multi facet talents of this amazing artist and scholar.

These images, which have brought to me so much emotion, have been a constant reminder that my friend Trần Quang Hải is a Vietnamese and a great friend. And I have to repeat one more time, yes Hải is a VIETNAMESE – a Vietnamese you and me will always be proud of,  be inspired by, due to the many contributions he has brought to life and to humanity. The highest honor bestowed on  him by the French President, the enchanting albeit mysterious sounds of so many different  musical instruments he played , along with the imprints left behind by him and his beloved spouse Bạch Yến will never be enough to reflect the exquisite, the most achieved gift that he had contributed to life.

Dear Hải: It’s a Joy and an Honor I call you a Friend. And what a Great friend to have in this life!.

Vi Sơn

Mes chers amis:

Les images ci-dessus emportent avec elles tellement de souvenirs. Elles me font penser à toutes les tronçons de chemins divers  parcourus par un home nommé Trần Quang Hải. Elles reflètent aussi les aspects multiples d’un talent si rare.

Ces images qui m’ont apporté tellement d’émotions, sont aussi un rappel constant dans mon coeur que Trần Quang Hải est un Vietnamien et un grand ami. Et je dois répéter une fois de plus que Hải est Vietnamien. Un Vietnamien à inspirer à vous et à moi un sentiment superbe de fierté quand on pense à toutes les contributions que cet artiste, ce érudit a contribué à la Vie, à l’Humanité. La Légion d’Honneur que  le Président de la République Française lui a offert, les sons enchanteurs et ésotériques inculqués dans les pièces de musique qu’il a interprétées, les longues routes quil a parcourues avec  sa belle épouse Bạch Yến ne seront jamais assez à refléter ce don si rare, ce cadeau si précieux qu’il a apporté à nous tous.

 

Cher Trần Quang Hải, c’est avec joie et honneur que je t’appelle: MON AMI.

Vi Sơn

 
Xin ghi lại đây đôi dòng về cuộc đời anh:
 

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã , tỉnh Gia Định, miền Nam nước Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê (sinh ngày 24 tháng 7, 1921) và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn trường nữ trung học Gia Long (sinh ngày 19 tháng 9, 1921).

Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17 tháng 6, 1978 tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc ngoại quốc Tây phương lúc đầu của sự nghiệp cầm ca . Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải , Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới .

Xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời, anh là nhạc sĩ đời thứ năm . Ngoài ra anh là dân tộc nhạc học gia (ethnomusicologist – ethnomusicologue) chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, thuyết trình viên , nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, và thành viên của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique)

 

 

Vài dòng về khuôn mặt Trần Quang Hải. Anh đã theo gót cha anh , GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu dân tộc nhạc học. Anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh .

 

Gia đình nhạc sĩ cổ truyền

Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ của là quan án sát, theo Phan Thanh Giản sang Pháp để thương thuyết nhưng thất bại , treo ấn từ quan , vào Nam , cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. là người có trình độ đáng nói về nhã nhạc Huế .

2. Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố của TQH là người rất giỏi về đàn tỳ bà , được gởi ra thành nội Huế để học nhạc cung đình và chuyên về đàn tỳ bà . Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho đàn tỳ bà , nhưng tiếc thay là tất cả tài liệu đó bị thất lạc vì chiến tranh .

3. Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội của tôi là người đàn kìm rất giỏi, biệt hiệu Bảy Triều trong giới cải lương, đã đặt ra cách lên dây TỐ LAN cho đàn kìm để đàn những bài buồn ai oán. Hiện nay chỉ còn một số rất ít nhạc sĩ cổ nhạc biết đàn dây này (như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo , GS Trần Văn Khê)

4. Trần Văn Khê (1921 – ), ba của tôi là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng quốc tế và làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới ở địa hạt trình diễn cũng như nghiên cứu . Con trai trưởng trong gia đình có ba người con (ba tôi GS Trần Văn Khê, chú ba tôi là Quái kiệt Trần Văn Trạch, cô tư tôi là Trần Ngọc Sương từng nổi tiếng là ca sĩ tân nhạc vào đầu thập niên 50) , ông đã hăng hái trong phong trào nhạc mới lúc trẻ (cùng thời với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Phạm Duy) và quay về nhạc cổ khi soạn luận án tiến sĩ tại Pháp . Từng là giáo sư nhạc Đông phưong tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Paris , Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, và từng giữ chức phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO . Hưu trí từ năm 1987, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu và đóng góp một vai trò lớn cho hai hồ sơ Nhạc cung đình Huế (được danh hiệu kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Hiện ông định cư ở Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và đang là cố vấn cho hồ sơ Ca Trù để đệ trình lên UNESCO cho năm 2007 dành cho kiệt tác văn hóa phi vật thể .

5. Trần Quang Hải (1944 – ) , cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Saigon với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), đi sang Pháp năm 1961 và học nhạc học tại trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở trường cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). Bắt đầu làm việc cho trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với ê-kíp nghiên cứu tại Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới bây giờ (2006). Trình diễn trên 3,000 buổi tại 65 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác nhạc hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng , hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại . Đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 3 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới .Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng , jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ.

 

Sáng tạo một số kỹ thuật mới cho muỗng được thấy ở Việt Nam vào cuối thập niên 40 (gần 70 năm).Ngoài ra đã khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh từ năm 1969 và hiện nay được xem như chuyên gia có được nhiều giới nghiên cứu về dân tộc nhạc học, âm thanh học, nhạc đương đại, y học biết tới khắp nơi trên thế giới .

 

Thể nghiệm nhiều loại nhạc với tư cách nhạc sĩ. Đã từng chơi nhạc Free Jazz với nhóm Alain Brunet Quartet), nhạc pop, nhạc điện thanh (electro- acoustical music) qua bài Về Nguồn (soạn chung với Nguyễn Văn Tường được trình bày lần đầu tiên năm 1975 tai Champigny sur Marne, Pháp), nhạc tùy hứng (hợp tác với Arlette Bon vũ sư đương đại năm 1972, với Muriel Jaer, vũ sư đương đại nhiều năm từ 1973 tới 1980, qua bài Shaman với Misha Lobko vào năm 1982, Paris).

Cộng tác trình diễn trong các dĩa CD như với Philip Peris (tôi chơi đàn môi và hát đồng song thanh hòa với kèn thổ dân Úc didjeridu năm 1997), với các nhạc sĩ đàn môi qua hai CD về đàn môi năm 1999 và một CD đàn môi với John Wright, Leo Tadagawa và Svein Westad năm 2000. Dĩa VIETNAM / TRAN QUANG HAI & BACH YEN do hãng SM Studio sản xuất tại Paris năm 1983 đã đưọc giải thưỏng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1983, và dĩa LES VOIX DU MONDE do hãng Le Chant Du Monde sản xuất năm 1996 tại Paris cũng được giải thưởng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1996.

 

Hội Viên các hội nghiên cứu

 

• Society for Ethnomusicology (Hội Dân tộc nhạc học), Hoa Kỳ, từ 1969

• Asian Music Society (Hội Nhạc Á châu), Hoa Kỳ, từ 1978

• ICTM (Hội đồng quốc tế nhạc truyền thống), Hoa Kỳ, từ 1976

(đưọc bầu làm thành viên của ủy ban chấp hành – member of the Executive Board từ 2005)

• Société Internationale de Musicologie (Hôi quốc tế nhạc học), Thụy Sĩ, từ 1977

• International Association of Sound Archives (IASA) (Hội quốc tế âm thang viện), Úc châu từ 1978

• Association of the Foundation of Voice (Hội về Giọng), Hoa Kỳ từ 1997

• Société de Musicologie (Hội nhạc học), Pháp, từ 1980

• Société Francaise d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Pháp) từ 1985 (sáng lập viên)

• CIMCIM (Unesco) từ 1983

• Séminaire Européen d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Âu châu), Thụy Sĩ , từ 1983.

• Association Francaise d’Archives sonores (Hội âm thanh viện Pháp) từ 1979

• Centre d’Etudes de Musique Orientale (Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương), Paris, từ 1962 (giáo sư của trung tâm từ 1970 tới 1975)

• Centre d’Etudes Vietnamiennes (Trung tâm nghiên cứu Việt học), Pháp ,từ 1987

• Association Francaise de Recherche sur l’Asie du Sud-Est (Hội nghiên cứu Đông Nam Á Pháp), Pháp từ 1986.

• Société des Auteurs , Compositeurs et Editeurs de la Musique (SACEM) , Pháp, từ 1980

• International Center of Khoomei (Trung tâm quốc tế Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga từ 1995.

• International Jew’s Harp Society (Hội quốc tế Đàn Môi) , Áo quốc, từ 1998 (sáng lập viên)

• Scientific Association of Vietnamese Professionals (Hội khoa học chuyên gia Việt Nam) (hội viên danh dự) , Canada từ 1992.

• Vietnamese Institute for Musicology (Viện Âm nhạc Hà nội), Việt Nam từ 2004, (hội viên danh dự)

• American Biographical Institute and Research Association (ABIRA) , Hoa kỳ, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)

• International Biographical Association (IBA), Anh quốc, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)

• Encyclopaedia Universalis Tự điển, Pháp, từ 1985 (cố vấn cho giải thưởng Diderot)

• American Order of Excellency, Hoa Kỳ, từ năm 1998 (sáng lập viên)

• World Wide Library, Hoa Kỳ (thành viên).

• Vietnamese Public Library of Knowledge (ViPLOK) (founding member of the editorial board), Hoa Kỳ từ 2006.

 

NHỮNG QUYỂN SÁCH CÓ TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI

 

Sau đây là những quyển tiểu sử Who’s Who và các quyển sách khác có đăng tiểu sử của tôi :

• Dictionary of International Biography, ấn bản thứ 15, Anh quốc

• Men of Achievement, ấn bản thứ 5, 6, và 7, Anh quốc

• International Who’s Who in Music, từ ấn bản thứ 8 cho tới hiện nay (2008), Anh quốc

• Who’s Who in Europe, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc

• Men and Women in Distinction, ấn bản thứ 1 và 2, Anh quốc

• International Register of Profiles, ấn bản thứ 4 và 5 , Anh quốc .

• International Who’s Who of Intellectuals, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc

• The First Five Hundred, ấn bản thứ nhất, Anh quốc

• Who’s Who in the World, từ ấn bản thứ 5 tới nay (2008), Hoa Kỳ

• 5,000 Personalities in the World, ấn bản thứ nhất, Hoa kỳ

• International Directory of Distinguished Leadership, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• International Book of Honor, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• Who’s Who in Entertainment, ấn bản thứ 3, Anh quốc

• Who’s who in France, từ ấn bản thứ 29 tới nay (2008), Pháp

• Nouvelle Dictionnaire Européen, từ ấn bản thứ 5 tới ấn bản thứ 9, Bỉ

• Who’s Who in International Art, ấn bản thứ nhất, Thụy Sĩ

• Vẻ Vang Dân Việt – The Prid of the Vietnamese, quyển 1, ấn bản thứ 1 và 2, Hoa Kỳ

• Fils et Filles du Viet Nam , ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• Tuyển tập nghệ sĩ (Selection of Artists), quyển 1, Canada

• Guide du Show Business, từ 1986 tới nay (2008), Pháp

• The Europe 500 Leaders for the New Century, Barons Who’s Who, Hoa Kỳ

• QUID, từ 2000 tới nay (2008) , Pháp

• 500 Great Minds of the Early 21st Century, Bibliotheque World Wide, Hoa Kỳ

• Officiel Planète,từ năm 2000 tới nay (2008), nhà xuất bản IRMA, Pháp

 

NHỮNG BIẾN CỐ QUAN TRỌNG TRÊN THẾ GIỚI

 

Nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên tham gia trình diễn tại những biến cố lịch sử quan trọng trên thế giới

• 1988 : 200 năm thành lập xứ Úc

• 1989 : 200 năm Cách mạng Pháp

• 1991 : 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ

• 1992 : 350 năm thành lập thành phố Montréal, Canada

• 1992 : 500 năm khám phá Mỹ châu của Chritophe Colombus

• 1994 : 600 năm thành lập thủ đô Seoul, Đại Hàn

• 1996 : 50 năm vua Thái Lan trị vì

• 2000 : 100 năm thành lập âm thanh viện Berlin, Đức

• 2004 : Genova , thành phố văn hóa Âu châu, Ý

• 2004 : Lille , thành phố văn hóa Âu châu, Pháp

• 2005 : 100 năm xứ Na Uy được độc lập .

 

Nhạc sĩ Việt Nam tham gia nhiều nhất Ngày Lễ Âm nhạc do Pháp đề xướng từ lúc đầu tiên vào năm 1982, rồi năm 1984, 1985 , 1987, 1989 tại Paris, rồi năm 1991 tại đảo La Réunion, rồi năm 2000, 2001 tại Paris, năm 2002 tại Beirut (Lebanon)

 

Nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đàn nhạc phim của các nhà viết nhạc phim của Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit , và trình diễn những nhạc phẩm đương đại của các nhà soạn nhạc như Nguyễn Văn Tường, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard.

 

Nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3.000 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 quốc gia từ năm 1966, 1.500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy tại hơn 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8.000 người theo học hát đồng song thanh .

 

Mở mắt chào đời tại vùng châu thổ sông Cửu Long (miền Nam Việt Nam), Bạch Yến gia nhập làng ca nhạc khi còn nhỏ tuổi và sớm nổi tiếng tại Saigon với giọng hát đặc biệt trầm mặc dù giọng thuộc loại cao (mezzo soprano), ngân nga phong phú qua những nhạc phẩm Việt Nam bất hủ như “Đêm Đông” và các nhạc phẩm ngoại quốc hát bằng tiếng Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Ý hoặc Do Thái.

Năm 1961, Bạch Yến sang Paris để trau dồi nghệ thuật. Được hãng dĩa Polydor mời thâu và đưa đi trình diễn một vòng qua Bỉ, Đức và Áo . theo giao kèo, Bạch Yến phải hát loại nhạc twist thịnh hành lúc bấy giờ. thời gian ở Âu châu này được đánh dấu bởi ba dĩa hát và vài đoạn phim scopitones (như clips hiện giờ)

Năm 1965, Bạch Yến được Ed Sullivan mời sang Hoa kỳ tham gia chương trình truyền hình ăn khách nhất xứ Mỹ (với trên 30 triệu khán giả). Một hợp đồng hai tuần với Ed Sullivan Show đã trở thành 12 năm lưu diễn khắp 46 tiểu bang xứ Bắc Mỹ với những danh ca nghệ sĩ thượng thặng như Bob Hope, Bing Crosby, Jimmy Durante, Liberace, Pat Boone, Frankie Avalon, Joey Bishop, Mike Douglas, và một số quốc gia Mỹ Châu như Gia nã đại (Canada), Mễ Tây Cơ (Mexico), xuất hiện trên các đài truyền hình Nam Mỹ, Caracas /Venezuela, Bogotá /Colombia,  đài truyền hình Panama /Trung Mỹ và Curaçao (Antille).

Mike Wayne mời Bạch Yến về Hollywood để hát trong phim “Mũ nồi xanh” (The Green Berets) do tài tử John Wayne đóng vai chánh.

Lúc Bạch Yến tái ngô. Paris cũng là lúc cuộc đời và sự nghiệp của Bạch Yến bước vào một giai đoạn mới cực kỳ quan trọng với sự gặp gỡ nhạc sĩ kiêm nghiên cứu dân tộc nhạc học gia Trần Quang Hải, sau trở thành phu quân của BạchYến.

Trần Quang Hải thuyết phục Bạch Yến trở về với nhạc dân tộc Việt Nam và kết quả là hai người đã cùng nhau trình diễn trên 3.000 buổi hát dân ca khắp năm châu, mặc dầu thỉnh thoảng Bạch Yến vẫn hát tân nhạc để đáp lại tấm thạnh tình của những người hâm mộ mình.

Hai người đã thâu chung 7 dĩa hát 33vòng, và một dĩa laser, với một dĩa trong đó được giải thưởng Grand Prix du disque de l’Académie Charles Cros năm 1983.

Tran Quang Hai biêu diên dàn môi, muông và hat dông song thanh

http://www.youtube.com/watch?v=okdYHbzTyjk

Tran Quang Hai  dàn tranh

http://www.youtube.com/watch?v=aFJlXmMYmsg

Bach Yen hat Ghen và nhay claquettes

http://www.youtube.com/watch?v=OARn3CLRjAk

Bach Yen hat Di Voi Tôi

http://www.youtube.com/watch?v=vr4cX0C5zEQ&feature=related

Trần Quang Hải đánh đàn Muỗng

https://www.youtube.com/watch?v=CtOl3HGjU3k

Trần quang Hải-Roger Mason “giao tranh” đàn Muỗng

https://www.youtube.com/watch?v=xoIZu211bE8

Trần Quang Hải et ses Études sur les Chants Harmoniques

http://videotheque.cnrs.fr/video.php?urlaction=visualisation&method=QT&action=visu&id=606&type=grandPublic

XIN CÁM ƠN TRẦN QUANG HẢI ĐÃ CHO TÔI ĐƯỢC LÀ BẠN CỦA ANH.

Thân mến,

Vi Sơn

Trần Quang Hải : 5 đời nhạc sĩ họ TRẦN


Trần Quang Hải : 5 đời nhạc sĩ họ TRẦN

Ở xứ Việt Nam, khi học nhạc cổ truyền là phải học theo lối truyền khẩu, một lối học rất được phổ biến khắp Á Châu. Ngày xưa, học trò thường đến nhà thầy, ở đó học cho tới lúc thành tài, có khi 5 năm, 10 năm, hay lâu hơn nữa tùy theo học mau hay chậm. Khi nào thầy thấy học trò đủ sức, hấp thụ đầy đủ những bí quyết của môn mình đang học thì lúc đó mới ra về, mới được thầy cho “xuống núi”. Khi ở nhà thầy, công việc làm hàng ngày là giúp việc trong nhà, như làm vườn, quét dọn nhà, làm tất cả công việc của một người giúp việc. Tối nào thầy hứng lấy đàn ra dạo, hay đàn bài bản, học trò thường lắng tai nghe để thấm nhuần các ngón đàn của thầy. Khi nào thầy vui, thầy gọi một học trò để dạy, chỉ cách nhấn cho đúng với điệu của bài bản. Chính vì học theo phương pháp này mà học trò mất nhiều năm để được đào tạo thành một nhạc sĩ .

Sự khó khăn gian truân trong cách học nhạc cổ truyền, thêm vào đó sự coi thường của xã hội Việt Nam thời phong kiến cho rằng đàn hát là “xướng ca vô loài” nên số người học nhạc không có bao nhiêu người. Ngành nhạc chỉ dành để giải trí, và nhạc sĩ không được đi thi để trở thành quan trong triều đình. Chính vì thế, tìm được một gia đình nhạc sĩ nhiều đời ở Việt Nam không phải là chuyện dễ !

Ở Việt Nam có một vài gia đình nhạc sĩ trong lĩnh vực tân cổ nhạc.

Gia đình nhạc sĩ Lữ Liên lúc đầu chuyên về nhạc cổ vơí cây đàn nhị qua tài nghệ của nhạc sĩ Lữ Liên (từ trần tại tiểu bang California, Hoa kỳ). Các con của ông chuyển sang ngành tân nhạc Việt và nhạc ngoại quốc từ lúc ở Sài Gòn trước 1975 và đã nổi tiếng như nữ ca sĩ Bích Chiêu (cùng thời với Bạch Yến, Thanh Thúy, hiện sống tại tỉnh Orléans, Pháp sau khi bôn ba nơi hải ngoại từ năm 1963 ở Pháp, rồi Ý đại lợi, rồi nay trở lại Pháp), Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Anh Tú (từ trần), Lưu Bích, ban nhạc Uptight (tất cả đều nổi tiếng trong cộng đồng Việt và cư ngụ tại vùng Nam California từ hơn 37 năm nay).

Gia đình nhạc sĩ Phạm Duy cũng là một ngoại hạng. Nhạc sĩ Phạm Duy (sinh năm 1921, từ trần năm 2013) là một nhạc sĩ có một sức sáng tác hiếm có (trên 1000 ca khúc trong đó hàng trăm bản nhạc đã chinh phục cả ba thế hệ Việt Nam). Vợ ông là nữ ca sĩ Thái Hằng (từ trần) lúc trước đã hát trong ban hợp ca Thăng Long với các anh em Hoài Trung, Hoài Bắc (đã từ trần tại California và còn là nhạc sĩ sáng tác nổi danh dưới tên Phạm Ðình Chương có vợ là nữ ca sĩ Khánh Ngọc) và Thái Thanh (các con của nữ danh ca Thái Thanh là Ý Lan và Quỳnh Hương đã chinh phục giới yêu nhạc Việt ở hải ngoại từ năm 1991. Gần đây hơn, Mai Linh, con gái lớn của Ý Lan, vào nghề ca hát và đã tạo cho mình một chỗ đứng có nhiều triển vọng). Các con của Phạm Duy – Thái Hằng lập ra ban nhạc kích động trẻ The Dreamers ở Sài Gòn vào cuối thập niên 60. Ban nhạc này vẫn còn vang tiếng khi sang Hoa Kỳ vào đầu thập niên 80 cho tới đầu thập niên 90 thì rã. Các con của Phạm Duy đã tạo một ngôi vị vững chắc trong làng tân nhạc Việt ở hải ngoại như nam ca sĩ Duy Quang ( từ trần cuối năm 2012 tại California, đã từng là chồng của nữ ca sĩ Julie – mang tên Julie Quang khi sống với Duy Quang), các ca sĩ Thái Hiền, Thái Thảo (có chồng là nam ca sĩ Tuấn Ngọc thuộc gia đình nhạc sĩ Lữ Liên), Thái Hạnh. Nhạc sĩ Duy Cường chuyên về hòa âm, và trở thành người hòa âm của tất cả các bản nhạc của cha (Phạm Duy) và soạn hòa âm cho hàng nghìn bản nhạc cho các ca sĩ Việt ở California. Phạm Duy và các con hiện nay sống ở Việt Nam

Gia đình nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ (từ trần) với vợ là nữ ca nhạc sĩ Thúy Nga (nổi tiếng một thời với chiếc phong cầm, còn sinh hoạt trong những năm đầu sang Mỹ và sau đó từ giã sân khấu luôn). Con và cháu là Hoàng Thi Thi, Hoàng Thi Thao từng nổi tiếng thần đồng vĩ cầm ở Việt Nam và tiếp tục đàn vĩ cầm cho các ban nhạc Việt Nam trong cộng đồng Việt tại California.

Nhạc sĩ Thu Hồ (từ trần tại Hoa kỳ) cũng là ca sĩ nổi tiếng ở Việt Nam có một cô con gái trở thành ca sĩ Mỹ Huyền tạo sự nghiệp tại California từ khi sang Mỹ.

Gia đinh Phạm Nghệ (hiện ở Hoa Kỳ) chuyên về nhạc cổ điển.

Gia đình nhạc sĩ vĩ cầm Nguyễn Khắc Cung (từ trần ở Pháp) chuyên về nhạc cổ điển Tây phương.

Gia đình nhạc sĩ thôỉ sáo Nguyễn Ðình Nghĩa (từ trần ở Virginia, Hoa kỳ) chuyên về nhạc cổ Việt Nam với các con giỏi về các loại đàn Việt, đã đi trình diễn nhiều nơi tại Mỹ từ năm 1982.

Về phía cải lương, cặp nghệ sĩ Việt Hùng-Ngọc Nuôi (cả hai từ trần) nổi tiếng trong giới hát cải lương từ nhiều năm qua, có các con đi về phía tân nhạc nổi tiếng một thời qua ban nhạc The Crazy Dog, và nữ ca sĩ Bích Ngọc tạo một chỗ đứng trong giới nhạc trẻ. Nghệ sĩ Hữu Phước (từ trần năm 1997 tại Pháp) nổi tiếng là người hát mùi 6 câu vọng cổ và đóng tuồng làm rơi nước mắt người xem, có nhiều con nhưng chỉ có Hương Lan là nổi tiếng nhất và là ca sĩ từ cổ nhạc sang tân nhạc thành công và giữ địa vị ca sĩ hàng đầu trong ngành ca hát Việt Nam ở hải ngoại. Hương Thanh, em gái của Hương Lan, nổi tiếng trong địa hạt dân ca ở Pháp và Âu châu với sự cộng tác của nhạc sĩ Jazz Nguyên Lê tạo một hướng đi mới trong nhạc Việt .

Tìm đuợc một dòng họ năm đời nhạc sĩ nhạc cổ truyền có thể nói là hiếm có lắm. Tôi được may mắn sinh trưởng trong một gia đình có tới 5 đời nhạc sĩ cổ truyền, và mỗi đời có những bước tiến “canh tân”, có những đóng góp vào việc bảo tồn, bảo lưu, duy trì và phổ biến nhạc Việt cổ truyền khắp nơi trên thế giới.

Ðời thứ nhứt: Nhạc sĩ nhạc cung đình Huế

Người khởi xướng truyền thống nhạc của gia đình họ Trần là ông sơ của tôi, tên là Trần Quang Thọ (1830-1890). Ông là nhạc sĩ của ban đại nhạc triều đình Huế, dưới thời vua Tự Ðức. Cụ mang cả gia đình vào trong Nam và định cư tại làng Vĩnh Kim, thuộc tỉnh Mỹ Tho, cạnh bên sông Sầm Giang (được nổi tiếng nhờ tên ban kịch Sầm Giang của chú tôi là Trần Văn Trạch). Cụ chỉ là một nhạc sĩ chuyên nghiệp, sử dụng cây đàn tỳ bà, đàn nhị, và các loại trống. Chính cụ đã mang truyền thống nhạc miền Trung và Ca Huế vào trong Nam để sau này biến thành loại nhạc đàn tài tử miền Nam.

Ðời thứ nhì : Nhạc sĩ sáng tác bài bản, sáng chế cách ghi bài bản cổ

Ông cố tôi, Trần Quang Diệm (1853-1925) là người con thứ tư trong gia đình có 7 ngươì con. Ông có khiếu về nhạc nhất trong gia đình. Chính ông là người duy trì truyền thống nhạc trong gia đình. Ðàn tỳ bà rất giỏi, được gởi ra thành nội Huế để học loại nhạc Ca Huế (một loại nhạc thính phòng với bài bản khác với bài bản của dàn đại nhạc và tiểu nhạc). Ông cố tôi được nổi tiếng khắp vùng lục tỉnh về tài đàn tỳ bà. Ông đã sáng tác một số bài bản cho đàn tỳ bà, nhưng đã thất truyền sau một lần cháy nhà. Ông đã nghĩ ra cách ghi chia phân nhịp trong các bài cổ nhạc để dễ dạy cho học trò. Ông có sáng tác 8 bài Ngự trong số 10 bài Ngự để đón tiếp vua Thành Thái lúc vua vào thăm viếng miền Nam. Trong thời của ông có hai ông nhạc sĩ khác nổi tiếng về nhạc miền Nam là Nguyễn Liên Phong và Nguyễn Tòng Bá. Hai luồng âm nhạc của ông cố tôi và của hai nhạc sĩ này đã làm phát sinh ra nhạc đàn tài tử miền Nam.

Ðời thứ ba:Nhạc sĩ sáng tạo

Ông cố tôi có 7 người con, nhưng chỉ có hai người là có năng khiếu về âm nhạc. Người con thứ nhì là Bà Cô Ba của tôi, tên là Trần Ngọc Viện (1885-1944), và ông nội tôi là Trần Quang Triều (1897-1929), người con thứ sáu có biệt danh là Bảy Triều. Trên khai sanh tên là Trần Văn Chiều vì lúc làm giấy khai sanh, người thơ ký trong làng đã tự ý đổi lại thành Chiều thay vì Triều. Chữ lót họ cũng đổi luôn, nhứt là vào thời đó, trong làng xã miền Nam, hễ con trai thì cho chữ Văn, và con gái thì dùng chữ lót Thị . Bà Cô Ba của tôi đàn tỳ bà theo truyền thống Huế và rất giỏi về đàn tranh. Bà là người đã thành lập một đoàn cải lương với các nghệ sĩ toàn là nữ giới, lấy tên là gánh Nữ Ðồng Ban (1927-1929). Ðây có thể nói là một gánh hát duy nhứt trong lịch sử cải lương Việt Nam là nghệ sĩ toàn là đàn bà. Các cô thiếu nữ toàn là con gái con nhà lành trong làng. Bà Cô của tôi bắt các cô phải học chữ ban ngày, tập đánh võ, múa côn, múa kiếm, luyện giọng. Ông thầy tuồng tên là Nguyễn Tri Khương (mất vào năm 1962), anh ruột của bà Nội của tôi, là người con thứ tư trong gia đình họ Nguyễn (dòng dõi Nguyễn Tri Phương), tôi gọi là ông Cậu Năm. Ông Cậu Năm là một nhạc sĩ rất có tài chẳng những thổi sáo điêu luyện, làu thông tất cả những nhạc khí đàn dây và trống. Ông lại sở trường viết những bài bản mới. Chính trong vở tuồng ” Giọt lệ chung tình” (1927), ông đặt một số bài bản mới như “Phong Xuy Trịch Liễu”,”Yến Tước Tranh Ngôn”, “Thất Trỉ Bi Hùng “, “Bắc Cung Ai ” mà dường như chỉ được lưu truyền trong gia đình mà thôi , mặc dù âm điệu rất phong phú. Số phận của những bài bản nầy giống như mấy mươi bài của thầy ký Trần Quang Quờn, có lẽ sẽ bị mai một đi. Người anh của ông Cậu Năm là ông cậu Tư Nguyễn Tri Lạc rất sành về nhạc lễ và các tiết tấu trong các loại nhạc lễ. Ông là cụ thân sinh của cố nhạc sĩ tài danh Nguyễn Mỹ Ca, nổi tiếng qua nhạc phẩm “Dạ Khúc “. Ông Nội của tôi, Trần Quang Triều (1897-1931) giỏi về đàn kìm. Lúc đó, ông học ở trường trung học Chasseloup Laubat của Pháp ở Sài Gòn. Tôi được nghe kể lại rằng lúc nhỏ ông Nội tôi giỏi về môn thôi miên, thường hay dùng môn này để làm cho các ông giám thị ngủ hết để ngồi chơi trong lớp hay đàn kìm. Ông có chế ra cách lên dây đặt tên là dây Tố Lan, được giới cải lương “dâyTố Lan của ông Bảy Triều “. Cách lên dây của hai dây đàn kìm cách nhau một quãng bảy thứ (Do-Sib) tạo một không khí buồn ảo não khi đàn. Một trong những người học trò ngoài gia đình được nhiều người biết là ông thân của nhạc sư đàn tranh Nguyễn Vĩnh Bảo. Ông Nội tôi không may mất sớm thành ra không thể phát triển cách lên dây Tố Lan cho đàn kìm được rộng rãi hơn. Hai gia đình nhạc sĩ Trần và Nguyễn phối hợp lại với nhau đã làm phát sinh ra một truyền thống âm nhạc gia đình ngày càng phong phú. Ðời thứ ba đã cho thấy rằng ảnh hưởng nhạc Tây phương đã xâm nhập một phần nào vào trong nền âm nhạc cổ miền Nam. Ông Cậu Năm Nguyễn Tri Khương có viết lời Việt cho những bản nhạc Pháp thịnh hành thời đó như “La Madelon”, “La Marseillaise “. Em của ông Cậu Năm biết đàn lục huyền cầm móc phím, và một người khác biết kéo vĩ cầm Tây phương. Cả hai nhạc khí Tây phương bắt đầu đượcdùng trong nhạc đàn tài tử miền Nam.

Ðời thứ tư : Nhạc sĩ hướng về Tây phương và nghiên cứu

GSTS TRẦN VĂN KHÊ

Ông bà Nội tôi có ba người con: ông thân tôi là Trần Văn Khê (sinh năm 1921, hiện sống tại TP HCM, Vietnam), chú tôi là Trần Văn Trạch (sinh năm 1924 – mất năm 1994 tại Pháp), và cô tôi là Trần Ngọc Sương (sinh năm 1926, hiện sống ở Montréal, Canada)tran ngoc suong.

Cô tôi cũng đã từng đi hát thời các ca sĩ Mộc Lan, Kim Tước, Minh Trang dưới danh hiệu là ca sĩ Thủy Ngọc, có thu một vài dĩa 78 vòng, đã tạo cho mình một chỗ đứng trong làng tân nhạc, nhưng đã giải nghệ vào khoảng 1950.

Chú tôi được mệnh danh là Quái Kiệt Trần Văn Trạch.Image Lúc nhỏ có học đàn tỳ bà và đàn rất hay, và cũng có khiếu ca cổ nhạc rất mùi, không thua gì cố nghệ sĩ Năm Nghĩa thời 30. Nhưng có lẽ vì hoàn cảnh nên mới dấn thân vào ngành ca hát. Khởi đầu mở một phòng trà nhỏ (loại salon de thé) ở đường Lagrandière. Sau đó, khoảng 1947-48, chú Trạch hoạt náo và hát tại dancing Théophile ở vùng Dakao. Các bài nhạc hài hước đầu tiên do chú Trần Văn Trạch hát là do nhạc sĩ Lê Thương viết ra vào năm 1948-49 (Hòa Bình 48, Liên Hiệp Quốc ).

Các chương trình phụ diễn tân nhạc trên sân khấu xiệc, hát bóng, và danh từ đại nhạc hội là do chú Trạch đề xướng ra ở Sài Gòn từ đầu năm 1950. Chú đã trở thành một ca sĩ hài hước ngoại hạng nổi tiếng qua các bản diễu như “Anh Phu Xích Lô” (1951), “Chuyến Xe Lửa Mùng 5” (1952), “Cái Tê Lê Phôn”, “Cái Ðồng Hồ Tay”, “Anh Chàng Thất Nghiệp”, “Cây Bút Máy”, “Ðừng Có Lo”. Hai bài nhạc không hài hước nhưng rất được phổ biến là “Chiến Xa Việt Nam” (1952), và “Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia” (1952). Ban nhạc Sầm Giang đã có mặt trên đài phát thanh Pháp Á từ 1950 tới 1954, quy tụ một số nhạc sĩ gạo cội như cố nhạc sĩ Võ Ðức Thu, Khánh Băng, về sau có Nghiêm Phú Phi (hiện sống tại Orange County, California, Hoa kỳ), các ca sĩ nổi tiếng thời đó như Trần Văn Trạch, Ngọc Sương, Ngọc Hà, Tôn Thất Niệm, Linh Sơn, Mạnh Phát, Minh Diệu, Túy Hoa, Tâm Vấn. Ðến năm 1953, có thêm những bộ mặt mới như nữ kịch sĩ Bích Thuận, ban Thăng Long, Duy Trác, Tùng Lâm, và ……em bé Bạch Yến ( trở thành người bạn “đồng hành và đồng chí” của tôi sau này). Ngoài lĩnh vực âm nhạc, chú Trần Văn Trạch còn là người làm phim Việt đầu tiên ở miền Nam. Hai cuốn phim Lòng Nhân Ðạo (1955) với Trần Văn Trạch, Kim Cương, Hà Minh Tây (sống ở Paris), và Giọt Máu Rơi (1956) với Trần Văn Trạch và Kim Cương do hãng phim Mỹ Phương sản xuất. Sau đó chú Trạch lập ra hãng phim Việt Thanh và có làm đạo diễn cho hai cuốn phim cổ tích Thoại Khanh Châu Tuấn (1956) với Kim Cương và Vân Hùng, và Trương Chi Mỵ Nương (1956) với Trang Thiên Kim và La Thoại Tân.

Chỉ có thân phụ tôi, Trần Văn Khê (1921 – ) là người duy nhứt trong dòng họ Trần đã học nhạc cổ đàng hoàng và đã phát huy nhạc Việt Nam ra ngoài biên giới Việt. Lúc nhỏ Ba tôi đã được ông Cố tôi dạy cho cách tụng kinh Phật giáo, lại được nghe những buổi hòa đàn trong gia đình, gặp những nhạc sĩ tài danh thời đó, nên Ba tôi dễ hấp thụ những “ngón đờn nhức xương” trong cổ nhạc Việt. Ba tôi đã học đàn kìm với ông Nội tôi, học đàn tỳ bà và đàn tranh với bà cô Ba, học trống với ông Cậu Tư Nguyễn Tri Lạc, học lý thuyết nhạc cổi Việt với ông Cậu Năm Nguyễn Tri Khương, học đàn lục huyền cầm móc phím với một ông cậu khác, học măng cầm và nhạc lý hòa âm Tây phương ở trường trung học Petrus Ký tại Sài Gòn.

Thừa hưởng hai truyền thống âm nhạc Ðông và Tây, phong trào nhạc Tây phương đang bành trướng mạnh và giới trẻ thời đó nghĩ rằng Âu hóa nhạc Việt mới là tiến bộ. Bởi thế cho nên, lúc còn là học sinh trung học, mỗi lần về làng Vĩnh Kim, Ba tôi thường cùng bác Mỹ Ca (chuyên đờn violon) hòa đàn. Hai người thường biểu diễn đàn cổ nhạc với cây đàn lục huyền cầm móc phím do Ba tôi đờn với bác Mỹ Ca đờn violon. Dân làng tề tựu đông đảo trước sân nhà để nghe mấy “cậu Sài Gòn” biểu diễn nhạc khí lạ.

Song song với việc đổi mới trong cách sử dụng nhạc khí, Ba tôi còn đờn những bài nhạc mới do tầng lớp sinh viên trẻ đang tập tành sáng tác. Lúc đó vào khoảng 1936-37. Ba tôi rất hăng hái trong việc “canh tân” nhạc Việt. Từng làm trưởng ban văn nghệ ở trường Petrus Ký, sau ra Hà Nội học trường thuốc, quán xuyến vai tuồng nhạc trưởng ban nhạc trường đại học Hà Nội vào năm 1942-43. Sau đó, Ba tôi thành hôn cùng Má tôi (bà Nguyễn Thị Sương ,Image giáo sư trường nữ trung học Gia Long , Saigon từ năm 1955 tới 1976 và trường hội Việt Mỹ cũng tại Saigon).

Chính trong thời gian thế chiến thứ hai, Ba tôi có phổ nhạc bài thơ “Ði Chơi Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp vào năm 1943 và đã do nữ ca sĩ Mộc Lan trình bày lần đầu tại Việt Nam vào năm 1950 và sau này nữ ca sĩ Thanh Lan có thu vào băng vidéo ở Sài Gòn (1990). Một bản nhạc khác cũng được biết tới là “Giận Nhau” .

Ngoài ra Ba tôi có sáng tác khoảng trên 30 bản nhạc nhưng không có xuất bản. Ðến khi sang Pháp năm 1949, Ba tôi vẫn còn tin rằng việc làm đẩy mạnh nền tân nhạc Việt theo chiều hướng Âu Mỹ là con đường đi rất đúng. Do đó thân phụ tôi lấy biệt hiệu là ca sĩ Hải Minh ( tên của tôi và của em trai tôi ghép lại) để thâu trên 30 dĩa 78 vòng cho hãng dĩa ORIA tại Paris từ năm 1949 tới 1951.

Các bản nhạc do Ba tôi hát thường được phát thanh tại các rạp hát bóng thời đó ở Sài Gòn và lục tỉnh, chẳng hạn như các bản “Quyết Tiến”, “Xa Quê”, “Bông Hoa Rừng”, “Hòa Bình 48”, “Quảng Ðường Mai”, vv…. của những bạn thân của Ba tôi như Võ Ðức Thu, Lê Thương, Phạm Duy, Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Hữu Ba.

Ðến khi Ba tôi ngã bịnh phải nằm nhà thương hơn ba năm trời từ 1953 tới năm 1956. Chính trong khoảng thơì gian này đã là mầm móng tạo cơ hội cho Ba tôi nghĩ tới việc “trở về nguồn” và bắt đầu ghi tên vào khóa thi tiến sĩ âm nhạc ở đại học đường Sorbonne với đề tài “Musique Traditionnelle Vietnamienne” (Âm nhạc cổ truyền Việt Nam). Ông thân tôi trở thành vị tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam và là người đóng góp nhiều nhất trong việc phát triển nhạc Việt trên thế giới.

Ông làm giáo sư nhạc học ở trường đại học Sorbonne từ 1958 tới 1987, giám đốc Trung tâm nghiên cứu nhạc Ðông Phương (Centre d’Etudes de Musique Orientale) từ 1960 tới 1987, giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Centre National de la Recherche Scientifique), phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc (Conseil International de la Musique, UNESCO) từ 1958 tới 1989, và sau đó trở thành hội viên danh dự.

Ngoài ra ông còn giữ nhiều chức vụ quan trọng tại các cơ quan nghiên cứu âm nhạc trên thế giới. Tác giả của trên 300 bài viết về nhạc Á châu và Việt, ba quyển sách về nhạc Việt, tác giả của nhiều bài viết về nhạc Việt trong hầu hết các tự điển âmnhạc trên thế giới (Harvard Dictionary, Encyclopaedia Britannica, New Grove Dictionary of Music, Larousse, Encyclapaedia Universalis, Bordas, Fasquelle, vv…) thân phụ tôi đã về hưu từ tháng 10, 1987.

Trong thời gian về hưu, ông vẫn đi dạy ở Hoa Kỳ, Canada, và cố vấn cho dự án thành lập một trung tâm bảo vệ nhạc cung đình Huế tại Việt Nam từ năm 1994. Năm 1997 Ba tôi có xuất bản một quyển sách mang tên là “Tiểu Phẩm ” ghi lại những kỷ niệm của thời trẻ. Năm 1998, các bạn thơ của Ba tôi đã xuất bản một tập thơ gồm một số bài thơ của Ba tôi và các bạn thơ họa lại. Hiện nay ông vẫn tiếp tục du lịch khắp nơi, vẫn tiếp tục theo đuổi việc nghiên cứu, chuẩn bị một số sách, giảng dạy tại các đại học đường khắp năm châu. Đến cuối năm 2004, ông trở về sống tại TP Hồ Chí Minh (Saigon cũ) ở quận Bình Thạnh và lập Trung Tâm Trần Văn Khê để tiếp tục truyền dạy thế hệ trẻ ở Việt Nam .

Ðời thứ năm: Nhạc sĩ trong lòng nhạc thế giới

GS TRẦN QUANG HẢI

Image

 

Trong số bốn người con của Ba tôi, chỉ có em gái út là Trần thị Thủy Ngọc (1950) và tôi là Trần Quang Hải (1944) là tiếp tục truyền thống nhạc cổ gia đình.

Em trai kế tôi là Trần Quang Minh (1946)Image từng tạo tiếng tăm trong giới sinh viên ở Sài Gòn và nhất là trong trường kiến trúc với ban nhạc kích động ” Ba Trái Gáo Dừa” và ban nhạc “Bùng Rền” chuyên về tân nhạc và nhạc ngoại quốc. Trở thành kiến trúc sư vào thập niên 70.

Em gái kế đó tên Trần Thị Thủy Tiên (1948)Image không có học nhạc nhưng có khiếu làm hề, chọc người khác cười nhưng chưa bao giờ lên sân khấu hài. Sau nhiều năm cố gắng học ở trường INALCO (Paris, Pháp), dù phải bỏ nhiều thì giờ lo cho chồng, chống lại một căn bịnh trong óc, và với sự trì chí, kiên nhẫn , Thủy Tiên đã đậu bằng cử nhân văn chương . Hiện đang học cử nhân Litteratures françaises năm thứ 3 của Univ. Diderot. Ngoài ra Thủy Tiên là cọng tác viên thường trực của tờ báo NGÀY MỚI tại Paris. Song song với những hoạt động hàng ngày , em còn  viết những mẫu chuyện thời thơ ấu dưới dạng truyện ngắn . Đồng thời làm thơ bằng tiếng Pháp và có khiếu về vẽ .

Em gái Trần Thị Thủy NgọcImage sang Pháp từ năm 1969, học đàn tranh với Ba tôi tại Pháp và phụ giúp Ba tôi dạy đàn tranh tại Trung tâm nghiên cứu nhạc Ðông Phương (1980-1987). Hiện làm việc cho trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp, trong một ban nghiên cứu về Đông Nam Á tại Paris .

Tôi học nhạc từ năm 5 tuổi. Lúc đó Ba tôi đã đi sang Pháp rồi. Bên nhà, xung quanh tôi không ai biết nhạc để hướng dẫn tôi. Má tôi cho tôi học đàn Mandoline, rồi học vĩ cầm, rồi dương cầm. Ðến khi trường quốc gia âm nhạc mở cửa tại Sài Gòn năm 1955, tôi là nhạc sinh đầu tiên của trường, và học vĩ cầm với ông Phạm Gia Nhiêu (từ trần ở Sài Gòn) năm đầu tiên. Những năm kế tiếp tôi học vĩ cầm với ông Ðỗ Thế Phiệt (đã từ trần tại Sài Gòn) cho tới năm tốt nghiệp năm 1961. Về nhạc lý tôi học với hai ông Nguyễn Cầu (từ trần tháng 12, 1992 tại Washington DC, Hoa Kỳ) và Hùng Lân ( từ trần tại Saigon). Khi sang Pháp vào cuối năm 1961, lần đầu tiên tôi gặp lại Ba tôi sau 13 năm xa cách, tôi chỉ có ý định học nhạc Tây Phương để trở thành nhạc sĩ vĩ cầm chứ không có ý định tiếp tục truyền thống nhạc cổ của gia đình.

Phải nói là nhờ nhạc sư vĩ cầm Yehudi Menuhin đã khuyên tôi nên trở về nguồn thì họa may tôi có thể trở thành thày của người Tây Phương. Tôi đã nghe lời ông Yehudi Menuhin. Từ đó tôi học đàn tranh và nhạc lý Á châu với Ba tôi tại Sorbonne cũng như tại Trung tâm nghiên cứ nhạc Ðông Phương.

Trong thời gian 8 năm dài đăng đẳng, tôi đã lỉnh hội về nhạc lý cũng như thực tập một số nhạc khí như trống Zarb của Ba Tư, đàn nhị nan hu của Trung quốc, đàn vina của Ấn độ miền Nam, hát kinh kịch Trung quốc, hát múa rối Bunraku của Nhựt, đàn gamelan của Nam Dương. Tôi tự học đàn độc huyền, đàn cò, sinh tiền. Tôi đã phát triển kỹ thuật đàn môi sau khi học với người bạn xứ Anh là John Wright nhờ nghe và thấy nhiều loại đàn môi khác trên thế giới.

Lúc nhỏ, tôi có học đánh muỗng căn bản ở Việt Nam. Khi sang Pháp, gặp một người bạn nhạc sĩ Mỹ, tên là Roger Mason, đánh muỗng thật hay. Chính nhờ sự trao đổi kỹ thuật đánh muỗng qua những cuộc “đụng độ” tranh tài muỗng trên sân khấu mà tôi phát triển cách đánh muỗng. Cho tới ngày hôm nay, tôi là người duy nhứt thế giới trình diễn độc tấu muỗng trên sân khấu. Tôi có dịp chạm trán với những danh tài về muỗng tại Mỹ, Gia nã đại, Nga, Anh, Pháp, Thỗ Nhĩ Kỳ, nhưng chưa ai có thể đánh muỗng hay hơn tôi. Và tôi đã được “tôn” làm “Vua Muỗng (Le Roi des Cuillers / The King of Spoons) tại một đại nhạc hội dân nhạc ở Cambridge Folk Music Festival vào năm 1967.

Sau khi đậu xong bằng cao học về dân nhạc của trường cao đẳng khoa học xã hội, tôi được Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học nhận vào làm việc từ đầu năm 1968. Vài năm sau tôi đệ trình luận án tiến sĩ về sự khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh. Tôi tự khám phá cách hát đồng song thanh, tức là hát hai giọng cùng một lúc, do dân Mông Cổ và dân Tuva miền Tây Bá Lợi Á . Tôi đã năng luyện kỹ thuật hát này để trở thành một người chuyên môn duy nhứt trên thế giới có thể truyền dạy kỹ thuật hát đồng song thanh cho bất cứ người nào trong vòng 3 phút.

Năm 1989, tôi cùng anh bạn cùng sở Hugo Zemp hoàn thành cuốn phim nhan đề “Le Chant des Harmoniques ” (Bài hát bồi âm)Image dựa trên ba khía cạnh nghiên cứu : cách đo bồi âm của giọng hát qua máy Sonagraph, cách đo cổ họng và miệng qua quang tuyến X (rayon X / X-ray), và phương pháp dạy hát của tôi. Phim dài 38 phút, chiếm 4 giải thưởng quốc tế (Estonie năm 1990, Pháp năm 1990, Canada năm 1991). Năm 1995, tôi được mời sang Kyzyl, thủ đô của xứ Tuva, để làm chánh chủ khảo cuộc thi hát đồng song thanh cho 300 ca sĩ hát theo kỹ thuật này. Năm 1997 tôi nghĩ tới chuyện sáng chế ra một cây đàn môi mang tên tôi. Với sự giúp đở kỹ thuật của Hồ Bách Nghĩa, tôi đã thực hiện giấc mộng của tôi là lưu lại cho đời sau một nhạc khí mang tên tôi. Cây đàn môi này đã được tặng cho viện bảo tàng ở Cape Town (Nam Phi), viện bảo tàng đàn môi của xứ Yakut (Tây bá lợi á), viện bảo tàng đàn môi ở Molln(Áo quốc). Cùng một năm, tôi viết 17 tác phẩm cho đàn môi nhiều loại và có thu vào một CD mang tên là “Guimbardes du Monde / Jew’s Harps of the World/ TrânQuang Hai” do hãng dĩa Playasound phát hành tại Paris vào tháng 11,1997. Năm 1998, tôi được mời như là thượng khách của đại hội đàn môi thế giới để tham luận về đàn môi Á châu, đàn môi trong nhạc mới Tây phương, và trình diễn. Tôi được may mắn được chọn là Nhạc Sĩ đánh đàn môi hay nhứt đại hội ( The Best Jew’s Harp Player of the Festival) gồm những người chơi đàn môi giỏi nhứt. Trong hai năm 1999 và 2000, tôi được mời làm thượng khách (invité d’honneur) hay chủ tịch danh dự (président d’honneur) của nhiều đại nhạc hội (Festival d’Auch/Eclats des Voix năm 1999, Festival de Pérouges/Au Fil de la Voix năm 2000, vv…) . Năm 2002, tôi được huy chương Bắc đẩu bội tinh (Légion d’Honneur) của PhápImage và năm 2009 huy chương danh dự làm việc hạng đại kim (médaille d’honneur du Travail, catégorie Grand Or) của PhápImage . Năm 2004, tôi hợp tác cùng Luc Souvet thực hiện một DVD « Le Chant Diphonique » dành cho học sinh trung học do Centre Régional de Documentation pédagogique ở Saint Denis (đảo La Réunion) phát hành. Năm 2009, một DVD về nhạc truyền thống Việt Nam được xuất bản tại Pháp. Năm 2012, Patrick Kersalé có thực hiện một chương trình “Mystères Voix du Monde ” với tôi là người dẫn giải trên blog http://geozik.com . Năm 2013, Patrikc Kersalé có thu hình buổi nói chuyện của tôi về hát đồng song thanh tại Festival de l’Ile Noirmoutier với tựa đề “Le chant des harmoniques” cũng trên blog : http://geozik.com .

Sau nhiều năm trình diễn nhạc Việt tại các đại nhạc hội quốc tế, giảng dạy tại các trường đại học thế giới, tôi đã và đang tiếp tục duy trì truyền thống nhạc cổ gia đình. Với tổng số 23 dĩa hát(15 dĩa 33 vòng, 8 dĩa CD) được phổ biến khắp nơi từ hơn 45 năm nay, tiếp tục con đường phát huy nhạc Việt ở hải ngoại của phụ thân tôi. Một mặt lo bảo vệ truyền thống, một mặt khác tôi tự vạch một hướng đi cho riêng tôi. Ðó là hòa mình vào trong xã hội Tây phương. Những thử thách đi từ sáng tác nhạc Việt (400 bài) đến trình diễn nhạc Jazz, nhạc Pop, qua nhạc phim Tây phương. Tôi đã khởi công làm nhạc điện tử (Về Nguồn,một sáng tác cùng với nhà soạn nhạc Nguyễn Văn Tường (1929-1997 tại Pháp), nhạc đương đại tùy hứng (một dĩa 33 vòng SHAMAN với nhạc sĩ Jazz Misha Lobko, 1982), nhạc tùy hứng tập thể, những loại nhạc cận đại thuộc khuynh hướng tân kỳ nhất, và một số bài bản đã được trình diễn tại các nhạc hội quốc tế. Năm 1997, tôi có cộng tác trong dự án bộ dĩa 3 CD với đề tựa VOIX DU MONDE do 30 nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học đã chiếm giải thưởng Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros, Le Diapason de l’Année, Le CHOC de l’annéẹ Tôi cũng có tham dự việc thực hiện một dĩa 2 CD về nhạc sắc tộc Việt Nam, được xuất bản vào tháng 11, 1997 nhân dịp lễ Thượng Ðỉnh Pháp Thoại lần đầu .

Nữ ca sĩ Bạch Yến,Image một giọng ca quen thuộc của làng tân nhạc Việt Nam, đã từng nổi tiếng qua bài “Ðêm Ðông” (nhạc của Nguyễn Văn Thương) và những bài ca nhạc ngoại quốc, đã mang đến cho tôi sau ngày chúng tôi thành hôn với nhau, một nguồn hứng mới. Bạch Yến đã đóng góp vào việc phổ biến nhạc Việt ở hải ngoại một cách đắc lực và kín đáo. Kinh nghiệm về sân khấu, về sự tổ chức chương trình, cũng như sự lưu ý đến trang y phục để làm cho chương trình trình diễn có một giá trị sân khấu và nghệ thuật cao hơn. Hai chúng tôi đã sát cánh từ hơn 30 năm nay và đã gặt hái nhiềuthành công, cụ thể hóa bằng một giải thưởng tối cao Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros năm 1983 tại Paris cho dĩa hát của chúng tôi “Viêt Nam – Trân Quang Hai & Bach Yên” Imagedo hãng dĩa Studio SM phát hành tại Paris, một huy chương vàng âm nhạc năm 1986 do Hàn Lâm Viện Văn Hóa Á Châu ban tặng, và nhiều giải thưởng quốc tế khác.

Với 5 đời nhạc sĩ cổ truyền, với một truyền thống âm nhạc gia đình hơn 160 năm, môĩ một đời nhạc sĩ đã có những bước tiến ngày càng nới rộng. Ðời thứ nhứt chỉ giới hạn trong thành nội Huế mà thôi. Ðời thứ nhì đã thay đổi vào miền Nam và đã có sáng tác bài bản cho đàn tỳ bà. Ðời thứ ba được đánh dấu bằng sự sáng tạo dây Tố Lan cho cách lên dây đàn kìm để đàn cảc bài buồn và liên kết giữa hai gia đình nhạc sĩ . Ðời thứ tư được chứng mình bởi ảnh hưởng Tây phương và việc phát huy nhạc cô truyền ơ hải ngoại . Ðời thứ năm nhắm vào sự trình diễn nhạc Việt ở hải ngoại và sự hội nhập các luồng nhạc cổ tân Ãu Á trong một chiều hướng sáng tác cận đại trong một chiều hướng đương đại. Ðời thứ sáu chưa thấy có một viễn ảnh tốt đẹp. Các con học nhạc rất ít, không có năng khiếu về âm nhạc. Con gái tôi, Trần thị Minh Tâm (sinh năm 1973)Miss-Tâm-5, học xong cử nhân về nhạc học tại trường đại học Sorbonne ở Paris (Ba tôi , tôi và con gái tôi đều học chung một trường dạy về nhạc học). Ngoài ra con tôi học piano 10 năm, nhạc lý 11 năm. Từng hát cho dàn hợp xướng của trường đại học Sorbonne. Nhưng lại không thích nghiên cứu âm nhạc vì nghĩ là đã có ông nội và cha nổi tiếng trong lĩnh vực này . Sau khi đậu cử nhân nhạc học, cháu tìm được việc làm tổ chức đại nhạc hội cho nhạc cổ điển bên Thụy Sĩ (Festival VERBIER rất nổi tiếng ở Thụy Sĩ chuyên về nhạc cổ điển tây phương) từ năm 1997. Cháu đã làm việc tại Paris cho một tổ chức chuyên về nhạc baroque từ năm 2008. Hiện cháu chuyển sang ngành nghiên cứu ẩm thực việt nam và hy vọng sẽ viết sách về bộ môn ẩm thực với các món đặc sản và bình dân của Việt Nam trong một tương lai gần đây . Cố nhạc sĩ Trần Văn Trạch có một người con gái tên là Nguyệt Hà (thuộc đời nhạc sĩ thứ 6) hiện là giáo sư dạy đàn piano ở hai âm nhạc viện thuộc vùng ngoại ô Pháp.

Có thể truyền thống nhạc gia đình họ Trần đến đây là chấm dứt hay có thể trao lại cho một người nào khác không phải ở trong gia đình ? Tôi vẫn tiếp tục tìm một người để trao lại những gì tôi đã học đuợc hầu tiếp nối con đường tôi đã và đang dấn thân đi. Cái khó khăn của tôi là khó tìm cho ra một người có đủ khả năng và chịu để hết thời giờ và tâm chí vào việc học nhạc và nghiên cứu nhạc, cũng như trình diễn nhạc, nhất là trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Ở trong nước, tôi không có hy vọng vì tôi không có mặt trong xứ để khám phá “người trong mộng”. Tôi chỉ nuôi mộng ảo và ước mong sao mộng ảo đó có ngày sẽ trở thành sự thật thì lúc đó dù tôi có nằm xuống đi rồi, tôi cũng sẽ ngậm cười toại nguyện vì truyền thống nhạc của gia đình họ Trần vẫn còn được tiếp nối qua những thế hệ sau.

Trần Quang Hải (Paris)

 

Trần Quang Hải (TQH): Tôi sinh ngày 13 tháng 5, năm 1944 tại làng Linh Đông Xã, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Lúc còn học sinh, học tại trường trung học Trương Vĩnh Ký và học nhạc tại trường quốc gia âm nhạc Saigon từ năm 1955 tới 1961. Sang Pháp năm 1961, học khoa nhạc học tại trường đại học Sorbonne, và trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương (Centre of Studies for Oriental Music) ở Paris. Trong thời gian đó, tôi lại học môn dân tộc nhạc học (ethnomusicology) tại trường cao học khoa học xã hội (School of Studies for Social Sciences). Đậu tiến sĩ dân tộc nhạc học vào năm 1973. Làm việc tại Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (National Center for Scientific Research) từ năm 1968 tới ngày nay (41 năm) với chức vụ nghiên cứu gia về dân tộc nhạc học (ethnomusicologist) chuyên về nhạc Việt Nam và nhạc Á châu, đặc biệt về giọng hát.

http://tranquanghai.com   ;  https://tranquanghai1944.wordpress.com

ImageBa và Bà Nội chụp năm 1924

Image

Thủy Tiên, Minh, Hải, Thủy Ngọc (1954)

ImageTrần Văn Khê & Nguyễn Thị Sương, Minh, Hải, và Thủy Tiên chụp năm 1949 ở nhà đường Monceau, Tân Định, Saigon trước ngày Ba đi sang Pháp

TVK TQH TQM BYTrần Văn Khê, Trần Quang Hải, Bạch Yến, Trần Quang Minh tại tư gia của GS Trần Văn Khê, 2009.

Trang TRẦN QUANG HẢI / BẠCH YẾN / P1: Tiểu sử


trang Trần Quang Hải/ Bạch Yến/ P1

Ngày mà Trần Quang Hải và Bạch Yến nắm tay nhau để ngàn đời trôi bước, thì cả một đời là “Một Tân Hôn Dạ Khúc” bất tận trong ánh sáng nhiệm mầu của tình yêu . 

 

   
   
TRAN QUANG HAI

websitehttp://tranquanghai.info
blog: https://tranquanghai1944.wordpress.com
http://www.overtone-network.org/profile/TRANQUANGHAI 

Video Clips

http://youtube.com/watch?v=Eliex258VG0

http://youtube.com/watch?v=Tf6HjKjkzgQ

http://youtube.com/watch?v=C4_PjKcN2zs&mode=related&search=

http://youtube.com/watch?v=3sae-BV1jZU&mode=related&search=

http://youtube.com/watch?v=KWuX5wdI0Vo&mode=related&search=

http://youtube.com/watch?v=fLG7Ty8R9Yk

http://youtube.com/watch?v=okdYHbzTyjk&mode=related&search=

http://youtube.com/watch?v=iFxAyWEjNLs

http://youtube.com/watch?v=CB2OJC6ktsY&mode=related&search=

http://youtube.com/watch?v=EFTxVdgff8Q

 

 

Mot ky niem voi anh Tran Quang Hai va chi Bach Yen:

Toi den som o mot lan anh chi Nguyen Minh Tam va anh chi Tran Quang Hai moi an o mot nha hang tren duong Choisy, Paris. Chi mot luc, thi co mot vi phu nhan cung den truoc cua cua tiem an va lang le, dung cho.
Hoi con tre, toi rat thich xem nu hoang Moto Bay Bach Yen trinh dien, va sau nay cung hay nghe chi hat hoac o Saigon hoac o Paris. Nhu vay, chang the nao lam duoc. Day chinh la chi Bach Yen. Co mot cai gi khiem nhuong, nhung khong kem kieu sa o chi. Toi nhan ra chi ngay va chi doi phut, thi cu tuong da quen chi tu lau lam. Roi cai ong Tran Quang Hai, buoc toi. Anh deo mot cai bi nhu sinh vien o tren vai, that la don gian, xue xoa. Ay ma o trong bo oc ay da san xuat ra bao nhieu tu tuong ve am nhac. Noi chuyen voi anh Hai cung chi doi ba phut, thi cu nhu noi chuyen voi mot nguoi anh em ruot thit. Mot ky niem chang the nao quen. Con duong Choisy va doi nghe si, tinh nhan muon thuo ma minh cung muon duoc lam ban that lau, that dai. Merci anh chi Hai-Yen.

Vi Son & Lucie Que

Xin xem tiep trang hai (p/2) ve cuoc doi va su nghiep cua Tran Quang Hai

http://visontmc.com/TranQHai_P1.html

 
 

 

Trang TRẦN QUANG HẢI /p2/ SỰ NGHIỆP


trang Tran Quang Hai/p2/Su Nghiep

http://visontmc.com/TranQHai_SuNghiep.html
“Mai Mai Ben Em” bai hat va giong hat cua Tu Cong Phung cung chi dien ta duoc phan nao moi tinh nong am va ben chat cua Tran Quang Hai-Bach Yen.

 
 
 
Tran Quang Hai va phu nhan Bach Yen
 

TRAN QUANG HAI
websitehttp://tranquanghai.info
blog: http://tranquanghai.multiply.com
http://www.overtone-network.org/profile/TRANQUANGHAI

 
 

tieu su TQH

 

Dai hoi – Hoi nghi quoc te

 

Trong vai trò nhạc sĩ , tôi đã trình diễn tai hơn 130 đại hội liên hoan nhạc truyền thống sau đây:
1970 :
*Festival International du Son,Paris, France
*Festival of Arts – Chiraz / Persepolis,Chiraz, Ba Tu-Iran

1971 :
*Cinq Journées de Rencontre avec le Groupe de Recherches Musicales, Paris, France
Semaine culturelle indochinoise, Geneva, Switzerland
*Oriental Music Festival,Berlin, Germany .
*Festival de Musique d’Ajaccio, Corsica, France

 

 

 

*15 Jours de Musique Traditionnelle avec le Folkclub Le Bourdon, Geneva, Switzerland .

1972 :
*Pampelune Music Festival , Pampluna, Spain
*La Geolette d’Or , Knokke le Zoute , Belgium
*Festival of Traditional Music in Vesdun, Vesdun, France
*SIGMA 8 : Festival de musique contemporaine , Bordeaux, France.

1973 :
*Festival de musique de Royan , Royan, France
*Festival international de Musique Traditionnelle, Le Havre,        France
*Festival international de Cultures et Jeunesses, Presles, France .

1974 :
*Festival de Musiques Traditionnelles, Bezon, France
*Festival international de Musique Folk, Colombes, France .
*Festival de Musique du Haut Var,  France
*Musicultura, Breukelen, the Netherlands

1975 :
*Trois jours de musique folk , Conflans Sainte Honorine, France
*5ème Festival de Musique contemporaine , Bourges, France *La Geolette d’Or, Knokke le Zoute, B? – Belgium
*Festival de Musique de Tradition orale, Châlon sur Saône, France
*Festival international de musique , Olivet ,  France

1976 :
*Le Printemps des Peuples Présents, Paris, France
*Festival de Musique d’Eté, Chailles, France
*Festival du Marais, Paris, France
*Journées Musicales Internationales , Vernou, France
*Un mois d’Arts Asiatiques , Laon, France
*Oriental Music Festival, Durham,  United Kingdom
*Festival de Musique de l’Asie du Sud-Est , Laon, France

1977 :
*Journées Musicales Internationales, Vernou, Pháp-France
*World Music Festival, Berkeley, USA
*World Conference of the IFMC , Honolulu, Hawaii, M? – USA

1978 :
*Journées Musicales Internationales, Vernou, France
*Festival de Musique Traditionnelle, Lugano, Switzerland
*Fête de la Saint Jean , Dieppe, France

1979 :
*Oriental Music Festival, Durham, United Kingdom
*Festival International de Musique Contemporaine, Clichy, France
*World Conference of the IFMC, Oslo, Norway

1980 :
*Festival d’Automne, Paris, France
*Festival International de Musique traditionnelle, Sarajevo, Yugoslavia

1981 :
*Asian Music Festival , Seoul,  Republic of Korea
*World Conference of the IFMC, Seoul, Korea

1982 :
*Chamber Music Festival, Kuhmo, France
*Polyphonix : Poésie et Musique , Paris, France

1983 :
*First World Music Festival , Rio de Janeiro, Brazil
*World Conference of the ICTM, New York, M? – USA

1984 :
*Polyphonix : Poetry and Music , New York, USA
*Folk Music Festival , Kaustinen, Finland
*New Music Festival, Vitaasarii, Finland
*Chamber Music Festival, Kuhmo, Finland
*Festival of World Musical Cultures , Cape Town, South Africa

1985 :
*First World Festival of Traditional Music , Belfast, Northern Ireland, United Kingdom
*Festival international de musique, Langeais, France
*Festival estival, Paris, France

1986 :
*Festival de Musique des Trois Continents, Nice, France
*Festival de Musique Traditionnelle – Nord/Sud , Paris, France
*Festival de Musiques des Immigrants , Paris, France

1987 :
*Polyphonix : Poésie et Musique , Paris, France
*Festival de Musique Folk , Ris Orangis, France

1988 :
*Premières Rencontres d’Expressions Vocales , Abbaye de Fontevraud, France
*World Music Festival , Melbourne,  Australia
*People’s Music Festival , Milano, Italy
*Festival de Musique asiatique , Estampes, France

1989 :
*Bicentenaire de la Révolution Française , France
*Festival international de Saint Herblain , Saint Herblain, France
*World Conference of the ICTM , Schladming, Austria

1990 :
*Music Festival « Bloomed Sounds, Floating Song », Osaka, Nh?t B?n-Japan
*First Forum of Pacific and Asian Arts , Kobe,

 

 

 

*Asian Music Festival, Tamba, Japan.
*Festival de Musique Traditionnelle , Arzila, Maroc – Morocco
*Berlin Music Festival, Berlin,  Germany
*Vox Populi , Bruxelles, Belgium

1991 :
*700 ans de Suisse , Lausanne, Switzerland
*Festival de Musique de Saint Denis , Saint Denis, France
*String Music Festival (Nh?c h?i dàn dây), Germany
*Voice Festival , Rotterdam, the Netherlands

1992 :
*4ème Rencontre de Chants Polyphoniques Calvi, Corse, Pháp
*Festival autour de la Voix , Argenteuil, France
*Festival sur l’esprit des Voix , Périgueux, France
*Festival de Musique de Montréal,  Montréal, Canada .

1993 :
*Festival de Musique Folk , Ris Orangis, France
*Voice Festival , Volterra,  Italy
*World Conference of the ICTM, Berlin,  Germany

1994 :
*Festival de Musique Traditionnelle , Azrilah, Maroc-Morocco
*Festival de Musiques du Monde , Nantes, France
*First Festival and International Conference of the Pacific / Asian Society for Ethnomusicology, Seoul, Korea

1995:
*Giving Voice : A Geography of the Voice , Cardiff, Wales,  United Kingdom
*2nd International Festival of Throat Singing Khoomei , Kyzyl, Tuva,  Russia
*World Conference of the ICTM , Canberra,  Australia

1996:
*Voice Festival , Grosetto, Italy
*Giving Voice: A Geography of the Voice , Cardiff, Wales, United Kingdom
*4th World Festival of Choral Music , Sydney, Australia
*1st World Meeting of Vietnamese Music , Minneapolis,  USA

1997:
*International Festival of Music, Cape Town,  South Africa
*Festival de Musique Folk , Ris Orangis,  France
*Giving Voice : An Archeology of the Voice , Aberyswith, Wales,  United Kingdom
*Festival Régional de Musiques Traditionnelles , Montpellier,  France
*World Conference of the ICTM , Nitra, Slovakia

1998 :
*International Festival of Stringed Instruments , Amsterdam, the Netherlands
*International Festival of Mediterranean Music , Genova, Italy
*Asian Music Festival in Europe, London, Great Britain
*Printemps pour la culture vietnamienne , Paris, France
*Festival de la Voix,Auch, France
*3rd World Jew’s Harp Festival , Molln, Austria
*Bela Bartok Festival of Contemporary Music , Szombathely,  Hungary
*Asian Music Festival , Firenze , Italy
*International Voice Festival , Rio de Janeiro,  Brazil

1999 :
*Festival d’Auch , Auch ,  France
*Festival international de Musique de Saint Chartier , Saint Chartier, France
*Giving Voice : A Divinity of the Voice, Aberyswith, Wales,  United Kingdom
*Bela Bartok Festival of Contemporary Music , Szombathely,  Hungary
*World Conference of the ICTM , Hiroshima, Japan

2000:
*Festival Printemps musical de Pérouges, Pérouges, France
*Fête de la Musique , Paris, France
*International Jew’s harp Festival , Moll, Austria
*Festival of Dances and Folk Music , Rudolstadt, Germany
*Festival de Musiques des 5 continents , Mauléon, France
*International Festival of Extreme Voices , Genova, Italy
*International Festival of Qin music , Amsterdam, the Netherlands
*Festival de Voix d’Hommes , Bretagne,  France
*Festival of Traditional Music ,  Taiwan

2001 :
*Colloque de la Voix chantée , Lyon,  France
*Festival de Musique Traditionnelle , Denain, France
*City London Music Festival, London, England
*Fête de la Musique , Paris,  France
*Festival « Performato », Rio de Janeiro,  Brazil
*International Festival of Choral Music , Singapore
*Festival “1000 Facettes de la Voix” , Village du Lac, France
*World Conference of the ICTM , Rio de Janeiro, Brazil

2002 :
*International Voice Festival , Genova , Italy
*Fête de la Musique , Beirut,  Lebanon
*International Congress of Yoga , Vogüe,  France
*6th World Symposium of Choral Music , Minneapolis, USA
*4th World Jew’s Harp Festival , Raudal, Norway
*International Congress of Polyphony , Tbilissi, Georgia

2003
*International Music Festival of Telemark, Bo,  Norway
*Festival de culture vietnamienne , Lausanne, Switzerland
*International Congress of Psychotherapy , Hanover, Germany
*International Festival “Voice of the World” , Bologna, Ý- Italy

2004:
*World Conference of the ICTM, Fuzhou,  China
*International Festival “Making New Waves” , Budapest, Hungary
*International Congress of Musical Acoustics, Nara, Japan
*International Congress of Acoustics, Kyoto,  Japan
*International Congress of Yoga , Vogüe,  France
*International Festival of Mediterranean Music , Genova, Italy
*3ème Festival “Le Rêve de l’Aborigène » , Poitiers, France
*International Congress of Shamanism , Krems, Austria
*Manifestations scientifiques et musicales dans le cadre “Lille, Ville européenne culturelle *2004, Lille, France
*International Seminar on Voice , Reading,

University of

 Reading, England.
*International Symposium of Sung and Spoken Voice, Stuttgart,  Germany.

2005:
*International Festival of Avant Garde Music “Making New Waves” , Budapest, Hungary
*International Festival of Choral Music, Erfurt, Germany.
*International Festival of Choral Music , Arnheim, the Netherlands
*International Festival of Mediterranean Music , Genova, Italy
*Sunplash Festival , Italy
*World Conference of the ICTM , Sheffield,

 

 

 

 

*MELA Festival , Oslo,  Norway.
*1st World Festival of Marranzanu , Cantania, Sicily, Italy
*International Symposium of Voice , Stuttgart, Germany
*”30 ans d’existence de l’Université en Haute Alsace” , Mulhouse, France
*International Festival of Traditonal Music , Limerick, Ireland.

2006:
*T?t in Seattle , Seattle, M? – USA
*2ème Rencontre sur la parole chantée, Rio de Janeiro, Brazil .
*Festival « La Semaine du Son », Châlon sur Saône, France
*International Seminar on Ca Trù , Hà N?i, Vi?t Nam
*Festival international des Musiques Sacrées , Fribourg, Switzerland.
*5th International Jew’s Harp Festival , Amsterdam, the Netherlands
*MELA Festival , Oslo,  Norway
*International Meeting of the ICTM , Ljubliana, Slovenia
*International Congress of Applied Ethnomusicology, Ljubljana, Slovenia.
*International Symposium of Voice , Stuttgart, Germany
*International Meeting “Music as Memory” , Oslo, Norway.
*The Global Forum on Civilization and Peace , Seoul, Republic of Korea.

 2007:

*Bilan du Film Ethnographique , Paris,  France

*Voice Festival / 9th session of the ILV / CETC , Buenos Aires, Argentina

*Colloque sur la Musicothérapie, Sao Paulo,  Brazil

 *Bergen International Music Festival Bergen, Norway

 *Homage to Demetrio Stratos , Alberone di Cento, Italy

 

 

 

* 39th World Conference ICTM, Vienna,  Austria

* PEVOC 7International Congress of Voice , Groningen, Holland

* International Doromb Jew’s Harp Festival, Hungari

 2008

 * Semaine sur la Voix , Lyon, France

 * International Congress on “Memory of the World”, Canberra,  Australia

* Giving Voice 10 International Festival of the Voice, Aberystwith, Wales – UK

*Bergen International Music Festival , Bergen, Norway

* Homage to Demetrio Stratos , Alberone di Cento, Italy

*MELA Festival , Oslo,  Norway

 

       Một đời người, bấy nhiêu sự nghiệp

Trần Quang Hải : 5 đời nhạc sĩ họ TRẦN


Trần Quang Hải : 5 đời nhạc sĩ họ TRẦN

 

 

Ở xứ Việt Nam, khi học nhạc cổ truyền là phải học theo lối truyền khẩu, một lối học rất được phổ biến khắp Á Châu. Ngày xưa, học trò thường đến nhà thầy, ở đó học cho tới lúc thành tài, có khi 5 năm, 10 năm, hay lâu hơn nữa tùy theo học mau hay chậm. Khi nào thầy thấy học trò đủ sức, hấp thụ đầy đủ những bí quyết của môn mình đang học thì lúc đó mới ra về, mới được thầy cho “xuống núi”. Khi ở nhà thầy, công việc làm hàng ngày là giúp việc trong nhà, như làm vườn, quét dọn nhà, làm tất cả công việc của một người giúp việc. Tối nào thầy hứng lấy đàn ra dạo, hay đàn bài bản, học trò thường lắng tai nghe để thấm nhuần các ngón đàn của thầy. Khi nào thầy vui, thầy gọi một học trò để dạy, chỉ cách nhấn cho đúng với điệu của bài bản. Chính vì học theo phương pháp này mà học trò mất nhiều năm để được đào tạo thành một nhạc sĩ .

Sự khó khăn gian truân trong cách học nhạc cổ truyền, thêm vào đó sự coi thường của xã hội Việt Nam thời phong kiến cho rằng đàn hát là “xướng ca vô loài” nên số người học nhạc không có bao nhiêu người. Ngành nhạc chỉ dành để giải trí, và nhạc sĩ không được đi thi để trở thành quan trong triều đình. Chính vì thế, tìm được một gia đình nhạc sĩ nhiều đời ở Việt Nam không phải là chuyện dễ !

Ở Việt Nam có một vài gia đình nhạc sĩ trong lĩnh vực tân cổ nhạc.

Gia đình nhạc sĩ Lữ Liên lúc đầu chuyên về nhạc cổ vơí cây đàn nhị qua tài nghệ của nhạc sĩ Lữ Liên (hiện đang sinh sống tại tiểu bang California, Hoa kỳ. Các con của ông chuyển sang ngành tân nhạc Việt và nhạc ngoại quốc từ lúc ở Sài Gòn trước 1975 và đã nổi tiếng như nữ ca sĩ Bích Chiêu (cùng thời với Bạch Yến, Thanh Thúy, hiện sống tại tỉnh Orléans, Pháp sau khi bôn ba nơi hải ngoại từ năm 1963 ở Pháp, rồi Ý đại lợi, rồi nay trở lại Pháp), Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Anh Tú, Lưu Bích, ban nhạc Uptight (tất cả đều nổi tiếng trong cộng đồng Việt và cư ngụ tại vùng Nam California từ 20 năm nay).

Gia đình nhạc sĩ Phạm Duy cũng là một ngoại hạng. Nhạc sĩ Phạm Duy (sinh năm 1921) là một nhạc sĩ có một sức sáng tác hiếm có (trên 1000 ca khúc trong đó hàng trăm bản nhạc đã chinh phục cả ba thế hệ Việt Nam). Vợ ông là nữ ca sĩ Thái Hằng lúc trước đã hát trong ban hợp ca Thăng Long với các anh em Hoài Trung, Hoài Bắc (đã từ trần tại California và còn là nhạc sĩ sáng tác nổi danh dưới tên Phạm Ðình Chương có vợ là nữ ca sĩ Khánh Ngọc) và Thái Thanh (các con của nữ danh ca Thái Thanh là Ý Lan và Quỳnh Hương đã chinh phục giới yêu nhạc Việt ở hải ngoại từ năm 1991. Gần đây hơn, Mai Linh, con gái lớn của Ý Lan, vào nghề ca hát và đã tạo cho mình một chỗ đứng có nhiều triển vọng). Các con của Phạm Duy – Thái Hằng lập ra ban nhạc kích động trẻ The Dreamers ở Sài Gòn vào cuối thập niên 60. Ban nhạc này vẫn còn vang tiếng khi sang Hoa Kỳ vào đầu thập niên 80 cho tới đầu thập niên 90 thì rã. Các con của Phạm Duy đã tạo một ngôi vị vững chắc trong làng tân nhạc Việt ở hải ngoại như nam ca sĩ Duy Quang ( đã từng là chồng của nữ ca sĩ Julie – mang tên Julie Quang khi sống với Duy Quang), các ca sĩ Thái Hiền, Thái Thảo (có chồng là nam ca sĩ Tuấn Ngọc thuộc gia đình nhạc sĩ Lữ Liên), Thái Hạnh. Nhạc sĩ Duy Cường chuyên về hòa âm, và trở thành người hòa âm của tất cả các bản nhạc của cha (Phạm Duy) và soạn hòa âm cho hàng nghìn bản nhạc cho các ca sĩ Việt ở California. Phạm Duy và các con hiện nay sống ở Việt Nam

Gia đình nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ (từ trần) với vợ là nữ ca nhạc sĩ Thúy Nga (nổi tiếng một thời với chiếc phong cầm, còn sinh hoạt trong những năm đầu sang Mỹ và sau đó từ giã sân khấu luôn). Con và cháu là Hoàng Thi Thi, Hoàng Thi Thao từng nổi tiếng thần đồng vĩ cầm ở Việt Nam và tiếp tục đàn vĩ cầm cho các ban nhạc Việt Nam trong cộng đồng Việt tại California.

Nhạc sĩ Thu Hồ (từ trần tại Hoa kỳ) cũng là ca sĩ nổi tiếng ở Việt Nam có một cô con gái trở thành ca sĩ Mỹ Huyền tạo sự nghiệp tại California từ khi sang Mỹ.

Gia đinh Phạm Nghệ (hiện ở Hoa Kỳ) chuyên về nhạc cổ điển.

Gia đình nhạc sĩ vĩ cầm Nguyễn Khắc Cung (hiện ở Pháp) chuyên về nhạc cổ điển Tây phương.

Gia đình nhạc sĩ thôỉ sáo Nguyễn Ðình Nghĩa (từ trần ở Virginia, Hoa kỳ) chuyên về nhạc cổ Việt Nam với các con giỏi về các loại đàn Việt, đã đi trình diễn nhiều nơi tại Mỹ từ năm 1982.

Về phía cải lương, cặp nghệ sĩ Việt Hùng-Ngọc Nuôi (cả hai từ trần) nổi tiếng trong giới hát cải lương từ nhiều năm qua, có các con đi về phía tân nhạc nổi tiếng một thời qua ban nhạc The Crazy Dog, và nữ ca sĩ Bích Ngọc tạo một chỗ đứng trong giới nhạc trẻ. Nghệ sĩ Hữu Phước (từ trần năm 1997 tại Pháp) nổi tiếng là người hát mùi 6 câu vọng cổ và đóng tuồng làm rơi nước mắt người xem, có nhiều con nhưng chỉ có Hương Lan là nổi tiếng nhất và là ca sĩ từ cổ nhạc sang tân nhạc thành công và giữ địa vị ca sĩ hàng đầu trong ngành ca hát Việt Nam ở hải ngoại. Hương Thanh, em gái của Hương Lan, nổi tiếng trong địa hạt dân ca ở Pháp và Âu châu với sự cộng tác của nhạc sĩ Jazz Nguyên Lê tạo một hướng đi mới trong nhạc Việt .

Tìm đuợc một dòng họ năm đời nhạc sĩ nhạc cổ truyền có thể nói là hiếm có lắm. Tôi được may mắn sinh trưởng trong một gia đình có tới 5 đời nhạc sĩ cổ truyền, và mỗi đời có những bước tiến “canh tân”, có những đóng góp vào việc bảo tồn, bảo lưu, duy trì và phổ biến nhạc Việt cổ truyền khắp nơi trên thế giới.

Ðời thứ nhứt: Nhạc sĩ nhạc cung đình Huế

Người khởi xướng truyền thống nhạc của gia đình họ Trần là ông sơ của tôi, tên là Trần Quang Thọ (1830-1890). Ông là nhạc sĩ của ban đại nhạc triều đình Huế, dưới thời vua Tự Ðức. Cụ mang cả gia đình vào trong Nam và định cư tại làng Vĩnh Kim, thuộc tỉnh Mỹ Tho, cạnh bên sông Sầm Giang (được nổi tiếng nhờ tên ban kịch Sầm Giang của chú tôi là Trần Văn Trạch). Cụ chỉ là một nhạc sĩ chuyên nghiệp, sử dụng cây đàn tỳ bà, đàn nhị, và các loại trống. Chính cụ đã mang truyền thống nhạc miền Trung và Ca Huế vào trong Nam để sau này biến thành loại nhạc đàn tài tử miền Nam.

Ðời thứ nhì : Nhạc sĩ sáng tác bài bản, sáng chế cách ghi bài bản cổ

Ông cố tôi, Trần Quang Diệm (1853-1925) là người con thứ tư trong gia đình có 7 ngươì con. Ông có khiếu về nhạc nhất trong gia đình. Chính ông là người duy trì truyền thống nhạc trong gia đình. Ðàn tỳ bà rất giỏi, được gởi ra thành nội Huế để học loại nhạc Ca Huế (một loại nhạc thính phòng với bài bản khác với bài bản của dàn đại nhạc và tiểu nhạc). Ông cố tôi được nổi tiếng khắp vùng lục tỉnh về tài đàn tỳ bà. Ông đã sáng tác một số bài bản cho đàn tỳ bà, nhưng đã thất truyền sau một lần cháy nhà. Ông đã nghĩ ra cách ghi chia phân nhịp trong các bài cổ nhạc để dễ dạy cho học trò. Ông có sáng tác 8 bài Ngự trong số 10 bài Ngự để đón tiếp vua Thành Thái lúc vua vào thăm viếng miền Nam. Trong thời của ông có hai ông nhạc sĩ khác nổi tiếng về nhạc miền Nam là Nguyễn Liên Phong và Nguyễn Tòng Bá. Hai luồng âm nhạc của ông cố tôi và của hai nhạc sĩ này đã làm phát sinh ra nhạc đàn tài tử miền Nam.

Ðời thứ ba:Nhạc sĩ sáng tạo

Ông cố tôi có 7 người con, nhưng chỉ có hai người là có năng khiếu về âm nhạc. Người con thứ nhì là Bà Cô Ba của tôi, tên là Trần Ngọc Viện (1885-1944), và ông nội tôi là Trần Quang Triều (1897-1929), người con thứ sáu có biệt danh là Bảy Triều. Trên khai sanh tên là Trần Văn Chiều vì lúc làm giấy khai sanh, người thơ ký trong làng đã tự ý đổi lại thành Chiều thay vì Triều. Chữ lót họ cũng đổi luôn, nhứt là vào thời đó, trong làng xã miền Nam, hễ con trai thì cho chữ Văn, và con gái thì dùng chữ lót Thị . Bà Cô Ba của tôi đàn tỳ bà theo truyền thống Huế và rất giỏi về đàn tranh. Bà là người đã thành lập một đoàn cải lương với các nghệ sĩ toàn là nữ giới, lấy tên là gánh Nữ Ðồng Ban (1927-1929). Ðây có thể nói là một gánh hát duy nhứt trong lịch sử cải lương Việt Nam là nghệ sĩ toàn là đàn bà. Các cô thiếu nữ toàn là con gái con nhà lành trong làng. Bà Cô của tôi bắt các cô phải học chữ ban ngày, tập đánh võ, múa côn, múa kiếm, luyện giọng. Ông thầy tuồng tên là Nguyễn Tri Khương (mất vào năm 1962), anh ruột của bà Nội của tôi, là người con thứ tư trong gia đình họ Nguyễn (dòng dõi Nguyễn Tri Phương), tôi gọi là ông Cậu Năm. Ông Cậu Năm là một nhạc sĩ rất có tài chẳng những thổi sáo điêu luyện, làu thông tất cả những nhạc khí đàn dây và trống. Ông lại sở trường viết những bài bản mới. Chính trong vở tuồng ” Giọt lệ chung tình” (1927), ông đặt một số bài bản mới như “Phong Xuy Trịch Liễu”,”Yến Tước Tranh Ngôn”, “Thất Trỉ Bi Hùng “, “Bắc Cung Ai ” mà dường như chỉ được lưu truyền trong gia đình mà thôi , mặc dù âm điệu rất phong phú. Số phận của những bài bản nầy giống như mấy mươi bài của thầy ký Trần Quang Quờn, có lẽ sẽ bị mai một đi. Người anh của ông Cậu Năm là ông cậu Tư Nguyễn Tri Lạc rất sành về nhạc lễ và các tiết tấu trong các loại nhạc lễ. Ông là cụ thân sinh của cố nhạc sĩ tài danh Nguyễn Mỹ Ca, nổi tiếng qua nhạc phẩm “Dạ Khúc “. Ông Nội của tôi, Trần Quang Triều (1897-1931) giỏi về đàn kìm. Lúc đó, ông học ở trường trung học Chasseloup Laubat của Pháp ở Sài Gòn. Tôi được nghe kể lại rằng lúc nhỏ ông Nội tôi giỏi về môn thôi miên, thường hay dùng môn này để làm cho các ông giám thị ngủ hết để ngồi chơi trong lớp hay đàn kìm. Ông có chế ra cách lên dây đặt tên là dây Tố Lan, được giới cải lương “dâyTố Lan của ông Bảy Triều “. Cách lên dây của hai dây đàn kìm cách nhau một quãng bảy thứ (Do-Sib) tạo một không khí buồn ảo não khi đàn. Một trong những người học trò ngoài gia đình được nhiều người biết là ông thân của nhạc sư đàn tranh Nguyễn Vĩnh Bảo. Ông Nội tôi không may mất sớm thành ra không thể phát triển cách lên dây Tố Lan cho đàn kìm được rộng rãi hơn. Hai gia đình nhạc sĩ Trần và Nguyễn phối hợp lại với nhau đã làm phát sinh ra một truyền thống âm nhạc gia đình ngày càng phong phú. Ðời thứ ba đã cho thấy rằng ảnh hưởng nhạc Tây phương đã xâm nhập một phần nào vào trong nền âm nhạc cổ miền Nam. Ông Cậu Năm Nguyễn Tri Khương có viết lời Việt cho những bản nhạc Pháp thịnh hành thời đó như “La Madelon”, “La Marseillaise “. Em của ông Cậu Năm biết đàn lục huyền cầm móc phím, và một người khác biết kéo vĩ cầm Tây phương. Cả hai nhạc khí Tây phương bắt đầu đượcdùng trong nhạc đàn tài tử miền Nam.

Ðời thứ tư : Nhạc sĩ hướng về Tây phương và nghiên cứu

GSTS TRẦN VĂN KHÊ

Ông bà Nội tôi có ba người con: ông thân tôi là Trần Văn Khê (sinh năm 1921, hiện sống tại TP HCM, Vietnam), chú tôi là Trần Văn Trạch (sinh năm 1924 – mất năm 1994 tại Pháp), và cô tôi là Trần Ngọc Sương (sinh năm 1926, hiện sống ở Montréal, Canada).

Cô tôi cũng đã từng đi hát thời các ca sĩ Mộc Lan, Kim Tước, Minh Trang dưới danh hiệu là ca sĩ Thủy Ngọc, có thu một vài dĩa 78 vòng, đã tạo cho mình một chỗ đứng trong làng tân nhạc, nhưng đã giải nghệ vào khoảng 1950.

Chú tôi được mệnh danh là Quái Kiệt Trần Văn Trạch. Lúc nhỏ có học đàn tỳ bà và đàn rất hay, và cũng có khiếu ca cổ nhạc rất mùi, không thua gì cố nghệ sĩ Năm Nghĩa thời 30. Nhưng có lẽ vì hoàn cảnh nên mới dấn thân vào ngành ca hát. Khởi đầu mở một phòng trà nhỏ (loại salon de thé) ở đường Lagrandière. Sau đó, khoảng 1947-48, chú Trạch hoạt náo và hát tại dancing Théophile ở vùng Dakao. Các bài nhạc hài hước đầu tiên do chú Trần Văn Trạch hát là do nhạc sĩ Lê Thương viết ra vào năm 1948-49 (Hòa Bình 48, Liên Hiệp Quốc ).

Các chương trình phụ diễn tân nhạc trên sân khấu xiệc, hát bóng, và danh từ đại nhạc hội là do chú Trạch đề xướng ra ở Sài Gòn từ đầu năm 1950. Chú đã trở thành một ca sĩ hài hước ngoại hạng nổi tiếng qua các bản diễu như “Anh Phu Xích Lô” (1951), “Chuyến Xe Lửa Mùng 5” (1952), “Cái Tê Lê Phôn”, “Cái Ðồng Hồ Tay”, “Anh Chàng Thất Nghiệp”, “Cây Bút Máy”, “Ðừng Có Lo”. Hai bài nhạc không hài hước nhưng rất được phổ biến là “Chiến Xa Việt Nam” (1952), và “Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia” (1952). Ban nhạc Sầm Giang đã có mặt trên đài phát thanh Pháp Á từ 1950 tới 1954, quy tụ một số nhạc sĩ gạo cội như cố nhạc sĩ Võ Ðức Thu, Khánh Băng, về sau có Nghiêm Phú Phi (hiện sống tại Orange County, California, Hoa kỳ), các ca sĩ nổi tiếng thời đó như Trần Văn Trạch, Ngọc Sương, Ngọc Hà, Tôn Thất Niệm, Linh Sơn, Mạnh Phát, Minh Diệu, Túy Hoa, Tâm Vấn. Ðến năm 1953, có thêm những bộ mặt mới như nữ kịch sĩ Bích Thuận, ban Thăng Long, Duy Trác, Tùng Lâm, và ……em bé Bạch Yến ( trở thành người bạn “đồng hành và đồng chí” của tôi sau này). Ngoài lĩnh vực âm nhạc, chú Trần Văn Trạch còn là người làm phim Việt đầu tiên ở miền Nam. Hai cuốn phim Lòng Nhân Ðạo (1955) với Trần Văn Trạch, Kim Cương, Hà Minh Tây (sống ở Paris), và Giọt Máu Rơi (1956) với Trần Văn Trạch và Kim Cương do hãng phim Mỹ Phương sản xuất. Sau đó chú Trạch lập ra hãng phim Việt Thanh và có làm đạo diễn cho hai cuốn phim cổ tích Thoại Khanh Châu Tuấn (1956) với Kim Cương và Vân Hùng, và Trương Chi Mỵ Nương (1956) với Trang Thiên Kim và La Thoại Tân.

Chỉ có thân phụ tôi, Trần Văn Khê (1921 – ) là người duy nhứt trong dòng họ Trần đã học nhạc cổ đàng hoàng và đã phát huy nhạc Việt Nam ra ngoài biên giới Việt. Lúc nhỏ Ba tôi đã được ông Cố tôi dạy cho cách tụng kinh Phật giáo, lại được nghe những buổi hòa đàn trong gia đình, gặp những nhạc sĩ tài danh thời đó, nên Ba tôi dễ hấp thụ những “ngón đờn nhức xương” trong cổ nhạc Việt. Ba tôi đã học đàn kìm với ông Nội tôi, học đàn tỳ bà và đàn tranh với bà cô Ba, học trống với ông Cậu Tư Nguyễn Tri Lạc, học lý thuyết nhạc cổi Việt với ông Cậu Năm Nguyễn Tri Khương, học đàn lục huyền cầm móc phím với một ông cậu khác, học măng cầm và nhạc lý hòa âm Tây phương ở trường trung học Petrus Ký tại Sài Gòn.

Thừa hưởng hai truyền thống âm nhạc Ðông và Tây, phong trào nhạc Tây phương đang bành trướng mạnh và giới trẻ thời đó nghĩ rằng Âu hóa nhạc Việt mới là tiến bộ. Bởi thế cho nên, lúc còn là học sinh trung học, mỗi lần về làng Vĩnh Kim, Ba tôi thường cùng bác Mỹ Ca (chuyên đờn violon) hòa đàn. Hai người thường biểu diễn đàn cổ nhạc với cây đàn lục huyền cầm móc phím do Ba tôi đờn với bác Mỹ Ca đờn violon. Dân làng tề tựu đông đảo trước sân nhà để nghe mấy “cậu Sài Gòn” biểu diễn nhạc khí lạ.

Song song với việc đổi mới trong cách sử dụng nhạc khí, Ba tôi còn đờn những bài nhạc mới do tầng lớp sinh viên trẻ đang tập tành sáng tác. Lúc đó vào khoảng 1936-37. Ba tôi rất hăng hái trong việc “canh tân” nhạc Việt. Từng làm trưởng ban văn nghệ ở trường Petrus Ký, sau ra Hà Nội học trường thuốc, quán xuyến vai tuồng nhạc trưởng ban nhạc trường đại học Hà Nội vào năm 1942-43.

Chính trong thời gian thế chiến thứ hai, Ba tôi có phổ nhạc bài thơ “Ði Chơi Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp vào năm 1943 và đã do nữ ca sĩ Mộc Lan trình bày lần đầu tại Việt Nam vào năm 1950 và sau này nữ ca sĩ Thanh Lan có thu vào băng vidéo ở Sài Gòn (1990). Một bản nhạc khác cũng được biết tới là “Giận Nhau” .

Ngoài ra Ba tôi có sáng tác khoảng trên 30 bản nhạc nhưng không có xuất bản. Ðến khi sang Pháp năm 1949, Ba tôi vẫn còn tin rằng việc làm đẩy mạnh nền tân nhạc Việt theo chiều hướng Âu Mỹ là con đường đi rất đúng. Do đó thân phụ tôi lấy biệt hiệu là ca sĩ Hải Minh ( tên của tôi và của em trai tôi ghép lại) để thâu trên 30 dĩa 78 vòng cho hãng dĩa ORIA tại Paris từ năm 1949 tới 1951.

Các bản nhạc do Ba tôi hát thường được phát thanh tại các rạp hát bóng thời đó ở Sài Gòn và lục tỉnh, chẳng hạn như các bản “Quyết Tiến”, “Xa Quê”, “Bông Hoa Rừng”, “Hòa Bình 48”, “Quảng Ðường Mai”, vv…. của những bạn thân của Ba tôi như Võ Ðức Thu, Lê Thương, Phạm Duy, Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Hữu Ba.

Ðến khi Ba tôi ngã bịnh phải nằm nhà thương hơn ba năm trời từ 1953 tới năm 1956. Chính trong khoảng thơì gian này đã là mầm móng tạo cơ hội cho Ba tôi nghĩ tới việc “trở về nguồn” và bắt đầu ghi tên vào khóa thi tiến sĩ âm nhạc ở đại học đường Sorbonne với đề tài “Musique Traditionnelle Vietnamienne” (Âm nhạc cổ truyền Việt Nam). Ông thân tôi trở thành vị tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam và là người đóng góp nhiều nhất trong việc phát triển nhạc Việt trên thế giới.

Ông làm giáo sư nhạc học ở trường đại học Sorbonne từ 1958 tới 1987, giám đốc Trung tâm nghiên cứu nhạc Ðông Phương (Centre d’Etudes de Musique Orientale) từ 1960 tới 1987, giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Centre National de la Recherche Scientifique), phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc (Conseil International de la Musique, UNESCO) từ 1958 tới 1989, và sau đó trở thành hội viên danh dự.

Ngoài ra ông còn giữ nhiều chức vụ quan trọng tại các cơ quan nghiên cứu âm nhạc trên thế giới. Tác giả của trên 300 bài viết về nhạc Á châu và Việt, ba quyển sách về nhạc Việt, tác giả của nhiều bài viết về nhạc Việt trong hầu hết các tự điển âmnhạc trên thế giới (Harvard Dictionary, Encyclopaedia Britannica, New Grove Dictionary of Music, Larousse, Encyclapaedia Universalis, Bordas, Fasquelle, vv…) thân phụ tôi đã về hưu từ tháng 10, 1987.

Trong thời gian về hưu, ông vẫn đi dạy ở Hoa Kỳ, Canada, và cố vấn cho dự án thành lập một trung tâm bảo vệ nhạc cung đình Huế tại Việt Nam từ năm 1994. Năm 1997 Ba tôi có xuất bản một quyển sách mang tên là “Tiểu Phẩm ” ghi lại những kỷ niệm của thời trẻ. Năm 1998, các bạn thơ của Ba tôi đã xuất bản một tập thơ gồm một số bài thơ của Ba tôi và các bạn thơ họa lại. Hiện nay ông vẫn tiếp tục du lịch khắp nơi, vẫn tiếp tục theo đuổi việc nghiên cứu, chuẩn bị một số sách, giảng dạy tại các đại học đường khắp năm châu. Đến cuối năm 2004, ông trở về sống tại TP Hồ Chí Minh (Saigon cũ) ở quận Bình Thạnh và lập Trung Tâm Trần Văn Khê để tiếp tục truyền dạy thế hệ trẻ ở Việt Nam .

Ðời thứ năm: Nhạc sĩ trong lòng nhạc thế giới

GS TRẦN QUANG HẢI

 

Trong số bốn người con của Ba tôi, chỉ có em gái út là Trần thị Thủy Ngọc (1950) và tôi là Trần Quang Hải (1944) là tiếp tục truyền thống nhạc cổ gia đình.

Em trai kế tôi là Trần Quang Minh (1946) từng tạo tiếng tăm trong giới sinh viên ở Sài Gòn và nhất là trong trường kiến trúc với ban nhạc kích động ” Ba Trái Gáo Dừa” và ban nhạc “Bùng Rền” chuyên về tân nhạc và nhạc ngoại quốc.

Em gái kế đó tên Trần Thị Thủy Tiên (1948) không có học nhạc nhưng có khiếu làm hề, chọc người khác cười nhưng chưa bao giờ lên sân khấu hài.

Em gái Thủy Ngọc sang Pháp từ năm 1969, học đàn tranh với Ba tôi tại Pháp và phụ giúp Ba tôi dạy đàn tranh tại Trung tâm nghiên cứu nhạc Ðông Phương (1980-1987).

Tôi học nhạc từ năm 5 tuổi. Lúc đó Ba tôi đã đi sang Pháp rồi. Bên nhà, xung quanh tôi không ai biết nhạc để hướng dẫn tôi. Má tôi cho tôi học đàn Mandoline, rồi học vĩ cầm, rồi dương cầm. Ðến khi trường quốc gia âm nhạc mở cửa tại Sài Gòn năm 1955, tôi là nhạc sinh đầu tiên của trường, và học vĩ cầm với ông Phạm Gia Nhiêu (từ trần ở Sài Gòn) năm đầu tiên. Những năm kế tiếp tôi học vĩ cầm với ông Ðỗ Thế Phiệt (đã từ trần tại Sài Gòn) cho tới năm tốt nghiệp năm 1961. Về nhạc lý tôi học với hai ông Nguyễn Cầu (từ trần tháng 12, 1992 tại Washington DC, Hoa Kỳ) và Hùng Lân ( từ trần tại Saigon). Khi sang Pháp vào cuối năm 1961, lần đầu tiên tôi gặp lại Ba tôi sau 13 năm xa cách, tôi chỉ có ý định học nhạc Tây Phương để trở thành nhạc sĩ vĩ cầm chứ không có ý định tiếp tục truyền thống nhạc cổ của gia đình.

Phải nói là nhờ nhạc sư vĩ cầm Yehudi Menuhin đã khuyên tôi nên trở về nguồn thì họa may tôi có thể trở thành thày của người Tây Phương. Tôi đã nghe lời ông Yehudi Menuhin. Từ đó tôi học đàn tranh và nhạc lý Á châu với Ba tôi tại Sorbonne cũng như tại Trung tâm nghiên cứ nhạc Ðông Phương.

Trong thời gian 8 năm dài đăng đẳng, tôi đã lỉnh hội về nhạc lý cũng như thực tập một số nhạc khí như trống Zarb của Ba Tư, đàn nhị nan hu của Trung quốc, đàn vina của Ấn độ miền Nam, hát kinh kịch Trung quốc, hát múa rối Bunraku của Nhựt, đàn gamelan của Nam Dương. Tôi tự học đàn độc huyền, đàn cò, sinh tiền. Tôi đã phát triển kỹ thuật đàn môi sau khi học với người bạn xứ Anh là John Wright nhờ nghe và thấy nhiều loại đàn môi khác trên thế giới.

Lúc nhỏ, tôi có học đánh muỗng căn bản ở Việt Nam. Khi sang Pháp, gặp một người bạn nhạc sĩ Mỹ, tên là Roger Mason, đánh muỗng thật hay. Chính nhờ sự trao đổi kỹ thuật đánh muỗng qua những cuộc “đụng độ” tranh tài muỗng trên sân khấu mà tôi phát triển cách đánh muỗng. Cho tới ngày hôm nay, tôi là người duy nhứt thế giới trình diễn độc tấu muỗng trên sân khấu. Tôi có dịp chạm trán với những danh tài về muỗng tại Mỹ, Gia nã đại, Nga, Anh, Pháp, Thỗ Nhĩ Kỳ, nhưng chưa ai có thể đánh muỗng hay hơn tôi. Và tôi đã được “tôn” làm “Vua Muỗng (Le Roi des Cuillers / The King of Spoons) tại một đại nhạc hội dân nhạc ở Cambridge Folk Music Festival vào năm 1967.

Sau khi đậu xong bằng cao học về dân nhạc của trường cao đẳng khoa học xã hội, tôi được Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học nhận vào làm việc từ đầu năm 1968. Vài năm sau tôi đệ trình luận án tiến sĩ về sự khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh. Tôi tự khám phá cách hát đồng song thanh, tức là hát hai giọng cùng một lúc, do dân Mông Cổ và dân Tuva miền Tây Bá Lợi Á . Tôi đã năng luyện kỹ thuật hát này để trở thành một người chuyên môn duy nhứt trên thế giới có thể truyền dạy kỹ thuật hát đồng song thanh cho bất cứ người nào trong vòng 3 phút.

Năm 1989, tôi cùng anh bạn cùng sở Hugo Zemp hoàn thành cuốn phim nhan đề “Le Chant des Harmoniques ” (Bài hát bồi âm) dựa trên ba khía cạnh nghiên cứu : cách đo bồi âm của giọng hát qua máy Sonagraph, cách đo cổ họng và miệng qua quang tuyến X (rayon X / X-ray), và phương pháp dạy hát của tôi. Phim dài 38 phút, chiếm 4 giải thưởng quốc tế (Estonie năm 1990, Pháp năm 1990, Canada năm 1991). Năm 1995, tôi được mời sang Kyzyl, thủ đô của xứ Tuva, để làm chánh chủ khảo cuộc thi hát đồng song thanh cho 300 ca sĩ hát theo kỹ thuật này. Năm 1997 tôi nghĩ tới chuyện sáng chế ra một cây đàn môi mang tên tôi. Với sự giúp đở kỹ thuật của Hồ Bách Nghĩa, tôi đã thực hiện giấc mộng của tôi là lưu lại cho đời sau một nhạc khí mang tên tôi. Cây đàn môi này đã được tặng cho viện bảo tàng ở Cape Town (Nam Phi), viện bảo tàng đàn môi của xứ Yakut (Tây bá lợi á), viện bảo tàng đàn môi ở Molln(Áo quốc). Cùng một năm, tôi viết 17 tác phẩm cho đàn môi nhiều loại và có thu vào một CD mang tên là “Guimbardes du Monde / Jew’s Harps of the World/ TrânQuang Hai” do hãng dĩa Playasound phát hành tại Paris vào tháng 11,1997. Năm 1998, tôi được mời như là thượng khách của đại hội đàn môi thế giới để tham luận về đàn môi Á châu, đàn môi trong nhạc mới Tây phương, và trình diễn. Tôi được may mắn được chọn là Nhạc Sĩ đánh đàn môi hay nhứt đại hội ( The Best Jew’s Harp Player of the Festival) gồm những người chơi đàn môi giỏi nhứt. Trong hai năm 1999 và 2000, tôi được mời làm thượng khách (invité d’honneur) hay chủ tịch danh dự (président d’honneur) của nhiều đại nhạc hội (Festival d’Auch/Eclats des Voix năm 1999, Festival de Pérouges/Au Fil de la Voix năm 2000, vv…) . Năm 2002, tôi được huy chương Bắc đẩu bội tinh (Légion d’Honneur) của Pháp và năm 2009 huy chương danh dự làm việc hạng đại kim (médaille d’honneur du Travail, catégorie Grand Or) của Pháp . Năm 2004, tôi hợp tác cùng Luc Souvet thực hiện một DVD « Le Chant Diphonique » dành cho học sinh trung học do Centre Régional de Documentation pédagogique ở Saint Denis (đảo La Réunion) phát hành. Năm 2009, một DVD về nhạc truyền thống Việt Nam được xuất bản tại Pháp.

Sau nhiều năm trình diễn nhạc Việt tại các đại nhạc hội quốc tế, giảng dạy tại các trường đại học thế giới, tôi đã và đang tiếp tục duy trì truyền thống nhạc cổ gia đình. Với tổng số 23 dĩa hát(15 dĩa 33 vòng, 8 dĩa CD) được phổ biến khắp nơi từ hơn 45 năm nay, tiếp tục con đường phát huy nhạc Việt ở hải ngoại của phụ thân tôi. Một mặt lo bảo vệ truyền thống, một mặt khác tôi tự vạch một hướng đi cho riêng tôi. Ðó là hòa mình vào trong xã hội Tây phương. Những thử thách đi từ sáng tác nhạc Việt (400 bài) đến trình diễn nhạc Jazz, nhạc Pop, qua nhạc phim Tây phương. Tôi đã khởi công làm nhạc điện tử (Về Nguồn,một sáng tác cùng với nhà soạn nhạc Nguyễn Văn Tường (1929-1997 tại Pháp), nhạc đương đại tùy hứng (một dĩa 33 vòng SHAMAN với nhạc sĩ Jazz Misha Lobko, 1982), nhạc tùy hứng tập thể, những loại nhạc cận đại thuộc khuynh hướng tân kỳ nhất, và một số bài bản đã được trình diễn tại các nhạc hội quốc tế. Năm 1997, tôi có cộng tác trong dự án bộ dĩa 3 CD với đề tựa VOIX DU MONDE do 30 nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học đã chiếm giải thưởng Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros, Le Diapason de l’Année, Le CHOC de l’annéẹ Tôi cũng có tham dự việc thực hiện một dĩa 2 CD về nhạc sắc tộc Việt Nam, được xuất bản vào tháng 11, 1997 nhân dịp lễ Thượng Ðỉnh Pháp Thoại lần đầu . Nữ ca sĩ Bạch Yến, một giọng ca quen thuộc của làng tân nhạc Việt Nam, đã từng nổi tiếng qua bài “Ðêm Ðông” (nhạc của Nguyễn Văn Thương) và những bài ca nhạc ngoại quốc, đã mang đến cho tôi sau ngày chúng tôi thành hôn với nhau, một nguồn hứng mới. Bạch Yến đã đóng góp vào việc phổ biến nhạc Việt ở hải ngoại một cách đắc lực và kín đáo. Kinh nghiệm về sân khấu, về sự tổ chức chương trình, cũng như sự lưu ý đến trang y phục để làm cho chương trình trình diễn có một giá trị sân khấu và nghệ thuật cao hơn. Hai chúng tôi đã sát cánh từ hơn 30 năm nay và đã gặt hái nhiềuthành công, cụ thể hóa bằng một giải thưởng tối cao Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros năm 1983 tại Paris cho dĩa hát của chúng tôi “Viêt Nam – Trân Quang Hai & Bach Yên” do hãng dĩa Studio SM phát hành tại Paris, một huy chương vàng âm nhạc năm 1986 do Hàn Lâm Viện Văn Hóa Á Châu ban tặng, và nhiều giải thưởng quốc tế khác.

Với 5 đời nhạc sĩ cổ truyền, với một truyền thống âm nhạc gia đình hơn 160 năm, môĩ một đời nhạc sĩ đã có những bước tiến ngày càng nới rộng. Ðời thứ nhứt chỉ giới hạn trong thành nội Huế mà thôi. Ðời thứ nhì đã thay đổi vào miền Nam và đã có sáng tác bài bản cho đàn tỳ bà. Ðời thứ ba được đánh dấu bằng sự sáng tạo dây Tố Lan cho cách lên dây đàn kìm để đàn cảc bài buồn và liên kết giữa hai gia đình nhạc sĩ . Ðời thứ tư được chứng mình bởi ảnh hưởng Tây phương và việc phát huy nhạc cô truyền ơ hải ngoại . Ðời thứ năm nhắm vào sự trình diễn nhạc Việt ở hải ngoại và sự hội nhập các luồng nhạc cổ tân Ãu Á trong một chiều hướng sáng tác cận đại trong một chiều hướng đương đại. Ðời thứ sáu chưa thấy có một viễn ảnh tốt đẹp. Các con học nhạc rất ít, không có năng khiếu về âm nhạc. Con gái tôi, Trần thị Minh Tâm (sinh năm 1973), học xong cử nhân về nhạc học tại trường đại học Sorbonne ở Paris (Ba tôi , tôi và con gái tôi đều học chung một trường dạy về nhạc học). Ngoài ra con tôi học piano 10 năm, nhạc lý 11 năm. Từng hát cho dàn hợp xướng của trường đại học Sorbonne. Nhưng lại không thích nghiên cứu. Sau khi đậu cử nhân nhạc học, cháu tìm được việc làm tổ chức đại nhạc hội cho nhạc cổ điển bên Thụy Sĩ từ năm 1997. Hiện nay cháu làm việc tại Paris cho một tổ chức chuyên về nhạc baroque từ năm 2008.

Có thể truyền thống nhạc gia đình họ Trần đến đây là chấm dứt hay có thể trao lại cho một người nào khác không phải ở trong gia đình ? Tôi vẫn tiếp tục tìm một người để trao lại những gì tôi đã học đuợc hầu tiếp nối con đường tôi đã và đang dấn thân đi. Cái khó khăn của tôi là khó tìm cho ra một người có đủ khả năng và chịu để hết thời giờ và tâm chí vào việc học nhạc và nghiên cứu nhạc, cũng như trình diễn nhạc, nhất là trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Ở trong nước, tôi không có hy vọng vì tôi không có mặt trong xứ để khám phá “người trong mộng”. Tôi chỉ nuôi mộng ảo và ước mong sao mộng ảo đó có ngày sẽ trở thành sự thật thì lúc đó dù tôi có nằm xuống đi rồi, tôi cũng sẽ ngậm cười toại nguyện vì truyền thống nhạc của gia đình họ Trần vẫn còn được tiếp nối qua những thế hệ sau.

Trần Quang Hải (Paris)

 

Trần Quang Hải (TQH): Tôi sinh ngày 13 tháng 5, năm 1944 tại làng Linh Đông Xã, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Lúc còn học sinh, học tại trường trung học Trương Vĩnh Ký và học nhạc tại trường quốc gia âm nhạc Saigon từ năm 1955 tới 1961. Sang Pháp năm 1961, học khoa nhạc học tại trường đại học Sorbonne, và trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương (Centre of Studies for Oriental Music) ở Paris. Trong thời gian đó, tôi lại học môn dân tộc nhạc học (ethnomusicology) tại trường cao học khoa học xã hội (School of Studies for Social Sciences). Đậu tiến sĩ dân tộc nhạc học vào năm 1973. Làm việc tại Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (National Center for Scientific Research) từ năm 1968 tới ngày nay (41 năm) với chức vụ nghiên cứu gia về dân tộc nhạc học (ethnomusicologist) chuyên về nhạc Việt Nam và nhạc Á châu, đặc biệt về giọng hát.

http://www.petruskylhp.org/nhacsihotran.htm

 

TRẦN QUANG HẢI : Trần Quang Hải : Năm đời nhạc sĩ họ TRẦN, tiếp theo


Trần Quang Hải : Năm đời nhạc sĩ họ TRẦN, tiếp theo

 

Năm đời nhạc sĩ họ TRẦN (tiếp)

 

Ðời thứ năm: Nhạc sĩ trong lòng nhạc thế giới Trong số bốn người con của Ba tôi, chỉ có em gái út là Trần thị Thủy Ngọc (1950) và tôi là Trần Quang Hải (1944) là tiếp tục truyền thống nhạc cổ gia đình. Em trai kế tôi là Trần Quang Minh (1946) từng tạo tiếng tăm trong giới sinh viên ở Sài Gòn và nhất là trong trường kiến trúc với ban nhạc kích động ” Ba Trái Gáo Dừa” và ban nhạc “Bùng Rền” chuyên về tân nhạc và nhạc ngoại quốc. Em gái kế đó tên Trần Thị Thủy Tiên (1948) không có học nhạc nhưng có khiếu làm hề, chọc người khác cười nhưng chưa bao giờ lên sân khấu hài. Em gái Thủy Ngọc sang Pháp từ năm 1969, học đàn tranh với Ba tôi tại Pháp và phụ giúp Ba tôi dạy đàn tranh tại Trung tâm nghiên cứu nhạc Ðông Phương (1980-1987).

Tôi học nhạc từ năm 5 tuổi. Lúc đó Ba tôi đã đi sang Pháp rồi. Bên nhà, xung quanh tôi không ai biết nhạc để hướng dẫn tôi. Má tôi cho tôi học đàn Mandoline, rồi học vĩ cầm, rồi dương cầm. Ðến khi trường quốc gia âm nhạc mở cửa tại Sài Gòn năm 1955, tôi là nhạc sinh đầu tiên của trường, và học vĩ cầm với ông Phạm Gia Nhiêu (từ trần ở Sài Gòn) năm đầu tiên. Những năm kế tiếp tôi học vĩ cầm với ông Ðỗ Thế Phiệt (đã từ trần tại Sài Gòn) cho tới năm tốt nghiệp năm 1961. Về nhạc lý tôi học với hai ông Nguyễn Cầu (từ trần tháng 12, 1992 tại Washington DC, Hoa Kỳ) và Hùng Lân ( từ trần tại Saigon). Khi sang Pháp vào cuối năm 1961, lần đầu tiên tôi gặp lại Ba tôi sau 13 năm xa cách, tôi chỉ có ý định học nhạc Tây Phương để trở thành nhạc sĩ vĩ cầm chứ không có ý định tiếp tục truyền thống nhạc cổ của gia đình. Phải nói là nhờ nhạc sư vĩ cầm Yehudi Menuhin đã khuyên tôi nên trở về nguồn thì họa may tôi có thể trở thành thày của người Tây Phương. Tôi đã nghe lời ông Yehudi Menuhin. Từ đó tôi học đàn tranh và nhạc lý Á châu với Ba tôi tại Sorbonne cũng như tại Trung tâm nghiên cứ nhạc Ðông Phương. Trong thời gian 8 năm dài đăng đẳng, tôi đã lỉnh hội về nhạc lý cũng như thực tập một số nhạc khí như trống Zarb của Ba Tư, đàn nhị nan hu của Trung quốc, đàn vina của Ấn độ miền Nam, hát kinh kịch Trung quốc, hát múa rối Bunraku của Nhựt, đàn gamelan của Nam Dương. Tôi tự học đàn độc huyền, đàn cò, sinh tiền. Tôi đã phát triển kỹ thuật đàn môi sau khi học với người bạn xứ Anh là John Wright nhờ nghe và thấy nhiều loại đàn môi khác trên thế giới. Lúc nhỏ, tôi có học đánh muỗng căn bản ở Việt Nam. Khi sang Pháp, gặp một người bạn nhạc sĩ Mỹ, tên là Roger Mason, đánh muỗng thật hay. Chính nhờ sự trao đổi kỹ thuật đánh muỗng qua những cuộc “đụng độ” tranh tài muỗng trên sân khấu mà tôi phát triển cách đánh muỗng. Cho tới ngày hôm nay, tôi là người duy nhứt thế giới trình diễn độc tấu muỗng trên sân khấu. Tôi có dịp chạm trán với những danh tài về muỗng tại Mỹ, Gia nã đại, Nga, Anh, Pháp, Thỗ Nhĩ Kỳ, nhưng chưa ai có thể đánh muỗng hay hơn tôi. Và tôi đã được “tôn” làm “Vua Muỗng (Le Roi des Cuillers / The King of Spoons) tại một đại nhạc hội dân nhạc ở Cambridge Folk Music Festival vào năm 1967.

Sau khi đậu xong bằng cao học về dân nhạc của trường cao đẳng khoa học xã hội, tôi được Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học nhận vào làm việc từ đầu năm 1968. Vài năm sau tôi đệ trình luận án tiến sĩ về sự khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh. Tôi tự khám phá cách hát đồng song thanh, tức là hát hai giọng cùng một lúc, do dân Mông Cổ và dân Tuva miền Tây Bá Lợi Á . Tôi đã năng luyện kỹ thuật hát này để trở thành một người chuyên môn duy nhứt trên thế giới có thể truyền dạy kỹ thuật hát đồng song thanh cho bất cứ người nào trong vòng 3 phút.

Năm 1989, tôi cùng anh bạn cùng sở Hugo Zemp hoàn thành cuốn phim nhan đề “Le Chant des Harmoniques ” (Bài hát bồi âm) dựa trên ba khía cạnh nghiên cứu : cách đo bồi âm của giọng hát qua máy Sonagraph, cách đo cổ họng và miệng qua quang tuyến X (rayon X / X-ray), và phương pháp dạy hát của tôi. Phim dài 38 phút, chiếm 4 giải thưởng quốc tế (Estonie năm 1990, Pháp năm 1990, Canada năm 1991). Năm 1995, tôi được mời sang Kyzyl, thủ đô của xứ Tuva, để làm chánh chủ khảo cuộc thi hát đồng song thanh cho 300 ca sĩ hát theo kỹ thuật này. Năm 1997 tôi nghĩ tới chuyện sáng chế ra một cây đàn môi mang tên tôi. Với sự giúp đở kỹ thuật của Hồ Bách Nghĩa, tôi đã thực hiện giấc mộng của tôi là lưu lại cho đời sau một nhạc khí mang tên tôi. Cây đàn môi này đã được tặng cho viện bảo tàng ở Cape Town (Nam Phi), viện bảo tàng đàn môi của xứ Yakut (Tây bá lợi á), viện bảo tàng đàn môi ở Molln(Áo quốc). Cùng một năm, tôi viết 17 tác phẩm cho đàn môi nhiều loại và có thu vào một CD mang tên là “Guimbardes du Monde / Jew’s Harps of the World/ TrânQuang Hai” do hãng dĩa Playasound phát hành tại Paris vào tháng 11,1997. Năm 1998, tôi được mời như là thượng khách của đại hội đàn môi thế giới để tham luận về đàn môi Á châu, đàn môi trong nhạc mới Tây phương, và trình diễn. Tôi được may mắn được chọn là Nhạc Sĩ đánh đàn môi hay nhứt đại hội ( The Best Jew’s Harp Player of the Festival) gồm những người chơi đàn môi giỏi nhứt. Trong hai năm 1999 và 2000, tôi được mời làm thượng khách (invité d’honneur) hay chủ tịch danh dự (président d’honneur) của nhiều đại nhạc hội (Festival d’Auch/Eclats des Voix năm 1999, Festival de Pérouges/Au Fil de la Voix năm 2000, vv…) . Năm 2002, tôi được huy chương Bắc đẩu bội tinh (Légion d’Honneur) của Pháp và năm 2009 huy chương danh dự làm việc hạng đại kim (médaille d’honneur du Travail, catégorie Grand Or) của Pháp . Năm 2004, tôi hợp tác cùng Luc Souvet thực hiện một DVD « Le Chant Diphonique » dành cho học sinh trung học do Centre Régional de Documentation pédagogique ở Saint Denis (đảo La Réunion) phát hành. Năm 2009, một DVD về nhạc truyền thống Việt Nam được xuất bản tại Pháp.

Sau nhiều năm trình diễn nhạc Việt tại các đại nhạc hội quốc tế, giảng dạy tại các trường đại học thế giới, tôi đã và đang tiếp tục duy trì truyền thống nhạc cổ gia đình. Với tổng số 23 dĩa hát(15 dĩa 33 vòng, 8 dĩa CD) được phổ biến khắp nơi từ hơn 45 năm nay, tiếp tục con đường phát huy nhạc Việt ở hải ngoại của phụ thân tôi. Một mặt lo bảo vệ truyền thống, một mặt khác tôi tự vạch một hướng đi cho riêng tôi. Ðó là hòa mình vào trong xã hội Tây phương. Những thử thách đi từ sáng tác nhạc Việt (400 bài) đến trình diễn nhạc Jazz, nhạc Pop, qua nhạc phim Tây phương. Tôi đã khởi công làm nhạc điện tử (Về Nguồn,một sáng tác cùng với nhà soạn nhạc Nguyễn Văn Tường (1929-1997 tại Pháp), nhạc đương đại tùy hứng (một dĩa 33 vòng SHAMAN với nhạc sĩ Jazz Misha Lobko, 1982), nhạc tùy hứng tập thể, những loại nhạc cận đại thuộc khuynh hướng tân kỳ nhất, và một số bài bản đã được trình diễn tại các nhạc hội quốc tế. Năm 1997, tôi có cộng tác trong dự án bộ dĩa 3 CD với đề tựa VOIX DU MONDE do 30 nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học đã chiếm giải thưởng Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros, Le Diapason de l’Année, Le CHOC de l’annéẹ Tôi cũng có tham dự việc thực hiện một dĩa 2 CD về nhạc sắc tộc Việt Nam, được xuất bản vào tháng 11, 1997 nhân dịp lễ Thượng Ðỉnh Pháp Thoại lần đầu . Nữ ca sĩ Bạch Yến, một giọng ca quen thuộc của làng tân nhạc Việt Nam, đã từng nổi tiếng qua bài “Ðêm Ðông” (nhạc của Nguyễn Văn Thương) và những bài ca nhạc ngoại quốc, đã mang đến cho tôi sau ngày chúng tôi thành hôn với nhau, một nguồn hứng mới. Bạch Yến đã đóng góp vào việc phổ biến nhạc Việt ở hải ngoại một cách đắc lực và kín đáo. Kinh nghiệm về sân khấu, về sự tổ chức chương trình, cũng như sự lưu ý đến trang y phục để làm cho chương trình trình diễn có một giá trị sân khấu và nghệ thuật cao hơn. Hai chúng tôi đã sát cánh từ hơn 30 năm nay và đã gặt hái nhiềuthành công, cụ thể hóa bằng một giải thưởng tối cao Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros năm 1983 tại Paris cho dĩa hát của chúng tôi “Viêt Nam – Trân Quang Hai & Bach Yên” do hãng dĩa Studio SM phát hành tại Paris, một huy chương vàng âm nhạc năm 1986 do Hàn Lâm Viện Văn Hóa Á Châu ban tặng, và nhiều giải thưởng quốc tế khác.

 Với 5 đời nhạc sĩ cổ truyền, với một truyền thống âm nhạc gia đình hơn 160 năm, môĩ một đời nhạc sĩ đã có những bước tiến ngày càng nới rộng. Ðời thứ nhứt chỉ giới hạn trong thành nội Huế mà thôi. Ðời thứ nhì đã thay đổi vào miền Nam và đã có sáng tác bài bản cho đàn tỳ bà. Ðời thứ ba được đánh dấu bằng sự sáng tạo dây Tố Lan cho cách lên dây đàn kìm để đàn cảc bài buồn và liên kết giữa hai gia đình nhạc sĩ . Ðời thứ tư được chứng mình bởi ảnh hưởng Tây phương và việc phát huy nhạc cô truyền ơ hải ngoại . Ðời thứ năm nhắm vào sự trình diễn nhạc Việt ở hải ngoại và sự hội nhập các luồng nhạc cổ tân Ãu Á trong một chiều hướng sáng tác cận đại trong một chiều hướng đương đại. Ðời thứ sáu chưa thấy có một viễn ảnh tốt đẹp. Các con học nhạc rất ít, không có năng khiếu về âm nhạc. Con gái tôi, Trần thị Minh Tâm (sinh năm 1973), học xong cử nhân về nhạc học tại trường đại học Sorbonne ở Paris (Ba tôi , tôi và con gái tôi đều học chung một trường dạy về nhạc học). Ngoài ra con tôi học piano 10 năm, nhạc lý 11 năm. Từng hát cho dàn hợp xướng của trường đại học Sorbonne. Nhưng lại không thích nghiên cứu. Sau khi đậu cử nhân nhạc học, cháu tìm được việc làm tổ chức đại nhạc hội cho nhạc cổ điển bên Thụy Sĩ từ năm 1997. Hiện nay cháu làm việc tại Paris cho một tổ chức chuyên về nhạc baroque từ năm 2008.

Có thể truyền thống nhạc gia đình họ Trần đến đây là chấm dứt hay có thể trao lại cho một người nào khác không phải ở trong gia đình ? Tôi vẫn tiếp tục tìm một người để trao lại những gì tôi đã học đuợc hầu tiếp nối con đường tôi đã và đang dấn thân đi. Cái khó khăn của tôi là khó tìm cho ra một người có đủ khả năng và chịu để hết thời giờ và tâm chí vào việc học nhạc và nghiên cứu nhạc, cũng như trình diễn nhạc, nhất là trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Ở trong nước, tôi không có hy vọng vì tôi không có mặt trong xứ để khám phá “người trong mộng”. Tôi chỉ nuôi mộng ảo và ước mong sao mộng ảo đó có ngày sẽ trở thành sự thật thì lúc đó dù tôi có nằm xuống đi rồi, tôi cũng sẽ ngậm cười toại nguyện vì truyền thống nhạc của gia đình họ Trần vẫn còn được tiếp nối qua những thế hệ sau.

                                                                            Trần Quang Hải (Paris)
 

                                                       

Trần Quang Hải (TQH): Tôi sinh ngày 13 tháng 5, năm 1944 tại làng Linh Đông Xã, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Lúc còn học sinh, học tại trường trung học Trương Vĩnh Ký và học nhạc tại trường quốc gia âm nhạc Saigon từ năm 1955 tới 1961. Sang Pháp năm 1961, học khoa nhạc học tại trường đại học Sorbonne, và trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương (Centre of Studies for Oriental Music) ở Paris. Trong thời gian đó, tôi lại học môn dân tộc nhạc học (ethnomusicology) tại trường cao học khoa học xã hội (School of Studies for Social Sciences). Đậu tiến sĩ dân tộc nhạc học vào năm 1973. Làm việc tại Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (National Center for Scientific Research) từ năm 1968 tới ngày nay (41 năm) với chức vụ nghiên cứu gia về dân tộc nhạc học (ethnomusicologist) chuyên về nhạc Việt Nam và nhạc Á châu, đặc biệt về giọng hát.

http://www.petruskylhp.org/nhacsihotran.htm