Category Archives: Uncategorized

PATRICK KERSALE : SOUNDS OF ANGKOR


SOUNDS OF ANGKOR 1.1.1

02_patrick-kersale.jpg

PATRICK KERSALE

Sounds of Angkor

SOUNDS OF ANGKOR is dedicated to the Angkorian and traditional Khmer music of Cambodia. It is also an invitation to discover 1.500 years of religious and profane Khmer music, some already disappeared and others endangered.It is the result of research of French ethnomusicologist Patrick Kersalé that began in 1998 and continues today.

© Copyright

All texts, photos, videos (except explicit mention) are the property of the author. They are protected by the law No. 92-597 of 1st July, 1992, on the French Intellectual Property Code. They may not be copied or exported without written permission. For any request, use the Contact page.

A 20 years research project

Sounds of Angkor is already a 20 years research project concept including:

  • A classical research project on the field
  • An experimental archeology laboratory dedicated to the reconstruction of missing Angkorian musical instruments
  • A musical experimentation laboratory consisting of the Sounds of Angkor troupe based in Siem Reap
  • An international communication project in English including this website and conferences in Europe and Asia
  • A communication project with the general public constituted by this website and the YouTube channel TUK-TUK.TV
  • A pedagogical project in French constituted of DVDs published and distributed in the countries of la Francophonie by Editions Lugdivine.

An educational project in English and Khmer will soon be launched in Cambodia with the support of Cambodian Living Arts.

The creation of a music school specializing in the teaching of Angkorian musical instruments is also on the way.

Foreword by Her Royal Highness Princess NORODOM Buppha Devi

Mr. Patrick Kersalé is an ethnomusicologist and archeomusicologist. For the last twenty years, he researched in many countries in Europe, Africa and Asia. He has undertook to take a new look at the musical instruments used by the ancient Khmers, between the seventh and the sixteenth century.
In “Sounds of Angkor”, Patrick Kersalé allows us to better understand the Khmer music of ancient times, its symbolism and its use by a population whose lifestyles are gradually better known to us.
The author analyzed the origin and function of ancient Khmer music instruments in a precise and detailed manner, in particular through a method of photographic analysis of Angkorian bas-reliefs. This allowed him to highlight the details that were invisible to the naked eye and to make us discover unpublished information, answering many questions, filling wide gaps, and thus correcting some preconceived ideas.

The scientific approach of Mr. Patrick Kersalé does not end there, however, since it has pushed the experimentation to reconstitute several of these instruments now missing, thus offering our young artisans, musicians and composers the possibility to reclaim a musical heritage that is an integral part of the historical cultural diversity of Cambodia.
I would like to express my warmest congratulations to Mr Patrick Kersalé for his unique contribution to Khmer studies and for his dedication to a passion that he knows how to communicate with eloquence. (…)

Thanks to …

All photos, videos and texts: Copyright © Patrick Kersalé (if not specified), 1998-2017

Sounds of Angkor, Siem Reap, Kingdom of Cambodia

https://www.soundsofangkor.org/

Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại


:

Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

KIỀU TIẾN DŨNG : Học Phương Tây và Triết Lý Phương Đông


Khoa Học Phương Tây và Triết Lý Phương Đông
October 13, 2017

22519407_1499665703457428_2627835873032052138_n.jpg

22539820_1499665763457422_8543760303430818485_n
Lời mở đầu
Tôi bắt đầu đam mê toán học và nhất là vật lý hồi từ còn nhỏ. Không nhớ chính xác là từ lúc nào, chỉ còn nhớ cái động lực đã thúc đẩy tôi để cố gắng vượt bao khó khăn, để chấp nhận hy sinh nhiều thứ khác. Động lực đó đã theo đuổi và giúp tôi từ những giải nhất toàn trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, đến huy chương vàng toàn đại học và văn bằng tiến sĩ ở xứ người, và nó vẫn còn thôi thúc tôi mãi đến ngày hôm nay sau bao năm dài tháng rộng.
Động lực đó không đến từ đâu khác hơn là từ cái mơ ước được đóng góp cho đất nước qua khả năng, kiến thức khoa học của mình. Ước mơ cho một Việt Nam bớt nghèo khó có lẽ đã đi vào tiềm thức của tôi từ cuộc sống xa cha mẹ, rày đây mai đó của một thời thơ ấu. Tôi được sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, được nuôi dưỡng bằng dòng sữa mẹ thì ít mà phần lớn là bằng sữa đặc có đường mà mẹ tôi, một nữ quân nhân, đã mua được từ cửa hàng quân tiếp vụ. Rồi thằng bé lưu lạc qua nhiều vùng đất nước để phải chứng kiến tận mắt một quê hương đắm chìm trong khói lửa, vô cùng nghèo khó.
Tôi vẫn còn nhớ rõ một giờ vật lý ở trung học đã định hướng toàn bộ cuộc đời mình. Thầy tôi nói về hiện tượng siêu dẫn (superconductivity) khi dòng điện được chuyển lưu không bị cản trở gì cả, và do đó năng lượng không bị thất thoát trên đường tới nơi tiêu dùng. Vấn đề là hiện tượng siêu dẫn đó chỉ có thể có được ở một nhiệt độ rất thấp (chỉ cao hơn nhiệt độ zero tuyệt đối, âm 273 độ C, vài độ mà thôi) nên không thể áp dụng được cho các đường dây dẫn điện ngoài đường. Vậy nếu nhiệt độ siêu dẫn được nâng lên cao hơn thì ích lợi bao nhiêu! Chính cái nhận xét và ước muốn ngây thơ, đơn giản này đã chọn cho tôi con đường khoa học từ ngay lúc ấy.
Vào khoảng mười năm sau đó, vào năm 1986 các nhà khoa học người Đức đã tìm được các chất siêu dẫn ở nhiệt độ cao (high critical temperature). Nhưng mãi cho tới nay vẫn chưa có một lý thuyết thỏa đáng cho hiện tượng ở nhiệt độ cao này. Đây là một cơ hội cho giấc mơ thời thơ ấu, nhưng nhìn lại mình với tài hèn sức mọn không những chưa thể góp công gì trong thuyết siêu dẫn mà cũng chưa thể đóng góp được gì trực tiếp cho quê hương:
Bao nhiêu năm muộn lời thề
Bao nhiêu năm lẻ bên lề quê hương
Thế giới khoa học và toán học còn là một thế giới thanh bình, an toàn cho thằng bé tôi co mình nương náu. Nó khác hẳn với cái thế giới ngoài kia thằng bé đã sống với chiến tranh từng ngày, bom đạn từng đêm, tang thương từng giờ. Nó có ý nghĩa, có trình tự logic của tiền đề, định lý và hệ quả. Nó không như những gì tôi chứng kiến trong ngày 30/4/1975 với bao hỗn loạn chia lìa, với bao đòn thù giáng trên đầu những người cùng huyết thống, với bao lọc lừa và dối trá –những lừa lọc và dối trá vẫn còn tiếp diễn mãi hơn 40 năm sau.
Từ khoa học, nhất là khoa học vật lý, đi đến triết học cũng rất gần, nhưng tôi đã không có cơ hội để học hỏi nhiều về các triết học đông phương khi còn ở Việt Nam. Khi tôi mới lớn thì các môn triết đã bị cấm tiệt, ngoại trừ bộ môn gọi là triết học Marx-Lenin. Ngay đến cả sách vở cũng không được phép lưu giữ. Nhiều sách đã bị đốt cũng chỉ vì chúng được in trong chế độ cũ, chỉ vì chúng chứa đựng những tư tưởng bị coi là nguy hiểm, là kẻ thù của giai cấp, chỉ vì chúng không tuân theo giáo điều cộng sản.
Đốt sách để tiêu diệt văn hóa là việc làm của kẻ xâm lăng, vào năm 1414 nhà Minh đã tiêu hủy bao ấn phẩm của nước Nam hòng triệt tiêu văn hóa ta. Thì chính người cộng sản Việt Nam cũng đã đốt bao tập sách vào những năm 1954 và 1975, nguyên nhân cũng chẳng ngoài sự lo sợ những tư tưởng nhân bản. Họ đốt sách cũng chẳng ngoài mục đích ngu dân, viết lại lịch sử, và tìm cách tuyên truyền lấp liếm sự thật những gì nhà cầm quyền đương thời đã và đang làm.
Nhưng họ đã sai lầm, như Tần Thủy Hoàng đã từng sai lầm. Sách dễ đốt, người có thể nhốt, nhưng tư tưởng và nhất là tinh thần và ý chí con người thì không.
*
Qua tới xứ người tôi mới có thể tìm đọc về triết lý đông phương, phần lớn qua các sách ngoại ngữ, và đã phải ngạc nhiên và vô cùng thích thú với những tương đồng với khoa học tây phương, giữa hai hệ thống cách biệt nhau rất xa về thời gian lẫn không gian này.
Dĩ nhiên chúng vẫn có những dị biệt, nhất là từ điểm khởi đầu, từ trong phương pháp lý luận, từ cách phân tích toán học và tổng hợp suy luận. Nhưng chúng lại có không ít những tương đồng; nhất là những tương đồng ở ngay trong căn bản, cốt lõi và nền tảng.
Kinh Dịch, Lão Học và Phật Học của triết học đông phương đã có một lịch sử lâu dài hàng mấy nghìn năm nay. Trong khi đó cái ta gọi là khoa học phương tây hiện đại chỉ mới được bắt đầu khoảng 500 năm trước đây. Tuy có khởi đầu khác biệt; nhưng cả hai đều cùng song song trên con đường đi tìm sự thật. Nếu có một, và chỉ một, sự thật sau cùng thì chúng trước sau gì cũng phải có những điểm hội tụ và phải được phản ánh qua các điểm tương đồng.
Họa sĩ Vũ Khải Cơ đã giúp tôi trình bày ý tưởng liên kết Đông Tây này ở bìa cuốn sách với hình ảnh một cây cầu nối liền hai kiến trúc Đông và Tây. Cây cầu lại cùng kết hợp với chính hình bóng phản chiếu của mình trên dòng sông, một thực một hư, để vẽ nên con số tám nằm ngang; và đây cũng chính là biểu tượng vô tận của toán học để nói lên cái vô cùng của sự học và cái bao quát của một chân lý sau cùng.
Những bài viết trong tập sách này là nhằm để trình bày và chia sẻ những nhận xét cá nhân, cùng với ước muốn được trao đổi và học hỏi thêm từ người đọc. Phần chính là 14 bài viết về những tương đồng của hai hệ thống Đông và Tây ở nhiều khía cạnh khác nhau. Phần lớn các bài đã được phát thanh trên làn sóng Hồn Việt Radio tại Úc Châu vào năm 2013. Tôi cũng muốn nhân đây chuyển đạt lời chân thành cám ơn anh Quốc Việt Trần Như Hùng đã góp ý và động viên rất nhiều. Phần phụ lục của tập sách bao gồm một số bài viết có các chủ để khác nhau, nhưng cũng được gom lại nơi đây để phản ảnh một số ý kiến riêng tư của tác giả.
Nếu không có sự sự hổ trợ và khuyến khích của rất nhiều bạn hữu và gia đình về mọi mặt thì chắc chắn đã không có tập sách này. Tôi chân thành tri ân tất cả. Nhưng dĩ nhiên mọi khiếm khuyết và sai sót không tránh được ở đây là của riêng cá nhân tôi mà thôi.
Tuy biết sức mình nhỏ bé nhưng tôi vẫn mong góp nhặt nơi đây những suy nghĩ thiển cận như những viên gạch lót một con đường vô tận, như một nhịp trên cây cầu nối liền Đông và Tây. Với đề tài rộng lớn của hai lãnh vực khoa học phương tây và triết lý phương đông mênh mông, chắc chắn tôi còn vướng mắc nhiều sai sót. Nhưng đây là điều không tránh khỏi trong quá trình nghiên cứu học hỏi; và chính đó lại cần thiết cho ta có thể nhích gần hơn nữa tới chân, thiện, mỹ. Xin được đón nhận mọi góp ý để sửa sai và cùng học hỏi.
Kiều Tiến Dũng
Mùa Đông 2016
Melbourne, Úc Châu
(Chú ý: Ra Mắt Sách Oct 28, 2017.)
Tác Giả: Kiều Tiến Dũng
Bìa Mềm
Số Trang: 340
Kích Thước: Cao 8.5″ x Rộng 5.5″ x Dầy 0.8″
Trọng Lượng: 1.1 lbs
Sách có bán tại các tiệm sách địa phương, tại tòa soạn Nhật Báo Người Việt hoặc trên online www.nguoivietshop.com.
————————————————————————————————–

THƯ MỜI

TRÂN TRỌNG KÍNH MỜI

Qúy Ông/Bà
_________________________________

tham dự chương trình giới thiệu tác phẩm:

“Khoa Học Phương Tây và Triết Lý Phương Đông”
của Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng
Gs Vật Lý Lý Thuyết

Từng làm việc tại các trường đại học
Swinburne University, University of Melbourne (Úc Châu),
Oxford University, University of Edinburgh (Vương Quốc Anh)
và nghiên cứu ở nhiều đại học tại Hoa Kỳ như
MIT, Princeton IAS, Columbia University, qua Fulbright Fellowship

Từ 1:00 giờ chiều đến 4:00 giờ chiều
Ngày thứ Bẩy 28 tháng 10 năm 2017

Tại Hội Trường Việt Báo
Số 14841 Moran Street, Westminster, CA 92683

Với các diễn giả:
GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
GS TS Orchid Lâm Quỳnh

Đại diện Ban Tổ Chức:
Phiến Đan (714) 548 2281

Sự hiện diện của quý vị là niềm khích lệ cho Ban Tổ Chức,
và vinh hạnh lớn lao cho tác giả đến từ Úc Châu

Aucun texte alternatif disponible.
L’image contient peut-être : texte

Trần Hữu Ngư: Boléro và chỉ có boléro mới làm người nghe thỏa mãn được những câu chuyện tình


25/01/2017 20:13

Boléro và chỉ có boléro mới làm người nghe thỏa mãn được những câu chuyện tình

Những bài tình ca giai điệu boléro mang đậm dấu ấn quê hương một thời làm thổn thức biết bao trái tim trước năm 1975, nay được hát lại. Những người yêu mến boléro bây giờ thấy những bài tình ca ấy như những con chim trở về tổ ấm véo von bù đắp lại một thời đã xa.

SỨC SỐNG MÃNH LIỆT

Nếu nhạc sĩ Hồng Vân viết “Đồi thông hai mộ” bằng một giai điệu khác mà không phải boléro thì chắc rằng bản nhạc này đã chết từ lâu rồi. Cũng như bài thơ “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan có 3 nhạc sĩ phổ nhạc nhưng chỉ “Những đồi hoa sim” mang giai điệu boléro của nhạc sĩ Dzũng Chinh là phổ biến nhất. Cũng giống “Hàn Mặc Tử” của Trần Thiện Thanh vì boléro mà tên tuổi ông gắn với nhạc phẩm này mặc dù ông có hàng trăm ca khúc khác và có lẽ bài hát sống mãi được là nhờ boléro chăng?

Chỉ có thể là boléro!

Dòng nhạc phát triển rực rỡ ở miền Nam này đã chuyên chở thân phận tình yêu, những tình tự quê hương, lột tả mọi góc cạnh cuộc đời, làm thỏa mãn người nghe của mọi tầng lớp. Nó chỉ như một thứ tình cảm thuộc loại vườn chuối, buồng cau… của con người lao động khi mà vinh hoa phú quý còn là thứ rất xa vời!

Vì sao so với tango, slow, valse…, boléro chiếm lĩnh thị trường ca nhạc thời bấy giờ? Để lý giải điều này, người viết – với tư cách là một người đam mê boléro từ thuở thiếu thời – xin trả lời mộc mạc rằng: Boléro là những tình khúc quê hương mà nhạc sĩ đã dùng âm nhạc để vẽ nên một bức tranh nông thôn, những tình yêu đôi lứa đẹp như trăng rằm, sự nghiệt ngã của chiến tranh, những số phận con người trong từng hoàn cảnh, những dạt dào tình làng nghĩa xóm, không tiếc sức người còng lưng trên đồng lúa, nương dâu mà cha ông chúng ta đã đánh đổi không chỉ bằng mồ hôi mà cả máu.

Chỉ có thể là boléro!

Những đứa trẻ sinh ra sau năm 1975 nhìn quê hương qua lăng kính màu hồng, khác với thế hệ chúng tôi, nhìn quê hương qua những trái hỏa châu chiếu sáng; những sớm mai ngóng tin chồng, tin cha từ chiến trường; những đêm giật mình vì tiếng đại bác… Quê hương tôi chỉ là lùm tre, con sông nhỏ, một miếng đất bạc màu trên mảnh vườn thưa thớt cọng rau, ngọn cỏ… vậy mà tôi yêu đến vô hạn.

BÌNH DÂN NHƯNG ĐÂU DỄ VIẾT

Không ít ca sĩ tìm boléro để thử sức nhưng “bỏ của chạy lấy người” là điều dễ hiểu vì boléro tuy bình dân nhưng để hát, để viết cho… tới thì không dễ chút nào! Ngoài ra, có không ít người “thức một đêm, sáng ngày thành nhạc sĩ” muốn làm mới boléro để chứng tỏ ta đây nhưng đó chỉ là sự cưỡng bức thô bạo dưới danh nghĩa sáng tạo, đã làm chói tai người nghe bằng những nhạc cụ điện tử, đã “lai” boléro. Đây là một việc làm đáng trách của một số ca sĩ, nhạc sĩ trẻ nôn nóng thành danh và kiếm tiền từ dòng nhạc này.

Chỉ có thể là boléro!

Ngày nay, nhạc sĩ trẻ không thể viết được boléro. Nói vậy không có gì quá đáng bởi nhạc sĩ đi trước có hoàn cảnh lịch sử hoàn toàn khác bây giờ. Ngày ấy, boléro là những bản tình ca đầy ắp tiếng nói quê hương, tình yêu đôi lứa; còn bây giờ, đi theo ánh sáng văn minh khoa học – kỹ thuật, người ta bỏ thôn quê tiến vào thành thị để được ngắm nhà hàng, khách sạn, những khu nghỉ mát sang trọng, những thức ăn cao sang… Và cũng từ đây, con người xa dần những hình ảnh quê hương (có chăng chỉ còn trong tâm tưởng). Đánh mất hình ảnh thôn quê thì không thể nào viết được boléro. Người viết nhạc nếu không có tâm hồn lãng mạn để nhìn quê hương thì khó viết được một bài hát boléro đúng nghĩa như các bậc đàn anh đã làm. Viết giai điệu boléro thì nhạc sĩ nào cũng làm được nhưng để hoàn thành một bài hát boléro còn có ca từ và ý tưởng. Giữa thời đại công nghiệp hóahiện đại hóa mà bắt chước viết nhạc boléro thì chỉ sinh ra những đứa con dị dạng và chết yểu, không chết về giai điệu mà chết vì ca từ và ý tưởng.

TRỞ LẠI VÀ “LỢI HẠI” HƠN XƯA!

Cách đây gần 20 năm, người ta đem nhạc “vàng”, nhạc “sến” (ám chỉ nhạc boléro) ra mổ xẻ. Kẻ khen thì ít mà người chê thì nhiều. Dù đây là chuyện cũ nhưng luận bàn về nhạc boléro mà không nhắc lại những câu nói này, e là điều thiếu sót. Và chúng ta hãy nghe các nhạc sĩ miền Bắc nói về dòng nhạc này của nhạc sĩ miền Nam.

Chỉ có thể là boléro!

“… Gần đây, tôi thường nghĩ về câu hỏi mà một giáo sư âm nhạc Mỹ đã nêu ra với nhạc sĩ Nguyễn Cường – bạn tôi: Nhạc vàng là thế nào? Tôi thích và thấy nó rất Việt Nam, và nhạc sến nữa. Tôi thử về tận gốc của nhạc vàng và sến thì ra gốc nó ở tận cùng nơi thôn dã, lũy tre làng nguyên bản…” (nhạc sĩ Phó Đức Phương).

“… Cái mà người ta cho là “sến” có nhiều bài hát chân thành, xúc cảm, rung động lòng người vì sự giản dị, mộc mạc, đồng quê…” (nhạc sĩ Trần Tiến).

“… Đây là dòng nhạc đáp ứng được nhu cầu cho một đối tượng người nghe rất cụ thể, đó là lớp cần lao, bình dân và trong dòng nhạc này vẫn có những bài truyền cảm, xúc động…” (nhạc sĩ Dương Thụ).

Vậy thì, những lời nói ngắn gọn ấy cũng đủ làm “luật sư” cho boléro một thời mà dân chơi thời thượng đã miệt thị dòng nhạc này không thương tiếc.

Chỉ có thể là boléro!

“Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Rồi chắc cũng sẽ trở về với boléro? Hàng trăm ca khúc boléro trước năm 1975 mà những kẻ “trưởng giả học làm sang” sau năm 1975 cho là vàng, là sến, là não tình, là bi lụy bây giờ được đào bới, xới tung để hát lại thì rõ ràng thị trường ca nhạc vốn tung hô những bản nhạc “hàn lâm” đã đi vào ngõ kẹt! Bài hát nào dẫu có hay đến mấy nhưng nghe hát hoài cũng đâm ra chán, chỉ có nhạc boléro là “nghe, nghe nữa, nghe mãi”.

Hơn nửa thế kỷ qua, dòng nhạc boléro đã lan truyền từ thành thị cho đến thôn quê như theo quy luật cung – cầu mặc dù phương tiện nghe nhìn có thời cực kỳ quý hiếm. Nghe ca sĩ hát trên đài phát thanh vài lần là thuộc, rồi nó đi vào lòng mình hồi nào chẳng hay. Ngày nay, mỗi lần nghe lại, hát lại, vẫn cảm thấy thích thú trong từng âm điệu và ca từ.

Hy vọng rằng “nghe nhạc bằng tai” sẽ lấn át “nghe nhạc bằng mắt” khi dòng nhạc boléro được hát lại trong những cuộc thi, những nốt nhạc xưa để người già tìm về kỷ niệm, để giới trẻ giật mình vì có một thời họ ngộ nhận về dòng nhạc này. Và cũng nhận xét rằng chưa thấy có ca sĩ nào “qua mặt” được các ca sĩ đàn chị, đàn anh trước năm 1975. Chúng ta thấy gì qua hiện tượng này? Một nhu cầu thưởng thức âm nhạc quá lớn nhưng tiếc là đã từ lâu, nhạc sĩ trẻ muốn loại boléro ra khỏi cuộc chơi để đi tìm nhạc lai ngoại, thứ nhạc mà các nhạc sĩ ông cha chúng ta đã đánh đổ để tìm một hướng đi đích thực cho dòng nhạc Việt từ năm 1938!

“Bài hát nào dù hay đến mấy nhưng nghe hoài cũng chán, chỉ có boléro là nghe nữa, nghe mãi…”

Trần Hữu Ngư

http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/chi-co-the-la-bolero-20170119003901758.htm

GS TRẦN QUANG HẢI : Nhạc cụ “đặc hữu” của Việt Nam


Nhạc cụ “đặc hữu” của Việt Nam (20/01/2017)

VH- Sau bài viết của tôi về Đàn Bầu là của Việt Nam hay Trung Quốc? vào đầu tháng 8, cảnh báo việc có thểmất “chủ quyền” của đàn Bầu, tiếp theo là bài của Hà Đình Nguyên trên báo Thanh Niên Cần sớm khẳng định “chủ quyền” với đàn Bầu (cũng vào tháng 8.2016), Viện Âm nhạc thuộc Học viện Âm nhạc Quốc gia VN (gọi tắt là Học viện) tổ chức hai hội thảo quan trọng: “Tôn vinh đàn Bầu trong Festival âm nhạc mới Á – Âu 2016” tại Hà Nội từ 12 – 18.10.2016 và hội thảo “Đàn Bầu và vai trò của nó trong nền văn hóa” vào ngày 21.10.2016.

 Hội thảo khoa học về đàn Bầu

Tại hội thảo, PGS.TS Nguyễn Bình Ðịnh, Viện trưởng Viện Âm nhạc phân tích: “Trong số các đàn một dây trên thế giới (Ichigenkin của Nhật, Tushuenkin của TQ, Sadieu của Cao Miên, Gopiyantra, Ektara của Ấn Độ), đàn Bầu VN được đánh giá là độc đáo bởi là loại đàn duy nhất phát ra âm bồi; chỉ có một dây, không có phím bấm nhưng có thể chơi được tất cả các độ cao; có khả năng trình diễn các kỹ thuật rung, nhấn, nhất là các dạng luyến láy, tô điểm âm khác nhau nên rất phù hợp với giai điệu âm nhạc của VN. Do sử dụng kỹ thuật uốn vòi đàn, tạo ra sự căng chùng khác nhau của dây đàn, nên đàn Bầu là nhạc cụ duy nhất trên thế giới với một lần kích âm có thểcho một âm cơ bản và các âm khác có độ cao hoặc thấp hơn hẳn âm cơ bản ấy”.

Giáo sư Trần Quang Hải là một trong những học giả lên tiếng về chủ quyền của cây đàn Bầu Việt Nam trong thời gian gần đây. Từ Pháp, giáo sư đã gửi cho chúng tôi tập tư liệu viết và sưu tập cá nhân về đàn Bầu lên tới 11 trang với rất nhiều thông tin của các học giả, chứng cứ lịch sử cũng như quan điểm của cá nhân giáo sư. Từ đây, chúng tôi rút gọn, chọn lọc và trích đăng trong khuôn khổ phù hợp với một bài báo. Tựa đề chính và các tựa đề phụ do Tòa soạn đặt.

Cùng với thời gian, đàn Bầu luôn được cải tiến, qua sự nghiên cứu, tìm tòi của nhiều nghệ sĩ. Thuở ban đầu, đàn chỉ đơn giản làm từ một ống bương hoặc vầu, mai; ngựa đàn là mảnh sành, sứ hoặc một miếng gỗcứng; vòi đàn là một que tre dài; dây đàn làm bằng dây móc, gai, tơ; bầu đàn bằng vỏ quả bầu nậm khô hoặc vỏ gáo dừa khô. Ðến nay, đã có những thay đổi với thân đàn làm bằng gỗ tiện theo hình quả bầu nậm; dây đàn bằng hợp kim… Việc áp dụng khoa học công nghệ giúp âm thanh được phóng to, tiếng đàn còn có thể ngân được độ dài gấp nhiều lần trước đây. Ðàn Bầu có thể biểu diễn trên sân khấu lớn, với tất cả các loại nhạc cụ của dàn nhạc dân tộc, bộ gõ, dàn nhạc điện tử, dàn nhạc giao hưởng. Ðiều này đã giúp các nhạc sĩ thuận lợi hơn trong việc sáng tác cho đàn Bầu.

Trở lại lịch sử, ngay từ năm 1956, đàn Bầu đã được đưa vào giảng dạy chính quy tại Trường Âm nhạc VN (nay làHọc viện). Nhiều học sinh nước ngoài cũng đến xin học đàn Bầu tại đây. Năm 1978, Nhạc hội đàn Bầu lần thứ nhất và Hội thảo đàn Bầu do Viện Âm nhạc VN tổ chức được đông đảo nghệ nhân, nghệ sĩ nhiều lứa tuổi tham gia.

Tháng 12.2014, Câu lạc bộ “Nghệ thuật đàn Bầu VN” ra đời, phối hợp Học viện tổ chức Nhạc hội đàn Bầu năm 2014 – 2015, quy tụ được nhiều nghệ sĩ chuyên nghiệp và không chuyên trong và ngoài nước tham dự. Là người phục chế cây đàn Bầu mộc đầu tiên từ năm 1990, mấy năm gần đây, NSND Xuân Hoạch đưa đàn Bầu trở lại biểu diễn tại chiếu xẩm Hà Thành ngay phố cổ, được khán giả Thủ đô và du khách hưởng ứng.

Cây đàn Bầu là nhạc cụ “đặc hữu” của VN từ rất xa xưa và gắn liền với đời sống của người dân. Trong kho tàng âm nhạc VN có các bài bản cho đàn Bầu dựa trên các bài dân ca Quan họ, Lý, Hát ru, Chèo, Tuồng, Ca Huế, Đờn ca tài tử… Ngoài ra, đàn Bầu còn dùng để đệm cho ngâm thơ, hoặc độc tấu, song tấu, tứ tấu, dàn nhạc giao hưởng dân tộc… Các nhạc sĩ VN đã sáng tác những bản cho đàn Bầu như: Vì miền Nam (Huy Thục), Niềm tin tất thắng (Khắc Chí), Hồi tưởng (Xuân Thi), Đối thoại (Đỗ Hồng Quân), Dòng kênh trong (Hoàng Đạm), Buổi sáng sông Hương, Cung đàn đất nước (Xuân Khải), Gửi Thu Bồn, Quê mẹ (Khắc Chí), Gửi Huế mến yêu (Đình Long), Gửi đến Ngự Bình (Quốc Lộc), Thoáng quê (Thanh Tâm), Câu hát mẹ ru (Phú Quang)…

Đàn Bầu trong dàn nhạc giao hưởng Ảnh: Nguyễn Đình Toán

Nghệ sĩ VN dạy đàn Bầu cho nghệ sĩ TQ

Qua sự tìm hiểu trong thư tịch và hiện vật khảo cổ học cũng như lịch sử chữ viết có một số sách sử quan trọng có đề cập đến đàn Bầu. Theo An Nam chí lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục tiền biên… cây đàn bầu ra đời xuất phát điểm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, sau đó được người Kinh VN mang sang Quảng Tây, TQ.

Dẫu thế, vài năm nay ở TQ đã có những festival nhạc dân tộc với những màn biểu diễn đàn Bầu. Trên trang web China Daily USA đăng bài cùng hình ảnh của Xinhua với chú thích “Hàng trăm người dân tộc Kinh thiểu số cùng chơi đàn độc huyền cầm” trong một lễ hội truyền thống ở nước này. Bài viết nói rằng tộc người Kinh (Jing) này đã di cư từ VN sang TQ từ khoảng 500 năm trước và hiện tộc người này có khoảng 22.000 người. Nhạc sĩ Đức Trí, người đã nhiều năm theo học đàn bầu chia sẻ: “Tôi chợt nhớ, cách đây 10 năm, tôi tình cờ xem được trên kênh truyền hình CCTV của TQ một chương trình hòa tấu nhạc dân tộc và đã rất kinh ngạc khi thấy có cây đàn Bầu trong dàn nhạc dân tộc TQ. Đây là điều chưa từng thấy trước đó”.

Tuy nhiên, cây đàn Bầu phổ biến tại TQ hiện nay là đàn Bầu VN. Theo một số nghệ sĩ và nhà nghiên cứu (NNC) âm nhạc, đàn Bầu chỉ mới được TQ lưu tâm đến không đầy 20 năm sau này, vì trước đó không thấy dạy đàn Bầu ở các nhạc viện TQ. Họ đã gửi nhạc công sang VN học đàn Bầu; đồng thời, mời một số NNC sưu tầm tài liệu để viết về đàn Bầu và đưa lên mạng thông tin đàn Bầu rất được người dân tộc Kinh ở TQ yêu thích.

Theo NNC Đặng Hoành Loan [4], kể từ khi nghệ sĩ đàn Bầu Mạnh Thắng biểu diễn trên sân khấu cố đô Yangon (Myanmar), đến các cuộc lưu diễn khắp thế giới, các nghệ sĩ VN đã làm cho đàn Bầu trở thành cây đàn được thế giới biết đến và yêu thích. Bổ sung cho chi tiết 2 nghệ sĩ Đức Nhuận và Đoàn Anh Tuấn từng dạy đàn Bầu cho nghệ sĩ TQ, NSND Đỗ Lộc chia sẻ: “Nghệ sĩ Điền Xương của TQ đi theo đoàn VN suốt thời gian đoàn lưu diễn để được thầy Đức Nhuận chỉ dẫn về đàn bầu…”.

Trong khi, NSND Nguyễn Tiến kể: “Cuối năm 2013, tôi đã từng nói chuyện và biểu diễn minh họa về lịch sửphát triển cây đàn Bầu VN tại Học viện Dân tộc Quảng Tây, nơi cũng có một khoa giảng dạy đàn Bầu. Cả hội trường vô cùng ngạc nhiên. Trưởng khoa đàn Bầu (và là người chỉ huy dàn nhạc của Học viện) là Thái Ương đã nói với tôi: Nghe anh nói chuyện cả buổi sáng nay tôi mới hiểu được hết cái hay và cái đẹp của cây đàn Bầu VN. Học viện chúng tôi có khoa Đàn Bầu vì có một số học viên là người dân tộc Kinh có nhu cầu nên chúng tôi dạy thôi. Hiện nay cũng có học sinh TQ đang học tại Học viện Âm nhạc Quốc gia VN về đàn Bầu. Có cô gái TQ tên là Tôn Tiến cũng từng gặp tôi để học hỏi về đàn Bầu”.

Nghệ sĩ đàn Bầu Ảnh: Tr. Huấn

Đàn Bầu cùng hòa tấu với dàn nhạc trong chương trình nghệ thuật “Mùa đông xứ Huế” tại Nhà hát Lớn Hà Nội (tháng 12.2016) Ảnh: T.Huấn

Sở hữu nhiều tư liệu quan trọng

Đàn Bầu
Đàn Bầu ai gảy thì nghe
Làm thân con gái chớ nghe đàn Bầu
(Ca dao)
Đêm nằm ngoảnh mặt về Nam
nghe rơi thẳm một tiếng đàn trong khuya
Tiếng thơ ai mở lời kìa
đàn Bầu ai gảy tôi nghe đàn bầu
Võng chành như chiếc thuyền câu
đưa tôi trôi giữa nông sâu tiếng đàn
bồng bềnh mạn nhặt mạn khoan
thời gian có phím không gian có hình
Đàn xưa ai tính ai tình
một mình ai gảy một mình ai nghe
ai người con gái vùng quê
mê ai quá đỗi mà ghê tiếng đàn
Bây giờ cũng nhặt cũng khoan
ngang trời ta bắc cầu sang với mình
ai buông lửng một cái tình
để ngân nga đến rung rinh lòng người
Tôi mê người lắm người ơi
cái tai thì cạn cuộc đời thì sâu
lẩy lên đi hỡi đàn Bầu
những tâm tình ở đằng sau tâm tình

Nguyễn Duy
Trích từ Ghi chép Trường Sơn 1975 in trong tập Cát trắng, NXB Quân đội Nhân dân, 1995

Theo NNC Đặng Hoành Loan, cách chơi đàn Bầu dây buông là lối chơi ra đời trước nhất, có khởi đầu từ câu chuyện tổ nghề Xẩm chơi đàn một dây thời nhà Đinh (968-980) [4]. Cũng theo NNC, rất có thể lối chơi này kéo dài suốt 802 năm cho tới năm 1770 thời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777) mới có thêm cách chơi bồi âm. Cách chơi bồi âm ra đời làm thay đổi chất lượng và phong cách nghệ thuật đàn Bầu, đưa cây đàn xâm nhập vào một số hình thức sinh hoạt âm nhạc trong cung đình. Sự kiện này được các nhà làm sử thời Nguyễn để mắt đến và chép trong bộ sử Đại Nam thực lục tiền biên.

Theo đó, người sáng tạo ra đàn Nam cầm (đàn Bầu) là Tôn Thất Dục. Nguyên văn: “Dục hiếu học, giỏi thơ, càng tinh về thuật số và âm nhạc, tục truyền đàn Nam cầm là do Dục chế ra”. Hơn một trăm năm sau, đàn Bầu đã tham gia sâu rộng vào nghệ thuật ca hát thính phòng Huế.

Có lẽ điều đó đã làm cho các học giảnhư Hoàng Yến và G. Cordier cùng cho rằng đàn Bầu được đưa vào Huế năm 1892 đến năm 1896. Theo NNC Hoàng Yến [6], năm 1892, đàn Bầu mới được những người hát xẩm phía Bắc đưa vào xứ Huế để đệm đàn cho một số bộ phận vương quan tiến bộ yêu thích thanh âm trong trẻo, nỉ non đó.

Cuối TK XIX đầu TK XX, Vua Thành Thái – một trong ba vị vua yêu nước thời Pháp thuộc, yêu tiếng đàn Bầu như hơi thở quê hương xứ An Nam, lúc đó đàn Bầu mới được thay thế đàn tam trong ngũ tuyệt tranh-tỳ-nhị-nguyệt và bầu. Tiếp đó, đàn Bầu có mặt trong Đờn tài tử Nam bộ từ năm 1930 do những người miền Trung vào khai khẩn đất hoang vào cuối thế kỷ XIX. Đàn Bầu được gọi là “đờn một dây” hay “đờn độc huyền”.

Cây đàn này cũng được nhiều học giả người Việt quan tâm nghiên cứu trong hơn nửa thế kỷ qua. Cố GS. Trần Văn Khê đã miêu tả đàn độc huyền – không dùng từ đàn Bầu trong quyển luận án bảo vệ tại Paris năm 1958 [2], và trong quyển Vietnam/Traditions Musicales do nhà sách Buchet/Chastel xuất bản tại Paris năm 1967 [3]. Tôi có viết bài miêu tảđàn độc huyền – không dùng từ đàn Bầu trong quyển Music of the world [1] do Nxb J.M.Fuzeau phát hành, Courlay, Pháp, 1994.

Cách đây 7 năm, nữnhạc sĩ Quỳnh Hạnh (trong nhóm Hoa Sim được thành lập ở Saigon từ thập niên 60) bảo vệ luận án Tiến sĩ về đàn Bầ u thành công tại trường đại học Sorbonne Paris 4. Ngoài phần miêu tả nhạc cụ và dân tộc nhạc học, còn có phần viết về việc sử dụng đàn Bầu trong cách chữa bịnh (bệnh) tâm thần (musicothérapie) [2]. Ở trong nước, Học viện có 3 luận văn Cao học và 1 luận án Tiến sĩ về đàn Bầu được bảo vệ thành công [5]: NSND Nguyễn Thị Thanh Tâm bảo vệ luận án cao học năm 1999 với đề tài Một số vấn đề về giảng dạy và biểu diễn đàn bầu ở Nhạc viện Hà Nội.

Tiếp theo, Nguyễn Thị Mai Thủy bảo vệ luận văn Cao học năm 2007 về Giảng dạy đàn bầu bậc trung học dài hạn tại Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội. Sun Jin (Tôn Tiến), người TQ, bảo về luận văn Cao học năm 2009 về Đàn Bầu với việc giảng dạy tại trường đại học Quảng Tây, TQ. Cũng Sun Jin bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 2015 về Nghệ thuật đàn Bầu trong giai đoạn mới tại VN [5]. Với sự kế thừa và phát triển đàn Bầu, Tôn Tiến muốn trên cơ sở của người trước đã làm và đề ra vài ý kiến mới, đó là những quan điểm “hoạt hóa”, “tiến hóa” và “tiêu chí hóa”. Trong đó, “hoạt hóa” có yêu cầu giữ gìn và đa dạng hóa các hoạt động nghệ thuật biểu diễn đàn Bầu. “Tiến hóa” có ý nghĩa đổi mới nội dung và hình thức để phát triển nghệ thuật đàn Bầu. “Tiêu chí hóa” mang nghĩa đại diện của khu vực, làm nổi bật vịtrí của nghệ thuật đàn Bầu.

Như vậy, theo tôi trong giai đoạn hiện tại, việc làm quan trọng nhất và khẩn thiết nhất là đưa đàn Bầu vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia để làm căn cứ quan trọng nhằm xác lập “chủ quyền” của nhạc cụ này hoàn toàn thuộc VN. Đó là tiền đề để tiến tới việc thiết lập hồ sơ pháp lý, để thế giới công nhận đàn Bầu của VN làdi sản của nhân loại.

Tham khảo:
1. Trần Quang Hải (1994): The đàn độc huyền – monochord (from the book MUSIC OF THE WORLD, published by J.M.FUZEAU, Courlay, France, p.298-299, 1994
2. Trương ThịQuỳnh Hạnh (2009), “Le đàn bầu, monocorde vietnamie), Étude organologique et ethnomusicologique” (Đàn bầu: nghiên cứu nhạc cụvà dân tộc nhạc học). Thèse de doctorat en Ethnomusicologie, soutenue le 25 novembre 2009 à l’Université de Paris IV-Sorbonne (Maison de la Recherche), Directeur de thèse: François Picard, 1 volume (299 pages), 1 DVD, 1 CD
3. Trần Văn Khê (1962), “Le đàn độc huyền” in La Musique traditionnelle vietnamienne , Presses Universitaires de France (nhà xuất bản), Annales Du Musée Guimet, trang 133-139, Paris.
4. Đặng Hoành Loan, 2016, “Tản mạn chuyện đàn bầu”, tham luận Hội thảo đàn Bầu vàvai tròcủa nótrong nền văn hóa Việt Nam, ngày 21.10 tại HàNội.
5. Tôn Tiến (Sun Jin) (2015), “Nghệ thuật đàn Bầu trong giai đoạn mới tại Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ âm nhạc, bảo vệ tháng 8.2015, Học viện Âm nhạc quốc gia VN, 183 trang, Hà Nội.
6. Hoàng Yến (1919): “La Musique à Huế: Đàn Nguyệt et Đàn Tranh”, in BAVH (Bulletin des Amis du Vieux Huế), trang 233-381, Huế.

GS Trần Quang Hải

(Pháp)

http://www.baovanhoa.vn/Vanhoaxuan2017/89109.vho

 TIN LIÊN QUAN:
CÁC TIN KHÁC: