NGUYÊN KHÔI : Festival di sản Quảng Nam: Khai mạc triển lãm “Không gian di sản văn hóa Việt Nam –


Festival di sản Quảng Nam: Khai mạc triển lãm “Không gian di sản văn hóa Việt Nam – ASEAN” Thứ bảy, 22/06/2013, 07:14 (GMT+7)

(SGGP).- Tối 21-6, trong khuôn khổ Festival di sản Quảng Nam lần thứ V, tại vườn tượng Hội An (Quảng Nam), một chương trình nghệ thuật hoành tráng được tổ chức để khai mạc triển lãm “Không gian di sản văn hóa Việt Nam – ASEAN” với sự tham gia của 23 tỉnh, thành phố.

Không gian di sản văn hóa Việt Nam – ASEAN bao gồm các hoạt động: Triển lãm không gian di sản văn hóa Việt Nam – ASEAN; trình diễn các di sản văn hóa phi vật thể và giới thiệu một số lễ hội truyền thống và trò chơi dân gian tiêu biểu, giao lưu văn hóa cộng đồng; trưng bày, giới thiệu quảng bá sản phẩm văn hóa, du lịch, sản vật, đặc sản, thủ công mỹ nghệ đặc trưng địa phương kết hợp trình diễn thao tác nghề truyền thống…

NGUYÊN KHÔI

http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2013/6/321557/

TIẾN TRÌNH : Những truyền nhân cuối cùng – Kỳ 5: Tiếng sến 3 dây, VIETNAM


Những truyền nhân cuối cùng – Kỳ 5: Tiếng sến 3 dây

21/06/2013 00:10

Suốt 30 năm bôn ba cùng cây sến “lạ”, lúc an nhàn khách gần xa tìm tới, nhưng nghệ nhân Trần Minh Đức vẫn canh cánh bên lòng vì vắng bóng truyền nhân.

Sến gì mà sến 3 dây ?

Một người chơi đờn lâu năm đã hỏi gặng như thế khi nghe tôi nhắc đến cây đờn (đàn) sến trong tay nghệ nhân Trần Minh Đức (Hai Đức, ngụ P.Thường Thạnh, Q.Cái Răng, TP.Cần Thơ). Độc đáo nảy sinh từ sự phá cách khởi nguồn bởi những đòi hỏi của cảm xúc nơi nghệ nhân chân chất.

Cách nay ít lâu, nhà văn Lê Đình Bích (giảng viên Trường ĐH Cần Thơ) trong nỗ lực tìm tòi và quảng bá các loại nhạc cụ dân tộc đã đưa đến cho nghệ nhân Trần Minh Đức tốp học viên từ các nước phương Tây. Lúc này, người ta bắt đầu chú ý đến cây đờn sến mới mẻ vốn đã ra đời rất lâu. Lê Đình Bích tâm đắc rằng: “Đờn sến 3 dây vừa giòn giã như tiếng mandoline, lại vừa nhấn nhá rất mùi như tiếng đờn kìm khi đờn vọng cổ”.

Trong cơn mưa hè bất chợt, tiếng sến cũng trỗi lên như bất chợt vui, bất chợt buồn và kéo tâm trạng người nghe vào vùng cảm xúc được dựng sẵn nhiều tầng, nhiều lớp. Người đàn không “phiêu”, không nắn nót, không rê dắt… mà bất cứ khi nào tiếng sến trong tay ông cũng “nhập” vào người đối diện. Hai Đức giải thích rằng cây sến cải tiến 3 dây 14 phím âm (so với 2 dây 12 phím cổ điển) “khéo” ở chỗ thêm được chữ “tì” kết âm song thinh với dây số 1, vừa trợ âm, hay những lúc xuống “xàng”, thêm dây thứ 3 sẽ làm lắng nhịp. Khi nhịp lắng xuống là lúc cảm xúc thăng hoa. Cây đàn 3 dây vừa giòn tan theo những cung điệu vui, vừa “nhấn nhá” buồn khi trỗi điệu nam ai, tứ đại oán, văn thiên tường… Hai Đức nói, đờn sến 3 dây sẽ phát huy hết công hiệu trong những điệu oán và bắc, gần như đạt đến sự hoàn hảo khi biểu trưng cho “trời – người – đất” và tương trợ nhau rất tốt.


Hơn 30 năm kiếm tìm nhưng nghệ nhân Trần Minh Đức vẫn chưa có người kế thừa ngón đờn sến 3 dây – Ảnh: T.T 

Một thời đam mê cải lương, Hai Đức đã xin nhà theo đoàn gánh hát. Thuận chí của con, người cha đã mua tặng Hai Đức cây đờn sến với mong mỏi nếu không thành danh thì cũng tìm được cho mình một sở trường. Hiểu ý ba, Hai Đức tìm thọ giáo những danh cầm ở miền Tây như thầy Hai Duyên, danh sư Sáu Hóa. Tiếp cận được đỉnh cao của đờn cổ, Hai Đức quyết tâm lãnh hội được những tuyệt chiêu của thầy và nhanh chóng trở thành tay đờn giỏi.

Vắng bóng truyền nhân

Chơi được nhiều nhạc cụ nhưng cây đờn sến vẫn luôn theo Hai Đức trong suốt thăng trầm cuộc sống, trên sân khấu cải lương, trên sóng phát thanh truyền hình, trong các cuộc liên hoan thi thố hay lúc thất chí đi bán quần áo dạo ở khắp vùng Rạch Giá, Cà Mau. Tiếng sến theo ông qua nhiều hoàn cảnh, có lúc nó như lạ, như thiếu mà tâm trạng đòi hỏi dù ngón đờn có điêu luyện cũng không “chiều” theo được. Năm 1990, Hai Đức thấy cần cho cây sến thêm dây để nhịp vui thêm giòn, để nhịp buồn thêm lắng.

Sáng chế và được chấp nhận, hơn 30 năm, đờn sến 3 dây của ông len lỏi vào đời sống âm nhạc. Nhiều lúc người ta giật mình biết tới và muốn ông biểu diễn và đều có chung nhận xét với ngón đờn của người nghệ nhân này, đờn sến 3 dây đã đạt tới một giá trị khác mà ít ai tưởng tới. Tuy nhiên, cũng không ít người hoài nghi về tính lưu truyền của loại đờn này, bởi chỉ ở trong tay Hai Đức nó mới phát huy được công hiệu bằng sự sáng tạo và đòi hỏi của người đờn. Lúc song thinh hay xuống sàn, người ta đã vốn hài lòng với cây sến cổ.

Trở lại nghiệp đờn lúc cuộc sống còn thắt ngặt, Hai Đức phải “chạy sô” cho các quán nhậu, phục vụ tiệc tùng… Cây sến lại nhẫn nại như người chia sẻ, nhấn gằn những khi buồn giận, trải lòng như “kể thêm” cho người phong trần những lúc tri âm. Sến 3 dây được biết đến nhiều cũng trong những lần ông mang đờn đi biểu diễn, thi thố khắp nơi. Nhiều bạn đờn biết được đã nhờ Hai Đức làm cho cây đờn 3 dây. Ông rất sẵn lòng làm đờn gửi tặng và cũng mong tìm được người để lưu truyền tâm huyết.

Hơn 30 năm cùng cây sến 3 dây, vinh quang cũng lắm, cơ cực cũng nhiều nhưng Hai Đức đến giờ vẫn chưa tìm được người để kế thừa ngón đờn tuyệt kỹ. Ông nói, để truyền thụ được sến 3 dây cũng rất cần người cảm nhận được nó. Trẻ thì ít người cảm thụ được, còn khi cảm thụ được thì… đã già. Thêm nữa, để truyền dạy được sến 3 dây thì tốt nhất là người học… chưa biết đờn sến 2 dây. Đờn sến bây giờ lại rất ít người theo học, vì dễ đờn, nhưng rất khó để đờn hay.

Dù tri âm, tri kỷ cũng nhiều, nhưng ngón sến lão làng này vẫn mòn mỏi đợi truyền nhân.

 

“Cây đờn sến cải tiến 3 dây từ 12 phím thành 14 phím cho đúng 2 bát bộ trong mỗi dây, với âm vực: dây 1 (dây buông): liêu – tương đương nốt là; dây 2 (dây buông): xang – tương đương rê; dây 3 (dây buông): hò – tương đương la. Thật tuyệt khi sử dụng đờn sến 3 dây để đờn Xuân nữ, Bài chòi Nam Trung bộ, hay những nhạc phẩm mang âm hưởng dân ca như Một lần dang dở của Nhật Ngân, Điệu buồn phương Nam của Vũ Đức Sao Biển… và đặc biệt là Dạ cổ hoài lang của nhạc sĩ Cao Văn Lầu” – nhà văn Lê Đình Bích

 

Tiến Trình

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130620/nhung-truyen-nhan-cuoi-cung-ky-5-tieng-sen-3-day.aspx

QUỐC THANH : Tặng Huy hiệu Thành phố Hồ Chí Minh cho GS Trần Văn Khê


Tặng Huy hiệu Thành phố Hồ Chí Minh cho GS Trần Văn Khê

19/06/2013 16:09 (GMT + 7)
 
TTO – UBND TP.HCM sẽ tặng Huy hiệu TP.HCM kèm tiền thưởng 30 triệu đồng cho giáo sư – tiến sĩ Trần Văn Khê do có công quảng bá nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ với quốc tế.

GS-TS Trần Văn Khê. Ảnh: TR.N.

Ngày 19-6, UBND TP.HCM vừa có quyết định tặng Huy hiệu TP.HCM kèm theo số tiền thưởng 30 triệu đồng cho giáo sư – tiến sĩ Trần Văn Khê. Đồng thời cũng sẽ tặng bằng khen của UBND TP kèm tiền thưởng 20 triệu đồng cho giáo sư Trần Quang Hải, thành viên Hội đồng Âm nhạc truyền thống thế giới.

UBND TP nêu rõ hai giáo sư đã có nhiều đóng góp tích cực cùng TP.HCM quảng bá nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ với quốc tế.

QUỐC THANH

 Image
 

VIVI : GS.TS Trần Quang Hải: Hành trình đưa ví, giặm đến di sản thế giới


GS.TS Trần Quang Hải: Hành trình đưa ví, giặm đến di sản thế giới

Thứ Tư, 19/06/2013 07:35 | In trang nàyIn bài viết

(Thethaovanhoa.vn) – Hát ví, dặm đã quen thuộc với công chúng khi đi vào văn chương, nghệ thuật. Ai mà chẳng từng nghe: “Giữa Mạc Tư Khoa/ Rừng dương như trầm lặng/ Mà nghe câu dặm/ Rằng hết giận rồi thương…” hay “Chuyện kể rằng Bác đòi nghe câu ví/ Nhớ làng Sen từ thuở ấu thơ”. Những câu hát dân gian đặc sắc của xứ Nghệ đang tiến gần đến ngày được công nhận di sản văn hóa phi vật thể – cách hữu hiệu nhằm bảo vệ gìn giữ, tránh biến đổi, thất truyền.  Hồ sơ hát ví, hát dặm Nghệ An và Hà Tĩnh đang được xây dựng và hoàn thiện để có thể trình lên UNESCO xem xét công nhận vào năm 2014.

Về với ví, dặm

Hội thảo thẩm định hát ví và hát dặm diễn ra từ ngày 18 – 20/6 này tại chính quê hương ví, dặm, là hoạt động quan trọng để Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam và các cơ quan phối hợp hoàn chỉnh hồ sơ. Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (Bộ VH, TT&DL) được giao chủ trì sự kiện. 

GS.TS dân tộc nhạc học Trần Quang Hải (sinh năm 1944 ở Thủ Đức, TP.HCM, định cư tại Paris từ 1961) là người bền bỉ nhiều năm sưu tầm, nghiên cứu, biểu diễn truyền bá nhạc dân tộc Việt Nam khắp thế giới. Ông vừa trở về nước sáng 17/6 để tham dự  hội thảo.

GS Trần Quang Hải biểu diễn đàn môi Việt Nam tại Festival quốc tế đàn môi ở Moskva, tháng 6/2012

Cha của GS Hải  –  GS.TS Trần Văn Khê (SN 1921, sang Pháp năm 1948, hồi hương về TP.HCM từ 2003), từng là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, Phó Chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO và cũng chính là người đã đóng góp rất lớn cho hai hồ sơ Nhã nhạc cung đình Huế và Cồng chiêng Tây Nguyên. 

Tiếp nối con đường của cha – Tiến sĩ âm nhạc dân tộc đầu tiên trên đất Pháp, GS. TS Trần Quang Hải là hội viên của nhiều hội nghiên cứu lớn trên thế giới, nhận 30 giải thưởng quốc tế, có gần một vạn buổi diễn trên các châu lục, là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên tham gia trình diễn tại các dịp kỷ niệm lịch sử và giảng dạy tại hơn 100 trường đại học trên thế giới. 

Với tài nghệ sử dụng thành thạo các nhạc cụ dân tộc, trình độ âm nhạc uyên bác, GS Hải đã tham gia xây dựng bốn hồ sơ của Việt Nam trình lên UNESCO: ca trù, quan họ, hát xoan và đờn ca tài tử. Năm 2010, ông được mời chủ tọa một bàn tròn về dân tộc nhạc học.

Người dân xã Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương (Nghệ An) biểu diễn ví, dặm

Suốt mấy tháng nay, GS Hải cấp tập chuẩn bị cho hồ sơ ví, dặm. Ông còn tranh thủ dùng uy tín, ảnh hưởng của mình quảng bá cho loại hình dân ca độc đáo của miền Trung Việt Nam trên truyền thông quốc tế bằng việc trả lời phỏng vấn trên Đài Phát thanh quốc tế Pháp (RFI) và Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) về những cái hay, độc đáo của ví, dặm. 

Ngoài GS Trần Quang Hải, tham dự cuộc hội thảo còn có các đồng nghiệp quốc: GS.TS Barley Norton (Đại học Goldsmiths, London), Yoshihito Tokumaru (Đại học Seitoku) và Oshio Satomi (Đại học giáo dục Miyagi, Nhật Bản) và Tvrtko Zebec (Viện Nghiên cứu dân tộc Cull và dân gian Croatia) đều là các chuyên gia tích cực ủng hộ Việt Nam lâu nay. Các chuyên gia, học giả thẩm định hát ví, dặm của ngư dân trên sông Lam ở huyện Đô Lương ( cách TP. Vinh 40km) và cách sinh hoạt, truyền dạy hát ví, dặm của CLB Ví, dặm huyện Thanh Chương (cách Đô Lương 20km). Tối 18/ 6, đoàn xem chương trình ví, dặm trên sân khấu nhà hát ở TP Vinh… 

Nhiều hy vọng cho các di sản Việt Nam 

Sau cuộc hội thảo về hát ví, dặm, sáng 21/6, GS Hải và các chuyên gia quốc tế sẽ tới TP Hội An để dự hội thảo quốc tế Công ước UNESCO và tương lai di sản Việt Nam nhân Kỷ niệm 10 năm thực hiện công ước 2003 của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể  (DSVHPVT) ở Việt Nam. 

 

Đến nay, Việt Nam đã có 7 di sản văn hóa phi vật thể (DSVHPVT) được tôn vinh: Nhã nhạc cung đình Huế năm 2003, Không gian cồng chiêng Tây Nguyên năm 2005, Quan họ Bắc Ninh và Ca trù năm 2009, Hội Gióng đền Phù Đổng và đền Sóc năm 2010, Hát xoan Phú Thọ năm 2011 và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 2012.

GS.TS Trần Quang Hải cho biết, tại hội thảo này, ông sẽ đặt ra một vấn đề đang rất thời sự hiện nay: “10 năm công ước về bảo vệ DSVHPVT của UNESCO có tác dụng gì với các DSVHPVT Việt Nam đã được và có thể được tuyên dương”? Ông đề  xuất: Một số DSVHPVT như: hát xẩm, hát  chầu văn, múa rối nước; các loại hát của dân tộc Thái, Tày, Nùng, Dao, H’Mông của miền Bắc; nhạc Phật giáo tán tụng của miền Trung; đờn ca tài tử Nam bộ, nhạc lễ, bảnDạ cổ hoài lang của miền Nam  có thể được UNESCO đánh giá đúng mức để tuyên dương trong tương lai, nếu được Nhà nước đầu tư, từ việc có chế độ chăm sóc nghệ nhân và duy trì quan tâm đầy đủ bằng chính sách, cơ chế hợp lý, xứng đáng. 

 

Thực tế, những nghệ nhân già – di sản sống, đang hao hụt dần do tuổi cao, trong khi các cơ quan chức năng và những người làm nghề vẫn chưa giải quyết được những thắc mắc, bất cập kéo dài về việc phong tặng Nghệ nhân dân gian nhân dân, Ưu tú,  kèm theo chính sách đãi ngộ. Di sản bị thay đổi, xói mòn khi chưa được chính con người trân trọng đúng mức. 

ViVi
Thể thao & Văn hóa 

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/gsts-tran-quang-hai-hanh-trinh-dua-vi-giam-den-di-san-the-gioi-n20130619071847632.htm

 

 

THANH HẰNG : Vẫn lúng túng trong quản lý di sản văn hóa, VIETNAM


Vẫn lúng túng trong quản lý di sản văn hóa
09:44:00 13/06/2013
 
Lúng túng trong quản lý di sản đã dẫn đến tình trạng nhiều di sản cấp Quốc gia bị xuống cấp, rồi bị xâm hại nghiêm trọng những năm qua, mà chùa Trăm Gianđình Ngu Nhuế chỉ là những ví dụ gần nhất. Nhưng làm thế nào để bảo vệ di sản tốt hơn, kể cả những cổ vật nằm trong các di tích, là câu hỏi mà bấy lâu nay, vẫn chưa có giải đáp.

Tìm ra câu trả lời chính là mục đích hội thảo toàn quốc “Nâng cao chất lượng công tác quản lý và phát huy giá trị di sản” được Bộ VH, TT&DL tổ chức vào ngày 11/6, dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Đặng Thị Bích Liên.

Có rất nhiều ý kiến đóng góp, nhưng đều phản ánh thực trạng: hiện vẫn duy trì cách quản lý di tích ở mỗi địa phương theo cách mà nơi đó thấy phù hợp. Ngay Hà Nội là địa bàn đậm đặc di tích nhất, cũng có nhiều cách: Nơi thì thuộc UBND TP Hà Nội, chỗ thì thuộc Sở VH, TT&DL, di tích khác lại thuộc huyện hoặc xã, phường quản lý. Ở nhiều tỉnh, còn tồn tại cả cách quản lý do gia đình, dòng tộc tổ chức. Vì thế, việc quản lý có chỗ chồng chéo, chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng xuống cấp, khó khăn trong đầu tư, cũng như kiểm tra, giám sát các hoạt động chuyên môn.

Việc trùng tu Chùa Trăm Gian là một ví dụ về sự lúng túng, chậm trễ trong quản lý nhà nước.

Các BQL hoạt động tương đối độc lập, ít thông tin, trao đổi, phối hợp trong chuyên môn cũng như chế độ báo cáo; chưa có sự phân định rõ ràng về nhiệm vụ nên khó cho việc theo dõi, kiểm tra. Nhiều địa phương còn buông lỏng kiểm tra công tác tu bổ, tôn tạo di tích, nhất là công trình có vốn đầu tư xã hội hóa, nên công tác này được đặc biệt quan tâm, nguồn đóng góp xã hội hóa cũng nhiều.

Nhiều ý kiến đề xuất không thể nhân danh xã hội hóa để khoán trắng cho dân trong bảo vệ di tích, vì đó là bảo vệ di sản của cha ông ta từ trong quá khứ, cũng là để cho các thế hệ tương lai. Cần bám sát mô hình UNESCO quản lý di sản thế giới để học tập: nhất thể hóa quản lý; có kế hoạch quản lý, xác định rõ di sản, nguy cơ có thể ảnh hưởng đến tính toàn vẹn, chân xác; đề ra chương trình hành động để triệt tiêu nó; quy hoạch bảo tồn dự án; báo cáo hàng năm để chất vấn, nhắc nhở, nếu sau 5 năm không đạt sẽ loại khỏi danh sách. Phải có vai trò Nhà nước, nắm lấy di sản thế giới và di tích quốc gia đặc biệt.

Thứ trưởng Đặng Thị Bích Liên đồng ý với quan điểm trong quản lý di tích hiện nay là không chỉ bám sát những kinh nghiệm trong nước, mà phải áp dụng, cập nhật cách quản lý trên thế giới, cũng như cần phải có cách nhìn nhận, ứng xử đúng với di sản.

Tuy nhiên, vấn đề rất quan trọng hiện nay là bài toán giữa bảo tồn và phát triển hiện vẫn chưa có trả lời thấu đáo từ hội thảo này. Một mô hình quản lý di tích và cả các cổ vật trong di tích cho thật thích hợp, để có thể triển khai thống nhất trong cả nước, vẫn là điều bỏ ngỏ trong hội thảo này

Thanh Hằng

S.ANH – M.HÀ : Nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật tại Festival Di sản Quảng Nam, VIETNAM


Nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật tại Festival Di sản Quảng Nam

Thứ Năm, 13/06/2013, 07:58 [GMT+7]

Chiều 12.6, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Minh Cả cùng đại diện Công ty CIAT có cuộc họp báo với đại diện các cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh và truyền hình trong cả nước về các hoạt động trong khuôn khổ Festival Di sản Quảng Nam lần thứ V – 2013.

 

 

Các hoa hậu dâng hương Mẹ VNAH Nguyễn Thị Thứ. Ảnh: MINH HẢI
Các hoa hậu dâng hương Mẹ VNAH Nguyễn Thị Thứ. Ảnh: MINH HẢI

Theo Ban tổ chức, Festival Di sản Quảng Nam lần thứ V – 2013 là sự kiện văn hóa du lịch gắn với kỷ niệm 10 năm Công ước quốc tế về bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể, là dịp để tôn vinh các giá trị di sản văn hóa Việt Nam, đặc trưng văn hóa Quảng Nam; kết hợp với rất nhiều sự kiện mang tính chất quốc tế. Ngoài 3 hoạt động chính là triển lãm “Không gian văn hóa Việt Nam – ASEAN”, “Hội thi hợp xướng quốc tế lần thứ III tại Việt Nam – Hội An 2013” và “Chung kết cuộc thi hoa hậu các dân tộc Việt Nam lần thứ III”, festival còn có hơn 20 hoạt động diễn ra ở nhiều địa phương trong tỉnh từ đồng bằng đến miền núi. Dịp này, Quảng Nam cũng sẽ khai trương và giới thiệu đến du khách và các hãng lữ hành một số sản phẩm du lịch mới.

Tại buổi họp báo, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Minh Cả công bố tổng số kinh phí vận động từ các nhà tài trợ tính đến ngày 12.6 bằng tiền mặt và hiện vật là 34,5 tỷ đồng. Cơ sở hạ tầng về cơ bản đã hoàn thiện. Hiện nay nhà hát ngoài trời có mái che với 3.000 chỗ ngồi đã hoàn thành, sẽ bàn giao vào ngày 15.6 tới.

* Trước đó, 64 thí sinh của 45 dân tộc anh em tham gia vòng chung kết Cuộc thi Hoa hậu các dân tộc Việt Nam lần thứ III năm 2013 đã đến đặt vòng hoa, dâng hương tại Nghĩa trang liệt sĩ  huyện Điện Bàn, thăm nhà Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ, Nhà lưu niệm Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, và Bảo tàng huyện Điện Bàn.

Cuộc thi Hoa hậu các dân tộc Việt Nam lần này do UBND tỉnh và Công ty CP Quảng cáo, hội chợ thương mại quốc tế (CIAT) phối hợp tổ chức. Vòng chung kết sẽ diễn ra tại TP.Hội An từ ngày 11 – 26.6 tới.

S.ANH – M.HẢ

http://baoquangnam.com.vn/van-hoa-van-nghe/van-hoa/201306/nhieu-hoat-dong-van-hoa-nghe-thuat-tai-festival-di-san-quang-nam-310055/

LÊ QUÂN : Festival Di sản Quảng Nam lần thứ V – 2013: Không gian văn hóa mở, VIETNAM


Festival Di sản Quảng Nam lần thứ V – 2013: Không gian văn hóa mở

Thứ Năm, 13/06/2013, 08:42 [GMT+7]

Từ “Không gian di sản văn hóa Việt Nam – ASEAN” đến Liên hoan Nghệ thuật quần chúng các dân tộc Việt Nam, carnavan đường phố, hội tụ nghệ thuật ASEAN, Hàn Quốc – Nhật Bản…; những hoạt động này trong lễ hội di sản mở ra một không gian văn hóa đa chiều cho người thưởng lãm.

 

 

Không gian di sản văn hóa Việt Nam - ASEAN hứa hẹn nhiều nét văn hóa đặc sắc với không gian mở. Trong ảnh: Trình diễn nghệ thuật truyền thống ở phố cổ.Ảnh: T.DŨNG
Không gian di sản văn hóa Việt Nam – ASEAN hứa hẹn nhiều nét văn hóa đặc sắc với không gian mở. Trong ảnh: Trình diễn nghệ thuật truyền thống ở phố cổ.Ảnh: T.DŨNG

Tâm điểm lễ hội

Theo Ban tổ chức, tâm điểm của lễ hội là Không gian di sản văn hóa Việt Nam – ASEAN, đặt tại Vườn tượng An Hội (TP.Hội An). Đây sẽ là điểm hội tụ các vùng miền văn hóa đặc trưng của Việt Nam được UNESCO công nhận cùng những hình ảnh sinh động, độc đáo của các di sản ở các quốc gia khu vực Đông Nam Á. Ông Trần Minh Cả – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Tổ chức lễ hội cho biết: “Hoạt động này là điểm nhấn nằm trong chương trình Festival Di sản Quảng Nam 2013, nhằm tôn vinh và phát huy di sản văn hóa dân tộc. Đồng thời, giới thiệu với nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế về nét văn hóa đặc sắc của các vùng miền, đặc biệt là các di sản văn hóa Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Qua đó, góp phần quảng bá tiềm năng văn hóa, thương mại, du lịch, liên kết phát triển du lịch di sản văn hóa bền vững giữa các tỉnh, khu vực, vùng miền trong cả nước, giữa các quốc gia trong khối ASEAN”.

Để tổ chức Không gian di sản văn hóa Việt Nam – ASEAN, Vinahouse sẽ lắp đặt 23 nhà rường cổ tại công viên Vườn tượng An Hội bên bờ sông Hoài. Trong đó, 22 không gian di sản văn hóa đặc trưng của Việt Nam và một không gian chung cho các quốc gia ASEAN sẽ được bố trí theo chiều bắc – nam. Trong đó, cực bắc sẽ là không gian di sản văn hóa của tỉnh Hà Giang và kết thúc tại điểm cực nam là không gian di sản văn hóa tỉnh Kiên Giang. Tại không gian mở này, người xem sẽ được cung cấp những thông tin cơ bản về văn hóa các vùng đất và sẽ có một trường liên tưởng về dòng chảy văn hóa dọc dải đất hình chữ S và cả khối ASEAN. Tác phẩm sắp đặt “Bản đồ Việt Nam” bằng hoa dựa theo tác phẩm điêu khắc “Chân trời Hội An” của nhà điêu khắc người Đức – Ingo Gũnther cùng các biểu tượng hoa sen bằng lồng đèn Hội An… sẽ kết nối toàn bộ không gian trưng bày. Ông Phan Văn Cẩm – Giám đốc Trung tâm Quản lý di tích và danh thắng Quảng Nam cho hay, đến thời điểm này, mọi công tác chuẩn bị gần như đã hoàn tất. Phía Quảng Nam sẽ có sản phẩm trưng bày từ Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An, Ban Quản lý khu di tích Mỹ Sơn, Ban Quản lý khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm. Thông tin từ Ban tổ chức  cho biết thêm, ngoài hoạt động tĩnh, các địa phương còn tổ chức biểu diễn nghệ thuật truyền thống, giới thiệu các di sản văn hóa phi vật thể thế giới, trình diễn lễ hội, nghề truyền thống, giao lưu trò chơi dân gian…

Không gian di sản văn hóa lần này chính là sự tôn vinh những giá trị văn hóa Quảng Nam, khẳng định những nét đặc trưng và đóng góp của văn hóa Quảng Nam trong kho tàng di sản văn hóa chung của dân tộc. Đây còn là hoạt động đáp ứng nhu cầu tìm hiểu những giá trị di sản văn hóa của người dân và du khách, tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa các nước trong cộng đồng ASEAN. Thông qua không gian này, các trung tâm quản lý di tích có cơ hội trao đổi kinh nghiệm về công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa. Họa sĩ Đỗ Minh Nhàn – người đã có hơn 100 bức tranh vẽ về các di sản văn hóa khắp thế giới, cũng sẽ có một gian hàng triển lãm tại đây.

Hội tụ bản sắc

Trong khuôn khổ Festival Di sản Quảng Nam lần thứ V còn có Liên hoan Nghệ thuật quần chúng các dân tộc Việt Nam. Khác với những lần tổ chức hội diễn, liên hoan trước, lần này, các đoàn tham dự được đưa về địa phương để biểu diễn phục vụ người dân. Ông Huỳnh Ngọc Hải – Giám đốc Trung tâm văn hóa thông tin tỉnh chia sẻ: “Liên hoan Nghệ thuật quần chúng các dân tộc Việt Nam vừa để làm phong phú hoạt động của lễ hội, vừa nhằm mục đích giới thiệu các loại hình nghệ thuật đặc trưng của các vùng, miền trong cả nước đến với người dân”. Sẽ có 16 đoàn nghệ thuật với 10 điểm lưu diễn tại các huyện trong suốt thời gian diễn ra liên hoan. Điểm đặc biệt của liên hoan là sự góp mặt của các nghệ nhân, diễn viên không chuyên đại diện các tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Ông Lê Văn Lộc – Trưởng đoàn nghệ thuật quần chúng TP.Hồ Chí Minh chia sẻ, được đến Quảng Nam biểu diễn và cùng làm nên một hành trình di sản đa dạng, phong phú là mong muốn của các thành viên trong đoàn. Được biết, các đoàn sẽ cùng tham dự lễ khai mạc festival, carnavan đường phố với đoàn hoa hậu, các đội hợp xướng… Suốt thời gian diễn ra lễ hội, hằng đêm, trên sông Hoài sẽ có phần trình diễn các loại hình nghệ thuật truyền thống được nhiều người yêu thích như dân ca quan họ Bắc Ninh, đờn ca tài tử Nam Bộ, hò hát xứ Quảng, hò ca Huế… Ông Võ Phùng – Giám đốc Trung tâm Văn hóa thông tin cho biết: “Những ngày diễn ra trưng bày Không gian di sản văn hóa Việt Nam – ASEAN chắc chắn sẽ “hút khách”, nhất là với sự tham gia biểu diễn nghệ thuật truyền thống trên sông của anh chị em diễn viên, nghệ nhân đến từ các vùng miền. Phố cổ, sông Hoài vốn đã ấn tượng về đêm chắc còn đẹp và lung linh hơn nữa trong những ngày này”.

Ngày 21.6, Không gian di sản văn hóa Việt Nam – ASEAN và Liên hoan Nghệ thuật quần chúng sẽ đồng loạt khai mạc. Hy vọng, cùng với nhiều hoạt động khác tại Festival Di sản Quảng Nam lần thứ V, các hoạt động biểu diễn này góp phần làm nên một hành trình di sản ấn tượng, độc đáo và lưu lại dấu ấn khó quên trong lòng du khách.

LÊ QUÂN

http://baoquangnam.com.vn/van-hoa-van-nghe/van-hoa/201306/festival-di-san-quang-nam-lan-thu-v-2013-khong-gian-van-hoa-mo-310093/

DOÃN HOÀNG – ĐOÀN ĐẠO : Nỗ lực cứu nguy di tích, VIETNAM


Nỗ lực cứu nguy di tích

Thứ Sáu, 14/06/2013, 08:50 [GMT+7]

Hàng trăm di tích cấp tỉnh có nguy cơ đổ nát không thể cứu vãn nếu không có sự can thiệp kịp thời của đề án Tu bổ cấp thiết di tích cấp tỉnh (giai đoạn 2011 – 2020).

Lăng mộ Bà Đoàn Quý Phi (Duy Trinh, Duy Xuyên) trước và sau khi trùng tu. Ảnh: TRUNG TÂM QLBTDT Lăng mộ Bà Đoàn Quý Phi (Duy Trinh, Duy Xuyên) trước và sau khi trùng tu. Ảnh: TRUNG TÂM QLBTDT
Lăng mộ Bà Đoàn Quý Phi (Duy Trinh, Duy Xuyên) trước và sau khi trùng tu. Ảnh: TRUNG TÂM QLBTDT

Trùng tu cấp thiết

Nằm lặng lẽ trong một rừng thông ca-ri-bê thuộc thôn 1 (xã Tiên Mỹ, Tiên Phước), di tích Nghĩa trũng Tiên Phú Tây (còn có tên gọi là Nghĩa trũng Nghĩa hội Quảng Nam) giờ đây trở nên quang đãng hẳn sau đợt  trùng tu gần đây. Lăng đường được gia cố, cứng hóa bằng xi măng các chi tiết như bệ thờ, nền móng… và quét vôi sạch sẽ. Ngoài ra, Phòng VH-TT huyện Tiên Phước đã cho xây dựng tường rào, cổng ngõ, gắn bia di tích, góp phần tôn vinh di tích Nghĩa trũng Tiên Phú Tây. Ông Nguyễn Quang Cảnh – Trưởng thôn 1 (xã Tiên Mỹ) giải tỏa được nỗi lo canh cánh trước đó vài tháng, lăng đường gần như sập đổ, không có bờ tường để xác định diện tích di tích hay để bảo vệ di tích. “Hằng năm đến ngày 16 tháng 2 (âm lịch), nhân dân chúng tôi làm lễ tảo mộ, thấy cảnh lăng đường cũ kỹ mà xót thương. Giờ thì các nghĩa sĩ yêu nước chắc đã yên lòng an nghỉ” – ông Cảnh nói.

Từ trước năm 2010, dù các địa phương và ngành chức năng đã cấp báo về tình trạng xuống cấp của hàng trăm di tích nhưng tỉnh vẫn chưa có cơ chế tài chính dành cho việc trùng tu, tôn tạo. Trước tình hình đó, Sở VH-TT&DL đã tham mưu UBND tỉnh đề án “Tu bổ cấp thiết di tích cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2020”. Cuối năm 2011, UBND tỉnh đã phê duyệt đề án, đây là cơ sở quan trọng để bố trí nguồn lực tài chính, xây dựng lộ trình cụ thể cho việc tu bổ di tích cấp tỉnh đã xuống cấp. Sau 3 năm triển khai đề án, UBND tỉnh đã hỗ trợ trên 10 tỷ đồng để thực hiện việc trùng tu, tôn tạo lại các di tích, các huyện, thành phố đã cân đối ngân sách đối ứng kinh phí và huy động các tầng lớp nhân dân đóng góp với số tiền hơn 20 tỷ đồng.

Đưa chúng tôi thăm đình Hiền Lộc, ông Huỳnh Xứng (75 tuổi, thôn Hiền Lộc, Bình Lãnh, Thăng Bình) cho biết nhân dân trong thôn rất xúc động khi ngôi đình được phục dựng đẹp đẽ khang trang không khác gì đình cũ. “Bốn đời nhà tôi tự nguyện hương khói, chăm sóc đình Hiền Lộc nên bao nhiêu thăng trầm của ngôi đình tôi hiểu rõ hơn ai hết. Chiến tranh, sự bào mòn của mưa nắng đã khiến ngôi đình gần như mất đi vào năm 2003. Nhân dân vùng này đau xót vô cùng khi nơi thờ tự các bậc tiền hiền khai làng lập ấp bị sụp đổ… Nay đình đã được phục dựng đẹp đẽ, xứng tầm rồi. Mà lạ lắm từ ngày phục dựng lại đình mới, cây bàng đã mục rỗng thân ở đình bỗng dưng xanh tốt lại. Mùng 10 tháng 2 âm lịch vừa qua, sau khi đình phục dựng xong, chính quyền xã và bà con nhân dân đã làm lễ nghinh thần, rước sắc ở đình mới”… – ông Xứng kể.

Kinh phí cho việc trùng tu đình Hiền Lộc ngoài nguồn ngân sách tỉnh phân bổ 600 triệu đồng, UBND huyện Thăng Bình đầu tư hơn 800 triệu đồng, khởi công trùng tu từ tháng 3.2012, đến tháng 8.2012 thì hoàn thành. Các di tích Nghĩa trũng Tiên Phú Tây, đình Hiền Lộc là vài điển hình trong danh mục nhiều di tích cấp tỉnh vừa được tu bổ lại trong thời gian qua theo đề án “Tu bổ cấp thiết di tích cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2020”.

Không làm biến dạng di tích

Nhờ cơ chế hỗ trợ của đề án, hàng chục di tích đổ nát, hư hỏng nặng đã “sống” lại khang trang, đẹp đẽ nhưng vẫn đảm bảo giữ nguyên diện mạo vốn có. Theo ông Phan Văn Cẩm – Giám đốc Trung tâm Quản lý bảo tồn di tích tỉnh, quy trình thực hiện công tác trùng tu đã được tiến hành chặt chẽ, khoa học. “Sau khi nhận kinh phí hỗ trợ của tỉnh, các địa phương tiến hành lập và trình dự án cùng tất cả hồ sơ thiết kế lên Sở VH-TT&DL và Trung tâm Quản lý bảo tồn di tích tỉnh. Nếu có chi tiết nào không phù hợp chúng tôi yêu cầu chỉnh sửa. UBND các huyện, thành phố chỉ có thể ra quyết định phê duyệt dự án khi có văn bản thỏa thuận của Sở VH-TT&DL để thống nhất phương pháp trùng tu, tôn tạo phù hợp nhất. Ngoài ra, trung tâm cũng cử đoàn xuống kiểm tra trong quá trình thực hiện và sau khi hoàn thành dự án”. Do vậy, trong quá trình thực hiện đề án chưa xảy ra trường hợp nào trùng tu làm biến dạng hay “méo mó” di tích” – ông Cẩm nói.

Việc triển khai đề án cũng đã giải cứu nhiều di tích thuộc sở hữu cá nhân khỏi nguy cơ xuống cấp khi chủ sở hữu không có tiền sửa chữa, tôn tạo. Nhà cổ Nguyễn Huỳnh Anh nép mình trên lưng chừng sườn đồi ở thôn 4 (xã Tiên Cảnh, Tiên Phước) được dẫn vào bằng một ngõ đá nhỏ xinh xắn. Chủ nhân ngôi nhà là ông Nguyễn Đình Hoan (52 tuổi) cảm thấy hạnh phúc và mãn nguyện kể từ ngày ngôi cổ nhà của cha ông để lại được tu sửa. “Trước kia, nhà bị xuống cấp, cha tôi (ông Nguyễn Huỳnh Anh) đã cho thay 2 tầng mái thành 1 tầng mái và thay vách nhà đất bằng đá mặt ngoài tô vôi, xi măng… Qua thời gian, nhiều chi tiết trong ngôi nhà bị hư hỏng, tôi không tìm đâu ra kinh phí để sửa chữa. May mắn là từ tháng 12.2012 đến tháng 3.2013, Nhà nước quan tâm tu sửa, thay mới rui, đòn tay, 2 kèo sau, 3 cột và một số hoa văn bị hư hỏng bằng gỗ mít giống như nguyên bản của ngôi nhà” – ông Hoan cho biết.

Không chỉ riêng các di tích ở Tiên Phước hay Thăng Bình mà nhiều di tích ở các huyện, thành phố khác cũng được tôn tạo, phục dựng xứng đáng với tầm vóc, ý nghĩa của mỗi di tích. Phần mộ các nghĩa sĩ Lương Đình Thự, Trần Thu, Trịnh Uyên, Nguyễn Thược (từng tham gia Việt Nam Quang Phục Hội), trước là mộ đất nằm tản mát ở những nơi heo hút thì nay UBND TP.Tam Kỳ đã đưa về Khu lăng mộ các sĩ phu yêu nước an táng. Hay ngôi nhà tiến sĩ Trần Văn Dư (Phú Ninh), lăng mộ Bà Đoàn Quý Phi, Mạc Thị Giai (Duy Xuyên) và một loạt đình làng xây dựng từ đời nhà Nguyễn như đình Ái Nghĩa, đình Phiếm Ái, đình Không Chái (Đại Lộc)… cũng đã trùng tu xong.

DOÃN HOÀNG – ĐOÀN ĐẠO

http://baoquangnam.com.vn/van-hoa-van-nghe/van-hoa/201306/no-luc-cuu-nguy-di-tich-310497/

MINH NHẬT : Chung kết toàn quốc Liên hoan dân ca Việt Nam 2013: Tìm lại dân ca nguyên bản, VIETNAM


Chung kết toàn quốc Liên hoan dân ca Việt Nam 2013:
Tìm lại dân ca nguyên bản
Thứ bảy, 04/05/2013 – 01:48 PM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định
Hai nghệ nhân Pa Dí đàn hát bài dân ca: “Hát 12 tháng”.

NDĐT – Đêm Chung kết toàn quốc Liên hoan dân ca Việt Nam 2013 sẽ diễn ra vào tối mai 5-5 tại Hà Nội, nhưng “không khí” vẫn dường như vắng lặng. Không có nhiều thông tin về cuộc liên hoan này, kể cả ngoài đường phố cũng như trên các phương tiện thông tin báo chí.

Mặc dầu vậy, bên trong Nhà hát Âu Cơ (đường Huỳnh Thúc Kháng, Hà Nội) – nơi sẽ diễn ra đêm chung kết, các nghệ nhân vẫn miệt mài luyện tập.

Một năm hát mười hai tháng

Trong hai nghệ nhân người dân tộc Pa Dí (Lào Cai) ôm cây đàn tròn ra sân khấu tập theo hướng dẫn của đạo diễn, chỉ có một người nói bập bõm tiếng Kinh. Bà Thào Phủng Din (65 tuổi) hỏi gì cũng chỉ biết lắc đầu cười. Cũng may, nghệ nhân Pờ Chin Dín trẻ tuổi hơn một chút, đã cho chúng tôi biết, điệu dân ca mà hai người vừa trình bày có tên là “Hát mười hai tháng”: Tháng một nở hoa đào/ Tháng hai nở hoa thơm…/ Tháng 9 vàng bông lúa… Bà cất giọng trong veo ngân nga theo tiếng đàn bập bùng, nghe thật là quyến rũ.

Bà Pờ Chin Dín bảo, bài hát dài lắm, lên sân khấu không đủ thời gian nên chỉ hát được một phần thôi. Nếu ở nhà thì cứ vừa đi làm rẫy vừa hát, có khi tối trời chưa kết thúc. Bài hát này bà cũng như bà Thào Phủng Din thuộc từ năm 14, 15 tuổi. Nhưng ở bản giờ cũng chỉ vài ba người già còn nhớ.

Cái cây đàn tròn được chạm khá cầu kỳ hai bà cầm trên tay, bà Dín bảo, bây giờ cũng hiếm lắm, ít người làm được. Ở huyện Mường Khương của hai bà, người dân vừa trải qua mấy đợt mưa đá, gió lốc. Nhà cửa tan tành hết. Thế nhưng bà Dín rất vui khi được đến Hà Nội để hát dân ca. “Hôm chung kết khu vực ở Thái Nguyên được truyền hình trực tiếp, con cháu ở nhà xem thấy mẹ đi hát trên ti vi thích lắm. Còn đây là lần đầu tiên tôi về Hà Nội, và cũng được hát trên ti vi đấy”- bà Dín khoe.


Gùi đựng gần chục loại nhạc cụ rất “dễ thương” của chàng trai người Mông Vàng Nhìa Mua khiến nhiều người thích thú.

Nếu như bà Dín và bà Din vui sướng vì “lần đầu được hát trên ti vi”, thì anh Vàng Nhìa Mua người dân tộc Mông ở Hà Giang lại vui vì “lần đầu đi dự thi”. Mua được gọi là “nghệ nhân đa tài” của kỳ này vì có thể trình tấu nhiều loại nhạc cụ. Theo quy chế mới của Liên hoan năm nay, ngoài dân ca có thêm các tiết mục múa dân gian và trình tấu nhạc cụ dân gian, nên Mua mới được tham gia.

Ngó vào cái gùi mà anh đeo trên vai, thấy có tới gần chục loại: cây khèn Mông, nhị, mấy cây sáo, hai cây kèn bằng gỗ. Thấy tôi cứ kiễng chân ngó vào cái gùi, Mua bèn đặt xuống, và lôi từ đáy gùi ra một bọc bẹ chuối gọn gàng. Anh lấy từ cái bẹ chuối cuộn vuông vắn ấy ra một cái lá, đưa lên môi. Rồi cầm cái nhị, anh vừa đàn và thổi cái khèn lá đơn giản ấy. Một điệu nhạc vui tươi hồn nhiên tôi chưa từng nghe vang lên… Mấy “anh chàng” của đội dân ca quan họ Bắc Ninh thích thú tò mò tìm hiểu những nhạc cụ kỳ lạ ấy. Một người cầm cây khèn thổi thử, chỉ phát ra tiếng phịt phù…

Hỏi Mua có bán cái gùi cùng những nhạc cụ này không, anh bảo: “Không bán đâu. Làm mấy cái này lâu lắm, khó lắm, giờ không có làm được đâu”.

Hấp dẫn vì còn… nguyên bản

Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền- người theo sát cuộc liên hoan dân ca từ các khu vực- đánh giá rất cao tài năng của Vàng Nhìa Mua, đặc biệt là tiết mục thổi một lúc hai cái kèn gỗ. Khèn Mông sáo Mông thì cũng được nghe nhiều rồi, còn điệu nhạc thổi bằng hai cái kèn gỗ này là tiết mục mới- nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền nói. Ngày nào anh cũng có mặt tại Nhà hát Âu Cơ để xem mọi người luyện tập, và qua đó, giúp chỉnh sửa, uốn nắn lại từng loại nhạc cụ cho nó đúng tông, đúng giọng. Nhăm nhắm với mục tiêu là tìm lại và tôn vinh những tiết mục đúng “chất” dân ca nguyên bản, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền “rất sợ” những tiết mục “được” dàn dựng, làm mới, hoặc đưa cả dàn nhạc vào hoặc lấy diễn viên chuyên nghiệp ra hát để nhằm lấy thành tích.

Nguyên tắc của liên hoan là không áp đặt, không can thiệp vào cách trình diễn của bà con. Điều đó thể hiện ngay từ khâu chọn tiết mục: có lẽ bây giờ hiếm có sân khấu ca nhạc nào mà những người trình diễn đơn thuần là những người “chân đất”. Họ là nông dân từ các bản làng, đúng nghĩa chân đất bước lên sân khấu. Phần nhiều trong số những “ca sĩ”, “nhạc công” người dân tộc thiểu số không biết tiếng Kinh. Không hiếm trường hợp đạo diễn bảo đi ra thì “ca sĩ” lại đi vào. Ánh đèn sân khấu và những trang trí khá cầu kỳ với màn hình led, phông nền hoa lá và màu sắc xanh đỏ đối với họ hết sức lạ lẫm… Nhưng bài ca, điệu nhạc, điệu múa ở làng bản như thế nào thì họ trình bày ra như thế. Đó chính lại là nét hấp dẫn của các tiết mục tại Liên hoan.


Vàng Nhìa Mua (Vần Chải, Đồng Văn, Hà Giang) trình tấu điệu nhạc bằng khèn lá và nhị của người Mông.

Có thể tìm nghe ở đây các làn điệu dân ca nguyên bản, không dàn dựng, không bị “biến thể” vì những áp đặt của việc trình diễn theo kiểu “sân khấu hóa”. Khác với cách nghĩ quen nếp là dân ca thì thường khó nghe, cũ, lạc hậu… có nghe mới giật mình: dân ca nguyên gốc với những giọng hát mộc mạc thực sự là rất hay.

Không chỉ các nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền, hay những người trong nghề mới trầm trồ tấm tắc trước những tiết mục mộc mạc ấy. Ngay cả những người nghe bình thường, nếu một lần được nghe trực tiếp, dù chưa hiểu được lời ca ngay cũng cảm nhận được cái hay của giai điệu, tiết tấu. Giật mình, bởi một kho tàng âm nhạc dân gian, bao gồm hàng trăm điệu múa, hàng trăm loại nhạc cụ… gần như đang bị bỏ quên ở một góc nào đó, cần phải được tìm lại.

GS.TS Tô Ngọc Thanh, người khởi xướng và theo cuộc thi này những năm đầu tiên từ Đài Truyền hình Đà Nẵng, năm nào cũng lặn lội khắp các vùng để chấm thi. Đó cũng là một cách giúp ông khảo sát, “định lượng, định tính” lại toàn bộ “vốn liếng” âm nhạc của cha ông. Đó cũng chính là mục tiêu của cuộc Liên hoan mà nhiều năm liền các nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc theo đuổi.

Thế nhưng, “cuộc chơi” này xem chừng cũng vẫn còn đơn độc. Ngoài đơn vị tổ chức là Đài Truyền hình Việt Nam có lợi thế để phát sóng trên toàn quốc, thì dường như Liên hoan này vẫn chưa được công chúng và truyền thông quan tâm đúng mức. Vé phát miễn phí nhưng hầu như cũng ít người biết. Đến lượt các nhà nghiên cứu, nhà tổ chức cầm vé đi kêu gọi mọi người đến xem để “ủng hộ” nghệ nhân.

Tuy vậy, có đến nghe các nghệ nhân tập đàn hát chuẩn bị cho đêm chung kết, mới thấy dân ca vẫn được nuôi giữ, dù có thầm lặng. Và các cuộc liên hoan từ khu vực diễn ra hàng tháng trời để có đêm chung kết toàn quốc sắp tới này, cũng thầm lặng không kém, lại là một cơ may cho công chúng…

Trong số 18 tiết mục của 18 đoàn tham gia chung kết toàn quốc Liên hoan dân ca Việt Nam 2013 đó có những tiết mục: Nhạc hội mã la của đồng bào Raglai ở vùng Bác Ái (Ninh Thuận), điệu hát Trống quân của Dạ Trạch, Khoái Châu, (tỉnh Hưng Yên) hát ca trù Chúc Hỗ của Hà Tĩnh, điệu hát Cầu mùa của dân tộc Sán Chay (Thái Nguyên), trình tấu các loại nhạc cụ của người Mông ở Hà Giang, một số tiết mục đặc sắc khác của đồng bào dân tộc Ê Đê, Chăm, M’ Nông… ở miền Trung và Tây Nguyên, miền đông Nam Bộ, điệu Xoan cổ ở Phú Thọ, quan họ lời cổ của Bắc Ninh. Liên hoan năm nay cũng sẽ không đánh giá các tiết mục bằng cách trao huy chương vàng, bạc… mà chọn những tiết mục nguyên gốc nhất của dân ca các dân tộc qua tài năng trình tấu, giọng ca của nghệ nhân để tôn vinh trên sóng truyền hình cả nước.

 

MINH NHẬT

TRÌNH KẾ : Phát hiện 14 thanh đá nghi là đàn đá cổ, VIETNAM


 
Phát hiện 14 thanh đá nghi là đàn đá cổ
Thứ sáu, 14/06/2013 – 11:38 AM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định
 

NDĐT-Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Yên đã cử cán bộ bảo tàng đến nhà anh Đinh Hải Hưng xác minh 14 thanh đá lạ mà nhiều ngày qua dư luận loan tin là đàn đá cổ.

 

Trước đó, vợ chồng anh Đinh Hải Hưng đã đến chính quyền địa phương trình báo việc tìm thấy 14 thanh đá lạ có hình dáng và âm thanh giống như đàn đá cổ.

Theo anh Hưng, cách đây chừng nửa tháng, trong lúc đào tìm cây dược liệu, vợ chồng anh phát hiện 14 thanh đá xếp cạnh nhau, nằm cách mặt đất khoảng 30cm, tại khu vực rừng Đá Đen thuộc thôn 1, xã An Xuân, huyện Tuy An.

Quan sát thấy các thanh đá có hình thù kỳ lạ, khi gõ phát ra âm thanh hay, anh Hưng mang về nhà cất giữ.

Các thanh đá có màu trắng ngà, lõi xanh đen, giống như hình chữ nhật, hình thang, hình cánh cung, kích cỡ không đồng đều. Thanh lớn dài nhất gần 40cm, rộng 13cm, nặng 4,5kg; thanh nhỏ ngắn nhất dài 18cm, rộng 4,5cm, nặng 0,6kg. Điều lạ là khi dùng đá hoặc thanh gỗ gõ vào các thanh, thì phát ra âm thanh vang giống như đàn đá cổ Tuy An được phát hiện vào năm 1990.

Theo các nhà nghiên cứu tỉnh Phú Yên, các thanh đá có hình dạng hao hao giống bộ đàn đá Tuy An nhưng kích thước nhỏ hơn. Muốn biết chính xác đây có phải là bộ đàn đá cổ hay không, phải chờ kết quả thẩm định.

Năm 1990, tại huyện Tuy An, một người dân cũng tình cờ phát hiện bộ đàn đá cổ, nguyên gốc đàn gồm tám thanh, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Phú Yên.

Theo các nhà khoa học, bộ đàn đá này có niên đại khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, với thanh âm hoàn chỉnh nhất được phát hiện ở Việt Nam.

UBND tỉnh Phú Yên và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang trình cấp có thẩm quyền công nhận bộ đàn đá, kèn đá Tuy An là báu vật quốc gia và lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là Di sản ký ức của nhân loại.

 


Anh Hưng giới thiệu 14 thanh đá vừa được phát hiện.

TRÌNH KẾ