Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại


:

Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Nguyễn thụy Kha : Hãnh diện 100 năm âm nhạc Việt Nam


26/08/2017 07:17

Nhìn lại 100 năm âm nhạc Việt Nam, Báo Người Lao Động khởi đăng loạt bài của nhà báo – nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha về những nhạc sĩ tiêu biểu góp phần làm nên sự phát triển của nền âm nhạc Việt Nam, trên các số báo ra ngày thứ bảy hằng tuần

Bây giờ, khi ở thời điểm qua thế kỷ mới được 17 năm, nhìn lại 100 năm trước, cũng là thời điểm bước qua thế kỷ mới (thế kỷ XX) được 17 năm, thấy rõ một bước tiến xa của âm nhạc Việt Nam qua 100 năm.

Bảy đường xâm nhập của âm nhạc phương Tây

Ngày đó, vào năm 1917, tình hình âm nhạc của nước nhà ra sao? Khi ấy, người Pháp vào Việt Nam đã hơn nửa thế kỷ. Sự bành trướng mãnh liệt của âm nhạc phương Tây đi theo bước chân thực dân vào Việt Nam bằng 7 con đường khác nhau. Con đường đầu tiên là xâm nhập dưới hình thức tôn giáo. Trong các trường học của nhà thờ Thiên Chúa giáo (còn gọi là trường dòng) đều có ban hát lễ và học trò đều được học nhạc. Bởi thế, nhiều thầy dòng người Việt Nam đã đặt lời Việt cho các bản thánh ca nước ngoài, sáng tác những bài ca tôn giáo bằng tiếng Việt như thầy dòng Ta đê Đỗ Văn Liu, linh mục Đoàn. Giáo dân còn được học kèn để lập nên dàn kèn của giáo xứ.

Hãnh diện 100 năm âm nhạc Việt Nam - Ảnh 1.

Album “Dư âm” gồm những bản nhạc tiêu biểu của tân nhạc Việt Nam thời kỳ đầu

Con đường thứ hai là thông qua nhạc kèn nhà binh. Năm 1918, dàn kèn hơi Huế được thành lập do ông Bùi Thanh Vân tổ chức gồm 3 bộ (gõ, đồng, gỗ) dưới sự chỉ huy của nhạc sĩ Pháp Fraineau. Năm 1919, dàn kèn hơi Cung Đình (thời Khải Định) do ông Trần Văn Liên chỉ đạo. Năm 1924, dàn kèn hơi nhà binh ở Hà Nội được thành lập do Camille Parmentier chỉ huy, ông Đinh Ngọc Liên làm trợ lý chỉ huy.

Con đường thứ ba là dạy nhạc tại trường và tại các lớp ở tư gia. Khi ấy, tại các trường đều có dạy nhạc và những người Pháp mở lớp dạy nhạc tư gia. Đến năm 1927, ở Hà Nội đã mở trường Pháp Quốc Viễn Đông Âm Nhạc Viện (Concervatoire Francais d’Extrême Orient) do các ông Poineignor và Bilewsky làm giám đốc. Năm 1928, ở Sài Gòn thành lập một tổ chức là Ủy ban Nghệ thuật Sài Gòn (Comité artistique de Sai Gon) do Charles Maritn làm tổng thư ký, chuyên tổ chức các cuộc biểu diễn âm nhạc cho người Sài Gòn thưởng thức, sau có cả lớp dạy đàn piano.

Con đường thứ tư là thông qua các buổi hòa nhạc ở các TP Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng khá phong phú về thể loại. Nhờ thế mà sau khi được xem những người nước ngoài biểu diễn, những nghệ sĩ Việt Nam cũng nhóm họp nhau lại để biểu diễn các tác phẩm nước ngoài, để đến một ngày sẽ biểu diễn các tác phẩm của chính mình.

Con đường thứ năm là thông qua phong trào hướng đạo sinh. Để sinh hoạt trong hướng đạo sinh, nhiều đội viên đã tham gia học nhạc, ca hát những ca khúc “điệu Tây, lời ta” để rồi đến một ngày sẽ hát những bài ca hướng đạo của chính mình.

Con đường thứ sáu là thông qua phim ảnh, đĩa hát, đài phát thanh. Nhờ phim ảnh, đĩa hát, đài phát thanh, người Việt Nam thời đó đã biết đến nhiều tác phẩm nước ngoài và các danh ca nước ngoài như Tino Rossi, Luciene Boyer…

Con đường thứ bảy là thông qua những nhóm hoạt động cách mạng ở nước ngoài mang những bài ca cách mạng từ nước ngoài trở về. Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã phỏng dịch lời “Quốc tế ca” ra tiếng Việt bằng thơ lục bát để dễ truyền bá. Đến năm 1929, Trần Phú dựa vào bài thơ này làm lại thành ca từ cho sát với giai điệu nhạc để hát lên. Và sau đó là Lê Hồng Phong cùng Trần Bình Long sửa lại một lần nữa để thành ca từ phổ biến như ngày nay.

Sức mạnh tự cường của âm nhạc cổ truyền

Trong khi âm nhạc phương Tây xâm nhập Việt Nam theo 7 con đường nói trên thì âm nhạc cổ truyền Việt Nam lại khiến các nhạc sĩ phương Tây bàng hoàng khi Ban Cổ nhạc Việt Nam đi biểu diễn ở Pháp vào năm 1911. Nhạc sĩ Claude Debussy khi nghe nhạc tuồng Việt Nam đã từng nhận xét: “Người An Nam giới thiệu một mầm mống của thứ opera có cấu trúc theo công thức bộ bốn. Chỉ có điều ở đó nhiều thần thánh hơn, ít trang trí hơn. Một cây kèn (chắc là kèn bóp) nhỏ bé, cuồng nhiệt dẫn dắt cảm xúc. Một trống to tạo nên nỗi kinh hoàng… và chỉ có thế thôi. Không cần có nhà hát cầu kỳ, không có dàn nhạc giấu kín. Chỉ có nhu cầu bản năng nghệ thuật tự sáng tạo để tự thỏa mãn mình… Nó không gào lên những cảm xúc mà làm cho cảm xúc được che mờ đi. Nó không trưng ra thành giao hưởng nhưng vẫn là ẩn dụ. Nhưng sự che mờ và ẩn dụ ấy lại nằm trong một hình thực được chọn lựa cực kỳ cẩn thận và tóm lại, rất rõ ràng…”

Chính trong bối cảnh hai phía của thực trạng đó, âm nhạc Việt Nam lại nhấn thêm một nét tự cường nữa bằng bản lĩnh từ âm nhạc cổ truyền. Đó là việc nhạc sĩ Cao Văn Lầu lần đầu sáng tác bản “Dạ cổ hoài lang”. “Dạ cổ hoài lang” được Cao Văn Lầu viết trong một tâm trạng đặc biệt, khi ông lấy vợ mà không sinh con suốt 3 năm ròng. Luật lệ phong kiến đã gây nên bi kịch chia lìa vợ chồng ông do mẹ yêu cầu. Trong tâm trạng đó, Cao Văn Lầu đã viết “Dạ cổ hoài lang” để nói lên tình yêu của người vợ khi vợ chồng xa nhau. Sau khi “Dạ cổ hoài lang” ra đời thì ít lâu sau, vợ chồng ông sinh cậu quý tử đặt tên là Cao Văn Hùng. Ông Cao Văn Hùng khi đi làm cách mạng thì lấy tên là Cao Kiến Thiết, từng là đại sứ Việt Nam tại Mông Cổ. Bản “Dạ cổ hoài lang” là một sáng tác âm nhạc của Cao Văn Lầu, sau được nhân gian phát triển tiếp các nhịp để trở thành những bản vọng cổ lưu truyền trong nhân gian và phát triển thành cải lương.

Cuộc hôn phối mang dấu ấn thời đại

Trong thuở ban đầu thai nghén, nếu “Dạ cổ hoài lang” là một sáng tạo âm nhạc theo hướng bảo tồn âm nhạc cổ truyền thì những bài thánh ca của thầy dòng Ta đê Đỗ Văn Liu, linh mục Đoàn lại là những sáng tạo âm nhạc tiếp nhận tinh hoa âm nhạc phương Tây. Khi người Nam Bộ khoét lõm phím guitare và lên lại dây (chỉ có 5 dây) theo cao độ hò, xừ, xang, cống, líu thì nhiều người Việt Nam khác lại học chơi thành thạo các bản nhạc nước ngoài bằng guitare Espagnole (Tây Ban Nha) hay guitare Hawai’enne (Ha Viên hay Hạ Uy Di). Theo hai phía của ứng xử đó, âm nhạc Việt Nam bắt đầu làm mới mình trên sân khấu cải lương, sân khấu chèo, sân khấu tuồng, sân khấu bài chòi và cũng bắt đầu dần dà có những bài hát Việt Nam ký âm theo khuông nhạc và nốt nhạc thất cung của Tây phương bên cạnh việc hát những bài hát Tây mà lời Việt.

Sau cuộc khởi nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh thất bại, nhiều chiến sĩ cách mạng của Đảng bị bắt vào tù. Những ngày ở trong ngục tù, bằng cách truyền miệng với các đồng chí xung quanh, nhạc sĩ cách mạng Đinh Nhu đã sáng tác hành khúc “Cùng nhau đi hùng binh” năm 1930. Nếu thời gian trước là thuở ban đầu hoài thai thì việc hành khúc “Cùng nhau đi hùng binh” của Đinh Nhu có thể coi như sự khai sinh của tân nhạc hay không? Cũng đã có rất nhiều bàn luận. Vì hành khúc chỉ được truyền miệng, sau này mới được nhạc sĩ Đỗ Nhuận ghi lại nên dù có thể đã khai sinh nhưng tờ khai sinh (bản nhạc) thì lại chưa có. Đến năm 1935, nhạc sĩ Trần Ngọc Quang đã viết bài hát “Nghề cinema” và ấn hành bản nhạc tại nhà in Đông Tây 193 Hàng Bông. Song xem vào văn bản đã in, thấy rằng bài hát đã không được ký âm chuẩn mực, chính xác. Bởi thế, cái mốc quan trọng này cũng chỉ được dùng để tham khảo. Chỉ đến khi các nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương… có những sáng tác của mình, được ký âm chuẩn mực và ấn hành trên tờ Ngày nay tháng 9-1938, thì lúc đó, tờ khai sinh Tân nhạc Việt Nam mới chính thức được công nhận.

Suốt 100 năm qua, tân nhạc Việt Nam đã được vun đắp, phát triển bởi các thế hệ nhạc sĩ của các thời kỳ: Tiền chiến (1938-1945), chống Pháp (1945-1954), chống Mỹ (1954-1975), hậu chiến (1975-1986), đổi mới (1986 – đến nay), trong đó có những nhạc sĩ tiêu biểu cho từng thời kỳ, ít nhất cũng đủ 100 người đáng để hãnh diện với 100 năm trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.

Kỳ tới: Nguyễn Xuân Khoát – Anh cả tân nhạc

Giao hoan hai chiều

Cuộc giao hoan với âm nhạc phương Tây đã cho Việt Nam đầu thế kỷ XX có những năm tháng hoài thai, sinh nở và có tờ khai sinh cho một nền âm nhạc mới mà ta thường gọi là “tân nhạc”, cũng giống như các nhạc sĩ Pháp khi giao hoan với âm nhạc phương Đông đã sinh ra trường phái âm nhạc ấn tượng và nhóm “Nước Pháp trẻ”.

Nguyễn thụy Kha

Nguyễn Thụy Kha : Hãnh diện 100 năm âm nhạc Việt nam: “Hòn vọng phu” Lê Thương


Hãnh diện 100 năm âm nhạc Việt nam: “Hòn vọng phu” Lê Thương

22/09/2017 21:53

Trong nhiều năm, nhạc sĩ góp phần khai sinh tân nhạc Việt Nam – Lê Thương đã dựng lên dọc lịch sử tân nhạc Việt Nam 3 “Hòn vọng phu” bằng âm thanh bất tử

Mùa xuân Mậu Dần 1938 cách đây 79 năm, tân nhạc Việt Nam đã chọn được năm khai sinh sau những năm tháng hoài thai, bắt đầu từ cuộc tri ngộ giữa 2 nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên từ Sài Gòn ra miền Bắc với nhạc sĩ Lê Thương ở Hải Phòng.

Người tri âm

Chuyến hành hương phương Bắc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên ấy nhằm mục đích diễn thuyết về âm nhạc cải cách tại miền Bắc. Nhưng ở Hà Nội, ông Tuyên đã được đón tiếp không mặn mà lắm bởi giọng nói Nam Bộ lúc đó còn ít được người kinh thành nghe thấy, bởi tính “phớt ăng-lê” của người Thăng Long. Song ở Hải Phòng, nhờ có Lê Thương vốn bản tính sôi nổi nhiệt tình, mọi điều đã trở nên thú vị. Tại cuộc tri ngộ trên đất Cảng, ông Tuyên đã đề nghị ông Thương hát một bài hát mới của chính mình. Và Lê Thương đã hát bản đàn xuân rạo rực, trữ tình. Sau đó, cũng nhờ Lê Thương, Nguyễn Văn Tuyên đã được hát “Bông cúc vàng” tại rạp cinema Palace nhân kỳ hội của Trường Nữ họ Hoài Đức. Gặp Lê Thương, tuy tuổi đời thua ông Tuyên 5 tuổi, ông Tuyên vẫn coi như đã gặp được một tri âm, một bạn vong niên đồng hành trên con đường tân nhạc mới mẻ. Và chính họ là nhạc sĩ đầu tiên tạo nên tờ khai sinh cho tân nhạc Việt Nam mùa thu 1938 bằng việc ấn hành chính tác phẩm của mình trên báo “Ngày nay”.

Hãnh diện 100 năm âm nhạc Việt nam: Hòn vọng phu Lê Thương - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Lê Thương Ảnh: TƯ LIỆU

Khi “Bản đàn xuân” rung lên

Sau mùa thu 1938, “Bản đàn xuân” của Lê Thương ấn hành trên báo “Ngày nay”, ít tháng sau nhóm Hoàng Quý đã tập tành công phu và lần đầu tiên trình diễn những tác phẩm của Lê Thương như “Tiếng đàn đêm khuya”, “Một ngày xanh”, “Thu trên đảo Kinh Châu”, “Trên sông Dương Tử”… tại Nhà hát Lớn Hải Phòng, trong không khí hoạt động của “Hội ánh sáng” mà nhà thơ Thế Lữ khuấy động lên trong mùa hè 1939. Từ đó, âm nhạc Lê Thương bắt đầu lan tỏa lên Hà Nội, Vĩnh Yên nhờ nhóm kịch Thế Lữ đi diễn vở “Ông ký Cóp” của Vi Huyền Đắc ở nhiều nơi.

Rất tiếc là tới năm 1941, khi nhóm Hoàng Quý khởi lên thành nhóm Đồng Vọng như một luồng gió thênh thang vô ngã, hừng hực thanh xuân thì do Nhật chiếm Hải Phòng, Lê Thương cùng gia đình vào phiêu lưu, mưu sinh trên đất Nam Bộ. Vậy là ông hành nghề ở phương Nam, ngược lại với người tri âm Nguyễn Văn Tuyên khi xưa. Ở Nam Bộ, Lê Thương đã thử một cuộc vận động cho tân nhạc nhờ sự giúp đỡ của văn thi sĩ Nguyễn Văn Cổn và nhạc sĩ Jean Tịnh – một cây vĩ cầm điêu luyện của ca nhạc cải lương. Cả hai ông đều làm việc tại Radio Sài Gòn. Hãng này xuất bản riêng một tờ tạp chí cùng tên. Và “Thu trên đảo Kinh Châu” của Lê Thương đã được ấn hành.

Từ “đồ đó chưa xài” làm nên “Hòn vọng phu”

Nhưng khi ấy, tân nhạc ở Nam Bộ vẫn chưa gây được ảnh hưởng trong quần chúng. Vì yêu nghề, Lê Thương đi gõ cửa các cửa hàng đĩa hát như Béka, Keller, hãng đĩa Asia phim ảnh và hãng Asia đĩa hát. Họ đều nghe và khen tác phẩm của Lê Thương hay nhưng đều trả lời là ở đây, “đồ đó chưa xài”. Chỉ khi đến hội Bắc kỳ ái hữu, Lê Thương mới được hội này tổ chức cho một cuộc diễn thuyết tân nhạc có sự góp mặt của ban nhạc Philippines do Julio phụ trách với 2 cây đàn guitar Hawai Scawell và Nguyễn Thông. Nhưng đó chỉ là một tiếng vang rất nhỏ.

Phải tới năm 1943, Quý Mùi, tân nhạc mới bắt đầu được chú ý ở Sài Gòn. Một loạt bài nhận định về “Phong trào nhạc mới” của Lê Thương đã được tuần báo “Thanh niên” đăng tải từ 25-3-1943 đến 26-8-1944. Ở Sài Gòn, Lê Thương vừa viết báo âm nhạc, vừa dạy học, vừa nung nấu những sáng tác có tầm cỡ hơn. Và trong nhiều năm, ông đã dựng lên dọc lịch sử tân nhạc Việt Nam 3 bài “Hòn vọng phu” bằng âm thanh bất tử.

Theo lời dẫn đầu bằng những câu lục bát nôm na “Đời xưa đời xửa vua gì – Có nàng đứng ngóng chồng về đầu non – Thế rồi mong mỏi mong mòn – Thế rồi hóa đá ôm con đứng chờ…”, Lê Thương đã tạc lên “Hòn vọng phu” thứ nhất bằng một hành khúc hào sảng mà khi nghe âm vang thấy phảng phất hơi thở của “Chinh phụ ngâm”: “Giã nhà đeo bức chiến bào – thét roi cầu vị ào ào gió thu…”

“Hòn vọng phu” thứ hai còn có tên là “Ai xuôi vạn lý” thực sự là một tự sự đầy chất thơ bi tráng. Hình tượng ngày chinh phu đi có đoàn cỏ cây dưới chân còn trẻ thơ, ấy vậy mà đến khi đoàn cỏ cây đã thành đoàn cổ thụ già, chinh phu vẫn chưa về. Quả là một phóng dụ đầy nước mắt.

Nhưng đến lời thứ hai thì quả là kiệt tác của ca từ. Đào Trọng Khánh – tác giả kịch bản và lời bình phim “Hà Nội trong mắt ai” nổi tiếng – đã nhận xét: “Bố Lê Thương giỏi quá. Không hiểu sao bố ấy lại nghĩ ra hình tượng núi non thương tình người vọng phu kéo nhau đi thăm nàng để rồi nằm thành Trường Sơn vạn lý xuyên nước Nam, rồi lại nhiều đồi rủ nhau kéo thành đảo ra xa tới khơi ngàn xem chàng về hay chưa? Tuyệt vô cùng!”. “Hòn vọng phu” thứ hai được Lê Thương viết năm 1946. Ông muốn gửi gắm chút tâm sự về cuộc kháng chiến lúc bấy giờ chăng?

Trong “Hòn vọng phu” thứ ba còn có tên “Người chinh phu về”, Lê Thương đã để người chinh phu bước dọc theo lịch sử Việt Nam qua những địa danh thành Cổ Loa, đền Vạn Kiếp, vượt Hoàng Sơn, vòng thành Huế, đất miền Đồng Nai… để rồi thấy “Núi đá thu rêu đã lấp mờ bao nghìn xưa…”. Như một chuyện kể bằng âm nhạc, 3 “Hòn vọng phu” của Lê Thương đã lan tỏa và đứng sừng sững trong lòng dân chúng từ Nam chí Bắc bao nhiêu năm qua. Và chắc còn mãi mãi.

Tôi được gặp bác Lê Thương lần đầu tiên vào mùa hè năm 1985 ở Sài Gòn. Hôm ấy, tôi cùng vợ chồng nhạc sĩ Văn Cao đến thăm bác tại tư gia 55 Bùi Viện. Bác quả là một người hóm hỉnh, vui tính. Nhất là hôm tất cả kéo sang nhậu ở nhà anh Lê Thắng, đường sông ở mạn cầu chữ Y, Lê Thương sương sương chút men hát rất hay: “Sớm bắt bướm hái hoa tung tăng nô đùa – Chiều lại ra vườn hoa dạo chơi – Tối quyến luyến má ba reo ca bên đèn – Bảy giờ đêm nằm mơ thấy tiên”. Đó là giai điệu bài hát thiếu nhi mang tên “Tuổi thơ” rất hay của Lê Thương mà tôi đã thuộc từ khi còn rất nhỏ.

Bác mong có ngày ra Hải Phòng thăm bố tôi và lại cùng ăn bít-tết bánh mì. Nhưng sức khỏe đã giữ chân bác. Bác mất ngày 18-9-1996. Năm ấy nghe tin bác Hộ qua đời, bố tôi cũng buồn mất một dạo. Chắc sau ngày bố tôi chuyển cõi, bác và bố tôi đã gặp nhau ở cõi xa xăm.

Tôi kính trọng Lê Thương ngoài những kỷ niệm tình cờ giữa bác với tôi, kỷ niệm thuở hàn vi giữa bác với bố tôi và còn vì bác là một nhạc sĩ tân nhạc mà nhạc Việt của cha ông đã ngấm sâu trong mạch máu. Đừng hoài công tìm ở những sáng tác của Lê Thương có chút gì “lai căng”. Bác đã sống, đã thở ra nhạc Việt cho ta tự hào.

Văn Cao luôn gọi là thầy

Lê Thương, tên khai sinh là Ngô Đình Hộ. Ông sinh năm 1913 tại Nam Định. Sau khi tốt nghiệp sư phạm Hà Nội , thầy giáo Hộ về dạy học tại Trường Trung học Lê Lợi, Hải Phòng. Ở đấy, ông trở thành đồng nghiệp với bố tôi – thầy giáo Chín. Bên cạnh cái thú sáng sáng cùng bố tôi đi điểm tâm bít-tết bánh mì, bác Hộ (bố tôi hay gọi nhạc sĩ Lê Thương như vậy) còn có cái thú chơi với nhóm thanh niên trẻ ưa ca hát của Hoàng Quý, Canh Thân, Phạm Ngữ, Hoàng Phú (nay là nhạc sĩ Tô Vũ), Văn Cao, nàng Cúc Phương (tức hoa khôi Nguyễn Thị Cúc Phương), nàng Thư Nhàn… Không biết vô tình hay cố ý, bác Hộ lấy cái tên làm âm nhạc của mình là Lê Thương lại nhằm vào một trong đội ngũ cung (Cung, Thương, Giốc, Thủy, Vũ). Sinh thời, Văn Cao luôn gọi Lê Thương là thầy dạy nhạc của mình.

Nguyễn Thụy Kha

Nguyễn Thụy Kha : Nhạc sĩ Thẩm Oánh – Người bán đường tơ


Hãnh diện 100 năm âm nhạc Việt Nam (*)

Nhạc sĩ Thẩm Oánh – Người bán đường tơ

03/11/2017 22:19

Cuộc đời Thẩm Oánh đã được chính ông viết ra trong ca khúc “Tôi bán đường tơ”: “Tôi bán đường tơ – Ca ca hát hát, điên điên rồ rồ – quên quên nhớ nhớ, mơ mơ hồ hồ – thương vay khóc mướn – khéo vui cợt đùa, khéo se tình hờ – rút tơ lòng ra, chiều nhân thế say ước mơ…”

Sau ngày 30-4-1975 một thời gian, học sinh một số trường trung học ở Sài Gòn được học ngoại ngữ của thầy giáo đã ở tuổi lục tuần tên là Thẩm Oánh. Nhiều học sinh, nhất là những học sinh từ miền Bắc vào, chỉ biết đó là thầy giáo Thẩm Oánh, ít ai biết rằng đó là một trong những cây đại thụ của nền tân nhạc Việt Nam từng lừng lẫy tiếng tăm.

Xuất thân danh gia vọng tộc

Nhạc sĩ Thẩm Oánh sinh ngày 14-8-1916 tại Hà Nội. Tên khai sinh của ông là Thẩm Ngọc Oánh, xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc. Hiệu thuốc tây nhà họ Thẩm ở Cửa Nam đã tồn tại vững chãi từ lâu. Ngày toàn quốc kháng chiến, thuốc của cửa hiệu đã được các chiến sĩ bám trụ thủ đô sử dụng rất hữu hiệu. Trong căn nhà ấu thơ, Thẩm Oánh đã được học vỡ lòng từ một thầy đồ. Nhờ thầy mà ông biết chơi các loại đàn Đông phương, tạo nên ý niệm về thẩm mỹ âm nhạc. Sau khi học thầy đồ, Thẩm Oánh tiếp tục học âm nhạc qua một số sách tiếng Pháp, ở Viễn Đông Âm nhạc học và ở các trường trung học thời ấy. Năm 1938, Thẩm Oánh đã bắt đầu dạy nhạc và tham gia nhóm nhạc Myosotis cùng Dương Thiệu Tước, Vũ Khánh, Nguyễn Thiện Tơ…

Tuy cùng trong nhóm nhạc, nhưng Thẩm Oánh có chủ trương âm nhạc khác Dương Thiệu Tước mặc dù người yêu ông (sau là vợ ông), bà Trần Anh Đào cũng vốn là một nhạc sĩ và là em họ Dương Thiệu Tước. Ông có chủ trương theo đạo “Trung dung”. Theo ông, những sáng tác tân nhạc phải theo ý nhạc Việt Nam và phải có những cảm xúc thuần túy Á Đông. Ông đã viết ra hàng loạt các tác phẩm như “Hồ xưa”, “Xuân về”, “Tiếng khóc trong phòng the”, “Khúc yêu đương”, “Trên mây”…

Sự nghiệp sáng tác đồ sộ

Thẩm Oánh có một sự nghiệp sáng tác đồ sộ tới cỡ cả ngàn bài hát như “Vương tơ”, “Gió hoan ca”… và đặc biệt là “Vợ chồng Ngâu”, “Thiếu phụ Nam Xương” đầy âm hưởng ca trù, có khi nằm ở những rung động, có khi nằm ở những không gian khác biệt và có khi nằm ở những quan niệm thẩm mỹ. Ba nhạc kịch của ông là “Quán giang hồ”, “Bá Nha – Tử Kỳ”, “Đoàn kết là sức mạnh”. Ngay từ khi khai sinh tân nhạc, ngày 13-9-1938, bài hát “Khúc yêu đương” của ông đã được biểu diễn cùng bài hát của Dương Thiệu Tước tại rạp Olympia trước buổi chiếu phim do Hội Ánh sáng tổ chức. Một năm sau, ông có “Nhà Việt Nam”: “Nhà Việt Nam, Nam Bắc Trung sáng trưng Á Đông… Bốn ngàn năm văn hiến…” ai ai cũng biết.

Nhạc sĩ Thẩm Oánh - Người bán đường tơ - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Thẩm Oánh. (Ảnh tư liệu)

Sau cuộc diễn thuyết về âm nhạc cải cách của Nguyễn Văn Tuyên tại Hội Trí Tri 1938, năm 1941, Thẩm Oánh cũng có cuộc diễn thuyết tại đây cùng đề tài này. Năm 1942, khi chùa Quán Sứ khánh thành, ông viết bài hát “A di đà phật”, sau đó, ông làm phó hội trưởng Hội Khuyến nhạc, chủ bút tờ bán nguyệt san “Khuyến nhạc”.

Tìm ra ca sĩ Thanh Hằng

Toàn quốc kháng chiến, Thẩm Oánh cùng Dương Thiệu Tước ở lại Hà Nội. Ông phụ trách văn nghệ Đài Pháp – Á và chủ bút bán nguyệt san “Việt Nhạc”, nhiều lần đăng đàn về tân nhạc Việt Nam tại các trường đại học và Nhà hát Lớn Hà Nội.

Mùa hè 1953, ông tổ chức cuộc thi hát cho thanh niên Hà Nội ở Đài Pháp – Á. Ban giám khảo toàn các nhạc sĩ tên tuổi như Dương Thiệu Tước, Hùng Lân, Vũ Văn Tuyên… Cuộc thi đã trao giải nhất cho nữ thí sinh Thanh Hằng, giải nhì cho nam thí sinh Trần Ngọc, giải ba cho nam thí sinh Trần Hiếu… Thanh Hằng ngay lập tức đã lọt mắt xanh của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và trở thành “người tình áo xanh” hát nhạc Đoàn Chuẩn hay nhất thời kỳ ấy. Sau giải phóng thủ đô, Thanh Hằng trở thành ca sĩ Lê Hằng nổi tiếng với những ca khúc “Trước ngày hội bắn” (hát với Trịnh Quý – tác giả ca khúc), “Lời anh vọng mãi ngàn năm”…

Trần Ngọc cũng như Thẩm Oánh di cư vào Nam và trở thành nhạc sĩ Tuấn Khanh với ca khúc “Chiếc lá cuối cùng” nổi tiếng. Hai ca sĩ vẫn thân nhau cho đến sau này. Cuộc thi có câu chuyện vui sau sàn diễn Nhà hát Lớn là để bảo đảm cho người đẹp Thanh Hằng chắc chắn giải nhất, nhạc sĩ Tu My – tác giả “Tan tác” nổi tiếng đã chơi trò tinh nghịch làm lỏng chân cắm đèn điện tử của máy tăng âm khi Trần Ngọc hát, nên mặc dù hát rất tốt ở vòng ngoài, Trần Ngọc chỉ được giải nhì ở vòng trong do khi hát, micro bị rè. Khi gặp Trần Ngọc ở Đài Phát thanh Sài Gòn, Thẩm Oánh – lúc đó đã biết chuyện, rất đàng hoàng xin lỗi Trần Ngọc về quyết định ngày ấy. Cả thầy trò đều cười vì chuyện cũ đã qua rồi.

Rút tơ lòng ra chiều nhân thế

Ở Sài Gòn, Thẩm Oánh vừa làm hiệu trưởng Trường Âm nhạc – Kịch trường, vừa phụ trách văn nghệ Đài Phát thanh Sài Gòn. Trong Hội nghị Âm nhạc Đông Nam Á, ông là ủy viên thuyết trình tại Manila, Philippines. Nữ diễn viên kịch Thẩm Thúy Hằng vốn tên thật là Nguyễn Thị Minh Phụng vì kính trọng ông đã lấy họ Thẩm của ông để tạo thành nghệ danh Thẩm Thúy Hằng.

Có thể nhận ra những đề tài chính trong ngàn bài hát của Thẩm Oánh. Đó là nhạc hùng ca, nhạc Phật giáo, nhạc tuổi thơ, nhạc tình cảm. Bài “Việt Nam cùng tiến” đã từng được dùng làm nhạc hiệu cho đài Pháp – Á ở Hà Nội và Sài Gòn. Rồi “Nhà Việt Nam”, “Trưng nữ vương”, “Chu Văn An hành khúc”… Bài “Xuân về” dùng ngũ cung (nhưng ngũ cung Trung hoa có biến cung) rất đặc sắc:

“Xuân về rồi muôn đóa hoa đào tươi. Cười trong nắng sáng tươi. Buông mành xuống tơ liễu soi hồ gương…”

Có thể là họ Thẩm của ông có gốc gác Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử chăng? Nhưng với bài hát đầu tay “Khúc yêu đương” thì lại thuần khiết, tự nhiên ngũ cung Việt: đồ – rê – fa- sol – la tuy ở hóa biểu vẫn ghi nốt si giáng như viết theo điệu thức fa trưởng hoặc rê thứ của thất cung, nhưng trong giai điệu không hề xuất hiện một nốt si giáng nào:

“Ngọn trào gió cuốn mang đến nơi đâu. Chiếc thuyền tình xa chìm nổi. Thuyền ơi hãy ghé vào bờ. Để tôi đỡ phải mong chờ. Mượn lái thuyền mà đi kiếm người mơ…”.

Cuộc đời Thẩm Oánh đã được chính ông viết ra ở “Tôi bán đường tơ”: “Tôi bán đường tơ – Ca ca hát hát, điên điên rồ rồ – quên quên nhớ nhớ, mơ mơ hồ hồ – thương vay khóc mướn – khéo vui cợt đùa, khéo se tình hờ – rút tơ lòng ra, chiều nhân thế say ước mơ…”.

(*) Xem Báo Người Lao Động số thứ bảy từ ngày 26-8

Hưởng đủ “Phúc – lộc – thọ – khang – sinh”

Ở lại Sài Gòn tới năm 1991, Thẩm Oánh sang định cư ở Mỹ. Nhưng với cách suy tư của ông, hẳn ông không thể quen nơi đất lạ và lòng vẫn nhớ nhung, vương vấn quê hương. Bởi thế, năm 1993, tại thủ đô Washington D.C, các học sinh của ông đã tổ chức đêm nhạc nhân 60 năm làm nghề cho ông và xuất bản tuyển tập “Nhớ nhung” vinh danh ông. Thẩm Oánh từ trần năm 1996, thọ 80 tuổi, cùng hưởng đủ “Phúc – lộc – thọ – khang – sinh” như Dương Thiệu Tước. Nhưng mang tâm sự “Thân tàn đất lạ chơi vơi – Nhìn lên chỉ thấy bầu trời là quen”.

Nguyễn Thụy Kha

THANH TUYỀN & NGỌC PHÚ : LA LANGUE VIETNAMIENNE


VN-VN : La langue vietnamienne

La langue est une composante majeure de notre héritage culturel. Partons à la rencontre de ce qu’est la langue parlée et écrite par le peuple vietnamien.

1. La langue parlée
Le vietnamien est une langue d’origine autochtone, issue d’une civilisation agraire, située au nord du bassin du fleuve Rouge et du fleuve Ma au Vietnam.
La langue fait partie de la branche Môn-Khmer des langues austro-asiatiques.
Quelque mille ans de domination chinoise sont à l’origine de l’adoption d’un grand nombre de mots transcrits du chinois même si ces mots sont prononcés “à la vietnamienne”, ce qui explique que les deux langues parlées n’ont pas grand chose en commun.

2. La langue écrite
Tout au long de son histoire, l’écriture vietnamienne est passée par quatre grandes étapes avant d’être officialisée comme langue nationale.
2.1 Le vietnamien ancien
Le Vietnam avait t-il sa propre écriture avant de tomber sous le joug chinois ? La question demeure aujourd’hui entière, faute de vestiges et de documents suffisamment convaincants (Dương Quảng Hàm).
Cependant, bon nombre de chercheurs vietnamiens et étrangers affirment que “oui”, il existait bel et bien une écriture vietnamienne avant l’arrivée des Chinois.

Le chercheur Đỗ Văn Xuyền a passé cinquante ans à rassembler et étudier chaque document et fragment de document pour déchiffrer un alphabet de 47 caractères qu’il affirme être le vietnamien ancien.
Cette thèse n’est pas encore reconnue scientifiquement mais elle n’est pas dénuée de tout fondement car comment un royaume tel que le Vietnam en ces temps là aurait pu fonctionner sans une langue écrite ? Une chose est sûre : les Chinois avaient fait le nécessaire pour détruire toute trace de notre civilisation antérieure dans le but de mieux nous assimiler, non ?

2.2 L’écriture chinoise
Sous l’occupation chinoise, les Vietnamiens ont continué de parler leur langue mais ont été forcés d’utiliser le chinois écrit jusqu’en 1919, dernière année des épreuves littéraires nationales à Huế.
L’écriture était chinoise mais lue avec une prononciation typiquement vietnamienne et progressivement, nos ancêtres ont transformé le chinois en une écriture vietnamisée (Nôm).

2.3 L’écriture Nôm
Dérivé de “Nam” (Sud), le Nôm utilise ou modifie des caractères chinois (sinogrammes) pour écrire le vietnamien.
Ses origines exactes sont encore floues mais remontent probablement au 10 ème siècle à la sortie de l’occupation chinoise après la victoire de Ngô Quyền en 938. En 1789, le roi Quang Trung, après avoir défait l’armée Thanh, décide de remplacer l’écriture chinoise par le Nôm.

2.4 Le vietnamien 
(ou Quốc-ngữ = écriture nationale)
Au début du 17 ème siècle, les missionnaires européens évangélisateurs arrivent au Vietnam. A cet effet, l’utilisation d’une langue écrite est primordiale pour comprendre la culture locale et développer les doctrines religieuses. Devant la complexité de l’écriture chinoise et du Nôm pour l’ensemble de la population, un groupe de Jésuites, aidés par des missionnaires du pays se sont consacrés à étudier le vietnamien parlé pour, à partir de l’alphabet latin, transcrire la prononciation des mots en une écriture plus aisée à lire et à écrire dans la vie de tous les jours.

Le missionnaire jésuite français Alexandre de Rhodes est considéré comme le fondateur de l’écriture vietnamienne et son dictionnaire Annamite-portugais-latin (Dictionarium Annamiticum, Lusitanum et Latinum) imprimé à Rome en 1651 est le fondement de notre écriture.

3. Caractéristiques de la langue vietnamienne
3.1 Alphabet latin
Contrairement à tous les autres pays d’Asie, notre langue utilise l’alphabet latin, si simple à écrire et à lire en comparaison avec les sinogrammes. De ce point de vue, nous devons une fière chandelle aux missionnaires européens et locaux qui ont contribué à ce projet.

3.2 Langue monosyllabique
A l’inverse, le vietnamien est monosyllabique comme beaucoup de langues du Sud-Est Asiatique. Cette caractéristiques s’illustre dans tous les aspects de la phonétique, du vocabulaire, de la grammaire…
A côté des mots simples, il existe des mots composés, groupements de deux mots (ou plus) pour ajouter une précision, une nuance ou pour créer un nouveau mot.
Exemples:
– “Yêu” = aimer; “yêu mến” ajoute la notion de sympathy; “yêu thương” celle de compassion;“yêu quí” celle d’estime, …
– “Nhân-quyền” vient de “quyền” = droits et “nhân” = humain. Donc, “Nhân-quyền” = droits de l’Homme.

Les Vietnamiens sont également friands de mots “doublés” faits d’un mot principal et d’un mot phonétiquement proche ou identique pour ajouter une nuance, le rendre plus poétique ou atténuer la “rugosité” phonétique du mot (les monosyllabes pouvant être en général secs et cassants).
Exemples : lành lạnh (= plutôt froid; lạnh = froid), đậm đà (= très chaleureux; đậm = chaleureux, prononcé); xinh xinh (plutôt joli, bien joli); …

3.3 Langue polytonale
Une langue à tons, ou langue tonale, est une langue dans laquelle la prononciation des syllabes d’un mot est soumise à un ton précis, c’est-à-dire à une hauteur relative déterminée ou une mélodie caractéristique. Une modification de ce ton amène alors à prononcer un autre mot et indiquer un autre sens.
Un bon nombre de langues sont polytonales en Afrique, en Amérique, en Europe ou en Asie orientale mais le système est des plus élaborés en Chine, au Vietnam, en Thailande, au Laos et le Vietnam a peut-être la langue qui comporte le plus de tons, six au total :
– plat / ngang : médian (sans accent : ma)
– pointu / sắc : montant (accent aigu : )
– suspendu / huyền : descendant (accent grave : )
– question / hỏi : descendant montant (accent crochet : mả)
– tombant / ngã : laryngal montant (accent tilde : )
– lourd / nặng : descendant bas bref (point souscrit : mạ)
Avec un son “ma“, nous obtenons 6 mots différents, dans l’ordre : fantôme, maman, mais, sépulture, allure, semis.

De ce fait, les six tons, tout comme les 7 notes de musique, font de chaque phrase une véritable mélodie. Cette polytonalité a par contre ses revers : engendrer des fautes d’orthographe, rendre la frappe difficile sur un clavier d’ordinateur ou un smartphone, et aussi constituer une difficulté majeure pour un étranger souhaitant parler le vietnamien.

3.4 Vocabulaire
Il est essentiellement composé de 3 origines :
– chinoise en majorité (1000 ans d’influence y sont pour quelque chose)
– purement vietnamienne
– française (“seulement” 100 ans d’influence) ; par exemple : ô-tô (automobile), bơ (beurre), cặp-táp (cartable), …

3.5 Grammaire
Le vietnamien est une langue isolante, c’est-à-dire que tous les mots (noms, adjectifs, verbes,…) sont invariables quelle que soit leur fonction syntaxique. La grammaire est donc toute simple et il n’y a pas de conjugaison ni de déclinaison des mots, pas de pluriels irréguliers, etc.
La prononciation obéit à des lois unifiées et la langue est donc facile à lire.

Une difficulté réside dans l’utilisation des pronoms personnels.
Lorsque l’on s’adresse à quelqu’un, on utilise un mot reflétant les relations avec cette personne : familiarité, respect, préséance de l’âge, lien de parenté…
La distinction entre tutoiement et vouvoiement ne fonctionne donc pas comme en français.

Prenons un dialogue entre un grand-père et son petit-fils :
petit-fils : tu vas bien ?
grand-père : oui, merci, je vais bien. Et toi ?
Une traduction littérale du vietnamien donnerait :
petit-fils : grand-père va bien ?
grand-père : oui, merci, grand-père va bien. Et petit-fils ?
3.6 Régionalité
Il y a plusieurs accents régionaux distincts, sans que l’on puisse parler de dialectes (seule la prononciation change, le vocabulaire peut être parfois différent mais la grammaire est rigoureusement identique).
Les trois familles principales sont : l’accent du Nord (considéré comme la norme officielle), celui du centre et celui du Sud.
4 Conclusion
Chaque langue est unique mais la nôtre est… la plus unique.
Un peu plus objectivement, le vietnamien est agréable à l’oreille et relativement facile à apprendre, son vocabulaire est riche et nuancé, surtout dans les sphères morale et sentimentale. Ses caractéristiques créent toutes les conditions pour jouer avec les mots et la contrepèterie règne en maître.
Ah, la langue de mon pays!

Yên Hà, novembre 2017

THANH TUYỀN & NGỌC PHÚ : THE VIETNAMESE LANGUAGE


VN-VN : The Vietnamese language

Language is a main component of our cultural heritage.

Let us find out about the language of the Vietnamese people.

  1. Vietnamese spoken language

The Vietnamese language has a local origin, arising from an agricultural civilisation at the region which now is north of the Hồng and Mã rivers in Vietnam.

The Vietnamese language is considered to be one of the languages belonging to the Southern Asian linguistic system in the current South East Asia region, with close relationship to the Mường language and other languages belonging to the Mon-Khmer linguistic group.

The Vietnamese language is heavily influenced by China after more than a thousand years of Chinese domination but words of Chinese origin are spoken in the local manner and do not sound like the original Chinese words.

  1. Vietnamese written language
    Historically, the Vietnamese writing had to go through four stages of development before being officially considered as the national writing.

2.1 Ancient Vietnamese writing

Did our people, prior to the Chinese colonisation, have its own writing to record the Vietnamese words? This is a question that, currently, because of lack of ancient relics and data can not be answered … (Dương Quảng Hàm)

However, many local and overseas researchers all affirm:

“Our country, our people from the times of the Hùng kings, from the Đông Sơn time, many thousand years ago, had once had its own writing.”

For fifty years, the researcher Đỗ Văn Xuyền has silently put a lot of effort in collecting, studying many documents to decipher a group of 47 prime words which he firmly believes are ancient Vietnamese words.
This theory has not been totally accepted but is not without foundation. How could a kingdom be governed without a written language? Nevertheless, during the thousand years of Northern domination, with the strategy of assimilation, the Han people encouraged everybody to learn the Han language and, at the same time, destroyed all books, documents and any vestiges of our ancient writing.

2.2 Han writing

When the Han people developed and governed our country, our people still spoke our Vietnamese language but the Chinese governors encouraged our people to learn Han writing (also called Nho writing)

From then on, Han writing became the official writing in nearly 1000 years, from 1075, when King Lý Nhân Tông organised the first Nho examinations, until 1919, the last year of the Nho examinations in Huế.

Although Nho writing originated from China but our people had a different pronunciation. Much later, our ancestors based on Nho writing progressively developed a separate writing for our country, called Nôm writing.

2.3 Nôm writing

Nôm writing (or Nam writing) used either the original Nho written word or combines two or three Nho written words to record the Nam word.  When was Nôm writing developed and by whom is a question that has not yet been answered. Perhaps, after the 10th century when the Vietnamese people escaped from the Northern domination with Ngô Quyền’s victory in 938. After defeating the Thanh army, king Quang Trung began to rebuild our country and used Nôm writing as the official writing, replacing Han writing.

2.4 Vietnamese writing

National writing is the writing officially used by everybody in the country.

At the beginning of the 17th century, western missionaries came to Vietnam and began to introduce Christianity to our people. To enable efficient religious propagation, the use of writing is a very important factor in understanding the customs of the indigenous people and the distribution of ideas, religious principles and books to the disciples.  At that time, the priests considered that Nho and Nôm writings were too complex to learn for the majority of the common people. Consequently, the Jesuit priests in conjunction with the early Vietnamese preachers had researched and used the Latin alphabet to record phonetically the Vietnamese language for their daily communications.
Alexander of Rhodes is considered as the architect in the development of the Vietnamese national language. The Annamese-Portuguese-Latin dictionary published in Rome in 1651 is the foundation of our national language.

  1. Characteristics of the Vietnamese language
    • 1 Latin words

Differently to other Asian nations, Vietnamese writing uses the Latin alphabet and is easier to write and learn compared to Nho writing and, in this respect, the Western missionaries had provided a great benefit to our people.

  • 2 Monosyllabic

On the other hand, Vietnamese language has a common South East Asian characteristic as it is monosyllabic, which means each word is pronounced separately and is represented by a single written syllable. This characteristic can be seen clearly in the Vietnamese language pronunciation, vocabulary and grammar.

Apart from single syllable words there are also combined words which result from the grouping of two or three words with two or three meanings or for clearer definition.

For example:
– The single word “yêu” (love) means a general feeling; “yêu mến” (love-sympathy), “yêu thương” (affection), “yêu quí” (cherish) define more clearly the different aspects of love with respect to one’s lover, family or friend…
– “nhân-quyền” (human right) is a combined word resulting from the grouping of two meanings, “right” and “people”.  This is a characteristic of Han language.

In addition, the Vietnamese like to use reduplicative words which combine one word which carries the main meaning and another word with the same or similar sound or rhyme in order to make the word less dry, more polished, more literary or to change its character.

For example: lành lạnh (lạnh = cold; lành lạnh = a bit cold), đậm đà (đậm = dense, pronounced; “đà” is just to make the word more poetic), xinh xinh (prettyish)…

  • 3 Multi tones

“Tone” denotes the vocal pitch in a spoken word and has the effect of changing the meaning of the word.

There are many languages in Africa, America, Europe or East Asia which have tonality. However, in China, Vietnam, Thailand, Laos, language tonality is most complex and the Vietnamese language has the most tones.

The Vietnamese language has 6 tones:

  • – Neutral (no accent: a)
  • – High (accent from the right: á)
  • – Descending (accent from the left: à)
  • – Up and down (? accent: ả)
  • – Quiver ( ~ accent: ã)
  • – Low (full stop accent: ạ)

With these 6 tones, with a single basic sound one can have 6 words with different meanings.  For example, with the sound “ma” one can have 6 different words: ma (ghost), má (mother), mà (but), mả (grave), mã (horse), mạ (seed or plated).

Six tones are like seven musical notes and make every sentence sound like a musical piece which is smooth to the ears. However, this makes it rather difficult for foreigners to pronounce the words properly.

In addition, these tones may cause a lot of spelling errors, and writing with accents on the computer or mobile phone is a problem for a number of overseas Vietnamese.

  • 4 Vocabulary

Our vocabulary consists of words which are purely of Vietnamese origin, words with Chinese origin (which accounts for most words due to 1000 years domination) or French origin (due to 100 years colonisation).  For example, words with French origin like: ô-tô (automobile in French), bơ (= butter, beurre in French), cặp-táp (= school bag, cartable in French).

  • 5 Grammar

In general, the Vietnamese language does not have a complex grammatical system like languages with Latin origin (French, Italian…): no words with feminine or masculine gender; verbs do not change form depending on the subject or time of action; the Vietnamese pronunciation has a unified ruling system (unlike English, where for example the letter “i” can be pronounced like “i” in one instance or “e” in another instance), each word (subject, verb, adjective..) do not change form depending on plurality or circumstances.

Perhaps a subtle thing for any student to master is the way of addressing people, depending on the relationship or age difference between the two subjects.  For example, between father (bố) and child (con), the father will call himself “bố” and call the child “con”, the child will call himself/herself “con” and call the father “bố”; the younger person will call the older person “anh/chị”(elder brother/elder sister or older person in the same range of age), “cô/chú/bác” (aunt/uncle or person of parents’ generation), ”ông/bà” (grandpa, grandma or person of grand parents’ generation), “cụ/cụ”(great grandpa/great grandma)…

  • 6 Regional effect

One more difficulty is that people in the North, Centre and South regions (not to mention each locality in each region) have different pronunciations and some different vocabulary.

In general, the Northern accent is considered to be the most proper pronunciation and the writing has fewer spelling errors (perhaps because the Vietnamese people originated from the North?).

For example, in music, the singers have to try to sing with the Northern accent.

  1. Conclusion

Each language in the world is unique but our language is most… unique.

More objectively, our Vietnamese language is easy to learn, to write and sounds smooth to the ears, melodious like a musical piece. The vocabulary is rich and displays many different aspects, especially, in the spiritual and emotional areas.

The above characteristics give rise to many ways of word play, based on sound, meaning, grammar and the method of inverting the sounds of the words in a group of words (a kind of spoonerism) is, worldwide, a unique way of playing with words.
I love my country’s language.

Translated by Phan Thiện Khải

from VN-VN : Ngôn-ngữ người Việt

Posted by Thanh Tuyền and Ngọc Phú at 8:00 AM

http://phu-tran.blogspot.fr/2017/11/vn-vn-vietnamese-language.html

THANH TUYỀN & NGỌC PHÚ : Ngôn-ngữ người Việt


VN-VN : Ngôn-ngữ người Việt

Truyện Kiều còn, tiếng ta còn,
Tiếng ta còn, nước ta còn.
Có gì mà lo, có gì mà sợ, còn điều chi nữa mà ngờ
?
(Phạm Quỳnh)

Thân mời các bạn trở về với tiếng nói và chữ viết của người Việt.

  1. Tiếng nói người Việt (ngôn)

Tiếng Việt là ngôn-ngữ có nguồn-gốc bản-địa, xuất thân từ nền văn-minh nông-nghiệp, tại nơi mà ngày nay là khu vực phía bắc lưu vực sông Hồng và sông Mã của Việt-Nam.
Tiếng Việt được coi là một trong số các ngôn-ngữ thuộc hệ ngôn-ngữ Nam Á ở khu vực Đông Nam Á hiện nay, có quan hệ gần gũi với tiếng Mường và các thứ tiếng thuộc nhóm ngôn-ngữ Môn-Khmer.
Tiếng Việt đã chịu rất nhiều ảnh-hưởng Trung Hoa sau hơn một ngàn năm đô-hộ nhưng những từ gốc Hán vẫn được phát-âm theo lối bản-xứ nên tiếng Việt nghe vẫn khác hẳn tiếng Tàu.

  1. Chữ viết người Việt (văn tự)

Trên giòng sông lịch-sử, chữ Việt đã phải trải qua bốn giai-đoạn trước khi được chính-thức hoá là ngôn-ngữ quốc-gia:

2.1 Chữ Việt cổ
Dân tộc ta trước khi nội thuộc nước Tàu, có thứ chữ riêng để viết tiếng Nam hay không? Đó là một vấn đề hiện nay vì không có di tích và thiếu tài liệu, không thể giải quyết được… (Dương Quảng Hàm)

Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều khẳng định:

“Đất nước ta, người Việt chúng ta, từ mãi thời Vua Hùng, từ tận thời Đông Sơn mấy ngàn năm trước, đã từng có chữ viết riêng.”

Trong suốt năm mươi năm, nhà nghiên-cứu Đỗ Văn Xuyền đã lặng lẽ bỏ bao công sức đi thu-thập, nghiên-cứu từng tài-liệu để giải-mã một bộ chữ gồm 47 chữ cái mà ông tin chắc là chữ Việt cổ.

Thuyết này chưa được công-nhận hoàn toàn nhưng không phải là vô-lý. Cứ thử hỏi làm sao có thể cai quản một vương-quốc như Việt-Nam thuở ấy nếu không có chữ viết?
Dù sao đi nữa, suốt 1000 năm Bắc thuộc, với chính-sách “đồng-hóa”, người Hán khuyến khích mọi người học chữ Hán, đồng thời hủy diệt đi tất cả sách vở, tài-liệu và tất cả những vết tích chữ nghĩa ta rồi.

2.2 Chữ Hán

Đến lúc Hán tộc phát-triển và cai-trị nước ta, dân ta vẫn nói tiếng Việt của mình nhưng chữ viết thì các quan Thái Thú Trung Hoa khuyến-khích dân ta học chữ Hán (còn gọi là chữ Nho).
Từ đó, chữ Hán đã trở thành chữ viết chính-thức trong gần 1000 năm, kể từ năm 1075 sau khi vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi Nho học đầu tiên, cho đến năm 1919 là năm mở khoa thi cuối cùng ở Huế.

Mặc dù chữ Nho viết từ chữ của người Trung Hoa, nhưng dân ta có cách đọc phát-âm riêng biệt. Mãi về sau, tổ tiên ta, dần dần, dựa trên căn bản chữ Nho mà biến-chế ra một loại văn-tự riêng biệt của nước Nam ta, được gọi là chữ Nôm.

2.3 Chữ Nôm

Chữ Nôm (= Nam đọc trại) là thứ chữ hoặc dùng nguyên-hình chữ nho, hoặc lấy hai ba chữ nho ghép lại để viết tiếng Nam. Chữ nôm đặt ra tự bao giờ và do ai đặt ra là một vấn-đề chưa thể giải-quyết được. Có lẽ là khoảng sau thế-kỷ 10 khi người Việt thoát khỏi nghìn năm Bắc-thuộc với chiến-thắng của Ngô Quyền vào năm 938 và sau khi phá tan quân Thanh, vua Quang Trung bắt đầu xây-dựng đất nước và cho dùng ngay chữ Nôm làm thứ chữ chính-thức thay cho chữ Hán.

2.4 Chữ quốc-ngữ

Văn-tự là  chữ viết. Quốc-ngữ là loại chữ viết được dùng chung cho một nước.

Vào đầu thế kỷ 17, các nhà truyền-giáo Tây-phương đến Việt-Nam, và bắt đầu giới-thiệu đạo Thiên-Chúa cho dân ta. Để truyền-đạo hữu-hiệu, việc dùng chữ viết là một yếu-tố rất quan-trọng, trong việc tìm-hiểu phong-tục tập-quán của dân bản-xứ, cũng như việc phổ-biến tư-tưởng, giáo-lý kinh sách cho người học đạo.
Lúc bấy giờ, các giáo-sĩ nhận thấy chữ Nho và chữ Nôm quá phức tạp để học, đối với đại chúng bình dân. Cho nên, một nhóm tu-sĩ dòng Tên (Jésuites), cùng với các thầy giảng người Việt-Nam đầu tiên, đã ra công nghiên-cứu, áp-dụng các mẫu-tự Latinh, mà ghi-chú cách phát âm tiếng Việt, để dùng trong cách giao-dịch hàng ngày.
Cố Đắc Lộ Alexandre De Rhodes đã được xem là người đại-diện trong việc sáng chế ra chữ quốc-ngữ Việt-Nam. Quyển tự-điển An Nam, Bồ Đào Nha, Latinh (Dictionarium Annamiticum, Lusitanum et Latinum), in tại Roma năm 1651, là nền-tảng cho chữ Quốc-ngữ ta.

  1. Đặc-điểm ngôn-ngữ Việt-Nam

3.1 Chữ La-Tinh
Khác hẳn với các nước châu Á, chữ Việt-Nam được viết bằng mẫu-tự La-tinh dễ viết, dễ học so với chữ Nho và trên phương-diện này, các giáo-sĩ Tây-phương đã có công lớn với dân ta.

3.2 Đơn âm
Ngược lại, tiếng Việt lại có một đặc-điểm Đông-Nam-Á là đơn âm (hay đơn lập), nghĩa là mỗi một tiếng (âm-tiết) được phát-âm tách rời nhau và được thể hiện bằng một chữ viết. Đặc điểm này thể hiện rõ rệt ở tất cả các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.
Bên cạnh những từ đơn (một chữ), còn có những từ ghép do sự kết-hợp của hai, ba chữ, gom vào hai ba nghĩa để mô-tả rõ hơn hay tạo một chữ mới.
Ví dụ:
– Từ-đơn “Yêu” là một tình-cảm ; “yêu mến”, “yêu thương”, “yêu mến”, “yêu quí”, nói rõ hơn những sắc-thái của tình yêu tuỳ theo trường hợp, với người yêu, với gia-đình, với bạn bè, …
– “Nhân-quyền” là một từ ghép bằng hai nghĩa “quyền” và “nhân= người”. Đây là một đặc-điểm của chữ Hán.

Ngoài ra, Việt-Nam ta thích dùng những từ láy là những từ ghép lập lại một chữ (nghĩa chính) với một chữ đồng âm hay đồng vần cho đỡ khô khan, để tăng thêm vẻ bóng bảy, văn chương hay để thay đổi sắc thái của chữ.
Ví dụ : lành lạnh (hơi lạnh), đậm đà (rất đậm), xinh xinh, …

3.3 Đa thanh
Thanh-điệu (tone / ton) là một âm-độ trầm bổng của giọng nói trong một âm-tiết, có tác dụng làm thay đổi ý nghĩa của các đơn-vị ngôn-ngữ.
Có những ngôn-ngữ có thanh-điệu ở Phi-Châu, Bắc-Mỹ, Nam-Mỹ, Âu-Châu hay Đông-Á. Nhưng đối với Trung-Quốc, Việt-Nam, Thái-Lan, Lào, hệ-thống thanh-điệu phức tạp hơn hết và có lẽ tiếng Việt là một thứ tiếng có nhiều thanh-điệu nhất.

Tiếng Việt có 6 thanh điệu:

– ngang (không dấu: a),

– sắc (nghiêng phải: á),

– huyền (nghiêng trái: à),

– hỏi (dấu hỏi: ả),

– ngã (dấu ngã: ã)

– nặng (dấu chấm: ạ).
Với 6 thanh-điệu này, chỉ với một âm tiết mà ta có thể có đến 6 chữ khác nghĩa.

Ví dụ: với âm-tiết “ma”, ta có được 6 chữ khác nhau : ma ; má ; mà ; mả ; mã ; mạ.
Với sáu thanh điệu như bảy nốt nhạc, tiếng Việt chúng ta lên xuống, trầm bổng, mỗi câu nói là một khúc nhạc rất êm tai nhưng ngược lại khiến người ngoại-quốc phải gặp chút khó khăn để phát âm cho đúng.
Ngoài ra, những thanh-điệu này cũng gây nên không ít lỗi chính tả. Viết bỏ dấu trên máy vi-tính hay máy điện-thoại cũng là cả một vấn-đề đối với một số người Việt hải-ngoại.

3.4 Từ-vựng
Ngữ vựng chúng ta được tập-họp bởi những từ thuần-Việt, những từ xuất xứ từ chữ Hán (đa số, sau 1000 năm đô-hộ) hay từ tiếng Pháp (suốt hơn trăm năm đô-hộ).
Ví dụ từ tiếng Pháp : ô-tô (automobile), bơ (beurre), cặp-táp (cartable), …
3.5 Ngữ-pháp
Nói chung, tiếng Việt không có một hệ-thống văn-phạm phức tạp như tiếng La-Tinh (Pháp, Ý, Tây Ban Nha,…) : không có giống đực/giống cái, động-từ không có dạng khác nhau tuỳ theo chủ-từ hay thời-gian, cách phát-âm từ Việt hoàn toàn thống nhất theo qui-luật (không như tiếng Anh, chữ “I” lúc đọc “ai, lúc đọc “I”…), mỗi chữ (danh từ, động từ, tĩnh từ, …) không thay đổi theo số ít, số nhiều, hoàn cảnh, …

Một điều khó khăn nữa cho người học là cách xưng hộ tuỳ thuộc liên-hệ giữa hai người.
Ví dụ: Giữa bố-con, bố xưng “bố” và gọi “con”, con xưng “con” và gọi “bố”, người trẻ gọi người hơn tuổi mình là anh/chị, cô/chú/bác, ông/bà, cụ/cụ, …
3.6 Địa-phương tính
Thêm vào đó, người miền Bắc, người miền Trung, người miền Nam (không kể đến mỗi vùng trong mỗi miền) có lối phát-âm và một số từ-vựng khác nhau.
Nói chung, giọng Bắc được xem như phát-âm chuẩn nhất và viết ít lỗi chính tả hơn (có lẽ vì dân-tộc Việt xuất thân từ miền Bắc?). Ví dụ: trong ngành tân-nhạc, các ca-sĩ đều phải cố gắng hát giọng Bắc.

  1. Kết-luận

Mỗi ngôn-ngữ trên thế-giới là duy nhất nhưng ngôn-ngữ nước mình vẫn duy nhất… nhất.
Khách quan hơn chút, tiếng Việt ta dễ học, dễ viết, nghe rất êm tai, trầm bổng như một khúc nhạc. Từ vựng rất phong phú, biểu-lộ rất nhiều sắc-thái khác nhau, nhất là trong những lãnh-vực tinh-thần và tình cảm.
Những đặc-tính nói trên đem lại nhiều phương-cách chơi chữ dựa trên ngữ-âm, ngữ nghĩa, ngữ phạm và nói lái là cách chơi chữ có một không hai trên thế-giới.
Tôi yêu tiếng nước tôi cũng phải.

Yên Hà, tháng 11, 2017

Tài-liệu nguồn :
– Wikipedia
– Dương Quảng Hàm, Việt-Nam Văn-Học Sử-yếu
– Nguyễn Hữu Vinh, Chữ Nôm và tinh-thần dân-tộc

Posted by Thanh Tuyền and Ngọc Phú at 8:16 AM

http://phu-tran.blogspot.fr/2017/11/vn-vn-ngon-ngu-nguoi-viet.html

This blog is focused on Trân Quang Hai