Stephane LAGARDE (LIBERATION) : Portrait Tran Quang Hai, 52 ans, ethnomusicologue, est son propre cobaye pour ses recherches sur la voix. L’empire des sons, FRANCE 1996


Portrait

Tran Quang Hai, 52 ans, ethnomusicologue, est son propre cobaye pour ses recherches sur la voix. L’empire des sons

10 octobre 1996 à 23:11

Image

 
Par LAGARDE Stéphane

Tout commence par un embouteillage. «Je chantais coincé sur le

périph’ lorsque, tout à coup, en prononçant la lettre L, j’ai entendu un sifflement. J’ai couru à la maison et je me suis enregistré.» Tran Quang Hai ­ Océan illuminant ­ n’a rien d’un illuminé. Pourtant, quand en 1971 il perce le mystère des voix mongoles, ses collègues chercheurs s’étonnent. La technique a de quoi surprendre: elle permet à l’interprète de produire deux sons en même temps à des niveaux différents.

Tran est depuis vingt-six ans son propre sujet de recherche. De concert en colloque, son chant enchante le monde entier. L’an passé, au Tuva, il a obtenu non sans fierté la carte de membre du Khoomei, distinction réservée aux chanteurs de gorge professionnels. «Si vous trouvez quelqu’un qui chante mieux que moi, dites-le, on fera un duo.» Passé maître du chant triphonique, Tran fredonne la Neuvième de Beethoven d’un seul souffle. Debout, le corps tendu, la tête en arrière, tout son être se met à vibrer. Un son échappe, venu de nulle part. C’est l’Hymne à la joie! Les visiteurs n’en reviennent pas: «Ce type est une chorale à lui tout seul!» Deux harmoniques sur une base fondamentale, soit trois voix en une seule gorge. Cela valait bien une médaille.

Dans son petit bureau saturé d’appareils de mesure, Tran ne participe guère au branle-bas qui agite le musée de l’Homme depuis la décision présidentielle de transférer certains objets au Louvre. Juste le temps pour un état des lieux furieux sur le manque de moyens, le manque d’envie d’un musée sans subventions. Les huit mille instruments de la réserve d’ethnomusicologie, recouverts de plastique, le désolent. Il plaisante en imitant le timbre métallique du synthétiseur. C’est lui qui doublait Nono le petit robot dans le dessin animé japonais des années 80. «Je dois mon talent au travail et à mes ancêtres.» Avec un arrière-arrière-grand-père musicien de cour, un grand-père joueur de luth et un père vice-président du Conseil international de musique à l’Unesco, on a la musique dans la peau. Sa fille chante à deux voix depuis l’âge de 5 ans. Auteur de plusieurs disques à la vièle chinoise, à la cithare vietnamienne ou encore à la vina indienne, il compose également pour le cinéma.

Les enregistrements qu’il archive au musée de l’Homme servent de base à sa recherche: «Je préfère le travail de bureau aux grands espaces.» Quand l’émission Envoyé spécial lui propose une semaine de tournage en Mongolie, il refuse. L’aventure est ailleurs. A Paris, par exemple, lorsqu’il expose ses cordes vocales aux rayons X pendant 10 minutes. La science réclame du concret, et la radiographie permet de constater directement les effets de son travail. Le résultat est probant (le Chant des harmoniques, un film plusieurs fois primé), mais pas sans danger. «C’est l’équivalent de 6 000 radios des poumons. Je sacrifie ma vie à mes recherches, heureusement Dieu est là.» Quand Tran chante, il ferme les yeux. Et il chante partout: en voiture, sous la douche, au bureau. Ses collègues admirent ce regard intérieur, «cette force de concentration que n’ont pas les Occidentaux».

Quand on lui parle de sérénité, il sourit. Se rallume une beedie, bredouille deux trois trucs sur les arts martiaux et reparle musique. Avec les années, sa voix est devenue plus grave. Il a commencé baryton, désormais il se consacre à l’étude du chant des moines tibétains. Le «O» de la prière, la fameuse harmonique n$10 qui demande tellement de travail et n’a rien à voir avec le «snobisme» des club de zen pour stressés occidentaux. Il en fait la preuve. Sur le sonographe, Tran voit sa voix, elle oscille entre 35 (très grave) et 2 000 Hz (aigu). Le «O» moyen est de 185 Hz, on est loin de l’harmonie universelle.

Hors du CNRS, le chercheur devient médecin. De gentil docteur Jekyll, il se transforme en un Mister Hyde doux rêveur. Tran veut changer la vie par le chant. Une voix dans tous ses éclats, utilisée jusqu’à l’accouchement sans douleur. A l’écouter, les problèmes conjugaux sont solvables dans l’air. Il conseille le «faux baiser de Rodin» aux couples en péril: les amants enlacés se font face, bouche à bouche. Pendant que l’un chante, l’autre remue les lèvres et produit la mélodie. Il s’amuse: «30% des disputes peuvent être résolus par cette méthode.» Il songe même à repeupler l’Europe.

Mais derrière le côté savant fou se dissimule l’humoriste. Physique d’opérette, ventre rond et grande bouche, il peut jouer Pop Corn avec n’importe quel instrument traditionnel. «Je suis le virtuose de la guimbarde, lance-t-il, fier de son effet. Je fais de la musique comme d’autres de la cuisine, en mélangeant les ingrédients.» Un opéra bouffe revendiqué sérieux. Avec des élèves du bac option musique, il monte un orchestre de 100 cuillères et décroche le titre de professeur au Conservatoire. La cuillère à café comme la louche deviennent de véritables instruments rythmiques et mélodiques. D’ailleurs la mélodie est partout, y compris dans les langues. Il en parle une dizaine, reproduit leurs intonations, parfois sans les comprendre. Car depuis l’en- fance, Tran jalouse les imitateurs. Il les connaît tous, de Le Luron à Leeb, en passant par «ce Canadien formidable qui imite 120 personnes dans son spectacle.» Modeste, il déclare: «Je ne peux pas chanter comme France Gall, mais j’arrive à reproduire les accents de l’opéra de Pékin.» Dans le bruit et la fureur du monde, Tran Quang Hai reprend le chant des autres avec enthousiasme. Son bras bat la mesure, il entonne Marinella de Tino Rossi, suivi d’un jodel des montagnes suisses. Les Voix du monde, une anthologie des expressions vocales à laquelle il a collaboré, sortira fin septembre.

Un vaste chant des possibles reste encore à explorer. Dans son laboratoire, Tran se met à rêver: «Mon prochain but, jusqu’à ma mort, c’est de chanter à quatre voix.» Il a bon espoir. Le petit homme sait que, comme le cygne, on ne meurt pas en chantant.

http://www.liberation.fr/portrait/0101193573-tran-quang-hai-52-ans-ethnomusicologue-est-son-propre-cobaye-pour-ses-recherches-sur-la-voix-l-empire-des-sons

Ẩn Hoa – T.Tín : VUA MUỖNG VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI: KỶ LỤC GIA TRẦN QUANG HẢI, VIETNAM 2010


VUA MUỖNG VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI: KỶ LỤC GIA TRẦN QUANG HẢI

Thứ tư, 20/06/2012

Ẩn Hoa – T.Tín

http://vnmusic.com.vn/p1987-vua-muong-viet-nam-va-the-gioi-ky-luc-gia-tran-quang-hai.html

Dầu ở độ tuổi 68 nhưng trông kỷ lục gia Trần Quang Hải còn rất trẻ qua phong cách tiếp chuyện với chúng tôi tại một ngôi nhà trên đường Lý Chính Thắng, quận 3, TP. HCM, nơi ông trú ngụ trong chuyến về Việt Nam để dự hội nghị đờn ca tài tử và chương trình hội ngộ kỷ lục gia lần thứ 20 do Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam tổ chức tại khách sạn Rex…

Từ Pháp bay về Việt Nam, “vua muỗng” Trần Quang Hải xuất hiện lần đầu tại hội ngộ kỷ lục gia lần thứ 20 đã lập tức gây nên ngạc nhiên và thu hút cả khán phòng chú ý theo dõi màn biểu diễn muỗng có bài bản và độc chiêu của ông. Song có lẽ hôm đó ít người biết về sự nghiệp âm nhạc và các hoạt động nghệ thuật vang bóng của ông ở nước ngoài trong hơn 40 năm qua.

 

GS.TS Trần Quang Hải biểu diễn nghệ thuật gõ muỗng

Bắt đầu từ gốc tích và gia cảnh, theo chúng tôi tìm hiểu và được biết “vua muỗng” Trần Quang Hải là hậu duệ đời thứ năm của nhạc sĩ cung đình Huế: Trần Quang Thọ (1830-1890), hậu duệ đời thứ tư của danh cầm đàn tỳ bà: Trần Quang Diệm (1853-1925), cháu nội tác giả chế ra cách lên dây đàn Tố Lan cho đàn kìm là nhạc sĩ Trần Quang Triều (tức Ba Triều 1897-1931), là con trai của GS TS nhạc sĩ Trần Văn Khê và là chồng của nữ danh ca Bạch Yến. Ca sĩ Bạch Yến vốn là một trong vài nữ ca sĩ Việt Nam hát nhạc ngoại quốc đầu tiên và nổi tiếng qua nhạc phẩm Đêm đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương.

Về đường học vấn, “vua muỗng” là cựu học sinh Pétrus Ký – Sài Gòn (1954-1961), tốt nghiệp Trường quốc gia âm nhạc Sài Gòn, sang Pháp học đại học Sorbonne về văn học và dân tộc nhạc học, lấy chứng chỉ Anh văn ở đại học Cambridge (Anh 1964), Cao học dân tộc nhạc học trường Cao đẳng khoa học nhân văn (Paris 1968), nhận danh hiệu Giáo sư nhạc cổ truyền trong kỳ thi do Bộ văn hóa Pháp tổ chức (Paris 1969), tiến sĩ dân tộc nhạc học (Pháp 1973)… chừng đó cũng chứng minh những kiến thức vững chắc và uy tín, vị trí của ông trong lĩnh vực âm nhạc.

 

Về quá trình giảng dạy, hơn 40 năm qua ông là nhà dân tộc nhạc học, giáo sư đàn tranh và là giảng viên đại học tại nhiều trường đại học ở Pháp, Đức, Mỹ, Nam Phi, Úc, Philippines, Hàn Quốc, Nhật, Bỉ, Ý, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Hà Lan, Na Uy, Tây Ban Nha, Brasil…

Về sáng tác và biểu diễn, với tư cách là nhạc sĩ ông thực hiện 15 đĩa hát (30cm/33 vòng) cộng tác với nhiều hãng đĩa ở Pháp như Le Chant du Monde, Société Francaise de Productions Phonographiques, ở Mỹ như Music of the World, ở Ý như Albatros… Một đĩa compact Rêves et Réalité (Ước mơ và hiện thực), các video về nhạc cổ truyền Việt Nam, đàn nhạc trong 23 cuốn phim thương mại Pháp, tham dự trên 80 đại nhạc hội quốc tế, diễn hơn 1.000 buổi về nhạc dân ca Việt trong các trường học ở Pháp, Bỉ, Na Uy và Thụy Điển…

Về nghiên cứu và biên khảo, ông là tác giả cuốn Âm nhạc Việt Nam xuất bản tại Paris, tác giả trên 200 bài viết về nhạc Việt Nam và châu Á. Ông cũng có viết một số bài trong tự điển nhạc Encyclopédia Universalis phát hành ở Pháp những năm 1984 – 1991, đồng điều hành biên soạn tự điển New Grove’s Dictionary of Music and Musicians xuất bản lần thứ 6 tại Luân Đôn, nước Anh.

Ông cũng là người sáng lập nên Hội đàn môi thế giới với thành viên của trên 30 quốc gia trên thế giới và là hội viên của 14 hội văn hóa nghệ thuật khắp Âu Mỹ như Hội Society for Ethonomusicology (Hoa Kỳ), Société de Musicologie (Pháp), International Musicological Society (Thụy Sĩ), International Association for Sound Archives (Thụy Điển)…

Những soạn phẩm chọn lọc mang hồn Việt của ông có thể nhắc đến bài Nhớ miền thượng du (dùng cho đàn tranh), Tiếng hát sông Hương (đàn độc huyền), Ảo thanh (cho muỗng), Độc tấu đàn môi H’mông (cho đàn môi), Nhịp tấu sinh tiền (cho sinh tiền) và một số ca khúc như Mừng Phật đản, Tân hôn dạ khúc

Qua hơn 40 năm hoạt động nghệ thuật, đặc biệt là ở nước ngoài, ông đã nhận được 20 giải thưởng quốc tế. Trong đó có giải thưởng có Viện hàn lâm Charles Cros, Viện hàn lâm văn hóa châu Á, tổ chức quốc tế về âm nhạc tại Hoa Kỳ, Canada, Anh… đặc biệt là Huy chương Thủy Tinh (Médaille de Cristal) của Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia (Centre National de la Recherche Scientifique – Pháp) vào năm 1996, Huy chương cao nhất của Pháp Hiệp sĩ Bắc đẩu bội tinh (Chevalier de la Légion d’Honneur) năm 2002, Huy chương lao động, cấp bậc Đại Kim (Médaille du Travail, catégorie Grand Or) của Pháp vào năm 2009. Chặng đường hoạt động nghệ thuật của ông ở nước ngoài cũng được nhiều cuốn tự điển đăng tiểu sử và giới thiệu về ông.

 

GS.TS Trần Quang Hải (bìa phải) nhận bằng kỷ lục Người thể hiện tiết tấu âm thanh đa dạng nhất từ nghệ thuật gõ muỗng

Trong buổi tiếp xúc với chúng tôi nhân dịp đầu năm 2011, ông đã nhắc đến ước vọng của ông là trình diễn 5.000 buổi nhạc Việt, tham gia 100 đại nhạc hội quốc tế (đến nay ông đã dựng trên 80 đại nhạc hội và biểu diễn 1.000 buổi nhạc Việt khắp nơi trên thế giới). Trên thế giới hiện có nhiều nghệ sĩ “đánh muỗng” nhưng hầu như chỉ ở vai trò “phụ diễn” bên cạnh một dàn nhạc, hoặc cạnh một tiết mục nào đó, chứ không biểu diễn riêng thành bài bản như “vua muỗng” Trần Quang Hải. Điều đó đã được thể hiện ở sân khấu khách sạn Rex tại Hội ngộ kỷ lục gia lần thứ 20 nói trên. Với phong cách điêu luyện, tiến sĩ kỷ lục gia Trần Quang Hải đã ra mắt đại gia đình kỷ lục gia Việt Nam cũng như các khán giả yêu âm nhạc có mặt tại cuộc hội ngộ nghệ thuật đánh muỗng với 2 hoặc 4 và 5 ngón tay liên tục 15 phút trong tiếng vỗ tay từng chập… “Vua muỗng” (the King of spoons) cống hiến những bài tự biên và một chuỗi âm thanh khác lạ trong “thế giới muỗng” theo các nhịp điệu của jazz, pop, hiphop, cả những nét bay bướm của flamenco vốn có từ tâm hồn lãng đãng như mây trời của những nghệ sĩ di-gan ngày nọ…

 (Nguồn: kyluc.vn)

TRUNG TIN : VUA MUỖNG VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI: KỶ LỤC GIA TRẦN QUANG HẢI, VIETNAM


VUA MUỖNG VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI: KỶ LỤC GIA TRẦN QUANG HẢI

Thứ tư, 20/06/2012

Ẩn Hoa – T.Tín

Dầu ở độ tuổi 68 nhưng trông kỷ lục gia Trần Quang Hải còn rất trẻ qua phong cách tiếp chuyện với chúng tôi tại một ngôi nhà trên đường Lý Chính Thắng, quận 3, TP. HCM, nơi ông trú ngụ trong chuyến về Việt Nam để dự hội nghị đờn ca tài tử và chương trình hội ngộ kỷ lục gia lần thứ 20 do Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam tổ chức tại khách sạn Rex…

Từ Pháp bay về Việt Nam, “vua muỗng” Trần Quang Hải xuất hiện lần đầu tại hội ngộ kỷ lục gia lần thứ 20 đã lập tức gây nên ngạc nhiên và thu hút cả khán phòng chú ý theo dõi màn biểu diễn muỗng có bài bản và độc chiêu của ông. Song có lẽ hôm đó ít người biết về sự nghiệp âm nhạc và các hoạt động nghệ thuật vang bóng của ông ở nước ngoài trong hơn 40 năm qua.

 

GS.TS Trần Quang Hải biểu diễn nghệ thuật gõ muỗng

Bắt đầu từ gốc tích và gia cảnh, theo chúng tôi tìm hiểu và được biết “vua muỗng” Trần Quang Hải là hậu duệ đời thứ năm của nhạc sĩ cung đình Huế: Trần Quang Thọ (1830-1890), hậu duệ đời thứ tư của danh cầm đàn tỳ bà: Trần Quang Diệm (1853-1925), cháu nội tác giả chế ra cách lên dây đàn Tố Lan cho đàn kìm là nhạc sĩ Trần Quang Triều (tức Ba Triều 1897-1931), là con trai của GS TS nhạc sĩ Trần Văn Khê và là chồng của nữ danh ca Bạch Yến. Ca sĩ Bạch Yến vốn là một trong vài nữ ca sĩ Việt Nam hát nhạc ngoại quốc đầu tiên và nổi tiếng qua nhạc phẩm Đêm đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương.

Về đường học vấn, “vua muỗng” là cựu học sinh Pétrus Ký – Sài Gòn (1954-1961), tốt nghiệp Trường quốc gia âm nhạc Sài Gòn, sang Pháp học đại học Sorbonne về văn học và dân tộc nhạc học, lấy chứng chỉ Anh văn ở đại học Cambridge (Anh 1964), Cao học dân tộc nhạc học trường Cao đẳng khoa học nhân văn (Paris 1968), nhận danh hiệu Giáo sư nhạc cổ truyền trong kỳ thi do Bộ văn hóa Pháp tổ chức (Paris 1969), tiến sĩ dân tộc nhạc học (Pháp 1973)… chừng đó cũng chứng minh những kiến thức vững chắc và uy tín, vị trí của ông trong lĩnh vực âm nhạc.

 

Về quá trình giảng dạy, hơn 40 năm qua ông là nhà dân tộc nhạc học, giáo sư đàn tranh và là giảng viên đại học tại nhiều trường đại học ở Pháp, Đức, Mỹ, Nam Phi, Úc, Philippines, Hàn Quốc, Nhật, Bỉ, Ý, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Hà Lan, Na Uy, Tây Ban Nha, Brasil…

Về sáng tác và biểu diễn, với tư cách là nhạc sĩ ông thực hiện 15 đĩa hát (30cm/33 vòng) cộng tác với nhiều hãng đĩa ở Pháp như Le Chant du Monde, Société Francaise de Productions Phonographiques, ở Mỹ như Music of the World, ở Ý như Albatros… Một đĩa compact Rêves et Réalité (Ước mơ và hiện thực), các video về nhạc cổ truyền Việt Nam, đàn nhạc trong 23 cuốn phim thương mại Pháp, tham dự trên 80 đại nhạc hội quốc tế, diễn hơn 1.000 buổi về nhạc dân ca Việt trong các trường học ở Pháp, Bỉ, Na Uy và Thụy Điển…

Về nghiên cứu và biên khảo, ông là tác giả cuốn Âm nhạc Việt Nam xuất bản tại Paris, tác giả trên 200 bài viết về nhạc Việt Nam và châu Á. Ông cũng có viết một số bài trong tự điển nhạc Encyclopédia Universalis phát hành ở Pháp những năm 1984 – 1991, đồng điều hành biên soạn tự điển New Grove’s Dictionary of Music and Musicians xuất bản lần thứ 6 tại Luân Đôn, nước Anh.

Ông cũng là người sáng lập nên Hội đàn môi thế giới với thành viên của trên 30 quốc gia trên thế giới và là hội viên của 14 hội văn hóa nghệ thuật khắp Âu Mỹ như Hội Society for Ethonomusicology (Hoa Kỳ), Société de Musicologie (Pháp), International Musicological Society (Thụy Sĩ), International Association for Sound Archives (Thụy Điển)…

Những soạn phẩm chọn lọc mang hồn Việt của ông có thể nhắc đến bài Nhớ miền thượng du (dùng cho đàn tranh), Tiếng hát sông Hương (đàn độc huyền), Ảo thanh (cho muỗng), Độc tấu đàn môi H’mông (cho đàn môi), Nhịp tấu sinh tiền (cho sinh tiền) và một số ca khúc như Mừng Phật đản, Tân hôn dạ khúc

Qua hơn 40 năm hoạt động nghệ thuật, đặc biệt là ở nước ngoài, ông đã nhận được 20 giải thưởng quốc tế. Trong đó có giải thưởng có Viện hàn lâm Charles Cros, Viện hàn lâm văn hóa châu Á, tổ chức quốc tế về âm nhạc tại Hoa Kỳ, Canada, Anh… đặc biệt là Huy chương Thủy Tinh (Médaille de Cristal) của Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia (Centre National de la Recherche Scientifique – Pháp) vào năm 1996, Huy chương cao nhất của Pháp Hiệp sĩ Bắc đẩu bội tinh (Chevalier de la Légion d’Honneur) năm 2002, Huy chương lao động, cấp bậc Đại Kim (Médaille du Travail, catégorie Grand Or) của Pháp vào năm 2009. Chặng đường hoạt động nghệ thuật của ông ở nước ngoài cũng được nhiều cuốn tự điển đăng tiểu sử và giới thiệu về ông.

 

GS.TS Trần Quang Hải (bìa phải) nhận bằng kỷ lục Người thể hiện tiết tấu âm thanh đa dạng nhất từ nghệ thuật gõ muỗng

Trong buổi tiếp xúc với chúng tôi nhân dịp đầu năm 2011, ông đã nhắc đến ước vọng của ông là trình diễn 5.000 buổi nhạc Việt, tham gia 100 đại nhạc hội quốc tế (đến nay ông đã dựng trên 80 đại nhạc hội và biểu diễn 1.000 buổi nhạc Việt khắp nơi trên thế giới). Trên thế giới hiện có nhiều nghệ sĩ “đánh muỗng” nhưng hầu như chỉ ở vai trò “phụ diễn” bên cạnh một dàn nhạc, hoặc cạnh một tiết mục nào đó, chứ không biểu diễn riêng thành bài bản như “vua muỗng” Trần Quang Hải. Điều đó đã được thể hiện ở sân khấu khách sạn Rex tại Hội ngộ kỷ lục gia lần thứ 20 nói trên. Với phong cách điêu luyện, tiến sĩ kỷ lục gia Trần Quang Hải đã ra mắt đại gia đình kỷ lục gia Việt Nam cũng như các khán giả yêu âm nhạc có mặt tại cuộc hội ngộ nghệ thuật đánh muỗng với 2 hoặc 4 và 5 ngón tay liên tục 15 phút trong tiếng vỗ tay từng chập… “Vua muỗng” (the King of spoons) cống hiến những bài tự biên và một chuỗi âm thanh khác lạ trong “thế giới muỗng” theo các nhịp điệu của jazz, pop, hiphop, cả những nét bay bướm của flamenco vốn có từ tâm hồn lãng đãng như mây trời của những nghệ sĩ di-gan ngày nọ…

 (Nguồn: kyluc.vn)

http://vnmusic.com.vn/p1987-vua-muong-viet-nam-va-the-gioi-ky-luc-gia-tran-quang-hai.html

RADIO FRANCE CULTURE: Emission MOVIMENTO : TRAN QUANG HAI, ethnomusicologue et spécialiste du chant diphonique, 19.11.2011, FRANCE


Tran Quang Hai Syndiquer le contenu

 

Né le 13 mai 1944, à Linh Dông Xa (Gia Dinh), Sud Viet Nam , Trân Quang Hai est à la fois musicien accompli, éminent ethnomusicologue, pédagogue, conférencier, compositeur, coureur de la planète sonore, membre du Centre National de la Recherche Scientifique, et le plus grand spécialiste du chant diphonique dans le monde.Tel est le protéiforme de Trân Quang Hai. Il a choisi de suivre son père sur les traces de la reconnaissance scientifique. De la musique et de l’étude, de l’Orient et de l’Occident, il a créé un mélange à sa manière toute personnelle, emprunte d’humour et de conscience profonde de ses responsabilités.

Ancien élève du Conservatoire de Musique de Saigon (1955-1961), il est diplômé du Centre d’Etudes de Musique Orientale de Paris en 1970.

De famille de musiciens traditionnels depuis cinq générations, il joue d’une quinzaine d’instruments de musique : cithare à 16 cordes (dàn tranh), vièle à 2 cordes (dàn co), cliquettes à sapèques (sinh tiên), guimbardes (dàn môi), cuillers (muông) pour le Vietnam ; vièle à 2 cordes (nan hu) pour la Chine ; tambour à 1 peau (zarb) pour l’Iran ; luth à 4 cordes principales et 3 cordes rythmiques (vina), luth d’accompagnement à 4 cordes (tampura) pour l’Inde ; violon, guitare, mandoline, banjo, flûte à bec, différentes guimbardes d’Europe et d’Asie.

Ses études sont approfondies et variées. Il faisait ses études à différentes universités : Institut de Musicologie, British Institute, Institut d’Ethnologie, Ecole du Louvre, Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales, Laboratoire d’Acoustique Musicale.

Depuis 1968, il travaille comme chercheur du CNRS au Département d’ethnomusicologie du Musée de l’Homme. Entre 1968 et 1987, il travaillait au Département d’ethnomusicologie du Musée National des Arts et Traditions Populaires à Paris.

Pendant presque 45 ans de carrière de musicien professionnel (1962-2005), il a donné plus de 3.000 concerts et un millier de concerts scolaires dans le monde

Depuis 1971, il a fait 15 disques microsillons 33 tours et 8 CD sur la musique vietnamienne. Plusieurs de ses compositions ont été enregistrées et mentionnées dans le Who’s Who in Music (1998, 1999, 2000, 2001, 2002), dans le Who’s Who in the World (depuis 1981) et dans le Who’s Who en France (depuis 1997).

Trân Quang Hai est le premier musicien vietnamien à jouer dans plusieurs événements historiques : Bicentenaire d’Australie (1988), Bicentenaire de la Révolution Française (1989), 700 ans de Suisse (1991), 350 ans de Montréal, Canada (1992), 500 ans de la découverte d’Amérique par Christophe Colomb (1992), 600 ans de Seoul, Corée (1994), Jubilée du Roi de Thailande (1996).100 ans d’indépendance de la Norvège (2005)

Il est un des rares musiciens d’avoir participé à plusieurs Fêtes de la Musique (depuis la 1ère Fête de la Musique en 1982 , puis en 1984, 1985 à Paris , en 1991 à Saint Denis – Ile de la Réunion , en 2000 et 2001 à Paris, et la 21ème Fête de la Musique en 2002 à Beyrouth – Liban) Il est le seul musicien à interpréter plusieurs oeuvres musicales des compositeurs de musique contemporaine comme Nguyên Van Tuong, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard, et aussi de la musique de film écrite par Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, et Jean Claude Petit.

Ses recherches sur le chant diphonique depuis 1969 lui ont donné le titre du plus grand spécialiste de cette technique vocale si singulière avec plus de 8.000 stagiaires des 60 pays dans le monde, le Prix Spécial du chant diphonique Khoomei à Kyzyl (Tuva, 1995), la Médaille de Cristal du CNRS en 1996 et la Médaille du Chevalier de la Légion d’Honneur en 2002.

 

Arts & Spectacles

19.11.2011 – Movimento | 11-12
MOVIMENTO : Tran Quang Hai 58 minutes Écouter l'émissionAjouter à ma liste de lectureRecevoir l'émission sur mon mobile

  Tran Quang Hai, ethnomusicologue, spécialiste du chant diphonique.  Avec Valérie Philippin, chanteuse lyriqueActualité deTran Quang Hai : Il présentera son film LE CHANT DES HARMONIQUES, lundi 21 novembre de 10h à 13h au CNRS, Auditorium Marie Curie, 3 rue Michel Ange, 75016 Paris.  Projection dans le cadre du 30ème Festival International Jean Rouch, du 5 au 27 novembre 2011, Paris et …

Photographie de  Tran Quang Hai
Profession(s) Ethnomusicologue, spécialiste du chant diphonique
Le site de Tran Quang Hai

http://www.franceculture.fr/personne-tran-quang-hai

 
Movimento

Movimento

le samedi de 14h à 15h

Ecoutez l'émission 58 minutes

MOVIMENTO : Tran Quang Hai

19.11.2011 – 16:00 Ajouter à ma liste de lectureRecevoir l'émission sur mon mobile

 

Tran Quang Hai, ethnomusicologue, spécialiste du chant diphonique.

 

Tran Quang Hai ©DR

Actualité deTran Quang Hai :

Il présentera son film Le Chant des Harmoniques, lundi 21 novembre de 10h à 13h au CNRS, Auditorium Marie Curie, 3 rue Michel Ange, 75016 Paris.

LE CHANT DES HARMONIQUES de Tran Quang Hai ©DR CNRS Images

Projection dans le cadre du 30ème Festival International Jean Rouch, du 5 au 27 novembre 2011, Paris et Issy-les-Moulineaux (Hauts de Seine)

Avec également Valérie Philippin, chanteuse lyrique

Son actualité :

Samedi 3 décembre, 17h30 : Radio France, studio 105 Charles Trenet, émission « jazz sur le vif », en public. Jazz Cantata d’André Hodeir pour soprano et ensemble, avec le Caratini jazz ensemble

  • Jeudi 19 janvier 2012, 19h30 :
  • Gireghallen – Bergen – Norvège

    Extended Apocalypsis de Philippe Leroux, pour 4 chanteurs, ensemble, électronique live et vidéo. Ensemble Bit 20, direction Baldur Brönnimann.

Invité(s) :
Tran Quang Hai, ethnomusicologue, spécialiste du chant diphonique
Valérie Philippin, chanteuse lyrique

Thème(s) : Arts & Spectacles| Asie| Ethnologie| Musique| voix

Événement(s)

http://tranquanghai.

Emmanuel Deslouis : Entretien avec Tran Quang Hai, ethnomusicologue, FRANCE, 2008


Entretien avec Tran Quang Hai, ethnomusicologue

Touva : un chant au centre de l’Asie centrale

lundi 23 mai 2005 par Emmanuel Deslouis

Ethnomusicologue, multi-instrumentiste, Tran Quang Hai, nous fait découvrir un des plus étonnants types de chant du monde : le chant de gorges des Touvas.

JPEG - 67.9 ko
Tran Quang Hai devant un spectre de chant diphonique
© E. Deslouis

Eurasie : Qui sont les touvas ?

Tran Quang Hai : Ce sont des nomades d’origine turco-mongole qui vivent au centre de l’Asie centrale dans la république de Touva. Un minuscule territoire de 300 000 habitants (200 000 touvas et 100 000 Russes). Leur territoire est « emmuré » entre des montagnes : Sayan au nord et à l’est, l’Altaï au sud et à l’ouest.

Eurasie : Cela les a-t-il préservé des autres peuples ?

Tran Quang Hai : Pas vraiment ! Au IIe siècle av. J.C., les Huns ont foulé leur sol. Au début de l’ère chrétienne, les tribus touva subissaient l’influence politique des Janbiman, puis celle des Gogann. Du VI au VIIe siècle, leur territoire faisait partie d’un kaganat türke, puis ougrien les deux siècles suivants. Du IX au XIIe siècle, Touva fut dominé par un ancien état kirghize. Avant de tomber sous le joug de seigneurs mongols jusqu’au XVIe. Les deux siècles suivants, il fut rattaché aux états Attynkhan et Dzungar. Du XVIII jusqu’au début du XXe siècle, il passa sous la coupe de l’empire chinois des Mandchous…

Eurasie : Enfin !

Tran Quang Hai : Et ce n’est pas fini ! Touva a même été un état indépendant de 1921 à 1944, sous la protection de l’URSS, avant d’être absorbé dans l’Union jusqu’en 1991. Date à laquelle elle est devenue une république russe.

Eurasie : Quelle histoire !

Tran Quang Hai : Comme vous dîtes ! Ce fut un véritable carrefour de cultures, de religions et de peuples. Et pourtant, il en a émergé des éléments culturels uniques, comme le chant de gorge aussi appelé chant diphonique.

Eurasie : Quand a-t-on vu apparaître les premiers chanteurs de gorge à Touva ?

Tran Quang Hai : Les premiers chanteurs connus sont apparus au milieu du XIXe siècle. Mais le développement du chant diphonique ne date que des années 1930. En 1934, des chercheurs russes ont enregistré des disques 78 tours de ce type de chant, ce qui a permis à un musicologue Aksenov de l’étudier en profondeur et de publier en 1964, soit 30 ans plus tard, le premier article scientifique de qualité sur le chant diphonique.

Eurasie : Qu’appelez-vous le chant diphonique ?

Tran Quang Hai : C’est un chant qui se caractérise par l’émission de deux sons simultanément : l’un est appelé le son fondamental ou bourdon, l’autre est appelé le son harmonique. Le premier son est tenu à la même hauteur durant tout le chant, tandis que le second peut varier pour créer une mélodie. Du point de vue du son, on retrouve des similitudes avec une personne qui joue de la guimbarde : avec un son grave constant et une mélodie plus aigue.

GIF - 116.7 ko
Le spectre de la voix
Voici le spectre d’un chant diphonique. On distingue clairement le son fondamental et l’harmonique (les deux lignes bleues).

Eurasie : Ce chant crée t-il des harmoniques ?

Tran Quang Hai : Non. En fait, c’est le mariage de toutes les harmoniques qui produit le timbre de notre voix. Mais on n’entend qu’un seul son. Dans le cas du chant diphonique, c’est une technique qui permet de dissocier clairement deux sons. Le fameux fondamental et un groupe de sons harmoniques qu’on appelle le formant.

Eurasie : Est-ce compliqué de produire ce type de sons ?

Tran Quang Hai : Reproduire ces sons n’est pas vraiment difficile. Mais les maîtriser et en faire un chant de qualité nécessite des décennies de travail !

Eurasie : Pourriez-vous nous décrire ces techniques ?

Tran Quang Hai : J’ai découvert plusieurs méthodes. La première consiste à laisser la langue à plat et à ne bouger que la bouche et les lèvres. En prononçant comme collées entre elles les deux voyelles U et I, comme si l’on disait OUI. On parvient à entendre une faible mélodie harmonique.

Eurasie : la seconde méthode permet-elle de produire des harmoniques plus distinctes ?

Tran Quang Hai : Oui. Il faut tout d’abord chanter avec la voix de gorge la syllabe OU. Puis prononcer la lettre L. Dès que la pointe de la langue touche le palais, il faut la conserver dans cette position. Ensuite, il faut prononcer la voyelle U, avec la langue toujours collée au palais. Essayer de nasaliser les sons, c’est à dire les prononcer comme en parlant du nez. Et prononcer les sons U et I de manière liée puis alternée. Grâce à cette méthode, on obtient le bourdon et les harmoniques. En variant la position des lèvres ou de la langue, on arrive à moduler la mélodie.

JPEG - 66.2 ko
Tran Quang Hai lors d’un stage de chant diphonique
© tran quang hai

Eurasie : Comment avez-vous réussi à identifier le rôle de la bouche et de la langue dans ce chant ?

Tran Quang Hai : En fait, j’ai joué le cobaye. Je me suis soumis aux rayons X tout en chantant, ce qui a permis d’étudier scientifiquement cette technique. En me lançant en premier dans ce domaine expérimental, j’ai permis de « démocratiser » le chant de gorge.

Eurasie : Cela vous a-t-il rapproché des chanteurs de la Touva ?

Tran Quang Hai : Oui. En 1981-1982, nous avons organisé à Touva des rencontres de chanteurs de Sibérie. Et le premier festival de chant diphonique a été organisé à Touva en 1991. Et suprême honneur, en 1995, j’ai été invité comme président du jury du festival de chant de gorges. C’est une reconnaissance de mon travail de chanteur, de compositeur et de chercheur dans le domaine du chant diphonique.

Eurasie : Le chant diphonique fait-il des émules ?

Tran Quang Hai : Depuis que j’ai été président du jury, il y a eu un déferlement de groupes de Touva. Maintenant, même les femmes sont autorisées à chanter. Les problèmes économiques de ce pays n’y sont pas étrangers, si cela peut leur permettre de s’en sortir économiquement. Il y a 30 ans, il n’y avait qu’une dizaine de chanteurs diphoniques. Aujourd’hui, il y en a des milliers ! Cela explose car il y a de la demande en Occident, on peut remplir des salles avec des groupes Touva.

Eurasie : Ce chant est-il figé ou évolue t-il ?

Tran Quang Hai : Il y a de la compétition donc il évolue. Aujourd’hui les chanteurs ont développé de nouvelles techniques de chant, il y a une véritable émulation. D’ailleurs, de jeunes chanteurs utilisent le chant diphonique dans la musique pop, dans le hip hop, et même certains groupes de hard rock.

JPEG - 15.6 ko
Le DVD « Le chant diphonique »

Eurasie : Existe t-il un tel chant dans d’autres parties du monde ?

Tran Quang Hai : Oui. Même si on trouve le plus grand nombre de chanteurs diphoniques autour de la chaîne de l’Altaï dans les populations de Mongols, Touvas, Khakhash, Bachkirs. Ainsi, on en trouve au Rajastan en Inde, chez Xhosas en Afrique du Sud. Ces derniers ont copié le bruit que fait un coléoptère placé devant la bouche. Il y a aussi les moines tibétains des monastères Gyütö et Gyüme. Ils utilisaient une technique particulièrement violente pour se casser les cordes vocales et obtenir cette voix caverneuse qui les caractérise : ils mangeaient de la neige et se faisaient vomir, plusieurs heures par jour. À ce régime, les cordes vocales se gonflaient, s’enflammaient avant d’être cassées à vie.

Eurasie : Comment s’initier à ce domaine de chant ?

Tran Quang Hai : En suivant des cours ou des stages. Je peux aussi vous conseiller de vous inspirer de mon DVD « Le chant diphonique » édité par le CRDP de La Réunion, où je détaille les techniques de chants, et où l’on voit des chanteurs diphoniques du groupe Huun Huur Tu, faire une démonstration de ce chant.

Propos recueillis par Emmanuel Deslouis

Emmanuel Deslouis

http://www.eurasie.net/webzine/spip.php?article642

This blog is focused on Trân Quang Hai