TRẦN QUANG HẢI : Đầu Năm Nói Chuyện Thú Vật Trong Âm Nhạc


Trần Quang Hải : Đầu Năm Nói Chuyện Thú Vật Trong Âm Nhạc

 Ít người để ý đến chuyện nói về thú trong âm nhạc nói chung. Có thể có người biết chung chung về thú được dùng trong âm nhạc như da trống, hoặc hình dáng cây đàn theo một con thú nào đó. Nhân dịp Xuân về, để giúp các bạn thoải mái đôi phút, tôi xin mạn phép nói chuyện về chuyện thú vật trong âm nhạc thế giới.

Đầu Năm Nói  Chuyện  Thú Vật Trong  Âm Nhạc

Trần Quang Hải (Paris, Pháp) 

Thú vật đi đôi với nhạc khí

Image

Theo một huyền thoại rất cổ xưa, có một vị Thần Pan có phân nửa trên là người và phân nửa dưới là thú, yêu một nàng tiên nữ, nhưng nàng tiên này lại không yêu trả lại và tìm cách biến thành cây sậy. Thần Pan thất vọng quá khi thấy người mình yêu trở thành sậy mới chặt sậy để làm thành cây sáo nhiều ống (tiếng Pháp là Flu^te de Pan hay Syrinx / tiếng Anh là Panpipe) để giải sầu.

Một nhạc khí cổ xưa khác bằng đất gọi là còi (tiếng Pháp là Sifflet hay Flu^te globulaire hay Ocarina / tiếng Anh là Whistle hay Globular Flute hay Ocarina) tìm thấy được ở các thiểu tộc ở Trung Mỹ (dân tộc Astèques ở Mexico) và ở Nam Mỹ (dân tộc Inca) phần nhiều đều được làm bằng hình thù thú vật như chim, thằn lằn, kỳ đà, gà. Có loại còi làm có đổ nước vào để bắt chước tiếng chim khi đi săn. Ơ ÛCăm Phu Chia và Thái Lan trong dàn nhạc triều đình có một cây đàn dây tên là Takhê (cá sấu). Tại Trung Quốc, Việt Nam và Đại Hàn trong dàn nhạc dùng để đàn ở văn miếu đức Khổng Tử có cây đàn gõ loại tự âm vang (idiophones) hình con cọp trên lưng có khứa để quẹt trên lằn khứa kêu nghe rẹt rẹt (Yu của Trung Quốc / Ngữ của Việt Nam)

Một huyền thoại đi liền với sự hình thành của một nhạc khí đàn dây nổi tiếng của vùng Trung Á (Central Asia – Asie Centrale) là cây đàn Mã đầu đề cầm của Mông Cổ. Ngày xưa có một hoàng tử ở thiên cung hay lén xuống trần gian dạo chơi. Tối nào hoàng tử cỡi ngựa ốm nhom nhưng đầy sinh lực để có thể phóng đi rất mau. Một hôm hoàng tử này gặp một cô gái rất đẹp chăn ngựa ở một vùng đấ t hẻo lánh của xứ Mông cổ. Ông hoàng trẻ này si tình cô gái chăn ngựa và cô này cũng yêu chàng hoàng tử không biết từ đâu tới. Mỗi tối thì thấy hoàng tử tới nơi trên lưng ngựa gầy. Ngủ với cô tới sáng sớm thì đi đâu mất. Cô tìm cách rượt theo con ngựa ốm yếu đó, nhưng con ngựa thần đi chạy nhanh hơn gió, không có ngựa nào ở thế gian có thể theo kịp. Một hôm cô giả vờ ngủ. Chờ khi chàng hoàng tử ngủ, cô liền bò ra ngoài, đi lại gần con ngựa gầy yếu này. Cô quan sát con ngựa, tự hỏi không biết con ngựa này có phép màu gì mà chạy mau dữ vậy. Sau khi khám xét con ngựa xong, cô thấy ở mỗi chân ngựa có một đôi cánh nhỏ. Cô ta liền cắt đôi cánh đi rồi trở vô ngủ lại, với hy vọng là ông hoàng tử này sẽ không còn chạy mất và sẽ sống với cô. Sáng sớm, như mọi khi, ông hoàng leo lên lưng ngựa phóng đi trước mặt trời lên. Con ngựa bị mất đôi cánh, chạy một chút thì bắt đầu thở hồng hộc. Chạy độ nửa đường lên trời thì ngựa kiệt sức, không thể chạy được nữa, rớt xuống đất chết giữa bãi đất hoang, xa nơi cô gái chăn ngựa. Ông hoàng tử ôm con ngựa khóc vì không thể nào trở về trời được nữa, mà cũng không biết cô gái chăn ngựa ở phương trời nào. Chàng hoàng tử thiếp đi. Sau khi tỉnh dậy, con ngựa biến thành một cây đàn hai dây có đầu con ngựa. Thân đàn có hai dây làm bằng đuôi ngựa, cái vĩ cũng làm bằng đuôi ngựa. Chàng hoàng tử mới cầm cây đàn kéo lên những giai điệu buồn và hát những ca khúc diễn tả nỗi lòng của mình trên con đường lưu đày nơi trần gian và không bao giờ tìm gặp lại cô gái chăn ngựa. Từ đó, cây đàn đầu ngựa trở thành cây đàn chánh của xứ Mông cổ mang tên là MORIN KHUUR. Nhiều xứ vùng Tây Bá Lợi Á cũng có loại đàn đầu ngựa ở các xứ Tây Tạng, Tu-va, Nepal.

Trong các loại đàn dây, hoặc thùng đàn làm mu con thú armadillo gọi là charango ở Bolivia, Peru, miền Nam Mỹ, hoặc mặt âm bảng làm bằng da thú (da trăn da rắn trên đàn tam Việt Nam còn được gọi là tam huyền cầm, san hsien Trung Quốc, sangen Nhật Bổn ; đàn nhị hay đàn cò Việt Nam, hu qin hay erl hu, nan hu Trung Quốc, hay bằng da chó da mèo trên mặt âm bảng của đàn shamisen của Nhật Bổn, hay da trừu trên mặt âm bảng đàn târ của Ba Tư, hay da thú khác như đàn kora của một số quốc gia Phi Châu, đàn Sarod của Ấn Độ. Mặt trống đều làm bằng da thú (bò, trừu, dê, trăn, cá sấu, vv “). Ngay trong các nhạc khí dùng để thổi như kèn túi (tiếng Pháp là cornemuse / tiếng Anh là bagpipe ) hầu hết các túi đều làm bằng da trừu. Phần trên chỗ lên dây đàn tỳ bà Việt Nam có khắc đầu con dơi. Chỗ dùng để treo móc trống đồng có hình con cóc.

Thú hay có tác dụng săn thú, đuổi thú trong loại nhạc khí gõ Việt Nam:

Đàn đá là một nhạc khí cổ xưa của Việt Nam. Bộ đàn đá đầu tiên được khám phá tại làng Ndut Lieng Krak năm 1949 do giáo sư Georges Condominas tìm ra. Bộ đàn này hiện được tàng trữ tại Musée de l’Homme, Paris, Pháp. Nhiều bộ đàn đá khác được khai quật tại Việt Nam sau đó như bộ đàn đá tìm thấy tại huyện Cam Ranh, tỉnh Phú Khánh ngày 28 tháng 2, 1979.

Bộ đàn đá mà người Mnong Gar gọi là goong lư, ngày thường được cất trong những sọt đan lớn. Vào dịp lễ lớn, đàn mới được mang ra và bày trước nơi thờ trong nhà. Sau đó người ta lấy máu trâu bôi vào những tấm đá đó và họ gọi là cho chúng “ăn trâu” (manger buffle / eat buffalo). Mỗi miếng đá nặng khoảng 7 tới 8 kí lô.

Một giả thuyết cho rằng mỗi thanh đàn đá được buộc vào dây, căng trên mặt suối. Một hòn đá được buộc cạnh đó, theo một cách kết cấu đặc biệt để khi nước suối chảy, hòn đá sẽ va đập vào các thanh đá, tạo nên âm thanh. Vị trí đặt đàn đá là những khu vực gần rẫy và gần suối. Điều đó đã thể hiện nhiệm vụ của nó : đuổi muông thú vào phá rẫy va giải trí cho những người làm rẫy, canh rẫy. Đócũng là nhiệm vụ của một số nhạc khí Tây Nguyên khác như Trưng gió, Trưng nước.

Khánh đá là một nhạc khí được cấu tạo bằng đá. Vừa là nhạc khí mà còn mang tính chất mỹ nghệ với yếu tố tạo hình để làm tăng vẻ đẹp. Không phải tự nhiên mà khánh đá mang hình con dơi. Giữa đá và dơi có liên hệ mật thiết như việc dơi sống trong hang đá. Có người cho rằng dơi là động vật tượng trưng cho sự bình an. Có thể vì vậy mà khánh đá mang hình con dơi với ngụ ý chúc tụng.

Khánh đá sử dụng thành đàn thường gặp trong những ngày Tết cổ truyền của người Việt với hình thức treo trên cây nêu. Chuẩn bị cho ngày Tết, người Việt thường chú ý chọn một cây tre đẹp và trên ngọn có độ cong hình trăng lưỡi liềm để treo vòng khánh đá. Cây nêu đó được quét vôi trắng, rồi quấn chéo những mảnh giấy màu làm tăng thêm vẻ đẹp.

Vòng khánh thường có 5 chiếc hoặc 4 chiếc treo trên một vòng tròn nhỏ. Trên vòng tròn, các khánh đá được đặt gần nhau để khi gió thổi, chúng có thể va đập vào nhau, tạo ra âm thanh. Năm chiếc khánh đá có độ dày mỏng khác nhau, do đó tạo ra âm thanh cùng phát ra một lúc, hay những âm thanh xen kẻ. Có thể ví 5 chiếc khánh đá như là dàn nhạc ngũ âm trên cây nêu, làdàn nhạc ngày đầu xuân, hay dàn nhạc Tết của mỗi gia đình Việt Nam.

Chiêng là một nhạc khí phổ thông khắp Đông Nam Á. Người ta tìm thấy sinh hoạt chiêng cồng tại nhiều nước như Mã Lai Á, Nam Dương, Phi Luật Tân, Miến Điện, Thái Lan, Căm Pu Chia, Việt Nam, Lào. Tại Việt Nam, chiêng có rất nhiều, phong phú, đa dạng được kieểm chứng qua nhiều sắc tộc : Mường, Hrê, Ê đê, Mnông, Gia Rai, Triêng, Xê Đăng, Bahnar, Chăm, Mạ, Stiêng, Kơ Ho.

Thông thường, chiêng là một nhạc khí dùng trong ghi lễ trọng thể. Chiêng còn có một giá trị của vật chất khá cao. Người Mường cho con gái chiêng làm của hồi môn có giá trị khi về nhà chồng. Có những bộ chiêng quý của người E Âđê được đồng bào trao đổi với nhau trị giá bằng một con voi hay hàng chục con trâu.

Người Gia Rai sử dụng các dàn chiêng khác nhau trong những trường hợp khác nhau. Dàn chiêng Trum dùng trong lễ đâm trâu. Dàn M’nhum dùng trong các lễ Tết vui, có uống rượu. Dàn A rap dùng trong lễ bỏ nhà mồ.

Thanh la là một nhạc khí bằng đồng rất được người Việt ưa thích và được nghe cùng với phường bát âm trong dịp rước Thành Hoàng làng, hội hè, đình đám. Thanh la cũng thường phối hợp với trống giữ nhịp cho múa như múa trống bồng, múa sư tử, múa lân.

Chuông cũng như trống đồng, gắn bó với người dân Việt. Chuông được cấu tạo bằng đồng. Những hình vẽ nổi trên các chuông lớn thường có hai con rồng chầu mặt trăng, mặt trời. Chuông lớn chủ yếu để dùng trong các chùa chiền, để thỉnh kinh hàng ngày và các dịp cúng lễ hàng năm. Có một số thiểu tộc ở Việt Nam, chuông còn được nghe trong lúc vui chơi nhảy múa, đi trẩy hội mùa xuân.

Ching Kial là loại nhạc khí làm bằng tre nứa phổ biến trong âm nhạc của người Bah nar, Xê Đăng, Gia Rai. Ching Kial tạo ra âm thanh nhờ gió thổi (Kial theo tiếng Bah Nar là “gió”). Nguồn gốc của Ching Kial là một công cụ để xua đuổi thú rừng, chim chóc vào phá rẫy, nên môi trường sử dụng chánh là những nơi thoáng gió, trên rẫy, trên ngọn cây nêu trong những ngày lễ hội.

là loại nhạc khí gõ xuất hiện lâu đời. Được làm bằng tre, cây. Mõ có nhiều loại. Mõ bằng tre, thường có hình cong theo hình dạ dày một con vật. Mõ bằng cây, hình tròn hoặc trái đào lòng khoét trống và có khe cho tiếng thoát ra. Loại này thường có đế, dùng trong chùa.

Có loại mõ được đẽo hình con cá, dài chừng 70 phân, bề ngang khoảng 18 tới 20 phân gọi là mõ cá. Mõ được khoét một khe dọc theo bụng cá phía trong khoét rỗng. Mõ cá được đặt trong các điểm canh treo theo chiều thẳng để khi đánh lên làm phương tiện thông tin, loan báo cho dân chúng biết khi có giặc, cháy nhà, lụt, trộm cướp, vv

Trống gắn bó với người Việt từ bao nhiêu đời. Nó hiện diện trong mọi hoàn cảnh chính trị, văn hóa, xã hội. Mỗi khi dân làng có chuyện gì cần thì trống thúc lên từng hồi. Khi giặc đến, thì trống ngũ liên, trống hội đê được đánh lên liên tục. Người xưa khi ra trận đánh giặc đều nghe theo nhịp trống (trống tiến, trống lui)

Mỗi khi mùa xuân đến trống lại rộn ràng vui đón xuân. Trống hội, trống rước thần hoàng làng, trống múa sư tử, trống vật, trống tang, trống tế.

Trống dân gian phong phú khi diễn tấu, đa dạng trong thể loại. Trống của mỗi dân tộc được làm theo từng kiểu, từng loại khác nhau. Tùy theo dân tộc, có trống cái, trống đế, trống bồng, trống cơm, trống khẩu, trống nhạc, trống Ba ra nưng , Gi năng (Chăm), trống Sài Dăm (Khơ Me). Mặt trống thường làm bằng da trâu hay da bò.

Tên bản nhạc có liên hệ tới thú vật

Trên thế giới, từ tân nhạc tới dân ca, nơi nào cũng có bài hát mang tên thú vật. Tôi không thể kể tất cả những bài hát của từng quốc gia có liên hệ tới thú vật vì không đủ chỗ trong phạm vi một bài báo. Tôi chỉ lựa mô.t vài thí dụ điển hình và trong lĩnh vực quen thuộc với độc giả người Việt.

Tân nhạc Mỹ thời 50-60 có một số bài bản mang tên thú vật trong tựa bài như ” How Much Is That Doggy In The Window ” (Patty Page hát), ” The Mocking Bird Hill ” (Patty Page), ” Bird Dog ” (The ” verly Brothers), ” Butterfly ” (Tony Brent), ” Hound Dog ” (Elvis Presley), ” When the Swallows Come Back to Capistrano ” (Pat Boone), ” What’s New Pussy Cat ? ” (Tom Jones). Dân ca Pháp cũng có một vài bài với tên thú vật như ” Le Corbeau et le Renard ” (Con Quạ Và con Chồn), ” Alouette ” (chim Alouette), ” Trois Petits Canards ” (Ba chú vịt con). Khoảng đầu thập niên 80 ở Pháp, có một loại nhảy đầm rất thịnh hành gọi là ” danse du Canard ” (Nhảy Vịt), một loại nhảy tân thời hai chân khép lại, hai cánh tay kẹp sát nách rồi tách rời ra nhiều lần theo nhịp nhạc, đầu thì lắc lư như bị mắc kinh phong. Loại nhảy này chỉ thịnh hành trong một mùa rồi chẳng ai múa nhảy gì nữa. Tân nhạc Việt Nam cũng có một số bản mang tên chim thú. Chẳng hạn như ” Chim Chích chòe ” (nhạc và lời : Đức Quỳnh). Tôi có sưu tầm bài ” chim chích chòe ” được thu vào dĩa 78 vòng vào đầu thập niên 50 và do quái kiệt Trần Văn Trạch hát theo điệu Swing rất là “giựt gân”.

Sau 1975, tại Việt Nam cũng có một số bài mang tên chim như ” Chim Chơ Rao ” (1985), sáng tác của nhạc sĩ Đỗ Lộc cho độc tấu đàn Trưng cải tiến. Gần đây hơn tại Việt Nam có một vài bài hát khá nổi tiếng như ” Tiếng Hát Chim Đa Đa 1 ” và ” Tiếng Hát Chim Đa Đa 2 ” do ca sĩ Quang Linh hát, ” Mùa Chim én bay ” (Hoàng Hiệp), ” Tùy Hứng Ngựa Ô ” (Trần Tiến), ” Tạm biệt chim én ” (Trần Tiến), hay những bài ca thiếu nhi như ” Chú Voi con ở bản Đôn ” (Phạm Tuyên), ” Cánh én tuổi thơ ” (Phạm Tuyên ), ” Tiếng ve gọi hè ” (Trịnh Công Sơn), vv … Ở hải ngoại, nhạc sĩ Phạm Duy có sáng tác tổ khúc “Bầy chim bỏ xứ”

Dân ca Việt Nam cũng có một số bài bản mang tên thú vật. Các bài Lý như Lý ngựa ô, Lý quạ Kêu, Lý con mèo, Lý con nhái, Lý con cua, Lý con sáo, Lý con quạ, Lý chim sắc, Lý con cá trê, Lý con thằn lằn, Lý gà mái tơ, Lý rồng nằm, Lý con lươn, Lý con trâu, Lý con nhạn, đến các điệu vè miền Nam như Vè con cua, Vè con trâu, Vè con cá, Vè các loài rắn, Vè thịt chó, vv

Trong âm nhạc Việt Nam nói riêng, chúng ta cũng khám phá một số bài bản có mang tên các con thú. Thời nhà Nguyễn (1802-1945), một số vũ điệu triều đình có tên là Mã Vũ, Tứ Linh Vũ (Long, Lân, Quy, Phụng), Phụng Vũ. Trong số 10 bài Ngự hay còn gọi là 10 bài Tàu thuộc bài bản của dàn Tiểu Nhạc Huế có bài Long Hổ, Tẩu Mã. Ở miền Nam, danh mục bài bản của Đàn Tài Tử cũng có một vài bản mang tên thú như Long Hổ Hội, Tẩu Mã (thoát thai từ các bài của dàn Tiểu Nhạc Huế). Trong cải lương miền Nam, ngoài hai bản Long Hổ Hội và Tẩu Mã từ Đàn Tài Tử ra, còn có thêm một số bài khác như trong loại dây Bắc có Lý Ngựa Ô Bắc (tiết tấu mau và nhịp một), trong loại dây Nam có Lý Ngựa Ô Nam (tiết tấ u chậm hơn và nhịp tư lơi), Lý Con Sáo (còn gọi là Lý Tam thất thường dùng trong cải lương) trong loại dây Oán (đặc biệt miền Nam, dùng dây hò Tư tục gọi là dây Chinh và dây Tố Lan) có Phụng Cầu Hoàng (là bản của Tư Mã Tương Như đàn để tỏ tình cùng nàng Trác Văn Quân), Phụng Hoàng (không bi đát bằng các bài oán khác như Văn Thiên Tường, Tứ Đại ), trong loại dây Nam do dây Bắc biến thể như Chuồn Chuồn (trươc dâ y Bắc sau đổi thành dây Nam, hát trước khi vô 6 câu Vọng cổ, dùng để tả cảnh gặp hoạn nạn).

Trong âm nhạc nói chung, chúng ta có thể tìm thấy những con thú được đềcập đến hoặc trong cốt chuyện như truyện Tây Du Ký của Trung quốc với Tề Thiên Đại Thánh, Trư Bát Giái đã được đưa vào Kinh Kịch (Opéra de Pékin). Năm 1979, một đoàn hát của Tàu đi sang Nhật Bổn lưu diễn và vở tuồng Sun Wu Kong (Tôn Ngộ Không) có 12 màn trích trong ” Tây du Ký ” với tựa tuồng là ” The Monkey King Creates Havoc in Heaven ” (Tề Thiên Đại Thánh đại náo thiên cung). Vở tuồng này cho thấy Tôn hành giả võ thuật siêu thần, múa cây thước tam bảng thần sầu quỷ khóc và mặt mũi được hóa trang tuyệt hảo. Ramayana được phổ biến Đông Nam Á có Hanuman là hầu nhân, một trong những nhân vật chánh. Ramayana là một thiên anh hùng sử của xứ Ấn độ có trước một thiên anh hùng sử khác là Mahabharata. Chuyện này tả việc hoàng tử Rama (hiện thân của thần Vishnu) bị oan khúc, phải bị đày vào trong rừng với vợ là Sita và người em làLaksamana. Sau đó vợ của Rama bị những người khổng lồ Raksasa bắt đi vànhờ hầu nhân Hanuman và đoàn binh khỉ cứu thoát. Trong một vài bản dịch có thêm đoạn hoàng tử Rama tái chiếm lại đất nước và công chúa Sita bị giết chết. Cốt chuyện chỉ có thế ma khắp các xứ Đông Nam Á từ Ấn độ

Các ca sĩ mang tên chim ở Việt Nam

Xứ Việt Nam có rất nhiều ca sĩ nổi tiếng mang tên chim. Trong thế giới tân nhạc Việt Nam có nhiều con chim được nhiều người biết tới như Bạch Yến, Hoàng Oanh, Họa Mi, Sơn Ca, ban hợp ca Ba Con Mèo. Sau 1975 ở Việt Nam có một vài ca sĩ cũng mang tên chim như Bảo Yến (có giọng hát trầm, chuyên hát các bài âm hưởng miền Trung, vợ của nhạc sĩ Quốc Dũng chuyên soạn hòa âm cho nhiều CD sản xuất ở Việt Nam), tam ca Ba con Mèo (khác với ban Ba Con Mèo trước 75). Về phía nhạc sĩ có mang tên thú vật có thể kể nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Hùng Lân, Nhật Bằng, Lê Hoàng Long. Hai nữ nhạc sĩ đàn tranh là Nguyễn Thị Kim Oanh (ở tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ), và Phương Oanh (ở Pháp) với ban Phượng Ca. Về phía cổ nhạc, một số nghệ sĩ cũng có tên dính với thú vật như Thanh Nga, Minh Phụng, Hoàng Long, và sau 1975 có Kim Tử Long, Kim Tiểu Long, Phượng Hằng.

Đây chỉ là một bài sơ khảo về chuyện chim thú trong âm nhạc. Hy vọng sẽ mang lại cho các bạn một ít khám phá về một khía cạnh nhỏ trong lĩnh vực âm nhạc trong những ngày đầu Xuân.

Trần Quang Hải

Trần Quang Hải : Những nhà sáng tác nhạc phái nữ của Việt nam


Trần Quang Hải : Những nhà sáng tác nhạc phái nữ của Việt nam

Hỏi : Ở Việt Nam tôi không thấy có người sáng tác nhạc thuộc phái nữ, nhứt là ở miền Nam. Tôi không biết ở miền Bắc có nữ nhạc sĩ sáng tác hay không ? Xin nhờ một người nào của hội cho tôi một câu trả lời về phái nữ có người nào sáng tác nhạc hay không ? và sáng tác loạn nhạc nào ?

Đáp : Trong xà hội Việt Nam cổ truyền, phái nữ không có mặt trong việc sử dụng nhạc khí trong dàn nhạc . Chỉ có người hát là có thể là phái nữ . Về mặt sáng tác nhạc thì lại càng hiếm hoi . Chỉ có trong lĩnh vực văn chương thi phú thì chúng ta có thể tìm thấy nhà văn nữ , nhà thơ nữ .

Những nhà sáng tác nhạc phái nữ đầu tiên của Việt Nam

Theo chỗ tôi biết , người sáng tác nhạc đầu tiên của Việt Nam trong thời Pháp thuộc là nữ nhạc sĩ piano tên là Thái Thị Lan
(lấy chồng đổi tên trình diễn và sáng tác là Louise Nguyễn Văn Tỵ). Bà là chị ruột của bà Thái Thị Liên, mẹ của nhạc sĩ dương cầm Đặng Thái Sơn . Lúc nhỏ bà Louise Nguyễn văn Tỵ được gởi sang Pháp học piano, tốt nghiệp nhạc viện cao đẳng Paris (CNSM – Conservatoire National Supérieur de Musique de Paris) . Trong thời gian còn ở Pháp, bà đã viết một số opus cho piano , và có sáng tác một số bài cho piano theo nhạc cổ điển Tây phương với tựa bài bằng tiếng Việt như « Tết Nguyên Đàn » (cho piano và orchestre), « Bình bán », « Ngựa Đen ». Tôi có dịp gặp bà ở Saigon vào năm 1955 lúc bà mới ở Pháp về để trình diễn piano tại Saigon, và chu du các quốc gia Phi luật tân , Nhựt Bổn và Nam Hàn chung với nhạc trưởng Nguyễn Phụng . Khi tôi sang Pháp , tôi lại có mấy lần tới thăm Bà tại nhà ở Paris nhưng không có xin được bản thảo mấy bài nhạc bà đã sáng tác .Tôi không biết là bà vẫn còn sống hay đã qua đời vì nếu bà còn sống thì ít nhứt là bà cũng gần 90 tuổi .

Ngoài ra cho tới khi xứ Việt Nam bị chia đôi sau hiệp định Genève tháng 7, 1954, tôi không thấy có một người Việt phái nữ nào viết nhạc cả, từ cổ điển tây phương , tân nhạc tới dân ca cổ nhạc .

Nữ nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan, cũng là nhà soạn nhạc và là nhà giáo được chức « nhà giáo ưu tú » ở Việt Nam, sinh ngày 26 tháng 6, 1942 tại Nam Định .

Image

Cha là người rất say mê cầm chầu để dệm cho ca trù . Mẹ là hoa khôi của làng Lộng Khê tỉnh Nam Định . Năm 1953-54, dời nhà vào Saigon, khám phá đàn tranh qua một người bạn tên Khánh Linh (học đàn tranh ở trường quốc gia âm nhạc Saigon trước chị Thúy Hoan).. Chị Thúy Hoan bắt đầu học đàn tranh tại trường quốc gia âm nhạc từ năm 1958, và đàn tỳ bà . Chị học đàn tranh miền Trung với GS Nguyễn Hữu Ba, nhạc miền Bắc với Trần Viết Vấn và nhạc miền Nam với GS Nguyễn Vĩnh Bảo .
Năm 1962, chị đổ thủ khoa môn đàn tranh và năm 1963 tốt nghiệp môn âm nhạc phổ thông và được nhận vào dạy ở trường quốc gia âm nhạc Saigon cho tới năm 1975 . Chị đã có liên lạc với GS Trần Văn Khê từ năm 1962 tới 1974 qua thơ từ và học hỏi rất nhiều về phương diện nghiên cứu nhạc truyền thống . Sau 30 tháng 4, 1975, chị Thúy Hoan ở lại quê nhà và tiếp tục dạy nhạc dân tộc cho ngày hưu trí vào năm 1997 .
Trước 1975, Chị Thúy Hoan đi dạy nhạc ở các trường trung học tại Saigon, Dalat, Long Xuyên . Chị còn là chim đầu đàn của nhóm dân ca quốc nhạc Hoa Sim chung với Phương Oanh, Quỳnh Hạnh và Ngọc Dung ( cả ba đều giỏi về đàn tranh) . Năm 1968, chị được cử ra dạy ở trường nhạc Huế . Chị đã khuyến khích giới trẻ nghe nhạc cổ mà cũng cố gắng trình bày những tác phẩm mới để cho phù hợp với thị hiếu và đòi hỏi của giới trẻ .
Chị đã viết nhiều sách cho đàn tranh : Phương pháp đàn tranh (tập I, II, III), Tiểu phẩm đàn tranh, Ca khúc soạn cho đàn tranh (tập I, II, III, IV), Dân ca soạn cho đàn tranh (Tập I, II, III) .

Ngoài ra chị có sáng tác một nhạc phẩm cho đàn tranh độc tấu :Tình ca quê hương, Mùa thu quê hương, biến tấu Qua cầu gió bay, biến tấu Lý chim quyên, Mơ về Bến Ngự… đặc biệt Tình ca xứ Huế là một bản đàn được phổ biến rộng rãi trong giới biểu diễn đàn tranh. Với công lao đã đào đạo nhiều thế hệ học sinh đàn tranh xuất sắc và có nhiều đóng góp xuất sắc cho phong trào văn nghệ quần chúng, cô đã được tặng nhiều danh hiệu, huy chương, nhiều bằng khen của thành phố và trung ương như: danh hiệu Nhà giáo ưu tú, huy chương Vì sự nghiệp giáo dục”, bằng khen Đã có công đào tạo Tài Năng Trẻ đoạt giải xuất sắc tại các cuộc thi chuyên nghiệp toàn quốc, khu vực trong cả nước và quốc tế. Trong suốt 42 năm làm nhà giáo (từ 1962 đến nay), chị đã đào tạo rất nhiều thế hệ trẻ đàn tranh. Học trò của chị có nhiều người đoạt giải thưởng cao trong nước và đã biểu diễn rất nhiều ở trong nước cũng như trong các liên hoan âm nhạc dân gian quốc tế, tiêu biểu như Diệu Quang, Lê Thị Kim, Hải Phượng, Uyên Trâm … Song đáng nói hơn là có nhiều học trò sau này đã mở những trung tâm, hoặc tham gia giảng dạy đàn tranh trong những lớp nhạc ở nước ngoài như: Lê Thị Kim, Tuyết Nga (Úc), Thiên Nga (Mỹ), Lương Thị Minh Châu (Đan Mạch), … Thế hệ học sinh hiện nay nhiều em có triển vọng như: Vũ Chinh, Vũ Chính, Vân Anh, Kim Tiền, Thúy Hà, Châu Thúy, Ngọc Dao …

Quách Nam Dung

Tên thật là Quách Cẩm Hồng, Mở mắt chào đời tại tỉnh Vĩnh Long, miền Nam Việt Nam, nhưng sống tại Cần Thơ cho tới năm 8 tuổi rồi định cư tại tỉnh Vũng Tàu . Cô rời Việt Nam năm 1983 và định cư tại tỉnh Melbourne, tiểu bang Victoria, xứ Úc châu.. Lúc còn nhỏ, cô đã thích nghe nhạc . Bắt đầu học nhạc lúc vào lớp 6 trường trung học Vũng Tàu với thầy Huỳnh Thiện Phước. Biết đàn mandoline và thích loại nhạc của Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Lê Uyên Phương. Khi sang tới Úc vào năm 1983, cô thọ giáo âm nhạc với nhạc sĩ Văn Giảng tức Thông Đạt (tác giả bản «Ai Về Sông Tương »).

Quách Nam Dung chỉ bắt đầu viết nhạc vào năm 2000, và phải đợi 2 năm sau mới phát hành CD đầu tiên Bến Mơ đã được cộng đòng Người Việt Tự Do Victoria tổ chức vào ngáy 24 tháng 11, 2002 tại Viện đại học Melbourne và lần thứ nhì tại Sydney vào đầu năm 2003.
CD Bến Mơ gồm có 10 ca khúc : 9 ca khúc về tình yêu và một ca khúc về Quê hương . Bài «Thắp nến cho quê hương » là bài đầu tiên về quê hương do Nam Dung sáng tác . Ngoài ra còn có những bản khác như «Ta cùng đi », « Quê hương chờ em »
Tổnc cộng Quách Nam Dung đã viết trên 30 bản nhạc lời Việt và có một số bản viết nhạc và lời Anh như «Why Don’t You Call Me Tonight »

TRANG THANH TRÚC

Họ và tên thật: Trang Thanh Trúc

Image
Ngày sinh và nơi sinh: ngày 5 tháng 3, năm Giáp Thìn, tuổi Song Ngư, tại Nam Vang (Cao Miên)
Nghề nghiệp hiện tại : Kế toán cho groupe Accor-Hotels (Sofitel-Mercure-Novotel-Ibis)
• Quá trình âm nhạc
1973 : bắt đầu học nhạc
1973-75 : học dương cầm với cô Huệ ơ? Couvent des Oiseaux, Dalat
1975-78 : học dương cầm với Cha Quang và cô Lê Minh Lý ở Saigon
1978 : học đệm đàn cho người hát hai tháng tại một lớp nhạc đường Cao Thắng, Saigon.
* tự học các loại đàn : tây ban cầm, măng cầm (mandoline), sáo
* chịu ảnh hưởng nhạc của các nhạc sĩ : Paul Mauriat (Pháp), Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên , Lê Uyên Phương …

• Sáng tác:
1979 : nhạc phẩm đầu tiên “Tháng 9, mùa thu và em”, chỉ có nhạc thôi,viết trên đàn Tây ban cầm
1989 : nhạc phẩm “Thạch Thảo” (thơ Y Chi, 1985)
nhạc phẩm “Túy Cầm” (lời Bảo Trâm, 1989)
1991 : viết lời Việt cho 4 bản nhạc ngoại quốc (trong album”Giấc Mơ Ngày Mai” Don Hồ thực hiện, Thúy Nga phát hành)
1993 : nhạc phẩm “Gọi Người Xa Vời (Don Hồ hát trong Paris by Night 37, 1996)

• Những sáng tác qua CD
1997 : “Gọi Người Xa Vời” (CD “Vực Sâu Hạnh Phúc” với Don Hồ, Thúy Nga phát hành )
1997 : “Trên Những Phím Mây ” (CD “Mây Khúc” với Bảo Trâm, Paris)
1998 : “Dấu Xưa” (CD “Một Đời Yêu Em” với Trung Dũng, Hoa Kỳ)
1999 : “Trời Tháng Giêng Mưa Bay”
“Giọt Thời Gian Say”
” Em Về Đan Tiếc Nuối” (thơ Hạ Huyền)
“Mưa Áo Trắng”
” Khuyên Em ” (thơ Việt Dương Nhân )
” Mấy Nhánh Ngậm Ngùi” (thơ Y Chi)
6 bài này được trình bày trong CD “Hẹn Anh 15 Năm” do Bảo Trâm thực hiện và sản xuất với các tiếng hát Bảo Trâm, Bá Lộc, Don Hồ , Long Hồ và Nguyễn Dức .
Giải nhất sáng tác năm 2000 do hội y sĩ Việt Nam tại Pháp nhạc phẩm “Tháng 9 và một Người ” doạt giải nhất cuộc thi được tổ chức tại Paris vào tháng 3, 2000 .
Từ năm 2002, Trang Thanh Trúc đặc biệt viết nhạc trên thơ của Phạm Ngọc và đã xuất bản một CD mang tựa “Những ngày tháng không tên” (2003) với 10 ca khúc , và sẽ phát hành vào mùa xuân 2005 một CD khác “Từ một phía không em”/ Tình ca Trang Thanh Trúc và Phạm Ngọc
Trang Thanh Trúc là nữ nhạc sĩ sáng tác nhiều nhất ở hải ngoại.

Muốn biết thêm về Trang Thanh Trúc , có thể vào trang nhà : http://saigonline.com/trangthanhtruc

Đây là phần trả lời đầu, sẽ còn phần tiếp theo trong một vài ngày nữa vì thì giờ quá bận rộn và lại không muốn bà phải chờ đợi .

Trần Quang Hải

Tôi xin tiếp tục giới thiệu một gương mặt nữ nhạc sĩ sáng tác rất trẻ: đó là Tú Minh hiện sống với nhạc sĩ Trần Quảng Nam ở San Jose, California, Hoa Kỳ

Tú Minh

Tên thật là Phạm Hoàng Tú Minh. Sinh ngày 29 tháng 7, năm 1972 tại Saigon , trong một gia đình 6 anh chị em , cha mẹ , dì cậu đều yêu thích âm nhạc
* .Khi 8 tuổi,Tú Minh bắt đầu học dương cầm về nhạc cổ điển với cô Hồ Đắc Thủy Hoằng và cô Hồng .Hơn hai năm học về tân nhạc với nhạc sĩ Văn Thanh ở Phú Nhuận, thầy Huyến ở Tân Bình và kế đó là nhạc sĩ Trần Trịnh , tác giả bài Lệ Đá.
* Năm 10 tuổi, học lóm Tây ban cầm qua một người chú
* Tháng 9 , 1990 sau khi học xong lớp 12 trường Nguyễn Thái Bình ở Saigon, Tú Minh rời Việt Nam vượt biên tới trại Baatan , Phi Luật Tân .
* Tháng 4, 1991, cô tới định cư đầu tiên tại Dallas (Texas) , rồi vài tháng sau tại San Jose cho tới ngày nay . Học ở trường trung học Yerba Buena, tốt nghiệp tháng 6 , 1992.
Học ngành thương mại ở Misson College, và đại học San Jose về ngành kế toán .
* Tháng 4, 1994 lập gia đình .
* 1996 : bé Yvonne chào đời
* 1998 : ly dị sau 4 năm chung sống . Tú Minh bắt đầu tham gia ca đoàn Mẫu Tâm Saint Patrick, dạy học và dạy hát tại trường Việt ngữ Văn Lang . Đó cũng là thời gian Tú Minh bắt đầu sáng tác nhạc trở lại
* Hiện tại sống với nhạc sĩ Trần Quãng Nam tại San Jose và có thêm một cháu gái nữa tên là Phím Ngà (sinh năm 2002)

Những sáng tác

Ca khúc đầu tiên « Một Chiều Thu »Tú Minh viết khi đưọc 17 tuổi lúc con tim bắt đầu biết rung động. Mấy tháng sau, Tú Minh đã viết 7 bài hát cả nhạc lẫn lời : « Người Yêu Anh Ơi », « Mộng Chiều Thu », « Đêm Mưa », « Tuổi Xuân Thì », « Chỉ Là Giấc Mơ Qua », « Tiễn Anh », « Xa Cách »

Năm 1990 : sáng tác nhạc phẩm « Ngăn Cách » lúc ở trại Baatan, Phi luật tân .
Năm 1998 : nhạc phẩm « Hãy Cứ Là Tình Nhân » được ra đời . 70% người nghe ủng hộ và 30% phản đối .
15 tháng 10, 1999, tại rạp Le Petit Trianon, San Jose, California, CD « Hãy Cứ Là Tình Nhân » được trình làng với hơn 400 người tới ủng hộ. 10 ca khúc được các ca sĩ nổi tiếng trình bày do Lê Huy làm hòa âm :
Ý Lan hát « Hãy Cứ là Tình Nhân »
Tuấn Ngọc hát « Xa Cách »
Thái Hiền hát « Bóng Màu Thời Gian », « Hương Tình »
Hồng Nhung hát « Tuổi Xuân Thì » , « Mộng Chiều Thu »
Tam Ca Áo Trắng hát « Ly Rượu Ân Tình »
Cam Thơ hát « Người Yêu Anh Ơi »
Tú Minh hát « Đêm Mưa », « Ai Bảo Em Dại Khờ »

Cô đã phổ thơ « Ai Bảo Em Dại Khờ » của Hà Bỉnh Trung , thơ « Bóng Mây Thời Gian » của Thương Duy
Cuối năm 2000, CD thứ nhì « Ghen On Line » của Tú Minh mang một nội dung mới lạ về tình yêu trong kỷ nguyên điện toán .

Tài liệu tham khảo :
Trường Kỳ , 2001 : « Tú Minh : từ « Hãy cứ là tình nhân » đến « Ghen online », Tuyển Tập Nghệ Sĩ 5 : trang 250-253, Montreal, Canada .
Thơ Thơ , 2001 : « Tú Minh : Hãy Cứ là tình nhân” , nguyêt san Hồn Quê, http://honque.net

Trần Quang Hải 

Tôi xin giới thiệu một nữ nhạc sĩ viết nhạc ở hải ngoại để tiếp nối danh sách các nhạc sĩ phái nữ .

HOANG THI BÍCH NGOC

Hoàng Thị Bích Ngọc, con gái của cố đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc (1924-1977), là một nữ nhạc sĩ sáng tác xa lạ đối với cộng đồng Việt Nam hải ngoại .
Nhạc phẩm đầu tay của cô mang tên là « Con Dế Sầu » đưọc sáng tác ở Việt Nam lúc cô mới có 16 tuổi . Gọi là sáng tác nhưng cô chưa biết ghi ra nốt nhạc phải nhờ một người bạn chép ra thành bài trên giấy .
Nhạc của cô « không giống ai » vì cô viết nhạc theo cảm hứng của mình chứ không theo quy luật âm nhạc và cấu trúc cùng văn phạm âm nhạc tương tự như làm thơ tự do trong thi ca . Cô chưa bao giờ học nhạc, chỉ thấy ngưòi anh đờn Tây ban cầm rồi cô bắt chước học lóm theo . Lúc còn ở Saigon, trước khi sang Mỹ vào năm 1987, cô có gia nhập nhóm sinh hoạc âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu, và cũng từ lúc đó cô có ý viết nhạc .

Nhạc của Hoàng Thị Bích Ngọc khó xếp vào loại nhạc nào : lãng mạn ? nhạc đạo ? nhạc đời ? nhạc pop ? nhạc nào cũng không phải .
Ca sĩ Tuấn Ngọc đã nói rằng nhạc của Hoàng Thị Bích Ngọc rất khó kiếm người nghe . Một nhạc phẩm được chào đòi vào năm 1996 mang tên là « Hư Không Mầu Nhiệm » là một trong những bài ưng ý nhứt, diễn tả một tình yêu tuyệt đối, tình yêu tâm linh . Nhạc của cô với dòng nhạc nhẹ nhàng, với lời lẽ thấm nhuần suy tư trong đầu óc hướng về tâm linh nên không hạp với nhạc thương mại . Do đó, nhạc của cô chỉ dành cho một số nhỏ người nghe trong bầu không khí trầm lặng

Sang Mỹ vào năm 1987 theo diện ODP do ngưòi bác bảo lãnh, Hoàng Thị Bích Ngọc lập gia đình với một thanh niên quen biết ở trại chuyển tiếp ở Phi Luật Tân. Về sống tại Dallas, tới năm 1992, cô dọn về sống tại Houston cho tới ngày nay và hành nghề trong lĩnh vực điện toán cho một bịnh viện của liên bang dành cho cựu chiến bịnh từ năm 1997 .Cuộc hôn nhân bị tan vỡ sau vài năm chung sống .

Năm 1997, cô có dịp trở về Việt Nam . Khi về Mỹ trở lại, cô đã hoàn thành một nhạc phẩm được dùng làm tựa cho CD đầu tay của cô là «Người Con Gái Trong Tranh» được ra mắt tháng 11, 2000 tại Houston . Cô cùng có hát trong CD với nhạc phẩm « Gai Hồng » và vài bài khác. Những ca khúc khác do Tuấn Ngọc, Thái Hiền cùng với Kiều Ngọc, một người bạn gái từng sinh hoạt văn nghệ với cô ở Saigon .

Tài liệu tham khảo :
Trường Kỳ , 2001 : « Hoàng Thị Bích Ngọc / Và dòng nhạc lững lờ , huyền hoặc », Tuyển Tập Nghệ Sĩ 5 : 240-243, Montreal , Canada .

Trần Quang Hải 

Giới thiệu THỤY MI

Vài dòng lý lịch

Thụy Mi là con út trong gia đình đông anh em (gồm 14 người, nghe Mẹ nói thế), tên thật Trần Minh Tâm, sanh năm 1968 tại Saigon
Năm 1969 gia đình dọn về sinh sống ở Long Thành, Đồng Nai . Thụy Mi học đàn Tây ban cầm (modern) với thầy dạy tại gia từ lúc bé (nếu nhớ không lầm lúc 8-9 tuổi, thuở còn bé hơn so với cây đàn guitar). Sau đó, khoảng giữa thập niên 80s’, Thụy Mi được học thêm nhạc lý và học keyboard trong thời gian sinh hoạt ca đoàn thánh ca tại giáo xứ nơi cư ngụ

Vượt biên năm 1988 qua Mã Lai Á, và được định cư tại hoa kỳ đầu năm 1990 theo diện con cựu quân nhân QLVNCH. Theo học ngành kỹ sư điện toán, năm 1996 tốt nghiệp cử nhân (BS in Computer Science) tại San Diego State University (SDSU), và tốt nghiệp cao học (MS in Software Engineer) năm 2000. Hiện sống làm việc tại thành phố San Diego, miền nam California, Hoa Kỵ

Sáng tác nhạc

Bước vào lãnh vực sáng tác nhạc năm 2000 (sau khi tạm ổn với học vấn), Thụy Mi phổ bài thơ của mình “Em Vẫn Đó” lần đầu tiên. Tiếp theo lần lượt ra đời những tác phẩm theo như thứ tự ghi trong website http://thuymi.com Cho đến nay được khoảng 20 ca khúc nhu sau : Em Vẫn Ðó
Một Lần
Những Vết Chùng
Níu Lấy Ðời Nhau
Chiều Ðông
Thiên Thần
Tôi Sẽ
Chán
Tiếng Yêu
Em Về Chỉ Ðể Xa Tôi
Vũng Rối
Về Đây Em Nhé
Rơi
Vỡ
Dấu Yêu Tôi
Áo Đêm
Hóa Thân
Về Đâu Chiều Nay
Chừng Như

Theo như nhận xét của nhạc sĩ Phạm Mỹ Lộc, Thụy Mi có khuynh hướng sáng tác soft jazz (thần tượng nữ ca sĩ Diana Krall). Tuy nhiên không giới hạn trong âm hưởng cổ điển (có lẽ vì ảnh hưởng nền nhạc thánh ca từ thuở thiếu thời), yêu thích dòng nhạc Từ Công Phụng (tình ca) và Trịnh Công Sơn (triết lý, ca từ).

Thụy Mi sinh hoạt văn nghệ phần lớn qua diễn đàn thông tin liên mạng (internet forums). Học hỏi trao dồi kiến thức nhạc lý qua sách vở . Hiện đang thực hiện CD album đầu tay, chủ đề “Tự Khúc Thuỵ Mi – Những Vết Chùng” sắp phát hành vào ngày 7 tháng 11 tới đây, gồm những giọng ca Tuấn Ngọc, Thanh Hà, Nguyên Khang, và Diễm Liên. Có thể xem chi tiết của CD album nơi website http://www.nhungvetchung.com
Liên lạc : thuymi@thuymi.com
Trang nhà : http://thuymi.com

Trần Quang Hải 

Hôm nay tôi xin giới thiệu một nữ nhạc sĩ khác hiện sống tại Song Thành (Twin Cities Saint Paul / Minneapolis) ở tiểu bang Minnesota, Hoa Kỳ .

Nữ nhạc sĩ HOÀNG KIM CHI

Nữ nhạc sĩ Hoàng Kim Chi, tên thật là Hoàng Thị Kim Chi , sinh tại Hội An,là một nhạc sĩ sáng tác ca khúc, phối khí, dạy nhạc Violin, Piano, Guitar, là Sáng lập Viên và là Thành Viên nhóm Việt Nhạc 2001. Nhóm Việt Nhạc Minnesota được thành lập vào đầu năm 2001, quy tụ một số anh chị em yêu thích văn nghệ tại Song-Thành (Twincities, Minnneapolis-St. Paul). Hoàng Kim Chi hiện dạy tư các lớp về sáng tác nhạc, và các nhạc khí (violon, piano, mandoline, guitare).

Hoàng Kim Chi theo chồng định cư tại Minnesota , Hoa Kỳ vào năm 1996. Năm 1975, Kim Chi còn ở lại Việt Nam lo tìm việc kiếm cơm từng ngày với tuổi 15 / 16 rất là vất vả . Dù vậy Kim Chi vẫn cố gắng đeo đuổi việc học nhạc tại trường âm nhạc Huế (1982-86) .Hoàng Kim Chi đi dạy nhạc tại nhà Thiếu Nhi Ðà Nẵng từ năm 1987, học sinh thường thích hát trong cuối giờ học nên cô sáng tác nhạc trẻ em theo yêu cầu của học sinh mà thôi. Khi ở tiểu bang Minnesota, Hoàng Kim Chi học xong Sound Arts, và học về sư phạm âm nhạc và soạn nhạc .
Trong thời gian qua, Hoàng Kim Chi với tư cách nhạc sĩ, nhạc trưởng, hòa âm phối khí cho ban nhạc, cùng các anh chị em trong nhóm Việt Nhạc đã tham gia đóng góp nhiều chương trình văn nghệ giúp cho sinh viên và cộng đồng Việt Nam tại Minnesota, những chương trình giới thiệu nhạc Vũ Ðức Nghiêm (1998), giới thiệu “Minh Hoạ Kiều I” của nhạc sĩ Phạm Duy (1998), giới thiệu nhạc Hoàng Kim Chi, Tú Minh và Hoàng Vỹ (2000), tổ chức ca nhạc Việt trong tuần lễ “Á Châu”, “Ngày Văn Hóa Viêt Nam”(2001)… và gần đây là chương trình “Lắng Nghe Xuân Về”, chương trình “Dân Ca Dân Nhạc” giới thiệu nhạc sĩ Trần Quang Hải (2002) , chương trình Ngô Thụy Miên (năm 2003), chương trình Từ Công Phụng (năm 2003.)Nhóm Việt Nhạc gồm những anh chị em yêu thích Văn nghệ, không là ca sĩ, nhạc sĩ chuyên nghiệp. H gặp gỡ nhau để bàn về các vấn đề liên quan đến âm nhạc nghệ thuật, thơ ca, đôi khi chuyện đời sống, thời sự… Ngoài các buổi sinh hoạt văn nghệ thân hữu, có hai chương trình biểu diễn chính, thông thường hay tổ chức trong mùa Tết Việt Nam, và mùa Thu trong năm.

Những bản nhạc được nhiều người biết
« Nụ Hồng Cho Em » là nhạc phẩm được khá nổi tiếng (đổi tên lại là « Con Sóng Tình Yêu » để hợp với chủ đề viết về Biển), giới thiệu tại Đà Nẵng thành công có tiền nhuận bút để đãi các bạn ăn uống .
Bài « Con Gái Mùa Hạ Cuối » rất được học sinh tuổi 15/16 ủng hộ vì hợp với tuổi mộng mơ này .
Bài « Ngẫu Hứng Lang Thang » viết tặng cho những người bạn ở Huế vào Saigon sinh sống nên mang âm hưởng nhạc miền Trung .
Bài « Phố Trăng » gợi nhiều kỷ niệm của phố Hội An

Tập « Khi Nỗi Nhớ Đi Hoang » gồm 16 ca khúc .

CD « Thương Tiếng Yêu Dại Khờ » gồm 10 ca khúc chọn lọc với các tiếng hát Thanh Trà, Mỹ Phương, Bích Loan, Triết Bình . Hòa âm và phối khí bởi Xuân Minh, La Vĩnh Hoàng , Viết Kỳ , và Hoàng Kim Chi. Xuất bản năm 2003

Hoàng Kim Chi là một trong các nữ nhạc sĩ rất hiếm có ở hải ngoại viết nhạc cho trẻ em . Đa số đều viết nhạc tình yêu .Một số ít viết nhạc tranh đấu .

Môt số sáng tác của Hoàng Kim Chi
1. Con gái
2. Con sóng tịnh yên
3. Ke lãng du cuối trời sao rụng
4. Lối tình
5. Một chút nhớ bâng khuâng
6. Một niềm thương nhớ
7. Mùa hạ cuối
8. Ngẫu hứng lang thang
9. Nỗi nhớ vấn vương
10. Nụ hồng cho em
11. Phố trăng
12. Ru mặt trời ngủ yên
13. Ru tình lạc lối
14. Thương tiếng yêu dại khờ
15. Trên đường nắng phai
16. Tư khúc xanh
17. Một thời nhớ nhớ thương thương
18. Buồn vương đôi mắt
19. Từng ngày bên nhau
20. Khi nỗi nhớ đi hoang

Các tập nhạc ca khúc của Hoàng Kim Chi
– Khi nỗi nhớ đi hoang
– Thưong tiếng yêu dại khờ
– Hạt nắng xuân (nhạc thiếu nhi)

Liên lạc : Hoàng Kim Chi , email : hkimchi@yahoo.com

Tài liệu tham khảo :

Tiểu sử Hoàng Kim Chi : xem trang nhà : www.vietnhac.org

Trần Quang Hải 

Giới thiệu nữ nhạc sĩ HÀ LAN PHƯƠNG

Nữ nhạc sĩ Hà Lan Phương, tên thật là Nguyễn Tina, sinh năm Đinh Dậu tại Saigon, lấy danh hiệu đi hát và sáng tác âm nhạc do sự ghép tên của ba đứa con gái : Hà, Lan và Phương . Hiện cư ngụ tại Hoa Kỳ .

Quá trình học nhạc

Nhạc sĩ Nguyễn Hải là ngươì hướng dẫn và dạy nhạc lý cho Hà Lan Phương vì thấy cô có khiếu về nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Hải có nói với cô rằng : “Ý nhạc là điều kiện tiên quyết để sáng tác. Ý hay là bài nhạc hay. Ý lạ thì bài nhạc lạ. Còn nếu cứ nhai đi nhai lại những ý có sẵn của các nhạc sĩ đi trước thì là nhạc bắt chước”.
Và Hà Lan Phương hướng về sáng tác nhạc sau khi thọ giáo với nhạc sĩ Nguyễn Hải .
Về ký âm pháp, Hà Lan Phương ghi chép được nhưng nhạc sĩ Nguyễn Hải kiểm lại trước khi cho phát hành .

Sáng tác nhạc

Ca khúc đầu tiên mang tên là “Mẹ tiễn con vượt biển” được sáng tác vào năm 1995 trong khung cảnh buổi văn nghệ của Đại hội thể thao Bắc Mỹ kỳ thứ 19

Kể từ năm 1995, Nguyễn Hải và Hà Lan Phương đã phát hành 9 CD gồm có:
1 Tình Ca Nguyễn Hải / Hà Nhất Linh
2. Đao Tâm nhạc khúc 1
3. Đạo Tâm nhạc khúc 2 (Chiều Quê)
4. Đạo Tâm nhạc khúc 3 (Đường ta đi)
5. Đạo Tâm nhạc khúc 4 (Bài Ca Đưa Đò)
6. Giận Hờn
7. Cho Người Tình Bằng Hữu và Quê Hương
8. Đời Ca Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười
9. Cụm Hoa Tình Yêu

Nữ nhạc sĩ Hà Lan Phương đã gia nhập Trinh Nữ và viết một số bài phổ từ thơ của các thi sĩ trong Trinhnu.net và rất được hưởng ứng . Bài mới nhứt của Hà Lan Phương là “Đêm Trăng Ra Suối Lấy Nước” phổ từ thờ Phan Đình Ngọc Cẩm ở Hawaii , viết theo âm điệu nhạc Hawaii
Âm nhạc là một ngôn ngữ khoáng đại của văn hóa nhân loại. Con người có thể hiểu nhau qua âm nhạc dù là bất đồng ngôn ngữ . Hà Lan Phương càng ngày càng cảm thấy mình được hòa đồng với thế giới do tìm hiểu và hấp thụ nghệ thuật âm nhạc .
Tính cho tới ngày nay, Nguyễn Hải và Hà Lan Phương đã sáng tác trên 300 ca khúc .

Cuối năm 2004, Hà Lan Phương sẽ thực hiên thêm một CD do Quốc Dũng phối âm . Hiện tại nhà thơ Phạm Ngọc có gởi một số bài thơ và Hà Lan Phương phổ nhạc và nhạc sĩ Quang Đạt phối âm .CD sẽ được phát hành sau khi hoàn tất trong một ngày gần đây .

Liên lạc :
Email: halanphuong2k2@yahoo.com

Trần Quang Hải 

Giới thiệu nữ nhạc sĩ LINH CHI

Nguyễn Linh Chi sinh 17 tháng 7 nhưng không nhớ là năm nào , tại Sàigòn là con gái út của Nhạc Sĩ Nguyễn Việt Hà Nội . Hiện tại sinh sống tại Pháp .
Các sáng tác của NS Lão Thành Nguyễn Việt :

http://perso.club-internet.fr/nmchau/composers/nguyenviet.html

Quá trình học nhạc

Linh Chi thi đậu vào Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn năm 6 tuổi học Vĩ~ cầm với cố Giáo Sư Đỗ Thế Phiệt , sau khi GS Phiệt qua đời thì tiếp tục học vĩ cầm với GS Nguyễn Khắc Cung , dương cầm với GS Nguyễn Cầu .

Linh Chi cũng là Cựu Nữ sinh củ a trường Régina Pacis .
Linh Chi tốt nghiệp Trung Cấp âm nhạc lúc 11 tuổi và năm 12 tuổi đọat giải thiếu nhi xuất sắc do Trung Tâm Văn Hoá Nghệ Thuật tuyển chọn vì trong cùng một thời gian Linh Chi đóng vai chính xuất sắc 2 vở Nhạc Kịch :

1/ Bé Lan Bán Cà Rem ( 2 phim ) với đạo diễn Lê Mộng Hoàng do đài Truyền Hình số 9 sản xuất .
2/ Ngôi Sao Sáng Cho Tường Vi ( 2 phim ) do đài Truyền Đắc Lộ sản xuất.
3/ Giải nhất soliste trong hợp xướng Thiếu Niên của Hội Việt Mỹ .
4/ Được cấp học bổng đi New York nhưng còn bé quá nên gia đình không chấp nhận .

Chơi trong dàn nhạc giao hưởng của NS Nghiêm Phú Phi( trước 1975 ) và dàn nhạc Giao Hưởng của ông Quang Hải (cựu giám đốc âm nhạc viện TP HCM sau 1975 .

Sau 1975 học và tốt nghiệp nghành điều khiển dàn nhạc và hợp xướng , hoà âm , phối khí .
Xử dụng các nhạc cụ như Violon , viola , guitare , piano
, sáo tây .

Sáng tác ca khúc :

Sáng tác đầu tiên viết cho Nhi Đồ`ng lúc 15 tuổi là bài « Dưới Ánh Trăng Rằm » .
Sau đó đến các Tình Khúc như « Mưa » , « Tan Vỡ » , « Giấc Mơ Qua » , « Đưa Em » , « Ngàn Thu Phố Lạ » phổ thơ Phạm Ngọc, vv..
Ngoài ra còn viết cho Thánh Ca hoặc các bài cho Hợp xướng .
Nhạc Linh Chi thường tự viết phối khí theo kiểu Thính Phòng đã được giới thiệu tại Thư Viện Diên Hồng và Siliconband tại Paris cũng như các đài phát thanh ở Quận Cam (California) hay Houston (Texas) , Washington DC phát nhạc nhiều lần trong những năm vừa qua .

Chỉ mới ra CD có tính cách thân hữu ” Tâm Sự Gởi Về Đâu ” hát chung với anh Phạm Đăng trong đó có nhạc của mình và các sáng tác của các Nhạc Sĩ đã nổi
tiếng như “Suối Tóc” ( Văn Phung ) “Cỏ Hồng” ( Phạm Duy ) , “Từ Giọng Hát Em” ( Ngô Thuỵ Miên). .

Liên lạc :
Email : linh.chi.nguyen1@libertysurf.fr
Trang nhà : http://honque.com/linhchi
Trong trang nhà của Linh Chi, có thể nghe tất cả những ca khúc do Linh Chi sáng tác, đồng thời có thể giọng hát của Linh Chi qua trên 20 ca khúc nổi tiếng của các tác giả tiền và hậu chiến

Trần Quang Hải 

Đôi dòng về Đào-Nguyên

– Đào Nguyên tên thật là Nguyễn Trinh Anh Đào, sinh ngày 28 tháng 5, 1962 tại Sài Gòn trong một gia đình chỉ có cha mẹ và hai anh em. Chơi đàn là niềm vui từ nhỏ vì Đào Nguyên sống nhiều trong nội tâm. Sang Hoa kỳ năm 1984 theo diện bảo lãnh, cư ngụ tại Peoria, Illinois từ 1984 tới 1988.
Sau khi ra đại học Bradley University (Peoria, Illinois) về kế toán năm 1988, Đào-Nguyên rời Illinois qua San Jose, California sanh sống đến nay. Từ sau khi ra trường, Đào-Nguyên tiếp tục làm việc về kế toán cho các hãng ở San Jose, miền Bắc California.

Quá trình âm nhạc

– Từ khoảng 8, 9 tuổi được thân phụ dạy đàn mandolin cùng với nhac lý.
– Lúc đầu theo học dương cầm với các bà phước (1972), sau học dương cầm cổ điển với bà Phạm Thị Lạc Nhân (tốt nghiệp Conservatoire de Paris) và đồng thời cũng học với thầy Nghiêm Phú Phi (nguyên là giám đốc Quốc Gia Âm Nhạc Saigon) khoảng năm 1974 – 1976. Cũng đã theo học đàn tranh với thầy Trương hữu Lang trong khoảng 1974 – 1976.
– Trong khoảng 1985 – 1986, dưới sự khích lệ của bà Phạm thị Lạc Nhân, Đào-Nguyên đã tự luyện tập thêm đàn tranh và đã trình tấu độc tấu đàn tranh cho buổi gây quỹ tại Hilton Hotel do Hội Người Việt ở Chicago tổ chức cùng các buổi văn nghệ khác của các hội thiện nguyện Mỹ Việt ở Peoria tổ chức.
– Cũng trong thời gian này, DN học thêm về lý thuyết và phương pháp dạy đàn dương cầm trong một trường college, kết quả là một mảnh bằng về Piano Teaching vào năm 1986.
Trong thời gian này có dạy piano cho con các thầy cô trong college tự nguyện đến xin học đàn.
– Năm 1986, một thời gian ngắn sau khi qua Mỹ, với những cảm giác rào rạt khi vừa đến một vùng đất xa lạ và trong nỗi nhớ quê hương, Đào-Nguyên đã viết bài “Tình Trăng” và “Nhớ Xuân”.
– Năm 1989 đến năm 1994 có tiếp tục dạy đàn dương cầm cho các em tại San Jose.
– Cuối năm 2002 chán nản trước những chuyện không vui hay xảy ra trong cuộc sống xung quanh trong xã hội, DN quay trở lại tìm niềm vui riêng trong âm nhạc.
– Học sáng tác trong thời gian ngắn với nhạc sỹ Trần Quảng Nam (2003).

CD đầu tay

CD đầu tay gồm các bài phổ thơ của Từ Minh Phương, Nhất Uyên và L.Kh.V.
Ngoài các ca khúc trong CD đầu tay, cho đến nay Đào Nguyên có vài ba bài lời và nhạc của riêng mình, có bài có lời tiếng Việt và tiếng Anh, gần đây có viết lời cho một bài Waltz của Chopin.

Các bài nhạc đã hoàn thành
Tình Trăng – nhạc và lời Đào Nguyên (1986)
Nhớ Xuân – nhạc và lời Đào Nguyên (1986)
Ngôn Ngữ Tình Yêu (The Language of Love) (Valentine 2004)
Người Em Dịu Hiền (nhạc Chopin (Waltz in B minor, Op.69, no.2), lời Đào Nguyên (tháng 3, 2004)

CD album Trả Lại Cho Anh phát hành tháng 10, 2004 qua các giong ca Diễm Liên, Quang Tuấn, Quỳnh Lan, Quang Minh, Hồ Quỳnh Hương và Trang Nhung với hòa âm Lê Huy, Bảo Phúc và Thanh Lâm:

Gió Sương – thơ Từ Minh Phương
Giòng Sông Xưa – thơ L.Kh.V
Vòng Tròn Mãi Xoay – thơ: Từ Minh Phương
Thiên Đường Mùa Xuân – thơ Nhất Uyên
Có Một Giòng Sông – thơ Từ Minh Phương
Nhớ Biển Tình Quê – thơ Từ Minh Phuơng
Chiều Không Em – thơ Nhất Uyên
Ưu Tư Của Biển – thơ Nhất Uyên
Chờ Một Chuyến Đò – thơ Từ Minh Phương
Trả Lại Cho Anh – lời Từ Minh Phương & Đào Nguyên

Lời các bài nhạc trong CD được in thành album 15 trang kèm theo với CD. Có phần chuyển dịch sang tiếng Anh cho lời các bài hát chọn lọc nói về tình yêu quê hương và thiền nhằm phần nào giới thiệu ý nghĩa của các ca khúc này đến với người ngoại quốc.

Chi tiết của CD có thể tìm thấy ở website: http://www.suoinguontamtu.com/tacphammoi/tralaichoanh.htm
Trang nhà: http://www.geocities.com/daonguyenmusic/
Liên lạc: daonguyenmusic@yahoo.com

Trần Quang Hải 

Giới thiệu nữ nhạc sĩ JAZZY DẠ LAM

vietnamese-german-jazz-muse-jazzy-da-lam-is-a-leading-composer-on-the-local-music-scene-676178-jazz-069-09

 

jazzy da lam

Tên: Jazzy Dạ Lam
Hiện cư ngụ tại Đức

Quá trình học nhạc:

– 6 tuổi học piano với cô Trần Thanh Thảo
– 8 tuổi vào Nhạc viện tp.HCM học hết hệ sơ cấp và một năm trung cấp tại Nhạc Viện TP.HCM
– 15 tuổi được học bổng đi Nga để học tiếp hệ trung cấp và đại học (nhưng giữa đường gãy gánh) tại trường sư phạm âm nhạc Gnesin ở Moscow
– 18 tuổi lưu lạc sang Đức vì ………….. ham chơi và thích đi bụi đời .
– 25 tuổi chán chơi, chán bụi đời nên đi học tiếp tại Đại học Âm nhạc thành phố Munich, với môn chính jazz piano .
– hiện đang tiếp tục học hỏi và làm việc trong lãnh vực âm nhạc .

Danh sách các sáng tác:

– sáng tác đầu tiên năm 6 tuổi : ” Cây Thông Mà Cũng Biết Hát” phổ thơ của một nhà thơ không nhớ tên đã được thâu thanh do chính Jazzy Dạ Lam hát và phát sóng năm 1980 trêni Đài Tiếng Nói Nhân Dân TP. HCM
– sáng tác thứ 2 “Bốn Mùa” phổ thơ người bạn tên Phương Ái năm học lớp 7 phổ thông, được hát và trình diễn tại các liên hoan văn nghệ thiếu nhi của thành phố HCM.
– sau đó là các sáng tác dạng tiểu phẩm cho piano chẳng bao giờ đặt tựa vì cũng không … đem khoe với ai hết !
– ca khúc “người lớn” đầu tiên là bài hát viết bằng tiếng Anh lấy ý từ bức thư tình đầu tiên “I Wanna Be Your Baby”
– sau đó là loạt ca khúc
Hãy Về Đây (1995),
Trăng & Em phổ thơ Nguyễn Tấn Đạt (1999),
Mẹ (1999),
Life Is phổ thơ Lan Phạm (1999),
Khúc Đêm (2000),
Vạt Trăng (2001),
Châu Ngọc Pháp Hoa phổ thơ Thích Nhất Hạnh (2001)
Dạo Khúc phổ thơ Đinh Trường Chinh (2002),
Màu Đêm phổ thơ Chu Kỳ Thư (2002),
Standing For What You Believe In (2002),
Võng Đêm (2003),
When Ím With You (2003),
Who Would Have Though viết chung với Nuraan Arnold (lyricist) (2003),
Tối Thứ Sáu phổ thơ Nguyễn Đức Tùng (2003)

-nhạc không lời thì …… không biết là bao nhiêu bài vì cũng không có đặt tên và nhớ cho hết ngoài những bài nhớ được như :
The Clouds (2000),
The Black Horse (2001),
Variation from “Qua Cầu Gió Bay” Theme (1999) viết cho piano & the jazz combo band,
Khúc Mộng Liêu Khuê (2001), The Autumn Song (2002) viết cho piano và nhiều tiểu phẩm khác

Tham gia đại hội liên hoan âm nhạc

Ngoài ra còn có tham gia trong một số liên hoan âm nhạc: Jazz Night của thành phố Munich (1999, 2000, 2001), liên hoan liên trường nhạc quốc gia với The Wings Of Hope Gospel Choir in Berlin (2000) Music Festival Berlin cùng Mic and Friend (2003), International Culture Night Süd Tirol cùng The Tulips Jazz & Gospel Choir (2004) ….

Liên lạc : email : jazzynguyen@yahoo.com

Trần Quang Hải 

Giới thiệu nữ nhạc sĩ Tâm Khanh
Nữ nhạc sĩ Tâm Khanh, tên thật là Đinh Thị Mai Khanh . Sinh ngày 3 tháng giêng năm Giáp Thìn tại Sài Gòn . Gia đình có tất cả là 8 anh chị em đều được cho học nhạc trong nhà dòng dù trong gia đình không có ai là nhạc sĩ cả .

Quá trình âm nhạc

Lúc nhỏ Tâm Khanh bắt đầu học nhạc với linh mục Đinh Tất Quý . Tiếp theo đó học thanh nhạc, sáng tác, hòa âm với các huynh trưởng Đinh Tiến Linh và Đinh Quang Lạc . Lúc đó bắt đầu viết một số bài hát cho ca đoàn với thể loại Thánh ca .
Tâm Khanh còn được chỉ định làm ca trưởng và chỉ huy ca đoàn trong nhiều năm .
Khởi sự đi hát từ năm 18 tuổi trong các nhóm ca khúc, sau đó Tâm Khanh tách riêng để trở thành ca sĩ chuyên nghiệp hát tại các tụ điểm và phòng trà ca nhạc với tên là Mai Khanh .
Ngoại trừ những bài Thánh ca được viết riêng cho ca đoàn thì bài hát đầu tiên « Tương Tư Khúc » được viết từ chính thơ của Tâm Khanh về một chuyện tình buồn của một người bạn học . Chính ca khúc này khơi mào cho một loạt những sáng tác tình khúc sau này .
Trong khoảng thời gian đi hát , thời điểm mà những tình ca hãy còn hiếm hoi đối với mọi người . Có khi một bản tình ca được hát đi hát lại liên tục trong nhiều năm thì ý tưởng phải làm một việc gì đó hoàn toàn có thể làm được trong khả năng mà mình có đượ từ sự học hỏi và tích lũy trong những năm tháng học nhạc và phục vụ trong ca đoàn cũng như đi hát ngoài xã hội, tư tưởng này ấp ủ và kéo dài cho đến khi gặp được anh Khánh Tâm và kết hôn với anh , người đã hướng dẫn Tâm Khanh vào con đường âm nhạc nghiêm túc và trang trọng . Bắt đầu từ đó tên Mai Khanh trở thành Tâm Khanh (ghép tên của chồng là Tâm vào tên của mình)
Năm 1999, Kháng Tâm và Tâm Khanh sang định cư tại tiểu bang Florida (Hoa Kỳ) cho tới bây giờ .

Sáng tác ca khúc và xuất bản CD

Tâm Khanh đã sáng tác gần 100 bài nhạc , một phần do chính Tâm Khanh viết cả nhạc lẫn lời, và một phần phổ thơ từ nhiều nhà thơ .
Tâm Khanh đã phát hành 5 CD . Hai CD tiêu biểu cho tiếng hát Tâm Khanh là
CD « Tiễn Em Chiều Mưa » do Hoàng Công Luận hòa âm và Khánh Tâm thu, gồm 10 bài (phát hành năm 2002)
Tiễn em chiều mưa (Đăng Khánh)
Dốc Mơ (Ngô Thụy Miên)
Tình Tự Mùa Xuân (Từ Công Phụng)
Khi tình như một giấc mơ (Tâm Khanh)
Cho rơi những bụi tình ( Hoàng Trọng Thụy)
Đoản khúc cuối cho em (Hoàng Trọng Thụy)
Miên khúc (Ngô Thụy Miên)
Hát mưa bay cuối đời (Đăng Khánh)
Tuổi xa người (Từ Công Phụng)
Tặng em (Tâm Khanh)

CD « Đừng Nhắc Chuyện Mùa Đông » / Tâm Khanh với những sáng tác mới (phát hành năm 2002)
1. Đừng nhắc chuyện mùa đông (phổ thơ Bùi Bảo Trúc)
2. Nỗi nhớ vô bờ (phổ thơ Bùi Bảo Trúc)
3. Giấc mộng yên lành (nhạc và lời Tâm Khanh)
4. Cỏ dại (được viết cho tác phẩm cùng tên của Đào Quang Vinh)
5. Đêm về (nhạc và lời Tâm Khanh)
6. [b]Đến bao giờ em trở lại (phổ thơ Bùi Bảo Trúc)
7. Cho một lần chia tay [/b](thoại / thơ Bùi Bảo Trúc)
8. Rồi sẽ có lúc (sáng tác của Tâm Khanh và Khánh Tâm)
9. Tình khúc cuối (phổ thơ B&ugrav

This blog is focused on Trân Quang Hai