Trần Quốc Bảo: BUỔI RA MẮT SÁCH CỦA GIÁO SƯ – TIẾN SĨ TRẦN QUANG HẢI THÀNH CÔNG VÀ ẤM CÚNG DÙ TRỜI MƯA BÃO MÙNG 5 TẾT


BUỔI RA MẮT SÁCH CỦA GIÁO SƯ – TIẾN SĨ TRẦN QUANG HẢI THÀNH CÔNG VÀ ẤM CÚNG DÙ TRỜI MƯA BÃO MÙNG 5 TẾT (Trần Quốc Bảo ghi nhanh)
Sáng mùng 5 Tết (10/2/2019), nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức một buổi ra mắt sách nói về công trình 50 năm nghiên cứu Nhạc Dân Tộc Việt của Giáo sư – Tiến sĩ Trần Quang Hải tại trường California State University Long Beach. Yêu quý tài năng người nhạc sĩ này, nhiều người nhất quyết đội mưa mà đi, tuy nhiên vì tổ chức trong trường đại học, một nơi còn khá xa lạ với một số khách, nên họ đã bị lạc và phải lái xa vòng tới vòng lui để tìm địa điểm. Chương trình ghi là 11g trưa khai mạc nhưng có nhiều người, trong đó có người viết, khi tìm ra khán phòng là đã hơn 12 giờ. Khi đến cửa, còn thấy Anh Trần Mạnh Chi tay cầm điện thoại chỉ đường liên tục cho các thân hữu không tìm được lối vào.
Ngoại trừ những trở ngại trên, chương trình ra mắt sách được đánh giá thành công với sư hiện diện của nhiều ca nhạc sĩ và khách mời tên tuổi, đồng thời nội dung chương trình rất phong phú với phần triển lãm hội hõa, trình diễn Áo Dài Việt Nam theo dòng thời gian, và đặc biệt phần được khán giả hoan nghênh nhiều nhất, đó là sự xuất hiện trên sân khấu của nhạc sĩ Trần Quang Hải, sau đó Ông đã biểu diễn kỹ thuật “Đồng Song Thanh” và “Đàn Môi”.
Người viết rất tiếc không thể ở trọn chương trình vì người thân đang đau ốm ở nhà, chỉ dự được 2 tiếng đồng hồ, tuy nhiên vì lòng quý mến nhạc sĩ Trần Quang Hải, nhà văn Việt Hải, anh Trần Mạnh Chi, MC ThụyVy nên phải bỏ hết mọi chuyện mà đến. Cầu chúc Anh Trần Quang Hải có một chuyến đi Hoa Kỳ thật thành công và như ý và mong sao Anh sớm vượt qua cơn bịnh để còn tiếp tục cống hiến cho nghệ thuật âm nhạc những ngày tới.
Trần Quốc Bảo (10/2/2019)

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, bao gồm Tran Quang Hai, mọi người đang cười, mọi người đang ngồi và văn bản
Trong hình ảnh có thể có: 4 người, bao gồm Tran Quang Hai, mọi người đang cười, mọi người đang đứng và bộ vét
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười, ngoài trời
Trong hình ảnh có thể có: Tran Quang Hai, văn bản
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, thực vật, cây, hoa, ngoài trời và thiên nhiên
+12
Bình luận
  • Gina Nga Nguyen Cam on em TQB, cung may sau khi Bao di lac 1 hr, em da vao duoc va cho hinh ky niem rat quy.

 

  •  

    Gina Nga NguyenGina Nga Nguyen đã trả lời

      2 phản hồi

  • ThuyVy ThuyVy cảm ơn MC Tran Quoc Bao và những tình thân dành cho Nhân Văn Nghệ Thuật – Tiếng Thời Gian, và ThụyVy.
    Rất tiếc thấy Bảo mà đã khg có đc vài phút chuyện trò…
  •  

    ThuyVy ThuyVyThuyVy ThuyVy đã trả lời

      3 phản hồi

  • VietHai Tran Cám ơn anh TQB rất nhiều… Họp mặt nhau vui quá hihi… Mong nhiều lần gặp nhau… VHLA.

 

BUỔI ĂN HỘI NGỘ NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI MÙNG 2 TẾT (6/2/2019) TẠI TƯ GIA NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG
Chiều mùng 2 Tết Kỷ Hợi (6/2/2019), sau khi đón nhạc sĩ Trần Quang Hải từ Pháp đến phi trường Los Angeles, tuy tác giả nhạc phẩm Tân Hôn Dạ Khúc còn rất mệt mỏi sau một chuyến bay thật dài, nhưng khi gặp lại những tình thân như nhà văn Việt Hải, anh Trần Mạnh Chi, MC Thụy Vy, Trần Quốc Bảo trong buổi ăn tối tại tư gia nhà văn Nguyễn Quang (phu quân cố nhà văn Minh Đức Hoài Trinh), nhạc sĩ Trần Quang Hải rất vui vẻ ngồi kể lại hành trình chuyến đi cũng như nhắc nhớ những kỷ niệm mà Anh và các thân hữu đã sẻ chia với nhau.

Trong hình ảnh có thể có: 5 người, bao gồm Tran Quang Hai, mọi người đang cười, mọi người đang ngồi và trong nhà
Trong hình ảnh có thể có: 4 người, bao gồm Tran Quang Hai và Thiếu Khanh, mọi người đang cười, mọi người đang đứng và trong nhà

 

 

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, bao gồm Tran Quang Hai, mọi người đang cười
Viết bình luận…

Gặp nhau cũng nhiều. Nói chuyện cũng nhiều. Nhiều đến nỗi không giấy bút nào viết cho hết. Chỉ xin đăng tấm hình này để thay cho lời nói lên tất cả. Cám ơn chi Liên về ăn tết từ Thụy Điển. With all the love, the friendship we have been building over the year, only the picture can say it all. Thank you all being part of our lives.

Trong hình ảnh có thể có: 8 người, mọi người đang cười, mọi người đang ngồi, mọi người đang ăn, món ăn và trong nhà
Bình luận
  • Kimlien Nguyenthi Xin cám ơn Tùng Duy& Ken và những người thương yêu . Ấm lòng người từ xứ băng giá Thụy Điển , lặn lội về đây với mọi người để được tràn ngập tiếng cười và hạnh phúc . Love everyone ❤️💝♥️💖🤗
Viết bình luận…

PHAN ANH DŨNG biên soạn:NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI RA MẮT SÁCH Ở NAM CALIFORNIA – Tháng 2, 2019


NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI RA MẮT SÁCH Ở NAM CALIFORNIA – Tháng 2, 2019 PDF Print E-mail

              Đại Học Cal State Long Beach, California
vinh danh GS Trần Quang Hải

                               NGUỒN https://vietbao.com/ – 21/02/2019
                                        Trịnh Thanh Thủy thực hiện

Từ lúc nghe tin Trần Quang Hải, giáo sư tiến sĩ ngành Dân Tộc Nhạc Học (Ethnomusicology) mắc một bệnh nan y là ung thư máu, các anh chị em trong nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian” rất xúc động và có ý định làm một cái gì đó cho ông. Ngày 10 tháng 2, 2019, hai chi nhánh Bắc và Nam Cali của nhóm đã đồng phối hợp thực hiện một buổi chiều văn hoá nghệ thuật và ra mắt sách cho Trần Quang Hải.


GS Quyên Di trao bằng tưởng lục cho GS Trần Quang Hải

Bà Frances Thế Thủy trao bằng cho GS TQHải

Cuốn sách “Trần Quang Hải: 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt” là một tổng hợp các công trình nghiên cứu về âm nhạc của ông đã được góp mặt cùng kho tàng tài liệu âm nhạc VN. GS Hải đã từ Paris bay qua để dự buổi hội ngộ và ra mắt sách hy hữu này. Ngoài một số sinh viên của hai trường đại học Cal State và Fullerton, khoảng gần 200 thân hữu và đồng hương người Việt nghe tin đã về tham dự.

Nguyên GS TQHải là chồng của nữ danh ca Bạch Yến, con trai của cố GS Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu văn hoá và âm nhạc cổ truyền rất nổi tiếng ở VN. GS Hải lấy bằng Tiến sĩ âm nhạc dân tộc người Việt tại Pháp, làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con người ở Pháp (Musée de l’Homme). Ông đã có những nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực Dân tộc âm nhạc học như: hát đồng song thanh, phát triển gõ muỗng. Ông được tôn xưng danh hiệu “vua muỗng” và Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Ông là người trình diễn đàn môi Mông (Hmong) tại nhiều quốc gia nhất thế giới.” Ông cũng là thành viên của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế. Ông và danh ca Bạch Yến đã thực hiện hơn 3000 buổi giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở 70 nước trên thế giới…(Theo Wiki)


 Ban đại diện nhóm NVNT&TTG


Ban hợp ca

Nhân dịp buổi ra mắt sách được tổ chức tại Đại học Cal State Long Beach, CA, USA, bà Teri Yamada, khoa trưởng Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ gốc Á đã vinh danh GS TS TQHải.

Thật tiếc, bà Teri Yamada đã không được gặp mặt giáo sư vì giờ cuối bà phải bay qua Ấn Độ dự một buổi lễ hội về văn hoá, nên bà viết một lá thư rất chân tình gởi ông. Bà cáo lỗi và ủy nhiệm GS Quyên Di thay bà chào mừng, vinh danh và trao bằng tưởng lục cho ông.

GS Quyên Di dạy ở đây và cũng là thành viên trong khoa nghiên cứu này cho biết thêm, “Đây là một vinh dự cho Cộng đồng VN vì hiếm khi Khoa trưởng Yamada viết một lá thư trân trọng như thế này. Tôi đã từng dự nhiều buổi vinh danh nhưng chưa bao giờ tôi thấy bà viết một lá thư như thế. Trước đó bà đã đọc tất cả các tài liệu viết về GS, cả những tài liệu của GS viết, nghiên cứu rồi đúc kết lại thành bức thư nói trên và trân trọng trao bằng tưởng lục cho GS. Bà thay mặt Đại học Cal State Long Beach vinh danh GS Hải đã có công phi thường đóng góp vào kho tàng âm nhạc VN qua các công trình nghiên cứu âm nhạc, văn hoá, nghệ thuật dân tộc qua thời gian, qua các thế hệ.

Hàng đứng: Nhóm NVNT&TTG, Hàng ngồi: GS Tahara, GS TQHải, TT Kiều Chinh, NV Nguyễn Quang, NV Quyên Di


Quan Khách

Ngoài ra bà Frances Thế Thủy, Ủy viên giáo dục học khu Westminster cũng lên trao bằng tưởng lục cho ông. Hiện diện trong buổi lễ có tài tử Kiều Chinh, GS Tahara Hiroki, BS Steven Le, nhà văn Nguyễn Quang (phu quân NV Minh Đức Hoài Trinh), NS Lê Văn Khoa và phu nhân, NS Võ Tá Hân và phu nhân, BS Phạm Gia Cổn và phu nhân, bà quả phụ Lê Trọng Nguyễn, Nhạc Trưởng Bùi Quỳnh Giao..v..v…

Sự có mặt của GS người Nhật Tahara Hiroki hôm nay đã khiến tôi rất ngạc nhiên. Ông là người Nhật 100% mà nói và viết tiếng Việt rất sành sõi, thích ăn nước mắm, thích nhạc Việt Bolero. Tôi hỏi ông duyên cớ nào ông lại có mặt ở đây hôm nay. Ông nói ông hâm mộ tài năng của GS TQ Hải mà bay qua Mỹ để được gặp GS Hải. GS Hải rất nổi tiếng ở bên Nhật vì GS đã có nhiều đề tài nghiên cứu về âm nhạc và làm việc chung với các nhà nghiên cứu âm nhạc của Nhật Bản về nhạc cung đình Huế và nhạc dân tộc VN nói chung. GS Tahara cũng nghe tiếng của cố GS Trần Văn Khê là cha của GS Hải nhưng tiếc quá không được gặp cụ vì cụ đã qua đời.

Tôi hỏi thêm là GS Tahara thích nhạc Bolero vậy GS có thấy nhạc cổ truyền VN có gần gụi với nhạc Bolero VN không? Ông bảo ông thấy nhạc Bolero VN gần giống với nhạc Tanka của Nhật hơn, nhưng khác ở chỗ Tanka không có tố chất ngọt ngào còn Bolero phải hát ngọt ngào, mượt mà, đầy cảm xúc mới được.

         Ông bà GS Lê Văn Khoa, Nguyễn Hùng và NV Việt Hải (ngồi)


Trình diễn thời trang áo dài Bà Nhu

GS Trần Mạnh Chi là trưởng nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng thời gian”, đồng thời là Trưởng ban tổ chức đã lên giới thiệu các thành viên Bắc và Nam Cali của nhóm, có nhà văn Trần Việt Hải là cố vấn. GS Quyên Di và Thụy Vy là 2 MC chính của buổi vinh danh.

GS TQHải được mời lên và ông xuất hiện với một vóc dáng rất khoẻ mạnh, giọng nói thì hùng hồn, sang sảng. Ông cám ơn BTC đã thực hiện buổi rms này và nói về quá trình hoạt động của ông ở hải ngoại.

Ông qua Pháp năm 1961 tới nay đã 58 năm. Thời gian đầu để học nhạc Tây Phương và nghiên cứu về nhạc học. Sau đó ông đi tìm hiểu thêm và khám phá ra âm nhạc VN không chỉ đơn thuần có Hò, Xang, Xê, Cống, đàn cò, đàn tỳ bà, độc huyền hay hát chèo, cải lương. Nhạc VN còn có nhạc của 53 sắc tộc khác của những dân tộc ở cao nguyên Trung phần như Ba na, Gia Rai, Êđê, Xê đăng… Ở phía Bắc có người Thái, Tày, Thổ, Nùng, Dao…. cũng có nhạc. Nghĩa là nhạc VN có thiên hình vạn trạng do sự phối hợp của nhiều loại. Trong số các nhạc cụ được sáng chế ngày nay có 3 cây đàn là niềm tự hào cho cái đẹp của VN. Đó là đàn T’rưng của người sắc tộc Gia Rai, đàn K’ni 2 giây và cây đàn đá. Ông đã đi khắp nơi trên thế giới để giới thiệu những cái hay cái đẹp của âm nhạc VN, như nhạc Cung Đình Huế, nhạc của đồng bào thiểu số, các loại Hát Tuồng, hát Chèo, Ca Trù, Ca Huế, Đàn Ca Tài Tử Nam Bộ. Ông giới thiệu cho toàn cầu biết sự phong phú đa dạng của nhạc VN.


Triển lãm tranh

Ông đã giới thiệu và trình diễn lối hát Đồng Song Thanh và biểu diễn Đàn Môi khiến các cử toạ kinh ngạc và vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt. Trong quá trình nghiên cứu ông khám phá ra loại hát Đồng Song Thanh của người Mông Cổ vùng Tây Bá Lợi Á tức là hát 2 giọng cùng một lúc, có thể đổi từ giọng chính thành giọng cao. Để cải tiến, ông đã tạo ra phương pháp hát Đồng Song Thanh mới. Hơn thế nữa, có thể dùng phương pháp hát này để trị bệnh cho những người bị đứt thanh quản có thể nói được mà không phải phẫu thuật. Lúc nghiên cứu ông đã chấp nhận để người ta chiếu quang tuyến X trong một thời gian dài để thí nghiệm, nhằm biết được hoạt động của các thớ thịt ở cổ họng khi không dùng đến dây thanh quản mà vẫn tạo ra được tiếng nói. Các bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo ông có thể bị ung thư cổ họng nhưng ông đã sẵn sàng ký vào biên bản cam kết, biến mình thành “con vật” thí nghiệm cho những nghiên cứu của mình bất chấp cả tính mạng.

Để buổi ra mắt sách đầy tính văn hoá nghệ thuật thêm đặc sắc, BTC đã trình diễn một màn “Thời trang với áo dài qua thời gian” với sự góp mặt của các anh chị em trong nhóm cùng sự tham gia của Hội Ái Hữu Sinh Viên VN Fullerton. Những chiếc áo dài từ cổ truyền, Lemur Cát Tường, Bà Nhu, Bà Ba, cho tới cách tân qua các thời đại đã làm khán giả thích thú và kinh ngạc. Những hoạ phẩm nghệ thuật cũng được triển lãm do các hoạ sĩ đóng góp như: Lưu Anh Tuấn, Lê Thúy Vinh, Hồ Thành Đức, Bé Ký, Hoàng Vinh, Đàm Quốc Cường, Lương Nguyễn, Nguyễn Thái Bình… Các màn hợp ca, song ca mang đầy tính dân tộc do các nhạc sĩ, ca sĩ đồng trình bày đã góp phần phong phú cho buổi rms.

Tôi được tiếp xúc với GS Lê Văn Khoa và xin ông chia sẻ cảm nghĩ về âm nhạc cổ truyền khi ông là một nhạc trưởng chuyên về âm nhạc Tây Phương. Ông nói “Âm nhạc là ngôn ngữ không lời khi con người không hiểu nhau thì âm nhạc giúp để hiểu nhau. Cho nên dù là nhạc cổ truyền hay tây phương nó cũng vẫn là âm nhạc. Từ lâu người Việt cổ súy và bảo vệ tối đa nhạc truyền thống, không muốn nó lai nhạc Tây Phương. Người theo nhạc Tây phương thì cho rằng phương thức làm việc của Tây phương có hệ thống ngon lành hơn, nên coi thường nhạc cổ. Như vậy thì thiệt hại quá, tôi dung hoà cả hai bằng cách dùng dân ca VN viết cho nhạc cổ truyền của người Ukraine và họ rất ngạc nhiên. Họ nói lần đầu tiên trên thế giới mới có người làm như vậy. Tôi dùng đàn tranh, đàn t’rưng bằng tre cho hoà tấu với dàn nhạc Tây Phương mới trình diễn ở Houston tháng 11/2018 khiến ai cũng ngạc nhiên hết. Họ thấy thích thú vì cả hai đều hoà điệu. Mục đích của tôi là làm sao phổ cập để cho cả 2 hoà nhịp.”

Trịnh Thanh Thủy thực hiện
Orange County, CA

                               Tham khảo thêm

                                     Bài viết của BĂNG HUYỀN – Viễn Đông Daily News

  Ghi nhanh của MC TRẦN QUỐC BẢO

Bộ hình của THÚY VÂN

 

  GS TS Trần Quang Hải ký tặng sách

HS Lưu Anh Tuấn, Nguyễn Thế Thủy, HS Lê Thúy Vinh

GS Tahara, MC Thúy Vi, Hậu Nguyễn

BS Vi Sơn

Thúy Anh & Nguyên Vũ

Trần Quang Hải, Kiều Chinh, Ngọc Hà, Lê Văn Khoa

  NS Võ Tá Hân

 

 

3 Tưởng lục được trân trọng trao cho Dr Trần Quang Hải

 

 

Ngày 2 tháng 10, năm 2018
Lời Nói Đầu

Ban Biên Tập chúng tôi thật hân hạnh thay mặt cho liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đứng ra thực hiện Tuyển Tập Trần Quang Hải mang tên là « Trần Quang Hải: 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt »; để vinh danh và tri ân người nhạc sĩ đã có những đóng góp quý giá vào kho tàng dân tộc nhạc thế giới và đã đào tạo nhiều môn đệ tiếp nối bước chân ông ở nhiều đại học trên thế giới.
Nhạc sĩ kiêm giáo sư tiến sĩ Trần Quang Hải đã đưa chi nhánh âm nhạc Việt Nam trong dòng dân tộc nhạc học góp mặt ở khắp năm châu. Với cuộc sống ở nước ngoài gần nửa thế kỷ, GS. Hải luôn muốn đưa cái hay của Việt Nam ra
dòng chính thế giới. Ông làm phiên dịch viên khi soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống mà còn chủ trương nỗ lực bảo tồn nó. Ông góp mặt tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạngcủa dân tộc Việt Nam. Ngoài ra ông đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại. Giáo sư Trần Quang Hải đã sáng tác
hơn 400 bài hát và âm nhạc về các loại như thanh nhạc ca hát và âm nhạc dựa vào các nhạc cụ truyền thống Việt Nam. GS. Hải còn viết nhiều bài biên khảo,về những nghiên cứu và tham luận về âm nhạc dân tộc học cho nhiều tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết này của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được ghi nhận lại trong từ điển New Grove. Trong phạm vi dân tộc nhạc học GS. Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (ở Mỹ và Pháp). Giáo sư Trần Quang Hải còn là thành viên SACEM (Society of Authors, Composers and Publishers of Music) và ông cũng được trao tặng bảo quốc huân chương (Ordre National de la Légion d’Honneur) của Pháp.
Do vậy Ban Biên Tập chúng tôi hoàn thành tập sách này với mục tiêu ghi nhận sự đóng góp quý báu của GS/TS Trần Quang Hải. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian mong rằng quyển sách này sẽ được quý độc giả các nơi đón nhận như một tác phẩm tham khảo trong kho tàng văn hóa Việt Nam về người nhạc sĩ độc đáo của chúng ta, với công trình tích cực là duy trì và bảo tồn văn hóa Việt, hầu truyền đạt đến những thế hệ tiếp nối bản sắc dân tộc Việt cho ngày sau.

Trong tinh thần đó, Ban biên tập chúng tôi chân thành tri ân ông: GS/TS Trần Quang Hải.

Thay mặt,
GS. Dương Ngọc Sum, Cố vấn.
NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN.


Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải giúp tôn vinh âm nhạc Việt Nam


Trần Quang Hải là một nhạc sĩ tài năng sống ở Pháp và đã tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại 65 quốc gia trên thế giới. Với cha mình, giáo sư nổi tiếng Tiến sĩ Trần Văn Khê, và vợ ông, ca sĩ nổi tiếng Bạch Yến, ông đã đóng góp trong nhiều năm để nghiên cứu, quảng bá và tôn trọng âm nhạc Việt Nam.

Trần Quang Hải sinh ra trong một gia đình có năm thế hệ nhạc sĩ ở miền Nam Việt Nam. Cha của ông, Giáo sư Trần Văn Khê, nổi tiếng vì đã giúp quảng bá âm nhạc Việt Nam truyền thống trên khắp thế giới và tôn vinh nó trong các lĩnh vực nghiên cứu và biểu diễn.

Ông Hải tốt nghiệp từ Nhạc viện Quốc gia Sài Gòn trước khi định cư tại Pháp để học tập và nghiên cứu âm nhạc tại Đại học Sorbonne và nhạc dân tộc học tại Đại học Khoa học Xã hội ở Paris. Ông bắt đầu nghiên cứu về âm nhạc phương Đông tại Bảo tàng Man vào năm 1968.

Năm sau, ông Hải được bổ nhiệm vào vị trí tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia trong khi vẫn còn là sinh viên. Anh quyết định tập trung vào kỹ thuật ca hát âm nhạc, mà anh đã phát hiện vào năm 1969. Nghệ thuật, bao gồm cả việc sản xuất hai âm thanh đồng thời từ cổ họng, khiến anh nổi tiếng trên toàn thế giới như chuyên gia số một trong ca hát âm nhạc.

« Sau nhiều tháng nghiên cứu, tôi đã phát triển một hệ thống các phương pháp để ca hát âm nhạc, » nhà âm nhạc dân tộc học nói. « Cho đến nay, tôi đã có 8.000 người học cho chủ đề này ở 65 quốc gia. »

Giáo sư Quang Hải đã nhận được hơn 30 giải thưởng quốc tế cho các nghiên cứu âm nhạc của mình. Năm 2002, Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã trao Huân chương Danh dự cho Tiến sĩ Hải để ghi nhận những đóng góp của ông cho nghiên cứu về ca hát âm nhạc trên thế giới.

Một bậc thầy về âm thanh, nhà nghiên cứu âm nhạc nổi tiếng hầu như có thể chơi nhiều nhạc cụ truyền thống Việt Nam như đàn tam thập lục 16, violin hai chord, sáo và thậm chí cả cái muỗng. (Anh ấy đã mang lại rất nhiều cải tiến cho kỹ thuật trò chơi muỗng.)

Tiến sĩ Quang Hải thấy mình là một sự pha trộn của một số loại âm nhạc – Đông và phương Tây, truyền thống và đương đại. Âm nhạc của anh ấy không có biên giới. Anh nói anh đã tạo ra một tầm nhìn toàn cầu về thế giới và âm nhạc Việt Nam. Nó nhằm mục đích kết hợp tất cả các thể loại âm nhạc truyền thống trong một thế giới âm nhạc điển hình.

Mặc dù ông đã sống ở nước ngoài được 45 năm, ông Hải luôn nhìn về quê hương của mình với một cảm giác đặc biệt. Ông thực hành lòng yêu nước theo cách riêng của mình. Phiên dịch viên soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống một cách nhiệt tình mà còn nỗ lực bảo tồn nó. Anh đã tổ chức 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của đất nước. Người đàn ông chuyên dụng cũng đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại Pháp, Ý và Hoa Kỳ.

Giáo sư Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc các loại, bao gồm ca hát và âm nhạc cho các nhạc cụ truyền thống Việt Nam.

Nhà khoa học nổi tiếng đã viết nhiều bài báo và sách cho các tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được xuất bản trên từ điển New Grove.

Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (Mỹ) và Kế hoạch chính thức ( Pháp).

——————————————————————————————————————————————————————————
L’ethnomusicologue Tran Quang Hai contribue à honorer la musique vietnamienne

Tran Quang Hai est un musicien talentueux qui vit en France et a donné plus de 3000 concerts dans 65 pays à travers le monde. Avec son père, le professeur renommé Dr Tran Van Khe, et sa femme, le célèbre chanteur Bach Yen, il contribue depuis de nombreuses années à la recherche, à la promotion et au respect de la musique vietnamienne.

Tran Quang Hai est né dans une famille avec cinq générations de musiciens dans le sud du Vietnam. Son père, le professeur Tran Van Khe, est bien connu pour aider à promouvoir la musique traditionnelle vietnamienne dans le monde et à l’honorer dans les domaines de la recherche et de la performance.

M. Hai est diplômé du Conservatoire National de Saigon avant de s’installer en France pour étudier et étudier la musicologie à l’Université de la Sorbonne et l’ethnomusicologie au Collège des Sciences Sociales de Paris. Il a commencé ses recherches sur la musique orientale au Musée de l’Homme en 1968.

L’année suivante, M. Hai a été nommé à un poste au Centre national de la recherche scientifique, alors qu’il était encore étudiant. Il a décidé de se concentrer sur les techniques de chant diphonique, qu’il a découvert en 1969. L’art, qui implique la production de deux sons simultanément à partir de la gorge, l’a rendu célèbre dans le monde entier comme l’expert numéro un en chant diphonique.

« Après plusieurs mois de recherche, j’ai développé un système de méthodes pour le chant diphonique », rappelle l’ethnomusicologue. « Jusqu’à présent, j’ai eu 8 000 apprenants pour ce sujet dans 65 pays. »

Le professeur Quang Hai a reçu plus de 30 prix internationaux pour ses études musicales. En 2002, le président français Jacques Chirac a décerné la médaille d’honneur de la Légion au Dr Hai en reconnaissance de sa contribution à la recherche sur le chant diphonique mondial.

Un maître de l’acoustique, le chercheur de musique renommé peut jouer virtuellement divers instruments traditionnels vietnamiens tels que la cithare à 16 accords, le violon à deux accords, la flûte et même la cuillère. (Il a apporté beaucoup d’améliorations à la technique de jeu de cuillère.)

Dr Quang Hai se considère comme un mélange de plusieurs types de musique – orientale et occidentale, traditionnelle et contemporaine. Sa musique est donc sans frontières. Il a dit qu’il a forgé une vision universelle du monde et de la musique vietnamienne. Il vise à combiner tous les genres de musique traditionnelle dans un typique de la musique du monde.

Bien qu’ayant vécu à l’étranger pendant 45 ans, M. Hai a toujours regardé sa patrie avec un sentiment particulier. Il pratique le patriotisme à sa manière. L’interprète de musique-compositeur non seulement étudie la musique traditionnelle avec enthousiasme, mais fait aussi des efforts pour la préserver. Il a donné 3000 concerts dans plus de 60 pays pour présenter la musique diversifiée du pays. L’homme dédié a également produit plus de 30 CD audio et vidéo sur la musique vietnamienne en France, en Italie et aux États-Unis.

Le professeur Quang Hai a composé plus de 400 chansons et morceaux de musique de toutes sortes, y compris le chant diphonique et la musique pour les instruments traditionnels vietnamiens.

L’éminent scientifique a écrit de nombreux articles et livres pour des revues de renommée mondiale telles que Le Monde de la Musique (UNESCO), Journal of Asian Music Society (Université Cornell, États-Unis), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Suisse) et Koukin Journal (Tokyo, Japon). Ses articles sur la musique vietnamienne et asiatique ont également été publiés sur New Grove Dictionary.

L’ethnomusicologue Tran Quang Hai est membre de nombreuses sociétés de recherche musicale aux États-Unis, en France, au Royaume-Uni et en Belgique. Il a été conférencier invité de plus d’une centaine d’universités dans le monde et a donné plus de 1 500 discours à des élèves d’écoles européennes. Dr Hai a également assisté à plus de 130 festivals de musique internationaux. Son nom est apparu dans de nombreux livres, y compris le Dictionnaire de Biographie internationale (RU), International Who’s Who dans la musique (Royaume-Uni), les dirigeants de l’Europe 500 pour le nouveau siècle (US) et Officiel Planete (France).

 Danh sách bài viết TQH bằng ngoại ngữ 

Chủ đề hát đồng song thanh
1.Tran Quang Hai & Denis Guillou : Oriiginal Research and Acoustical Analysis in connection with the Xöömij Style of Biphonic Singing
2.Tran Quang Hai & Hugo Zemp : Recherches expérimentales sur le chant diphonique
3.Tran Quang Hai : About the terminology used in overtone/ undertone for the throat singing/ overtone singing
4.Tran Quang Hai : Recherches introspectives et expérimentales sur le chant diphonique
5.Tran Quang Hai : Throat Singing vs. Overtone Singing / Tradition vs. Experiment: A Case of Harmonic Singing
6.Tran Quang Hai : Method of Learning of Overtone Singing Khoomei
7.Tran Quang Hai : Harmonic Resonantial Voice vs. Diphonic or Formantic Voice – Physiology and Acoustics of Vocal Production in Religious Music
8.Tran Quang Hai : Ethnomusicology: The Contemporary use of Tuvan Overtones in Western Music
9. Tran Quang Hai : Musique Touva

Chủ đề nhạc Việt Nam
1. Tran Quang Hai : An Introduction to Vietnamese Music
2. Tran Quang Hai : Musique de la Diaspora vietnamienne
3. Tran Quang Hai : Vietnamese Music in Exile since 1975
4. Tran Quang Hai : Music of the Montagnards of Vietnam
5. Tran Quang Hai : Westernizatiiion & Modernization of the Gong of the Highlands of Central Vietnam
6. Tran Quang Hai : Entretien avec Tran Quang Hai , ethnomusicologue
7. Tran Quang Hai : An Interview with Prof.Dr Tran Van Khe

 

MUA SÁCH TỪ AMAZON:

TRAN QUANG HAI: 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing

Paperback – January 29, 2019 – $ 15

Tran Quang Hai – 50 nam nghien cuu nhac Dan toc Viet (Vietnamese Edition)
Paperback – October 11, 2018

 

Trò chuyện với Nhạc sĩ Trần Quang Hải

                               The Jimmy Show – Tháng 2, 2019: Youtube

 

           MỘT SỐ HÌNH ẢNH KỶ NIỆM CHUYẾN RA MẮT SÁCH

                            Ở NAM CALIFORNIA – THÁNG 2, 2019

 

  Lệ Hoa, Việt Hải, Trần Quang Hải


Đến thăm Nhạc sĩ Lam Phương (ngồi thứ 2 từ trái)

 

GS Tahara mời rượu sake uống trong chén gỗ

Vi Sơn, Vũ Trung Hiền, Trần Đình Thục, Trần Quang Hải, Jo Marcel

 

                           Phiến Đan phỏng vấn Nhạc sĩ TS Trần Quang Hải

            Youtube:   PHẦN 1PHẦN 2  / PHẦN 3 / PHẦN 4 / PHẦN 5 / PHẦN 6 / PHẦN 7 / PHẦN 8

 

                   Tiểu sử TRẦN QUANG HẢI

NGUỒN – https://tranquanghai.info/tieu-su/

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã, tỉnh Gia Định, miền Nam nước Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê (sinh ngày 24 tháng 7, 1921) và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn trường nữ trung học Gia Long (sinh ngày 19 tháng 9, 1921).

Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17 tháng 6, 1978 tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc ngoại quốc Tây phương lúc đầu của sự nghiệp cầm ca. Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải, Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới .

Xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời, anh là nhạc sĩ đời thứ năm. Ngoài ra anh là dân tộc nhạc học gia (ethnomusicologist – ethnomusicologue) chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, thuyết trình viên, nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, và thành viên của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique).

Vài dòng về khuôn mặt Trần Quang Hải. Anh đã theo gót cha anh, GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu dân tộc nhạc học. Anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh.

Gia đình nhạc sĩ cổ truyền

  1. Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ của TQH là quan án sát, theo Phan Thanh Giản sang Pháp để thương thuyết nhưng thất bại , treo ấn từ quan , vào Nam , cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. là người có trình độ đáng nói về nhã nhạc Huế .
  2. Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố của TQH là người rất giỏi về đàn tỳ bà , được gởi ra thành nội Huế để học nhạc cung đình và chuyên về đàn tỳ bà . Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho đàn tỳ bà , nhưng tiếc thay là tất cả tài liệu đó bị thất lạc vì chiến tranh .
  3. Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội của tôi là người đàn kìm rất giỏi, biệt hiệu Bảy Triều trong giới cải lương, đã đặt ra cách lên dây TỐ LAN cho đàn kìm để đàn những bài buồn ai oán. Hiện nay chỉ còn một số rất ít nhạc sĩ cổ nhạc biết đàn dây này (như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo , GS Trần Văn Khê).
  4. Trần Văn Khê (1921-2015), ba của tôi là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng quốc tế và làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới ở địa hạt trình diễn cũng như nghiên cứu . Con trai trưởng trong gia đình có ba người con (ba tôi GS Trần Văn Khê, chú ba tôi là Quái kiệt Trần Văn Trạch, cô tư tôi là Trần Ngọc Sương từng nổi tiếng là ca sĩ tân nhạc vào đầu thập niên 50) , ông đã hăng hái trong phong trào nhạc mới lúc trẻ (cùng thời với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Phạm Duy) và quay về nhạc cổ khi soạn luận án tiến sĩ tại Pháp . Từng là giáo sư nhạc Đông phưong tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Paris , Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, và từng giữ chức phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO . Hưu trí từ năm 1987, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu và đóng góp một vai trò lớn cho hai hồ sơ Nhạc cung đình Huế (được danh hiệu kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Hiện ông định cư ở Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và đang là cố vấn cho hồ sơ Ca Trù để đệ trình lên UNESCO cho năm 2007 dành cho kiệt tác văn hóa phi vật thể.
  5. Trần Quang Hải (1944 – ) , cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Saigon với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), đi sang Pháp năm 1961 và học nhạc học tại trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở trường cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). Bắt đầu làm việc cho trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với ê-kíp nghiên cứu tại Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới bây giờ (2006). Trình diễn trên 3,000 buổi tại 65 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác nhạc hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng , hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại . Đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 3 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới .Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng , jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ.

Sáng tạo một số kỹ thuật mới cho muỗng được thấy ở Việt Nam vào cuối thập niên 40 (gần 70 năm). Ngoài ra đã khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh từ năm 1969 và hiện nay được xem như chuyên gia có được nhiều giới nghiên cứu về dân tộc nhạc học, âm thanh học, nhạc đương đại, y học biết tới khắp nơi trên thế giới .

Thể nghiệm nhiều loại nhạc với tư cách nhạc sĩ. Đã từng chơi nhạc Free Jazz với nhóm Alain Brunet Quartet), nhạc pop, nhạc điện thanh (electro- acoustical music) qua bài Về Nguồn (soạn chung với Nguyễn Văn Tường được trình bày lần đầu tiên năm 1975 tai Champigny sur Marne, Pháp), nhạc tùy hứng (hợp tác với Arlette Bon vũ sư đương đại năm 1972, với Muriel Jaer, vũ sư đương đại nhiều năm từ 1973 tới 1980, qua bài Shaman với Misha Lobko vào năm 1982, Paris).

Cộng tác trình diễn trong các dĩa CD như với Philip Peris (tôi chơi đàn môi và hát đồng song thanh hòa với kèn thổ dân Úc didjeridu năm 1997), với các nhạc sĩ đàn môi qua hai CD về đàn môi năm 1999 và một CD đàn môi với John Wright, Leo Tadagawa và Svein Westad năm 2000. Dĩa VIETNAM / TRAN QUANG HAI & BACH YEN do hãng SM Studio sản xuất tại Paris năm 1983 đã đưọc giải thưỏng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1983, và dĩa LES VOIX DU MONDE do hãng Le Chant Du Monde sản xuất năm 1996 tại Paris cũng được giải thưởng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1996.

Hội Viên các hội nghiên cứu
* Society for Ethnomusicology (Hội Dân tộc nhạc học), Hoa Kỳ, từ 1969
* Asian Music Society (Hội Nhạc Á châu), Hoa Kỳ, từ 1978
* ICTM (Hội đồng quốc tế nhạc truyền thống), Hoa Kỳ, từ 1976 (đưọc bầu làm thành viên của ủy ban chấp hành – member of the Executive Board từ 2005)
* Société Internationale de Musicologie (Hôi quốc tế nhạc học), Thụy Sĩ, từ 1977
* International Association of Sound Archives (IASA) (Hội quốc tế âm thang viện), Úc châu từ 1978
* Association of the Foundation of Voice (Hội về Giọng), Hoa Kỳ từ 1997
* Société de Musicologie (Hội nhạc học), Pháp, từ 1980
* Société Francaise d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Pháp) từ 1985 (sáng lập viên)
* CIMCIM (Unesco) từ 1983
* Séminaire Européen d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Âu châu), Thụy Sĩ , từ 1983.
* Association Francaise d’Archives sonores (Hội âm thanh viện Pháp) từ 1979
* Centre d’Etudes de Musique Orientale (Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương), Paris, từ 1962 (giáo sư của trung tâm từ 1970 tới 1975)
* Centre d’Etudes Vietnamiennes (Trung tâm nghiên cứu Việt học), Pháp ,từ 1987
* Association Francaise de Recherche sur l’Asie du Sud-Est (Hội nghiên cứu Đông Nam Á Pháp), Pháp từ 1986.
* Société des Auteurs , Compositeurs et Editeurs de la Musique (SACEM) , Pháp, từ 1980
* International Center of Khoomei (Trung tâm quốc tế Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga từ 1995.
* International Jew’s Harp Society (Hội quốc tế Đàn Môi) , Áo quốc, từ 1998 (sáng lập viên)
* Scientific Association of Vietnamese Professionals (Hội khoa học chuyên gia Việt Nam) (hội viên danh dự) , Canada từ 1992.
* Vietnamese Institute for Musicology (Viện Âm nhạc Hà nội), Việt Nam từ 2004, (hội viên danh dự)
* American Biographical Institute and Research Association (ABIRA) , Hoa kỳ, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)
* International Biographical Association (IBA), Anh quốc, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)
* Encyclopaedia Universalis Tự điển, Pháp, từ 1985 (cố vấn cho giải thưởng Diderot)
* American Order of Excellency, Hoa Kỳ, từ năm 1998 (sáng lập viên)
* World Wide Library, Hoa Kỳ (thành viên).
* Vietnamese Public Library of Knowledge (ViPLOK) (founding member of the editorial board), Hoa Kỳ từ 2006.

NHỮNG QUYỂN SÁCH CÓ TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI

Sau đây là những quyển tiểu sử Who’s Who và các quyển sách khác có đăng tiểu sử của tôi:
• Dictionary of International Biography, ấn bản thứ 15, Anh quốc
• Men of Achievement, ấn bản thứ 5, 6, và 7, Anh quốc
• International Who’s Who in Music, từ ấn bản thứ 8 cho tới hiện nay (2008), Anh quốc
• Who’s Who in Europe, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc
• Men and Women in Distinction, ấn bản thứ 1 và 2, Anh quốc
• International Register of Profiles, ấn bản thứ 4 và 5 , Anh quốc .
• International Who’s Who of Intellectuals, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc
• The First Five Hundred, ấn bản thứ nhất, Anh quốc
• Who’s Who in the World, từ ấn bản thứ 5 tới nay (2008), Hoa Kỳ
• 5,000 Personalities in the World, ấn bản thứ nhất, Hoa kỳ
• International Directory of Distinguished Leadership, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ
• International Book of Honor, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ
• Who’s Who in Entertainment, ấn bản thứ 3, Anh quốc
• Who’s who in France, từ ấn bản thứ 29 tới nay (2008), Pháp
• Nouvelle Dictionnaire Européen, từ ấn bản thứ 5 tới ấn bản thứ 9, Bỉ
• Who’s Who in International Art, ấn bản thứ nhất, Thụy Sĩ
• Vẻ Vang Dân Việt – The Prid of the Vietnamese, quyển 1, ấn bản thứ 1 và 2, Hoa Kỳ
• Fils et Filles du Viet Nam , ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ
• Tuyển tập nghệ sĩ (Selection of Artists), quyển 1, Canada
• Guide du Show Business, từ 1986 tới nay (2008), Pháp
• The Europe 500 Leaders for the New Century, Barons Who’s Who, Hoa Kỳ
• QUID, từ 2000 tới nay (2008) , Pháp
• 500 Great Minds of the Early 21st Century, Bibliotheque World Wide, Hoa Kỳ
• Officiel Planète,từ năm 2000 tới nay (2008), nhà xuất bản IRMA, Pháp

NHỮNG BIẾN CỐ QUAN TRỌNG TRÊN THẾ GIỚI

Nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên tham gia trình diễn tại những biến cố lịch sử quan trọng trên thế giới
• 1988 : 200 năm thành lập xứ Úc
• 1989 : 200 năm Cách mạng Pháp
• 1991 : 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ
• 1992 : 350 năm thành lập thành phố Montréal, Canada
• 1992 : 500 năm khám phá Mỹ châu của Chritophe Colombus
• 1994 : 600 năm thành lập thủ đô Seoul, Đại Hàn
• 1996 : 50 năm vua Thái Lan trị vì
• 2000 : 100 năm thành lập âm thanh viện Berlin, Đức
• 2004 : Genova , thành phố văn hóa Âu châu, Ý
• 2004 : Lille , thành phố văn hóa Âu châu, Pháp
• 2005 : 100 năm xứ Na Uy được độc lập .

Nhạc sĩ Việt Nam tham gia nhiều nhất Ngày Lễ Âm nhạc do Pháp đề xướng từ lúc đầu tiên vào năm 1982, rồi năm 1984, 1985 , 1987, 1989 tại Paris, rồi năm 1991 tại đảo La Réunion, rồi năm 2000, 2001 tại Paris, năm 2002 tại Beirut (Lebanon)

Nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đàn nhạc phim của các nhà viết nhạc phim của Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit , và trình diễn những nhạc phẩm đương đại của các nhà soạn nhạc như Nguyễn Văn Tường, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard.

Nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3.000 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 65 quốc gia từ năm 1966, 1.500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy tại hơn 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8.000 người theo học hát đồng song thanh.

LIÊN LẠC:

TRAN QUANG HAI


陳 光 海

Tel:+33 (0)1 4569 5577 (home)

Mobile:+33 (0)6 5025 7367

 

               

                   Đánh muỗng: Youtube                                     Đàn môi: Youtube

                                              

                          Đồng song thanh – overtones singing 2012: Youtube

         

          Cố Nhạc sĩ TS Trần Văn Khê & con trai Trần Quang Hải 2014: Youtube

             

                          Danh ca Bạch Yến & phu quân Trần Quang Hải 2018

Riêng đối với GS-TS Trần Quang Hải, ông nói: “Khi biết mình bị ung thư máu, thời gian đầu tôi rất sốc. Cứ nghĩ sẽ không còn đủ thì giờ làm những việc cần làm cho bản thân, cho sự nghiệp. Nhưng bên cạnh tôi đã có Bạch Yến, người vợ hiền, người bạn chí cốt đồng hành cùng tôi qua biết bao gian nan, khó nhọc, đã động viên, an ủi để tôi có đủ nghị lực và nguồn sống mới, đối diện với bệnh tật và tìm phương thức điều trị. Bạch Yến lo lắng chu đáo cho tôi từng bữa ăn, giấc ngủ, lên kế hoạch để chúng tôi tiếp tục làm những công việc cần thiết. Nhờ đó, tôi đã vượt qua, vẫn đi dạy, nói chuyện về âm nhạc dân tộc và biểu diễn giao lưu với bạn bè, khán giả quốc tế. kỷ niệm 40 năm ngày thành hôn là dấu mốc quan trọng với đời người. Bạch Yến đã mang lại nguồn sống cho tôi, giúp tôi vượt qua tâm bệnh để vui sống”.

Ông còn cho biết hai bài thơ mà ông và bà viết cho nhau trong ngày kỷ niệm 40 năm chung sống: “Tôi đã xướng thơ kỷ niệm 40 năm thành hôn vào ngày 17-6 như sau:

Bốn mươi năm hạnh phúc bên nhau

Kỷ niệm hôm nay lắm ngọt ngào

Chồng vợ ngày ngày chung cuộc sống

Tình yêu gìn giữ suốt đời sau!

Và Bạch Yến đã hoạ lại, cũng vào ngày 17-6:

Đã bốn mươi năm diễn với nhau,

Nhờ ca đàn hát bạn đông ngào

Năm châu bốn biển không chùn bước

Mong mãi còn vui tới kiếp sau”.

 

Bạch Yến & Trần Quang Hải hát HÁI HOA & HÒ HỤI: Youtube

 

 Vui lòng gởi thêm tài liệu & ý kiến xây dựng về Phan Anh Dũng dathphan1@gmail.com

                        

                          Trần Quang Hải, Tâm Hảo, Bạch Yến, Phan Anh Dũng

             Chương trình “Bạch Yến, 50 năm ca hát với đời” – 2006, Virginia USA

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1393&Itemid=47

PHAN ANH DŨNG biên soạn : NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI RA MẮT SÁCH Ở NAM CALIFORNIA – Tháng 2, 2019


NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI RA MẮT SÁCH Ở NAM CALIFORNIA – Tháng 2, 2019 PDF Print E-mail

              Đại Học Cal State Long Beach, California
vinh danh GS Trần Quang Hải

                               NGUỒN https://vietbao.com/ – 21/02/2019
                                        Trịnh Thanh Thủy thực hiện

Từ lúc nghe tin Trần Quang Hải, giáo sư tiến sĩ ngành Dân Tộc Nhạc Học (Ethnomusicology) mắc một bệnh nan y là ung thư máu, các anh chị em trong nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian” rất xúc động và có ý định làm một cái gì đó cho ông. Ngày 10 tháng 2, 2019, hai chi nhánh Bắc và Nam Cali của nhóm đã đồng phối hợp thực hiện một buổi chiều văn hoá nghệ thuật và ra mắt sách cho Trần Quang Hải.


GS Quyên Di trao bằng tưởng lục cho GS Trần Quang Hải

Bà Frances Thế Thủy trao bằng cho GS TQHải

Cuốn sách “Trần Quang Hải: 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt” là một tổng hợp các công trình nghiên cứu về âm nhạc của ông đã được góp mặt cùng kho tàng tài liệu âm nhạc VN. GS Hải đã từ Paris bay qua để dự buổi hội ngộ và ra mắt sách hy hữu này. Ngoài một số sinh viên của hai trường đại học Cal State và Fullerton, khoảng gần 200 thân hữu và đồng hương người Việt nghe tin đã về tham dự.

Nguyên GS TQHải là chồng của nữ danh ca Bạch Yến, con trai của cố GS Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu văn hoá và âm nhạc cổ truyền rất nổi tiếng ở VN. GS Hải lấy bằng Tiến sĩ âm nhạc dân tộc người Việt tại Pháp, làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con người ở Pháp (Musée de l’Homme). Ông đã có những nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực Dân tộc âm nhạc học như: hát đồng song thanh, phát triển gõ muỗng. Ông được tôn xưng danh hiệu “vua muỗng” và Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Ông là người trình diễn đàn môi Mông (Hmong) tại nhiều quốc gia nhất thế giới.” Ông cũng là thành viên của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế. Ông và danh ca Bạch Yến đã thực hiện hơn 3000 buổi giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở 70 nước trên thế giới…(Theo Wiki)


 Ban đại diện nhóm NVNT&TTG


Ban hợp ca

Nhân dịp buổi ra mắt sách được tổ chức tại Đại học Cal State Long Beach, CA, USA, bà Teri Yamada, khoa trưởng Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ gốc Á đã vinh danh GS TS TQHải.

Thật tiếc, bà Teri Yamada đã không được gặp mặt giáo sư vì giờ cuối bà phải bay qua Ấn Độ dự một buổi lễ hội về văn hoá, nên bà viết một lá thư rất chân tình gởi ông. Bà cáo lỗi và ủy nhiệm GS Quyên Di thay bà chào mừng, vinh danh và trao bằng tưởng lục cho ông.

GS Quyên Di dạy ở đây và cũng là thành viên trong khoa nghiên cứu này cho biết thêm, “Đây là một vinh dự cho Cộng đồng VN vì hiếm khi Khoa trưởng Yamada viết một lá thư trân trọng như thế này. Tôi đã từng dự nhiều buổi vinh danh nhưng chưa bao giờ tôi thấy bà viết một lá thư như thế. Trước đó bà đã đọc tất cả các tài liệu viết về GS, cả những tài liệu của GS viết, nghiên cứu rồi đúc kết lại thành bức thư nói trên và trân trọng trao bằng tưởng lục cho GS. Bà thay mặt Đại học Cal State Long Beach vinh danh GS Hải đã có công phi thường đóng góp vào kho tàng âm nhạc VN qua các công trình nghiên cứu âm nhạc, văn hoá, nghệ thuật dân tộc qua thời gian, qua các thế hệ.

Hàng đứng: Nhóm NVNT&TTG, Hàng ngồi: GS Tahara, GS TQHải, TT Kiều Chinh, NV Nguyễn Quang, NV Quyên Di


Quan Khách

Ngoài ra bà Frances Thế Thủy, Ủy viên giáo dục học khu Westminster cũng lên trao bằng tưởng lục cho ông. Hiện diện trong buổi lễ có tài tử Kiều Chinh, GS Tahara Hiroki, BS Steven Le, nhà văn Nguyễn Quang (phu quân NV Minh Đức Hoài Trinh), NS Lê Văn Khoa và phu nhân, NS Võ Tá Hân và phu nhân, BS Phạm Gia Cổn và phu nhân, bà quả phụ Lê Trọng Nguyễn, Nhạc Trưởng Bùi Quỳnh Giao..v..v…

Sự có mặt của GS người Nhật Tahara Hiroki hôm nay đã khiến tôi rất ngạc nhiên. Ông là người Nhật 100% mà nói và viết tiếng Việt rất sành sõi, thích ăn nước mắm, thích nhạc Việt Bolero. Tôi hỏi ông duyên cớ nào ông lại có mặt ở đây hôm nay. Ông nói ông hâm mộ tài năng của GS TQ Hải mà bay qua Mỹ để được gặp GS Hải. GS Hải rất nổi tiếng ở bên Nhật vì GS đã có nhiều đề tài nghiên cứu về âm nhạc và làm việc chung với các nhà nghiên cứu âm nhạc của Nhật Bản về nhạc cung đình Huế và nhạc dân tộc VN nói chung. GS Tahara cũng nghe tiếng của cố GS Trần Văn Khê là cha của GS Hải nhưng tiếc quá không được gặp cụ vì cụ đã qua đời.

Tôi hỏi thêm là GS Tahara thích nhạc Bolero vậy GS có thấy nhạc cổ truyền VN có gần gụi với nhạc Bolero VN không? Ông bảo ông thấy nhạc Bolero VN gần giống với nhạc Tanka của Nhật hơn, nhưng khác ở chỗ Tanka không có tố chất ngọt ngào còn Bolero phải hát ngọt ngào, mượt mà, đầy cảm xúc mới được.

         Ông bà GS Lê Văn Khoa, Nguyễn Hùng và NV Việt Hải (ngồi)


Trình diễn thời trang áo dài Bà Nhu

GS Trần Mạnh Chi là trưởng nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng thời gian”, đồng thời là Trưởng ban tổ chức đã lên giới thiệu các thành viên Bắc và Nam Cali của nhóm, có nhà văn Trần Việt Hải là cố vấn. GS Quyên Di và Thụy Vy là 2 MC chính của buổi vinh danh.

GS TQHải được mời lên và ông xuất hiện với một vóc dáng rất khoẻ mạnh, giọng nói thì hùng hồn, sang sảng. Ông cám ơn BTC đã thực hiện buổi rms này và nói về quá trình hoạt động của ông ở hải ngoại.

Ông qua Pháp năm 1961 tới nay đã 58 năm. Thời gian đầu để học nhạc Tây Phương và nghiên cứu về nhạc học. Sau đó ông đi tìm hiểu thêm và khám phá ra âm nhạc VN không chỉ đơn thuần có Hò, Xang, Xê, Cống, đàn cò, đàn tỳ bà, độc huyền hay hát chèo, cải lương. Nhạc VN còn có nhạc của 53 sắc tộc khác của những dân tộc ở cao nguyên Trung phần như Ba na, Gia Rai, Êđê, Xê đăng… Ở phía Bắc có người Thái, Tày, Thổ, Nùng, Dao…. cũng có nhạc. Nghĩa là nhạc VN có thiên hình vạn trạng do sự phối hợp của nhiều loại. Trong số các nhạc cụ được sáng chế ngày nay có 3 cây đàn là niềm tự hào cho cái đẹp của VN. Đó là đàn T’rưng của người sắc tộc Gia Rai, đàn K’ni 2 giây và cây đàn đá. Ông đã đi khắp nơi trên thế giới để giới thiệu những cái hay cái đẹp của âm nhạc VN, như nhạc Cung Đình Huế, nhạc của đồng bào thiểu số, các loại Hát Tuồng, hát Chèo, Ca Trù, Ca Huế, Đàn Ca Tài Tử Nam Bộ. Ông giới thiệu cho toàn cầu biết sự phong phú đa dạng của nhạc VN.


Triển lãm tranh

Ông đã giới thiệu và trình diễn lối hát Đồng Song Thanh và biểu diễn Đàn Môi khiến các cử toạ kinh ngạc và vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt. Trong quá trình nghiên cứu ông khám phá ra loại hát Đồng Song Thanh của người Mông Cổ vùng Tây Bá Lợi Á tức là hát 2 giọng cùng một lúc, có thể đổi từ giọng chính thành giọng cao. Để cải tiến, ông đã tạo ra phương pháp hát Đồng Song Thanh mới. Hơn thế nữa, có thể dùng phương pháp hát này để trị bệnh cho những người bị đứt thanh quản có thể nói được mà không phải phẫu thuật. Lúc nghiên cứu ông đã chấp nhận để người ta chiếu quang tuyến X trong một thời gian dài để thí nghiệm, nhằm biết được hoạt động của các thớ thịt ở cổ họng khi không dùng đến dây thanh quản mà vẫn tạo ra được tiếng nói. Các bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo ông có thể bị ung thư cổ họng nhưng ông đã sẵn sàng ký vào biên bản cam kết, biến mình thành “con vật” thí nghiệm cho những nghiên cứu của mình bất chấp cả tính mạng.

Để buổi ra mắt sách đầy tính văn hoá nghệ thuật thêm đặc sắc, BTC đã trình diễn một màn “Thời trang với áo dài qua thời gian” với sự góp mặt của các anh chị em trong nhóm cùng sự tham gia của Hội Ái Hữu Sinh Viên VN Fullerton. Những chiếc áo dài từ cổ truyền, Lemur Cát Tường, Bà Nhu, Bà Ba, cho tới cách tân qua các thời đại đã làm khán giả thích thú và kinh ngạc. Những hoạ phẩm nghệ thuật cũng được triển lãm do các hoạ sĩ đóng góp như: Lưu Anh Tuấn, Lê Thúy Vinh, Hồ Thành Đức, Bé Ký, Hoàng Vinh, Đàm Quốc Cường, Lương Nguyễn, Nguyễn Thái Bình… Các màn hợp ca, song ca mang đầy tính dân tộc do các nhạc sĩ, ca sĩ đồng trình bày đã góp phần phong phú cho buổi rms.

Tôi được tiếp xúc với GS Lê Văn Khoa và xin ông chia sẻ cảm nghĩ về âm nhạc cổ truyền khi ông là một nhạc trưởng chuyên về âm nhạc Tây Phương. Ông nói “Âm nhạc là ngôn ngữ không lời khi con người không hiểu nhau thì âm nhạc giúp để hiểu nhau. Cho nên dù là nhạc cổ truyền hay tây phương nó cũng vẫn là âm nhạc. Từ lâu người Việt cổ súy và bảo vệ tối đa nhạc truyền thống, không muốn nó lai nhạc Tây Phương. Người theo nhạc Tây phương thì cho rằng phương thức làm việc của Tây phương có hệ thống ngon lành hơn, nên coi thường nhạc cổ. Như vậy thì thiệt hại quá, tôi dung hoà cả hai bằng cách dùng dân ca VN viết cho nhạc cổ truyền của người Ukraine và họ rất ngạc nhiên. Họ nói lần đầu tiên trên thế giới mới có người làm như vậy. Tôi dùng đàn tranh, đàn t’rưng bằng tre cho hoà tấu với dàn nhạc Tây Phương mới trình diễn ở Houston tháng 11/2018 khiến ai cũng ngạc nhiên hết. Họ thấy thích thú vì cả hai đều hoà điệu. Mục đích của tôi là làm sao phổ cập để cho cả 2 hoà nhịp.”

Trịnh Thanh Thủy thực hiện
Orange County, CA

                               Tham khảo thêm

                                   Bài viết của BĂNG HUYỀN – Viễn Đông Daily News

Bộ hình của Thúy Vân

 



 

 

Ngày 2 tháng 10, năm 2018
Lời Nói Đầu

Ban Biên Tập chúng tôi thật hân hạnh thay mặt cho liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đứng ra thực hiện Tuyển Tập Trần Quang Hải mang tên là « Trần Quang Hải: 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt »; để vinh danh và tri ân người nhạc sĩ đã có những đóng góp quý giá vào kho tàng dân tộc nhạc thế giới và đã đào tạo nhiều môn đệ tiếp nối bước chân ông ở nhiều đại học trên thế giới.
Nhạc sĩ kiêm giáo sư tiến sĩ Trần Quang Hải đã đưa chi nhánh âm nhạc Việt Nam trong dòng dân tộc nhạc học góp mặt ở khắp năm châu. Với cuộc sống ở nước ngoài gần nửa thế kỷ, GS. Hải luôn muốn đưa cái hay của Việt Nam ra
dòng chính thế giới. Ông làm phiên dịch viên khi soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống mà còn chủ trương nỗ lực bảo tồn nó. Ông góp mặt tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạngcủa dân tộc Việt Nam. Ngoài ra ông đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại. Giáo sư Trần Quang Hải đã sáng tác
hơn 400 bài hát và âm nhạc về các loại như thanh nhạc ca hát và âm nhạc dựa vào các nhạc cụ truyền thống Việt Nam. GS. Hải còn viết nhiều bài biên khảo,về những nghiên cứu và tham luận về âm nhạc dân tộc học cho nhiều tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết này của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được ghi nhận lại trong từ điển New Grove. Trong phạm vi dân tộc nhạc học GS. Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (ở Mỹ và Pháp). Giáo sư Trần Quang Hải còn là thành viên SACEM (Society of Authors, Composers and Publishers of Music)
và ông cũng được trao tặng bảo quốc huân chương (Ordre National de la Légion d’Honneur) của Pháp.
Do vậy Ban Biên Tập chúng tôi hoàn thành tập sách này với mục tiêu ghi nhận sự đóng góp quý báu của GS/TS Trần Quang Hải. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian mong rằng quyển sách này sẽ được quý độc giả các nơi đón nhận như một tác phẩm tham khảo trong kho tàng văn hóa Việt Nam về người nhạc sĩ độc đáo của chúng ta, với công trình tích cực là duy trì và bảo tồn văn hóa Việt, hầu truyền đạt đến những thế hệ tiếp nối bản sắc dân tộc Việt cho ngày sau.

Trong tinh thần đó, Ban biên tập chúng tôi chân thành tri ân ông: GS/TS Trần Quang Hải.

Thay mặt,
GS. Dương Ngọc Sum, Cố vấn.
NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN.


Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải giúp tôn vinh âm nhạc Việt Nam


Trần Quang Hải là một nhạc sĩ tài năng sống ở Pháp và đã tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại 65 quốc gia trên thế giới. Với cha mình, giáo sư nổi tiếng Tiến sĩ Trần Văn Khê, và vợ ông, ca sĩ nổi tiếng Bạch Yến, ông đã đóng góp trong nhiều năm để nghiên cứu, quảng bá và tôn trọng âm nhạc Việt Nam.

Trần Quang Hải sinh ra trong một gia đình có năm thế hệ nhạc sĩ ở miền Nam Việt Nam. Cha của ông, Giáo sư Trần Văn Khê, nổi tiếng vì đã giúp quảng bá âm nhạc Việt Nam truyền thống trên khắp thế giới và tôn vinh nó trong các lĩnh vực nghiên cứu và biểu diễn.

Ông Hải tốt nghiệp từ Nhạc viện Quốc gia Sài Gòn trước khi định cư tại Pháp để học tập và nghiên cứu âm nhạc tại Đại học Sorbonne và nhạc dân tộc học tại Đại học Khoa học Xã hội ở Paris. Ông bắt đầu nghiên cứu về âm nhạc phương Đông tại Bảo tàng Man vào năm 1968.

Năm sau, ông Hải được bổ nhiệm vào vị trí tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia trong khi vẫn còn là sinh viên. Anh quyết định tập trung vào kỹ thuật ca hát âm nhạc, mà anh đã phát hiện vào năm 1969. Nghệ thuật, bao gồm cả việc sản xuất hai âm thanh đồng thời từ cổ họng, khiến anh nổi tiếng trên toàn thế giới như chuyên gia số một trong ca hát âm nhạc.

« Sau nhiều tháng nghiên cứu, tôi đã phát triển một hệ thống các phương pháp để ca hát âm nhạc, » nhà âm nhạc dân tộc học nói. « Cho đến nay, tôi đã có 8.000 người học cho chủ đề này ở 65 quốc gia. »

Giáo sư Quang Hải đã nhận được hơn 30 giải thưởng quốc tế cho các nghiên cứu âm nhạc của mình. Năm 2002, Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã trao Huân chương Danh dự cho Tiến sĩ Hải để ghi nhận những đóng góp của ông cho nghiên cứu về ca hát âm nhạc trên thế giới.

Một bậc thầy về âm thanh, nhà nghiên cứu âm nhạc nổi tiếng hầu như có thể chơi nhiều nhạc cụ truyền thống Việt Nam như đàn tam thập lục 16, violin hai chord, sáo và thậm chí cả cái muỗng. (Anh ấy đã mang lại rất nhiều cải tiến cho kỹ thuật trò chơi muỗng.)

Tiến sĩ Quang Hải thấy mình là một sự pha trộn của một số loại âm nhạc – Đông và phương Tây, truyền thống và đương đại. Âm nhạc của anh ấy không có biên giới. Anh nói anh đã tạo ra một tầm nhìn toàn cầu về thế giới và âm nhạc Việt Nam. Nó nhằm mục đích kết hợp tất cả các thể loại âm nhạc truyền thống trong một thế giới âm nhạc điển hình.

Mặc dù ông đã sống ở nước ngoài được 45 năm, ông Hải luôn nhìn về quê hương của mình với một cảm giác đặc biệt. Ông thực hành lòng yêu nước theo cách riêng của mình. Phiên dịch viên soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống một cách nhiệt tình mà còn nỗ lực bảo tồn nó. Anh đã tổ chức 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của đất nước. Người đàn ông chuyên dụng cũng đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại Pháp, Ý và Hoa Kỳ.

Giáo sư Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc các loại, bao gồm ca hát và âm nhạc cho các nhạc cụ truyền thống Việt Nam.

Nhà khoa học nổi tiếng đã viết nhiều bài báo và sách cho các tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được xuất bản trên từ điển New Grove.

Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (Mỹ) và Kế hoạch chính thức ( Pháp).

——————————————————————————————————————————————————————————
L’ethnomusicologue Tran Quang Hai contribue à honorer la musique vietnamienne

Tran Quang Hai est un musicien talentueux qui vit en France et a donné plus de 3000 concerts dans 65 pays à travers le monde. Avec son père, le professeur renommé Dr Tran Van Khe, et sa femme, le célèbre chanteur Bach Yen, il contribue depuis de nombreuses années à la recherche, à la promotion et au respect de la musique vietnamienne.

Tran Quang Hai est né dans une famille avec cinq générations de musiciens dans le sud du Vietnam. Son père, le professeur Tran Van Khe, est bien connu pour aider à promouvoir la musique traditionnelle vietnamienne dans le monde et à l’honorer dans les domaines de la recherche et de la performance.

M. Hai est diplômé du Conservatoire National de Saigon avant de s’installer en France pour étudier et étudier la musicologie à l’Université de la Sorbonne et l’ethnomusicologie au Collège des Sciences Sociales de Paris. Il a commencé ses recherches sur la musique orientale au Musée de l’Homme en 1968.

L’année suivante, M. Hai a été nommé à un poste au Centre national de la recherche scientifique, alors qu’il était encore étudiant. Il a décidé de se concentrer sur les techniques de chant diphonique, qu’il a découvert en 1969. L’art, qui implique la production de deux sons simultanément à partir de la gorge, l’a rendu célèbre dans le monde entier comme l’expert numéro un en chant diphonique.

« Après plusieurs mois de recherche, j’ai développé un système de méthodes pour le chant diphonique », rappelle l’ethnomusicologue. « Jusqu’à présent, j’ai eu 8 000 apprenants pour ce sujet dans 65 pays. »

Le professeur Quang Hai a reçu plus de 30 prix internationaux pour ses études musicales. En 2002, le président français Jacques Chirac a décerné la médaille d’honneur de la Légion au Dr Hai en reconnaissance de sa contribution à la recherche sur le chant diphonique mondial.

Un maître de l’acoustique, le chercheur de musique renommé peut jouer virtuellement divers instruments traditionnels vietnamiens tels que la cithare à 16 accords, le violon à deux accords, la flûte et même la cuillère. (Il a apporté beaucoup d’améliorations à la technique de jeu de cuillère.)

Dr Quang Hai se considère comme un mélange de plusieurs types de musique – orientale et occidentale, traditionnelle et contemporaine. Sa musique est donc sans frontières. Il a dit qu’il a forgé une vision universelle du monde et de la musique vietnamienne. Il vise à combiner tous les genres de musique traditionnelle dans un typique de la musique du monde.

Bien qu’ayant vécu à l’étranger pendant 45 ans, M. Hai a toujours regardé sa patrie avec un sentiment particulier. Il pratique le patriotisme à sa manière. L’interprète de musique-compositeur non seulement étudie la musique traditionnelle avec enthousiasme, mais fait aussi des efforts pour la préserver. Il a donné 3000 concerts dans plus de 60 pays pour présenter la musique diversifiée du pays. L’homme dédié a également produit plus de 30 CD audio et vidéo sur la musique vietnamienne en France, en Italie et aux États-Unis.

Le professeur Quang Hai a composé plus de 400 chansons et morceaux de musique de toutes sortes, y compris le chant diphonique et la musique pour les instruments traditionnels vietnamiens.

L’éminent scientifique a écrit de nombreux articles et livres pour des revues de renommée mondiale telles que Le Monde de la Musique (UNESCO), Journal of Asian Music Society (Université Cornell, États-Unis), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Suisse) et Koukin Journal (Tokyo, Japon). Ses articles sur la musique vietnamienne et asiatique ont également été publiés sur New Grove Dictionary.

L’ethnomusicologue Tran Quang Hai est membre de nombreuses sociétés de recherche musicale aux États-Unis, en France, au Royaume-Uni et en Belgique. Il a été conférencier invité de plus d’une centaine d’universités dans le monde et a donné plus de 1 500 discours à des élèves d’écoles européennes. Dr Hai a également assisté à plus de 130 festivals de musique internationaux. Son nom est apparu dans de nombreux livres, y compris le Dictionnaire de Biographie internationale (RU), International Who’s Who dans la musique (Royaume-Uni), les dirigeants de l’Europe 500 pour le nouveau siècle (US) et Officiel Planete (France).

 Danh sách bài viết TQH bằng ngoại ngữ 

Chủ đề hát đồng song thanh
1.Tran Quang Hai & Denis Guillou : Oriiginal Research and Acoustical Analysis in connection with the Xöömij Style of Biphonic Singing
2.Tran Quang Hai & Hugo Zemp : Recherches expérimentales sur le chant diphonique
3.Tran Quang Hai : About the terminology used in overtone/ undertone for the throat singing/ overtone singing
4.Tran Quang Hai : Recherches introspectives et expérimentales sur le chant diphonique
5.Tran Quang Hai : Throat Singing vs. Overtone Singing / Tradition vs. Experiment: A Case of Harmonic Singing
6.Tran Quang Hai : Method of Learning of Overtone Singing Khoomei
7.Tran Quang Hai : Harmonic Resonantial Voice vs. Diphonic or Formantic Voice – Physiology and Acoustics of Vocal Production in Religious Music
8.Tran Quang Hai : Ethnomusicology: The Contemporary use of Tuvan Overtones in Western Music
9. Tran Quang Hai : Musique Touva

Chủ đề nhạc Việt Nam
1. Tran Quang Hai : An Introduction to Vietnamese Music
2. Tran Quang Hai : Musique de la Diaspora vietnamienne
3. Tran Quang Hai : Vietnamese Music in Exile since 1975
4. Tran Quang Hai : Music of the Montagnards of Vietnam
5. Tran Quang Hai : Westernizatiiion & Modernization of the Gong of the Highlands of Central Vietnam
6. Tran Quang Hai : Entretien avec Tran Quang Hai , ethnomusicologue
7. Tran Quang Hai : An Interview with Prof.Dr Tran Van Khe

 

MUA SÁCH QUA AMAZON:

TRAN QUANG HAI: 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing

Paperback – January 29, 2019 – $ 15

Tran Quang Hai – 50 nam nghien cuu nhac Dan toc Viet (Vietnamese Edition)
Paperback – October 11, 2018

 

Trò chuyện với Nhạc sĩ Trần Quang Hải

                               The Jimmy Show – Tháng 2, 2019: Youtube

 

           MỘT SỐ HÌNH ẢNH KỶ NIỆM CHUYẾN RA MẮT SÁCH

                            Ở NAM CALIFORNIA – THÁNG 2, 2019

 


 

 

 

                   Tiểu sử TRẦN QUANG HẢI

NGUỒN – https://tranquanghai.info/tieu-su/

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã , tỉnh Gia Định, miền Nam nước Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê (sinh ngày 24 tháng 7, 1921) và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn trường nữ trung học Gia Long (sinh ngày 19 tháng 9, 1921).

Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17 tháng 6, 1978 tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc ngoại quốc Tây phương lúc đầu của sự nghiệp cầm ca . Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải , Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới .

Xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời, anh là nhạc sĩ đời thứ năm . Ngoài ra anh là dân tộc nhạc học gia (ethnomusicologist – ethnomusicologue) chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, thuyết trình viên , nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, và thành viên của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique)

Vài dòng về khuôn mặt Trần Quang Hải. Anh đã theo gót cha anh , GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu dân tộc nhạc học. Anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh .

Gia đình nhạc sĩ cổ truyền

  1. Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ của TQH là quan án sát, theo Phan Thanh Giản sang Pháp để thương thuyết nhưng thất bại , treo ấn từ quan , vào Nam , cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. là người có trình độ đáng nói về nhã nhạc Huế .
  2. Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố của TQH là người rất giỏi về đàn tỳ bà , được gởi ra thành nội Huế để học nhạc cung đình và chuyên về đàn tỳ bà . Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho đàn tỳ bà , nhưng tiếc thay là tất cả tài liệu đó bị thất lạc vì chiến tranh .
  3. Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội của tôi là người đàn kìm rất giỏi, biệt hiệu Bảy Triều trong giới cải lương, đã đặt ra cách lên dây TỐ LAN cho đàn kìm để đàn những bài buồn ai oán. Hiện nay chỉ còn một số rất ít nhạc sĩ cổ nhạc biết đàn dây này (như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo , GS Trần Văn Khê).
  4. Trần Văn Khê (1921-2015), ba của tôi là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng quốc tế và làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới ở địa hạt trình diễn cũng như nghiên cứu . Con trai trưởng trong gia đình có ba người con (ba tôi GS Trần Văn Khê, chú ba tôi là Quái kiệt Trần Văn Trạch, cô tư tôi là Trần Ngọc Sương từng nổi tiếng là ca sĩ tân nhạc vào đầu thập niên 50) , ông đã hăng hái trong phong trào nhạc mới lúc trẻ (cùng thời với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Phạm Duy) và quay về nhạc cổ khi soạn luận án tiến sĩ tại Pháp . Từng là giáo sư nhạc Đông phưong tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Paris , Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, và từng giữ chức phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO . Hưu trí từ năm 1987, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu và đóng góp một vai trò lớn cho hai hồ sơ Nhạc cung đình Huế (được danh hiệu kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Hiện ông định cư ở Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và đang là cố vấn cho hồ sơ Ca Trù để đệ trình lên UNESCO cho năm 2007 dành cho kiệt tác văn hóa phi vật thể.
  5. Trần Quang Hải (1944 – ) , cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Saigon với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), đi sang Pháp năm 1961 và học nhạc học tại trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở trường cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). Bắt đầu làm việc cho trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với ê-kíp nghiên cứu tại Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới bây giờ (2006). Trình diễn trên 3,000 buổi tại 65 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác nhạc hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng , hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại . Đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 3 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới .Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng , jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ.

Sáng tạo một số kỹ thuật mới cho muỗng được thấy ở Việt Nam vào cuối thập niên 40 (gần 70 năm). Ngoài ra đã khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh từ năm 1969 và hiện nay được xem như chuyên gia có được nhiều giới nghiên cứu về dân tộc nhạc học, âm thanh học, nhạc đương đại, y học biết tới khắp nơi trên thế giới .

Thể nghiệm nhiều loại nhạc với tư cách nhạc sĩ. Đã từng chơi nhạc Free Jazz với nhóm Alain Brunet Quartet), nhạc pop, nhạc điện thanh (electro- acoustical music) qua bài Về Nguồn (soạn chung với Nguyễn Văn Tường được trình bày lần đầu tiên năm 1975 tai Champigny sur Marne, Pháp), nhạc tùy hứng (hợp tác với Arlette Bon vũ sư đương đại năm 1972, với Muriel Jaer, vũ sư đương đại nhiều năm từ 1973 tới 1980, qua bài Shaman với Misha Lobko vào năm 1982, Paris).

Cộng tác trình diễn trong các dĩa CD như với Philip Peris (tôi chơi đàn môi và hát đồng song thanh hòa với kèn thổ dân Úc didjeridu năm 1997), với các nhạc sĩ đàn môi qua hai CD về đàn môi năm 1999 và một CD đàn môi với John Wright, Leo Tadagawa và Svein Westad năm 2000. Dĩa VIETNAM / TRAN QUANG HAI & BACH YEN do hãng SM Studio sản xuất tại Paris năm 1983 đã đưọc giải thưỏng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1983, và dĩa LES VOIX DU MONDE do hãng Le Chant Du Monde sản xuất năm 1996 tại Paris cũng được giải thưởng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1996.

Hội Viên các hội nghiên cứu

  • Society for Ethnomusicology (Hội Dân tộc nhạc học), Hoa Kỳ, từ 1969
  • Asian Music Society (Hội Nhạc Á châu), Hoa Kỳ, từ 1978
  • ICTM (Hội đồng quốc tế nhạc truyền thống), Hoa Kỳ, từ 1976 (đưọc bầu làm thành viên của ủy ban chấp hành – member of the Executive Board từ 2005)
  • Société Internationale de Musicologie (Hôi quốc tế nhạc học), Thụy Sĩ, từ 1977
  • International Association of Sound Archives (IASA) (Hội quốc tế âm thang viện), Úc châu từ 1978
  • Association of the Foundation of Voice (Hội về Giọng), Hoa Kỳ từ 1997
  • Société de Musicologie (Hội nhạc học), Pháp, từ 1980
  • Société Francaise d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Pháp) từ 1985 (sáng lập viên)
  • CIMCIM (Unesco) từ 1983
  • Séminaire Européen d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Âu châu), Thụy Sĩ , từ 1983.
  • Association Francaise d’Archives sonores (Hội âm thanh viện Pháp) từ 1979
  • Centre d’Etudes de Musique Orientale (Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương), Paris, từ 1962 (giáo sư của trung tâm từ 1970 tới 1975)
  • Centre d’Etudes Vietnamiennes (Trung tâm nghiên cứu Việt học), Pháp ,từ 1987
  • Association Francaise de Recherche sur l’Asie du Sud-Est (Hội nghiên cứu Đông Nam Á Pháp), Pháp từ 1986.
  • Société des Auteurs , Compositeurs et Editeurs de la Musique (SACEM) , Pháp, từ 1980
  • International Center of Khoomei (Trung tâm quốc tế Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga từ 1995.
  • International Jew’s Harp Society (Hội quốc tế Đàn Môi) , Áo quốc, từ 1998 (sáng lập viên)
  • Scientific Association of Vietnamese Professionals (Hội khoa học chuyên gia Việt Nam) (hội viên danh dự) , Canada từ 1992.
  • Vietnamese Institute for Musicology (Viện Âm nhạc Hà nội), Việt Nam từ 2004, (hội viên danh dự)
  • American Biographical Institute and Research Association (ABIRA) , Hoa kỳ, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)
  • International Biographical Association (IBA), Anh quốc, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)
  • Encyclopaedia Universalis Tự điển, Pháp, từ 1985 (cố vấn cho giải thưởng Diderot)
  • American Order of Excellency, Hoa Kỳ, từ năm 1998 (sáng lập viên)
  • World Wide Library, Hoa Kỳ (thành viên).
  • Vietnamese Public Library of Knowledge (ViPLOK) (founding member of the editorial board), Hoa Kỳ từ 2006.

NHỮNG QUYỂN SÁCH CÓ TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI

Sau đây là những quyển tiểu sử Who’s Who và các quyển sách khác có đăng tiểu sử của tôi:
• Dictionary of International Biography, ấn bản thứ 15, Anh quốc
• Men of Achievement, ấn bản thứ 5, 6, và 7, Anh quốc
• International Who’s Who in Music, từ ấn bản thứ 8 cho tới hiện nay (2008), Anh quốc
• Who’s Who in Europe, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc
• Men and Women in Distinction, ấn bản thứ 1 và 2, Anh quốc
• International Register of Profiles, ấn bản thứ 4 và 5 , Anh quốc .
• International Who’s Who of Intellectuals, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc
• The First Five Hundred, ấn bản thứ nhất, Anh quốc
• Who’s Who in the World, từ ấn bản thứ 5 tới nay (2008), Hoa Kỳ
• 5,000 Personalities in the World, ấn bản thứ nhất, Hoa kỳ
• International Directory of Distinguished Leadership, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ
• International Book of Honor, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ
• Who’s Who in Entertainment, ấn bản thứ 3, Anh quốc
• Who’s who in France, từ ấn bản thứ 29 tới nay (2008), Pháp
• Nouvelle Dictionnaire Européen, từ ấn bản thứ 5 tới ấn bản thứ 9, Bỉ
• Who’s Who in International Art, ấn bản thứ nhất, Thụy Sĩ
• Vẻ Vang Dân Việt – The Prid of the Vietnamese, quyển 1, ấn bản thứ 1 và 2, Hoa Kỳ
• Fils et Filles du Viet Nam , ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ
• Tuyển tập nghệ sĩ (Selection of Artists), quyển 1, Canada
• Guide du Show Business, từ 1986 tới nay (2008), Pháp
• The Europe 500 Leaders for the New Century, Barons Who’s Who, Hoa Kỳ
• QUID, từ 2000 tới nay (2008) , Pháp
• 500 Great Minds of the Early 21st Century, Bibliotheque World Wide, Hoa Kỳ
• Officiel Planète,từ năm 2000 tới nay (2008), nhà xuất bản IRMA, Pháp

NHỮNG BIẾN CỐ QUAN TRỌNG TRÊN THẾ GIỚI

Nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên tham gia trình diễn tại những biến cố lịch sử quan trọng trên thế giới
• 1988 : 200 năm thành lập xứ Úc
• 1989 : 200 năm Cách mạng Pháp
• 1991 : 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ
• 1992 : 350 năm thành lập thành phố Montréal, Canada
• 1992 : 500 năm khám phá Mỹ châu của Chritophe Colombus
• 1994 : 600 năm thành lập thủ đô Seoul, Đại Hàn
• 1996 : 50 năm vua Thái Lan trị vì
• 2000 : 100 năm thành lập âm thanh viện Berlin, Đức
• 2004 : Genova , thành phố văn hóa Âu châu, Ý
• 2004 : Lille , thành phố văn hóa Âu châu, Pháp
• 2005 : 100 năm xứ Na Uy được độc lập .

Nhạc sĩ Việt Nam tham gia nhiều nhất Ngày Lễ Âm nhạc do Pháp đề xướng từ lúc đầu tiên vào năm 1982, rồi năm 1984, 1985 , 1987, 1989 tại Paris, rồi năm 1991 tại đảo La Réunion, rồi năm 2000, 2001 tại Paris, năm 2002 tại Beirut (Lebanon)

Nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đàn nhạc phim của các nhà viết nhạc phim của Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit , và trình diễn những nhạc phẩm đương đại của các nhà soạn nhạc như Nguyễn Văn Tường, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard.

Nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3.000 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 65 quốc gia từ năm 1966, 1.500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy tại hơn 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8.000 người theo học hát đồng song thanh.

               

                                      Đánh muỗng                                                     Đờn môi

         

                             Nhạc sĩ TS Trần Văn Khê & con trai Trần Quang Hải

             

                          Danh ca Bạch Yến & phu quân Trần Quang Hải 2018

Riêng đối với GS-TS Trần Quang Hải, ông nói: “Khi biết mình bị ung thư máu, thời gian đầu tôi rất sốc. Cứ nghĩ sẽ không còn đủ thì giờ làm những việc cần làm cho bản thân, cho sự nghiệp. Nhưng bên cạnh tôi đã có Bạch Yến, người vợ hiền, người bạn chí cốt đồng hành cùng tôi qua biết bao gian nan, khó nhọc, đã động viên, an ủi để tôi có đủ nghị lực và nguồn sống mới, đối diện với bệnh tật và tìm phương thức điều trị. Bạch Yến lo lắng chu đáo cho tôi từng bữa ăn, giấc ngủ, lên kế hoạch để chúng tôi tiếp tục làm những công việc cần thiết. Nhờ đó, tôi đã vượt qua, vẫn đi dạy, nói chuyện về âm nhạc dân tộc và biểu diễn giao lưu với bạn bè, khán giả quốc tế. kỷ niệm 40 năm ngày thành hôn là dấu mốc quan trọng với đời người. Bạch Yến đã mang lại nguồn sống cho tôi, giúp tôi vượt qua tâm bệnh để vui sống”.

Ông còn cho biết hai bài thơ mà ông và bà viết cho nhau trong ngày kỷ niệm 40 năm chung sống: “Tôi đã xướng thơ kỷ niệm 40 năm thành hôn vào ngày 17-6 như sau:

Bốn mươi năm hạnh phúc bên nhau

Kỷ niệm hôm nay lắm ngọt ngào

Chồng vợ ngày ngày chung cuộc sống

Tình yêu gìn giữ suốt đời sau!

Và Bạch Yến đã hoạ lại, cũng vào ngày 17-6:

Đã bốn mươi năm diễn với nhau,

Nhờ ca đàn hát bạn đông ngào

Năm châu bốn biển không chùn bước

Mong mãi còn vui tới kiếp sau”.

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1393&Itemid=47

Concert de musiques traditionnelles et innovantes avec Tran Quang Hai , Bach Yen et Mai Thanh Nam, au Centre Mandapa,6 rue Wurtz 75013 Paris, Dimanche 17 mars 2019 à 15h


tran quang hai & bach yen 2
mai thanh nam

15h00

Mars
Di Lu Ma Me Je Ve Sa
17

Concert de musiques traditionnelles et innovantes
le dimanche 17 mars 2019

Réduction

Pour être informé des prochaines dates pour “Concert de musiques traditionnelles et innovantes”
Inscrivez-vous Gratuitement à l’Alerte Email.
réduction

Dès 12,95€/pers
17,50€
Frais de Réservation
inclus
jusqu’à -26%

Concert de musiques traditionnelles et innovantes

Centre Mandapa, Paris

Dans le cadre du Passeport pour le Vietnam.
Concert de musiques traditionnelles et innovantes avec Tran Quang Hai, Bach Yen et Mai Thanh Nam, voix et instruments.

Prochaine Séance disponible:
Dimanche 17 Mars 2019 à 15h00

 


Pour Tout public

Musique du monde

Langue : Français
Durée : 60 minutes soit 01h00

Lieu:
Centre Mandapa
Salle Multidisciplinaire (~ 100

TRẦN VIỆT HẢI : Tình Khúc Em tôi – Lê Trạch Lựu


Tình Khúc Em tôi – Lê Trạch Lưu-Ngọc Bảo trình bày:
https://www.youtube.com/watch…

Tuần rồi tôi có đưa bài viết intro sách mới “Văn Nhân & Tình Sử” của nhà văn Vương Trùng Dương có bài “Lê Trạch Lựu và Tình Khúc Em tôi”, người nhạc sĩ biết yêu năm 16 tuổi, khi chàng gặp Kim Phượng, tiếng sét ái tình bỗng đến ngay phút đầu gặp em. Mối duyên tình đẹp ấy là mối tình theo mãi một đời theo xuống tuyền đài.

Phải nói là những mối tình ở thuở mới lớn chớm biết yêu, là những kỷ niệm đẹp vì e dè nhút nhát (FSFL: first sight of first love, première vue d’un premier amour), khi tiếng sét tình ái, thunderbolt khiến tim ta bồi hồi xao xuyến đập thất nhịp chỉ bởi vì yêu em ngay phút đầu.

Hôm nay tôi xin intro tiếp chuyện tình măng non, loại puppy love mà nhà văn Max Steele để lại thế gian này khi ông ra đi, y như nhạc sĩ Lê Trạch Lựu đã làm. Những puppy love măng non của tuổi 16, lứa tuổi sweet sixteen thật dễ thương. Xin intro bài viết vui tươi mang tên ngộ nghĩnh “Ah Love! Ah Me!”, được ngòi bút Trương Mỹ Vân chuyển ngữ dưới tên “Mối Tình Đầu Xuân. Đôi nét về nhà văn này nhé:

Max Steele, 83 tuổi (1922-2005, là nhà văn, người cố vấn văn chương và kiêm giáo sư danh dự (Professor Emeritus), dạy môn văn chương Anh văn tại trường học cũ của mình, là Đại học North Carolina tại Chapel Hill, ông đã qua đời vào ngày 01 tháng 8, 2005 tại Chapel Hill….

Em tôi – Nhạc và Lời: Lê Trạch Lựu – Ca Sĩ: Duy Trác – Thực hiện PPS: Doanh Doanh:
https://www.youtube.com/watch…

Về thuật ngữ “Professor Emeritus” xin cho tôi dài dòng, nhiều chuyện tí ti, vì theo quy chế đại học Hoa Kỳ, khi chuyển ngữ danh từ “emeritus” là vinh hiệu “danh dự” có thể bị hiểu nhầm. Khi tuyên dương sự cống hiến của một vị giáo sư, hay một khoa học gia, hay một nhà bác học,… đã về nghỉ hưu cho họ chữ emeritus là cách để biểu hiện đặc ân tôn trọng và lòng tri ân đối với người được trao danh hiệu vinh dự này. Một vị emeritus dù không còn quyền hạn chính thức như theo chức vụ ngày xưa, nhưng vị này vẫn có thể tham gia vào các buổi lễ nghi hay hội họp chính thức nếu muốn hay được mời, bởi vì khả năng chuyên môn như trong thời gian ông hay bà còn tại vị trước đây. Ví dụ như giáo sư Nguyễn Xuân Vinh khi về hưu ông mang tước hiệu Professor Emeritus of Aerospace Engineering của Đại học Michigan, giáo sư danh dự ngành kỹ thuật không gian. Tuy vậy sự nhiêu khê khi ta dịch không rõ ràng là “giáo sư danh dự” có thể gây ra sự hiểu nhầm với danh hiệu “Honorary Professor”. Mà hihi… “Honorary Professor” không kèm điều kiện nghỉ hưu, có công đóng góp lâu dài cho tổ chức này. Chẳng hạn như một trường nọ đại học mời mọc một ông giáo thính giả từ xứ Mấy chú 3 PRC HD981 sang Mỹ dạy vài phùa, cho ông giáo tên hiệu trên giấy tờ “Honorary Professor”, “Honorary Fellow”. Và rồi một ví dụ khác như “tiến sĩ danh dự” (honorary doctorate) của trường Graduate School Park Jung-ho tại Seoul cấp giấy cho me-sừ Nguyễn Tấn Dũng giảng về kinh nghiệm luật pháp và kinh tế VNCS. Với khả năng “siêu việt” của sừ ni ta không thể dịch hay hiểu y là một Professor Emeritus.

Tóm lại quy chế nhà trường ban cho “Giáo sư Emeritus” (Professor Emeritus) là một giáo sư dạy thực thụ, thông thường đã làm việc toàn thời gian, nhưng nay đã nghỉ hưu, ông hay bà vẫn có thể được mời định kỳ để thuyết trình, giảng dạy, tham khảo ý kiến hay được trao một giải thưởng nào đó.

Thôi đã ăn gian đi lố đề tài, xin trở lại chủ đề nhà văn Max Steele, các tác phẩm tiêu biểu của ông ni như “Debby”, “The Cat và Coffee Drinkers”,”Where She Brushed Her Hair” và “The Hat of My Mother”. Chính những tiểu thuyết của ông đã đưa tên ông lên trên đài danh dự đoạt những giải thưởng điển hình như the Harper Prize, the Saxton Memorial Trust Award, the Mayflower Cup Award và O. Henry Prizes. Ông đã nhận được khoản tài trợ đặc biệt cho công tác văn chương của mình từ Quỹ Quốc gia Nghệ thuật (the National Endowment for the Arts).

Điều cao quý là Max là một giáo sư chuyên tâm, tận tuy được nhiều người mến mộ và yêu quý bởi vì ông là một cố vấn có công đào tạo cho các thế hệ nhà văn đi sau, Steele sáng lập và hướng dẫn chương trình sáng tạo văn chương tại Đại học North Carolina (UNC), tọa lạc tại thành phố Chapel Hill kể từ năm 1967 cho đến năm 1986. Nhiều học trò của ông sau này đã trở thành những nhà văn tên tuổi, những tác giả nổi bật như Randall Kenan, Jill McCorkle và Lawrence Naumoff.

Nhà văn Max Steele sinh ra vào năm 1922 tại Greenville, tiểu bang South Carolina. Steele đã theo học tại các đại học như Furman (Greenville), Vanderbilt (Nashville, Tennessee), đại học Paris Sorbonne và Academie Julienne (École des Beaux-Arts) ở Paris. Ông đã phục vụ trong quân lực Không quân Hoa Kỳ trong thời Thế chiến II. Bài viết của ông đã được đăng lần đầu tiên trên tạp chí Harper trong năm 1944 và tốt nghiệp từ trường UNC vào năm 1946. Sau đó, ông sống ở Paris, nơi ông là một người bạn và đồng nghiệp của George Plimpton và một biên tập viên (BBT) sáng lập của tạp chí văn học The Paris Review. Ông vẫn kết nối với các văn hữu trong BBT cho đến khi ông qua đời, tên ông được liệt kê trên các quảng cáo tiêu đề là đồng biên tập. Ông cũng là một biên tập viên cho tạp chí Story.

Nếu năm 16 tuổi nhạc sĩ Lê Trạch Lựu bị coup de foudre hành hạ khi yêu nên len lén muốn gửi thơ cho nàng Kim Phượng, nhưng rồi chẳng dám. Truyện viết của nhà văn Max Steele cùng thế hệ cũng yêu thầm nàng Sara Nell Workman, phôn mời nàng đi xem ciné mà run như cầy sấy. Sara đồng ý đi xem ciné, xem ciné xong Max muốn mời Sara đi ăn dinner, giờ không đủ vì hết phép của ông bố Sara, nên đôi bạn ghé vào tiệm drugstore “Shaeffer’s” chỉ uống nước, cái khờ khạo măng non, nhút nhát của Dave (mà Max đặt tên trong truyện) khi uống hai viên Litho-bromide nên uống với nước lã, thuốc hòa tan trong nước lã sủi bọt như Alka Seltzer, thay vì như Max viết vì là khờ dại vì không biết nên đã diễn tuồng Coke và Litho-bromide (LiBr). Khi LiBr (lithium bromide) liên kết trong phản ứng cùng chất lỏng trong Coke, có chứa sodium carbonate (alkali) dạng thức hóa học CNa2O3, hệ quả cho những phản ứng nhiệt năng, sôi sục exothermic reaction, khó chịu cho cơ thể của Dave. Những khờ dại trong trắng….

Viết về sách mới, xin đơn cử một chuyện tình đẹp về kỷ niệm và thơ mộng như: “Lê Trạch Lựu và Tình Khúc Em tôi”, ở trang 167, đây là một mối tình mang theo mãi một đời người. Nhạc phẩm Em Tôi ra đời đầu năm 1953 đến nay vẫn tiếp tục đem đến cho người nghe những xúc cảm như gần, như xa của một thời tưởng như đã thuộc về dĩ vãng nhưng vẫn tiếp tục làm rung động trái tim những thính giả trẻ tuổi ở thế hệ bây giờ. Đằng sau ca khúc lãng mạn này là một cuộc tình mang theo từ thuở vừa biết yêu cho đến tuổi xế chiều khi nhạc sĩ sáng tác liên lạc lại người xưa qua đường dây điện thoại viễn liên. Nay chuyện ấy đã chìm vào danh sách những thiên tình sử đẹp trong lãng mạn và lưu luyến kèm theo bạn tình ca Em Tôi bất hủ theo ý riêng cùa hàn bút ni.

Trong một buổi nói chuyện ở buổi họp mặt Thu Tao Ngộ tại Paris 2009, nhạc sĩ Lê Trạch Lựu kể về câu chuyện tình đã đưa đến bài tình ca Em Tôi. Vào tháng 5 năm 1946 ông tham dự trại hè Sầm Sơn, đi với đoàn Hướng Đạo cùng nhiều đoàn khác, tập trung tại sân ga Hà nội. Thoáng thấy một cô gái xinh xinh, dáng người phong nhã, có đôi mắt đẹp tuyệt vời, ông bị tiếng sét ái tình ngay phút đầu. Rồi mỗi ngày ông đều thấy cô gái ấy, đội nón, dưới nắng trang trang rũ áo, ông ngồi bên cửa sổ nhìn cô ta. Thỉnh thoảng cô nàng ngửng đầu lên, vành nón che đôi mắt, nhưng ông biết là cô ta đang nhìn chú ý đến ông. Khi về lại Hà Nội ông tìm nhà cô ta, vì có duyên nên tìm được ngay, nhà cô ta ở gần nhà ông. Dạo ấy có một chú bé đi theo ông bén gót, đó là chú Mỹ, em cô Phượng. Một hôm, ông viết một lá thư và chẳng dám trao đến cô, vì không đủ can đảm trao lá thư đến Phượng, nên ông nhờ chú Mỹ giúp cho công tác liên lạc.

Gia đình Phượng phải đi tản cư vì biến cố toàn quốc kháng chiến. Phần khác Lê Trạch Lựu sang Pháp du học. Tháng ngày qua khi ở Paris cũng là thời gian mà nỗi nhớ quay cuồng chàng thanh niên say trong cơn yêu, điều này đã là nguồn suối trào dâng để một ngày nọ bên những bạn bè văn nghệ như Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, ông bấm lên phím đàn, đưa “Em Tôi” vào đời. Sau đó tác giả gửi bài nhạc tới nhà xuất bản Tinh Hoa. Những tháng năm trôi qua. Khi nhạc phẩm cất cánh bay cao tại Việt Nam, ông ở Paris nên không biết rõ tình trạng nó ra sao.

Rồi một hôm Lê nhạc sĩ tìm ra được địa chỉ của Phượng rồi viết về cho chú Mỹ, Mỹ cho biết cô Phượng đợi ông trong một năm dài, thấy ông không về Phượng tưởng ông đã mất. Rồi ba năm sau khi cô để tang ông, cô đi lấy chồng, gia đình đã êm thấm với chồng và con. Mãi về sau này, sáu chục năm sau, ông được biết tin qua một người bạn cùng trường năm xưa cho ông số phôn, thế là ông gọi thăm người yêu cũ. Nàng vừa ngạc nhiên vừa bối rối, phải chăng người chết trở về. Phượng òa ra tiếng khóc ngất ngây. Nhạc sĩ hỏi về lá thư tình năm xưa, thuở văn thời 16 viết trong thơ ngây, trong lúng túng. Phượng trả lời ông: “Em để vào trong một cái hộp, nó đi theo em tất cả mọi nơi, trong đó có cả tập ảnh chụp hồi đó, nhưng chồng em thấy lúc nào em cũng buồn, nói với em nên giấu nó đi một chỗ, khi nào vui thì hãy mở ra. Thế là ông ta bỏ vào đâu không rõ, mấy năm sau ông ta mất, tìm kiếm khắp nhà không ra. Em chỉ nhớ anh viết dài lắm… viết dài lắm… Hôm nọ em muốn tìm cái hình anh hồi đó, mà không thấy đâu. Tủi thân, em lại ngồi khóc, may rằng con và cháu em bữa đó tụi nó không có ở nhà…”.

Ông cho biết: “Mối tình đối với cô Phượng theo tôi suốt đời, vì rằng đó là mối tình đầu, mà mình không biết nhau ở đâu, không biết người ta sống hay chết, tôi nhớ đến cô và tôi đã làm bài “Em Tôi”.”….

Lê Trạch Lựu và Tình Khúc Em tôi, Việt Hải Los Angeles:
http://www.ninh-hoa.com/VietHai-ChuyenTinhCuaNhaVanMaxSteel…

Em tôi – Nhạc và Lời: Lê Trạch Lựu – Ca Sĩ: Duy Trác – Thực hiện PPS: Doanh Doanh:
https://www.youtube.com/watch…

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và ngoài trời
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, văn bản và cận cảnh
+8

BĂNG HUYỀN : Chiều văn học nghệ thuật ra mắt sách Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt, CSU LONG BEACH , CALIFORNIA , 10.02.2019


Friday, 15/02/2019 – 08:15:41

Chiều văn học nghệ thuật ra mắt sách Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt

GS Quyên Di thay mặt bà khoa trưởng trao tặng bằng vinh danh GS. TS Trần Quang Hải. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

 

Bài BĂNG HUYỀN

Trưa Chủ Nhật, ngày 10 tháng 2, 2019 tại phòng hội của Đại Học Cal State Long Beach (CSULB) thuộc Phân Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ Gốc Á Châu (Asian & Asian American Studies) đã diễn ra buổi “Chiều Văn Học Nghệ Thuật” năm thứ III do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức.
Chương trình này rất đặc biệt, là buổi ra mắt sách “Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian kết hợp cùng Nhóm Văn Thơ Lạc Việt tại San Jose thực hiện, và vinh danh Giáo Sư Tiến Sĩ (GSTS) Trần Quang Hải. Ông là con trai đầu của cố Giáo sư Tiến Sĩ Trần Văn Khê và cháu của “quái kiệt” Trần Văn Trạch.


GS.TS Trần Quang Hải diễn thuyết và trình diễn hát Đồng Song Thanh và đàn Môi. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Ông là một thuyết trình viên, nhạc sĩ sáng tác và là người thầy nổi tiếng về sư phạm âm nhạc. Ông đã có hàng nghìn cuộc nói chuyện, giới thiệu âm nhạc Việt Nam khắp nơi trên thế giới. Ông không chỉ chuyên về nhạc dân tộc Việt, mà còn là chuyên gia về nhạc cụ và âm nhạc của các nước châu Á. Ông sống tại Paris, Pháp, đã thực hiện rất nhiều công trình vĩ đại với nhiều sáng tạo đầy màu sắc nghệ thuật độc đáo.
Giáo sư Quyên Di là giảng viên Phân Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ Gốc Á Châu của Đại Học Cal State Long Beach và là thành viên của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Giáo sư Quyền Di cho biết, “Đây là chương trình thường niên lần thứ ba Chiều Văn Học Nghệ Thuật của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức, dưới sự bảo trợ của Khoa Nghiên Cứu về Người Mỹ gốc Á Châu của Đại Học Cal State Long Beach. Tôi sẽ đại diện cho phân khoa và bà khoa trưởng, Giáo Sư Tiến Sĩ Teri Yamada, hiện đang công tác tại Ấn Độ, nên không thể có mặt trong chương trình lần này, để trao giải thưởng cho Giáo sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải và tôi cũng đại diện chương trình tiếng Việt của trường, trao cho ông giải thưởng. Giải thưởng ghi nhận sự đóng góp không biết mệt mỏi của Giáo sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải vào gia tài âm nhạc Việt Nam.


Cùng nhau hát “Và Con Tim Đã Vui Trở Lại” (Băng Huyền/ Viễn Đông)

“Giáo sư Trần Quang Hải có nhiều công trình lắm, ngoài những công trình về sáng tác âm nhạc, công trình về thu thanh thu hình âm nhạc và trình diễn. Ông còn là một người nghiên cứu rất sâu về âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Cuốn sách Trần Quang Hải 50 năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt, tập hợp rất nhiều bài nghiên cứu của ông. Trong quyển sách này đặc sắc nhất và tôi được học hỏi nhiều là bài Nguồn Gốc Âm Nhạc Việt Nam.”

Ông Trần Mạnh Chi, trưởng Ban Tổ Chức và là đại diện cho Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, bày tỏ, “Chúng tôi hân hạnh đón tiếp mọi người đến dự ra mắt sách của Giáo sư Trần Quang Hải từ Pháp qua. Nhạc sư đã bỏ công 50 năm nghiên cứu về âm nhạc nghệ thuật Việt Nam. Đây là niềm hãnh diện cho người Việt Nam khắp nơi trên thế giới. Tất cả những chương trình mà nhóm đã tổ chức trong quá khứ và sắp tới, chúng tôi mong mỏi vinh danh những nhà văn học, nhà văn hóa nghệ thuật, những ai đóng góp công sức cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam. Hôm nay đặc biệt còn có một buổi triển lãm tranh mini của các họa sĩ Hoàng Vinh, họa sĩ Hồ Thành Đức, họa sĩ Beky, họa sĩ Lưu Anh Tuấn… bên ngoài phòng hội trước khi diễn ra chương trình chính.”


GS. TS Tahara (người đầu tiên từ trái qua) hát Qua Cầu Gió Bay chung với Thụy Vy và Hậu Nguyễn. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Giáo sư Tiến sĩ Trần Quang Hải có mặt từ rất sớm để ký tặng sách cho mọi người, cùng xem tranh của các họa sĩ triển lãm bên ngoài phòng hội và chụp hình lưu niệm với bạn hữu, thân hữu, những khán giả yêu mến tài năng của ông. Nói về cảm xúc của mình, Giáo sư Trần Quang Hải chia sẻ, “Đây là chương trình rất đặc biệt và vinh dự cho tôi, là một người từ phương xa đến. Sự tiếp đãi rất nồng hậu, tất cả những cảm tình, sự tiếp đón của anh em trong cộng đồng đem lại cho tôi niềm vui, để tôi thấy rằng người Việt Nam vẫn còn yêu thương nhau. Đây là buổi giới thiệu quyển sách, là công trình nghiên cứu của tôi về nhạc dân tộc Việt trong 50 năm qua, như lĩnh vực hát đồng song thanh, không những phổ biến giọng hát, phổ biến dùng giọng hát để chữa bệnh, giúp những người câm có thể nói chuyện được mà không phải mổ, đó là những đóng góp rất nhỏ không chỉ trong âm nhạc mà nó liên hệ đến nhiều lĩnh vực khác nhau, và được gặp gỡ người đồng hương tại vùng Nam Cali sau 13 năm tôi mới trở lại gặp những người Việt sống tại đây.


GS. TS Trần Quang Hải chụp lưu niệm tại triển lãm tranh mini (Băng Huyền/ Viễn Đông)

“Tôi rất lấy làm vui mừng và hân hạnh được tiếp đón ở trường Đại Học Cal State Long Beach, là niềm vui cho tôi và tôi cũng chia sẻ niềm vui đó với cộng đồng người Việt tại California nói riêng và cho tất cả những người Việt của cộng đồng Việt Nam tại đất Mỹ này nói chung. Sự vinh danh này chỉ là cá nhân thôi, nhưng điều tôi thấy trường Đại Học Mỹ bắt đầu chú trọng về văn hóa Việt, đó là điểm son do sự đóng góp của rất nhiều những vị giáo sư mà chúng tôi được hân hạnh gặp và một số vị đã đóng góp một cách trực tiếp hay gián tiếp trong công trình xây dựng văn hóa Việt Nam ở hải ngoại.”


Các thành viên trình diễn tiết mục thời trang. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Sau khi thức khai mạc trang trọng với sự điều hợp của MC Thụy Vy, Ban Hợp Ca nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã gợi nhắc bao nỗi bồi hồi trong tim khán giả qua ca khúc Nắng Đẹp Miền Nam (Lam Phương) và bồi hồi nhiều suy nghiệm về cuộc đời về tình thương giữa người với nhau qua ca khúc Phút Chan Hòa (Thơ Trần Việt Hải, nhạc Hồng Tước).

Phần nghi thức vinh danh GS. TS Trần Quang Hải với GS Quyên Di của trường Cal State Long Beach, Bà Nguyễn Thế Thủy đại diện của Học Khu Westminster trao bằng tưởng lục đến GSTS Trần Quang Hải. GS Dương Ngọc Sum là cố vấn Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian cùng các cựu học sinh của trường Petrus Ký tặng quà lưu niệm cho GS Trần Quang Hải, là một cựu học sinh của Petrus Ký. Vài thành viên Nhóm Văn Thơ Lạc Việt tại San Jose đã tặng GS. TS Trần Quang Hải hai cuốn sách “Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” tiếng Việt và tiếng Anh do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian kết hợp cùng Nhóm Văn Thơ Lạc Việt tại San Jose thực hiện,

Những tiết mục phụ diễn văn nghệ đặc sắc

Những người mẫu không chuyên của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã trình diễn tiết mục Thời Trang Áo Dài Việt Nam Theo Dòng Thời Gian, dưới sự dẫn dắt dí dỏm của Giáo sư Quyên Di và cô Thủy Vân đã giới thiệu tên gọi, thời gian ra đời của từng bộ áo dài Ngũ Thân, áo dài Lemur/Cát Tường, áo dài Tứ thân/ Lê Phổ, áo dài Raglan/ Trần Kim, áo dài Trần Lệ Xuân…


GS Quyên Di giới thiệu ba sinh viên của mình lần lượt đọc lá thư của bà khoa trưởng gửi đến GS. TS Trần Quang Hải về lý do bà không có mặt trong buổi vinh danh. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Chương trình càng thêm đậm đà phong vị dân tộc với giọng hát của dược sĩ Thanh Mai qua ca khúc Rất Huế của Võ Tá Hân sáng tác, do chính nhạc sĩ Võ Tá Hân đệm guitar cho giọng hát của Thanh Mai. Giọng ca ngọt ngào của Ngọc Quỳnh hát “Dạ Cổ Hoài Lang” và nét duyên dáng, luyến láy, nhấn nhá từng câu chữ của ca sĩ Thúy Anh (Là – xướng ngôn viên, biên tập viên của chương trình radio Chiều Thứ Bảy) hát bài Mình Ơi Em Chẳng Cho Về của nhạc sĩ Anh Bằng, với tiếng đàn guitar của anh Nguyên Vũ.

Giáo sư Tiến Sĩ Hiroki Tahara, phó giám đốc Trung Tâm Giáo Dục Ngôn Ngữ Học tại đại học APU Nhật, không những nói, viết tiếng Việt rất lưu loát mà anh còn am hiểu văn hoá Việt rất sâu. Trong bộ áo dài cách điệu, anh cùng với MC Thụy Vy và ông Hậu Nguyễn là thành viên trong Ban Tổ Chức đã hát rất tình bài hát Qua Cầu Gió Bay.

Anh Hiroki Tahara đã tiết lộ với người viết, cách nay hơn 20 năm, hồi còn là sinh viên năm thứ nhất Cử nhân ngoại ngữ học tiếng Việt tại trường Đại Học Ngoại Ngữ Tokyo, anh đã từng tập hát bài Qua Cầu Gió Bay, hát chung với các sinh viên khoa tiếng Việt. Lần này tham dự trong chương trình, ban tổ chức đề nghị anh hát bài này, anh đã tập lại trong một tuần để hát. Anh rất thích bài hát này nên dù hai mươi mấy năm rồi vẫn chưa quên. Lúc còn sinh viên, anh hát nhưng hoàn toàn không hiểu ý nghĩa bài hát. Dù vậy bài hát để lại ấn tượng đẹp để anh nhớ hoài, anh rất thích câu hát “Tình tình tình gió bay… tình tình tình gió bay, vì âm điệu nên thơ.

Những giọng ca tài tử của các ca sĩ khách mời góp vui cho chương trình, bằng tài năng và sự duyên dáng của mình, họ đã giúp người nghe có mặt trong buổi diễn càng yêu cái chất thơ tinh tế vô cùng của dân ca, ca khúc mang âm hưởng dân ca của các nhạc sĩ, càng nghe lại càng thấm cái ý nhị đẹp đẽ trong nội dung câu hát, cái thanh lịch nhẹ nhàng, cái tình rất nồng đượm mà không vồn vã của người Việt Nam.

Diễn thuyết và trình diễn

Có lẽ tiết mục đặc biệt và nhận được những tràng pháo tay cùng những lời ngợi khen, hâm mộ từ những người tham dự nhiều nhất, chính là tiết mục diễn thuyết kết hợp trình diễn của Gíao sư Trần Quang Hải trong khoảng 20 phút.

Với lối nói chuyện hài hước và phong thái giản dị, mộc mạc, GS. TS Trần Quang Hải đã chia sẻ súc tích những nghiên cứu của ông về Nhạc Dân tộc xoay quanh hai công trình: Hát đồng song thanh, và đàn môi. Trong hai công trình ấy, Hát đồng song thanh là công trình mà ông dày công nghiên cứu nhiều nhất. Hát đồng song thanh, còn được biết đến trên thế giới với cái tên Tuvan Throat Singing, Khoomei (Khơ mây), Hooliin Chor.

Là một biến thể đặc biệt của hòa âm giọng hát, được hình thành và phát triển từ Mông Cổ, Nội Mông, Tuva và Siberia. Nó được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể năm 2009 dưới cái tên Nghệ thuật hát Mông Cổ, Khơ mây. Trong kĩ thuật hát này, người trình diễn sẽ tạo ra một cao độ cơ bản và đồng thời tạo ra thêm một cao độ khác cao hơn cùng lúc.

GS TS Trần Quang Hải ký tặng sách. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Công trình nghiên cứu Hát đồng song thanh của GS.TS Trần Quang Hải là một quá trình nghiên cứu, từ vị trí phát âm và các kỹ thuật hát của mỗi dân tộc trên thế giới, cho đến các lối hát đồng song thanh của các nước Tây Á và kiểu thức cầu kinh của các vị Lạt Ma- Tây Tạng. Từ cơ sở đó, ông phát triển và sáng tạo lối hát Đồng song thanh theo kiểu của riêng ông, mà hiện nay không những để biểu diễn âm nhạc mà còn ứng dụng vào lĩnh vực Y khoa.

Đây còn là cách điệu trị học cho các căng bệnh đứt dây thanh quản và khuyết tật về phát âm. Song song với diễn thuyết ông còn thể hiện tài nghệ độc đáo của mình minh họa các giọng hát bằng giọng ngực, minh họa bằng hát một đoạn ngắn opera. Giọng mũi, minh họa bằng hát bài nhạc cổ truyền Nhật Bản. Giọng óc, minh họa hát đoạn kinh kịch.

Giáo sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải giới thiệu cây đàn Môi của người Mông là một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Ông cho biết ông đã giới thiệu cây đàn Môi của người Mông cách nay 45 năm khắp nơi trên thế giới. Ông đã ngậm chiếc kèn nhỏ bé, bàn tay thoăn thoắt gảy kèn, đôi môi run run theo cảm xúc tạo nên những âm thanh trầm bỗng vang lên, rền rền thánh thót, tạo nên những âm thanh thật thú vị, mới mẻ về giai điệu, tiết tấu khiến mọi người hải trầm trồ thích thú.

Lúc đầu ông đánh đàn môi đơn giản trình diễn bài Happy Birthday To You, sau đó ông đàn lại bài này nhưng thêm tiết tấu vô, khiến bài hát nghe đặc sắc hơn. Ông còn dùng đàn môi để nói chuyện, ông nhép miệng nói không phát ra tiếng, nhưng thông qua đàn môi tiếng nhép miệng câu nói đó phát ra tròn câu rõ ràng, làm cho không khí cả khán phòng sôi động hẳn lên và không ngớt vang lên những tràng pháo tay thán phục. Kết thúc phần trình diễn của mình, ông nhận lời đề nghị của MC Thụy Vy, đã nhái lại giọng của người chú là nghệ sĩ Trần Văn Trạch, hát lại bài Sổ Xố Kiến Thiết Quốc Gia trong tiếng vỗ tay giòn giã của khán giả.
Có mặt trong chương trình, GS Lê Văn Khoa đã chia sẻ với nhật báo Viễn Đông, “Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian là nhóm tập hợp một số anh em yêu thích nghệ thuật và văn chương, không phải là những nhà văn lớn, những nghệ sĩ lớn, nhưng họ yêu thích và đã làm được. Đây là điều rất quý. Anh Việt Hải là người sáng lập ra nhóm, rất có lòng, đã thúc đẩy anh em làm nhiều sách. Họ đang có danh sách dài để ra mắt sách suốt năm tới, chứ không chỉ trong năm nay thôi đâu. Đây là điều mừng.

“Người Việt ra nước ngoài cũng có ước vọng làm sao để văn hóa, nghệ thuật của mình vươn lên, thành ra họ tiếp tục sinh hoạt. Mình ở ngoài nước, vẫn làm được. Thì như vậy, theo tôi, văn hóa và nghệ thuật Việt Nam sẽ càng rộng lớn hơn, và nó không nằm dưới một chiêu bài, sự chỉ huy của người nào cả. Vì đó là dân tộc, chứ không phải là cá nhân. Đây là ý của tôi. Còn anh Trần Quang Hải thì tôi có biết anh lâu rồi, thỉnh thoảng gặp nhau mỗi lần anh bên Pháp qua, thỉnh thoảng chúng tôi có gặp nhau.

“Thân phụ của ông Trần Quang Hải là Trần Văn Khê, là người tôi rất kính quý, là người có tâm hồn về nhạc chính thống Việt Nam và họ muốn phát huy. Nhưng cái mình làm rộng rãi hơn hết, đem nhạc Việt đi phổ biến trong những buổi diễn thuyết khắp thế giới, thì tôi nghĩ người Việt không có ai làm được tương xứng như anh Trần Quang Hải đâu.

“Chúng ta rất hãnh diện có những nhân tài đó trong cộng đồng Việt Nam chúng ta và tôi hy vọng mọi người sẽ tiếp trợ, làm sao để thế hệ sau này còn vươn xa nữa, để đưa nhạc Việt chúng ta đi rộng ra trên thế giới.”
Giáo sư Tiến Sĩ Hiroki Tahara thì bày tỏ, “Tahara rất vui vì được ngồi chung với những bạn Việt Nam của cộng đồng người Việt hải ngoại tại Nam Cali. Bản thân tôi rất thích hát bài Qua Cầu Gió Bay, và được hát trước mặt Giáo sư Tiến sĩ Trần Quang Hải là một vinh dự đối với tôi.”

Anh cũng nêu lên suy nghĩ và mong ước của mình, “Điều hơi buồn là sao chương trình này toàn người già, tôi năm nay 47 tuổi, không phải người trẻ. Đáng lẽ chương trình như thế này phải có thanh niên ngoài 20, dự thật đông. Lẽ ra phải có thanh niên tham gia vào ban tổ chức để rút kinh nghiệm cách tổ chức, cách tiếp khách, cách biểu diễn. Vì không có người trẻ sẽ không có người kế thừa, vì người già đến tuổi phải về hưu, nghỉ ngơi, không có người trẻ kế thừa thì tiếc lắm.”

Kết thúc buổi diễn, các thành viên trong ban Hợp Ca, Ban Tổ Chức, GS. TS Trần Quang Hải, GS Dương Ngọc Sum… và các khán giả đã cùng hát vang ca khúc “Và ConTim Đã Vui Trở Lại” (Đức Huy) như một sự cổ vũ về sự lạc quan, phấn khởi và luôn trong tư thế chủ động hướng đến sống tích cực, là thông điệp ca khúc của nhạc sĩ Đức Huy gửi đến người nghe và cũng là điều mà Ban Tổ Chức mong muốn GS. TS Trần Quang Hải và một vài thành viên trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đang bị bệnh nan y. Mong các vị ấy sẽ sớm chữa trị thành công, hồi phục và vui khỏe để tiếp tục những công trình văn hóa nghệ thuật đang thực hiện, góp vào vườn hoa Việt Nam những bông hoa tươi thắm.

Hà Nội, âm nhạc truyền thống và Miranda Arana


Hà Nội, âm nhạc truyền thống và Miranda Arana

NDĐT – Đến Hà Nội từ cách đây 16 năm, cô gái trẻ Mỹ đã để lại ấn tượng bởi những ý kiến đột phá và thẳng thắn về âm nhạc dân tộc Việt Nam. 16 năm sau, với áo dài, đàn tranh và một công trình nghiên cứu được in thành sách mang tên “Nhạc dân tộc cải biên Việt Nam”, và Hà Nội là một dấu ấn đẹp đẽ trong đời chị. Chị là Miranda Arana.

Cuộc trò chuyện của chúng tôi với chị ở Hà Nội khi thành phố đang chuẩn bị đón chào đại lễ kỷ niệm 1000 năm tuổi.

– Chị đã từng ở Việt Nam trong bao lâu? Phải nói là Hà Nội chứ! Tôi ở đây từ năm 1992 – 1994 khi làm việc cùng các tình nguyện viên châu Á, dạy tiếng Anh cho sinh viên một số trường đại học ở Hà Nội và nghiên cứu âm nhạc.

– Lần đầu đến Hà Nội, chị có ấn tượng thế nào về thành phố này? – Với tôi, Hà Nội rất đẹp với rất nhiều hồ, kiến trúc Pháp cổ, những ngôi chùa, khu chợ và các con phố toàn xe đạp. Bạn biết đấy, thời điểm đó xe đạp là phương tiện di chuyển chủ yếu của người Hà Nội mà.

– Thế còn cuộc sống ở nơi đây thì sao? – Hồi ấy, thỉnh thoảng tôi vẫn bắt gặp những cụ già và cháu bé xúng xính trong những bộ cánh rất cổ truyền. Rồi còn cách mọi người đi trên phố, làm thế nào mà họ có thể di chuyển được giữa một dòng xe cộ náo nhiệt và chật cứng đến vậy? Nhưng dạo chơi khắp phố phường bằng xe đạp thật thú vị, tôi có thể ghé vào một quán cà phê ven hồ và ngồi đó cả ngày ngắm nhìn mọi người đi lại. À, tôi còn rất thích những gánh hàng rong với đủ món ngon Hà Nội nữa!

– Thế thì chắc là chị được thưởng thức nhiều đặc sản ở Hà Nội lắm nhỉ? – Có thể bạn sẽ buồn cười, nhưng tôi thích nhất là quà vặt ăn sáng ở Hà Nội. Tào phớ với nước đường cho thêm chút gừng này, đủ các thứ xôi – xôi lạc, xôi đậu, xôi ngô…, lại còn phở nữa chứ! – Thế còn người Hà Nội thì sao?

– Tôi rất thích sự nghị lực của con người Hà Nội. Ai cũng thân thiện và cầu tiến. Tôi có cảm giác lúc nào họ cũng hăng hái học và tiếp nhận những thứ mới, những thử thách mới để cải thiện cuộc sống sau nhiều năm vất vả. Những nghệ sĩ mà tôi từng gặp rất say mê loại nghệ thuật mà mình đeo đuổi, họ thực sự tự hào về lịch sử và văn hóa của nước mình.

– Chắc chị có bạn thân ở Hà Nội chứ nhỉ? – Ồ, có chứ, nhiều là đằng khác. Những người bạn của tôi rất hay và thông minh, như Bùi Trọng Hiền chẳng hạn. Nhờ có anh ấy mà tôi biết nhiều hơn về âm nhạc cổ truyền Việt Nam, điều mà thực sự nhiều người ngoại quốc rất mơ hồ. Anh đã truyền tình yêu với cổ nhạc Việt cho tôi và điều ấy đã khích lệ tôi rất nhiều để hiểu hơn về âm nhạc, lịch sử và văn hóa của quê hương anh.

– Tại sao chị lại chọn một đề tài rất “hóc” là nhạc dân tộc cải biên để làm luận văn thạc sĩ của mình? – Chuyện kể ra cũng khá dài. Tôi từng có thời gian làm việc tại trại tị nạn của những người Indonesia tại Philippines. Ở đấy, tôi có cơ hội học tiếng Việt và tiếp xúc với một số gia đình nghệ nhân. Vì vậy tôi đã biết đến đàn tranh và lần đầu tiên được nghe những giai điệu của đất nước Việt Nam. Vì thế, khi đến Hà Nội, việc đầu tiên của tôi là tìm gặp các nghệ sĩ chơi nhạc dân tộc. Nhưng sau mấy tháng vật lộn tìm hiểu nhiều nhóm biểu diễn nhạc dân tộc, tôi khá nản lòng vì nó không giống cái tôi cần tìm. Khi tôi gặp Giáo sư Tô Ngọc Thanh và anh Bùi trọng Hiền, mọi thứ đã thay đổi. Hai người giới thiệu tôi đến gặp những người có thể dạy tôi thứ âm nhạc mà tôi thực sự muốn học. Đó cũng là lúc tôi nhận ra ở đây có hai giới rất khác biệt: âm nhạc dân tộc của những người được đào tạo trong nhà trường và âm nhạc của những nghệ nhân dân gian. Điều đó đã thôi thúc tôi phải tìm hiểu.

– Chị có biết là quan điểm của chị vào những năm 1994 rất gây tranh cãi, nhưng đến giờ nó lại là một thực tế hiển nhiên được công nhận. Vào thời điểm đó bản tham luận của chị rất nổi tiếng trong dư luận âm nhạc Việt Nam. Hiện nay vẫn còn rất nhiều người nhắc đến chị và sự kiện hội thảo quốc tế năm 1994. Chị nghĩ sao về thông tin này? – Tôi thực sự rất vui khi nghe tin này. Nhưng có sự thay đổi quan điểm như bây giờ chắc chắn không phải do tôi, bởi ở Việt Nam có rất nhiều người tâm huyết với cổ nhạc. Họ sẽ làm việc hết mình để tìm lại vị trí thực sự cho các nghệ nhân cổ nhạc. Tôi “gây sốc” chỉ vì ở thời đấy, quan điểm của một người ngoại quốc về âm nhạc Việt Nam sẽ bị nhìn nhận với con mắt nghiêm khắc, nhạy cảm và khiến nhiều người ủng hộ nhạc dân tộc cải biên tổn thương.

– Trong các thể loại âm nhạc cổ truyền Việt Nam, chị thích loại nào nhất? – Tôi thích nhạc Tài tử- Cải lương bởi nó có thang âm và giai điệu rất đẹp, hay nhất là tính ngẫu hứng ứng tác đầy cảm xúc. Ca trù với tôi nghe rất lạ nhưng lại gây ấn tượng mạnh. Đấy là lý do khiến tôi rất hay lui tới câu lạc bộ ca trù ở Hà Nội để nghe hát. Tôi còn rất thích nghe bà Hà Thị Cầu hát Xẩm nữa.

– Ngoài đàn tranh, chị còn biết chơi nhạc cụ nào của Việt Nam nữa? – Tôi có thể thổi sáo trúc. Nhưng tôi muốn kể thêm về việc tại sao mình học đàn tranh. Ý định này đến với tôi khi bắt gặp một cây đàn tranh được bán cùng mấy mớ rau và vài bộ quần áo cũ ở khu chợ Philippines gần trại tị nạn. Lúc đầu tôi chỉ biết chút thôi, nhưng khi đến Việt Nam, tôi đã được những người thầy nghệ nhân ở đây hướng dẫn rất nhiều. Họ coi tôi như con trong gia đình vậy. Có thể vì thế mà đến giờ tôi vẫn không thể nào quên những kỷ niệm thân thương gắn liền với cây đàn tranh và những người thầy của mình.

– Nghe nói chồng chị là người mang trong mình nửa dòng máu Việt Nam? – Đúng vậy, anh ấy tuy sinh ở Việt Nam nhưng lại lớn lên ở Oklahoma nên không rành về văn hóa Việt Nam và không biết nói tiếng Việt. Trong khi tôi, một cô gái Mỹ lại làm được điều ấy. Vì thế, khi đến với anh và gặp mẹ anh, một người Việt Nam, tôi thực sự rất vui. Hai mẹ con tôi rất hợp nhau và tôi hiểu bà đã hạnh phúc thế nào khi con dâu của mình có một chút liên hệ với văn hóa quê hương bà.

– Hình như trong đám cưới chị chú rể mặc áo the khăn xếp, còn cô dâu thì mặc áo dài Việt Nam. Tại sao chị lại chọn trang phục này trong đám cưới của mình vậy? – Bởi áo dài Việt Nam thực sự rất đẹp! Lễ cưới của chúng tôi diễn ra tại một ngôi chùa thay vì nhà thờ. Mùi hương trầm, tiếng chuông chùa và giọng tụng kinh của các vị sư luôn khiến cho tôi cảm thấy thanh thản.

– Cô con gái yêu của chị có được mẹ truyền cho một chút âm nhạc Việt Nam nào không? – Con bé đã xem tôi biểu diễn rất nhiều loại nhạc cụ và nghe nhạc nhẹ Việt Nam khi ở với bà. Tôi còn từng biểu diễn đàn tranh và sáo trúc rất nhiều lần ở trường cháu nữa. Nhưng giờ con bé học piano vì được bà ngoại tặng cho một cái rất đẹp.

– Hiện đang làm giảng viên tại đại học Oklahoma, chị có lớp học nào dạy về âm nhạc Việt Nam cho sinh viên không? – Tôi có dạy một khóa giới thiệu về âm nhạc các dân tộc trên thế giới. Đôi khi, xen kẽ các bài giảng tôi có nói đến Việt Nam. Tuy nhiên, tôi có cảm giác rằng mình đã dành quá nhiều thời gian vào nghiên cứu nhạc dân tộc cải biên Việt Nam nên chưa trang bị đủ kiến thức để dạy về âm nhạc cổ truyền của đất Việt. Tuy nhiên, cổ nhạc Việt Nam thực sự cho tôi rất nhiều cảm xúc và chỉ muốn giữ nó cho riêng mình.

– Chị sẽ quay lại Việt Nam trong thời gian tới chứ? – Có chứ, tôi thực sự muốn quay trở lại việt nam cùng gia đình mình. Đó là mơ ước của tôi. – Cám ơn chị! Hòa tấu cổ nhạc cùng nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền (1993) (ảnh: Bùi Trọng Hiền). Cây đàn tranh vẫn gắn bó với Miranda cho đến tận bây giờ.

https://baomoi.com/ha-noi-am-nhac-truyen-thong-va-miranda-arana/c/4892125.epi

 

This blog is focused on Trân Quang Hai