Category Archives: Uncategorized

Trần Hữu Ngư: Boléro và chỉ có boléro mới làm người nghe thỏa mãn được những câu chuyện tình


25/01/2017 20:13

Boléro và chỉ có boléro mới làm người nghe thỏa mãn được những câu chuyện tình

Những bài tình ca giai điệu boléro mang đậm dấu ấn quê hương một thời làm thổn thức biết bao trái tim trước năm 1975, nay được hát lại. Những người yêu mến boléro bây giờ thấy những bài tình ca ấy như những con chim trở về tổ ấm véo von bù đắp lại một thời đã xa.

SỨC SỐNG MÃNH LIỆT

Nếu nhạc sĩ Hồng Vân viết “Đồi thông hai mộ” bằng một giai điệu khác mà không phải boléro thì chắc rằng bản nhạc này đã chết từ lâu rồi. Cũng như bài thơ “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan có 3 nhạc sĩ phổ nhạc nhưng chỉ “Những đồi hoa sim” mang giai điệu boléro của nhạc sĩ Dzũng Chinh là phổ biến nhất. Cũng giống “Hàn Mặc Tử” của Trần Thiện Thanh vì boléro mà tên tuổi ông gắn với nhạc phẩm này mặc dù ông có hàng trăm ca khúc khác và có lẽ bài hát sống mãi được là nhờ boléro chăng?

Chỉ có thể là boléro!

Dòng nhạc phát triển rực rỡ ở miền Nam này đã chuyên chở thân phận tình yêu, những tình tự quê hương, lột tả mọi góc cạnh cuộc đời, làm thỏa mãn người nghe của mọi tầng lớp. Nó chỉ như một thứ tình cảm thuộc loại vườn chuối, buồng cau… của con người lao động khi mà vinh hoa phú quý còn là thứ rất xa vời!

Vì sao so với tango, slow, valse…, boléro chiếm lĩnh thị trường ca nhạc thời bấy giờ? Để lý giải điều này, người viết – với tư cách là một người đam mê boléro từ thuở thiếu thời – xin trả lời mộc mạc rằng: Boléro là những tình khúc quê hương mà nhạc sĩ đã dùng âm nhạc để vẽ nên một bức tranh nông thôn, những tình yêu đôi lứa đẹp như trăng rằm, sự nghiệt ngã của chiến tranh, những số phận con người trong từng hoàn cảnh, những dạt dào tình làng nghĩa xóm, không tiếc sức người còng lưng trên đồng lúa, nương dâu mà cha ông chúng ta đã đánh đổi không chỉ bằng mồ hôi mà cả máu.

Chỉ có thể là boléro!

Những đứa trẻ sinh ra sau năm 1975 nhìn quê hương qua lăng kính màu hồng, khác với thế hệ chúng tôi, nhìn quê hương qua những trái hỏa châu chiếu sáng; những sớm mai ngóng tin chồng, tin cha từ chiến trường; những đêm giật mình vì tiếng đại bác… Quê hương tôi chỉ là lùm tre, con sông nhỏ, một miếng đất bạc màu trên mảnh vườn thưa thớt cọng rau, ngọn cỏ… vậy mà tôi yêu đến vô hạn.

BÌNH DÂN NHƯNG ĐÂU DỄ VIẾT

Không ít ca sĩ tìm boléro để thử sức nhưng “bỏ của chạy lấy người” là điều dễ hiểu vì boléro tuy bình dân nhưng để hát, để viết cho… tới thì không dễ chút nào! Ngoài ra, có không ít người “thức một đêm, sáng ngày thành nhạc sĩ” muốn làm mới boléro để chứng tỏ ta đây nhưng đó chỉ là sự cưỡng bức thô bạo dưới danh nghĩa sáng tạo, đã làm chói tai người nghe bằng những nhạc cụ điện tử, đã “lai” boléro. Đây là một việc làm đáng trách của một số ca sĩ, nhạc sĩ trẻ nôn nóng thành danh và kiếm tiền từ dòng nhạc này.

Chỉ có thể là boléro!

Ngày nay, nhạc sĩ trẻ không thể viết được boléro. Nói vậy không có gì quá đáng bởi nhạc sĩ đi trước có hoàn cảnh lịch sử hoàn toàn khác bây giờ. Ngày ấy, boléro là những bản tình ca đầy ắp tiếng nói quê hương, tình yêu đôi lứa; còn bây giờ, đi theo ánh sáng văn minh khoa học – kỹ thuật, người ta bỏ thôn quê tiến vào thành thị để được ngắm nhà hàng, khách sạn, những khu nghỉ mát sang trọng, những thức ăn cao sang… Và cũng từ đây, con người xa dần những hình ảnh quê hương (có chăng chỉ còn trong tâm tưởng). Đánh mất hình ảnh thôn quê thì không thể nào viết được boléro. Người viết nhạc nếu không có tâm hồn lãng mạn để nhìn quê hương thì khó viết được một bài hát boléro đúng nghĩa như các bậc đàn anh đã làm. Viết giai điệu boléro thì nhạc sĩ nào cũng làm được nhưng để hoàn thành một bài hát boléro còn có ca từ và ý tưởng. Giữa thời đại công nghiệp hóahiện đại hóa mà bắt chước viết nhạc boléro thì chỉ sinh ra những đứa con dị dạng và chết yểu, không chết về giai điệu mà chết vì ca từ và ý tưởng.

TRỞ LẠI VÀ “LỢI HẠI” HƠN XƯA!

Cách đây gần 20 năm, người ta đem nhạc “vàng”, nhạc “sến” (ám chỉ nhạc boléro) ra mổ xẻ. Kẻ khen thì ít mà người chê thì nhiều. Dù đây là chuyện cũ nhưng luận bàn về nhạc boléro mà không nhắc lại những câu nói này, e là điều thiếu sót. Và chúng ta hãy nghe các nhạc sĩ miền Bắc nói về dòng nhạc này của nhạc sĩ miền Nam.

Chỉ có thể là boléro!

“… Gần đây, tôi thường nghĩ về câu hỏi mà một giáo sư âm nhạc Mỹ đã nêu ra với nhạc sĩ Nguyễn Cường – bạn tôi: Nhạc vàng là thế nào? Tôi thích và thấy nó rất Việt Nam, và nhạc sến nữa. Tôi thử về tận gốc của nhạc vàng và sến thì ra gốc nó ở tận cùng nơi thôn dã, lũy tre làng nguyên bản…” (nhạc sĩ Phó Đức Phương).

“… Cái mà người ta cho là “sến” có nhiều bài hát chân thành, xúc cảm, rung động lòng người vì sự giản dị, mộc mạc, đồng quê…” (nhạc sĩ Trần Tiến).

“… Đây là dòng nhạc đáp ứng được nhu cầu cho một đối tượng người nghe rất cụ thể, đó là lớp cần lao, bình dân và trong dòng nhạc này vẫn có những bài truyền cảm, xúc động…” (nhạc sĩ Dương Thụ).

Vậy thì, những lời nói ngắn gọn ấy cũng đủ làm “luật sư” cho boléro một thời mà dân chơi thời thượng đã miệt thị dòng nhạc này không thương tiếc.

Chỉ có thể là boléro!

“Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Rồi chắc cũng sẽ trở về với boléro? Hàng trăm ca khúc boléro trước năm 1975 mà những kẻ “trưởng giả học làm sang” sau năm 1975 cho là vàng, là sến, là não tình, là bi lụy bây giờ được đào bới, xới tung để hát lại thì rõ ràng thị trường ca nhạc vốn tung hô những bản nhạc “hàn lâm” đã đi vào ngõ kẹt! Bài hát nào dẫu có hay đến mấy nhưng nghe hát hoài cũng đâm ra chán, chỉ có nhạc boléro là “nghe, nghe nữa, nghe mãi”.

Hơn nửa thế kỷ qua, dòng nhạc boléro đã lan truyền từ thành thị cho đến thôn quê như theo quy luật cung – cầu mặc dù phương tiện nghe nhìn có thời cực kỳ quý hiếm. Nghe ca sĩ hát trên đài phát thanh vài lần là thuộc, rồi nó đi vào lòng mình hồi nào chẳng hay. Ngày nay, mỗi lần nghe lại, hát lại, vẫn cảm thấy thích thú trong từng âm điệu và ca từ.

Hy vọng rằng “nghe nhạc bằng tai” sẽ lấn át “nghe nhạc bằng mắt” khi dòng nhạc boléro được hát lại trong những cuộc thi, những nốt nhạc xưa để người già tìm về kỷ niệm, để giới trẻ giật mình vì có một thời họ ngộ nhận về dòng nhạc này. Và cũng nhận xét rằng chưa thấy có ca sĩ nào “qua mặt” được các ca sĩ đàn chị, đàn anh trước năm 1975. Chúng ta thấy gì qua hiện tượng này? Một nhu cầu thưởng thức âm nhạc quá lớn nhưng tiếc là đã từ lâu, nhạc sĩ trẻ muốn loại boléro ra khỏi cuộc chơi để đi tìm nhạc lai ngoại, thứ nhạc mà các nhạc sĩ ông cha chúng ta đã đánh đổ để tìm một hướng đi đích thực cho dòng nhạc Việt từ năm 1938!

“Bài hát nào dù hay đến mấy nhưng nghe hoài cũng chán, chỉ có boléro là nghe nữa, nghe mãi…”

Trần Hữu Ngư

http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/chi-co-the-la-bolero-20170119003901758.htm

GS TRẦN QUANG HẢI : Nhạc cụ “đặc hữu” của Việt Nam


Nhạc cụ “đặc hữu” của Việt Nam (20/01/2017)

VH- Sau bài viết của tôi về Đàn Bầu là của Việt Nam hay Trung Quốc? vào đầu tháng 8, cảnh báo việc có thểmất “chủ quyền” của đàn Bầu, tiếp theo là bài của Hà Đình Nguyên trên báo Thanh Niên Cần sớm khẳng định “chủ quyền” với đàn Bầu (cũng vào tháng 8.2016), Viện Âm nhạc thuộc Học viện Âm nhạc Quốc gia VN (gọi tắt là Học viện) tổ chức hai hội thảo quan trọng: “Tôn vinh đàn Bầu trong Festival âm nhạc mới Á – Âu 2016” tại Hà Nội từ 12 – 18.10.2016 và hội thảo “Đàn Bầu và vai trò của nó trong nền văn hóa” vào ngày 21.10.2016.

 Hội thảo khoa học về đàn Bầu

Tại hội thảo, PGS.TS Nguyễn Bình Ðịnh, Viện trưởng Viện Âm nhạc phân tích: “Trong số các đàn một dây trên thế giới (Ichigenkin của Nhật, Tushuenkin của TQ, Sadieu của Cao Miên, Gopiyantra, Ektara của Ấn Độ), đàn Bầu VN được đánh giá là độc đáo bởi là loại đàn duy nhất phát ra âm bồi; chỉ có một dây, không có phím bấm nhưng có thể chơi được tất cả các độ cao; có khả năng trình diễn các kỹ thuật rung, nhấn, nhất là các dạng luyến láy, tô điểm âm khác nhau nên rất phù hợp với giai điệu âm nhạc của VN. Do sử dụng kỹ thuật uốn vòi đàn, tạo ra sự căng chùng khác nhau của dây đàn, nên đàn Bầu là nhạc cụ duy nhất trên thế giới với một lần kích âm có thểcho một âm cơ bản và các âm khác có độ cao hoặc thấp hơn hẳn âm cơ bản ấy”.

Giáo sư Trần Quang Hải là một trong những học giả lên tiếng về chủ quyền của cây đàn Bầu Việt Nam trong thời gian gần đây. Từ Pháp, giáo sư đã gửi cho chúng tôi tập tư liệu viết và sưu tập cá nhân về đàn Bầu lên tới 11 trang với rất nhiều thông tin của các học giả, chứng cứ lịch sử cũng như quan điểm của cá nhân giáo sư. Từ đây, chúng tôi rút gọn, chọn lọc và trích đăng trong khuôn khổ phù hợp với một bài báo. Tựa đề chính và các tựa đề phụ do Tòa soạn đặt.

Cùng với thời gian, đàn Bầu luôn được cải tiến, qua sự nghiên cứu, tìm tòi của nhiều nghệ sĩ. Thuở ban đầu, đàn chỉ đơn giản làm từ một ống bương hoặc vầu, mai; ngựa đàn là mảnh sành, sứ hoặc một miếng gỗcứng; vòi đàn là một que tre dài; dây đàn làm bằng dây móc, gai, tơ; bầu đàn bằng vỏ quả bầu nậm khô hoặc vỏ gáo dừa khô. Ðến nay, đã có những thay đổi với thân đàn làm bằng gỗ tiện theo hình quả bầu nậm; dây đàn bằng hợp kim… Việc áp dụng khoa học công nghệ giúp âm thanh được phóng to, tiếng đàn còn có thể ngân được độ dài gấp nhiều lần trước đây. Ðàn Bầu có thể biểu diễn trên sân khấu lớn, với tất cả các loại nhạc cụ của dàn nhạc dân tộc, bộ gõ, dàn nhạc điện tử, dàn nhạc giao hưởng. Ðiều này đã giúp các nhạc sĩ thuận lợi hơn trong việc sáng tác cho đàn Bầu.

Trở lại lịch sử, ngay từ năm 1956, đàn Bầu đã được đưa vào giảng dạy chính quy tại Trường Âm nhạc VN (nay làHọc viện). Nhiều học sinh nước ngoài cũng đến xin học đàn Bầu tại đây. Năm 1978, Nhạc hội đàn Bầu lần thứ nhất và Hội thảo đàn Bầu do Viện Âm nhạc VN tổ chức được đông đảo nghệ nhân, nghệ sĩ nhiều lứa tuổi tham gia.

Tháng 12.2014, Câu lạc bộ “Nghệ thuật đàn Bầu VN” ra đời, phối hợp Học viện tổ chức Nhạc hội đàn Bầu năm 2014 – 2015, quy tụ được nhiều nghệ sĩ chuyên nghiệp và không chuyên trong và ngoài nước tham dự. Là người phục chế cây đàn Bầu mộc đầu tiên từ năm 1990, mấy năm gần đây, NSND Xuân Hoạch đưa đàn Bầu trở lại biểu diễn tại chiếu xẩm Hà Thành ngay phố cổ, được khán giả Thủ đô và du khách hưởng ứng.

Cây đàn Bầu là nhạc cụ “đặc hữu” của VN từ rất xa xưa và gắn liền với đời sống của người dân. Trong kho tàng âm nhạc VN có các bài bản cho đàn Bầu dựa trên các bài dân ca Quan họ, Lý, Hát ru, Chèo, Tuồng, Ca Huế, Đờn ca tài tử… Ngoài ra, đàn Bầu còn dùng để đệm cho ngâm thơ, hoặc độc tấu, song tấu, tứ tấu, dàn nhạc giao hưởng dân tộc… Các nhạc sĩ VN đã sáng tác những bản cho đàn Bầu như: Vì miền Nam (Huy Thục), Niềm tin tất thắng (Khắc Chí), Hồi tưởng (Xuân Thi), Đối thoại (Đỗ Hồng Quân), Dòng kênh trong (Hoàng Đạm), Buổi sáng sông Hương, Cung đàn đất nước (Xuân Khải), Gửi Thu Bồn, Quê mẹ (Khắc Chí), Gửi Huế mến yêu (Đình Long), Gửi đến Ngự Bình (Quốc Lộc), Thoáng quê (Thanh Tâm), Câu hát mẹ ru (Phú Quang)…

Đàn Bầu trong dàn nhạc giao hưởng Ảnh: Nguyễn Đình Toán

Nghệ sĩ VN dạy đàn Bầu cho nghệ sĩ TQ

Qua sự tìm hiểu trong thư tịch và hiện vật khảo cổ học cũng như lịch sử chữ viết có một số sách sử quan trọng có đề cập đến đàn Bầu. Theo An Nam chí lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục tiền biên… cây đàn bầu ra đời xuất phát điểm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, sau đó được người Kinh VN mang sang Quảng Tây, TQ.

Dẫu thế, vài năm nay ở TQ đã có những festival nhạc dân tộc với những màn biểu diễn đàn Bầu. Trên trang web China Daily USA đăng bài cùng hình ảnh của Xinhua với chú thích “Hàng trăm người dân tộc Kinh thiểu số cùng chơi đàn độc huyền cầm” trong một lễ hội truyền thống ở nước này. Bài viết nói rằng tộc người Kinh (Jing) này đã di cư từ VN sang TQ từ khoảng 500 năm trước và hiện tộc người này có khoảng 22.000 người. Nhạc sĩ Đức Trí, người đã nhiều năm theo học đàn bầu chia sẻ: “Tôi chợt nhớ, cách đây 10 năm, tôi tình cờ xem được trên kênh truyền hình CCTV của TQ một chương trình hòa tấu nhạc dân tộc và đã rất kinh ngạc khi thấy có cây đàn Bầu trong dàn nhạc dân tộc TQ. Đây là điều chưa từng thấy trước đó”.

Tuy nhiên, cây đàn Bầu phổ biến tại TQ hiện nay là đàn Bầu VN. Theo một số nghệ sĩ và nhà nghiên cứu (NNC) âm nhạc, đàn Bầu chỉ mới được TQ lưu tâm đến không đầy 20 năm sau này, vì trước đó không thấy dạy đàn Bầu ở các nhạc viện TQ. Họ đã gửi nhạc công sang VN học đàn Bầu; đồng thời, mời một số NNC sưu tầm tài liệu để viết về đàn Bầu và đưa lên mạng thông tin đàn Bầu rất được người dân tộc Kinh ở TQ yêu thích.

Theo NNC Đặng Hoành Loan [4], kể từ khi nghệ sĩ đàn Bầu Mạnh Thắng biểu diễn trên sân khấu cố đô Yangon (Myanmar), đến các cuộc lưu diễn khắp thế giới, các nghệ sĩ VN đã làm cho đàn Bầu trở thành cây đàn được thế giới biết đến và yêu thích. Bổ sung cho chi tiết 2 nghệ sĩ Đức Nhuận và Đoàn Anh Tuấn từng dạy đàn Bầu cho nghệ sĩ TQ, NSND Đỗ Lộc chia sẻ: “Nghệ sĩ Điền Xương của TQ đi theo đoàn VN suốt thời gian đoàn lưu diễn để được thầy Đức Nhuận chỉ dẫn về đàn bầu…”.

Trong khi, NSND Nguyễn Tiến kể: “Cuối năm 2013, tôi đã từng nói chuyện và biểu diễn minh họa về lịch sửphát triển cây đàn Bầu VN tại Học viện Dân tộc Quảng Tây, nơi cũng có một khoa giảng dạy đàn Bầu. Cả hội trường vô cùng ngạc nhiên. Trưởng khoa đàn Bầu (và là người chỉ huy dàn nhạc của Học viện) là Thái Ương đã nói với tôi: Nghe anh nói chuyện cả buổi sáng nay tôi mới hiểu được hết cái hay và cái đẹp của cây đàn Bầu VN. Học viện chúng tôi có khoa Đàn Bầu vì có một số học viên là người dân tộc Kinh có nhu cầu nên chúng tôi dạy thôi. Hiện nay cũng có học sinh TQ đang học tại Học viện Âm nhạc Quốc gia VN về đàn Bầu. Có cô gái TQ tên là Tôn Tiến cũng từng gặp tôi để học hỏi về đàn Bầu”.

Nghệ sĩ đàn Bầu Ảnh: Tr. Huấn

Đàn Bầu cùng hòa tấu với dàn nhạc trong chương trình nghệ thuật “Mùa đông xứ Huế” tại Nhà hát Lớn Hà Nội (tháng 12.2016) Ảnh: T.Huấn

Sở hữu nhiều tư liệu quan trọng

Đàn Bầu
Đàn Bầu ai gảy thì nghe
Làm thân con gái chớ nghe đàn Bầu
(Ca dao)
Đêm nằm ngoảnh mặt về Nam
nghe rơi thẳm một tiếng đàn trong khuya
Tiếng thơ ai mở lời kìa
đàn Bầu ai gảy tôi nghe đàn bầu
Võng chành như chiếc thuyền câu
đưa tôi trôi giữa nông sâu tiếng đàn
bồng bềnh mạn nhặt mạn khoan
thời gian có phím không gian có hình
Đàn xưa ai tính ai tình
một mình ai gảy một mình ai nghe
ai người con gái vùng quê
mê ai quá đỗi mà ghê tiếng đàn
Bây giờ cũng nhặt cũng khoan
ngang trời ta bắc cầu sang với mình
ai buông lửng một cái tình
để ngân nga đến rung rinh lòng người
Tôi mê người lắm người ơi
cái tai thì cạn cuộc đời thì sâu
lẩy lên đi hỡi đàn Bầu
những tâm tình ở đằng sau tâm tình

Nguyễn Duy
Trích từ Ghi chép Trường Sơn 1975 in trong tập Cát trắng, NXB Quân đội Nhân dân, 1995

Theo NNC Đặng Hoành Loan, cách chơi đàn Bầu dây buông là lối chơi ra đời trước nhất, có khởi đầu từ câu chuyện tổ nghề Xẩm chơi đàn một dây thời nhà Đinh (968-980) [4]. Cũng theo NNC, rất có thể lối chơi này kéo dài suốt 802 năm cho tới năm 1770 thời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777) mới có thêm cách chơi bồi âm. Cách chơi bồi âm ra đời làm thay đổi chất lượng và phong cách nghệ thuật đàn Bầu, đưa cây đàn xâm nhập vào một số hình thức sinh hoạt âm nhạc trong cung đình. Sự kiện này được các nhà làm sử thời Nguyễn để mắt đến và chép trong bộ sử Đại Nam thực lục tiền biên.

Theo đó, người sáng tạo ra đàn Nam cầm (đàn Bầu) là Tôn Thất Dục. Nguyên văn: “Dục hiếu học, giỏi thơ, càng tinh về thuật số và âm nhạc, tục truyền đàn Nam cầm là do Dục chế ra”. Hơn một trăm năm sau, đàn Bầu đã tham gia sâu rộng vào nghệ thuật ca hát thính phòng Huế.

Có lẽ điều đó đã làm cho các học giảnhư Hoàng Yến và G. Cordier cùng cho rằng đàn Bầu được đưa vào Huế năm 1892 đến năm 1896. Theo NNC Hoàng Yến [6], năm 1892, đàn Bầu mới được những người hát xẩm phía Bắc đưa vào xứ Huế để đệm đàn cho một số bộ phận vương quan tiến bộ yêu thích thanh âm trong trẻo, nỉ non đó.

Cuối TK XIX đầu TK XX, Vua Thành Thái – một trong ba vị vua yêu nước thời Pháp thuộc, yêu tiếng đàn Bầu như hơi thở quê hương xứ An Nam, lúc đó đàn Bầu mới được thay thế đàn tam trong ngũ tuyệt tranh-tỳ-nhị-nguyệt và bầu. Tiếp đó, đàn Bầu có mặt trong Đờn tài tử Nam bộ từ năm 1930 do những người miền Trung vào khai khẩn đất hoang vào cuối thế kỷ XIX. Đàn Bầu được gọi là “đờn một dây” hay “đờn độc huyền”.

Cây đàn này cũng được nhiều học giả người Việt quan tâm nghiên cứu trong hơn nửa thế kỷ qua. Cố GS. Trần Văn Khê đã miêu tả đàn độc huyền – không dùng từ đàn Bầu trong quyển luận án bảo vệ tại Paris năm 1958 [2], và trong quyển Vietnam/Traditions Musicales do nhà sách Buchet/Chastel xuất bản tại Paris năm 1967 [3]. Tôi có viết bài miêu tảđàn độc huyền – không dùng từ đàn Bầu trong quyển Music of the world [1] do Nxb J.M.Fuzeau phát hành, Courlay, Pháp, 1994.

Cách đây 7 năm, nữnhạc sĩ Quỳnh Hạnh (trong nhóm Hoa Sim được thành lập ở Saigon từ thập niên 60) bảo vệ luận án Tiến sĩ về đàn Bầ u thành công tại trường đại học Sorbonne Paris 4. Ngoài phần miêu tả nhạc cụ và dân tộc nhạc học, còn có phần viết về việc sử dụng đàn Bầu trong cách chữa bịnh (bệnh) tâm thần (musicothérapie) [2]. Ở trong nước, Học viện có 3 luận văn Cao học và 1 luận án Tiến sĩ về đàn Bầu được bảo vệ thành công [5]: NSND Nguyễn Thị Thanh Tâm bảo vệ luận án cao học năm 1999 với đề tài Một số vấn đề về giảng dạy và biểu diễn đàn bầu ở Nhạc viện Hà Nội.

Tiếp theo, Nguyễn Thị Mai Thủy bảo vệ luận văn Cao học năm 2007 về Giảng dạy đàn bầu bậc trung học dài hạn tại Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội. Sun Jin (Tôn Tiến), người TQ, bảo về luận văn Cao học năm 2009 về Đàn Bầu với việc giảng dạy tại trường đại học Quảng Tây, TQ. Cũng Sun Jin bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 2015 về Nghệ thuật đàn Bầu trong giai đoạn mới tại VN [5]. Với sự kế thừa và phát triển đàn Bầu, Tôn Tiến muốn trên cơ sở của người trước đã làm và đề ra vài ý kiến mới, đó là những quan điểm “hoạt hóa”, “tiến hóa” và “tiêu chí hóa”. Trong đó, “hoạt hóa” có yêu cầu giữ gìn và đa dạng hóa các hoạt động nghệ thuật biểu diễn đàn Bầu. “Tiến hóa” có ý nghĩa đổi mới nội dung và hình thức để phát triển nghệ thuật đàn Bầu. “Tiêu chí hóa” mang nghĩa đại diện của khu vực, làm nổi bật vịtrí của nghệ thuật đàn Bầu.

Như vậy, theo tôi trong giai đoạn hiện tại, việc làm quan trọng nhất và khẩn thiết nhất là đưa đàn Bầu vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia để làm căn cứ quan trọng nhằm xác lập “chủ quyền” của nhạc cụ này hoàn toàn thuộc VN. Đó là tiền đề để tiến tới việc thiết lập hồ sơ pháp lý, để thế giới công nhận đàn Bầu của VN làdi sản của nhân loại.

Tham khảo:
1. Trần Quang Hải (1994): The đàn độc huyền – monochord (from the book MUSIC OF THE WORLD, published by J.M.FUZEAU, Courlay, France, p.298-299, 1994
2. Trương ThịQuỳnh Hạnh (2009), “Le đàn bầu, monocorde vietnamie), Étude organologique et ethnomusicologique” (Đàn bầu: nghiên cứu nhạc cụvà dân tộc nhạc học). Thèse de doctorat en Ethnomusicologie, soutenue le 25 novembre 2009 à l’Université de Paris IV-Sorbonne (Maison de la Recherche), Directeur de thèse: François Picard, 1 volume (299 pages), 1 DVD, 1 CD
3. Trần Văn Khê (1962), “Le đàn độc huyền” in La Musique traditionnelle vietnamienne , Presses Universitaires de France (nhà xuất bản), Annales Du Musée Guimet, trang 133-139, Paris.
4. Đặng Hoành Loan, 2016, “Tản mạn chuyện đàn bầu”, tham luận Hội thảo đàn Bầu vàvai tròcủa nótrong nền văn hóa Việt Nam, ngày 21.10 tại HàNội.
5. Tôn Tiến (Sun Jin) (2015), “Nghệ thuật đàn Bầu trong giai đoạn mới tại Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ âm nhạc, bảo vệ tháng 8.2015, Học viện Âm nhạc quốc gia VN, 183 trang, Hà Nội.
6. Hoàng Yến (1919): “La Musique à Huế: Đàn Nguyệt et Đàn Tranh”, in BAVH (Bulletin des Amis du Vieux Huế), trang 233-381, Huế.

GS Trần Quang Hải

(Pháp)

http://www.baovanhoa.vn/Vanhoaxuan2017/89109.vho

 TIN LIÊN QUAN:
CÁC TIN KHÁC:

Sách “Trương Vĩnh Ký, nỗi oan thế kỷ” bị cấm ra mắt tại Đường sách Sài Gòn!


 

5 Tháng Một, 2017

Sách “Trương Vĩnh Ký, nỗi oan thế kỷ” bị cấm ra mắt tại Đường sách Sài Gòn!

 
imageCuốn sách “Trương Vĩnh Ký, nỗi oan thế kỷ” do nhà nghiên cứu lão thành nổi tiếng Nguyễn Đình Đầu chủ biên, là một công trình công phu tập họp các bài viết của nhiều tác giả xưa và nay, đã được Cục Xuất bản chấp nhận và đã qua thời hạn lưu chiểu theo luật định, tức được phép lưu hành, được các đơn vị xuất bản tổ chức ra mắt tại Đường Sách Sài Gòn vào sáng Chủ nhật 8/1/2017. Giấy mời tham dự buổi ra mắt đã được gửi đi. Nhưng bất ngờ ngày 4/1/2017, một “lệnh miệng” được ban xuống yêu cầu hủy bỏ buổi ra mắt sách. Nhiều thông tin từ nội bộ giới hữu quan cho biết lệnh này xuất phát từ ý kiến của một cựu quan chức lãnh đạo TPHCM đã nghỉ hưu gửi tới ‘’cấp trên’’ có thẩm quyền. Áp lực đang gia tăng đối với cuốn sách về học giả Trương Vĩnh Ký, thậm chí có nguy cơ đến số phận cuốn sách đáng quý này.
Học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898) là một nhà bác học lớn của Việt Nam, một tên tuổi được bàn luận nhiều trong chiều dài lịch sử văn hoá, chiều hướng ghi nhận công trạng của ông với nền văn hoá hiện đại của dân tộc ngày càng áp đảo. Tên ông đã được đặt cho một trường học tại TPHCM (http://www.truongvinhky.edu. vn/) và một trường học tại Bến Tre, một đường phố tại TPHCM và một đường phố ở Đà Nẵng. Năm 2015, Trương Vĩnh Ký được Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh tôn vinh là “Danh nhân Văn hoá Việt Nam thời hiện đại”
Những người tha thiết với văn hoá dân tộc, tiếp tục phát huy truyền thống xây dựng nền văn hoá hiện đại Việt Nam của các bậc tiền bối kiên quyết phản đối mọi âm mưu xoá bỏ công lao của học giả Trương Vĩnh Ký, tước đoạt quyền tự do tư tưởng và học thuật của người trí thức, tố cáo trước công luận những thủ đoạn bóp nghẹt quyền tự do xuất bản đã được Hiến pháp và Pháp luật chính thức bảo hộ.
Để rộng đường dư luận về cuốn sách này, Văn Việt xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết sau đây của GS Phan Huy Lê, bài mở đầu sách.
Văn Việt

Lời giới thiệu

Trương Vĩnh Ký hay Petrus Ký (1837-1898) là một học giả uyên bác trên nhiều lĩnh vực từ ngôn ngữ, lịch sử, địa lý, từ điển đến văn học, nghệ thuật, văn hóa… Ông sớm theo đạo Thiên Chúa và được đào tạo tại nhiều chủng viện, từ tiểu chủng viện Cái Nhum (Nam Kỳ) đến chủng viện Pinhalu (Campuchia) rồi đại chủng viện Poulo-Penang (Malaysia). Ông rất thông minh và có năng khiếu đặc biệt về ngôn ngữ, thông thạo nhiều ngôn ngữ từ Hán, Nôm đến tiếng Latin, Pháp, Anh, Hy Lạp, Ấn, Nhật, cả tiếng Khmer, Thái, Lào. Ông để lại một di sản đồ sộ với khoảng gần 100 tác phẩm sách, báo, luận văn, bao gồm những khảo cứu về lịch sử, địa lý, ngôn ngữ đến bút ký, sáng tác thơ văn, dịch sách Hán, phiên âm truyện Nôm, từ điển. Ngoài ra, ông còn để lại nhiều thư bằng tiếng Pháp, tiếng Latin và quốc ngữ giao thiệp với các nhân vật đương thời và một số di cảo, tư liệu chưa ai có thể thống kê đầy đủ.
Trước khi làm giám đốc trường Thông ngôn, Trương Vĩnh Ký còn làm chủ bút Gia Định báo. Trên phương diện quốc tế, ông đã từng là thành viên Hội Nhân đạo và Khoa học miền Đông Nam nước Pháp, thành viên thông tấn trường Đông phương Ngữ học, hội viên Hội Á châu. Ông còn được ghi nhận là một trong 18 học giả hàng đầu quốc tế (1873-1874).
Ngoài công việc giảng dạy, biên phiên dịch và viết lách, Trương Vĩnh Ký có thời gian tham gia vào các hoạt động chính trị khác như tham gia Hội đồng thường trực nghiên cứu tổ chức lại nền giáo dục Nam Kỳ, Hội đồng thị xã Sài Gòn, được cử vào Viện Cơ mật của Nam triều, làm Giám quan cố vấn cho Đồng Khánh. Chính từ những hoạt động này mà trong giới nghiên cứu đã từng có những nghi vấn, phê phán gay gắt.
Học giả Nguyễn Đình Đầu là người đã dày công nghiên cứu về Petrus Ký, đã thu thập được nhiều tư liệu về Trương Vĩnh Ký trong Thư viện Hội Nghiên cứu Đông Dương (Société des Études indochinoises), Trung tâm lưu trữ Hội Thừa sai Paris (Société des Missions étrangères de Paris) và đã dịch, chú thích, xuất bản một số tác phẩm của Trương Vĩnh Ký.
Trên cơ sở chuẩn bị nhiều năm, học giả Nguyễn Đình Đầu đã hoàn thành một công trình như một hồ sơ Trương Vĩnh Ký mang tên Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ.
Trong công trình biên khảo này, trong chương một, tác giả viết về thân thế và sự nghiệp Trương Vĩnh Ký, trình bày một cách hệ thống cuộc đời và hành trạng của Trương Vĩnh Ký cùng những sáng tác của ông. Tác giả lập danh mục các tác phẩm và niên biểu Trương Vĩnh Ký; viết lại các hoạt động và thái độ hành xử của Trương Vĩnh Ký trong từng bối cảnh lịch sử cụ thể để người đọc tự rút ra các nhận xét, bình luận. Theo đó, cuối đời, Trương Vĩnh Ký cũng tự thấy những mâu thuẫn trong cuộc sống của mình khiến hậu thế khó hiểu khi căn dặn chôn mình trong một nhà mồ đơn sơ với dòng chữ Latin “Sic vos non vobis” (Ở với họ mà không theo họ) và đôi câu đối bằng chữ Hán: “Lưu bì văn dự dị thiên địa – Ủy thế linh thần tại tử tôn” (Tiếng thơm ngưng đọng trong trời đất – Ý chí lưu truyền tại cháu con). Tác giả Nguyễn Đình Đầu không tranh luận về sự đánh giá công và tội của Trương Vĩnh Ký mà chỉ tỏ ra thông cảm với những uẩn khúc khó xử của Trương Vĩnh Ký và muốn chiêu tuyết cho ông.
Một nội dung quan trọng của cuốn sách dành cho một số trước tác của Trương Vĩnh Ký trong chương hai và ba. Đó là một số sách, báo, bài viết chọn lọc và một số thư từ trao đổi của Trương Vĩnh Ký với nhà cầm quyền Pháp, với vua Đồng Khánh, và với các nhân sĩ trí thức đương thời.
Nội dung chủ yếu của cuốn sách là những bài khen tặng Trương Vĩnh Ký lúc sinh thời và những bài khảo cứu, phê bình Trương Vĩnh Ký từ khi ông qua đời cho đến ngày nay. Đó là các chương từ chương bốn đến chương bảy qua các giai đoạn khi Trương Vĩnh Ký còn sống (chương bốn), từ khi qua đời đến năm 1945 (chương năm), từ năm 1945 đến 1975 (chương sáu) và từ khi Việt Nam thống nhất năm 1975 đến nay (chương bảy). Qua từng giai đoạn này, người đọc sẽ thấy, trải qua hơn một trăm năm với nhiều thăng trầm của lịch sử, lúc nào Trương Vĩnh Ký được tôn vinh và lúc nào bị phê phán. Trong lịch sử Việt Nam, việc bình luận, đánh giá không ít nhân vật lịch sử thường bị chi phối bởi bối cảnh lịch sử như vậy. Nhưng xu hướng chung vẫn là sự thắng thế của kết quả nghiên cứu khoa học nghiêm túc, khách quan và thái độ công minh trước lịch sử. Petrus Ký cũng trải qua nhiều sóng gió của khen – chê, tôn vinh – phê phán, nhưng cuối cùng xu thế khách quan, trung thực vẫn chi phối. Những hội thảo và bài nghiên cứu về Petrus Ký gần đây đánh giá cao những cống hiến văn hóa, những di sản ông để lại, đồng thời bày tỏ sự cảm thông với những uẩn khúc trong thời gian cộng tác với Pháp, coi ông là một học giả uyên bác, một nhà bác học.
Cuốn sách của học giả Nguyễn Đình Đầu không chỉ là một công trình khảo cứu về Trương Vĩnh Ký mà còn là một công trình tổng hợp bao gồm các trước tác tuyển chọn của Trương Vĩnh Ký và hệ thống theo thời gian các sách, báo nghiên cứu, phê bình Trương Vĩnh Ký kể cả khen và chê. Trong sách, tác giả còn sưu tập và công bố một số tư liệu mới về Trương Vĩnh Ký, đóng góp thêm cơ sở tư liệu về nhân vật lịch sử này.
Tôi đánh giá cao công lao sưu tầm, biên soạn công phu với thái độ khách quan, trung thực của học giả Nguyễn Đình Đầu. Tôi coi đây là một công trình tổng hợp có giá trị về Trương Vĩnh Ký, cung cấp một hệ thống tư liệu khá đầy đủ và khách quan với nhiều góc nhìn khác nhau, cho tất cả các nhà khoa học trên mọi lĩnh vực muốn nghiên cứu sâu về nhà bác học Trương Vĩnh Ký.
 
Ref. link:

THÙY TRANG “Cưỡng bức” bolero!


28/10/2016 21:55

Không thể gọi là sáng tạo khi làm mới ca khúc bolero bằng cách phối âm bằng nhạc điện tử giậm giật, còn ca sĩ thì hát hụt hơi

Album “Hương xưa 1” của ca sĩ Hồ Quỳnh Hương gồm những ca khúc bolero “chuẩn”: “Sầu lẻ bóng”, “Mưa nửa đêm”, “Xin thời gian qua mau” , “Giọt lệ sầu”, “Câu chuyện đầu năm”, “Kỷ niệm xa bay”, “Thao thức vì em”, “Sao chưa thấy hồi âm”, “Chuyến tàu hoàng hôn”, “Chuyện hợp tan”, “Sương lạnh chiều đông”. Album vừa phát hành này mang ý nghĩa đánh dấu sự trở lại của Hồ Quỳnh Hương trên thị trường âm nhạc sau nhiều năm vắng bóng. Điều gì đã khiến một giọng ca từng là ngôi sao hàng đầu của dòng nhạc trẻ lại tìm đến với dòng nhạc bình dân vốn được người trong giới xem là nhạc “sến” này?

Muốn có khán giả, phải hát bolero

Chia sẻ về ý tưởng thực hiện “Hương xưa 1”, ca sĩ Hồ Quỳnh Hương cho biết: “Cách đây vài năm, trong một số chương trình biểu diễn và giao lưu với khán giả, Hương có hát vài ca khúc nhạc xưa để thay đổi không khí. Hương rất hạnh phúc khi được khán giả đón nhận nồng nhiệt và còn khuyến khích thu âm, phát hành album. Trong 4 năm qua, Hương nghe nhiều bài hát thuộc dòng borelo hơn. Càng nghe, Hương càng thấy hay, càng thấm và yêu dòng nhạc này”.

Theo Hồ Quỳnh Hương, cô không hát bolero để cạnh tranh với những ca sĩ tên tuổi vì họ đã quá nổi tiếng với các ca khúc này rồi. “Tôi hy vọng mình sẽ thổi một làn gió mới cho các ca khúc bolero và tạo nên nét riêng cho nó chứ không phải khẳng định mình hát tốt dòng nhạc này” – cô bày tỏ.

Nhóm MTV cũng từng hát bolero
Nhóm MTV cũng từng hát bolero

Hầu như các ca sĩ tên tuổi như: Ánh Tuyết, Phương Thanh, Thanh Thảo, Quang Dũng, Mỹ Tâm, Phương Thanh, Anh Thơ, Đức Tuấn… đều từng thử sức ở dòng nhạc bolero qua trình diễn trên sân khấu hoặc thu âm cho album của mình. Ngoài những ca sĩ rất thành công khi chuyển sang hát dòng nhạc này như Đàm Vĩnh Hưng, Cẩm Ly, Lệ Quyên, Đan Trường…, nhiều người cũng ghi điểm với người hâm mộ qua vài ca khúc bolero. Nhiều ý kiến đã nhận xét rằng Mỹ Tâm ca “Chỉ hai đứa mình thôi nhé” (Anh Bằng) hay hơn những ca sĩ từng thể hiện trước đây.

Sự hưởng ứng nồng nhiệt của người xem trong các chương trình thi hát dòng nhạc bolero trên sóng truyền hình cũng góp phần làm sống lại nhu cầu thưởng thức và trình diễn nhạc này của công chúng và ca sĩ.

Dù đời sống âm nhạc hiện nay cho thấy sự thắng thế của bolero nhưng công tâm mà nhận xét thì rất khó để tìm ra những giọng ca trẻ “thỏa mãn” được người nghe, nhất là những người trót yêu những giọng ca xưa đã gắn liền tên tuổi trong từng ca khúc của dòng nhạc này. Nhiều ca sĩ đã phải chấp nhận rút lui sau khi thử sức ở dòng nhạc bolero, thấy mình không hợp, khó thành công về đường dài. Thế nhưng, vì bolero đang là thời thượng, được số đông công chúng yêu thích nên nhiều ca sĩ vẫn cố tìm cách khai thác để có khán giả.

Lấp liếm khiếm khuyết

Bên cạnh những sản phẩm làm mới còn giữ nguyên tinh thần và chất nhạc bolero, không ít bản nhạc được thể hiện phá cách khiến người nghe ngỡ ngàng.

Series “Bolero mix” do kênh POPS Music của YouTube khởi xướng đã khơi mào cho phong trào làm mới bolero bằng “nhạc dập, nhạc sàn nhảy”. Video ca nhạc “Về đâu mái tóc người thương” của Quách Tuấn Du với hình ảnh tiệc tùng bên hồ bơi, phần nhạc dập ầm ầm đúng chất tiệc tùng ăn chơi nhưng lại có đến hàng triệu lượt xem khi phát hành trên YouTube. Từ đó, “trào lưu” làm mới bolero bằng nhạc remix để thu hút khán giả trong giới ca sĩ trẻ bắt đầu hình thành.

Ca sĩ Bá Thắng giải thích việc remix theo phong cách nhạc dance của ca khúc “Ai khổ vì ai”: “Phải làm để mang đi hát ở các quán bar”. Những ca khúc “Phố vắng em rồi”, “Về đâu mái tóc người thương”, “Chuyện tình nàng thiếu nữ tên Thi”, “Những đêm lạnh giá”, “Lâu đài tình ái”… đều được phối với EDM (nhạc điện tử) giậm giật khá ồn ào, hoàn toàn khác lạ so với những gì mà người ta từng nghe trước đây.

Ca sĩ Quách Tuấn Du lý giải: “Khi phát hành “Mr Bolero Dance” vào năm trước, tôi thấy đây là hướng đi đúng vì thu hút lượng người nghe, người xem rất lớn. Việc hát bolero theo lối cũ đã có quá nhiều tượng đài thành công nên bolero remix sẽ là lựa chọn của tôi hiện nay”. Trong khi đó, ca sĩ Tuấn Tú giải thích đơn giản: “Vì nhạc bolero remix đang được khán giả thích nên tôi làm, thế thôi!”.

Theo nhạc sĩ Hồng Xương Long, nhạc bolero đang ăn khách nên ca sĩ thi nhau “nhảy” vào. “Nhưng đâu phải ai hát cũng ra chất bolero! Thế nên, nhiều người đã phải “xào nấu” cho khác đi để không bị so sánh với những giọng ca tiền bối và cũng là cách để cho thấy bản thân họ có nỗ lực sáng tạo” – nhạc sĩ phân tích.

Nhạc sĩ Hàn Châu cho rằng ca sĩ trẻ hiện nay không mấy người có được chất giọng và kỹ thuật hát hay nhạc bolero. Vì thế, họ phải làm nhạc sôi động, hát ào ào để lấp liếm khiếm khuyết trong giọng hát của mình. “Cách làm của một số giọng ca trẻ hiện nay với bolero giống như đang cưỡng bức âm nhạc vậy” – nhạc sĩ Hàn Châu thẳng thắn.

Ủng hộ việc làm mới vì “dù duy tình cũng phải có những bản hòa âm mới mẻ hơn cho phù hợp với thời đại”, nhạc sĩ Tiến Luân nhìn nhận: “Sáng tạo kiểu gì thì cũng phải dựa trên nền tảng khuôn mẫu có sẵn”. Nhạc sĩ Vinh Sử cũng đồng ý phá cách nhưng phải làm sao để vẫn giữ nhịp điệu 4-4 của bolero. “Ngày xưa, ban nhạc của chúng tôi đánh hoài bolero nghe cũng chán nên pha slow, disco… nhưng chơi vẫn có cái hay riêng. Tuy nhiên, làm quá như bây giờ thì rõ ràng không còn hay nữa” – nhạc sĩ Vinh Sử băn khoăn.

Không có sáng tác mới cho bolero

Ca khúc “Đừng nhìn bề ngoài” do Anh Tuấn (thành viên nhóm MTV) sáng tác gồm 2 phiên bản: phong cách EDM và phong cách bolero. Trong đó, bản trình diễn theo phong cách bolero để lại ấn tượng mạnh vì đây có lẽ là lần đầu tiên MTV hát nhạc theo phong cách này.

So với những bản duy tình đặc trưng của bolero thì “Đừng nhìn bề ngoài” khá lạ lẫm vì đề tài và cả lời ca mang tính thời sự xã hội. Người tạo chất bolero cho “Đừng nhìn bề ngoài” là nghệ sĩ Anh Minh, một nhạc công chơi guitar bass hơn 10 năm qua trong ban nhạc acoustic đình đám. Chất bolero của “Đừng nhìn bề ngoài” gây ấn tượng với người nghe vì có chút “sai sai gì đó”. Đây không phải là trường hợp làm mới một bản bolero mà là làm theo phong cách đang được yêu thích.

Hiện nay, ca khúc sáng tác mới cho dòng nhạc bolero hầu như không có. Những tên tuổi “chuyên trị” về dòng nhạc này như Võ Đông Điền, Hồng Xương Long cũng gần như gác bút. Sau cuộc thi “Solo cùng bolero”, ban tổ chức chương trình đã phát động sáng tác ca khúc mới cho bolero nhưng chưa gặt hái được gì.

Bài và ảnh: Thùy Trang

GS TS TRẦN VĂN KHÊ đã được bổ sung vào quỹ tên đường của TP HCM, tin tức tháng 10, 2016


Đời hoạt động nghệ thuật của Giáo sư Trần Văn Khê qua ảnh