BĂNG HUYỀN: Chiều văn học nghệ thuật ra mắt sách Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt


Chiều văn học nghệ thuật ra mắt sách Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt

GS Quyên Di thay mặt bà khoa trưởng trao tặng bằng vinh danh GS. TS Trần Quang Hải. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Bài BĂNG HUYỀN

Trưa Chủ Nhật, ngày 10 tháng 2, 2019 tại phòng hội của Đại Học Cal State Long Beach (CSULB) thuộc Phân Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ Gốc Á Châu (Asian & Asian American Studies) đã diễn ra buổi “Chiều Văn Học Nghệ Thuật” năm thứ III do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức.
Chương trình này rất đặc biệt, là buổi ra mắt sách “Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian kết hợp cùng Nhóm Văn Thơ Lạc Việt tại San Jose thực hiện, và vinh danh Giáo Sư Tiến Sĩ (GSTS) Trần Quang Hải. Ông là con trai đầu của cố Giáo sư Tiến Sĩ Trần Văn Khê và cháu của “quái kiệt” Trần Văn Trạch.

GS.TS Trần Quang Hải diễn thuyết và trình diễn hát Đồng Song Thanh và đàn Môi. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Ông là một thuyết trình viên, nhạc sĩ sáng tác và là người thầy nổi tiếng về sư phạm âm nhạc. Ông đã có hàng nghìn cuộc nói chuyện, giới thiệu âm nhạc Việt Nam khắp nơi trên thế giới. Ông không chỉ chuyên về nhạc dân tộc Việt, mà còn là chuyên gia về nhạc cụ và âm nhạc của các nước châu Á. Ông sống tại Paris, Pháp, đã thực hiện rất nhiều công trình vĩ đại với nhiều sáng tạo đầy màu sắc nghệ thuật độc đáo.
Giáo sư Quyên Di là giảng viên Phân Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ Gốc Á Châu của Đại Học Cal State Long Beach và là thành viên của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Giáo sư Quyền Di cho biết, “Đây là chương trình thường niên lần thứ ba Chiều Văn Học Nghệ Thuật của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức, dưới sự bảo trợ của Khoa Nghiên Cứu về Người Mỹ gốc Á Châu của Đại Học Cal State Long Beach. Tôi sẽ đại diện cho phân khoa và bà khoa trưởng, Giáo Sư Tiến Sĩ Teri Yamada, hiện đang công tác tại Ấn Độ, nên không thể có mặt trong chương trình lần này, để trao giải thưởng cho Giáo sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải và tôi cũng đại diện chương trình tiếng Việt của trường, trao cho ông giải thưởng. Giải thưởng ghi nhận sự đóng góp không biết mệt mỏi của Giáo sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải vào gia tài âm nhạc Việt Nam.

Cùng nhau hát “Và Con Tim Đã Vui Trở Lại” (Băng Huyền/ Viễn Đông)

“Giáo sư Trần Quang Hải có nhiều công trình lắm, ngoài những công trình về sáng tác âm nhạc, công trình về thu thanh thu hình âm nhạc và trình diễn. Ông còn là một người nghiên cứu rất sâu về âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Cuốn sách Trần Quang Hải 50 năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt, tập hợp rất nhiều bài nghiên cứu của ông. Trong quyển sách này đặc sắc nhất và tôi được học hỏi nhiều là bài Nguồn Gốc Âm Nhạc Việt Nam.”

Ông Trần Mạnh Chi, trưởng Ban Tổ Chức và là đại diện cho Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, bày tỏ, “Chúng tôi hân hạnh đón tiếp mọi người đến dự ra mắt sách của Giáo sư Trần Quang Hải từ Pháp qua. Nhạc sư đã bỏ công 50 năm nghiên cứu về âm nhạc nghệ thuật Việt Nam. Đây là niềm hãnh diện cho người Việt Nam khắp nơi trên thế giới. Tất cả những chương trình mà nhóm đã tổ chức trong quá khứ và sắp tới, chúng tôi mong mỏi vinh danh những nhà văn học, nhà văn hóa nghệ thuật, những ai đóng góp công sức cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam. Hôm nay đặc biệt còn có một buổi triển lãm tranh mini của các họa sĩ Hoàng Vinh, họa sĩ Hồ Thành Đức, họa sĩ Beky, họa sĩ Lưu Anh Tuấn… bên ngoài phòng hội trước khi diễn ra chương trình chính.”

GS. TS Tahara (người đầu tiên từ trái qua) hát Qua Cầu Gió Bay chung với Thụy Vy và Hậu Nguyễn. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Giáo sư Tiến sĩ Trần Quang Hải có mặt từ rất sớm để ký tặng sách cho mọi người, cùng xem tranh của các họa sĩ triển lãm bên ngoài phòng hội và chụp hình lưu niệm với bạn hữu, thân hữu, những khán giả yêu mến tài năng của ông. Nói về cảm xúc của mình, Giáo sư Trần Quang Hải chia sẻ, “Đây là chương trình rất đặc biệt và vinh dự cho tôi, là một người từ phương xa đến. Sự tiếp đãi rất nồng hậu, tất cả những cảm tình, sự tiếp đón của anh em trong cộng đồng đem lại cho tôi niềm vui, để tôi thấy rằng người Việt Nam vẫn còn yêu thương nhau. Đây là buổi giới thiệu quyển sách, là công trình nghiên cứu của tôi về nhạc dân tộc Việt trong 50 năm qua, như lĩnh vực hát đồng song thanh, không những phổ biến giọng hát, phổ biến dùng giọng hát để chữa bệnh, giúp những người câm có thể nói chuyện được mà không phải mổ, đó là những đóng góp rất nhỏ không chỉ trong âm nhạc mà nó liên hệ đến nhiều lĩnh vực khác nhau, và được gặp gỡ người đồng hương tại vùng Nam Cali sau 13 năm tôi mới trở lại gặp những người Việt sống tại đây.

GS. TS Trần Quang Hải chụp lưu niệm tại triển lãm tranh mini (Băng Huyền/ Viễn Đông)

“Tôi rất lấy làm vui mừng và hân hạnh được tiếp đón ở trường Đại Học Cal State Long Beach, là niềm vui cho tôi và tôi cũng chia sẻ niềm vui đó với cộng đồng người Việt tại California nói riêng và cho tất cả những người Việt của cộng đồng Việt Nam tại đất Mỹ này nói chung. Sự vinh danh này chỉ là cá nhân thôi, nhưng điều tôi thấy trường Đại Học Mỹ bắt đầu chú trọng về văn hóa Việt, đó là điểm son do sự đóng góp của rất nhiều những vị giáo sư mà chúng tôi được hân hạnh gặp và một số vị đã đóng góp một cách trực tiếp hay gián tiếp trong công trình xây dựng văn hóa Việt Nam ở hải ngoại.”

Các thành viên trình diễn tiết mục thời trang. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Sau khi thức khai mạc trang trọng với sự điều hợp của MC Thụy Vy, Ban Hợp Ca nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã gợi nhắc bao nỗi bồi hồi trong tim khán giả qua ca khúc Nắng Đẹp Miền Nam (Lam Phương) và bồi hồi nhiều suy nghiệm về cuộc đời về tình thương giữa người với nhau qua ca khúc Phút Chan Hòa (Thơ Trần Việt Hải, nhạc Hồng Tước).

Phần nghi thức vinh danh GS. TS Trần Quang Hải với GS Quyên Di của trường Cal State Long Beach, Bà Nguyễn Thế Thủy đại diện của Học Khu Westminster trao bằng tưởng lục đến GSTS Trần Quang Hải. GS Dương Ngọc Sum là cố vấn Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian cùng các cựu học sinh của trường Petrus Ký tặng quà lưu niệm cho GS Trần Quang Hải, là một cựu học sinh của Petrus Ký. Vài thành viên Nhóm Văn Thơ Lạc Việt tại San Jose đã tặng GS. TS Trần Quang Hải hai cuốn sách “Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” tiếng Việt và tiếng Anh do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian kết hợp cùng Nhóm Văn Thơ Lạc Việt tại San Jose thực hiện,

Những tiết mục phụ diễn văn nghệ đặc sắc

Những người mẫu không chuyên của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã trình diễn tiết mục Thời Trang Áo Dài Việt Nam Theo Dòng Thời Gian, dưới sự dẫn dắt dí dỏm của Giáo sư Quyên Di và cô Thủy Vân đã giới thiệu tên gọi, thời gian ra đời của từng bộ áo dài Ngũ Thân, áo dài Lemur/Cát Tường, áo dài Tứ thân/ Lê Phổ, áo dài Raglan/ Trần Kim, áo dài Trần Lệ Xuân…

GS Quyên Di giới thiệu ba sinh viên của mình lần lượt đọc lá thư của bà khoa trưởng gửi đến GS. TS Trần Quang Hải về lý do bà không có mặt trong buổi vinh danh. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Chương trình càng thêm đậm đà phong vị dân tộc với giọng hát của dược sĩ Thanh Mai qua ca khúc Rất Huế của Võ Tá Hân sáng tác, do chính nhạc sĩ Võ Tá Hân đệm guitar cho giọng hát của Thanh Mai. Giọng ca ngọt ngào của Ngọc Quỳnh hát “Dạ Cổ Hoài Lang” và nét duyên dáng, luyến láy, nhấn nhá từng câu chữ của ca sĩ Thúy Anh (Là – xướng ngôn viên, biên tập viên của chương trình radio Chiều Thứ Bảy) hát bài Mình Ơi Em Chẳng Cho Về của nhạc sĩ Anh Bằng, với tiếng đàn guitar của anh Nguyên Vũ.

Giáo sư Tiến Sĩ Hiroki Tahara, phó giám đốc Trung Tâm Giáo Dục Ngôn Ngữ Học tại đại học APU Nhật, không những nói, viết tiếng Việt rất lưu loát mà anh còn am hiểu văn hoá Việt rất sâu. Trong bộ áo dài cách điệu, anh cùng với MC Thụy Vy và ông Hậu Nguyễn là thành viên trong Ban Tổ Chức đã hát rất tình bài hát Qua Cầu Gió Bay.

Anh Hiroki Tahara đã tiết lộ với người viết, cách nay hơn 20 năm, hồi còn là sinh viên năm thứ nhất Cử nhân ngoại ngữ học tiếng Việt tại trường Đại Học Ngoại Ngữ Tokyo, anh đã từng tập hát bài Qua Cầu Gió Bay, hát chung với các sinh viên khoa tiếng Việt. Lần này tham dự trong chương trình, ban tổ chức đề nghị anh hát bài này, anh đã tập lại trong một tuần để hát. Anh rất thích bài hát này nên dù hai mươi mấy năm rồi vẫn chưa quên. Lúc còn sinh viên, anh hát nhưng hoàn toàn không hiểu ý nghĩa bài hát. Dù vậy bài hát để lại ấn tượng đẹp để anh nhớ hoài, anh rất thích câu hát “Tình tình tình gió bay… tình tình tình gió bay, vì âm điệu nên thơ.

Những giọng ca tài tử của các ca sĩ khách mời góp vui cho chương trình, bằng tài năng và sự duyên dáng của mình, họ đã giúp người nghe có mặt trong buổi diễn càng yêu cái chất thơ tinh tế vô cùng của dân ca, ca khúc mang âm hưởng dân ca của các nhạc sĩ, càng nghe lại càng thấm cái ý nhị đẹp đẽ trong nội dung câu hát, cái thanh lịch nhẹ nhàng, cái tình rất nồng đượm mà không vồn vã của người Việt Nam.

Diễn thuyết và trình diễn

Có lẽ tiết mục đặc biệt và nhận được những tràng pháo tay cùng những lời ngợi khen, hâm mộ từ những người tham dự nhiều nhất, chính là tiết mục diễn thuyết kết hợp trình diễn của Gíao sư Trần Quang Hải trong khoảng 20 phút.

Với lối nói chuyện hài hước và phong thái giản dị, mộc mạc, GS. TS Trần Quang Hải đã chia sẻ súc tích những nghiên cứu của ông về Nhạc Dân tộc xoay quanh hai công trình: Hát đồng song thanh, và đàn môi. Trong hai công trình ấy, Hát đồng song thanh là công trình mà ông dày công nghiên cứu nhiều nhất. Hát đồng song thanh, còn được biết đến trên thế giới với cái tên Tuvan Throat Singing, Khoomei (Khơ mây), Hooliin Chor.

Là một biến thể đặc biệt của hòa âm giọng hát, được hình thành và phát triển từ Mông Cổ, Nội Mông, Tuva và Siberia. Nó được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể năm 2009 dưới cái tên Nghệ thuật hát Mông Cổ, Khơ mây. Trong kĩ thuật hát này, người trình diễn sẽ tạo ra một cao độ cơ bản và đồng thời tạo ra thêm một cao độ khác cao hơn cùng lúc.

GS TS Trần Quang Hải ký tặng sách. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Công trình nghiên cứu Hát đồng song thanh của GS.TS Trần Quang Hải là một quá trình nghiên cứu, từ vị trí phát âm và các kỹ thuật hát của mỗi dân tộc trên thế giới, cho đến các lối hát đồng song thanh của các nước Tây Á và kiểu thức cầu kinh của các vị Lạt Ma- Tây Tạng. Từ cơ sở đó, ông phát triển và sáng tạo lối hát Đồng song thanh theo kiểu của riêng ông, mà hiện nay không những để biểu diễn âm nhạc mà còn ứng dụng vào lĩnh vực Y khoa.

Đây còn là cách điệu trị học cho các căng bệnh đứt dây thanh quản và khuyết tật về phát âm. Song song với diễn thuyết ông còn thể hiện tài nghệ độc đáo của mình minh họa các giọng hát bằng giọng ngực, minh họa bằng hát một đoạn ngắn opera. Giọng mũi, minh họa bằng hát bài nhạc cổ truyền Nhật Bản. Giọng óc, minh họa hát đoạn kinh kịch.

Giáo sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải giới thiệu cây đàn Môi của người Mông là một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Ông cho biết ông đã giới thiệu cây đàn Môi của người Mông cách nay 45 năm khắp nơi trên thế giới. Ông đã ngậm chiếc kèn nhỏ bé, bàn tay thoăn thoắt gảy kèn, đôi môi run run theo cảm xúc tạo nên những âm thanh trầm bỗng vang lên, rền rền thánh thót, tạo nên những âm thanh thật thú vị, mới mẻ về giai điệu, tiết tấu khiến mọi người hải trầm trồ thích thú.

Lúc đầu ông đánh đàn môi đơn giản trình diễn bài Happy Birthday To You, sau đó ông đàn lại bài này nhưng thêm tiết tấu vô, khiến bài hát nghe đặc sắc hơn. Ông còn dùng đàn môi để nói chuyện, ông nhép miệng nói không phát ra tiếng, nhưng thông qua đàn môi tiếng nhép miệng câu nói đó phát ra tròn câu rõ ràng, làm cho không khí cả khán phòng sôi động hẳn lên và không ngớt vang lên những tràng pháo tay thán phục. Kết thúc phần trình diễn của mình, ông nhận lời đề nghị của MC Thụy Vy, đã nhái lại giọng của người chú là nghệ sĩ Trần Văn Trạch, hát lại bài Sổ Xố Kiến Thiết Quốc Gia trong tiếng vỗ tay giòn giã của khán giả.
Có mặt trong chương trình, GS Lê Văn Khoa đã chia sẻ với nhật báo Viễn Đông, “Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian là nhóm tập hợp một số anh em yêu thích nghệ thuật và văn chương, không phải là những nhà văn lớn, những nghệ sĩ lớn, nhưng họ yêu thích và đã làm được. Đây là điều rất quý. Anh Việt Hải là người sáng lập ra nhóm, rất có lòng, đã thúc đẩy anh em làm nhiều sách. Họ đang có danh sách dài để ra mắt sách suốt năm tới, chứ không chỉ trong năm nay thôi đâu. Đây là điều mừng.

“Người Việt ra nước ngoài cũng có ước vọng làm sao để văn hóa, nghệ thuật của mình vươn lên, thành ra họ tiếp tục sinh hoạt. Mình ở ngoài nước, vẫn làm được. Thì như vậy, theo tôi, văn hóa và nghệ thuật Việt Nam sẽ càng rộng lớn hơn, và nó không nằm dưới một chiêu bài, sự chỉ huy của người nào cả. Vì đó là dân tộc, chứ không phải là cá nhân. Đây là ý của tôi. Còn anh Trần Quang Hải thì tôi có biết anh lâu rồi, thỉnh thoảng gặp nhau mỗi lần anh bên Pháp qua, thỉnh thoảng chúng tôi có gặp nhau.

“Thân phụ của ông Trần Quang Hải là Trần Văn Khê, là người tôi rất kính quý, là người có tâm hồn về nhạc chính thống Việt Nam và họ muốn phát huy. Nhưng cái mình làm rộng rãi hơn hết, đem nhạc Việt đi phổ biến trong những buổi diễn thuyết khắp thế giới, thì tôi nghĩ người Việt không có ai làm được tương xứng như anh Trần Quang Hải đâu.

“Chúng ta rất hãnh diện có những nhân tài đó trong cộng đồng Việt Nam chúng ta và tôi hy vọng mọi người sẽ tiếp trợ, làm sao để thế hệ sau này còn vươn xa nữa, để đưa nhạc Việt chúng ta đi rộng ra trên thế giới.”
Giáo sư Tiến Sĩ Hiroki Tahara thì bày tỏ, “Tahara rất vui vì được ngồi chung với những bạn Việt Nam của cộng đồng người Việt hải ngoại tại Nam Cali. Bản thân tôi rất thích hát bài Qua Cầu Gió Bay, và được hát trước mặt Giáo sư Tiến sĩ Trần Quang Hải là một vinh dự đối với tôi.”

Anh cũng nêu lên suy nghĩ và mong ước của mình, “Điều hơi buồn là sao chương trình này toàn người già, tôi năm nay 47 tuổi, không phải người trẻ. Đáng lẽ chương trình như thế này phải có thanh niên ngoài 20, dự thật đông. Lẽ ra phải có thanh niên tham gia vào ban tổ chức để rút kinh nghiệm cách tổ chức, cách tiếp khách, cách biểu diễn. Vì không có người trẻ sẽ không có người kế thừa, vì người già đến tuổi phải về hưu, nghỉ ngơi, không có người trẻ kế thừa thì tiếc lắm.”

Kết thúc buổi diễn, các thành viên trong ban Hợp Ca, Ban Tổ Chức, GS. TS Trần Quang Hải, GS Dương Ngọc Sum… và các khán giả đã cùng hát vang ca khúc “Và ConTim Đã Vui Trở Lại” (Đức Huy) như một sự cổ vũ về sự lạc quan, phấn khởi và luôn trong tư thế chủ động hướng đến sống tích cực, là thông điệp ca khúc của nhạc sĩ Đức Huy gửi đến người nghe và cũng là điều mà Ban Tổ Chức mong muốn GS. TS Trần Quang Hải và một vài thành viên trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đang bị bệnh nan y. Mong các vị ấy sẽ sớm chữa trị thành công, hồi phục và vui khỏe để tiếp tục những công trình văn hóa nghệ thuật đang thực hiện, góp vào vườn hoa Việt Nam những bông hoa tươi thắm.

Link: http://m.viendongdaily.com/chieu-van-hoc-nghe-thuat-ra-mat-…
———————————————————————————-

Ra mắt sách 10 tháng 2, 2019 tại trường đại học CSU-Long Beach, California, USA.
Ban Biên Tập chúng tôi thật hân hạnh thay mặt cho liên nhóm NVNT và TTG đứng ra thực hiện Tuyển Tập Trần Quang Hải mang tên là « Trần Quang Hải : 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt »; để vinh danh và tri ân người nhạc sĩ đã có những đóng góp quý giá vào kho tàng dân tộc nhạc thế giới và đã đào tạo nhiều môn đệ tiếp nối bước chân ông ở nhiều đại học trên thế giới.

Nhạc sĩ kiêm giáo sư tiến sĩ Trần Quang Hải đã đưa chi nhánh âm nhạc Việt Nam trong dòng dân tộc nhạc học góp mặt ở khắp năm châu. Với cuộc sống ở nước ngoài gần nửa thế kỷ, GS. Hải luôn muốn đưa cái hay của Việt Nam ra dòng chính thế giới. Ông làm phiên dịch viên khi soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống mà còn chủ trương nỗ lực bảo tồn nó. Ông góp mặt tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của dân tộc Việt Nam. Ngoài ra ông đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại. Giáo sư Trần Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc về các loại như thanh nhạc ca hát và âm nhạc dựa vào các nhạc cụ truyền thống Việt Nam. GS. Hải còn viết nhiều bài biên khảo,về những nghiên cứụ và tham luận về âm nhạc dân tộc học cho nhiều tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc
Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết này của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được ghi nhận lại trong từ điển New Grove. Trong phạm vi dân tộc nhạc học GS. Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (ở Mỹ và Pháp). Giáo sư Trần Quang Hải còn là thành viên SACEM (Society of Authors, Composers and Publishers of Music) và ông cũng được trao tặng bảo quốc huân chương (Ordre National de la Légion d’Honneur) của Pháp.

Do vậy Ban Biên Tập chúng tôi hoàn thành tập sách này với mục tiêu ghi nhận sự đóng góp quý báu của GS/TS Trần Quang Hải. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian mong rằng quyển sách này sẽ được quý độc giả các nơi đón nhận như một tác phẩm tham khảo trong kho tàng văn hóa Việt Nam về người nhạc sĩ độc đáo của chúng ta, với công trình tích cực là duy trì và bảo tồn văn hóa Việt, hầu truyền đạt đến những thế hệ tiếp nối bản sắc dân tộc Việt cho ngày sau. Trong tinh thần đó, Ban biên tập chúng tôi chân thành tri ân ông: GS/TS Trần Quang Hải.
Thay mặt,

GS. Dương Ngọc Sum, Cố vấn.
NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN.

________________________________________________

Khi nói đến Trần Quang Hải, rất nhiều người trong chúng ta đều biết anh là con trai Gs.Ts.Trần Văn Khê; nhưng có lẽ ít ai biết anh là một Giáo sư về Dân tộc Nhạc học, một Nhạc sĩ chuyên về Nhạc cổ truyền Việt Nam, một nhà nghiên cứu về Âm nhạc truyền thống Dân tộc. Sinh ra trong một gia đình Nhạc sĩ Nhạc cổ truyền từ hơn 150 năm, là đời thứ 5 trong gia đình họ Trần, Trần Quang Hải được hấp thụ hai nền âm nhạc Đông Tây. Sau hơn 50 năm nghiên cứu, anh đã hệ thống hóa và phát triển các kỹ thuật về hát Đồng song thanh, Gõ muỗng, và Đàn môi. Hơn nữa, Trần Quang Hải cũng đã cùng người vợ, nữ danh ca Bạch Yến, thực hiện được hơn 3,000 buổi giới thiệu và trình diễn ở nhiều quốc gia trên thế giới, về những nét độc đáo và đa dạng của nền âm nhạc Dân tộc Việt Nam.

Ngoài danh hiệu được UNESCO công nhận “kiệt tác Văn hóa phi vật thể” qua nhạc Cung đình (năm 2003), Cồng chiêng (2005), Ca trù và Quan họ (tháng 10/2009) ; cũng như nhiều bộ môn khác như : Hát xẩm, Hát chèo, Hát xoan, Đờn ca tài tử… đang được tuyên dương, và được thế giới biết đến. Gs.Ts. Trần Quang Hải quan niệm “Đâu cần phải đợi UNESCO xác nhận giá trị của di sản Nghệ thuật Dân tộc, chính người Việt phải biết nâng niu, gìn giữ trước khi các di sản phi vật thể đó mất đi…”. Đối với anh, bảo tồn Nhạc Dân tộc là công việc của nhiều thế hệ. “Giáo dục một thế hệ, không phải chỉ là vấn đề văn hóa, mà còn là giáo dục về âm nhạc. Đó là cách thức có thể mang tới sự sống còn của Nhạc Dân tộc”.

Quyển sách “Trần Quang Hải: 50 Năm nghiên cứu Nhạc Dân tộc Việt” được thực hiện để tri ân người Nhạc sĩ đã dành gần trọn cuộc đời nghiên cứu và đóng góp cho nền âm nhạc Dân tộc Việt Nam cũng như nền âm nhạc của thế giới, với thành quả thật đáng trân quí.

Xin trân trọng giới thiệu đến quý độc giả.

Gs. Dương Ngọc Sum, Cố vấn

Nhân văn Nghệ thuật & Tiếng Thời Gian

Tiểu sử Trần Quang Hải
Nhân Văn Nghệ Thuật

(Theo tài liệu do Gs. Ts. Trần Quang Hải cung cấp)

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã, tỉnh Gia Định, miền Nam nước Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê (sinh ngày 24 tháng 7, 1921) và bà Nguyễn Thị Sương (sinh ngày 19 tháng 9, 1921), cựu giáo sư Anh văn trường nữ trung học Gia Long.

Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17 tháng 6, 1978 tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc ngoại quốc Tây phương lúc đầu của sự nghiệp cầm ca. Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải, Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng với chồng phổ biến nhạc dân tộc trên khắp thế giới.

Trần Quang Hải xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời và anh là nhạc sĩ đời thứ năm. Ngoài ra, anh là Nhà nguyên cứu Nhạc dân tộc (Ethnomusicologist – Ethnomusicologue) chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, vừa là thuyết trình viên, nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, và thành viên của Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học Pháp. (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique). Theo gót cha anh, GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu Nhạc dân tộc, anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc theo ngẫu hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh.

Gia Đình Nhạc Sĩ (NS) Cổ Truyền

NS Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ của Trần Quang Hải là Quan án sát, theo Phan Thanh Giản sang Pháp để thương thuyết nhưng thất bại, treo ấn từ quan, vào Nam, cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. Rất giỏi về Nhã nhạc Cung đình Huế.
NS Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố của Trần Quang Hải là người Đàn tỳ bà rất hay, được gởi ra thành nội Huế để học nhạc Cung đình, chuyên về Đàn tỳ bà. Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho Đàn tỳ bà, nhưng rất tiếc tất cả tài liệu đó đã bị thất lạc vì chiến tranh.
NS Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội của Trần Quang Hải là người Đàn kìm rất giỏi, trong giới cải lương có biệt hiệu Bảy Triều, đã đặt ra cách lên dây Tố Lan cho Đàn kìm, để đàn lên những khúc nhạc buồn ai oán. Hiện nay chỉ còn một số rất ít nhạc sĩ Cổ nhạc biết đàn dây này (như Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, GS Trần Văn Khê).
GSTS Trần Văn Khê (1921- 2015), thân phụ củaTrần Quang Hải là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng Quốc tế, làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới trong lãnh vực trình diễn cũng như nghiên cứu. Con trai trưởng trong gia đình có ba người con (GS Trần Văn Khê, Quái kiệt Trần Văn Trạch, và Trần Ngọc Sương từng nổi tiếng là ca sĩ Tân nhạc vào đầu thập niên 50), GS Trần Văn Khê đã hăng hái trong phong trào Tân nhạc lúc trẻ (cùng thời với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Phạm Duy) và quay về Cổ nhạc khi soạn luận án tiến sĩ tại Pháp. Từng là giáo sư nhạc Đông phương tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), giám đốc nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (Paris, Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, và từng giữ chức Phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO. Ông nghỉ hưu từ năm 1987, nhưng vẫn tiếp tục nghiên cứu và đóng góp một vai trò lớn cho hai nghiên cứu Nhạc Cung đình Huế (được danh hiệu “Kiệt tác văn hóa phi vật thể” UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (Kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Ông hồi cư về Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và là cố vấn cho công việc nghiên cứu Ca Trù để đệ trình lên UNESCO cho năm 2007, và nghiên cứu Đờn ca tài tử Nam bộ cho năm 2011, dành cho kiệt tác văn hóa phi vật thể. Ngày 24 tháng 6 năm 2015, ông từ trần tại quận Bình Thạnh, TP HCM, Việt Nam.
Trần Quang Hải (1944 –), cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp Trường Quốc gia Âm nhạc Saigon với bộ môn Vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), đi sang Pháp năm 1961 và học nhạc tại trường đại học Sorbonne, và Nhạc dân tộc ở trường Cao đẳng Khoa học Xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). Trần Quang Hải bắt đầu làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với đội ngũ nghiên cứu tại Viện nhạc dân tộc của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới 2009 về hưu). Anh đã có trên 3,500 buổi trình diễn tại 70 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác hơn 400 bản nhạc dành cho Đàn tranh, Đàn môi, muỗng, hát đồng song thanh, nhạc ngẫu hứng, đương đại. Anh cũng đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Dân tộc Việt Nam, hoàn tất ba quyển sách, 4 DVD, 4 bộ phim, và hội viên của trên 20 Hội nghiên cứu thế giới. Con đường nghiên cứu của anh nhắm về sự giao lưu giữa các loại nhạc cổ truyền với các loại nhạc trên thế giới (World music), pha trộn nhạc ngẫu hứng, jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại quốc gia âm nhạc hoàn toàn mới lạ.
SỰ NGHIỆP

1955-1961: Học tại Saigon, tốt nghiệp Vĩ cầm (Lớp GS Đỗ Thế Phiệt).
1954-1961: Học trường trung học Pétrus Ký, Saigon.
1963-1970 : Học tại Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (CEMO – Centre d’Etudes de Musique Orientale – Center of Studies for Oriental Music, Paris), học các loại nhạc truyền thống Ba Tư, Ấn độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia, Đông Nam Á, Việt Nam.
1963: Học tại trường Ecole du Louvre, Paris.
1965: Chứng chỉ Anh văn (Certificate of Proficiency in English), University of Cambridge, Anh quốc.
1965: Chứng chỉ văn chương Pháp (Certificat de Littérature Française), Université de Sorbonne, Paris.
1967: Cao Học Dân Tộc Nhạc Học trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội, Paris.
1969: Chứng chỉ Âm Học (Certificat D’acoustique Musicale), Paris.
1970: Văn bằng Cao Đẳng Nhạc Việt Trung Tâm Nghiên Cứu Nhạc Đông Phương, Paris.
1973: Tiến Sĩ Dân Tộc Nhạc Học trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội, Paris.
1989: Văn bằng Quốc Gia Giáo Sư Nhạc Truyền Thống, Paris.
Từ năm 1965 tới 1966: Theo học lớp Nhạc điện (Musique Electro-Acoustique) với GS Pierre Schaeffer, người sáng lập loại Nhạc điện tử ở Pháp.

Từ năm 1968 tới 2009: Làm việc tại Viện Dân tộc Nhạc học của Viện Bảo Tàng Con Người (Département d’Ethnomusicologie du Musée de l’Homme) ở Paris (Pháp).

Từ năm 1968 tới 1987: Làm việc ở Viện Dân tộc Nhạc học của Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Và Truyền Thống Dân Gian (Département d’Ethnomusicologie du Musée des Arts et Traditions Populaires) ở Paris (Pháp).

Từ 1970 tới 1975: Giáo sư Đàn tranh của Trung Tâm Nghiên Cứu Nhạc Đông Phương, Paris.

Trần Quang Hải là Nghiên cứu sư của Trung tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học (CNRS) ở Paris từ năm 1968. Và từng là thành viên của nhiều đội ngũ nghiên cứu (RCP 178 – Recherche coopérative sur programme từ 1968 tới 1973; ER 65 – Equipe de recherche từ 1974 tới 1981; Laboratoire Associé từ 1974 tới 1987; UPR 165 – Unité Propre de Recherche từ 1982 tới 1985; UMR 9957 – Unité Mixte de Recherche từ 1986 tới 1997; UMR 8574 – Unité Mixte de Recherche từ 1997 tới 2004; UMR 7173 – Unité Mixte de Recherche từ 2005 trở đi).

Trong suốt thời gian 55 năm hành nghề nhạc sĩ chuyên nghiệp (1962 -2017), anh đã trình diễn trên 3,500 buổi cho khán giả Tây phương, và trên 1,500 buổi diễn cho học trò trên thế giới do các cơ quan chính thức của Na Uy (Rikskonsertene), Bỉ (Jeunesses Musicales de Belgique), Thụy Sĩ (Jeunesses Musicales Suisses), Pháp (Jeunesses Musicales de France, Association départementale pour diffusion et initiation musicale – ADDIM).

Từ 1971: Làm 15 dĩa 30cm / 33 vòng và 8 CD về nhạc cổ truyền Việt Nam, đặc biệt là về Đàn tranh. Nhiều sáng tác của anh đã được thu vào dĩa và được đăng trong các quyển tự điển Who’s Who in Music (từ năm 1987), Who’s Who in the World (từ năm 1981), và Who’s Who in France (từ năm 1997).

Về sáng tác nhạc, Trần Quang Hải có viết 12 ca khúc Thiếu nhi với sự cộng tác của nhà văn Duyên Anh năm 1984. Anh đã sáng tác trên 400 nhạc phẩm đủ loại với các ca khúc viết tiếng Việt, Pháp, Anh; và nhạc cho Đàn tranh, Đàn bầu, muỗng, Đàn môi, và hát Đồng song thanh. Ngoài ra, anh còn viết nhạc cho phim « Long Vân Khánh Hội»của Lê Lâm vào năm 1980, phim « Le Chant des Harmoniques » (Bài Ca Bồi Âm) vào năm 1989, và cho phim « La Rencontre du Coq et du Dragon » (Cuộc hội ngộ giữa Gà và Rồng) vào năm 1998.

Với tư cách nhà nghiên cứu Dân tộc nhạc học, Trần Quang Hải đã viết nhiều bài cho các tập san nghiên cứu nhạc học như « The World of Music » (UNESCO), « Journal of Asian Music Society (Cornell University, Hoa Kỳ), « Yearbook of the International Council for Traditional Music –ICTM, Hoa Kỳ), « Cahiers de Musiques Traditionnelles » (Thụy Sĩ), « Koukin Journal » (Tokyo, Nhật Bản).

Anh có viết một bài về nhạc Campuchiacho New Grove Dictionary of Music and Musicians, ấn bản lần thứ 1 (1980) (20 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa vài nhạc cụ Việt Nam cho New Grove Dictionary of Music, ấn bản lần thứ nhì (2001) (29 quyển, London, Anh quốc), định nghĩa cho trên 200 từ nhạc cụ của Việt Nam, và Đông Nam Á cho New Grove Dictionary of Musical Instruments, London, Anh quốc, Ấn bản lần thứ nhất (1984) (3 quyển).

Trần Quang Hải viết lịch sử nhạc Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan cho quyển tự điển Algemeine Muziekencyclopedia (1082-1984, Hòa Lan), và nhiều bài cho tự điển Encyclopaedia Universalis (1984, 1986, 1988, 1990, 1991, Paris).

Anh đã làm 4 DVD về giọng, và hát đồng song thanh: « Le Chant diphonique » với CRDP (Trung Tâm Địa Phương Tài Liệu Sư Phạm và Hàn Lâm Viên La Réunion, 2004), « Le chant des Harmoniques » (CNRS – Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học, 2005), « La Voix » với nhà xuất bản Lugdivine (2006, Lyon, Pháp), và « The Song of Harmonics » với CNRS, Paris, 2006.

Ngoài ra, nhà nghiên cứu Nhạc Dân tộc, cùng đạo diễn Pháp Patrick Kersalé đã thực hiện hai chương trình video « Mystères des Voix du Monde » (Sự huyền bí của các giọng thế giới) (2012), và « Le Chant des Harmoniques » (Bài ca bồi âm) (2013), trong đó Trần Quang Hải là nhân vật chính của hai video này.

Link: https://nhanvannghethuat.com/206-2/
———————————————————————————
Đại Học Cal State Long Beach, California
vinh danh GS Trần Quang Hải

NGUỒN https://vietbao.com/ – 21/02/2019
Trịnh Thanh Thủy thực hiện
Từ lúc nghe tin Trần Quang Hải, giáo sư tiến sĩ ngành Dân Tộc Nhạc Học (Ethnomusicology) mắc một bệnh nan y là ung thư máu, các anh chị em trong nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian” rất xúc động và có ý định làm một cái gì đó cho ông. Ngày 10 tháng 2, 2019, hai chi nhánh Bắc và Nam Cali của nhóm đã đồng phối hợp thực hiện một buổi chiều văn hoá nghệ thuật và ra mắt sách cho Trần Quang Hải.

GS Quyên Di trao bằng tưởng lục cho GS Trần Quang Hải

Bà Frances Thế Thủy trao bằng cho GS TQHải

Cuốn sách “Trần Quang Hải: 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt” là một tổng hợp các công trình nghiên cứu về âm nhạc của ông đã được góp mặt cùng kho tàng tài liệu âm nhạc VN. GS Hải đã từ Paris bay qua để dự buổi hội ngộ và ra mắt sách hy hữu này. Ngoài một số sinh viên của hai trường đại học Cal State và Fullerton, khoảng gần 200 thân hữu và đồng hương người Việt nghe tin đã về tham dự.

Nguyên GS TQHải là chồng của nữ danh ca Bạch Yến, con trai của cố GS Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu văn hoá và âm nhạc cổ truyền rất nổi tiếng ở VN. GS Hải lấy bằng Tiến sĩ âm nhạc dân tộc người Việt tại Pháp, làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con người ở Pháp (Musée de l’Homme). Ông đã có những nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực Dân tộc âm nhạc học như: hát đồng song thanh, phát triển gõ muỗng. Ông được tôn xưng danh hiệu “vua muỗng” và Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Ông là người trình diễn đàn môi Mông (Hmong) tại nhiều quốc gia nhất thế giới.” Ông cũng là thành viên của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế. Ông và danh ca Bạch Yến đã thực hiện hơn 3000 buổi giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở 70 nước trên thế giới…(Theo Wiki)

Ban đại diện nhóm NVNT&TTG

Ban hợp ca

Nhân dịp buổi ra mắt sách được tổ chức tại Đại học Cal State Long Beach, CA, USA, bà Teri Yamada, khoa trưởng Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ gốc Á đã vinh danh GS TS TQHải.

Thật tiếc, bà Teri Yamada đã không được gặp mặt giáo sư vì giờ cuối bà phải bay qua Ấn Độ dự một buổi lễ hội về văn hoá, nên bà viết một lá thư rất chân tình gởi ông. Bà cáo lỗi và ủy nhiệm GS Quyên Di thay bà chào mừng, vinh danh và trao bằng tưởng lục cho ông.

GS Quyên Di dạy ở đây và cũng là thành viên trong khoa nghiên cứu này cho biết thêm, “Đây là một vinh dự cho Cộng đồng VN vì hiếm khi Khoa trưởng Yamada viết một lá thư trân trọng như thế này. Tôi đã từng dự nhiều buổi vinh danh nhưng chưa bao giờ tôi thấy bà viết một lá thư như thế. Trước đó bà đã đọc tất cả các tài liệu viết về GS, cả những tài liệu của GS viết, nghiên cứu rồi đúc kết lại thành bức thư nói trên và trân trọng trao bằng tưởng lục cho GS. Bà thay mặt Đại học Cal State Long Beach vinh danh GS Hải đã có công phi thường đóng góp vào kho tàng âm nhạc VN qua các công trình nghiên cứu âm nhạc, văn hoá, nghệ thuật dân tộc qua thời gian, qua các thế hệ.

Hàng đứng: Nhóm NVNT&TTG, Hàng ngồi: GS Tahara, GS TQHải, TT Kiều Chinh, NV Nguyễn Quang, NV Quyên Di

Quan Khách

Ngoài ra bà Frances Thế Thủy, Ủy viên giáo dục học khu Westminster cũng lên trao bằng tưởng lục cho ông. Hiện diện trong buổi lễ có tài tử Kiều Chinh, GS Tahara Hiroki, BS Steven Le, nhà văn Nguyễn Quang (phu quân NV Minh Đức Hoài Trinh), NS Lê Văn Khoa và phu nhân, NS Võ Tá Hân và phu nhân, BS Phạm Gia Cổn và phu nhân, bà quả phụ Lê Trọng Nguyễn, Nhạc Trưởng Bùi Quỳnh Giao..v..v…

Sự có mặt của GS người Nhật Tahara Hiroki hôm nay đã khiến tôi rất ngạc nhiên. Ông là người Nhật 100% mà nói và viết tiếng Việt rất sành sõi, thích ăn nước mắm, thích nhạc Việt Bolero. Tôi hỏi ông duyên cớ nào ông lại có mặt ở đây hôm nay. Ông nói ông hâm mộ tài năng của GS TQ Hải mà bay qua Mỹ để được gặp GS Hải. GS Hải rất nổi tiếng ở bên Nhật vì GS đã có nhiều đề tài nghiên cứu về âm nhạc và làm việc chung với các nhà nghiên cứu âm nhạc của Nhật Bản về nhạc cung đình Huế và nhạc dân tộc VN nói chung. GS Tahara cũng nghe tiếng của cố GS Trần Văn Khê là cha của GS Hải nhưng tiếc quá không được gặp cụ vì cụ đã qua đời.

Tôi hỏi thêm là GS Tahara thích nhạc Bolero vậy GS có thấy nhạc cổ truyền VN có gần gụi với nhạc Bolero VN không? Ông bảo ông thấy nhạc Bolero VN gần giống với nhạc Tanka của Nhật hơn, nhưng khác ở chỗ Tanka không có tố chất ngọt ngào còn Bolero phải hát ngọt ngào, mượt mà, đầy cảm xúc mới được.
Ông bà GS Lê Văn Khoa, Nguyễn Hùng và NV Việt Hải (ngồi)

Trình diễn thời trang áo dài Bà Nhu

GS Trần Mạnh Chi là trưởng nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng thời gian”, đồng thời là Trưởng ban tổ chức đã lên giới thiệu các thành viên Bắc và Nam Cali của nhóm, có nhà văn Trần Việt Hải là cố vấn. GS Quyên Di và Thụy Vy là 2 MC chính của buổi vinh danh.

GS TQHải được mời lên và ông xuất hiện với một vóc dáng rất khoẻ mạnh, giọng nói thì hùng hồn, sang sảng. Ông cám ơn BTC đã thực hiện buổi rms này và nói về quá trình hoạt động của ông ở hải ngoại.

Ông qua Pháp năm 1961 tới nay đã 58 năm. Thời gian đầu để học nhạc Tây Phương và nghiên cứu về nhạc học. Sau đó ông đi tìm hiểu thêm và khám phá ra âm nhạc VN không chỉ đơn thuần có Hò, Xang, Xê, Cống, đàn cò, đàn tỳ bà, độc huyền hay hát chèo, cải lương. Nhạc VN còn có nhạc của 53 sắc tộc khác của những dân tộc ở cao nguyên Trung phần như Ba na, Gia Rai, Êđê, Xê đăng… Ở phía Bắc có người Thái, Tày, Thổ, Nùng, Dao…. cũng có nhạc. Nghĩa là nhạc VN có thiên hình vạn trạng do sự phối hợp của nhiều loại. Trong số các nhạc cụ được sáng chế ngày nay có 3 cây đàn là niềm tự hào cho cái đẹp của VN. Đó là đàn T’rưng của người sắc tộc Gia Rai, đàn K’ni 2 giây và cây đàn đá. Ông đã đi khắp nơi trên thế giới để giới thiệu những cái hay cái đẹp của âm nhạc VN, như nhạc Cung Đình Huế, nhạc của đồng bào thiểu số, các loại Hát Tuồng, hát Chèo, Ca Trù, Ca Huế, Đàn Ca Tài Tử Nam Bộ. Ông giới thiệu cho toàn cầu biết sự phong phú đa dạng của nhạc VN.

Triển lãm tranh

Ông đã giới thiệu và trình diễn lối hát Đồng Song Thanh và biểu diễn Đàn Môi khiến các cử toạ kinh ngạc và vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt. Trong quá trình nghiên cứu ông khám phá ra loại hát Đồng Song Thanh của người Mông Cổ vùng Tây Bá Lợi Á tức là hát 2 giọng cùng một lúc, có thể đổi từ giọng chính thành giọng cao. Để cải tiến, ông đã tạo ra phương pháp hát Đồng Song Thanh mới. Hơn thế nữa, có thể dùng phương pháp hát này để trị bệnh cho những người bị đứt thanh quản có thể nói được mà không phải phẫu thuật. Lúc nghiên cứu ông đã chấp nhận để người ta chiếu quang tuyến X trong một thời gian dài để thí nghiệm, nhằm biết được hoạt động của các thớ thịt ở cổ họng khi không dùng đến dây thanh quản mà vẫn tạo ra được tiếng nói. Các bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo ông có thể bị ung thư cổ họng nhưng ông đã sẵn sàng ký vào biên bản cam kết, biến mình thành “con vật” thí nghiệm cho những nghiên cứu của mình bất chấp cả tính mạng.

Để buổi ra mắt sách đầy tính văn hoá nghệ thuật thêm đặc sắc, BTC đã trình diễn một màn “Thời trang với áo dài qua thời gian” với sự góp mặt của các anh chị em trong nhóm cùng sự tham gia của Hội Ái Hữu Sinh Viên VN Fullerton. Những chiếc áo dài từ cổ truyền, Lemur Cát Tường, Bà Nhu, Bà Ba, cho tới cách tân qua các thời đại đã làm khán giả thích thú và kinh ngạc. Những hoạ phẩm nghệ thuật cũng được triển lãm do các hoạ sĩ đóng góp như: Lưu Anh Tuấn, Lê Thúy Vinh, Hồ Thành Đức, Bé Ký, Hoàng Vinh, Đàm Quốc Cường, Lương Nguyễn, Nguyễn Thái Bình… Các màn hợp ca, song ca mang đầy tính dân tộc do các nhạc sĩ, ca sĩ đồng trình bày đã góp phần phong phú cho buổi rms.

Tôi được tiếp xúc với GS Lê Văn Khoa và xin ông chia sẻ cảm nghĩ về âm nhạc cổ truyền khi ông là một nhạc trưởng chuyên về âm nhạc Tây Phương. Ông nói “Âm nhạc là ngôn ngữ không lời khi con người không hiểu nhau thì âm nhạc giúp để hiểu nhau. Cho nên dù là nhạc cổ truyền hay tây phương nó cũng vẫn là âm nhạc. Từ lâu người Việt cổ súy và bảo vệ tối đa nhạc truyền thống, không muốn nó lai nhạc Tây Phương. Người theo nhạc Tây phương thì cho rằng phương thức làm việc của Tây phương có hệ thống ngon lành hơn, nên coi thường nhạc cổ. Như vậy thì thiệt hại quá, tôi dung hoà cả hai bằng cách dùng dân ca VN viết cho nhạc cổ truyền của người Ukraine và họ rất ngạc nhiên. Họ nói lần đầu tiên trên thế giới mới có người làm như vậy. Tôi dùng đàn tranh, đàn t’rưng bằng tre cho hoà tấu với dàn nhạc Tây Phương mới trình diễn ở Houston tháng 11/2018 khiến ai cũng ngạc nhiên hết. Họ thấy thích thú vì cả hai đều hoà điệu. Mục đích của tôi là làm sao phổ cập để cho cả 2 hoà nhịp.”

Trịnh Thanh Thủy thực hiện
Orange County, CA.

Link: http://cothommagazine.com/index.php…

Lê Lộc e thẹn hỏi ‘vua đàn môi’ Khai Nguyên cưới vợ chưa và được chàng thổi tặng làn điệu tỏ tình😍


Lê Lộc e thẹn hỏi ‘vua đàn môi’ Khai Nguyên cưới vợ chưa và được chàng thổi tặng làn điệu tỏ tình😍

5 593 vues
14 avr. 2018

12 6

Partager

1,63 M abonnés
Lê Lộc e thẹn hỏi ‘vua đàn môi’ Khai Nguyên cưới vợ chưa và được chàng thổi tặng làn điệu tỏ tình😍 ✅ Fanpage chính thức: http://bit.ly/FanpageGIAIMAKYTAI ► Playlist các tập GMKT: http://bit.ly/Playlist-GMKT 🎬 NỘI DUNG: Đặng Văn Khai Nguyên hiện đang sở hữu 600 cây đàn môi được sưu tập từ nhiều loại của các quốc gia trên thế giới. 🌟THÔNG TIN KHÁCH MỜI: Kỉ lục gia vua đàn môi Đặng Văn Khai Nguyên.

CONIE VÕ & ALEX : NGỌC HUỆ tiểu sử – biography


TIỂU SỬ

Ngoc Hue is a talented Vietnamese international singer with a heart of gold. She first started singing the Performing Arts School in Vietnam where she was trained in a variety of musical arts. She continued her vocal & performing art here in California. For the past 17 years, Ngoc Hue has not only performed & entertained the Vietnamese people here in United States but also all over the world; Australia, Europe, Canada, including Russia and in Poland for the late Pope John Paul. She has performed numerous times at the Annual Vietnamese Catholic Congregration in Germany, Roma, and Washington DC. She has released over 20 music albums internationally market. Ngoc Hue has appeared as the lead singer in the DVD & CD of the “Xin Vang” charity group. This group has been recognized as one of the most charitable group in the community. 

Aside from Ngoc Hue’s singing talent, she has the heart of gold. She has given back to the Vietnamese communities with her charity works. She has put all her heart & soul into helping the poor and the people in need. She has helped built a church in a poor area of Vietnam. When Hurricane Katrina destroyed the Louisiana area, Ngoc Hue was one of the first volunteer to help the people in the devastated areas. Recently, she has helped the people in the flood area of Vietnam. All the Priests and Fathers who worked with Ngoc Hue have one thing to say about her, “A talented international singer with a heart of gold.” 

Please visit the websit http://www.ngochue.com for additional information concerning her music &   charitable works.

Người viết: CONIE VÕ

Ngọc Huệ sinh tại Sài Gòn và là con út trong một gia đình có 6 người con. Ngọc Huệ học nhạc từ năm lớp 6.Những năm sau đó, cô luôn tham gia vào những chương trình văn nghệ tại trường. Ngọc Huệ được sự ảnh hưởng lớn lao từ những tham gia này và một phần cũng vì gia đình cô làm việc liên quan đến nghệ thuật. Từ khi bắt đầu theo học trường nữ trung học Sương Nguyệt Anh ở Sài Gòn, Ngọc Huệ đã được học nhạc năm lớp 6 với sự hướng dẫn của cô Mai Hà (vợ của nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu). Sau đó cô được trường tuyển chọn để học thêm về nhạc lý, ký xuớng âm và những người đã luyện cho cô về chất giọng là Nguyễn Thành Vân và Lê Ngọc Chân. Sinh trưởng trong một gia đình có nhiều liên hệ đến thế giới âm nhạc, có người chị từng được cho đi học hát tại “lò” của nhạc sĩ Nguyễn Đức, có sẵn vốn kĩ thuật nhưng trong những năm trung học, âm nhạc chỉ là một hình thức làm giàu cho vốn sống của cô. Ngọc Huệ rời Việt Nam khi đang học năm thứ 2 cuả Đại Học Tàì Chính Kế Toán và sang định cư tại Sydney Úc Châu. Cô vẫn chú trọng vào việc đi học lai và mong ước trở thành một Dược sĩ, nhưng vì không biết có đạt được hay không nên bước đầu Đại Học cô theo ngành hóa học tai Grandville College để có thể trở thành một kỹ sư hóa học sớm hơn. Bên cạnh, cô vẫn đi trình diễn, và ca nhạc trở thành một người bạn thân thiết, một phần đời sống hằng ngày. Cô bắt đầu xuất hiện tại các buổi trình diễn gây quỹ từ thiện trong những buổi nhạc hội, một số vũ trường như Đêm Màu Hồng, Queen Bee ở Sydney và các khu vực khác trên nước Úc. Sau đó sang định cư tại Cali, tiếp tục sự nghiệp và Ngọc Huệ đã thực hiện được niềm mơ ước của cô là trở thành một tên tuổi trong dòng sinh họat ca nhạc hải ngoại. Ngay từ thời gian đầu cô may mắn được một số trung tâm băng  nhạc ở đây mời thu thanh. Đầu tiên Ngọc Huệ thu tiếng hát của mình trên băng nhạc “Nụ hôn tình đầu” với trung tâm Diễm Xưa, kế đó là Tú Quỳnh với băng nhạc “Biển tình yêu”, Dino Nguyễn với “Tình ca nhạc trẻ”. Một thời gian sau, Ngọc Huệ cộng tác thường xuyên với Fame Productions và một số trung tâm khác như Hải Âu, New Castle v.v… Sự có mặt của Ngọc Huệ ở miền Nam Cali như vậy chứng tỏ đã gây được một tiếng vang thuận lợi. Ngoài việc thu thanh trên băng nhạc và CD cũng như thỉnh thỏang xuất hiện trên sân khấu của các chương trình văn nghệ, Ngọc Huệ cũng được mời hát tại một số vũ trường ở đây như Diamond, Caravelle, Đêm Phương Đông, Queen Bee, Ritz. Ngọc Huệ đã Cộng Tác với trung tâm Diễm Xưavới 5 tác phẩm CD: 1) Tình Khúc Mong Manh, 2) Gọi Tình Thiết Tha, 3) Chờ Một Tình Yêu, 4) Giọt Sương trên Mí Mắt, 5) Bóng Tối Ly Caphê, hai trong số các bài hát trong các CD trên là “Giọt sương trên mi mắt” của Thanh Tùng và “Bóng tối ly cà phê” của Dương Thụ đã gắn liền với tên tuổi của cô vì đã để ấn tượng sâu cho khán giả khi nghe Ngọc Huệ trình diễn trong CD hay live. Ngọc Huệ xuất hiện trong video của Trung Tâm Diễm Quỳnh, Diễm Xưa, Thế Giới Nghệ Thuật và đã có mặt trong 3 chương trình của trung tâm này là: “Hoa trên dòng nhạc”, “Hòang Thi Thơ: Một Đời Cho Nghệ Thuật”, “Thế Giới Cười 2”.Trung tâm Blue Ocean đã thực hiện riêng một CD cho tiếnh hát của cô là “Chiều mưa Cali”. Trước đó với trung tâm Thúy Nga, Ngọc Huệ đã có dịp xuất hiện trong 5, 6 chương trình “Paris by Night” và đã được trung tâm này thực hiện 3 CD hát chung với Don Hồ là: Hạnh Phúc Trong Tim, Hòai Niệm Dấu Yêu và đặc biệt là Hải Đảo Cô Đơn là CD có số lượng bán kỷ lục cao tại hải ngọai. Ngoài ra còn 1 CD cho riêng tiếng hát của cô. Với Trung Tâm Văn Nghệ Việt Nam, Ngọc Huệ đã trình bày nhạc phẩm “Nét son buồn” trong chương trình Video & DVD MÙA XUÂN TRÊN ĐỈNH BÌNH YÊN phát hành vào tháng 2.2003. Đây là một bài nhạc có giá tri nghệ thuật được dàn dựng và quay rất công phu bởi Charles Phạm (Đạo diễn) Ngoài ra Ngọc Huệ còn hát chung với Anh Tú trong GIA DINH UP TIGHT với 4 album do các trung tâm NEW CASTLE, LOVEvà MAI thực hiện và phát hành với số lượng rất cao. Khi rời Trung Tâm Diễm Xưa, Charles P đã thưc hiện cho Ngọc Huệ Các Tác Phẩm: Tình Khúc Muôn Thuở 1) Kiếp nào có yêu nhau, 2) Thảo Kính Cha Mẹ, 3) Latin- Người Tình Nữ,  4) Đồng Xanh, 5) Niềm Tin Mùa Giáng Sinh ( xem phần Order DVD & CD để biết thêm chi tiết). Về mặt lưu diễn, Ngọc Huệ có dịp đưa tiếng hát của mình đến nhiều nơi trên Hoa Kỳ, Canada, Âu Châu và Úc, kể cả những nơi cô chưa bao giờ nghĩ tới trong lịch trình như Liên Xô, Tiêp Khắc và Ba Lan. Không chỉ là một nghệ sĩ, NGỌC HUỆ còn là một con người của cộng đồng với rất nhiều các công tác Từ Thiện như:

  1.  Hoạn Nạn: Bão Lụt, Động Đất, Gió Xoáy, Cháy Rừng.
  2.  Giúp đỡ Trẻ Em & Người Nghèo: Bệnh
  3.  Giúp Nguời Khiếm Thị, Người Cùi & Tàn Phế.
  4.  Đóng góp vào việc quyên góp xây cất Nhà Thờ.

Là một con chiên ngoan đạo Ngọc Huệ thường đóng góp nhiều trong những chương trình văn nghệ do các tổ chức Công Giáo thực hiện. Cô là nữ ca sĩ duy nhất được Liên Đòan Công Giáo VN tại Đức mời trình diễn tại Đại Hội Công Giáo ở đây liên tiếp 3 năm. Lần thứ nhất vào năm 1999 cùng với Anh Khoa, năm 2000 cùng với Nguyễn Ngọc Ngạn và năm 2001 với  cùng Charles Phạm. Ngòai ra Ngọc Huệ cũng đã từng hát cho các công đòan Công Giáo khắp nơi Hoa Kỳ& Thế Giới. Đặc biệt, Ngọc Huệ đã từng tham gia trình diễn tại Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tại Denver, Colorado và Toronto (Canada) do Đức Thánh Cha John Paul II chủ tọa. Vào Năm 2003, Ngọc Huệ đã tham dự và trình diễn cho chương trình Hội Ngộ Niềm Tin tại ROMA – ITALY, đây là chương trình Đại Hội Công Giáo Việt Nam tập trung từ khắp thế giới về ROMA.

Năm 1991, Ngọc Huệ đã được hội đồng thành phố Cabramatta / SYDNEY (Úc) khắc tên Miss Ngọc Huệ trên bia vàng chung với khoảng 50 mạnh thường quân để ghi nhớ sự đóng góp của cô trong công trình xây dựng một khu Việt Nam tại đây. Đó cũng là vinh dự rất lớn cho người Việt Nam sống ở nước ngoài vì khi du khách đến thành phố này sẽ thấy tên của NGỌC HUỆ được khắc trong danh sách 9 người đầu tiên trong bia đá vàng tại cổng chào của thành phố. Qua nghệ thuật, NGỌC HUỆ đã nói lên ước vọng của mình là bắt đầu đóng góp cụ thể một phần khiêm tốn vào việc xây dựng cuộc sống.

Tháng 10/2006 Ngọc Huệ (Ca sĩ Công Giáo duy nhất) được vinh dự tham dự & trình diễn cho Chương trình Khánh Thành Nguyện Đường Đức Mẹ LAVANG tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn với khoảng 10.000 giáo dân Công Giáo cùng Quý Tổng Giám Mục, Quý Giám Mục, Quý Linh Mục, Quý Tu Sĩ nam nữ khắp nơi trên toàn Hoa Kỳ, Thế Giới & Việt Nam đến đây. Đây là 1 niềm vinh dự lớn lao cho Liên đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, vì tượng Đức Mẹ LAVANG biểu tượng Người Công Giáo Việt Nam được đặt trong Nguyện Đường này, với hàng trăm tượng Đức Mẹ biểu dương của từng Quốc gia. Xin xem các hình ảnh phần Tin Tức.

Ngọc Huệ vẫn tiếp tục tham gia các Lớp về Nhạc & Trình Diễn tại Hoa Kỳ & Chúc Mừng GĐ Ngoc Huệ được Xum Họp tại Cali.

Người Viết: Alex

www.ngochue.com

 

TRƯƠNG BÍCH NGỌC : Nhận diện đúng giá trị văn hóa của “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ”


TS. Lê Thị Minh Lý:

Nhận diện đúng giá trị văn hóa của “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ”

Thứ Tư, 07/12/2016, 10:13:09

NDĐT- Sự kiện “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ” được UNESCO vinh danh là niềm vui lớn đối với di sản nước nhà, đồng thời cũng đặt câu hỏi trước việc phải nhận diện đúng về giá trị văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu. Đó là chìa khóa để tháo gỡ những băn khoăn lo ngại về sự biến tướng có thể đang tồn tại trong hầu đồng – nghi thức văn hóa hạt nhân của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ.

Nhận diện đúng giá trị văn hóa của

Liên hoan văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu.

Chúng tôi có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Lê Thị Minh Lý – Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát huy giá trị di sản văn hóa về những giá trị của “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ” về những vấn đề chung quanh sự kiện này.

UNESCO không vinh danh tín ngưỡng mà vinh danh giá trị văn hóa

– Thưa bà, chúng ta vô cùng vui mừng trước thông tin, hồ sơ về Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ được Ủy ban Liên Chính phủ Công ước UNESCO 2003 nhanh chóng thông qua mà không bị chất vấn, tranh luận. Vậy, hồ sơ này đã thuyết phục được Hội đồng UNESCO như thế nào?

-Việc vinh danh này nhằm mục tiêu nhận diện giá trị văn hóa của Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu cùng với các cộng đồng là chủ thể, có tính đại diện. Họ đã thực hành di sản lâu đời, được trao truyền qua nhiều thế hệ. Nay họ đề cử và tự cam kết bảo vệ bằng kế hoạch chương trình cụ thể. Hồ sơ của chúng ta đã đáp ứng tất cả các tiêu chí đó vì vậy ngay từ vòng 2, vòng thẩm định của Ban Tư vấn, hồ sơ đã được đồng thuận 100%. Khi Ủy ban xét lần cuối ngày 1-12 hồ sơ này đã ngay lập tức được thông qua.

Hồ sơ “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ” được UNESCO công nhận trước hết là ở giá trị tập quán/tục thờ Nữ thần. Các vị thần là nữ tượng trưng cho thiên nhiên (Lửa, nước, đất, cây). Những nhân vật khác được thờ trong tín ngưỡng thờ Mẫu là những nhân vật có thật trong lịch sử hoặc chỉ có trong truyền thuyết nhưng được người Việt tin, thờ và trao truyền tập quán đó. Đó là giá trị văn hóa có tính biểu tượng trong tập quán thờ nữ thần và các nhân vật khác là anh hùng, người có công đối với đất nước.

Tín ngưỡng thờ Mẫu được vinh danh ở khía cạnh thứ hai, bởi đó là một nghệ thuật trình diễn tổng hợp có âm nhạc, bài hát, điệu múa, trang phục, có các đạo cụ, lề lối trong trình diễn cùng những thực hành văn hóa như ăn trầu, uống rượu, dâng hương, phát lộc hoặc lắng nghe lời thỉnh cầu, giao tiếp với cộng đồng… Tất cả những cái đó là giá trị văn hóa. Đâu đó có trong các nghệ thuật trình diễn khác của Việt Nam cũng có, nhưng nó đã được hội nhập, tích hợp và sáng tạo ở tín ngưỡng này tạo thành giá trị văn hóa đặc sắc – Lên Đồng.

Giá trị văn hóa của thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc trình diễn với thể hiện quy tắc ứng xử trong văn hóa tâm linh. Các thực hành nghi thức tín ngưỡng thờ Mẫu như một vở kịch có lớp lang, được trình diễn theo thứ tự bởi ý niệm, bởi thực hành với sự thay đổi âm nhạc, ca từ, nghi lễ, khăn áo, đạo cụ và cách thức trình diễn.

Ngoài ra không thể không kể đến giá trị văn hóa của nghệ thuật điêu khắc, hội họa, trang trí, thêu may trong điện thờ, trong trang phục và đồ lễ. Như vậy, chúng ta phải nhìn nhận rõ, UNESCO không vinh danh tín ngưỡng, vinh danh dưới góc độ tôn giáo hay tâm linh mà vinh danh dưới góc độ văn hóa của tín ngưỡng thờ Mẫu đó là tri thức dân gian, ngôn ngữ truyền khẩu, nghệ thuật tạo hình, trang trí, âm nhạc, ứng xử, giao tiếp với công chúng… Đó chính là ghi nhận những sáng tạo văn hóa của cộng đồng đã không ngừng được tiếp nối và được bảo vệ, giữ gìn cho đến ngày nay.

-Trước và trong quá trình “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ” được lập hồ sơ trình UNESCO, cũng có không ít quan điểm trái chiều về việc hầu đồng – nghi thức hạt nhân là mê tín, dị đoan và đang bị biến tướng. Hành trình để chinh phục được UNESCO có gặp nhiều gian nan không, thưa bà?

– Trước năm 1990 khi chưa có sự đổi mới toàn diện về các mặt thì có những quan niệm cho rằng thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu là lạc hậu, thậm chí bị quy chụp là mê tín, dị đoan. Sau này với nhận thức đổi mới về văn hóa, khi hội nhập đời sống văn hóa thế giới, chúng ta thấy thực hành tín ngưỡng này có những giá trị văn hóa rõ rệt, được nhiều cộng đồng duy trì, trao truyền vì thế chúng ta đã thực sự nghiêm túc đánh giá để có một thái độ ứng xử bình đẳng như đối với các thực hành tín ngưỡng khác..

Nhưng từ thực tế, nhiều người vẫn băn khoăn, tại sao lại đốt nhiều vàng mã, tại sao có những giá hầu rất nhiều tiền lộc được phát ra, tại sao lại có thể bỏ nhiều tiền để thực hiện một vấn hầu? Đó là câu hỏi cần thiết mà các nhà nghiên cứu phải tìm hiểu và chính các chủ thể đang thực hành tín ngưỡng này sẽ cho chúng ta câu trả lời.

Sau khi “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Định” được ghi nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định cùng với cộng đồng đã đề nghị Bộ VHTT và Du lịch trình Thủ tướng cho phép xây dựng hồ sơ “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” vào năm 2015 để trình UNESCO, khi đó cũng đã đặc biệt lưu ý làm sao vinh danh thật sự đúng ý nghĩa của Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Quá trình nghiên cứu và làm hồ sơ trong vòng 5 năm qua cũng là điều kiện để nâng cao nhận thức của cộng đồng và toàn xã hội về bản chất, giá trị và ý nghĩa của việc bảo vệ nó.

Do vậy, UNESCO ghi nhận “những thực hành văn hóa liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu”. Việc vinh danh này không nhằm so sánh cao thấp, hơn kém về giá trị với các thực hành tín ngưỡng tôn giáo khác và không cho phép dùng danh hiệu đó vào mục đích lợi nhuận cá nhân, gây phiền phức đối với các tín ngưỡng khác.

Vâng, như bà vừa nói, những gì đang được nhận diện là biến tướng của nghi thức tín ngưỡng thờ Mẫu mà hạt nhân nằm ở nghi thức hầu đồng? Các giá đồng, hầu đồng tràn lan với những khoản tiền thật rất nhiều có phải là một sự biến tướng. Bởi nếu điều đó được tự do phát triển thì liệu có ảnh hưởng tới giá trị di sản mà chúng ta vừa được ghi nhận?

– Theo tôi chúng ta rất cần có biện pháp để ngăn ngừa những hệ quả không mong đợi từ việc vinh danh: đó là việc ngộ nhận về danh hiệu. Như tôi đã nói phần trên thực chất là UNESCO ghi nhận những giá trị văn hóa được sáng tạo bởi cộng đồng. Vậy phải làm rõ giá trị đó là gì để bảo vệ. Thứ hai là lạm dụng việc thực hành, trình diễn để trục lợi. Cũng phải có cách nào đó để nhận diện, xử lý vấn đề này.

Cộng đồng sẽ có quyết tâm và biện pháp cụ thể hơn để bảo vệ di sản vừa được công nhận với sự tham gia của các nhà nghiên cứu, nhà quản lý văn hóa ở Trung ương, địa phương, các tổ chức xã hội có liên quan.. Nên có các hình thức cộng đồng liên kết, chia sẻ, hỗ trợ để cùng thực hành văn hóa một cách đa dạng.

“Phải có sự cân bằng, hài hòa để phát triển di sản”

– Thưa bà, trước những hiểu biết chưa đúng về thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu, làm thế nào để chính cộng đồng nhận diện được những gì bị coi là biến tướng của hầu đồng và làm sao để không bị rơi vào tình trạng thương mại hóa nghi lễ hầu đồng?

Quan trọng nhất là họ và nhận thức của họ. Phải chính cộng đồng chỉ ra cho nhau, uốn nắn cho nhau. Những thanh đồng sẽ phải tự trao truyền cho nhau để thực hành cho đúng phép tắc và phản ánh đúng giá trị văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu. Sẽ không có nhà quản lý nào đứng ra chỉ được người nào thực hành đúng, người nào không thực hành đúng. Chính cộng đồng phải tự nhận diện làm thế nào là đúng, tự bảo ban nhau nên làm thế nào.

Với việc có danh hiệu này các nhà nghiên cứu văn hóa, các nhà quản lý văn hóa sẽ chú ý hơn nữa đến khía cạnh bảo vệ văn hóa. Làm sao có những người trao truyền xứng đáng để kế thừa giá trị cốt lõi của nghệ thuật trình diễn trong Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu hoặc những giá trị văn hóa khác. Muốn giữ được giá trị đó, nhà nghiên cứu phải cùng cộng đồng nhận dạng đâu là giá trị và đâu là sự biến đổi mà không phải là giá trị. Từ đó, cùng nhau gìn giữ và quảng bá để mọi người cùng hiểu giá trị văn hóa cốt lõi của tín ngưỡng thờ Mẫu.

Về việc đốt vàng mã hoặc sử dụng quá nhiều tiền để mong lợi ích đặc biệt cho riêng mình thì đó là thuộc về niềm tin, tín ngưỡng, không thể áp đặt mà chỉ giải quyết được bằng việc nâng cao nhận thức, tự nhận thức. Ai cũng phải lao động, học tập, phấn đấu thì mới thành công được. Tâm linh cho ta niềm tin, ý chí nhưng không có hành động thì không thể gặt hái thành công.

-Theo bà, khi Nghi thức tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ được UNESCO vinh danh, chúng ta cần phải có biện pháp bảo tồn như thế nào?

– Thứ nhất, cần có những cuộc thảo luận với cộng đồng thực hành tín ngưỡng này về bản chất của việc vinh danh, trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi nhóm, của cá nhân. Cần gắn kết cộng đồng thực hiện mục tiêu chung này. Qua đó sẽ loại trừ những biểu hiện không tích cực, làm ảnh hưởng đến cộng đồng chung và danh hiệu.

Thứ hai, các cơ quan quản lý khuyến khích các nghệ nhân phát huy vai trò của mình, gương mẫu trong thực hành để vừa bảo vệ di sản, vừa thực hiện được nhu cầu tâm linh của mình. Phải có sự cân bằng, hài hòa để phát triển.

Thứ ba, các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu cùng với cộng đồng xây dựng một số nhóm nòng cốt/các bản hội để tiên phong hoạt động như một mô hình bảo vệ di sản. Ở đó sẽ đi sâu vào các hoạt động: tọa đàm để nâng cao sự hiểu biết, để gắn kết cộng đồng; giới thiệu di sản; hoạt động từ thiện xã hội… Các nhóm này làm tốt sẽ có ảnh hưởng lan tỏa chung. Ở Hàn Quốc nhóm Kut tương tự như của ta có 5 cộng đồng như vậy.

Thứ tư, nhà nước cần có những nghiên cứu, đánh giá thường xuyên để nắm được những thay đổi của thực hành này cả tích cực và không tích cực để có biện pháp kịp thời phát huy hoặc điều chỉnh. Đó chính là vấn đề của phát triển bền vững.

Thứ năm, cần thiết nhất là nắm được các chủ thể văn hóa là những người đang thực hành di sản bao gồm thủ nhang, pháp sư, đồng đền, cung văn, người phụ lễ… Họ nhận thức, thực hành chuẩn văn hóa thì mọi thứ đều chuẩn.

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Nhỡ thực hành nghi lễ tại Phủ Phúc Sinh Trường (Thái Thụy, Thái Bình) – Tác giả ảnh: Nguyễn Á

– Hiện nay, trong phát huy di sản, có việc sân khấu hóa nghi lễ hầu đồng Tam phủ, Tứ phủ được nhiều đơn vị mạnh dạn thử nghiệm. Bà đánh giá thế nào về những hình thức sân khấu hóa này?

– Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu có nhiều giá trị đặc sắc nên việc khai thác, sáng tạo ra những sản phẩm văn hóa mới thuộc hình thức nghệ thuật khác là chuyện bình thường và nên làm. Từ Quan họ, Ví giặm, Chèo cũng đã sản sinh nhiều bài hát mới có giá trị đó thôi. Nhưng chúng ta phải rõ ràng trong câu chuyện này, trước hết phải tôn trọng và biết tri ân những chủ thể đã sáng tạo, trao truyền và gìn giữ văn hóa đó.

Chúng ta nên khuyến khích vì các sáng tạo mới đó cũng là một cách giới thiệu di sản, làm cho di sản thêm sức sống. Những sáng tạo ấy sẽ là rất tốt nếu họ có sự liên kết với cộng đồng, để cho cộng đồng cơ hội tham gia vào những sáng tạo đó để nhận diện những giá trị văn hóa cốt lõi của họ, để không bị mai một, sai lệch. UNESCO luôn lưu ý đến việc trân trọng văn hóa cộng đồng bằng cách trả lại cho cộng đồng những giá trị tương xứng khi khai thác sử dụng di sản của họ. Có thể không phải là cách trả sòng phẳng như việc sử dụng bản quyền, nhưng nên có sự thỏa thuận hoặc ngầm hiểu đó là sự hỗ trợ trở lại cho cộng đồng để họ có thể bảo vệ di sản của họ tốt hơn.

Tôi cho rằng, nếu mai kia có cơ hội đưa di sản ra nước ngoài thì nên nghĩ đến cộng đồng chủ thể để họ được giới thiệu văn hóa của họ. Hoặc nếu có sân khấu hóa thì cũng phải nói rõ ràng, đây là sáng tạo trên cơ sở nghiên cứu thực hành của ai, cộng đồng nào và sáng tạo ở chỗ nào chứ không thể phớt lờ cộng đồng.

Xin cảm ơn TS. Lê Thị Minh Lý!

Các nhà nghiên cứu quốc tế đánh giá rất cao về Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ. Từ những năm 90, có một nhà dân tộc học người Mỹ, TS. Frank Proschan từng nói: “Lên đồng là bảo tàng sống về văn hóa dân gian của Việt Nam”. Lên đồng có giá trị vì nó có sự tương đồng với văn hóa trong khu vực với các nước Đông Nam Á và Châu Á – Thái Bình Dương như Mông Cổ, Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia, Myanmar… Việc công nhận Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ góp phần vào sự đa dạng văn hóa chung của khu vực.

TRƯƠNG BÍCH NGỌC thực hiện

https://www.nhandan.com.vn/vanhoa/dien-dan/item/31487302-nhan-dien-dung-gia-tri-van-hoa-cua-thuc-hanh-tin-nguong-tho-mau-tam-phu.html?fbclid=IwAR3XT-9OTMXneafXhSIe8VfTnZFIkiyHWJcLkTku-nBkkLIFZ7yIpwK6TXI

This blog is focused on Trân Quang Hai