THOẠI HÀ : GS TS TRẦN QUANG HẢI ,Con trai GS Trần Văn Khê trở thành kỷ lục gia


Chủ nhật, 19/12/2010 11:57 GMT+7

Con trai GS Trần Văn Khê trở thành kỷ lục gia

Với khả năng khiến các chiếc muỗng (thìa) phát ra thanh điệu, giáo sư Trần Quang Hải, còn được gọi là ‘Vua muỗng’, vừa được công ty sách kỷ lục Vietkings trao danh hiệu kỷ lục gia, vào ngày 18/12, tại TP HCM.
Giáo sư âm nhạc Trần Quang Hải về nước tìm ‘đồ đệ’Gia đình có khả năng tự nổi trên nước nhận kỷ lục VN

Clip

‘Vua muỗng’ Trần Quang Hải biểu diễn

NSƯT Hồ Kiểng đọc thơ về các loài hoa
Nghệ sĩ Mai Đình Tới thổi sáo bằng mũi
Chị em ca sĩ thấp nhất Việt Nam hát nhạc Đức Trí
Trong ngày hội ngộ kỷ lục gia lần thứ 20, diễn ra tại TP HCM, Giáo sư Trần Quang Hải  được trao danh hiệu "Người thể hiện tiết tấu - âm thanh đa dạng nhất từ nghệ thuật gõ muỗng".
Trong ngày hội ngộ kỷ lục gia lần thứ 20, diễn ra tại TP HCM, Giáo sư Trần Quang Hải  được trao danh hiệu “Người thể hiện tiết tấu – âm thanh đa dạng nhất từ nghệ thuật gõ muỗng”.
Sau khi nhận danh hiệu, Giáo sư Hải (phải) còn biểu diễn cho các khán giả chương trình thấy được tài nghề khiến muỗng phát thanh điệu của mình. Ông khiến mọi người vỗ tay thích thú vì sự gần gũi và khiếu hài hước.
Sau khi nhận danh hiệu, Giáo sư Hải (phải) còn biểu diễn cho các khán giả chương trình thấy được tài nghề của mình. Ông khiến mọi người vỗ tay thích thú vì sự gần gũi và khiếu hài hước.
Vợ Giáo sư Trần Quang Hải, danh ca Bạch Yến (thứ hai từ phải sang) cũng lên sân khấu nhận danh hiệu kỷ lục thay cho nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo. Nhạc sư Vĩnh Bảo được trao danh hiệu "Nhạc sư cao tuổi nhất dạy âm nhạc dân tộc trực tuyến cho học trò qua internet", do tuổi cao nên ông không trực tiếp đến chương trình để nhận giải.
Vợ Giáo sư Trần Quang Hải, danh ca Bạch Yến (thứ hai từ phải sang) cũng lên sân khấu nhận danh hiệu kỷ lục thay cho nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo. Nhạc sư Vĩnh Bảo được trao danh hiệu “Nhạc sư cao tuổi nhất dạy âm nhạc dân tộc trực tuyến cho học trò qua internet”, do tuổi cao nên ông không trực tiếp đến chương trình để nhận giải.
Ông Thân Văn Huy (trái), người vừa được trao danh hiệu kỷ lục gia "Người đầu tiên phục hồi làm nghệ thuật làm hoa sen bằng giấy", tặng cho ông Lê Trần Trường An, tổng giám đốc Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam Vietkings một bó sen hồng làm từ giấy
Ông Thân Văn Huy (trái), người vừa được trao danh hiệu kỷ lục gia “Người đầu tiên phục hồi làm nghệ thuật làm hoa sen bằng giấy”, tặng cho ông Lê Trần Trường An, Tổng giám đốc Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam Vietkings một bó sen hồng làm từ giấy. 
Nhà khảo cổ Đỗ Đình Truật (70 tuổi) là Người chủ trì và tham gia khai quật các mộ cổ nhiều nhất với trên 300 ngôi mộ từ Nam ra Bắc được khai quật phục vụ công cuộc nghiên cứu khảo cổ học.
Nhà khảo cổ Đỗ Đình Truật là “Người chủ trì và tham gia khai quật các mộ cổ nhiều nhất” với trên 300 ngôi mộ từ Nam ra Bắc, phục vụ công cuộc nghiên cứu khảo cổ học.
"Nghệ nhân làm tranh bằng chất liệu lá thốt nốt nhiều nhất" - ông Võ Văn Tạng ở trị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (trái) tặng cho ông Lê Trần Trường An và chương trình kỷ lục gia một bức tranh được tạo từ lá thốt nốt.
“Nghệ nhân làm tranh bằng chất liệu lá thốt nốt nhiều nhất” – ông Võ Văn Tạng ở trị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (trái) tặng cho ông Lê Trần Trường An và chương trình kỷ lục gia một bức tranh được tạo từ lá thốt nốt.
Cặp chị em ca sĩ thấp nhất Việt Nam (áo dài đỏ), hai nhân vật được phong danh hiệu kỷ lục gia trước đây, góp mặt tại ngày hội ngộ với màn ca hát sinh động.
Cặp chị em ca sĩ thấp nhất Việt Nam (áo dài đỏ), hai nhân vật được phong danh hiệu kỷ lục gia trước đây, góp mặt tại ngày hội ngộ với màn ca hát sinh động.
NSƯT Hồ Kiểng, kỷ lục gia đóng vai phụ nhiều nhất Việt Nam, góp vui cho chương trình bằng màn đọc thơ về 100 loài hoa.
NSƯT Hồ Kiểng, kỷ lục gia đóng vai phụ nhiều nhất trên phim ảnh Việt Nam, góp vui cho chương trình bằng màn đọc thơ về 100 loài hoa. 
Nhà sử học Dương Trung Quốc trao tặng danh hiệu cho các kỷ lục gia trong ngày hội ngộ.
Nhà sử học Dương Trung Quốc trao tặng danh hiệu cho các kỷ lục gia trong ngày hội ngộ.

Thoại Hà

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/gioi-sao/trong-nuoc/con-trai-gs-tran-van-khe-tro-thanh-ky-luc-gia-1911043.html

Nhạc sư VĨNH BẢO : Musique vietnamienne traditionnelle / Ses réflexions


Image

MUSIQUE VIETNAMIENNE TRADITIONNELLE

 

Chaque époque pose des problèmes à elle particuliers. En nous rattachant au passé, notre mission est de distinguer ce

qui est l’héritage de ceux qui l’ont précédé et ce qui nous revient en propre. La vie de l’artiste est une conquête líée à la conscience d’une valeur qui se sent appelé à réaliser dans ses buts artistiques. Sa volonté artistique ne peut naître tout d’abord que de la conscience qu’il prend de sa destinée historique. L’art musical est le plus formel d’entre les arts. Nous pouvons aisément faire une oeuvre de poésie ou de  peinture sans tenir compte de l’évolution historique de ces arts, mais nous sommes interdits de créer hors de la réalité  de l’histoire.

Au lieu de se remettre au hasard, nous devons créer en nous-mêmes une discipline sévère, née d’un effort vers un but consciemment poursuivi.

11-08-2013

Vĩnh Bảo

Nhạc sư VĨNH BẢO : Đôi lời tâm tình với Trần Quang Hải


11 tháng 8, 2013
HẢI thương,
Như con biết, Bác không phải là nhà nghiên cứu âm nhạc, mà đơn giản là nhạc sĩ,  thầy đàn  như mọi nhạc sĩ thầy đàn khác. 
Năm nay 96 tuổi, suốt đời làm âm nhạc Bác đã có dịp tiếp súc trên 200 nhạc sư nhạc sĩ của 3 Miền đất nước, Bác chưa nghe vị nào nói cho biết những bản nhạc Tài tử Nam bộ do ai sáng tác, sáng tác tại đâu và vào thời điểm nào. Tức là bản đàn khuyết danh.
Bản Dạ cố hoài lang 20 câu nhịp hai, mở rộng ra bản nhịp tư, nhịp tám, nhịp 16 và nhịp 32, cũng chưa nghe ai nói cho biết ai là ngươi đầu tiên khởi xướng việc làm nầy. Nhiều điều khác liên quan đến nhạc hiện còn trong bí ẩn, do đó sự hiểu biết cùa Bác rất là giới hạn. 
Bác chi trao đổi hay xan xẻ sự hiểu biết của mình cho một số bạn bè và học trò của mình theo kiểu ông già kể chuyện đời xưa, nói lại những gì đã thấy, đã học, đã biết, có sao nói vậy .
Bác luôn tôn trọng ý kiến cũng như việc làm của người khác. Nhưng sự tôn trọng không mảy may ảnh hưởng đến nhận xét cũng như sự đánh giá của riêng Bác.
Âm nhạc ví như vườn hoa, nơi đó mọi người đều tự do mang hoa đến trồng, kể cả cỏ dại. Âm nhạc chung, trách nhiệm chung. Sự đóng góp của mỗi người tuy có khác nhau, nhưng sẽ được đời sau tôn vinh, nếu nó có chân giá trị.
Thương ôm con,
Vĩnh Bảo Image

TÀI TỬ revived for Shanghai stage


Tai tu revived for Shanghai stage

Practice makes perfect: Six senior artists rehearse the Indochina Dance and other pieces of tai tu in HCM City a few days before travelling to China, where they will perform at the world conference of the International Council of Traditional Music. — VNS Photo Van Dat

HCM CITY (VNS)— Eight senior Vietnamese artists (six musicians and two singers) yesterday completed rehearsals for performing an old piece of tai tu music at an international event in Shanghai next week.

The artists will also perform some other compositions at the 42nd world conference of the International Council for Traditional Music next Saturday.

The notations for Indochina Dance, a very early tai tu piece performed in France in 1900 on the stage of Indochina Theatre at the Paris International Fair, was accidentally found by Australian- Vietnamese music expert Nguyen Le Tuyen while he was researching the music form at the France National Library last year.

“This is the most ancient piece in the tai tu music history of Viet Nam. It was noted by French researcher Julien Tiersot in 1900. At the performance, famous French ballet dancer Cleo de Merode danced to the music,” Tuyen said.

After finding the music piece, Tuyen announced his discovery to senior traditional musicians in the country, including researcher Bui Trong Hien, who helped him convert the music sheet to the traditional Vietnamese style.

“This surprising discovery is meaningful as Viet Nam is applying for UNESCO regconition of tai tu music as an intangible cultural heritage. It’s surprising that 113 years ago, the music piece was performed in France and now, it will be presented before more than 700 international traditional music experts,” Tuyen told Viet Nam News.

It was also evidence that early in the 20th century, the public and the French colonialists paid attention to tai tu music, a precious Vietnamese asset, Tuyen said.

Tuyen, who lectures at the Australian National University, said his surmise that this was the earliest piece was based on the fact that it was performed 10 years before the earliest book with tai tu compositions was printed in 1909.

Artists Huynh Van Khai, Nguyen Thi Hai Phuong, Vo Vam Kim, Vo Truong Giang, Pham Cong Ty, Phan Minh Duc, Mai Thanh Mai and Pham Van Mon will perform the Indochina Dance as it was done in more than a century ago.

Unchanged melodies

All six artisans agree that the music is not different from what they are playing now, meaning that tai tu has retained its originality for more than a century though its compositions are not written.

“I am proud that the music was introduced in a foreign country 113 years ago. That means tai tu had developed before that for decades,” said Huynh Khai, who has been performing traditional music for 34 years.

He said he was eager to introduce the music again to international experts.

Vu Kim Anh, deputy director of HCM City’s Department of Culture, Sports and Tourism, said UNESCO would take a decision on recognising tai tu in December this year.

“However, pass or fail is not important. This is proof that tai tu music has retained its vitality for a long period of time. For more than 100 years, the music has remained unchanged and developed well,” she said. — VNS

http://vietnamnews.vn/life-style/241721/tai-tu-revived-for-shanghai-stage.html

NHẠC SƯ VĨNH BẢO : Cảm tưởng về bài ký âm do bà Judith Gautier ghi theo tài liệu của Nguyễn Thuyết Phong


Sau khi nghe enregistrement, thì rỏ là ông Tây nói tiếng Việt, ngọng nghịu, khó hiểu.
Tây nghe nhạc Việt nam mà chép ra thì là kinh khủng……….
Muốn đàn cho nhạc sỉ Tây phương ghi âm ra bản nghe được nhìn bản học được là việc làm không phải là khó.
Người đàn phải:
a.  cho biêt cao độ của nốt Hó cơ bản của nhạc Việt nam cùng cao độ với nào trong 7 nốt của thang âm bình quân,
b.  hoặc cho cao độ của nốt Hò cùng cao độ với DO hoặc SOL.
c.  cho nghe hệ thống dây:  Hò – xự     (Do – Ré)   1  cung
                                      . Xự – xang  (Ré – Fa)    1 cung rưởi
                                        Xang – xê  (Fa – Sol)    1 cung
                                        Xê – cống  (Sol – La)    1 cung.
d.  Nhạc Viêt nam thuộc nhịp lớn.  Chẻ ra nhịp nhỏ cho dể hiểu,
e.  Trang trí tô điểm nốt đàn ( Nốt nào Rung, nốt nào mổ, nhấn lên nhanh hay chậm, nhấn tới cao độ nào, .

Bản mà ông Julien Tiersot ghi âm có một số câu giông  giống Bình bán vắn. Nếu gọi đây là Bản Bình bán văn thì Bản nầy đâu phải là Bản xưa nhứt hay Bản đầu tiên.
Vĩnh Bảo Image

THỬ “GIẢI MÔ CÂU CHUYỆN “VŨ KHÚC ĐÔNG DƯƠNG”, phỏng vấn NGUYỄN THUYẾT PHONG , VIETNAM


THỬ “GIẢI MÔ CÂU CHUYỆN “VŨ KHÚC ĐÔNG DƯƠNG”

LGT: Gần đây có một số các báo loan tin về “phát hiện” của một nhà nghiên cứu (gốc Việt) ở Úc một bản nhạc cho là “đờn ca tài tử xưa nhất”. Bản nhạc nầy dành cho điệu múa mang tên “Vũ khúc Đông Dương”. Vì sự kiện nầy phổ biến rộng rãi, nồng nhiệt của các báo và thậm chí công diễn bản nhạc nầy tại hội thào ICTM (Hội đồng quốc tế về âm nhạc truyền thống), Thượng Hải, vào ngày 15 tháng 7 năm nay, DTNHVN nhận thấy cần có ý kiến về phía một nhà Dân tộc nhạc học có uy tín trên thể giới đang giảng dạy tại Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh là Gs.Ts. Nguyễn Thuyết Phong. Ông là người thiết lập ngành Dân tộc nhạc học (Ethnomusicology) đầu tiên tại Nhạc viện Hà Nội (nay là Học viên quốc gia âm nhạc Việt Nam) từ năm 2004, được ghi tiểu sử và đồng tác giả với Gs.Ts. Trần Văn Khê mục “Việt Nam” trong đại tập bách khoa từ điển âm nhạc thế giới New Grove (Anh Quốc, 2001).

Thưa giáo sư. Cảm nhận trước tiên về sự kiện nầy?

Chủ trương của ngành Dân tộc nhạc học thế giới (Ethnomusicology) là đi tìm “sự thật”. Mà muốn tìm ra sự thật chúng ta không chỉ bỏ một thời gian ngắn, hay nghe qua tin đồn, mà ngược lại phải cần có đầy đủ thời gian và dữ kiện để kiểm chứng một cách chắc chắn, thậm chí cần có sự tập hợp các nhà nghiên cứu có “lực” trước khi công bố bất cứ công trình quan trọng gì. Tôi cảm thấy thông tin bạn vừa nêu đã tiếp nhận và truyền đạt quá nhanh qua các báo lớn như Tuổi Trẻ, Sài Gòn Giải Phóng, Vietnam News, v.v. làm tôi và các đồng nghiệp choáng ngợp đến độ sửng sốt. Đó là cảm giác trước tiên của tôi.

Vậy, có điều gì cần nói ngay … để giải tỏa cảm giác ấy?

Có rất nhiều điều để nói. Trước hết là về mặt phương tiện thông tin đại chúng. Tôi cảm thấy ước gì có một sự khắt khe nào đó, cần thiết áp dụng trước khi đăng tin. Trước khi đưa ra báo chí, người nghiên cứu cần kiểm chứng kỹ lưỡng, bởi lẽ nếu chỉ đăng tin về sự kiện hằng ngày như các cuộc biểu diễn, hòa nhạc, hay tin về một “ngôi sao” tham dự sự kiện A, B gì đó thì không thành vấn đề. Ngược lại, khi công bố một công trình khoa học, thì công trình ấy đòi hỏi hải có một phân tích vững chắc, xác thực. Tôi ngạc nhiên khi đọc được bài báo mạng bị xóa vài chi tiết mà tôi đã đọc và thấy khác với trước, ví dụ báo Vietnam News http://vietnamnews.vn/life-style/241721/tai-tu-revived-for-shanghai-stage.html đã xóa tên một số người. Có lẽ chỉ sau khi gặp phải phản ứng gay gắt của người bị mượn danh trong bài đã đăng với mục đích “trợ lực” cho bài báo nầy. Câu “After finding the music piece, Tuyen announced his discovery to senior traditional musicians in the country, including  …” có thiếu vài vị mà trước đây đã đề cập. Không lẽ nào tên đã được đăng rồi lại xóa? Nếu chính danh không lẽ nào bị rút ra. Như thế, phần nào có làm tổn thương cho các vị ấy. Chỉ chi tiết nầy cho thấy sự thất bại của việc thông tin chưa đảm bảo tính xác thực. Báo chí chú trọng đến việc thông tin nhanh chóng đến người đọc, gây cảm xúc mạnh hơn là những trang sách nghiên cứu.

Như vậy đâu là đầu câu chuyện, thưa Giáo sư? Có phải về sự “khám phá” của ông Nguyễn Lê Tuyên bản nhạc “Danse de l’Indo-Chine?” mà ông ấy cho rằng đây là bản nhạc “tài tử” đầu tiên?

Đúng vậy. Vấn đề nằm nguyên vẹn trong điều mà ông Nguyễn Lê Tuyên (nhạc sĩ guitar Rock, theo như ông nói với một đồng nghiệp của tôi lúc gặp nhau ở Thượng Hải lần rồi) công bố với báo chí. Trước hết, về xuất xứ bài Danse de l’Indochine  mà các báo dịch ra là “Vũ khúc Đông Dương”. Tôi xem lại bản gốc trong sách Notes d’Ethnographie musicale của ông Julien Tiersot xuất bản năm 1905 (đúng ra phải cách viết phải là “Danse de l’Indo-Chine”). Phóng viên Minh An, báo Sài Gòn Giải Phóng (12/07/2013), viết “… các nghệ sĩ tài tử Việt Nam trình diễn tiết mục hòa tấu “Vũ khúc Đông Dương” – một bản nhạc tài tử được ký âm cổ nhất trong lịch sử âm nhạc tài tử Việt Nam vừa được phát hiện và phục dựng lại theo chữ nhạc truyền thống.” Tôi có nhiều nghi vấn về bản ký âm nầy: thứ nhất, đây chỉ là ký âm thô sơ, ký âm một mạch, theo cách của một người chưa rõ cơ cấu âm nhạc truyền thống Việt Nam như thế nào, ký âm không thể hiện cấu trúc chu kỳ (câu nhạc) và luyến láy là điều quan trọng để thể hiện điệu thức. Chính vì vậy, khi đọc nốt nhạc nghệ sĩ không thể hiểu nó thuộc điệu thức gì. Có người cho rằng theo hơi Bắc. Nhưng tôi nghĩ nếu áp dụng luyến láy (rung, nhấn, mỗ) một cách khác nhau thì sao?  Chưa hẳn là hơi Bắc mà có thể là hơi ai, hơi xuân, hơi thiền, v.v.. Yếu tố luyến láy rất quan trọng trong nhạc truyền thống Việt Nam. Nó có thể biến đổi điệu thức chỉ qua một nhấn rung nho nhỏ tinh tế. Khi tác giả bài báo phỏng vấn nghệ sĩ thì mỗi người không tránh khỏi lúng túng, khó khăn, vất vả tìm cách giải thích; rồi một nghệ sĩ trong nhóm cũng phải xuôi chiều cho qua chuyện: “… cuối cùng chúng tôi đã chọn được cách chơi vừa ý nhất”. Vừa ý có thể là “đúng nhất” chăng? Ai có thẩm quyền về sự đúng sai nầy? Tiếp theo, ông Nguyễn Lê Tuyên, người tích cực vận động các nghệ sĩ qua diễn ở Thượng Hải, thì cho rằng “So với những bản tài tử được ký âm những năm 1910, 1911, Vũ khúc Đông Dương được coi là phát hiện sớm nhất, từ năm 1900”. Đây là điểm “nóng” của vấn đề. Phát biểu như vậy chứng tỏ sự qua loa và mù mờ về kiến thức toàn diện của sự kiện Exposition universelle de Paris, 1900. Tại hội chợ triễn làm nầy, théâtre (ở đây phải hiểu là “hát bội”) là điểm nổi trội hơn hết. Chính ông Tiersot phải nói rõ ở trang 47 của quyển sách trên là “J’ai pu noter sous la dictée de M. Viang la ligne mélodique entière du morceau qui forma la base essentielle du répertoire musical au théâtre Indo-Chinois” (Tôi đã có thể ký âm theo cách xướng âm của ông Viang toàn giai điệu của bài tạo nồng cốt của nhạc mục của sân khấu Đông Dương). Vậy sao có thể cho là bài đờn ca “tài tử” qua bài nầy? Quả tình đây là bài nhạc sân khấu, và hoàn toàn không phải cho múa mà Nguyễn Lê Tuyên đưa cho các báo đăng tin là Vũ khúc Đông Dương. Ông Viang (rất có thể là Viên, Viện hay Viễn phát âm theo giọng miền Nam nghe như có “g”) là trưởng đoàn nghệ thuật chủ yếu là hát bội như các sách đã ghi nhận. Như thế làm sao chúng ta có thể đồng ý được rằng cái bài nhạc mà ông Tiersot ghi là “nồng cốt” của sân khấu mà Nguyễn Lê Tuyên lại cho là nhạc “tài tử”? Điểm sai lầm nữa là tác giả của câu chuyện cố tình gán ép vũ nữ Cléo de Mérode múa theo bài nhạc trên? Điều nầy ông Tiersot chưa hề nói, và một tác giả khác, bà Judith Gautier, của quyển sách La musique indochinoise à l’Exposition de 1900: Chant annamite – Danse cambodgienne (Âm nhạc Đông Dương tại Hội chợ triễn lãm 1900: Bài hát An Nam – Múa Cao Miên) cũng không đá động gì tới múa trong nhạc Việt Nam khi nhắc đến sự tham gia của bà Mérode (lúc ấy phải là “cô” vì còn rất trẻ). Khi đọc qua quyến nầy, phải nhìn nhận là vào thời điểm đó (1900) mà bà đã có nhiều nhận xét khách quan và mô tả sự tinh tế, sâu lắng của âm nhạc Việt Nam mà chính bà rất ưu ái. Tôi thấy đáng tuyên dương, cảm kích. Sách xuất bản đúng thời điểm (1900), tức trước sách của ông Tiersot (1905), thì dễ tin hơn. Quá rõ ràng, hát và múa là đặc trưng của mỗi trong hai nước thuộc Đông Dương . Khi ta nhìn qua tựa của quyển sách thì biết dụng ý của bà về hát thì gắn liền với truyền thống An Nam, múa phải đi liền với truyền thống Cao Miên (Campuchia). Đồng thời, khi ta xem hình ảnh bà Mérode múa với trang phục Cao Miên (Khmer) thì khó có thể dùng nền nhạc đệm kiểu “Annam” được! Do vậy, việc gán ép múa Cao Miên với nhạc Việt là không có cơ sở. Tấm ảnh chung của tất cả nghệ sĩ Đông Dương đang ngồi trên sân khấu có thể hiểu là để phô trương tất cả nghệ sĩ Đông Dương tham gia Hội chợ. Và cũng quá xa vời thực tế để làm một phim Vũ Khúc Đông Dương ở các địa điểm quay tại Mỹ Tho, Paris và Marseilles, như báo Tuổi Trẻ (30.07.2013) đưa tin. Còn một chi tiết nữa khi bài báo cũng đề cập: “Còn sự kiện trung tâm của phim là ban nhạc tài tử của ông Nguyễn Tống Triều đã đệm Vũ khúc Đông Dương cho cô Cléo de Mérode múa tại Hội chợ thế giới Paris năm 1900”. Điều nầy không khớp với chính bài viết Nguyễn Lê Tuyên. Ông khẳng định rằng ông Nguyễn Tống Triều qua Marseilles biểu diễn vào năm 1906. Nói mà không có dẫn chứng từ sách nào. Quyển mà ông nêu lên để khẳng định điều nầy (L’Indochine 1906 báo cáo của đồng tác giả Ferrière, Garros, Meynard, Raquez,) lại không có chi tiết ấy, dù nhỏ. Nếu vậy, sao ông Nguyễn Tống Triều lại có mặt trong Hội chợ Paris năm 1900? Điều nầy chỉ gây sự lẫn lộn các chí tiết đề cập trong các bài báo. Dĩ nhiên, khi người ta làm phim điện ảnh thì không gì không thể làm được. Nhưng về mặt tài liệu nghiên cứu lịch sử là điều phải suy nghĩ lại, phải nghiêm túc và nghiêm khắc. Tôi muốn nhắc lại, nghiên cứu Dân tộc nhạc học là con đường chân thật, đi tìm sự thật.

Nghệ sĩ múa Cléo de Mérode với trang phục không phải Việt Nam

Vậy, rốt cục có phải bài Danse de l’Indo-Chine là bản nhạc 100 năm duy nhất đã được “phát hiện” lần đầu tiên bởi ông Nguyễn Lê Tuyên? Giáo sư đồng ý với điều nầy?

Tôi hoàn toàn không đồng tình với quan điểm nầy chỉ với một lý do đơn giản rằng Nguyễn Lê Tuyên không tham khảo đủ dữ liệu trước khi khẳng định và công bố. Nhược điểm trong nghiên cứu thường là sự dễ dãi. Nắm được một tài liệu không có nghĩa đó là tất cả. Ông Tuyên chưa đọc quyển La musique indochinoise à l’Exposition de 1900: Chant annamite – Danse cambodgienne vừa kể trên, trong ấy bà Gautier ký âm đầy đủ hơn, mặc dù không thể cho là hoàn hảo nhưng vượt xa bản ký âm quá ngắn ngủi của ông Tiersot về nhiều mặt. Bài Plainte amoureuse (tạm dịch ‘Tình thán’) và L’Audience royale (tạm dịch ‘Khán giả hoàng cung’) là hai bản nhạc Việt bà đã dịch lời và ký âm kỹ lưỡng hơn bài Danse de l’Indo-Chine của ông Tiersot. Rất tiếc, ông Tuyên không biết về sự có mặt của một quyển sách đã xuất bản 5 năm trước và cũng khiến các nghệ sĩ đi diễn ở Thượng Hải tưởng lầm Vũ khúc Đông Dương là bài duy nhất, sớm nhất. Ống cũng không biết rằng âm nhạc Việt Nam gồm cả sân khấu (hát chèo, hát bội), nhạc lễ cũng đã có mặt ở Hội chợ triễn lãm Paris năm 1889. Nhà soạn nhạc Claude Debussy đã cảm thụ âm hưởng sân khấu Việt Nam như thế nào chúng ta cũng cần phải biết. Chính tai tôi có lần cũng nghe được đoạn nhạc qua thu âm ống sáp thời đó (1889) là đoạn hát chèo trong vai phù thủy không quá 1 phút tại Thư Viện Quốc Hội (Hoa Kỳ). Nó làm tôi bàng hoàng xúc động khi nghe được tiếng hát hơn trăm năm xưa. Thực ra ông Tiersot cũng đã xem hát bội nhiều lần từ những năm ấy và viết “Le théâtre annamite et les danses javanaises” (Sân khấu An Nam và núa Java) trong tập Musiques pictoresques et promendes musicales à l’Exposition de 1889 (Âm nhạc gợi ảnh và cuộc dạo chơi âm nhạc tại Hội chợ triển lãm năm 1889). Có thể còn nhiều bài nhạc khác đăng rãi rác đó đây bên Pháp mà chúng ta chưa biết hết. Tóm lại, chúng ta không thể xem bài nhạc Danse de l’Indo-Chine nầy là duy nhất 100 năm như dư luận đang bị đè nặng bởi nguồn tin sai lệch cần phải báo động. Đó là sự hạn chế trong học thuật, khiếm khuyết trong nghiên cứu và gây ảnh hưởng đến báo chí và công chúng. Tôi không rõ ông Tuyên nói đi đến tận Thư viện quốc gia Pháp mới khám phá ra bài nhạc nầy đế công bố. Kỳ thật, một người có chút kiến thức vi tính cũng có thể lên mạng Internet lấy ra trong ít phút bằng vào một vài từ khóa!

Bìa quyển sách của Judith Gautier và bài hát Plainte amoureuse có ghi lời Việt

Xin Giáo sư cho một lời nhắn nhủ với những ai yêu âm nhạc dân tộc và muốn phát huy nó xuyên qua kết quả của một nhà nghiên cứu đúng nghĩa.

Kiến thức của chúng ta chỉ là giot nước trong đại dương. Âm nhạc dân tộc ta là rừng biển. Mà cái rừng, cái biển ấy chỉ có thể có giá trị tinh anh mới tranh đua được với nước ngoài. Muốn vậy phải có sự quan tâm đến nền học thuật chuyên môn và chính xác, phát hiện rõ ràng và mạch lạc, và nhất là đạo đức trong nghề nghiên cứu. Ở Mỹ cũng như ở Úc có Hội đồng đạo đức nghiên cứu nhân văn (Human Research Ethics Committee) chuẩn nhận người nhận dự án nghiên cứu và nhà nghiên cứu ấy phải thể hiện niềm tự giác đáng quí trong nghề nghiệp. Một công trình nghiên cứu không nhìn thấy vai trò và chức năng tư vấn đáng kính của Hội đồng nầy đối với bản thân mình, tức nghiên cứu ấy không giá trị. Chúng ta nghe nói nhiều về đờn ca tài tử đất Nam Bộ, một truyền thống rất lớn, muốn được UNESCO công nhận là di sản mà vẫn chưa thành công. Trong khi ấy một truyền thống nhỏ lại được công nhận ngay. Có phải đây là uẩn khúc tế nhị cần tự đánh thức (?) và suy nghĩ kỹ hơn nữa về nhiều mặt, trong đó có học thuật khang nghiêm, biểu diễn chân chính làm người ta nể trọng.

 

Xin cảm ơn Giáo sư.

TRINH NGUYỄN : Bỏ bê di sản ca trù


Bỏ bê di sản ca trù

05/08/2013 12:05

Phải báo cáo về ca trù sau 4 năm nhận danh hiệu di sản thế giới, Sở VH-TT-DL Hà Nội mới phát hiện ra không nơi nào nhận quản lý, theo dõi việc này.

Tự bơi là chính

“Hôm trước, Cục Di sản đôn đốc tiến độ gửi báo cáo về ca trù, theo cam kết với UNESCO từ 2009, phòng mình được phân công thực hiện báo cáo. Làm văn bản gửi các nơi đề nghị cung cấp số liệu mới tá hỏa lên khi không nơi nào nhận quản lý, theo dõi việc này. Ai đó giúp chúng tôi với”, một cán bộ theo dõi di sản của Sở VH-TT-DL Hà Nội cho biết.

Bỏ bê di sản ca trù
Các nhà nghiên cứu lo lắng ca trù sẽ rơi vào cảnh cha chung không ai khóc – Ảnh: Ngọc Thắng

Theo Giám đốc Sở VH-TT-DL Hà Nội, ông Tô Văn Động, việc thống kê hiện vẫn đang được các đơn vị cơ sở tiếp tục thực hiện. Một con số cụ thể rồi sẽ có vào tháng 10 tới. Tuy nhiên, mức độ chính xác của con số đó tới đâu, hay một “tương lai tươi sáng” cho ca trù thì chắc khó ai dám tin. Bởi, khi người quản lý theo dõi không có, điều đó có nghĩa ca trù ở Hà Nội vẫn tự bơi là chính, kể từ khi nó trở thành di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp năm 2009. Giờ đây, sau 4 năm, cũng sắp tới lúc Việt Nam phải báo cáo lại với UNESCO tình hình “cứu” di sản này.

“Một trong những nguyên tắc của hồ sơ di sản khi trình UNESCO là phải có chương trình hành động”, nhà nghiên cứu âm nhạc Đặng Hoành Loan cho biết. “Nếu nhà nước không duyệt chương trình thì không ai cho giữ danh hiệu. Chương trình hành động về ca trù cụ thể lắm. Tổ chức thế nào, truyền dạy ra sao, cụ thể lắm. Nhưng đó chỉ là chương trình hành động, mà không hành động”, ông bức xúc.

Hà Nội bỏ trống ca trù từ lâu rồi. Hà Nội bỏ bẵng như thế mà đáng lẽ nó phải là trung tâm lớn nhất
Nhà nghiên cứu âm nhạc Đặng Hoành Loan

PGS-TS Lê Văn Toàn, Giám đốc Viện Âm nhạc – nơi đã chuẩn bị hồ sơ di sản cho ca trù, cho biết sau khi ca trù trở thành di sản, Viện cũng không có dự án âm nhạc nào với Hà Nội về vấn đề này. Trong khi đó, đúng ra, Viện và các địa phương có nhiều việc cần phối hợp với nhau để thực hiện. Tất nhiên, địa phương thực hiện thế nào, đến đâu thì đó vẫn là trách nhiệm của địa phương. Nhưng với Hà Nội, liên lạc này rất lỏng lẻo. “Cái đó (kết hợp tư vấn chuyên môn – NV) dường như thiếu vắng. Thậm chí có công văn đi nhưng người ta cũng không đáp ứng được. Có một số tỉnh khác tích cực. Nhưng một số trong đó có Hà Nội không đáp ứng được”, ông Toàn cho biết.

Bị bỏ lửng đã chua xót. Nhưng đau xót hơn, ca trù lại bị bỏ lửng ở chính miền đất hứa cho nó – nơi lúc nào cũng lừng lững như một đại trung tâm của ca trù. “Di sản ca trù ở Hà Nội thực sự ghê sớm. Hà Nội là trung tâm, đại trung tâm của ca trù. Nhất là có thêm Hà Đông cũ, thì Hà Nội càng là trung tâm lớn hơn. Toàn vùng ca trù lớn hợp lại. Nhưng Hà Nội hình như không để ý”, ông Loan nói.

Cũng theo ông Loan, ngày ca trù mới được danh hiệu di sản, Hà Nội có nhiều cuộc họp về ca trù, làm thế nào để bảo tồn phát triển nó. Ông Loan tới dự và được nghe một vị Phó giám đốc Sở VH-TT-DL Hà Nội hứa cho ca trù địa điểm sinh hoạt, rồi giúp ca trù tổ chức sinh hoạt. Nhưng giờ cũng chưa thấy gì.

Cha chung không ai khóc

Thực ra, ca trù cũng không hẳn là hoàn toàn không phát triển. Cũng vẫn có những nhóm nhỏ nghệ sĩ tự học, tự truyền nghề rồi biểu diễn. Cũng vẫn có lẻ tẻ đêm diễn vinh danh ca trù. Nhưng đêm vinh danh ca trù đẹp đẽ và có uy nhất lại do Trung tâm văn hóa Pháp L’Espace thực hiện. Trong đêm diễn đó, “tiếng phách trạng nguyên” Kim Đức đã hát trong không gian nghiêm cẩn – được phục dựng như trong giáo phường thuở xưa. Còn những nhóm ca trù nhỏ lẻ khác đều đang phải tự lo, tự tìm, tự thỏa thuận để có chỗ tập, chỗ diễn thường xuyên.

“Ca trù là di sản, nhưng là di sản của cả nước. Có tới 15 tỉnh thành có ca trù. Tóm lại, ca trù nằm ở tình trạng không tỉnh nào chịu trách nhiệm cả. Chứ nếu chỉ là di sản của một tỉnh thôi thì tỉnh đó lại lo. Chẳng hạn, Bắc Ninh đổ tiền vào quan họ, Phú Thọ đổ vào hát xoan, Huế lo cho nhã nhạc. Thậm chí còn có ý kiến rằng thôi để Phú Thọ chủ yếu lo cho hát xoan, trong khi ở đó cũng có ca trù”, ông Loan phân tích.

“Nhưng cái này có lỗi của Bộ. Bộ không tìm ra được phương án hoạt động cho các tỉnh, không đề xuất được với các UBND tỉnh. Ca trù mấy năm nay hầu như người tham gia do tự thích là chính. Tự học. Tự truyền. Tự xây dựng. Nhưng ủng hộ của các tổ chức văn hóa yếu lắm”, ông Loan nói.

Quản lý không đúng bản chất

Sau khi nhận danh hiệu di sản, có những di sản được quản lý bằng cách rất bất thường, không đúng bản chất của nó. Thậm chí có quan chức phát biểu rằng khi được UNESCO công nhận rồi thì phải quản lý chặt chẽ hơn. Cái đó rất sai lầm. Nên hiểu quản lý theo nghĩa là điều phối. Quản lý là định hướng, hỗ trợ trên cơ sở chuyên môn. Họ vẫn tôn trọng chủ thể di sản. Nhưng họ có những nhóm chuyên môn rất sâu, hỗ trợ người dân trong việc bàn công việc.

TS Đinh Hồng Hải, Viện Nghiên cứu văn hóa

Trinh Nguyễn

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130804/bo-be-di-san-ca-tru.aspx

This blog is focused on Trân Quang Hai