TRẦN VIỆT HẢI : Tình Khúc Em tôi – Lê Trạch Lựu


Tình Khúc Em tôi – Lê Trạch Lưu-Ngọc Bảo trình bày:
https://www.youtube.com/watch…

Tuần rồi tôi có đưa bài viết intro sách mới “Văn Nhân & Tình Sử” của nhà văn Vương Trùng Dương có bài “Lê Trạch Lựu và Tình Khúc Em tôi”, người nhạc sĩ biết yêu năm 16 tuổi, khi chàng gặp Kim Phượng, tiếng sét ái tình bỗng đến ngay phút đầu gặp em. Mối duyên tình đẹp ấy là mối tình theo mãi một đời theo xuống tuyền đài.

Phải nói là những mối tình ở thuở mới lớn chớm biết yêu, là những kỷ niệm đẹp vì e dè nhút nhát (FSFL: first sight of first love, première vue d’un premier amour), khi tiếng sét tình ái, thunderbolt khiến tim ta bồi hồi xao xuyến đập thất nhịp chỉ bởi vì yêu em ngay phút đầu.

Hôm nay tôi xin intro tiếp chuyện tình măng non, loại puppy love mà nhà văn Max Steele để lại thế gian này khi ông ra đi, y như nhạc sĩ Lê Trạch Lựu đã làm. Những puppy love măng non của tuổi 16, lứa tuổi sweet sixteen thật dễ thương. Xin intro bài viết vui tươi mang tên ngộ nghĩnh “Ah Love! Ah Me!”, được ngòi bút Trương Mỹ Vân chuyển ngữ dưới tên “Mối Tình Đầu Xuân. Đôi nét về nhà văn này nhé:

Max Steele, 83 tuổi (1922-2005, là nhà văn, người cố vấn văn chương và kiêm giáo sư danh dự (Professor Emeritus), dạy môn văn chương Anh văn tại trường học cũ của mình, là Đại học North Carolina tại Chapel Hill, ông đã qua đời vào ngày 01 tháng 8, 2005 tại Chapel Hill….

Em tôi – Nhạc và Lời: Lê Trạch Lựu – Ca Sĩ: Duy Trác – Thực hiện PPS: Doanh Doanh:
https://www.youtube.com/watch…

Về thuật ngữ “Professor Emeritus” xin cho tôi dài dòng, nhiều chuyện tí ti, vì theo quy chế đại học Hoa Kỳ, khi chuyển ngữ danh từ “emeritus” là vinh hiệu “danh dự” có thể bị hiểu nhầm. Khi tuyên dương sự cống hiến của một vị giáo sư, hay một khoa học gia, hay một nhà bác học,… đã về nghỉ hưu cho họ chữ emeritus là cách để biểu hiện đặc ân tôn trọng và lòng tri ân đối với người được trao danh hiệu vinh dự này. Một vị emeritus dù không còn quyền hạn chính thức như theo chức vụ ngày xưa, nhưng vị này vẫn có thể tham gia vào các buổi lễ nghi hay hội họp chính thức nếu muốn hay được mời, bởi vì khả năng chuyên môn như trong thời gian ông hay bà còn tại vị trước đây. Ví dụ như giáo sư Nguyễn Xuân Vinh khi về hưu ông mang tước hiệu Professor Emeritus of Aerospace Engineering của Đại học Michigan, giáo sư danh dự ngành kỹ thuật không gian. Tuy vậy sự nhiêu khê khi ta dịch không rõ ràng là “giáo sư danh dự” có thể gây ra sự hiểu nhầm với danh hiệu “Honorary Professor”. Mà hihi… “Honorary Professor” không kèm điều kiện nghỉ hưu, có công đóng góp lâu dài cho tổ chức này. Chẳng hạn như một trường nọ đại học mời mọc một ông giáo thính giả từ xứ Mấy chú 3 PRC HD981 sang Mỹ dạy vài phùa, cho ông giáo tên hiệu trên giấy tờ “Honorary Professor”, “Honorary Fellow”. Và rồi một ví dụ khác như “tiến sĩ danh dự” (honorary doctorate) của trường Graduate School Park Jung-ho tại Seoul cấp giấy cho me-sừ Nguyễn Tấn Dũng giảng về kinh nghiệm luật pháp và kinh tế VNCS. Với khả năng “siêu việt” của sừ ni ta không thể dịch hay hiểu y là một Professor Emeritus.

Tóm lại quy chế nhà trường ban cho “Giáo sư Emeritus” (Professor Emeritus) là một giáo sư dạy thực thụ, thông thường đã làm việc toàn thời gian, nhưng nay đã nghỉ hưu, ông hay bà vẫn có thể được mời định kỳ để thuyết trình, giảng dạy, tham khảo ý kiến hay được trao một giải thưởng nào đó.

Thôi đã ăn gian đi lố đề tài, xin trở lại chủ đề nhà văn Max Steele, các tác phẩm tiêu biểu của ông ni như “Debby”, “The Cat và Coffee Drinkers”,”Where She Brushed Her Hair” và “The Hat of My Mother”. Chính những tiểu thuyết của ông đã đưa tên ông lên trên đài danh dự đoạt những giải thưởng điển hình như the Harper Prize, the Saxton Memorial Trust Award, the Mayflower Cup Award và O. Henry Prizes. Ông đã nhận được khoản tài trợ đặc biệt cho công tác văn chương của mình từ Quỹ Quốc gia Nghệ thuật (the National Endowment for the Arts).

Điều cao quý là Max là một giáo sư chuyên tâm, tận tuy được nhiều người mến mộ và yêu quý bởi vì ông là một cố vấn có công đào tạo cho các thế hệ nhà văn đi sau, Steele sáng lập và hướng dẫn chương trình sáng tạo văn chương tại Đại học North Carolina (UNC), tọa lạc tại thành phố Chapel Hill kể từ năm 1967 cho đến năm 1986. Nhiều học trò của ông sau này đã trở thành những nhà văn tên tuổi, những tác giả nổi bật như Randall Kenan, Jill McCorkle và Lawrence Naumoff.

Nhà văn Max Steele sinh ra vào năm 1922 tại Greenville, tiểu bang South Carolina. Steele đã theo học tại các đại học như Furman (Greenville), Vanderbilt (Nashville, Tennessee), đại học Paris Sorbonne và Academie Julienne (École des Beaux-Arts) ở Paris. Ông đã phục vụ trong quân lực Không quân Hoa Kỳ trong thời Thế chiến II. Bài viết của ông đã được đăng lần đầu tiên trên tạp chí Harper trong năm 1944 và tốt nghiệp từ trường UNC vào năm 1946. Sau đó, ông sống ở Paris, nơi ông là một người bạn và đồng nghiệp của George Plimpton và một biên tập viên (BBT) sáng lập của tạp chí văn học The Paris Review. Ông vẫn kết nối với các văn hữu trong BBT cho đến khi ông qua đời, tên ông được liệt kê trên các quảng cáo tiêu đề là đồng biên tập. Ông cũng là một biên tập viên cho tạp chí Story.

Nếu năm 16 tuổi nhạc sĩ Lê Trạch Lựu bị coup de foudre hành hạ khi yêu nên len lén muốn gửi thơ cho nàng Kim Phượng, nhưng rồi chẳng dám. Truyện viết của nhà văn Max Steele cùng thế hệ cũng yêu thầm nàng Sara Nell Workman, phôn mời nàng đi xem ciné mà run như cầy sấy. Sara đồng ý đi xem ciné, xem ciné xong Max muốn mời Sara đi ăn dinner, giờ không đủ vì hết phép của ông bố Sara, nên đôi bạn ghé vào tiệm drugstore “Shaeffer’s” chỉ uống nước, cái khờ khạo măng non, nhút nhát của Dave (mà Max đặt tên trong truyện) khi uống hai viên Litho-bromide nên uống với nước lã, thuốc hòa tan trong nước lã sủi bọt như Alka Seltzer, thay vì như Max viết vì là khờ dại vì không biết nên đã diễn tuồng Coke và Litho-bromide (LiBr). Khi LiBr (lithium bromide) liên kết trong phản ứng cùng chất lỏng trong Coke, có chứa sodium carbonate (alkali) dạng thức hóa học CNa2O3, hệ quả cho những phản ứng nhiệt năng, sôi sục exothermic reaction, khó chịu cho cơ thể của Dave. Những khờ dại trong trắng….

Viết về sách mới, xin đơn cử một chuyện tình đẹp về kỷ niệm và thơ mộng như: “Lê Trạch Lựu và Tình Khúc Em tôi”, ở trang 167, đây là một mối tình mang theo mãi một đời người. Nhạc phẩm Em Tôi ra đời đầu năm 1953 đến nay vẫn tiếp tục đem đến cho người nghe những xúc cảm như gần, như xa của một thời tưởng như đã thuộc về dĩ vãng nhưng vẫn tiếp tục làm rung động trái tim những thính giả trẻ tuổi ở thế hệ bây giờ. Đằng sau ca khúc lãng mạn này là một cuộc tình mang theo từ thuở vừa biết yêu cho đến tuổi xế chiều khi nhạc sĩ sáng tác liên lạc lại người xưa qua đường dây điện thoại viễn liên. Nay chuyện ấy đã chìm vào danh sách những thiên tình sử đẹp trong lãng mạn và lưu luyến kèm theo bạn tình ca Em Tôi bất hủ theo ý riêng cùa hàn bút ni.

Trong một buổi nói chuyện ở buổi họp mặt Thu Tao Ngộ tại Paris 2009, nhạc sĩ Lê Trạch Lựu kể về câu chuyện tình đã đưa đến bài tình ca Em Tôi. Vào tháng 5 năm 1946 ông tham dự trại hè Sầm Sơn, đi với đoàn Hướng Đạo cùng nhiều đoàn khác, tập trung tại sân ga Hà nội. Thoáng thấy một cô gái xinh xinh, dáng người phong nhã, có đôi mắt đẹp tuyệt vời, ông bị tiếng sét ái tình ngay phút đầu. Rồi mỗi ngày ông đều thấy cô gái ấy, đội nón, dưới nắng trang trang rũ áo, ông ngồi bên cửa sổ nhìn cô ta. Thỉnh thoảng cô nàng ngửng đầu lên, vành nón che đôi mắt, nhưng ông biết là cô ta đang nhìn chú ý đến ông. Khi về lại Hà Nội ông tìm nhà cô ta, vì có duyên nên tìm được ngay, nhà cô ta ở gần nhà ông. Dạo ấy có một chú bé đi theo ông bén gót, đó là chú Mỹ, em cô Phượng. Một hôm, ông viết một lá thư và chẳng dám trao đến cô, vì không đủ can đảm trao lá thư đến Phượng, nên ông nhờ chú Mỹ giúp cho công tác liên lạc.

Gia đình Phượng phải đi tản cư vì biến cố toàn quốc kháng chiến. Phần khác Lê Trạch Lựu sang Pháp du học. Tháng ngày qua khi ở Paris cũng là thời gian mà nỗi nhớ quay cuồng chàng thanh niên say trong cơn yêu, điều này đã là nguồn suối trào dâng để một ngày nọ bên những bạn bè văn nghệ như Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, ông bấm lên phím đàn, đưa “Em Tôi” vào đời. Sau đó tác giả gửi bài nhạc tới nhà xuất bản Tinh Hoa. Những tháng năm trôi qua. Khi nhạc phẩm cất cánh bay cao tại Việt Nam, ông ở Paris nên không biết rõ tình trạng nó ra sao.

Rồi một hôm Lê nhạc sĩ tìm ra được địa chỉ của Phượng rồi viết về cho chú Mỹ, Mỹ cho biết cô Phượng đợi ông trong một năm dài, thấy ông không về Phượng tưởng ông đã mất. Rồi ba năm sau khi cô để tang ông, cô đi lấy chồng, gia đình đã êm thấm với chồng và con. Mãi về sau này, sáu chục năm sau, ông được biết tin qua một người bạn cùng trường năm xưa cho ông số phôn, thế là ông gọi thăm người yêu cũ. Nàng vừa ngạc nhiên vừa bối rối, phải chăng người chết trở về. Phượng òa ra tiếng khóc ngất ngây. Nhạc sĩ hỏi về lá thư tình năm xưa, thuở văn thời 16 viết trong thơ ngây, trong lúng túng. Phượng trả lời ông: “Em để vào trong một cái hộp, nó đi theo em tất cả mọi nơi, trong đó có cả tập ảnh chụp hồi đó, nhưng chồng em thấy lúc nào em cũng buồn, nói với em nên giấu nó đi một chỗ, khi nào vui thì hãy mở ra. Thế là ông ta bỏ vào đâu không rõ, mấy năm sau ông ta mất, tìm kiếm khắp nhà không ra. Em chỉ nhớ anh viết dài lắm… viết dài lắm… Hôm nọ em muốn tìm cái hình anh hồi đó, mà không thấy đâu. Tủi thân, em lại ngồi khóc, may rằng con và cháu em bữa đó tụi nó không có ở nhà…”.

Ông cho biết: “Mối tình đối với cô Phượng theo tôi suốt đời, vì rằng đó là mối tình đầu, mà mình không biết nhau ở đâu, không biết người ta sống hay chết, tôi nhớ đến cô và tôi đã làm bài “Em Tôi”.”….

Lê Trạch Lựu và Tình Khúc Em tôi, Việt Hải Los Angeles:
http://www.ninh-hoa.com/VietHai-ChuyenTinhCuaNhaVanMaxSteel…

Em tôi – Nhạc và Lời: Lê Trạch Lựu – Ca Sĩ: Duy Trác – Thực hiện PPS: Doanh Doanh:
https://www.youtube.com/watch…

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và ngoài trời
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, văn bản và cận cảnh
+8

BĂNG HUYỀN : Chiều văn học nghệ thuật ra mắt sách Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt, CSU LONG BEACH , CALIFORNIA , 10.02.2019


Friday, 15/02/2019 – 08:15:41

Chiều văn học nghệ thuật ra mắt sách Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt

GS Quyên Di thay mặt bà khoa trưởng trao tặng bằng vinh danh GS. TS Trần Quang Hải. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

 

Bài BĂNG HUYỀN

Trưa Chủ Nhật, ngày 10 tháng 2, 2019 tại phòng hội của Đại Học Cal State Long Beach (CSULB) thuộc Phân Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ Gốc Á Châu (Asian & Asian American Studies) đã diễn ra buổi “Chiều Văn Học Nghệ Thuật” năm thứ III do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức.
Chương trình này rất đặc biệt, là buổi ra mắt sách “Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian kết hợp cùng Nhóm Văn Thơ Lạc Việt tại San Jose thực hiện, và vinh danh Giáo Sư Tiến Sĩ (GSTS) Trần Quang Hải. Ông là con trai đầu của cố Giáo sư Tiến Sĩ Trần Văn Khê và cháu của “quái kiệt” Trần Văn Trạch.


GS.TS Trần Quang Hải diễn thuyết và trình diễn hát Đồng Song Thanh và đàn Môi. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Ông là một thuyết trình viên, nhạc sĩ sáng tác và là người thầy nổi tiếng về sư phạm âm nhạc. Ông đã có hàng nghìn cuộc nói chuyện, giới thiệu âm nhạc Việt Nam khắp nơi trên thế giới. Ông không chỉ chuyên về nhạc dân tộc Việt, mà còn là chuyên gia về nhạc cụ và âm nhạc của các nước châu Á. Ông sống tại Paris, Pháp, đã thực hiện rất nhiều công trình vĩ đại với nhiều sáng tạo đầy màu sắc nghệ thuật độc đáo.
Giáo sư Quyên Di là giảng viên Phân Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ Gốc Á Châu của Đại Học Cal State Long Beach và là thành viên của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Giáo sư Quyền Di cho biết, “Đây là chương trình thường niên lần thứ ba Chiều Văn Học Nghệ Thuật của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức, dưới sự bảo trợ của Khoa Nghiên Cứu về Người Mỹ gốc Á Châu của Đại Học Cal State Long Beach. Tôi sẽ đại diện cho phân khoa và bà khoa trưởng, Giáo Sư Tiến Sĩ Teri Yamada, hiện đang công tác tại Ấn Độ, nên không thể có mặt trong chương trình lần này, để trao giải thưởng cho Giáo sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải và tôi cũng đại diện chương trình tiếng Việt của trường, trao cho ông giải thưởng. Giải thưởng ghi nhận sự đóng góp không biết mệt mỏi của Giáo sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải vào gia tài âm nhạc Việt Nam.


Cùng nhau hát “Và Con Tim Đã Vui Trở Lại” (Băng Huyền/ Viễn Đông)

“Giáo sư Trần Quang Hải có nhiều công trình lắm, ngoài những công trình về sáng tác âm nhạc, công trình về thu thanh thu hình âm nhạc và trình diễn. Ông còn là một người nghiên cứu rất sâu về âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Cuốn sách Trần Quang Hải 50 năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt, tập hợp rất nhiều bài nghiên cứu của ông. Trong quyển sách này đặc sắc nhất và tôi được học hỏi nhiều là bài Nguồn Gốc Âm Nhạc Việt Nam.”

Ông Trần Mạnh Chi, trưởng Ban Tổ Chức và là đại diện cho Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, bày tỏ, “Chúng tôi hân hạnh đón tiếp mọi người đến dự ra mắt sách của Giáo sư Trần Quang Hải từ Pháp qua. Nhạc sư đã bỏ công 50 năm nghiên cứu về âm nhạc nghệ thuật Việt Nam. Đây là niềm hãnh diện cho người Việt Nam khắp nơi trên thế giới. Tất cả những chương trình mà nhóm đã tổ chức trong quá khứ và sắp tới, chúng tôi mong mỏi vinh danh những nhà văn học, nhà văn hóa nghệ thuật, những ai đóng góp công sức cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam. Hôm nay đặc biệt còn có một buổi triển lãm tranh mini của các họa sĩ Hoàng Vinh, họa sĩ Hồ Thành Đức, họa sĩ Beky, họa sĩ Lưu Anh Tuấn… bên ngoài phòng hội trước khi diễn ra chương trình chính.”


GS. TS Tahara (người đầu tiên từ trái qua) hát Qua Cầu Gió Bay chung với Thụy Vy và Hậu Nguyễn. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Giáo sư Tiến sĩ Trần Quang Hải có mặt từ rất sớm để ký tặng sách cho mọi người, cùng xem tranh của các họa sĩ triển lãm bên ngoài phòng hội và chụp hình lưu niệm với bạn hữu, thân hữu, những khán giả yêu mến tài năng của ông. Nói về cảm xúc của mình, Giáo sư Trần Quang Hải chia sẻ, “Đây là chương trình rất đặc biệt và vinh dự cho tôi, là một người từ phương xa đến. Sự tiếp đãi rất nồng hậu, tất cả những cảm tình, sự tiếp đón của anh em trong cộng đồng đem lại cho tôi niềm vui, để tôi thấy rằng người Việt Nam vẫn còn yêu thương nhau. Đây là buổi giới thiệu quyển sách, là công trình nghiên cứu của tôi về nhạc dân tộc Việt trong 50 năm qua, như lĩnh vực hát đồng song thanh, không những phổ biến giọng hát, phổ biến dùng giọng hát để chữa bệnh, giúp những người câm có thể nói chuyện được mà không phải mổ, đó là những đóng góp rất nhỏ không chỉ trong âm nhạc mà nó liên hệ đến nhiều lĩnh vực khác nhau, và được gặp gỡ người đồng hương tại vùng Nam Cali sau 13 năm tôi mới trở lại gặp những người Việt sống tại đây.


GS. TS Trần Quang Hải chụp lưu niệm tại triển lãm tranh mini (Băng Huyền/ Viễn Đông)

“Tôi rất lấy làm vui mừng và hân hạnh được tiếp đón ở trường Đại Học Cal State Long Beach, là niềm vui cho tôi và tôi cũng chia sẻ niềm vui đó với cộng đồng người Việt tại California nói riêng và cho tất cả những người Việt của cộng đồng Việt Nam tại đất Mỹ này nói chung. Sự vinh danh này chỉ là cá nhân thôi, nhưng điều tôi thấy trường Đại Học Mỹ bắt đầu chú trọng về văn hóa Việt, đó là điểm son do sự đóng góp của rất nhiều những vị giáo sư mà chúng tôi được hân hạnh gặp và một số vị đã đóng góp một cách trực tiếp hay gián tiếp trong công trình xây dựng văn hóa Việt Nam ở hải ngoại.”


Các thành viên trình diễn tiết mục thời trang. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Sau khi thức khai mạc trang trọng với sự điều hợp của MC Thụy Vy, Ban Hợp Ca nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã gợi nhắc bao nỗi bồi hồi trong tim khán giả qua ca khúc Nắng Đẹp Miền Nam (Lam Phương) và bồi hồi nhiều suy nghiệm về cuộc đời về tình thương giữa người với nhau qua ca khúc Phút Chan Hòa (Thơ Trần Việt Hải, nhạc Hồng Tước).

Phần nghi thức vinh danh GS. TS Trần Quang Hải với GS Quyên Di của trường Cal State Long Beach, Bà Nguyễn Thế Thủy đại diện của Học Khu Westminster trao bằng tưởng lục đến GSTS Trần Quang Hải. GS Dương Ngọc Sum là cố vấn Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian cùng các cựu học sinh của trường Petrus Ký tặng quà lưu niệm cho GS Trần Quang Hải, là một cựu học sinh của Petrus Ký. Vài thành viên Nhóm Văn Thơ Lạc Việt tại San Jose đã tặng GS. TS Trần Quang Hải hai cuốn sách “Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” tiếng Việt và tiếng Anh do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian kết hợp cùng Nhóm Văn Thơ Lạc Việt tại San Jose thực hiện,

Những tiết mục phụ diễn văn nghệ đặc sắc

Những người mẫu không chuyên của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã trình diễn tiết mục Thời Trang Áo Dài Việt Nam Theo Dòng Thời Gian, dưới sự dẫn dắt dí dỏm của Giáo sư Quyên Di và cô Thủy Vân đã giới thiệu tên gọi, thời gian ra đời của từng bộ áo dài Ngũ Thân, áo dài Lemur/Cát Tường, áo dài Tứ thân/ Lê Phổ, áo dài Raglan/ Trần Kim, áo dài Trần Lệ Xuân…


GS Quyên Di giới thiệu ba sinh viên của mình lần lượt đọc lá thư của bà khoa trưởng gửi đến GS. TS Trần Quang Hải về lý do bà không có mặt trong buổi vinh danh. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Chương trình càng thêm đậm đà phong vị dân tộc với giọng hát của dược sĩ Thanh Mai qua ca khúc Rất Huế của Võ Tá Hân sáng tác, do chính nhạc sĩ Võ Tá Hân đệm guitar cho giọng hát của Thanh Mai. Giọng ca ngọt ngào của Ngọc Quỳnh hát “Dạ Cổ Hoài Lang” và nét duyên dáng, luyến láy, nhấn nhá từng câu chữ của ca sĩ Thúy Anh (Là – xướng ngôn viên, biên tập viên của chương trình radio Chiều Thứ Bảy) hát bài Mình Ơi Em Chẳng Cho Về của nhạc sĩ Anh Bằng, với tiếng đàn guitar của anh Nguyên Vũ.

Giáo sư Tiến Sĩ Hiroki Tahara, phó giám đốc Trung Tâm Giáo Dục Ngôn Ngữ Học tại đại học APU Nhật, không những nói, viết tiếng Việt rất lưu loát mà anh còn am hiểu văn hoá Việt rất sâu. Trong bộ áo dài cách điệu, anh cùng với MC Thụy Vy và ông Hậu Nguyễn là thành viên trong Ban Tổ Chức đã hát rất tình bài hát Qua Cầu Gió Bay.

Anh Hiroki Tahara đã tiết lộ với người viết, cách nay hơn 20 năm, hồi còn là sinh viên năm thứ nhất Cử nhân ngoại ngữ học tiếng Việt tại trường Đại Học Ngoại Ngữ Tokyo, anh đã từng tập hát bài Qua Cầu Gió Bay, hát chung với các sinh viên khoa tiếng Việt. Lần này tham dự trong chương trình, ban tổ chức đề nghị anh hát bài này, anh đã tập lại trong một tuần để hát. Anh rất thích bài hát này nên dù hai mươi mấy năm rồi vẫn chưa quên. Lúc còn sinh viên, anh hát nhưng hoàn toàn không hiểu ý nghĩa bài hát. Dù vậy bài hát để lại ấn tượng đẹp để anh nhớ hoài, anh rất thích câu hát “Tình tình tình gió bay… tình tình tình gió bay, vì âm điệu nên thơ.

Những giọng ca tài tử của các ca sĩ khách mời góp vui cho chương trình, bằng tài năng và sự duyên dáng của mình, họ đã giúp người nghe có mặt trong buổi diễn càng yêu cái chất thơ tinh tế vô cùng của dân ca, ca khúc mang âm hưởng dân ca của các nhạc sĩ, càng nghe lại càng thấm cái ý nhị đẹp đẽ trong nội dung câu hát, cái thanh lịch nhẹ nhàng, cái tình rất nồng đượm mà không vồn vã của người Việt Nam.

Diễn thuyết và trình diễn

Có lẽ tiết mục đặc biệt và nhận được những tràng pháo tay cùng những lời ngợi khen, hâm mộ từ những người tham dự nhiều nhất, chính là tiết mục diễn thuyết kết hợp trình diễn của Gíao sư Trần Quang Hải trong khoảng 20 phút.

Với lối nói chuyện hài hước và phong thái giản dị, mộc mạc, GS. TS Trần Quang Hải đã chia sẻ súc tích những nghiên cứu của ông về Nhạc Dân tộc xoay quanh hai công trình: Hát đồng song thanh, và đàn môi. Trong hai công trình ấy, Hát đồng song thanh là công trình mà ông dày công nghiên cứu nhiều nhất. Hát đồng song thanh, còn được biết đến trên thế giới với cái tên Tuvan Throat Singing, Khoomei (Khơ mây), Hooliin Chor.

Là một biến thể đặc biệt của hòa âm giọng hát, được hình thành và phát triển từ Mông Cổ, Nội Mông, Tuva và Siberia. Nó được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể năm 2009 dưới cái tên Nghệ thuật hát Mông Cổ, Khơ mây. Trong kĩ thuật hát này, người trình diễn sẽ tạo ra một cao độ cơ bản và đồng thời tạo ra thêm một cao độ khác cao hơn cùng lúc.

GS TS Trần Quang Hải ký tặng sách. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Công trình nghiên cứu Hát đồng song thanh của GS.TS Trần Quang Hải là một quá trình nghiên cứu, từ vị trí phát âm và các kỹ thuật hát của mỗi dân tộc trên thế giới, cho đến các lối hát đồng song thanh của các nước Tây Á và kiểu thức cầu kinh của các vị Lạt Ma- Tây Tạng. Từ cơ sở đó, ông phát triển và sáng tạo lối hát Đồng song thanh theo kiểu của riêng ông, mà hiện nay không những để biểu diễn âm nhạc mà còn ứng dụng vào lĩnh vực Y khoa.

Đây còn là cách điệu trị học cho các căng bệnh đứt dây thanh quản và khuyết tật về phát âm. Song song với diễn thuyết ông còn thể hiện tài nghệ độc đáo của mình minh họa các giọng hát bằng giọng ngực, minh họa bằng hát một đoạn ngắn opera. Giọng mũi, minh họa bằng hát bài nhạc cổ truyền Nhật Bản. Giọng óc, minh họa hát đoạn kinh kịch.

Giáo sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải giới thiệu cây đàn Môi của người Mông là một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Ông cho biết ông đã giới thiệu cây đàn Môi của người Mông cách nay 45 năm khắp nơi trên thế giới. Ông đã ngậm chiếc kèn nhỏ bé, bàn tay thoăn thoắt gảy kèn, đôi môi run run theo cảm xúc tạo nên những âm thanh trầm bỗng vang lên, rền rền thánh thót, tạo nên những âm thanh thật thú vị, mới mẻ về giai điệu, tiết tấu khiến mọi người hải trầm trồ thích thú.

Lúc đầu ông đánh đàn môi đơn giản trình diễn bài Happy Birthday To You, sau đó ông đàn lại bài này nhưng thêm tiết tấu vô, khiến bài hát nghe đặc sắc hơn. Ông còn dùng đàn môi để nói chuyện, ông nhép miệng nói không phát ra tiếng, nhưng thông qua đàn môi tiếng nhép miệng câu nói đó phát ra tròn câu rõ ràng, làm cho không khí cả khán phòng sôi động hẳn lên và không ngớt vang lên những tràng pháo tay thán phục. Kết thúc phần trình diễn của mình, ông nhận lời đề nghị của MC Thụy Vy, đã nhái lại giọng của người chú là nghệ sĩ Trần Văn Trạch, hát lại bài Sổ Xố Kiến Thiết Quốc Gia trong tiếng vỗ tay giòn giã của khán giả.
Có mặt trong chương trình, GS Lê Văn Khoa đã chia sẻ với nhật báo Viễn Đông, “Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian là nhóm tập hợp một số anh em yêu thích nghệ thuật và văn chương, không phải là những nhà văn lớn, những nghệ sĩ lớn, nhưng họ yêu thích và đã làm được. Đây là điều rất quý. Anh Việt Hải là người sáng lập ra nhóm, rất có lòng, đã thúc đẩy anh em làm nhiều sách. Họ đang có danh sách dài để ra mắt sách suốt năm tới, chứ không chỉ trong năm nay thôi đâu. Đây là điều mừng.

“Người Việt ra nước ngoài cũng có ước vọng làm sao để văn hóa, nghệ thuật của mình vươn lên, thành ra họ tiếp tục sinh hoạt. Mình ở ngoài nước, vẫn làm được. Thì như vậy, theo tôi, văn hóa và nghệ thuật Việt Nam sẽ càng rộng lớn hơn, và nó không nằm dưới một chiêu bài, sự chỉ huy của người nào cả. Vì đó là dân tộc, chứ không phải là cá nhân. Đây là ý của tôi. Còn anh Trần Quang Hải thì tôi có biết anh lâu rồi, thỉnh thoảng gặp nhau mỗi lần anh bên Pháp qua, thỉnh thoảng chúng tôi có gặp nhau.

“Thân phụ của ông Trần Quang Hải là Trần Văn Khê, là người tôi rất kính quý, là người có tâm hồn về nhạc chính thống Việt Nam và họ muốn phát huy. Nhưng cái mình làm rộng rãi hơn hết, đem nhạc Việt đi phổ biến trong những buổi diễn thuyết khắp thế giới, thì tôi nghĩ người Việt không có ai làm được tương xứng như anh Trần Quang Hải đâu.

“Chúng ta rất hãnh diện có những nhân tài đó trong cộng đồng Việt Nam chúng ta và tôi hy vọng mọi người sẽ tiếp trợ, làm sao để thế hệ sau này còn vươn xa nữa, để đưa nhạc Việt chúng ta đi rộng ra trên thế giới.”
Giáo sư Tiến Sĩ Hiroki Tahara thì bày tỏ, “Tahara rất vui vì được ngồi chung với những bạn Việt Nam của cộng đồng người Việt hải ngoại tại Nam Cali. Bản thân tôi rất thích hát bài Qua Cầu Gió Bay, và được hát trước mặt Giáo sư Tiến sĩ Trần Quang Hải là một vinh dự đối với tôi.”

Anh cũng nêu lên suy nghĩ và mong ước của mình, “Điều hơi buồn là sao chương trình này toàn người già, tôi năm nay 47 tuổi, không phải người trẻ. Đáng lẽ chương trình như thế này phải có thanh niên ngoài 20, dự thật đông. Lẽ ra phải có thanh niên tham gia vào ban tổ chức để rút kinh nghiệm cách tổ chức, cách tiếp khách, cách biểu diễn. Vì không có người trẻ sẽ không có người kế thừa, vì người già đến tuổi phải về hưu, nghỉ ngơi, không có người trẻ kế thừa thì tiếc lắm.”

Kết thúc buổi diễn, các thành viên trong ban Hợp Ca, Ban Tổ Chức, GS. TS Trần Quang Hải, GS Dương Ngọc Sum… và các khán giả đã cùng hát vang ca khúc “Và ConTim Đã Vui Trở Lại” (Đức Huy) như một sự cổ vũ về sự lạc quan, phấn khởi và luôn trong tư thế chủ động hướng đến sống tích cực, là thông điệp ca khúc của nhạc sĩ Đức Huy gửi đến người nghe và cũng là điều mà Ban Tổ Chức mong muốn GS. TS Trần Quang Hải và một vài thành viên trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đang bị bệnh nan y. Mong các vị ấy sẽ sớm chữa trị thành công, hồi phục và vui khỏe để tiếp tục những công trình văn hóa nghệ thuật đang thực hiện, góp vào vườn hoa Việt Nam những bông hoa tươi thắm.

Hà Nội, âm nhạc truyền thống và Miranda Arana


Hà Nội, âm nhạc truyền thống và Miranda Arana

NDĐT – Đến Hà Nội từ cách đây 16 năm, cô gái trẻ Mỹ đã để lại ấn tượng bởi những ý kiến đột phá và thẳng thắn về âm nhạc dân tộc Việt Nam. 16 năm sau, với áo dài, đàn tranh và một công trình nghiên cứu được in thành sách mang tên “Nhạc dân tộc cải biên Việt Nam”, và Hà Nội là một dấu ấn đẹp đẽ trong đời chị. Chị là Miranda Arana.

Cuộc trò chuyện của chúng tôi với chị ở Hà Nội khi thành phố đang chuẩn bị đón chào đại lễ kỷ niệm 1000 năm tuổi.

– Chị đã từng ở Việt Nam trong bao lâu? Phải nói là Hà Nội chứ! Tôi ở đây từ năm 1992 – 1994 khi làm việc cùng các tình nguyện viên châu Á, dạy tiếng Anh cho sinh viên một số trường đại học ở Hà Nội và nghiên cứu âm nhạc.

– Lần đầu đến Hà Nội, chị có ấn tượng thế nào về thành phố này? – Với tôi, Hà Nội rất đẹp với rất nhiều hồ, kiến trúc Pháp cổ, những ngôi chùa, khu chợ và các con phố toàn xe đạp. Bạn biết đấy, thời điểm đó xe đạp là phương tiện di chuyển chủ yếu của người Hà Nội mà.

– Thế còn cuộc sống ở nơi đây thì sao? – Hồi ấy, thỉnh thoảng tôi vẫn bắt gặp những cụ già và cháu bé xúng xính trong những bộ cánh rất cổ truyền. Rồi còn cách mọi người đi trên phố, làm thế nào mà họ có thể di chuyển được giữa một dòng xe cộ náo nhiệt và chật cứng đến vậy? Nhưng dạo chơi khắp phố phường bằng xe đạp thật thú vị, tôi có thể ghé vào một quán cà phê ven hồ và ngồi đó cả ngày ngắm nhìn mọi người đi lại. À, tôi còn rất thích những gánh hàng rong với đủ món ngon Hà Nội nữa!

– Thế thì chắc là chị được thưởng thức nhiều đặc sản ở Hà Nội lắm nhỉ? – Có thể bạn sẽ buồn cười, nhưng tôi thích nhất là quà vặt ăn sáng ở Hà Nội. Tào phớ với nước đường cho thêm chút gừng này, đủ các thứ xôi – xôi lạc, xôi đậu, xôi ngô…, lại còn phở nữa chứ! – Thế còn người Hà Nội thì sao?

– Tôi rất thích sự nghị lực của con người Hà Nội. Ai cũng thân thiện và cầu tiến. Tôi có cảm giác lúc nào họ cũng hăng hái học và tiếp nhận những thứ mới, những thử thách mới để cải thiện cuộc sống sau nhiều năm vất vả. Những nghệ sĩ mà tôi từng gặp rất say mê loại nghệ thuật mà mình đeo đuổi, họ thực sự tự hào về lịch sử và văn hóa của nước mình.

– Chắc chị có bạn thân ở Hà Nội chứ nhỉ? – Ồ, có chứ, nhiều là đằng khác. Những người bạn của tôi rất hay và thông minh, như Bùi Trọng Hiền chẳng hạn. Nhờ có anh ấy mà tôi biết nhiều hơn về âm nhạc cổ truyền Việt Nam, điều mà thực sự nhiều người ngoại quốc rất mơ hồ. Anh đã truyền tình yêu với cổ nhạc Việt cho tôi và điều ấy đã khích lệ tôi rất nhiều để hiểu hơn về âm nhạc, lịch sử và văn hóa của quê hương anh.

– Tại sao chị lại chọn một đề tài rất “hóc” là nhạc dân tộc cải biên để làm luận văn thạc sĩ của mình? – Chuyện kể ra cũng khá dài. Tôi từng có thời gian làm việc tại trại tị nạn của những người Indonesia tại Philippines. Ở đấy, tôi có cơ hội học tiếng Việt và tiếp xúc với một số gia đình nghệ nhân. Vì vậy tôi đã biết đến đàn tranh và lần đầu tiên được nghe những giai điệu của đất nước Việt Nam. Vì thế, khi đến Hà Nội, việc đầu tiên của tôi là tìm gặp các nghệ sĩ chơi nhạc dân tộc. Nhưng sau mấy tháng vật lộn tìm hiểu nhiều nhóm biểu diễn nhạc dân tộc, tôi khá nản lòng vì nó không giống cái tôi cần tìm. Khi tôi gặp Giáo sư Tô Ngọc Thanh và anh Bùi trọng Hiền, mọi thứ đã thay đổi. Hai người giới thiệu tôi đến gặp những người có thể dạy tôi thứ âm nhạc mà tôi thực sự muốn học. Đó cũng là lúc tôi nhận ra ở đây có hai giới rất khác biệt: âm nhạc dân tộc của những người được đào tạo trong nhà trường và âm nhạc của những nghệ nhân dân gian. Điều đó đã thôi thúc tôi phải tìm hiểu.

– Chị có biết là quan điểm của chị vào những năm 1994 rất gây tranh cãi, nhưng đến giờ nó lại là một thực tế hiển nhiên được công nhận. Vào thời điểm đó bản tham luận của chị rất nổi tiếng trong dư luận âm nhạc Việt Nam. Hiện nay vẫn còn rất nhiều người nhắc đến chị và sự kiện hội thảo quốc tế năm 1994. Chị nghĩ sao về thông tin này? – Tôi thực sự rất vui khi nghe tin này. Nhưng có sự thay đổi quan điểm như bây giờ chắc chắn không phải do tôi, bởi ở Việt Nam có rất nhiều người tâm huyết với cổ nhạc. Họ sẽ làm việc hết mình để tìm lại vị trí thực sự cho các nghệ nhân cổ nhạc. Tôi “gây sốc” chỉ vì ở thời đấy, quan điểm của một người ngoại quốc về âm nhạc Việt Nam sẽ bị nhìn nhận với con mắt nghiêm khắc, nhạy cảm và khiến nhiều người ủng hộ nhạc dân tộc cải biên tổn thương.

– Trong các thể loại âm nhạc cổ truyền Việt Nam, chị thích loại nào nhất? – Tôi thích nhạc Tài tử- Cải lương bởi nó có thang âm và giai điệu rất đẹp, hay nhất là tính ngẫu hứng ứng tác đầy cảm xúc. Ca trù với tôi nghe rất lạ nhưng lại gây ấn tượng mạnh. Đấy là lý do khiến tôi rất hay lui tới câu lạc bộ ca trù ở Hà Nội để nghe hát. Tôi còn rất thích nghe bà Hà Thị Cầu hát Xẩm nữa.

– Ngoài đàn tranh, chị còn biết chơi nhạc cụ nào của Việt Nam nữa? – Tôi có thể thổi sáo trúc. Nhưng tôi muốn kể thêm về việc tại sao mình học đàn tranh. Ý định này đến với tôi khi bắt gặp một cây đàn tranh được bán cùng mấy mớ rau và vài bộ quần áo cũ ở khu chợ Philippines gần trại tị nạn. Lúc đầu tôi chỉ biết chút thôi, nhưng khi đến Việt Nam, tôi đã được những người thầy nghệ nhân ở đây hướng dẫn rất nhiều. Họ coi tôi như con trong gia đình vậy. Có thể vì thế mà đến giờ tôi vẫn không thể nào quên những kỷ niệm thân thương gắn liền với cây đàn tranh và những người thầy của mình.

– Nghe nói chồng chị là người mang trong mình nửa dòng máu Việt Nam? – Đúng vậy, anh ấy tuy sinh ở Việt Nam nhưng lại lớn lên ở Oklahoma nên không rành về văn hóa Việt Nam và không biết nói tiếng Việt. Trong khi tôi, một cô gái Mỹ lại làm được điều ấy. Vì thế, khi đến với anh và gặp mẹ anh, một người Việt Nam, tôi thực sự rất vui. Hai mẹ con tôi rất hợp nhau và tôi hiểu bà đã hạnh phúc thế nào khi con dâu của mình có một chút liên hệ với văn hóa quê hương bà.

– Hình như trong đám cưới chị chú rể mặc áo the khăn xếp, còn cô dâu thì mặc áo dài Việt Nam. Tại sao chị lại chọn trang phục này trong đám cưới của mình vậy? – Bởi áo dài Việt Nam thực sự rất đẹp! Lễ cưới của chúng tôi diễn ra tại một ngôi chùa thay vì nhà thờ. Mùi hương trầm, tiếng chuông chùa và giọng tụng kinh của các vị sư luôn khiến cho tôi cảm thấy thanh thản.

– Cô con gái yêu của chị có được mẹ truyền cho một chút âm nhạc Việt Nam nào không? – Con bé đã xem tôi biểu diễn rất nhiều loại nhạc cụ và nghe nhạc nhẹ Việt Nam khi ở với bà. Tôi còn từng biểu diễn đàn tranh và sáo trúc rất nhiều lần ở trường cháu nữa. Nhưng giờ con bé học piano vì được bà ngoại tặng cho một cái rất đẹp.

– Hiện đang làm giảng viên tại đại học Oklahoma, chị có lớp học nào dạy về âm nhạc Việt Nam cho sinh viên không? – Tôi có dạy một khóa giới thiệu về âm nhạc các dân tộc trên thế giới. Đôi khi, xen kẽ các bài giảng tôi có nói đến Việt Nam. Tuy nhiên, tôi có cảm giác rằng mình đã dành quá nhiều thời gian vào nghiên cứu nhạc dân tộc cải biên Việt Nam nên chưa trang bị đủ kiến thức để dạy về âm nhạc cổ truyền của đất Việt. Tuy nhiên, cổ nhạc Việt Nam thực sự cho tôi rất nhiều cảm xúc và chỉ muốn giữ nó cho riêng mình.

– Chị sẽ quay lại Việt Nam trong thời gian tới chứ? – Có chứ, tôi thực sự muốn quay trở lại việt nam cùng gia đình mình. Đó là mơ ước của tôi. – Cám ơn chị! Hòa tấu cổ nhạc cùng nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền (1993) (ảnh: Bùi Trọng Hiền). Cây đàn tranh vẫn gắn bó với Miranda cho đến tận bây giờ.

https://baomoi.com/ha-noi-am-nhac-truyen-thong-va-miranda-arana/c/4892125.epi

 

Livre de TRAN QUANG HAI : 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing sur AMAZON -TRAN QUANG HAI ‘s book on AMAZON – Sach Tran Quang Hai co the mua o AMAZON


Livre de TRAN QUANG HAI : 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing sur AMAZON
-TRAN QUANG HAI ‘s book on AMAZON “TRAN QUANG HAI : 50 YEARS OF RESEARCH ON VIETNAMESE TRADITIONAL MUSIC AND OVERTONE SINGING”
EUR 13,86
  • Tous les prix incluent la TVA.
En stock.
Expédié et vendu par Amazon. Emballage cadeau disponible.
Quantité :


Votre adresse de livraison:
Vous l’avez déjà ? Vendez sur Amazon

Voir les 2 images

TRAN QUANG HAI: 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing (Anglais) Broché – 29 janvier 2019


Voulez-vous le faire livrer le mardi 26 fév.? Choisissez la Livraison Express au cours de votre commande. En savoir plus.
Note: Cet article est éligible à la livraison en points de collecte. Détails

 

https://www.amazon.fr/s/ref=sr_gnr_fkmr0?rh=i%3Aenglish-books%2Ck%3Atran+quang+hai&keywords=tran+quang+hai&ie=UTF8&qid=1550828375

TRỊNH THANH THUỶ : ĐẠI HỌC CALSTATE LONG BEACH, CA vinh danh GS TRẦN QUANG HẢI , 10.02.2019


Đại Học Calstate Long Beach, CA

vinh danh GS Trần Quang Hải

Trịnh Thanh Thuỷ & Trần Quang Hải

Trịnh Thanh Thủy thực hiện

Từ lúc nghe tin Trần Quang Hải, giáo sư tiến sĩ ngành Dân Tộc Nhạc Học (Ethnomusicology) mắc một bệnh nan y là ung thư máu, các anh chị em trong nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian” rất xúc động và có ý định làm một cái gì đó cho ông. Ngày 10 tháng 2, 2019, hai chi nhánh Bắc và Nam Cali của nhóm đã đồng phối hợp thực hiện một buổi chiều văn hoá nghệ thuật và ra mắt sách cho Trần Quang Hải.

blank

Pic 1 GS Quyên Di trao bằng tưởng lục cho GS TQHải

blank

Pic 2 Bà Frances Thế Thủy trao bằng cho GS TQHải

Cuốn sách “Trần Quang Hải: 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt” là một tổng hợp các công trình nghiên cứu về âm nhạc của ông đã được góp mặt cùng kho tàng tài liệu âm nhạc VN. GS Hải đã từ Paris bay qua để dự buổi hội ngộ và ra mắt sách hy hữu này. Ngoài một số sinh viên của hai trường đại học Calstate và Fullerton, khoảng gần 200 thân hữu và đồng hương người Việt nghe tin đã về tham dự.

Nguyên GS TQHải là chồng của nữ danh ca Bạch Yến, con trai của cố GS Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu văn hoá và âm nhạc cổ truyền rất nổi tiếng ở VN. GS Hải lấy bằng tiến sĩ âm nhạc dân tộc người Việt tại Pháp, làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con người ở Pháp(Musée de l’Homme). Ông đã có những nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực Dân tộc âm nhạc học như: hát đồng song thanh, phát triển gõ muỗng. Ông được tôn xưng danh hiệu “vua muỗng” và Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Ông là người trình diễn đàn môi Mông(Hmong) tại nhiều quốc gia nhất thế giới.” Ông cũng là thành viên của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế. Ông và danh ca Bạch Yến đã thực hiện hơn 3.000 buổi giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở 70 nước trên thế giới…(Theo Wiki)

blank

Pic 3 Ban đại diện nhóm NVNT&TTG

blank

Pic 4 Ban hợp ca

Nhân dịp buổi ra mắt sách được tổ chức tại đại học Calstate Long Beach, CA, USA, bà Teri Yamada, khoa trưởng Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ gốc Á đã vinh danh GS TS TQHải.

Thật tiếc, bà Teri Yamada đã không được gặp mặt giáo sư vì giờ cuối bà phải bay qua Ấn Độ dự một buổi lễ hội về văn hoá, nên bà viết một lá thư rất chân tình gởi ông. Bà cáo lỗi và ủy nhiệm GS Quyên Di thay bà chào mừng, vinh danh và trao bằng tưởng lục cho ông.

GS Quyên Di dạy ở đây và cũng là thành viên trong khoa nghiên cứu này cho biết thêm, “Đây là một vinh dự cho cộng đồng VN vì hiếm khi khoa trưởng Yamada viết một lá thư trân trọng như thế này. Tôi đã từng dự nhiều buổi vinh danh nhưng chưa bao giờ tôi thấy bà viết một lá thư như thế. Trước đó bà đã đọc tất cả các tài liệu viết về GS, cả những tài liệu của GS viết, nghiên cứu rồi đúc kết lại thành bức thư nói trên và trân trọng trao bằng tưởng lục cho GS. Bà thay mặt đại học Calstate Long Beach vinh danh GS Hải đã có công phi thường đóng góp vào kho tàng âm nhạc VN qua các công trình nghiên cứu âm nhạc, văn hoá, nghệ thuật dân tộc qua thời gian, qua các thế hệ.

blank

Pic 5 Hàng đứng: Nhóm NVNT&TTG, Hàng ngồi: GS Tahara, GS TQHải, TT Kiều Chinh, NV Nguyễn Quang, NV Quyên Di

blank

Pic 6 Quan Khách

Ngoài ra bà Frances Thế Thủy, ủy viên giáo dục học khu Westminster cũng lên trao bằng tưởng lục cho ông. Hiện diện trong buổi lễ có tài tử Kiều Chinh, GS Tahara Hiroki, BS Steven Le, nhà văn Nguyễn Quang (phu quân Minh Đức Hoài Trinh), NS Lê Văn Khoa và phu nhân, NS Võ Tá Hân và phu nhân, BS Phạm Gia Cổn và phu nhân, bà quả phụ Lê Trọng Nguyễn, Nhạc Trưởng Bùi Quỳnh Giao..v..v…

Sự có mặt của GS người Nhật Tahara Hiroki hôm nay đã khiến tôi rất ngạc nhiên. Ông là người Nhật 100% mà nói và viết tiếng Việt rất sành sõi, thích ăn nước mắm, thích nhạc Việt Bolero. Tôi hỏi ông duyên cớ nào ông lại có mặt ở đây hôm nay. Ông nói ông hâm mộ tài năng của GS TQ Hải mà bay qua Mỹ để được gặp GS Hải. GS Hải rất nổi tiếng ở bên Nhật vì GS đã có nhiều đề tài nghiên cứu về âm nhạc và làm việc chung với các nhà nghiên cứu âm nhạc của Nhật Bản về nhạc cung đình Huế và nhạc dân tộc VN nói chung. GS Tahara cũng nghe tiếng của cố GS Trần Văn Khê là cha của GS Hải nhưng tiếc quá không được gặp cụ vì cụ đã qua đời.

Tôi hỏi thêm là GS Tahara thích nhạc Bolero vậy GS có thấy nhạc cổ truyền Vn có gần gụi với nhạc Bolero VN không? Ông bảo ông thấy nhạc Bolero Vn gần giống với nhạc Tanka của Nhật hơn, nhưng khác ở chỗ Tanka không có tố chất ngọt ngào còn Bolero phải hát ngọt ngào, mượt mà, đầy cảm xúc mới được.

blank

Pic 7 Ông bà GS Lê Văn Khoa, Nguyễn Hùng và NV Việt Hải(ngồi)

blank

pic 8 Trình diễn thời trang áo dài Bà Nhu

GS Trần Mạnh Chi là trưởng nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng thời gian”, đồng thời là trưởng ban tổ chức đã lên giới thiệu các thành viên Bắc và Nam Cali của nhóm, có nhà văn Trần Việt Hải là cố vấn. GS Quyên Di và Thụy Vy là 2 MC chính của buổi vinh danh.

GS TQHải được mời lên và ông xuất hiện với một vóc dáng rất khoẻ mạnh, giọng nói thì hùng hồn, sang sảng. Ông cám ơn BTC đã thực hiện buổi rms này và nói về quá trình hoạt động của ông ở hải ngoại.

Ông qua Pháp năm 1961 tới nay đã 58 năm. Thời gian đầu để học nhạc Tây Phương và nghiên cứu về nhạc học. Sau đó ông đi tìm hiểu thêm và khám phá ra âm nhạc VN không chỉ đơn thuần có Hò, Xang, Xê, Cống, đàn cò, đàn tỳ bà, độc huyền hay hát chèo, cải lương. Nhạc VN còn có nhạc của 53 sắc tộc khác của những dân tộc ở cao nguyên Trung phần như Ba na, Gia Rai, Êđê, Xê đăng… Ở phía Bắc có người Thái, Tày, Thổ, Nùng, Dao…. cũng có nhạc. Nghĩa là nhạc VN có thiên hình vạn trạng do sự phối hợp của nhiều loại. Trong số các nhạc cụ được sáng chế ngày nay có 3 cây đàn là niềm tự hào cho cái đẹp của VN. Đó là đàn T’rưng của người sắc tộc Gia Rai, đàn K’ni 2 giây và cây đàn đá. Ông đã đi khắp nơi trên thế giới để giới thiệu những cái hay cái đẹp của âm nhạc VN, như nhạc Cung Đình Huế, nhạc của đồng bào thiểu số, các loại Hát Tuồng, hát Chèo, Ca Trù, Ca Huế, Đàn Ca Tài Tử Nam Bộ. Ông giới thiệu cho toàn cầu biết sự phong phú đa dạng của nhạc VN.

blank

Pic 9 Triển lãm tranh

Ông đã giới thiệu và trình diễn lối hát Đồng Song Thanh và biểu diễn Đàn Môi khiến các cử toạ kinh ngạc và vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt. Trong quá trình nghiên cứu ông khám phá ra loại hát Đồng Song Thanh của người Mông Cổ vùng Tây Bá Lợi Á tức là hát 2 giọng cùng một lúc, có thể đổi từ giọng chính thành giọng cao. Để cải tiến, ông đã tạo ra phương pháp hát Đồng Song Thanh mới. Hơn thế nữa, có thể dùng phương pháp hát này để trị bệnh cho những người bị đứt thanh quản có thể nói được mà không phải phẫu thuật. Lúc nghiên cứu ông đã chấp nhận để người ta chiếu quang tuyến X trong một thời gian dài để thí nghiệm, nhằm biết được hoạt động của các thớ thịt ở cổ họng khi không dùng đến dây thanh quản mà vẫn tạo ra được tiếng nói. Các bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo ông có thể bị ung thư cổ họng nhưng ông đã sẵn sàng ký vào biên bản cam kết, biến mình thành “con vật” thí nghiệm cho những nghiên cứu của mình bất chấp cả tính mạng.

Để buổi ra mắt sách đầy tính văn hoá nghệ thuật thêm đặc sắc, BTC đã trình diễn một màn “Thời trang với áo dài qua thời gian” với sự góp mặt của các anh chị em trong nhóm cùng sự tham gia của Hội Ái Hữu Sinh Viên VN Fullerton. Những chiếc áo dài từ cổ truyền, Lemur Cát Tường, Bà Nhu, Bà Ba, cho tới cách tân qua các thời đại đã làm khán giả thích thú và kinh ngạc. Những hoạ phẩm nghệ thuật cũng được triển lãm do các hoạ sĩ đóng góp như: Lưu Anh Tuấn, Lê Thúy Vinh, Hồ Thành Đức, Bé Ký, Hoàng Vinh, Đàm Quốc Cường, Lương Nguyễn, Nguyễn Thái Bình…Các màn hợp ca, song ca mang đầy tính dân tộc do các nhạc sĩ, ca sĩ đồng trình bày đã góp phần phong phú cho buổi rms.

Tôi được tiếp xúc với GS Lê Văn Khoa và xin ông chia sẻ cảm nghĩ về âm nhạc cổ truyền khi ông là một nhạc trưởng chuyên về âm nhạc Tây Phương. Ông nói “Âm nhạc là ngôn ngữ không lời khi con người không hiểu nhau thì âm nhạc giúp để hiểu nhau. Cho nên dù là nhạc cổ truyền hay tây phương nó cũng vẫn là âm nhạc. Từ lâu người Việt cổ súy và bảo vệ tối đa nhạc truyền thống, không muốn nó lai nhạc tây Phương. Người theo nhạc tây phương thì cho rằng phương thức làm việc của tây phương có hệ thống ngon lành hơn, nên coi thường nhạc cổ. Như vậy thì thiệt hại quá, tôi dung hoà cả hai bằng cách dùng dân ca VN viết cho nhạc cổ truyền của người Ukraine và họ rất ngạc nhiên. Họ nói lần đầu tiên trên thế giới mới có người làm như vậy. Tôi dùng đàn tranh, đàn t’rưng bằng tre cho hoà tấu với dàn nhạc Tây Phương mới trình diễn ở Houston tháng 11/2018 khiến ai cũng ngạc nhiên hết. Họ thấy thích thú vì cả hai đều hoà điệu. Mục đích của tôi là làm sao phổ cập để cho cả 2 hoà nhịp.

Trịnh Thanh Thủy thực hiện

Orange County, CA

https://vietbao.com/a291047/dai-hoc-calstate-long-beach-ca-vinh-danh-gs-tran-quang-hai?fbclid=IwAR2ego3xkqiTidQBByrA9n2OJW8iC4jSpmuBptUGni-Y5hkfPO-9DYtNc3A

This blog is focused on Trân Quang Hai