Category Archives: VIETNAMESE MUSIC

All activities and articles on Vietnamese music

LUCY DURAN / BBC : Vietnam Tran Quang Hai in Saigon


World Routes / BBC

LLUCY DURAN

LUCY DURAN

index

TRAN QUANG HAI & BACH YEN

Lucy and her guides, Vietnamese musicians, Tran Quang Hai and Bach Yen, are in Saigon –the first time these two musicians have stepped back into the city of their birth after 41 years in exile. Along the way, she hears ritual music played on two drums, representing Yin and Yang. She also meets Bach Yen, and discovers more about his return to Saigon after being in exile and how she is affected by the melodies of ritual music she last heard as a child.

Vietnam

Tran Quang Hai in Saigon

 

Please click on the link below to listen to the bbc radio programme :

https://www.bbc.co.uk/sounds/play/p005xjpn

 

 

Tam Pháp Nhập Môn/ Khai mạc liên hoan Em Yêu Đàn Tranh lần 2 – 2019


Tam Pháp Nhập Môn/ Khai mạc liên hoan Em Yêu Đàn Tranh lần 2 – 2019

Ajoutée le 25 août 2019

Sáng ngày 25/8 tại Cung văn hóa Lao động TP.HCM đã diễn ra buổi khai mạc Liên hoan Em yêu đàn tranh lần 2 năm 2019. Mở màn buổi liên hoan là màn hợp tấu Tam Pháp Nhập Môn với sự tham gia trình diễn của 70 em thiếu nhi đã mang lại một không khí hào hứng, sôi nổi cho liên hoan lần này. – “Cảm ơn các bạn đã ủng hộ và đón xem video của Nhịp Sống TV Nhấn like và Subcribe để theo dõi Clip mới nhất của kênh Nhịp Sống TV nhé: ♫ Subscribe : ♫ Facebook : ♫ Đóng góp phụ đề: ————————– Liên hệ hỗ trợ, hợp tác: ►Email: trananhtuan064388@gmail.com/ sonnghiavnp@gmail.com ————————– © Bản quyền thuộc về Nhịp Sống TV © Copyright by Nhịp Sống TV ☞ Do not Reup” #LienhoanEmyeudantranh2019

Phạm Tín An Ninh: BOLÉRO. DẤU HIỆU SUY TÀN CỦA CHẾ ĐỘ CSVN


Thảo An Nguyen Thi

Có lẽ chưa bao giờ như lúc này, dòng nhạc Bolero hiện nay trở thành một phong trào, một hiện tượng quyến rũ giới trẻ hơn bao giờ. Ca sĩ Đan Nguyên trở thành thần tượng Bolero trong nước. Hình ảnh Đan Nguyên hát trong các Youtube có con số kỷ lục 35 triệu (Nối Lại Tình Xưa), 24 triệu (24 giờ phép), Live show Đan Nguyên 18 triệu,… Nhất là các clip Đan Nguyên mặc quân phục VNCH đã làm cho các bạn trẻ Saigon, Hà Nội comment với những lời ái mộ hình ảnh người lính VNCH. Xin mời các bạn đọc những comment mới thấy được sức ảnh hưởng của nhạc vàng Miền Nam mãnh liệt tới mức nào. Xin giới thiệu bạn đọc bài:

BOLÉRO. DẤU HIỆU SUY TÀN CỦA CHẾ ĐỘ CSVN
Phạm Tín An Ninh
Có lẽ chưa bao giờ, kể cả thời VNCH, nhạc Bolero thịnh hành và được người trong nước mê mẩn như bây giờ, đặc biệt ở miền Bắc, nơi mà trước 1975 Bolero được dán cho cái nhãn “nhạc vàng” và không còn đất sống, một số người thích hát loại nhạc này đã bị tù đày 10-15 năm, để phải chết hay khốn khổ cả một đời, trường hợp Phan Thắng Toán (tức Toán Xồm) và Nguyễn Văn Lộc (Lộc Vàng) ở Hà Nội là những điển hình. Bây giờ Bolero như trận cuồng phong, phá tan mọi thành trì, chiếm ngự tất cả mọi nơi, từ thành phố đến nông thôn, từ các “tụ điểm”, sân khấu “hoành tráng” nhất, len lỏi đến tận các hang cùng ngõ hẻm, “vùng sâu vùng xa”, kể cả trong các đám ma, đam cưới; làm mê mẩn từ người già đến con trẻ, từ những ông quan lớn, đại gia đến dân dã, bần cùng. Ở đâu cũng nghe Bolero.

Người ta không còn đếm được các chương trình tìm giọng hát cho loại nhạc này: “Hát Cùng Bolero”, “Thần Tượng Boleo”, “Solo Cùng Bolero”, “Tình Bolero”, “Tình Bolero Hoan Ca”… Những cuộc thi hát nhạc Bolero thu hút hằng vài chục ngàn thí sinh, đủ mọi thành phần, cán bộ, sĩ quan, thầy cô giáo, các em bé 7, 8 tuổi, đến từ “mọi miền đất nước”. Từ những danh ca, “nghệ sĩ ưu tú”, “nghệ sĩ nhân dân” đến anh bán kẹo kéo dạo đều đua nhau hát và kiếm tiền bằng Nhạc Bolero. Và không cần biết cho phép hay không, họ hát đủ mọi đề tài: miền Nam thanh bình, tình yêu, tình lính, đời lính (VNCH), kể cả những bản nhạc chiêu hồi, như “đêm nay trăng sáng quá anh ơi, sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu”, “miền Nam có nắng thanh bình có đồng lúa đẹp có tình quê hương, anh ơi mau sớm lên đường, bình minh còn đợi ruộng nương còn chờ…”v.v…

Trong cái khát khao Bolero ấy, thực chất chính là nỗi khát khao khung trời, con người, nếp sống, tình cảm, tấm lòng đối với quê hương đất nước của quân dân miền Nam thuở trước, và đặc biệt là tính nhân bản đã hoàn toàn thiếu vắng tại miền Bắc trên bảy mươi năm và tại miền Nam hơn bốn mươi năm dưới chế độ Cộng Sản. Khi một ca sĩ hát, họ thả hồn vào từng lời ca, cùng bâng khuâng với những hình ảnh, tình tự trong nhạc phẩm, họ có cảm giác đang được sống trong cùng không gian và thời gian mê đắm ấy. Người nghe thì hồn như bay bỗng đến chốn thiên thai nào đó, họ đắm chìm trong cảm xúc của một thời hạnh phúc, mà người miền Nam đã mất đi trong tiếc nuối, và người miền Bắc thì khát khao nhưng chưa bao giờ được sống. Và như thế, một thiên đường Miền Nam trước 1975 thực sự đã sống lại trong lòng mọi người, thiết tha và mãnh liệt.

Văn chương hay âm nhạc là những phạm trù phản ảnh trung thực nhất cho một xã hội. Bolero, một loại nhạc bình dân, dù được ai đó gán cho cái tên nhạc “sến”, đã làm đúng vai trò ấy, đã suốt một thời thăng hoa qua cuộc sống chan hòa yêu thương, nhân bản, và nhạc Bolero cũng chính là tiếng than ai oán, bi phẩn của người dân miền Nam thời ấy, khi mà cuộc chiến phi lý và bẩn thỉu nhất do bọn người CS rừng rú gây ra để phá hoại đất nước, giết chết bao thế hệ thanh niên của hai miền, và tạo cảnh huynh đệ tương tàn, làm hệ lụy lâu dài cho cả một dân tộc. Những thế hệ ở Việt Nam bây giờ có cảm xúc như thế nào khi nghe những bài Tám Điệp Khúc, Đêm Nguyện Cầu, Kẻ Ở Miền Xa, Hai Chuyến Tàu Đêm, Đường Xưa Lối Cũ, Sương Trắng Miền Quê Ngoại, Những Đóm Mắt Hỏa Châu…? Và trong tất cả những bài ca về lính mà họ đang say mê hát, họ có tìm được câu nào hô hào “sinh Nam tử Bắc” hay “thề phanh thây uống máu quân thù” như trong chính bài quốc ca CS?

Nhạc Bolero đã đè bẹp tất cả các loại nhạc “đỏ”, nhạc ăn cắp, bắt chước, lai căng của nhiều nhạc sĩ trong nước, viết theo lệnh đảng hay làm dáng, đua đòi “vươn ra biển lớn!” Ca sĩ thì “thặng dư giá trị” đủ hạng đủ cỡ, mà nhạc sĩ thì hiếm hoi như lá cuối mùa thu và cũng chẳng sáng tác được bao nhiêu ca khúc ra hồn, ngoài một vài bài của các nhạc sĩ Thanh Tùng, Bắc Sơn, Phú Quang, Trần Tiến, Phan Đình Điểu… và bài Phượng Hồng phổ từ thơ Đỗ Trung Quân.

Những ca sĩ miền Nam chuyên hát nhạc “sến” đã hết thời ở hải ngoại cỡ Chế Linh, Giao Linh, Phương Dung, Thái Châu, Tuấn Vũ… về Việt Nam làm nhiều show đã cháy vé, được ca ngợi đón tiếp như những ông bà hoàng Bolero, mang về quê hương những làn gió mới! Nhiều người được trang trọng mời ngồi ghế “nóng” làm giám khảo cho các kỳ thi tuyển lựa ca sĩ Bolero!

Ngày 30.4.75, trên đường vào “tiếp thu” miền Nam, bà Dương Thu Hương ngồi khóc bên vệ đường khi nhìn thấy một miền Nam văn minh, hiền hòa, trù phú gấp vạn lần miền Bắc. Bà đã nhận ra cả một quá khứ bị lừa dối. Một số trí thức miền Nam, như chú cháu Đỗ Trung Hiếu, Đỗ Hữu Ưng (ở cùng quê và học trung học cùng trường Võ Tánh-Nha Trang với người viết) khi bỏ miền Nam vô bưng, lòng nô nức đi làm “cách mạng”, nhưng đến khi được chuyển ra miền Bắc mới giật mình biết đã “lạc đường” nhưng quá muộn, đành phải “nín thở qua sông”. Trước khi vô bưng, Đỗ Hữu Ưng từng theo học Khóa 11 Đốc Sự tại Viện QGHC thời VNCH. Sau 75, về “tiếp thu miền Nam” giữ chức chủ tịch của một huyện nào đó ở Sài Gòn, đã tìm gặp lại những đồng môn cũ, khuyến khích mọi người nên sớm tìm đường vượt biển, nhưng chẳng mấy ai dám tin! Ông chú gốc giáo sư thì làm đến chức ủy viên tôn giáo của thành ủy, nhưng bất mãn nên cùng đám Nguyễn Hộ, Trần Văn Trà lập ra Câu lạc bộ Kháng Chiến Cũ. Để phản ứng cho sự ăn năn hối hận của mình, hai chú cháu đã bị lột hết các chức tước, riêng ông chú phải nhận những bản án tù và đã chết dưới tay người đồng chí CS!
Nhiều thanh niên miền Bắc, điển hình là Nguyễn Viết Dũng, đang là một sinh viên giỏi, từng đoạt giải “Đường Lên Đỉnh Olympia”, với một tương lai tươi sáng, nhưng đã dám công khai treo cao cờ vàng ba sọc đỏ trên nóc nhà, mặc quân phục và mang phù hiệu QLVNCH như là một hình thức tôn vinh, luyến tiếc một chính thể, một quân đội chính danh đã bị bức tử. Bị cầm tù ra, anh con khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Cộng” và rủ nhiều bạn bè tìm vào Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa thắp hương kính cẩn tưởng niệm những người lính miền Nam đã vị quốc vong thân. Những người mê hát, mê nghe nhạc Bolero, chắc hẳn ít nhiều đều mang trong lòng những hoài niệm, suy tư, cảm xúc như thế.

Những nhạc sĩ miền Nam, đang còn sống như Lam Phương, Lê Dinh, Song Ngọc… hay đã mất ở hải ngoại như Trần Thiện Thanh, Trịnh Hưng, Hoàng Thi Thơ, Duy Khánh, Nhật Ngân, Anh Bằng,… hoặc chết ở quê nhà trong nghèo nàn khốn khó như Trúc Phương, Thanh Sơn… khi sáng tác những bản nhạc Bolero chắc họ không ngờ đã tạo thành những vũ khí vô hình nhưng ghê gớm, làm mê mẩn hàng mấy chục triệu người sống trong chế độ Cộng sản, có sức xoi mòn và làm sụp đổ chế độ tàn ác man rợ này. Mặc dù bọn tà quyền vẫn đang sống thoi thóp, dựa vào bạo lực, và sự kết họp mong manh của đám đồng chí cùng băng đảng, để chia chác quyền lợi, tài sản cướp bóc của nhân dân và sẵn sàng “mỏi gối quì mòn sân Tàu phủ”, nhưng bên trong thực sự đã mục rữa, thối tha, chia bè kết nhóm để tranh giành, thanh toán lẫn nhau. Lòng dân sẽ thay đổi nhanh chóng khi Nhạc Bolero ngày càng xoáy sâu vào trí não và tâm hồn họ, cộng với một thực trạng xã hội rệu rã, xuống cấp ở tất cả mọi lãnh vực, tất yếu sẽ tạo thành một hệ quả khôn lường.

Cả một đất nước như đang bị ngón sóng thần Bolero tràn ngập, làm thay đổi não trạng và nỗi khao khát của con người, biết đâu sẽ dẫn đến việc sụp đổ cả thành trì của một chế độ từng lên án, tìm mọi cách để ngăn cấm, triệt tiêu nó. Thêm một chỉ dấu báo hiệu cho ngày tàn của CSVN
4/9/17

Extrait Concerto pour dan tranh avec HO THUY TRANG (dàn tranh ) et NGUYEN THANH TAN (piano), centre Mandapa, Paris , 13.04.2019


Extrait Concerto pour dan tranh avec HO THUY TRANG (dàn tranh ) et NGUYEN THANH TAN (piano), centre Mandapa, Paris , 13.04.2019

Published on Apr 19, 2019

Transposé pour piano en 1999 par compositeur QUANG HAI Nguyen Thanh Tan (piano) & Ho Thuy Trang (dan tranh) Mandapa Paris , 13 avril 2019

Anvi Hoàng : Lẽ sống trong Câu Chuyện Bà Thị Kính, opéra do P.Q.Phan viết


Anvi Hoàng : Lẽ sống trong Câu Chuyện Bà Thị Kính, opéra do P.Q.Phan viết

Lẽ sống trong Câu Chuyện Bà Thị Kính

(trích bài Anvi Hoàng trong tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 161 phát hành ngày 9 tháng 3 năm 2018)

Câu Chuyện Bà Thị Kính (The Tale of Lady Thị Kính) là vở opera lớn của nhà soạn nhạc P.Q. Phan (Phan Quang Phục), đã được mở màn tại sân khấu lớn chuyên nghiệp của trường nhạc Jacobs School of Music thuộc đại học Indiana University vào các ngày 7, 8, 14 và 15 tháng 2 năm 2014. Ngoài những khán giả ở thành phố Bloomington, cùng đến tham dự các buổi trình diễn mở màn là hàng trăm khách mời người Việt đến từ khắp nước Mỹ, và cả một số đến từ Việt Nam. Vở opera Câu Chuyện Bà Thị Kính là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử âm nhạc phương Tây – đây là vở opera lớn về đề tài văn hóa Việt Nam đầu tiên của một nhà soạn nhạc người Mỹ gốc Việt được dàn dựng quy mô và chuyên nghiệp trên sân khấu Mỹ-và nó đã được khán giả đón nhận rất nồng nhiệt. Vui nhất là câu chuyện Việt Nam này đã nhận được sự đồng cảm từ khán giả bản xứ. Có nhiều lý do khiến câu chuyện cổ này của Việt Nam vượt khỏi biên giới văn hóa của đất nước Việt Nam mà trở thành tác phẩm văn hóa của thế giới. Trước hết phải nói đến vấn đề kể chuyện.

*Kể Câu Chuyện Đời Của Thị Kính Đúng là câu chuyện Quan Âm Thị Kính của vở hát chèo cùng tên có giá trị nhân bản vĩnh cửu (universalism) về tình yêu (love), lòng độ lượng (compassion), và sự hy sinh không giới hạn (selflessness). Nhưng cảm nhận về các giá trị văn hóa, xã hội và cách tư duy của mỗi dân tộc rất khác nhau. Chính vì hiểu được điều này mà P.Q. Phan biết rằng muốn khán giả Mỹ hiểu được câu chuyện Việt Nam này theo cách mình muốn họ hiểu, ông phải diễn giải nó với loại ngôn ngữ mà họ có thể hiểu được. Đây cũng chính là cách nhìn và cách diễn giải mới của P.Q. Phan về tác phẩm Thị Kính cho khán giả của thế kỷ 21. Không thể chối bỏ giá trị tôn giáo trong tác phẩm, nhìn từ góc độ xã hội, câu chuyện Thị Kính thể hiện những giá trị nhân bản vượt thời gian và rất gần với triết lý nhà Phật theo cách người Việt Nam thường biết. Theo P.Q. Phan, các cảnh trong câu chuyện bắt đầu từ lúc Thị Kính ở nhà với cha, sau đó qua nhà chồng, rồi vào ở chùa, lang thang ở chợ, kiệt sức dưới gốc cây bồ đề, và lên Niết Bàn theo một thứ tự mang nhiều ý nghĩa. Đây là những dấu chấm mà khi được nối kết lại với nhau chúng sẽ kể một câu chuyện về hành trình của Thị Kính đi từ thấp—người con gái nghèo bình thường, đến cao—Phật bà. Chẳng khác nào quá trình thăng hoa. Do đó, “thăng hoa” sẽ là khái niệm của vở opera Câu Chuyện Bà Thị Kính cả về mặt thẩm mỹ lẫn âm nhạc. Các nhân vật khác như Thị Mầu, Sùng Bà, Thiện Sĩ đều là nhân vật phụ sau Thị Kính nhưng không thể thiếu vì họ chính là nguyên nhân gây ra tất cả những bi kịch và xung đột mà Thị Kính phải trải qua để rồi thoát trần thành Phật. Nhìn gần, dưới góc độ thực tế của cuộc sống hiện đại, quá trình thăng hoa của Thị Kính không khác gì hình ảnh một người anh hùng bình dân tay trắng làm nên mà ở đâu, thời nào cũng có. Có lẽ vì thế mà khán giả Mỹ ngày nay có thể cảm nhận được sức hút của nó. Giải thích về ý nghĩa âm nhạc và khái niệm của vở opera Câu Chuyện Bà Thị Kính, P.Q. Phan đã nói như sau về các giai đoạn khác nhau trong cuộc đời Thị Kính:

– Con gái: Ngay từ bài hát đầu tiên, Thị Kính đã hát về vấn đề làm đàn bà nghĩa là như thế nào. Theo lời hát, đó là phục vụ gia đình, chồng, và xã hội. Câu nói này rõ ràng là về nghĩa vụ của một người đàn bà. Tuy nhiên Thị Kính lúc này là gái chưa chồng nên không hề đặt câu hỏi về vấn đề này mà chỉ hát lên những điều mình được dạy. Sự ngây thơ của Thị Kính ở giai đoạn này cũng được thể hiện qua âm nhạc ngây thơ và trong sáng.

– Đàn bà: Bài hát tiếp theo khi Thị Kính đồng ý lấy Thiện Sĩ là về nghĩa vụ của một người đàn bà có chồng, là bài hát để giảng giải chứ không phải để giải trí. Thị Kính lúc này là đàn bà có chồng nhưng sự trưởng thành chỉ thể hiện ở tuổi tác chứ chưa qua kinh nghiệm cuộc sống. Vì vậy bài hát vẫn còn mang tính ngây thơ, trong sáng, vui tươi, không nghi kỵ, chỉ hơi nghiêm trang một chút thôi.

-Trưởng thành: Từ bỏ cuộc sống đời thường và đi tu là giây phút Thị Kính trưởng thành. Thị Kính bắt đầu đặt câu hỏi không những về cuộc đời của người đàn bà mà còn về thân phận con người. Để thể hiện tâm trạng suy tư này, âm nhạc không đi vòng vo, không mục đích mà trực tiếp: nhạc đi từ thấp lên cao để diễn tả quá trình phát triển trong tư tưởng này. Đây chưa phải là giây phút giác ngộ lớn trong đời Thị Kính nhưng là giây phút quan trọng và âm nhạc cũng được giải quyết đúng mức như thế. Ở cảnh Thị Mầu lên chùa ghẹo Thị Kính-Tiểu Kính Tâm, Thị Kính chỉ là vai phụ ở cảnh này nhưng trong lòng đã bắt đầu có sự đa nghi không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau vụ tán tỉnh này. Cho thấy đây là sự suy nghĩ của một người đàn bà trưởng thành biết rằng cuộc sống không đơn giản, và đi tu không phải là câu trả lời cho tất cả mọi vấn đề. Bài hát của Thị Kính là về sự thay đổi và không biết chắc mọi việc sẽ tiến triển tới đâu.

– Chín chắn: Tại phiên xử Thị Mầu chửa hoang, Thị Kính nhận tội thay cho Thị Mầu. Hành động vì người khác như thế này của Thị Kính cho thấy Thị Kính đã thăng hoa để trở thành một người tốt hơn, nhưng con đường phía trước vẫn còn mờ mịt, chưa biết chuyện gì sẽ diễn ra tiếp theo. Do đó để mô tả tâm trạng này, âm nhạc không mô tả sự chấm dứt, không diễn tả quá trình như đi từ A đến B, mà đơn giản diễn tả một sự việc đang diễn ra.

-Thăng hoa: Đến khi Thị Kính bị đuổi khỏi chùa thì chùa không phải là nơi nương tựa của Thị Kính nữa. Về mặt khái niệm, yếu tố này quan trọng ở chỗ nó gợi lên liên tưởng về việc Đức Phật đã giác ngộ dưới gốc cây bồ đề chứ không phải trong chùa. Nếu không bị đuổi khỏi chùa, Thị Kính cũng không giác ngộ được. Vậy nên bài hát về việc Thị Kính bỏ chùa ra đi giống như một lời giới thiệu để dẫn đến bài hát lớn tiếp theo khi Thị Kính hát về việc bế trẻ đi xin ăn ở chợ. Bài “Bế trẻ ra chợ” là bài hát quan trọng nhất của Thị Kính. Về mặt lời, việc đi ra chợ miêu tả sự di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác, cũng như quá trình thăng hoa là đi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Về mặt âm nhạc, ban đầu bài hát ít cảm động nhưng dần dần tình cảm tăng lên, nhạc đi từ thấp lên cao, bắt đầu từ thư giãn và dần dần trở nên bức thiết hơn. Bài hát “Bế trẻ ra chợ” chính là bài hát miêu tả sự thăng hoa của Thị Kính. Tiếp theo là cảnh cuối của vở opera. Ở cảnh cuối này, âm nhạc của toàn bộ vở opera đã trở nên hoàn toàn hiện đại. Nếu mở đầu vở, nhạc gần với nhạc truyền thống Việt Nam, thì đến lúc này tính dân tộc giảm đi và âm nhạc đã đi gần đến chỗ phổ quát (universal). Quá trình thăng hoa của Thị Kính kết thúc với đỉnh cao của sự thăng hoa khi Thị Kính trên niết bàn kể lại chuyện đời của mình cho mọi người nghe. Bài hát “Bế trẻ ra chợ” được mở rộng và biến thành bài hát kết thúc của vở opera “Trên niết bàn”. Bài hát này có phần giống bài hát “Bế trẻ ra chợ” nhưng lớn hơn cả về lời, lớn hơn trong sự chuyển âm và chuyển thể, và lớn hơn cả về lượng. Nghĩa là vào những phút cuối của vở opera, tất cả các nhân vật cùng hòa vào hát và và biến “Trên niết bàn” thành bài hát ca tụng Phật Quan Âm Thị Kính và vẽ lên một bức tranh thực tế trộn lẫn ước mơ: rằng cuối cùng thì một người bình thường cũng có thể trở thành một đấng siêu việt. Có thể nói Thị Kính là nhân vật nắm giữ khái niệm chính của toàn bộ vở opera và quá trình thăng hoa về mặt âm nhạc được thể hiện chủ yếu là qua các bài hát của nhân vật này.

Tại Sao Thị Kính Đi Tu Hai nhân vật dân gian Thị Kính và Thị Mầu có lẽ là một trong những nhân vật hát chèo được người Việt Nam biết đến nhiều nhất. Thị Mầu tượng trưng cho sự đam mê cuộc sống, và Thị Kính tượng trưng cho sự hy sinh vì người khác. Câu chuyện Thị Kính xuất hiện từ thế kỷ 10. Đến thế kỷ 21 hôm nay, câu chuyện này vẫn mang đầy ý nghĩa nhân văn mà nhìn dưới góc độ tôn giáo hay xã hội đều sâu sắc. Khi xem vở opera này, nhiều khán giả Mỹ và một số trẻ em người gốc Việt có một câu hỏi lớn về Thị Kính: Tại sao bà lại đi tu. Câu hỏi tưởng chừng như đơn giản và dễ trả lời đối với người Việt Nam nào quen thuộc với câu chuyện Thị Kính, nhưng để có một câu trả lời thỏa đáng cho khán giả của thế kỷ 21 theo kiểu họ cảm nhận và chấp nhận được, chúng ta phải phân tích về hành động của nhân vật Thị Kính nhìn từ góc độ xã hội. Với cách nhìn nhận xưa về Thị Kính, nhiều người cho rằng Thị Kính là mẫu mực của người đàn bà Việt Nam biết nhẫn nhục. Bây giờ là thế kỷ 21, không thể dùng lăng kính phong kiến mà đánh giá nhân vật được nữa. Chỉ cần đọc kỹ lại câu chuyện, chúng ta có thể thấy ngay rằng: chính xác là Thị Kính đã chọn làm những chuyện bà cho là đúng, cho dù điều này có nghĩa là hy sinh bản thân mình cho người khác. Chính vì thái độ sống này mà Thị Kính có thể trở thành Phật. Cả cuộc đời Thị Kính, chỉ có quyết định đầu tiên về việc lấy chồng là thể hiện sự chịu đựng theo tinh thần phong kiến, bởi vì Thị Kính đồng ý lấy Thiện Sĩ để cho cha vui lòng. Còn tất cả những quyết định khác sau khi lấy chồng đều là lựa chọn có suy nghĩ của Thị Kính. Khi bị nghi oan là có ý giết chồng và bị đuổi khỏi nhà chồng, Thị Kính có thể lựa chọn: hoặc là ở lại nhà cha đẻ mà mang tiếng xấu cho mình và cho cha, hoặc là tự kết liễu đời mình cho yên thân, hoặc là giả trai vào chùa đi tu. Thị Kính chọn cách thứ ba, cho thấy rằng bà là người biết nghĩ đến người khác và có tinh thần dấn thân. Lúc ở chùa Thị Kính bị Thị Mầu dụ dỗ và sau đó bị vu oan là làm cho Thị Mầu mang thai, Thị Kính có có thể lựa chọn: hoặc là nói rõ sự thật mình là gái, như thế thì khỏi tội và Thị Mầu bị xấu mặt phải mang tiếng cả đời. Đồng thời, khi nhận mình là đàn bà thì nhà chùa nơi Thị Kính nương náu cũng sẽ bị mang tiếng lây vì đã để cho đàn bà vào tu trong chùa của sư đàn ông. Vì thương người, thương cho cuộc đời Thị Mầu, và không muốn nhà chùa mang tiếng xấu mà Thị Kính đã không lựa chọn hành động này. Thị Kính đã chọn rời khỏi chùa, một thân một mình tìm đường sống mới—cho thấy lòng thương người sâu sắc của Thị Kính và sự can đảm tận cùng của một con người trước thách thức của cuộc sống. Khi thấy đứa trẻ bị bỏ rơi nơi cửa chùa, Thị Kính có thể làm lơ. Nhưng vì tình thương người mà Thị Kính đã chấp nhận cưu mang đứa bé, cho dù biết rằng việc chú tiểu Kính Tâm bế trẻ đi ăn xin ở chợ sẽ gây xôn xao, bàn tán và phỉ nhổ cho bản thân mình. Tình thương người của Thị Kính lúc này đã đến mức thánh thiện. Và sự toan tính cho bản thân đã nhường chỗ cho sự chú tâm vào những việc cần làm mà thôi. Tóm lại, từ sau khi lấy chồng, những việc Thị Kính làm cho thấy bà không ngừng suy nghĩ, đắn đo và đấu tranh với bản thân để lựa chọn những hành động bà cho là tốt nhất trong những hoàn cảnh nhất định, sao cho mọi người xung quanh được sống yên ổn. Đây không phải là hành động của một người biết nhẫn nhục chịu sống trong đau khổ. Thị Kính không hề lựa chọn những hành động kể trên để sống trong đau khổ và oán trách. Ngược lại, bà vui lòng làm tất cả. Hành động của Thị Kính mang tính triết lý sâu sắc về lẽ sống của con người trên đời. Nó cũng thể hiện lối sống của một người theo tinh thần Phật Thích Ca: làm những việc cần làm, để chấm dứt đau khổ, với một tâm thiền tĩnh lặng và bình yên. Điều đáng mừng là khán giả Mỹ đã cảm nhận được cả hai điều này. Chính vì vậy mà vở opera Câu Chuyện Bà Thị Kính đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người xem.

Đám cưới Thị Kính và Thiện Sĩ (ảnh: Anvi Hoàng)

Thị Mầu tán tỉnh Tiểu Kính Tâm (ảnh: Anvi Hoàng)

Sư Cụ tại phiên xử Thị Mầu chửa hoang (ảnh: Anvi Hoàng)

Dàn đồng ca kết thúc phiên xử Thị Mầu chửa hoang (ảnh: Anvi Hoàng)

Cảnh Bà Thị Kính lên Niết Bàn (ảnh: Anvi Hoàng)

Tự Hào Những Chuyện “Lần Đầu” Của Câu Chuyện Bà Thị Kính

Anvi Hoàng

Câu Chuyện Bà Thị Kính cũng trở thành dấu mốc quan trọng trong lịch sử âm nhạc phương Tây là vì các ‘kỷ lục’ của nó. Sau đây là câu chuyện nhỏ về các poster quảng cáo của vở opera và ‘kỷ lục’ của nó.

– Những con số: Trước hết, mỗi bức hình poster, kích cỡ khoảng 2m x 7m, miêu tả hình ảnh nhân vật chính của mỗi vở opera, được trình bày đẹp và bắt mắt. Đối với “Câu Chuyện Bà Thị Kính” (The Tale of Lady Thị Kính) thì đó là hình nhân vật Thị Kính nhìn lạ mắt trong trang phục áo tứ thân, làm người đi qua đi lại không khỏi thắc mắc và tò mò hứng thú, Thị Kính đang cầm kéo như chuẩn bị cắt mớ tóc dài của mình. Đây là hình ảnh quen thuộc đối với khán giả Việt Nam về câu chuyện “Quan Âm Thị Kính” mà họ đã biết qua, và khán giả Mỹ sẽ có dịp làm quen. Ngoài vấn đề kích thước của poster ra, sự có mặt của một poster quảng cáo cho một vở opera là biểu hiện của những chuyện quan trọng khác, khó thấy hơn nhưng lại mang tính thách thức cao hơn. Đối với một nhà soạn nhạc, hoàn tất một vở opera là một thành công đáng kể. Nếu chỉ tính đến mồ hôi và trí tuệ đổ vào công trình này không thì cũng chưa đánh giá đúng mức giá trị của một tác phẩm âm nhạc dài mấy tiếng đồng hồ và bao gồm hơn ngàn trang nhạc. Tất cả công sức này là một lý do giải thích cho con số khá nhỏ các vở opera hiện được trình diễn trên sân khấu khắp nơi. Trong hơn 400 năm lịch sử opera, bắt đầu từ năm 1600 đến ngày nay, số nhà soạn nhạc (composer), không phải người viết nhạc (song writer), có thể lên tới hàng triệu rồi. Nhưng tính đến số nhà soạn nhạc có thể viết opera và tác phẩm của họ được trình diễn thì con số này nhảy xuống hàng ngàn. Trong số ngàn này, những nhà soạn nhạc viết opera (chết và còn sống) được xem là quan trọng vì những tác phẩm của họ được trình diễn thường xuyên tại các nhà hát opera lớn trên khắp thế giới cho đến thời điểm hiện tại, con số này chỉ ngót nghét 40-60 người. Số tác phẩm opera thuộc loại căn bản (standard) thường được trình diễn này là vào khoảng 100-150 vở. Đưa ra những con số trên chỉ là muốn nêu rõ một vấn đề: hơn 400 năm qua, những nhà soạn nhạc nào (chết hoặc còn sống) trải qua thách thức viết opera, hoàn thành tác phẩm của mình, và tác phẩm đó lại được trình diễn trên sân khấu đã coi như là đạt được một thành công đáng kể và đáng tự hào trong sự nghiệp sáng tác nhạc của mình, cho dù tác phẩm là vở opera nhỏ (chamber opera) hay là opera lớn (grand opera).

Những điều “đầu tiên” về “Câu Chuyện Bà Thị Kính” trong lịch sử opera Mỹ Vì opera bắt đầu ở Ý, các vở opera ban đầu toàn được hát bằng tiếng Ý. Theo thời gian, số vở opera càng nhiều và số ngôn ngữ được dùng trong các vở opera cộng thêm tiếng Đức, Pháp, rồi tiếng Anh. Trong số 50 vở opera được trình diễn nhiều nhất trên toàn thế giới nói chung và ở Mỹ nói riêng, các vở opera Ý vẫn chiếm số nhiều. Do đó, trước tới nay, người đi xem opera rất quen thuộc với những tựa đề và những cái tên bằng tiếng Ý. Lần này, họ sẽ có một sự ngạc nhiên thú vị. Câu Chuyện Bà Thị Kính của P.Q. Phan là vở opera về Việt Nam. Lần đầu tiên ở Mỹ người đi xem opera được làm quen với tiếng Việt. Trước hết là qua một tựa đề có cái tên tiếng Việt (tiếng Việt có dấu hẳn hoi): The Tale of Lady Thị Kính. Không những thế, khi xem opera, họ dần làm quen với các nhân vật mang tên Việt Nam, họ có thể cùng cười với Thị Mầu, nổi giận về Thiện Sĩ, Sùng Ông, Sùng Bà, Mãng Ông, v.v. Và rồi, ngạc nhiên này dẫn đến ngạc nhiên khác: một số bài hát trong vở opera vẫn được giữ bằng tiếng Việt để chuyển tải hương vị văn hóa Việt Nam đến khán giả. Và một điều đặc biệt nữa trong vấn đề ngôn ngữ là cụm từ “Nam Mô A Di Đà Phật” được hát lập lại nhiều lần, đưa khán giả vào thế giới tâm linh cao đẹp của Thị Kính. Vở opera Câu Chuyện Bà Thị Kính của nhà soạn nhạc P.Q. Phan là một vở opera lớn (grand opera) về Việt Nam đầu tiên trong lịch sử opera Mỹ do nhà soạn nhạc người Mỹ gốc Việt sáng tác. Gồm có hai (2) màn và mười (10) cảnh, vở Câu Chuyện Bà Thị Kính huy động đội ngũ nhạc công đông đảo (60 người), nhiều vai diễn (20 diễn viên cho hai ê kíp), cộng thêm dàn đồng ca (trên 35 người). Vở opera được dàn dựng quy mô và chuyên nghiệp với trang phục, phông màn, và diễn xuất sân khấu do các đạo diễn và nhà thiết kế có tiếng trong ngành phụ trách, lại được dựng trên sân khấu của nhà hát IU Opera Theater, một trong những sân khấu opera lớn nhất ở Mỹ và cả trên thế giới. Về phần mình, nhà soạn nhạc P.Q. Phan cho rằng sự kiện này là một điều vô cùng vinh dự và hãnh diện cho bản thân ông, một người gốc Việt, cho nước Việt Nam nói chung và cho cộng đồng người Việt tại Mỹ nói riêng.

Ăn Mừng CD, DVD Và Sách Về Câu Chuyện Bà Thị Kính

Với sự ủng hộ từ các báo và đài TV trong cộng đồng người Việt, sự hưởng ứng của báo LA Times về việc truyền trực tiếp vở opera The Tale of Lady Thị Kính, cũng như báo và đài địa phương ở Bloomington và Indianapolis, các buổi trình diễn mở màn tại sân khấu lớn chuyên nghiệp của trường nhạc Jacobs School of Music vào tháng 2 năm 2014 của vở opera Câu Chuyện Bà Thị Kính của tác giả P.Q. Phan (Phan Quang Phục) đã để lại tiếng vang trong cộng đồng người yêu thích opera và âm nhạc. Tháng 7 năm 2014, cộng đồng người Việt tại Virginia – Maryland đã rất hoan nghênh buổi diễn thuyết của Giáo Sư P.Q. Phan về vở opera Thị Kính của mình. Vở opera cũng được trình chiếu hai lần cho bà con trong cộng đồng thưởng thức.

Hình ảnh trong buổi trình diễn tại Musco Center tháng 3-2017

Xuân về, cảnh dân làng đón Xuân

Thị Kính và Thiện Sỹ

Mẹ chồng nàng dâu – Thị Kính hàm oan

Thị Mầu và các bạn gặp gỡ Tiểu Kính Tâm

Thị Mầu tán tỉnh Tiểu Kính Tâm

Nô và Thị Mầu

Tiểu Kính Tâm chịu đựng sự quở phạt của dân làng

Thị Kính được giải oan

https://tranquanghai.info/anvi-hoang-le-song-trong-cau-chuyen-ba-thi-kinh-opera-do-p-q-phan-viet/

Sounds of Vietnamese traditional musical instruments


Sounds of Vietnamese traditional musical instruments

Published on Feb 14, 2015

Visit us at: http://www.alotrip.com/vietnam-video-… Sounds of Vietnamese traditional musical instruments are the soul of the nation. When they are played, they depict the unmistakable soul of Vietnam exactly. Therefore this is considered a special way to explore Vietnamese culture.

THÚY HẰNG : Ca sĩ Khánh Ly: ‘Kỷ niệm Trịnh Công Sơn thì phải giấu đi’


07:45 AM – 27/11/2016 Thanh Niên Online
Trưa 25.11, ca sĩ Khánh Ly đặt chân xuống Tân Sơn Nhất, TP.HCM, chuẩn bị cho show diễn đầu tiên tại đây sau 41 năm xa cách.
Khánh Ly đã dành cho Báo Thanh Niên cuộc trò chuyện nhân chuyến trở về lần này. Nói như ca sĩ Quang Thành, người đồng hành cùng Khánh Ly, lần trở về để “hát như chưa bao giờ được hát”.
“Tôi xách giày, xách dép chạy theo ông Trịnh Công Sơn”
* Đã 41 năm xa Sài Gòn, bắt đầu cuộc sống tại Mỹ, giờ thì bà đã ở giữa nắng gió Sài Gòn rồi. Cảm xúc của bà như thế nào?
Ca sĩ Khánh Ly: Người ta vui quá thì người ta không biết mình là ai, không biết mình đang nghĩ gì. Tôi biết chắc chắn là sự trở về lần này, tôi muốn gặp nhiều người lắm, nhưng những người tôi muốn gặp đâu còn ai nữa. Chỉ còn khán giả, may mắn là còn khán giả chờ tôi, còn những ngôi thánh đường, con đường, hàng cây, cây cầu…
* Sài Gòn với ca sĩ Khánh Ly chắc chắn là nhiều kỷ niệm riêng lắm, nhất là gắn với cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn?
Ca sĩ Khánh Ly: Tôi không có cái gì riêng. Tôi sẽ đi tất cả những nơi tôi từng đi, không phải vì con đường này đẹp hơn con đường kia, mà vì cái gì tôi cũng thích được trở lại. Tôi yêu mọi thứ giống nhau, tôi yêu mọi thứ bằng nhau.
Kỷ niệm với ông Sơn mình phải giấu đi chứ, nói hoài, tội nghiệp ông Sơn. Có những cái tôi không thể quên, không thể không đến, nhưng chỉ muốn giữ riêng cho mình thôi. Những nơi chúng tôi từng đi qua, tôi nhớ lắm, là con đường Duy Tân (bây giờ là Phạm Ngọc Thạch – PV), cây dài bóng mát…

Ca sĩ Khánh Ly: 'Kỷ niệm Trịnh Công Sơn thì phải giấu đi' - ảnh 1
Khánh Ly (phải) bảo bà đã 72 tuổi, không tính được ngày mai, ngày kia bà có trở lại Sài Gòn và tiếp tục ca hát, nên muốn gì phải làm ngay
* Khi Khánh Ly đang ở Đà Lạt, bà từng một lần từ chối lời mời của ông Trịnh Công Sơn về hát ở Sài Gòn, vì sao vậy? Và tại sao bà thay đổi quyết định sau hơn 2 năm?
Ca sĩ Khánh Ly: Đó là năm 1965, khi tôi gặp ông giữa Đà Lạt, ông rủ tôi về Sài Gòn. Tôi từ chối vì lúc đó tôi vô danh tiểu tốt, tôi nghĩ rằng mình chỉ có thể làm ở tỉnh lẻ, Sài Gòn đâu có chỗ cho mình. Sau đó, năm 1967, tôi quyết định về Sài Gòn cùng ông Sơn, không phải tôi thay đổi mà do hoàn cảnh thay đổi.
* Những ngày đầu, Sài Gòn đón bà như thế nào?
Ca sĩ Khánh Ly: Mọi người chỉ biết đến tôi sau một đêm tôi hát cùng ông Sơn. Trước đó, đâu ai biết Khánh Ly là ai. Đó là tháng 11.1967, địa điểm hát là bãi đất trống bên cạnh đường Lê Thánh Tôn bây giờ. Tôi hát Diễm xưa, Ru em từng ngón xuân nồng, Dấu chân địa đàng, Nhìn những mùa thu đi, Nắng thủy tinh, ông Sơn hát Mưa hồng… Sau đêm đó, tôi vác giày, vác dép đi theo ông Sơn.
* Suốt những năm ca hát ở Sài Gòn và các tỉnh Nam bộ sau đó bà đã được khán giả yêu thương chào đón như thế nào?
Ca sĩ Khánh Ly: Khán giả thương tôi lắm, không thương sao mình hát được đến bây giờ. Những nơi tôi đến thì khán giả đến, khán giả đến đến thì tôi đến, chúng tôi cứ theo nhau.
Hát cho sinh viên thì làm gì có tiền, tôi nhớ lần về các trường học ở Cần Thơ, Mỹ Tho hát, tối xếp bàn ghế ngủ luôn, làm gì có chuyện ở hotel (khách sạn – PV), đi máy bay hạng nhất. Bà con thương mình, họ cho mình củ sắn, củ khoai. Ngày đó vất vả mà vui, vui lắm, bây giờ tôi chẳng thể nào tìm được ngày trở lại.

Ca sĩ Khánh Ly: 'Kỷ niệm Trịnh Công Sơn thì phải giấu đi' - ảnh 3
Sài Gòn là tuổi trẻ, là khát vọng, là tình yêu, là nỗi nhớ của ca sĩ Khánh Ly
* Còn phòng trà Khánh Ly ở Sài Gòn, bà còn nhớ những năm tháng đó không?
Ca sĩ Khánh Ly: Làm sao quên được chứ, phòng trà được mở từ năm 1972 đến 1975, địa chỉ 12 – 14 đường Tự Do (đường Đồng Khởi hiện nay), bây giờ nơi đó là một khách sạn. Đi qua đó bây giờ, tôi chỉ còn tiếc nuối mà thôi. Tiếc những cái mình đã mất mất rồi.
“Tôi dở, tôi chỉ biết hát thôi”
* Người Sài Gòn luôn yêu mến bà, chờ đợi bà, vậy tại sao phải đến sau 41 năm, ngày 2.12.2016, họ mới có thể đón chào Khánh Ly của một show riêng mình?
Ca sĩ Khánh Ly: Không phải tôi cứ muốn là được. Trong đời mình có nhiều cái mình muốn, ví dụ như mình muốn yêu người này mà không yêu được thì đành thôi…
* Ca khúc nào bà mong chờ được hát nhất trong đêm tới?
Ca sĩ Khánh Ly: Tôi sẽ hát những bài mọi người thích, bài nào tôi cũng thích và muốn hát cả. Tôi ước mơ được hát ca khúc Da vàng, không phải ai cũng hát được Da vàng. Lần này tôi hát cùng Quang Thành, hát được tình ca chưa chắc đã hát được Da vàng, phải là người yêu quê hương cháy bỏng…

Ca sĩ Khánh Ly: 'Kỷ niệm Trịnh Công Sơn thì phải giấu đi' - ảnh 4
Ca sĩ Khánh Ly muốn giấu kín những kỷ niệm về cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
* Trong những ca sĩ hát cùng bà trong đêm nhạc, có cái tên Hồ Ngọc Hà. Bà là người đề xuất mời Hồ Ngọc Hà, vì Hà Hồ “hot” hay lý do gì khác?
Ca sĩ Khánh Ly: Hồng Nhung dễ thương, biết điều biết chuyện, biết người. Hồ Ngọc Hà trẻ, có cái riêng của Hồ Ngọc Hà, mình hãy nhìn Hồ Ngọc Hà trên góc độ khác đi, hãy hình dung Hồ Ngọc Hà mặc áo dài trắng, chơi piano, người ta có thể thành công trên nhiều việc chứ không phải chỉ một việc. Riêng tôi dở, tôi chỉ biết hát thôi, nên tôi muốn học Quang Dũng, Hồ Ngọc Hà, học Ý Lan, học Quang Thành, tôi học ở những người bạn của tôi những điều mà tôi không có, không biết.
Ca sĩ Khánh Ly: 'Kỷ niệm Trịnh Công Sơn thì phải giấu đi' - ảnh 5
Ca sĩ Khánh Ly, Quang Thành (thứ 2 từ trái qua). Quang Thành sẽ hát cùng Khánh Ly trong live show tối 2.12
* Khánh Ly người Hà Nội, lập nghiệp ở Đà Lạt và thành danh ở Sài Gòn. 41 năm, trở lại nơi bắt đầu, bà có nghĩ đây sẽ là khởi đầu của một chặng đường mình sẽ đi tiếp theo?
Ca sĩ Khánh Ly: Tôi từng nói, chuyện gì hôm qua tôi biết, hôm nay tôi không biết, ngày mai tôi chưa biết, vì vậy làm được cái gì thì phải làm ngay đi, đừng để trễ.
Tôi 72 tuổi rồi, tôi không tính được gì, trời tính, chúa tính cho tôi. Khán giả tính cho tôi, khi nào khán giả nói, “hát đi, cho bà này hát đi”, tôi còn hát.
Show Khánh Ly live concert in Saigon diễn ra 20 giờ tối 2.12 tại Nhà thi đấu Quân khu 7, TP.HCM. Khánh Ly cùng các ca sĩ Ý Lan, Hồng Nhung, Quang Dũng, Hồ Ngọc Hà, Quang Thành sẽ hát Diễm xưa, Hạ trắng, Như cánh vạc bay, Tuổi đá buồn, Dấu chân địa đàng, Ở trọ, Lặng lẽ nơi này, Người già em bé, Người mẹ Ô Lý… Trong liveshow này, Khánh Ly tự làm MC, tự dẫn dắt câu chuyện của chính mình.

Sau liveshow, Khánh Ly sẽ có các đêm diễn thiện nguyện tại Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Lạt, Quy Nhơn, Cần Thơ, Huế. Tại những nơi đi qua nữ ca sĩ sẽ trích một phần tiền của mình ủng hộ những số phận kém may mắn.

Thúy Hằng

http://thanhnien.vn/van-hoa/ca-si-khanh-ly-ky-niem-trinh-cong-son-thi-phai-giau-di-768848.html