Ngọc Tài : Nhạc sư Vĩnh Bảo về Đồng Tháp sinh sống


29/05/2018 08:13 GMT+7

TTO – Ngày 28-5, nhạc sư Vĩnh Bảo (101 tuổi) đã về Đồng Tháp sinh sống trong ngôi nhà do chính quyền tỉnh Đồng Tháp vận động một số doanh nghiệp và gia đình cùng nhau đóng góp.

Nhạc sư Vĩnh Bảo về Đồng Tháp sinh sống - Ảnh 1.

Trở về quê cha đất tổ sinh sống là mong muốn của nhạc sư Vĩnh Bảo – Ảnh: NGỌC TÀI

Ngôi nhà nằm trên đường Đinh Bộ Lĩnh, phường 4, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, rộng hơn 200m2, nằm bên một con kênh nhỏ, khá mát mẻ và yên tĩnh. Cao Lãnh cũng là quê hương nơi nhạc sư lớn lên.

Nhạc sư Vĩnh Bảo rất vui khi được trở về sống tại quê xưa. Chiều cùng ngày, nhiều học trò của nhạc sư cũng tìm đến nhà mừng thầy được toại ý nguyện.

Nhạc sư Vĩnh Bảo về Đồng Tháp sinh sống - Ảnh 2.

Nhạc sư và học trò say sưa đờn ca tài tử trong gian nhà mới – Ảnh: NGỌC TÀI

Bí thư tỉnh Đồng Tháp Lê Minh Hoan cũng đến dự và chia vui cùng nhạc sư. Ông Hoan cho biết, việc tạo điều kiện để nhạc sư trở về quê cha đất tổ vừa là sự trân trọng tài năng, tôn vinh nhân vật đã dành cả cuộc đời cống hiến cho âm nhạc dân tộc, mong muốn nơi đây sẽ tiếp tục lưu giữ những giá trị văn hóa cổ truyền, nơi các thế hệ trẻ, giao lưu phát huy tinh hoa âm nhạc của dân tộc.

Nhạc sư Vĩnh Bảo về Đồng Tháp sinh sống - Ảnh 3.

Bí thư tỉnh Đồng Tháp Lê Minh Hoan đến chia vui cùng nhạc sư Vĩnh Bảo – Ảnh: NGỌC TÀI

Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp cũng dành một gian nhà lưu niệm để trưng bày các nhạc cụ, kỷ vật và tài liệu của nhạc sư tặng. Nhà lưu niệm đang trong quá trình hoàn tất và sẽ cho những người yêu âm nhạc truyền thống, tham quan trong thời gian tới.

Nhạc sư Vĩnh Bảo tên thật là Nguyễn Vĩnh Bảo, sinh năm 1918 tại Cao Lãnh, Sa Đéc. Từ lúc tuổi lên 5, ông đã tiếp xúc với âm nhạc dân tộc và đến 10 tuổi đã biết chơi rất nhiều nhạc cụ dân tộc.

Năm 1955-1964, ông dạy đàn tranh và là trưởng ban nhạc cổ miền Nam tại Trường quốc gia Âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn.

Ông đi diễn thuyết và trình tấu âm nhạc dân tộc VN nhiều nơi trên thế giới.

Năm 1972, ông ghi âm đĩa Nhạc tài tử Nam Bộ cùng GS.TS Trần Văn Khê cho hãng Ocora và UNESCO tại Paris. Năm 1970-1972, ông là giáo sư thỉnh giảng đàn tranh tại Đại học Illinois (Mỹ).

Ông đã nhận giải thưởng Đào Tấn, được Chính phủ Pháp tặng Huy chương nghệ thuật và văn học cấp bậc Officier…

Nhạc sư Vĩnh Bảo - người thầy tận tụy tròn trăm tuổi Nhạc sư Vĩnh Bảo – người thầy tận tụy tròn trăm tuổi

TTO – Sáng 23-12, Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy âm nhạc dân tộc đã tổ chức buổi lễ ấm cúng mừng đại thọ nhạc sư Vĩnh Bảo tròn 100 tuổi.

 

Ca sĩ Tâm Vấn, hiền thê Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, qua đời


Ca sĩ Tâm Vấn, hiền thê Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, qua đời

Ca sĩ Tâm Vấn. (Hình: Cắt từ clip/Youtube)

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Ca sĩ Tâm Vấn, hiền thê của Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, vừa qua đời lúc 9 giờ tối (giờ địa phương) Thứ Ba, 3 Tháng Bảy, tại Sài Gòn, hưởng thọ 85 tuổi.

Tin này được nhạc sĩ Hoàng Trọng Thụy, con trai của bà, xác nhận với nhật báo Người Việt.

Nhạc sĩ cho biết, thân mẫu ông tên thật là Dương Thị Vân, sinh ngày 16 Tháng Bảy, 1934 tại Hà Nội, và bà qua đời vì tuổi già.

Tên tuổi của ca sĩ Tâm Vấn một thời được biết đến trong các buổi phát sóng của đài phát thanh Hà Nội, đài phát thanh Pháp Á, đài vô tuyến Việt Nam, qua các nhạc phẩm như Thu Vàng, Mơ Hoa, Ngày Về, và Gái Xuân.

Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế là một trong những lãnh đạo Mặt Trận Dân Tộc Tiến Bộ và Cao Trào Nhân Bản Việt Nam, và hiện đang sống ở Sài Gòn.

Theo Wikipedia, tên Dương Thị Vân của cố ca sĩ bị húy kỵ với người trong họ ngoại, nên gọi trại đi là Vấn. Khi đi học bị các bạn chọc ghẹo vì tên nghe như “vấn thuốc lá,” nên Vấn đề nghị bạn bè gọi mình là “Tâm,” một cái tên mà bà yêu thích.

https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/ca-si-tam-van-qua-doi/

ca khúc Mừng Phật Đản (nhạc và lời Trần Quang Hải) do Ngọc Huyền, Trọng Nghĩa, Vân Khánh, Tuấn Anh trình bày


T.GIANG : Cố GS-TS Trần Văn Khê qua lời kể của học trò, 21.06.2018


Cố GS-TS Trần Văn Khê qua lời kể của học trò
(PLO)- Đúng 3 năm ngày mất của cố GS-TS Trần Văn Khê (24-6-2015 – 24-6-2018), đông đảo thế hệ học trò, những người yêu kính giáo sư Khê sẽ tề tựu về quê hương Vĩnh Kim (Tiền Giang) để tham dự ngày giỗ của ông.
(Cố GS-TS Trần Văn Khê giới thiệu về diễn giả Hồ Nhựt Quang được quay khi ông đang ở bệnh viện Nhân Dân Gia Định, ngày 10-9-2014. Clip: Nguyễn Phước thực hiện)

Cố GS-TS Trần Văn Khê qua lời kể của học trò - ảnh 1Cố GS-TS Trần Văn Khê và diễn giả Hồ Nhựt Quang tại chương trình Trang phục Nam Bộ qua thi ca. 

Chúng tôi kết nối với diễn giả văn hóa Hồ Nhựt Quang – Chủ nhiệm CLB Nghiên cứu và Vinh danh văn hóa Nam Bộ, người từng được cố giáo sư nhận làm môn sinh và truyền lửa tình yêu văn hóa cổ truyền để nghe anh chia sẻ về khoảng thời gian làm việc cùng thầy.

. PV: Là một người được đào tạo về du lịch, nhưng anh lại có niềm đam mê văn hóa cổ truyền dân tộc, và được cố GS-TS Trần Văn Khê nhận làm học trò, anh có thể cho biết duyên cớ nào đưa anh gặp thầy?

+ Diễn giả văn hóa Hồ Nhựt Quang: Tôi may mắn được gặp cố GS-TS Trần Văn Khê vào năm 1995, lúc thầy về Việt Nam và có buổi nói chuyện với sinh viên trường ĐH KHXH&NV TP.HCM về chủ đề “Nghệ thuật khóc và cười trên sân khấu”. Sinh viên chúng tôi rất thích thú nghe thầy giảng giải. Lúc thầy bước ra khỏi giảng đường, tôi đã đến hỏi thầy về phương pháp nghiên cứu văn hóa cổ truyền Việt Nam và làm sao để có thể có được một trí nhớ tốt như thầy. Thầy đã tận tình chỉ bảo và giúp tôi có được những bài học bổ ích.

Sau khi biết thầy về Việt Nam từ năm 2006, thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt nói chuyện về âm nhạc và văn hóa tại nhà, tôi sắp xếp công việc để có thể tham dự nhằm nâng cao kiến thức và bước vào con đường nghiên cứu văn hóa.

Bắt đầu từ ngày 12-9-2014, CLB Nghiên cứu và Vinh danh văn hóa Nam Bộ chính thức được ra đời từ sự hướng dẫn tận tình của thầy. Tôi được thầy tin tưởng giao vai trò chủ nhiệm CLB và mang những kiến thức mình học được giới thiệu trước công chúng.

Cố GS-TS Trần Văn Khê qua lời kể của học trò - ảnh 2 Diễn giả Hồ Nhựt Quang hướng dẫn các em học sinh trường THPT Nguyễn Văn Linh (quận 8, TP.HCM) cách bài trí đồ cúng trên một bàn thờ.

. Thọ giáo một người thầy 93 tuổi vẫn say sưa với văn hóa và âm nhạc dân tộc, chúng tôi nghĩ rằng anh sẽ có rất nhiều kỷ niệm đẹp về tình thầy trò. Anh có thể chia sẻ về điều đó?

+ Lúc thầy nằm viện vì bệnh nặng cũng là lúc tôi sắp làm chương trình đầu tiên. Thầy đề nghị tôi đưa người quay phim vào phòng bệnh để quay đoạn phim thầy giới thiệu chiếu lên màn hình cho khách mời xem, tuyệt đối không được hủy chương trình.

Những ngày cuối đời, cũng tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, thầy đã nói về hát bội cho tôi nghe khi đang phải thở oxy. Mặc dù tôi khuyên thầy cố gắng tịnh dưỡng nhưng thầy ngắt lời tôi và nói: “Thầy thương con vì những kiến thức con nghiên cứu và chia sẻ cho mọi người là những kiến thức rất quý về văn hóa truyền thống Việt Nam. Con làm không vì danh lợi mà xuất phát từ tình cảm tha thiết với quê hương nên thầy rất thương con!”.

. Sau ngày GS Khê qua đời, CLB của anh hoạt động ra sao, có gặp những khó khăn gì?

+ Chúng tôi vẫn nhớ lời dạy của thầy mà tiếp tục nghiên cứu và thực hiện vinh danh văn hóa tại nhiều trường học THPT, trường ĐH, doanh nghiệp, bảo tàng, khu di tích… và được công chúng nhiệt liệt đón nhận, nhất là các bạn trẻ.

Khó khăn thì rất nhiều nhưng chúng tôi tâm niệm thầy của chúng tôi một đời đấu tranh với nỗi buồn tuổi thơ bất hạnh mồ côi, tuổi già đấu tranh với bệnh tật mà vẫn miệt mài và vui với công tác nghiên cứu tôn vinh văn hóa nghệ thuật dân tộc Việt Nam thì khó khăn của chúng tôi cũng chỉ là hạt muối bỏ biển mà thôi.

Cố GS-TS Trần Văn Khê qua lời kể của học trò - ảnh 3Diễn giả Hồ Nhựt Quang cùng các em học sinh trường THPT Trần Quang Khải (quận 11, TP.HCM) trình diễn một tiết mục sân khấu hóa lịch sử.

. Tới đây là ngày giỗ của thầy, CLB của anh có tổ chức chương trình gì không?

+ Năm nào cũng vậy, đúng ngày giỗ của thầy (24-6), chúng tôi đều đưa các thành viên CLB và những người yêu kính thầy về Vĩnh Kim (Tiền Giang), nơi thầy được sinh ra để tham dự ngày giỗ.

Tại đây, chương trình được tổ chức không đơn thuần là lễ giỗ mà còn là ngày hội văn hóa với đàn ca tài tử, thuyết trình văn hóa hoặc biểu diễn các tiết mục sân khấu hóa lịch sử. Ngoài ra, chúng tôi còn tổ chức lễ kỷ niệm thầy tại TP.HCM để những ai không có thời gian về Vĩnh Kim có thể tham dự.

. Xin trân trọng cảm ơn anh. Chúc anh cùng các thành viên CLB luôn mạnh khỏe và thành công hơn nữa.

T.GIANG

Thanh Hiệp : GS-TS Trần Quang Hải: “Bạch Yến mang lại nguồn sống cho tôi” , 22.06.2018


22/06/2018 10:13

(NLĐO)- GS-TS Trần Quang Hải và nữ danh ca Bạch Yến vừa tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm ngày cưới tại Paris-Pháp. Ông nói bà chính là nguồn sống để ông vượt qua căn bệnh ung thư máu.

GS-TS Trần Quang Hải: Bạch Yến mang lại nguồn sống cho tôi - Ảnh 1.

GS-TS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến

Trong lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành hôn, gia đình, bạn bè, người thân và rất nhiều thế hệ học trò của GS-TS Trần Quang Hải dành tặng ông và nữ danh ca Bạch Yến nhiều lời chúc tốt đẹp. GS Phương Oanh nói: “Anh chị là cặp đôi đẹp nhất trong làng văn nghệ mà chúng tôi biết. 40 năm qua, cả hai đã song hành, cùng mang đến cho khán thính giả nhiều quốc gia trên thế giới rất nhiều dư vị đẹp về âm nhạc dân tộc, về kiến thức văn hóa nghệ thuật, âm nhạc thế giới, nhất là nghệ thuật gõ muỗng, chơi kèn lá độc đáo” – vị nhạc trưởng Trung tâm Phương Ca Paris – Pháp chia sẻ.

Với các nghệ sĩ sân khấu, NS Hà Mỹ Xuân nói: “Tôi xúc động lắm khi chúng tôi thành lập Hội Sân khấu cải lương Về nguồn tại Paris năm 2013, GS-TS Trần Quang Hải đã đến tham dự, chúc mừng. Tại lễ tưởng niệm 100 ngày mất của GS-TS Trần Văn Khê, anh và chị cũng đã đến tham dự, phát biểu hết sức xúc động về cha mình. Tiếp nối sau thầy Khê, anh là người giữ lửa cho âm nhạc dân tộc Việt Nam trên xứ người luôn tỏa sáng” – nữ nghệ sĩ nổi tiếng với vai diễn Trưng Nhị trong vở “Tiếng trống Mê Linh” tâm sự.

GS-TS Trần Quang Hải: Bạch Yến mang lại nguồn sống cho tôi - Ảnh 2.

GS-TS Trần Quang Hải và nữ danh ca Bạch Yến

Riêng đối với GS-TS Trần Quang Hải, ông nói: “Khi biết mình bị ung thư máu, thời gian đầu tôi rất sốc. Cứ nghĩ sẽ không còn đủ thì giờ làm những việc cần làm cho bản thân, cho sự nghiệp. Nhưng bên cạnh tôi đã có Bạch Yến, người vợ hiền, người bạn chí cốt đồng hành cùng tôi qua biết bao gian nan, khó nhọc, đã động viên, an ủi để tôi có đủ nghị lực và nguồn sống mới, đối diện với bệnh tật và tìm phương thức điều trị. Bạch Yến lo lắng chu đáo cho tôi từng bữa ăn, giấc ngủ, lên kế hoạch để chúng tôi tiếp tục làm những công việc cần thiết. Nhờ đó, tôi đã vượt qua, vẫn đi dạy, nói chuyện về âm nhạc dân tộc và biểu diễn giao lưu với bạn bè, khán giả quốc tế. kỷ niệm 40 năm ngày thành hôn là dấu mốc quan trọng với đời người. Bạch Yến đã mang lại nguồn sống cho tôi, giúp tôi vượt qua tâm bệnh để vui sống” – GS-TS Trần Quang Hải chia sẻ.

GS-TS Trần Quang Hải: Bạch Yến mang lại nguồn sống cho tôi - Ảnh 3.

Niềm vui của nữ danh Bạch Yến hiện nay là chăm sóc chồng, giúp ông vượt qua căn bệnh hiểm nghèo

Ông còn cho biết hai bài thơ mà ông và bà viết cho nhau trong ngày kỷ niệm 40 năm chung sống: “Tôi đã xướng thơ kỷ niệm 40 năm thành hôn vào ngày 17-6 như sau:

Bốn mươi năm hạnh phúc bên nhau

Kỷ niệm hôm nay lắm ngọt ngào

Chồng vợ ngày ngày chung cuộc sống

Tình yêu gìn giữ suốt đời sau!

Và Bạch Yến đã hoạ lại, cũng vào ngày 17-6:

Đã bốn mươi năm diễn với nhau,

Nhờ ca đàn hát bạn đông ngào

Năm châu bốn biển không chùn bước

Mong mãi còn vui tới kiếp sau”.

GS-TS Trần Quang Hải cho biết 24-6 sẽ là ngày giỗ lần thứ 3 của cha mình là GS-TS Trần Văn Khê.

Thanh Hiệp (ảnh do NSCC

Em kính chúc anh chị Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến luôn hạnh phúc ! Chị mãi là điểm tựa của anh trong cuộc sống, giúp anh vượt qua những gian nan trong thời gian điều trị bệnh. 40 năm một chặng đường hạnh phúc! Ngưỡng mộ anh chị ! (Thanh Hiệp)

Trần Đình Ba: NHÀ BÁC HỌC: TRƯƠNG VĨNH KÝ


truong vinh ky portrait.jpg

NHÀ BÁC HỌC: TRƯƠNG VĨNH KÝ

– Danh nhân văn hoá của dân tộc . Tên khai sinh: Trương Chánh Ký , sau đổi là Trương Vĩnh Ký , tự là Sĩ Tải , tên thánh: Jean Baptiste Pétrus . Quê ở làng Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).
– Mồ côi cha rất sớm, Trương Vĩnh Ký lần lượt được các linh mục như Cố Tám, Cố Long nuôi dưỡng, dạy dỗ. Ong học hai năm ở giaó đường Cái Nhum, ba năm ở trường đạo Pônhalư (Campuchia) và tám năm ở chủng viện Dulaima ( Penang, Malaisia).
– Tại những nơi này, đặc biệt là ở Dulaima, ông được học với nhiều thầy giỏi và tiếp xúc với bạn học ở nhiều nước khác nhau. Với trí thông minh phi thường, với tinh thần cần cù hiếm thấy, Trương Vĩnh Ký luôn luôn là một học sinh xuất sắc toàn diện. Riêng về ngoại ngữ, lúc mới 22 tuổi (năm 1859) ông đã có thể sử dụng thông thạo 15 ngôn ngữ phương Tây và 11 ngôn ngữ phương Đông.
– Năm 1860, ông nhận lời làm phiên dịch cho Pháp.
– Năm 1863, là thành viên của phái đoàn Phan Thanh Giản sang Pháp. Sau khi về nước, ông hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và báo chí. Năm 1866, làm hiệu trưởng trường đào tạo thông dịch viên ở Sài Gòn. Năm 1869 làm chủ nhiệm Gia Định báo.
– Năm 1886 được toàn quyền Paul Bert vốn là giáo sư đại học Bordeaux, viện sĩ viện hàn lâm Pháp mà ông đã kết giao thân mật từ chuyến đi Pháp cử làm cố vấn cho vua Đồng Khánh với tư cách Hàn lâm viện thị giảng học sĩ. Ông đã tham mưu cho nhà vua làm một số điều ích quốc lợi dân (đào kinh Mang Cá ở Huế, đắp đường ở Quảng Nam v.v…). Dù được mời mọc, ông cũng không chịu nhập quốc tịch Pháp cũng như không nhận những chức vụ cao trong bộ máy hành chính của Pháp.
– Những năm cuối đời, ông chuyên tâm dạy học và viết sách. Ông đã góp phần đào tạo cho đất nước hàng ngàn trí thức trẻ và để lại cho kho tàng văn hóa dân tộc và nhân loại hơn 120 tác phẩm về nhiều chuyên ngành: ngôn ngữ, lịch sử, địa lý, pháp luật, kinh tế, chính trị, sinh học, văn học v.v… Những công trình này đã có tác dụng khai sáng cho thế hệ trẻ, mở mang sự hiểu biết: hiểu biết thiên nhiên, hiểu biết xã hội, hiểu biết con người.
– Học giả Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố đã nhận xét: “Khi lướt qua danh mục những tác phẩm của Pétrus Ký, những tác phẩm này khiến người ta phải ngạc nhiên và gần như khiếp đảm bởi số lượng và tính đa dạng của chúng” (Bulletin de I’Enseignement mutuel du Tonkin. Tập 17 ngày 1.6.1943).
– Trương Vĩnh Ký đặc biệt quan tâm đến việc bước đầu hoàn thiện và phổ biến chữ quốc ngữ. Với tầm nhìn hết sức sáng suốt, ông thấy rõ giá trị, tác dụng vô cùng lớn lao của công cụ biểu đạt này, nên đã mạnh dạng đưa nó thóat khỏi bốn bức tường kín của tu viện và đặt nó giữa lòng cuộc sống, trước hết là trường học (Trường thông ngôn Sài Gòn mà ông là Hiệu trưởng) và báo chí (Gia Định báo, tờ báo đầu tiên của nước ta mà ông là chủ bút).
– Lúc sinh thời, Trương Vĩnh Ký được giới khoa học Châu Âu tôn trọng, đánh giá rất cao. Ông được mời làm hội viên các hội Nhân chủng học, Địa lý Paris, Giáo dục nhân văn và khoa học… Năm 1874, ông được phong Giáo sư ngôn ngữ Á Đông và được tôn vinh là một trong mười tám “toàn cầu bác học danh giá” ngang với những tên tuổi lẫy lừng của phương Tây thời đại đó.
– Nhân dân ta kính trọng ông – một nhà bác học, một nhà giáo dục, một nhà văn hóa lớn vừa có nhân cách trong sạch cao thượng vừa có chân tài. Lịch sử đã và sẽ tiếp tục ghi nhận công lao của Trương Vĩnh Ký với tư cách người đi tiên phong trong công cuộc chuẩn bị duy tân cho đất nước.

Năm học 1997-1998, trường ta được thành lập và vinh dự được mang tên ông. Do sự cố gắng của mọi thành viên, trường phát triển một cách vững chắc, tạo được uy tín trong xã hội ngày càng sâu rộng. Năm học 2001-2002, nhân dịp khánh thành cơ sở 2 (được đánh giá là quy mô, hiện đại vượt chuẩn) và khai giảng năm học mới, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt, một nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và Nhà Nước đã phát biểu, bày tỏ sự ngạc nhiên phấn khởi trước cơ ngơi bề thế của trường và cám ơn nhà trường đã giúp ông trang trải món nợ tinh thần: Đó là đã trân trọng lấy tên nhà bác học làm tên trường, để Trương Vĩnh Ký luôn là tấm gương sáng về học tập và lao động khoa học cho thế hệ trẻ noi theo.

NHỮNG BÀI VIẾT VỀ ÔNG

Ai là ‘ông tổ’ nghề báo nước Việt?

Người Việt làm báo trước nhất trong buổi đầu báo chí sơ khai, không ai khác hơn là Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898). Trước khi Gia Định báo được ông tiếp quản năm 1869, thì trước đó, cây bút họ Trương đã cộng tác viết bài cho báo Pháp ngữ rồi. Bởi vậy mà trong Sài Gòn năm xưa, cụ Vương Hồng Sển cho rằng ông “là tổ nghề báo quốc văn ta vậy”.

Lợi thế lớn nhất của nhà báo họ Trương, hẳn ai cũng thèm muốn, thậm chí chỉ xin được có được một mảnh lưng vốn ngoại ngữ và kiến thức uyên bác của Trương Vĩnh Ký thôi, cũng lấy làm thỏa lắm rồi. Vì chăng, Trương Vĩnh Ký biết tới 26 ngoại ngữ khác nhau, trong đó bao gồm nhiều sinh ngữ và cả tử ngữ, nên ông từng được gọi là “nhà bác ngữ” là vì thế. Với vốn kiến thức uẩn súc, học giả họ Trương còn được vinh dự nằm trong danh sách 18 nhà bác học thế giới của thế kỷ XIX. Vốn ngoại ngữ siêu phàm cùng vốn văn hóa uyên thâm như thế, nên cái sự làm người xây nền cho báo chí nước Việt, thật xứng lắm thay.
Trước khi góp công lớn cho sự ra đời, phát triển của báo chí Việt ngữ, thì Trương Vĩnh Ký cộng tác viết bài cho một tờ báo Pháp ngữ, mà theo Lược sử báo chí Việt Nam, đó là tờ Bulletin du Comité Agricole et Industriel de la Conchinchine, một tờ báo có “mục đích để nghiên cứu về nông nghiệp và công nghệ xứ này và mở rộng công cuộc đấu xảo hàng năm để khuyến khích hai nghề đó”. Nhờ việc viết bài cho tờ báo ấy, mà “ta đã được thấy người Việt Nam viết báo bằng Pháp ngữ đầu tiên là Trương Vĩnh Ký”.
Con đường công danh, sự nghiệp của học giả họ Trương, kể ra thiên hạ bàn luận, mổ xẻ đã nhiều. Thôi thì ở đây, xin miễn bàn việc ấy, chỉ xin xét về ông ở lĩnh vực báo chí, sách vở, với vai trò là người tiên phong, khai mở cho báo chí Việt ngữ của người Nam ta buổi sơ kỳ báo chí đất Việt.

Trước nhất, là sự dự phần to lớn của Trương Vĩnh Ký đối với tờ báo Việt ngữ đầu tiên: Gia Định báo. Sau khi ra đời và được quản lý bởi thông ngôn người Pháp Ernest Potteaux, đến ngày 16.9.1869, báo nằm dưới quyền quản lý của Trương Vĩnh Ký. Và theo biên khảo Sài Gòn năm xưa, cụ Sển phát hiện điều thú vị rằng “Ngộ hơn hết là trong cái ô chừa đợi chữ ký của người quản lý, thuở ấy không dịch “gérant” mà viết là kẻ làm nhựt trình”. Dưới bàn tay điều khiển của học giả Trương, Gia Định báo trở nên có hồn hơn, đa dạng về thể loại, đề tài hơn, đúng như nhận định của Nguyễn Việt Chước là “Từ khi được Trương Vĩnh Ký trông nom, với sự cộng tác của Tôn Thọ Tường, Paulus Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, nội dung tờ báo bớt khô khan và thêm phần phong phú: có bài khảo cứu, nghị luận, có mục sưu tầm tục ngữ ca dao, thi ca và cổ tích”.

Sau khi kết thúc vai trò tổ chức, quản lý với tờ báo quốc ngữ đầu tiên này, mặc dù đảm nhận nhiều vị trí khác nhau theo thời gian trong bộ máy chính quyền bảo hộ, hoặc tham gia chính quyền nhà Nguyễn, nhưng nghiệp báo của Trương Vĩnh Ký không vì thế mà dừng.
Ngược lại, ông vẫn dành tâm huyết cho báo chí nước Việt buổi ban đầu mới được phôi thai.

Theo cụ Sển cho hay, trong thời gian 1888 – 1889, Trương Vĩnh Ký đã chủ trương một tờ báo khác, được biết đến với tên gọi Thông loại khóa trình (miscellanées), sau này đổi tên là Sự loại thông khảo. Theo quan điểm của GS Nguyễn Văn Trung (trong tác phẩm Hồ sơ về Lục châu học), cũng như Thuần Phong (trong Đồng Nai văn tập số 3, tháng 1.1969) cho rằng Thông loại khóa trình “là tạp chí văn học hay học báo đầu tiên bằng Quốc ngữ ở miền Nam” (lời GS Nguyễn Văn Trung). Báo này xoay quanh các mục về thơ văn cổ, thơ văn đương thời, phong tục văn hóa… Theo Báo chí quấc ngữ ở Sài Gòn cuối thế kỷ 19 thì Thông loại khóa trình là tờ nguyệt san có nhiều cái đầu tiên như: báo tư nhân đầu tiên, báo do người Việt làm chủ đầu tiên, báo đầu tiên dành cho học sinh, báo tự đình bản đầu tiên…

Thông loại khóa trình in từ 12 – 16 trang mỗi kỳ, được Trương Vĩnh Ký bỏ tiền túi ra thực hiện. Theo nhà nghiên cứu báo chí Việt Nam Huỳnh Văn Tòng, thì báo “được trình bày như một quyển sách, khổ 16×23,5 có trang bìa và cả trang nhan đề”. Báo bán được 300 – 400 số. Tuy nhiên, do không đủ vốn nên sau khi ra được 18 số, ông phải dừng in. Trong tác phẩm Trương Vĩnh Ký, nhà văn hóa, GS Nguyễn Văn Trung sau khi thống kê cho hay trong 18 số báo thì có 12 số năm đầu và 6 số năm thứ hai. Số cuối cùng đề tháng 10.1889. Mục đích của Thông loại khóa trình được thể hiện ngay trong lời nói đầu số 1.1888 của báo là: “nói chuyện sang đàng, chuyện tam hoàng quốc chí, phá phách lộn lạo xài bẩn để cho học trò coi chơi cho vui. Mà chẳng phải là vô ích đâu; cũng là những chuyện con người ta ở đời nên biết cả. Có ý, có chí thì lâu nó cũng thấm, nhứt là trí con trẻ còn đang sáng láng, sạch sẽ, tinh thần còn minh mẫn, tươi tốt, như tờ giấy bạch, như sáp mềm, vẽ vời, uốn sửa sắc nào thế nào cũng còn đặng; tre còn măng để uốn, con trẻ nhỏ dễ dạy” (Chúng tôi trích nguyên văn ngôn ngữ thời bấy giờ).

Không chỉ là người làm chủ tờ báo tư nhân đầu tiên, là chủ bút báo tiếng Việt đầu tiên, Trương Vĩnh Ký với sở học của mình, còn cộng tác với nhiều tờ báo Pháp ngữ, Việt ngữ khác nhau. Ngoài nghiệp làm báo, học giả họ Trương còn có công lớn trong việc xuất bản sách báo tiếng Việt. Trong Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945 có cho biết một điểm đáng lưu ý, rằng: “Ông bắt đầu có sách xuất bản từ năm 26 tuổi (1862) và theo nghiệp viết văn cho đến lúc từ trần (1898)”. Điểm này, Nguyễn Liên Phong trong Điếu cổ hạ kim thi tập có đề cập đến “thường khi dạy các quan Langsa học chữ nho, và lại phiên dịch các truyện sách chữ nho ra chữ quốc ngữ cũng nhiều thứ”. Sách này khen ông là:

Phong tư nết dịu dàng,
Chữ nghĩa hơi thâm thúy.
Thường dạy quan Langsa,
Sảo thông tiếng u Mỹ.
Sách vở dọn nhiều pho,
Thẻ biên không mỏi chí.
Cờ dựng chốn Hàn lâm,
Bia truyền nhà Sử thị.

Bên cạnh việc chủ trương báo chí, để phổ biến văn hóa rộng rãi, Trương Vĩnh Ký đã cho in nhiều thơ văn Việt như Lục Vân Tiên, Thúy Kiều, Phan Trần… Căn cứ vào biên khảo Trương Vĩnh Ký, nhà văn hóa của GS Nguyễn Văn Trung, và thống kê này chưa hẳn đã đủ hết, ta thấy được sự nghiệp sáng tác, sưu tầm, in ấn đồ sộ của Trương Vĩnh Ký. Theo đó ông đã sưu tầm văn thơ đủ loại như văn, vãn, vè, văn tế, văn xuôi… gồm 52 tài liệu khác nhau. Có thể kể ra đơn cử như: Nữ tắc, Thơ dạy con, Huấn nữ ca, Thương dụ huấn điều, Phan Thanh Giản tự thuật thế sự, Bài hịch Nguyễn Tri Phương, Nhựt trình đi sứ Lang sa (1863)… Xem thế đủ thấy, không chỉ là người tiên phong cho báo chí Việt ngữ, sự đóng góp của Trương Vĩnh Ký cho sự phát triển, phổ biến văn hóa trong lĩnh vực sưu tầm, sáng tác, in ấn, xuất bản cũng thật đáng nể. Thế nên sau khi ông mất, từng có cuộc lạc quyên để dựng tượng nhà bác ngữ, nhà báo nổi tiếng nước Nam ngay nơi đất Sài Gòn. Còn thời điểm học giả họ Trương lìa xa dương thế, bao lời tiếc thương gửi đến, đều ngợi ca những đóng góp trên lĩnh vực văn hóa của ông. Tỉ như:

…Dốc chí mở mang giáo hóa,
Đêm sách đèn đợi sáng thức khuya;
No lòng gói ghém văn chương,
Ngày cơm nước quên xơi biếng khát,
Sắp cuốn này, chua cuốn khác, phí lương tiền phó tử;
Nào Annam lễ tiết, nào Huấn nữ cách ngôn,
Nào Địa dư danh hiệu; dạy người đường chẳng mỏi,
Nhắm nay làm ít kẻ ra công.
Tiếng nước nọ, chử nước kia, rộng kiến thức lập thành:
Nào Tự vị giải âm, nào Học qui thông khảo,
Nào Văn tự nguyên lưu; trí nhớ rất lạ thường…

(Trích bài Khóc điếu của Nguyễn Khắc Huề đăng lại trong Trương Vỉnh Ký hành trạng (lưu ý những chữ trích chúng tôi tôn trọng nguyên văn ngôn ngữ, dấu câu thời xưa không đổi).
Trần Đình Ba

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo: Thử bàn về bản Dạ Cổ Hoài Lang , 06.2018


VINH BAO

VINH BAO DAN TRANH

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo

– 1 –

 

BẢN  ĐÀN  DẠ  CỔ HOÀI  LANG

 

Tôi bắt đầu học đàn Kìm Bản Dạ Cổ Hoài Lang chung với Bản Hành Vân Huế khi lên 6 tuổi (năm 1924) trên dây Bắc. Một số nhạc sĩ thời lúc bấy giờ truyền miệng nhau Dạ Cổ Hoài Lang do ông Sáu Lầu (Cao-Văn-Lầu) sáng tác vào năm 1920.

 

Từ nào đến giờ tôi chỉ nghe tên mà không biết mặt ông Cao-Văn-Lầu, cũng không có dịp nghe tiếng đàn của ông từ Đài Phát Thanh hay dĩa nhạc, thấy bản thảo của bản Dạ Cổ Hoài Lang, tư liệu về nhạc truyền thống Việt Nam hay về Đờn Ca Tài Tử do ông tự tay viết ra. Do vậy tôi không đề cập đến cha đẻ của bản Dạ Cổ Hoài Lang mà chỉ có nhận xét về người sáng tác ra nó phải là nhạc sĩ có trình độ khá cao.

 

DÂY BẮC ĐÀN KÌM

Dùng đàn Dạ cổ hoài lang

Đàn Kìm có 2 dây

Dây Đại (to)  số 2, âm Xàng,  tạm dịch Do

Dây Tiểu (nhỏ)  số 1 Liêu, tạm dịch Sol

Xàng – Liêu  (Do-  Sol) là quảng 5

Chủ âm (Tonique) dây 1 khảy trơn, hay dây 1 bấm phím 5 Liêu

Hoặc dây Đại bấm phím 3 , hay phím 8 Ho

So dây:   Dây Đại bấm phím 3 khảy với dây Tiếu trơn là đông âm (unisson)

Dây Đại khảy trơn xướng âm là Tồn

Dây Tiểu khảy trơn xướng âm là

 

  Phím 1   2   3   4 5   6   7   8
Dây 1 xự xang cống liêu ú xáng xế
la do re` mi sol la do
Dây 2 xề công xự xang công ho
  fa sol la do fa sol

 

 

Cung bực dây 1 (Hò xự xang xê cống) tạm dịch (Sol la do ré mi)  thang âm Ngũ cung (pentatonic scale)

 

 

– 2 –

 

Dạ Cổ Hoài Lang và Hành Vân

Những điểm tương đồng

 

  1. Dạ Cổ Hoài Lang và Hành Vân đều 20 câu nhịp đôi (câu 2 nhịp).
  2. Cả hai bài sáng tác theo thơ Song thất, mỗi câu 7 nốt đàn.
  3. Trong Dạ Cổ Hoài Lang có một số câu mượn từ Hành Vân.
  4. Mang cái hơi Vui, đàn cặp với nhau…

 

Bên nhạc Tây phương, người nhạc sĩ sáng tác không ngừng.

Nhạc Việt Nam, người chơi nhạc phần đông nghĩ đến trang trí đánh bóng cải biên bản cũ, nên ít lâu sau Dạ Cổ Hoài Lang mang hơi hướng buồn là do rung nhửng nốt xang liêu cũng từ đó Dạ Cổ Hoài Lang không còn đi đôi với bản Hành Vân.

 

DẠ CỔ HOÀI LANG

 

  1.  Hò là xang hò xang xê cống
  2.      Liêu xề liêu cổng cống xê xang
  3. liêu cống xê xang
  4. Xề xang là hò  —
  5. Xề là liêu xáng ú liêu xệ
  6. Liêu xáng xàng xề liêu liểu liêu
  7. là xang hò xang xê cống
  8. Xê cống xừ xang xê xừ xang
  9. liêu cống xê xang xừ
  10. Xừ xang xừ xang xê xự xang
  11. Xự xang xự cống xê xang
  12. Xề xang là hò  —
  13. Cống xê xang tồn xang cống
  14. Xê cống xừ xang  xê xự xang
  15. Liêu xề liêu cổng cổng xê xang
  16. Liêu xáng xàng xề liêu liểu liêu
  17. xự liêu cống xê xang
  18. Xê xang xự xang hò xự xang
  19. liêu cống xê xang ho
  20. Liêu xáng xàng xề liêu liểu

– 3 –

 

Khoảng năm 1930, Dạ Cổ Hoài Lang không biết nhạc sĩ nào mở ra Dạ Cổ Hoài Lang nhịp đôi (câu 2 nhịp) ra Vọng Cổ Hoài Lang nhịp tư (câu 4 nhịp).

Vào thời điểm nói trên, Gánh hát Cải lương Miền Nam ra Hà Nội hát. Đồng bào Hà Thành rất mê Hát Cải Lương, một số thanh niên ái mộ Cô Bảy Phùng Há (Trương Phụng Hảo) bịn rịn lúc chia tay.

Nghệ nhân Tư Chơi (Huỳnh Thủ Trung) cao hứng viết lời ca như sau:

 

Câu  1 –   Nhạn  đành,  kêu  sương nơi  biển  Bắc.

Câu  2 –   Én  cam,  khóc  hận  góc  trời  Nam

Song lang gỏ ngay nhịp 2 và 3.

Nhịp 4 là câu Chầu hay câu Thòng.

 

Năm 1934, mở ra Vọng Cổ nhịp 8 (bỏ hai chữ Hoài Lang)

Song lang gõ ngay nhịp 4 và 6.

Nhịp 7 và 8 là câu Chầu hay câu Thòng.

 

Dĩa ASIA Vọng Cổ nhịp tư.

Tựa Vì tiền lỗi đạo. 

Lời ca Câu 1: “ Văng vẳng tiếng chuông chùa”

Năm Nghĩa (Lư Hoà Nghĩa chồng bà Bầu Thơ Gánh Hát Thanh Minh Thanh Nga) ca.

Nhạc sĩ Hoà đàn Ghi ta lõm phím 4 dây.

 

Dĩa Béka

Tựa Gió bấc lạnh lùng

Lời ca Câu 1: Gió bấc lạnh lùng, trên con đường ba sinh thấy hoa rụng rời trên mặt đất.

Câu 2: Trên dòng sông nước trong xanh biếc, chảy mãi mãi chẳng thấy dừng.

Cô Hai Đá ca

Nhạc sĩ Jean Tịnh đàn Violon

Nhạc sĩ Lang đàn Tranh

 

Dĩa Béka

Tựa Lở làng duyên phận

Ba Tuất Sadéc ca

Nhạc sĩ Sáu Quí đàn Tranh

 

 

– 4 –

 

Dĩa ASIA

Tựa  Tình mẫu tử

Cô Tư Sạng ca

Nhạc sĩ Hàm đàn Ghi ta lỏm phím 4 dây

Nhạc sĩ Thọ đàn Cò

 

Dĩa ASIA

Tựa  Đêm khuya trông chồng

Cô Tư Sạng ca

Nhạc sĩ Hai Biểu (Huỳnh Văn Biểu) đàn Tranh

Nhạc sĩ Năm Chấp đàn Gáo

Nhạc sĩ Hai Cần thổi Tiêu.

 

Dĩa  Pathé – Vọng cổ nhịp mười sáu khoảng năm 1937.

Tựa: “Khách địa cảm xuân”

Tám Thưa ca

Nhạc sĩ Sáu Tửng đàn Kìm

Nhạc sĩ Mười Còn đàn Violon

Song lang gõ ngay nhịp 8 và 12.

Nhịp 13, 14, 15, 16 là câu Chầu hay câu Thòng.

 

Dĩa Pathé

Tựa: “Khóc bạn”

Cô Ba Bến tre (Ba Bộn) ca

Nhạc sĩ Sáu Tửng (Huỳnh Văn Sâm) đàn Xến.

 

Dĩa Béka

Tựa: “Hiếu tình trung nghĩa”

Cô Năm Cần thơ ca

Sáu Tửng (Huỳnh Văn Sâm) đàn Kìm.

 

 

Từ Dạ Cổ Hoài Lang mở ra Vọng Cổ nhịp tư, nhịp tám, nhịp mười sáu, nhịp 32 là công trình tập thể bằng tim bằng óc của nhiều nhạc sư nhạc sĩ nghệ nhân. Mặc dù đã hoàn toàn lột xác, thiết nghĩ nên nhớ đến cha đẻ của Dạ Cổ Hoài Lang, tuy có sanh không có dưỡng.  Tương tự như trường hợp đàn Ghi-ta (Guitare) và Vỉ-cầm (Violon).

 

 

 

 

 

 

– 5 –

 

Sự du nhập của đàn Ghita (Guitare) và Vĩ Cầm (Violon) vào

Đờn ca Tài Tử Nam Bộ.

 

Khởi đầu là đàn Mandoline dần dần đến đàn Guitare 5 dây lõm phím..

Khoảng năm 1932, Thầy giáo Tiên-Rạch Giá là người đầu tiên dùng đàn Mandoline đàn bản Việt trên dây Thầy sáng chế tên dây Rạch Giá. Vài năm sau đó, là sự ra đời của đàn Guitare-Mando hay đàn Octavina, 4 dây phím lõm và Guitare bình thường 5 dây.

Trong tự điển không có từ Octavina. Một số người dịch từ Octa là 8, còn Vina là tên của  đàn Vina Ấn Độ. Số người khác, Octa là 8, Vina là Việt Nam, thời điểm nầy chưa có cái màn ghép chữ như Vietcombank, Seaprodex, Imexco…

 

Tại Phi Lục Tân có cây đàn hình dáng y hệt như đàn Guitare-Mando, nhưng với nhiều dây mang tên Tây Ban Nha là Octavina.

 

Đàn Vĩ cầm (Violon)

Khoảng năm 1934, anh Jean Tịnh Nhạc sĩ Violon nhạc Tây, làm việc tại đài Phát thanh Sài gòn, số 3 đường Phan Đình Phùng ký âm Vọng Cổ nhịp 8 đàn Cò, rồi dùng đàn Vĩ cầm đàn cho Cô Hai Đá ca Vọng Cổ “Gió bấc lạnh lùng…” dĩa ASIA.

 

Do không am tường cách trang trí nốt đàn (ornements) Rung, mổ, nhấn, luyến láy của nhạc Việt nên tiếng đàn của anh giống như người Pháp nói tiếng Việt.

Việc làm của anh khoảng năm 1938 gợi ý cho nhạc sĩ đàn Cò Mười Còn – Cần Đước  dùng đàn Violon đàn bản Việt, kế tiếp là  nhạc sĩ Tư Huyện (Nguyễn Thế Huyện), Cần Đước, Nhạc sĩ đàn Cò Hai Thơm …

Đối với nhạc sĩ đàn Cò, đàn Violon là sự phối hợp của đàn Cò và đàn Gáo. Kỹ thuật đàn thì lấy từ đàn Cò.

 

Đồng Tháp, 18-6-2018

Nguyễn-Vĩnh-Bảo  101 tuổi

This blog is focused on Trân Quang Hai