GS TS TRẦN QUANG HẢI : ÂM NHẠC VÀ NGOẠI GIAO , VIETNAM 2011


GS TS TRẦN QUANG HẢI : ÂM NHẠC VÀ NGOẠI GIAO , VIETNAM 2011

Thứ Năm, 17/03/2011-10:31 AM

Âm nhạc và ngoại giao
GS.TS Trần Quang Hải và nữ ca sĩ Bạch Yến trong một buổi hòa nhạc ở Seatle (Mỹ), 1/2006.
Từ trước tới nay, khi nói tới âm nhạc, ai cũng nghĩ là đó là bộ môn tiêu khiển, giải trí. Âm nhạc làm cho bầu không khí được vui thêm hơn khi có những sinh hoạt tập thể. Âm nhạc có khi được trỗi lên để giải buồn. Nhưng âm nhạc còn hơn thế nữa.
 

Âm nhạc cho riêng mình, cho đại đa số quần chúng, trên sân khấu, trong những đại hội liên hoan ngoài trời cho hàng chục ngàn khán giả. Âm nhạc cũng dùng để thúc đẩy chiến sĩ trong lúc có chiến tranh. Âm nhạc cũng dùng để trị bệnh tâm thần (music therapy) ở các quốc gia tiên tiến Âu – Mỹ…

Âm nhạc trong ngoại giao?

Từ sau Thế chiến II (1939-1945), âm nhạc bắt đầu được khai thác trong ngoại giao. Nhạc truyền thống giữ một vai trò quan trọng trong nhiệm vụ tạo sự giao hảo giữa các quốc gia để mang lại một hình ảnh đẹp của xứ mình trong những dịp trao đổi văn hóa nghệ thuật giữa các xứ để thắt chặt tình thân hữu. Riêng về trường hợp của tôi, sau 50 năm sống ở nước ngoài, tôi đã mang tiếng đàn cổ truyền, câu hát dân ca Việt Nam đi khắp năm châu qua trên 3.500 buổi trình diễn ở 70 quốc gia. Ngoại giao âm nhạc trong sứ mạng nhỏ bé của tôi có thể gói trong những địa hạt sau đây.

Trong trường học

Với hơn 600 buổi buổi diễn tại Na Uy từ năm 1978, chúng tôi đã gieo những hạt giống nhạc dân tộc trong đầu những trẻ thơ từ 6 tới 10 tuổi những bài ru con, quan họ, cò lả, hò, lý, những nhạc cụ đàn tranh, đàn bầu, đàn cò, muỗng, đàn môi.

Tại Australia, vào năm 1986, chúng tôi trình diễn 26 buổi trong 5 tuần lễ theo lời mời của cơ quan văn hóa Australia. Chúng tôi đã tặng cho Bộ Giáo dục Australia một chương trình giới thiệu nhạc dân ca Việt Nam 30 phút, thuyết minh bằng tiếng Anh trên đài truyền hình của tiểu bang Western Australia. Chương trình này được phân phối trên toàn Australia trong khung của chương trình giáo dục âm nhạc tại các trường tiểu học.

Trong nhiều buổi sinh hoạt âm nhạc tại hơn 100 trường đại học ở Mỹ, Canada, Nhật, Hàn Quốc, Nam Phi, Australia và trên 25 nước châu Âu, chúng tôi đã mang đến những giai điệu đẹp của nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam và được các sinh viên nhiệt tình đón nhận. Nhiều em đã bày tỏ khâm phục sự phong phú của nhạc Việt…

Tại các trung tâm văn hóa, viện bảo tàng

Chúng tôi được may mắn có nhiều dịp giới thiệu nhạc Việt khắp xứ Pháp (500 buổi trình diễn) mang lại một sự cảm tình thân thiết của khán giả Pháp đối với nhạc Việt. Ngoài ra, chúng tôi đã trình diễn rất nhiều buổi tại các viện bảo tàng ở Âu Mỹ (như Musée du Quai Branly, Musée de l’Homme, Nhạc viện Cao đẳng ở Paris, nhạc viện Tchaikovsky ở Mátxcơva, Viện Bảo tàng nhạc cụ ở Stockholm – Thụy Điển, Trondheim – Na Uy, Copenhagen – Đan Mạch, London – Anh quốc…). Rất nhiều chương trình trình diễn của chúng tôi đã được thực hiện trên các đài truyền hình của các quốc gia từ nhiều năm qua .

Tại các liên hoan quốc tế về nhạc truyền thống

Tôi còn nhớ tại đại hội liên hoan nhạc dân tộc ở Cambridge (Anh) năm 1967, tôi đã dùng cặp muỗng để thi đấu với những nghệ nhân gõ muỗng và đã hạ tất cả các đối thủ và được tôn vinh là “vua muỗng” (King of Spoons). Cả hội trường đã hoan hô tôi với những câu “Hoan hô VIETNAM”. Hàng chục ngàn người có mặt lúc đó đã khám phá nghệ thuật gõ muỗng của tôi và qua đó, họ thấy hình ảnh của Việt Nam và không ít người đã hỗ trợ Việt Nam trong chiến tranh…

Việc dùng âm nhạc trong ngoại giao, ở khía cạnh nào đó có hiệu quả hơn là dùng chính trị để chinh phục thế giới. Mong rằng mỗi sinh viên khi đi học ở xứ người cần có một hành trang âm nhạc dân tộc cơ bản. Từ đó, giới thiệu nhạc xứ mình trong những cuộc giao lưu văn hóa, đó là một hình thức dùng âm nhạc trong ngoại giao để chinh phục cảm tình của các bạn nước ngoài. Mỗi một công dân xứ Việt khi ra hải ngoại sẽ là một nhà ngoại giao để nói lên niềm tự hào nghệ thuật văn hóa âm nhạc, giúp bạn bè quốc tế hiểu được văn hóa Việt Nam và góp phần vào việc phổ biến hình ảnh đẹp của Việt Nam ở khắp các nẻo đường toàn cầu.

GS.TS. Trần Quang Hải

ĐIỆP TRẦN : CHÚT HÀ NỘI CỦA GIÁO SƯ TRẦN QUANG HẢI , VIETNAM, 2010


ĐIỆP TRẦN : CHÚT HÀ NỘI CỦA GIÁO SƯ TRẦN QUANG HẢI , VIETNAM, 2010

CHÚT HÀ NỘI CỦA GIÁO SƯ TRẦN QUANG HẢI

 
Là một người con của miền sông nước Nam Bộ lại sống xa quê hương, nhưng đối với GS.Trần Quang Hải, người con trai trưởng của GS.Trần Văn Khê đã nối tiếp cha đeo đuổi sự nghiệp bảo tồn và truyền bá âm nhạc cổ truyền của Việt Nam ra thế giới, Hà Nội vẫn có điều gì đó để ông phải nhớ.

Ông nói rằng từ bé mình chỉ biết Hà Nội qua sách vở và chỉ 8 năm trước, ông mới lần đầu tiên ông đặt chân lên mảnh đất này. Nhưng, dù chỉ đến với thủ đô qua những chuyến công tác ngắn ngày, ông vẫn kịp có nhiều trải niệm với nơi đây.

Người ta từng thấy “ông già” Trần Quang Hải vừa say sưa chìm đắm với nhạc ca trù ở cửa đình sau đó đã lại xắn tay đệm đàn muỗng cho nhóm hiphop Bigtoe thể hiện những động tác múa cuồng nhiệt ngay giữa đường phố Hà Nội. Xem ra, cái tuổi 66 của ông vẫn chưa phải là già.

Dăm điều đó thôi đã thấy tò mò về một chút Hà Nội của Trần Quang Hải – một nhà nghiên cứu âm nhạc, một người bạn và một người con xa xứ.

– Thưa ông, tại sao ông lại “gặp” Hà Nội muộn vậy?

Tôi rời Việt Nam từ năm 1961 khi còn rất trẻ. Du học, làm việc rồi nghiên cứu dân tộc nhạc học….cuộc sống cứ thế cuốn đi cho đến năm 2002 tôi mới được mời về Việt Nam để thực hiện một chương trình âm nhạc. Thật hữu duyên khi đó là chương trình nói về cảm giác của một nhạc sĩ Việt Nam về âm nhạc cổ và tân của nước Việt sau 40 năm xa cách. Cũng trong dịp ấy, lần đầu tiên tôi được đến Hà Nội.


– Cảm giác của lần đầu ấy như thế nào?

Bạn biết không, trước đó Hà Nội với tôi là một thế giới mới lạ mà tôi chỉ biết qua sách vở, phim ảnh chứ chưa từng đặt chân tới. Lúc ấy, tôi đã 58 tuổi rồi mà vẫn không kìm được sự hồi hộp, rạo rực vừa có chút nôn nao muốn nhìn thấy thủ đô của xứ Việt. Một cảm xúc kỳ lạ, muốn trào nước mắt.

Từ buổi ấy đến nay ông đã có nhiều cơ hội tiếp xúc với đời sống cổ nhạc đất Hà thành. Ông đánh giá thế nào về việc lưu giữ vốn cổ âm nhạc của người Hà Nội?

Ở Hà Nội tập trung khá nhiều thể loại cổ nhạc miền Bắc nhưng mỗi loại đều có một số phận. Khi hát Xẩm tại chợ Đồng Xuân thu hút khá nhiều dân chúng tới xem thì những buổi biểu diễn Quan Họ, Ca Trù tuy được tổ chức thường xuyên nhưng chưa được như mong muốn. Nếu Chầu Văn được hồi phục chỗ đứng trong lòng người dân Hà Nội thì múa rối nước rất được du khách ngoại quốc ưa chuộng.

Tôi nghĩ giá nghệ nhân có nơi trình diễn thường xuyên, đồng thời cổ động dân Hà Nội tham gia hỗ trợ các sinh hoạt này thì mọi chuyện sẽ tốt hơn. Ngoài ra, viện âm nhạc và nhạc viên nên có những buổi giới thiệu nhạc cổ truyền cho giới trẻ học đường từ tiểu học đến trung học.

– Nói đến giới trẻ, hình như ông đã từng đệm đàn muỗng cho một nhóm nhảy hiphop ngay trên đường phố Hà Nội?

Đó là vào tháng Giêng năm 2010. Lúc ấy tôi dùng muỗng để thử nghiệm cho các bạn trẻ thấy là có thể dùng những nhạc cụ cổ truyền trong loại nhảy hip hop. Kết quả là đầy triển vọng trong tương lai. Vì thế, trong hội thảo quốc tế ICTM về dân tộc nhạc học tại Hà Nội tháng 7 vừa qua, một lần nữa các em lại nhảy trên nền của đàn môi. Cũng trong dịp này, một tham luận về đề tài đối chiếu Hát Xẩm và Hip hop và ứng dụng của nó là nhảy hiphop trên nền Xẩm cũng được đón nhận nhiệt tình.

– Có một bài viết nói rằng, tuy ca trù có ở nhiều nơi (theo thống kê là 14 tỉnh thành), nhưng có thể coi ca trù là “dân ca của Hà Nội”, ông thấy đánh giá này thế nào?

Tôi không cho Ca Trù là “dân ca của Hà Nội” vì đa số dân Hà Nội không hiểu gì về Ca Trù. Thể loại âm nhạc này chỉ được “tái sinh” sau khi bà Quách Thị Hồ được tôn vinh ở hải ngoại và được phong tặng chức Nghệ sĩ nhân dân. Ca Trù được “sống lại” từ vài mươi năm nay thôi.

 

– Hoàng Thành Thăng Long vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, liệu hỏi một Giáo sư âm nhạc học về việc nên bảo tồn như thế có nào có được không, thưa ông?

Theo tôi, cũng như văn hóa phi vật thể, việc lưu giữ các di tích lịch sử ở Hà Nội rất khẩn cấp. Theo định nghĩa của di sản văn hóa thế giới, thì một nơi được chọn sẽ không được thay đổi bất cứ gì và phải tôn trọng và bảo trì cẩn thận. Đó là việc làm của những chuyên gia khảo cổ và của chính quyền.

Xin gác lại câu chuyện về chuyên môn, thế còn những người bạn Hà Nội của ông thì sao?

Họ đã cho tôi những kỷ niệm đẹp bằng sự nồng hậu và thân tình. Qua những cuộc gặp gỡ với các nhóm nghệ nhân, mà thực là những người bạn, tôi hiểu thêm về giá trị của cổ nhạc và đời sống muôn mầu của nó ở đất Hà thành. Nguyễn Thị Minh Châu, Bùi Trọng Hiền, Lê Văn Toàn và những nghiên cứu viên ở Viện Âm nhạc với sự nghiêm túc và nhiệt tình hiếm có của mình đã giúp tôi mở rộng tầm mắt về sinh hoạt âm nhạc ở Việt Nam. Đó còn là tình thân khi chính họ và những người bạn nhỏ thân thiết khác đã đưa tôi đi khám phá Hà Nội và những món ăn “đặc sản” nổi tiếng ở đây. Điều này thực sự rất thú vị!

– Được biết, vừa rồi ông đã tặng cho Viện âm nhạc Việt Nam một bộ sách và đĩa hát rất quí. Nhưng hình như trước đó mấy năm, ông còn gợi ý cho một nhóm nghiên cứu sang pháp đưa về Việt Nam một số tài liệu quí của viện bảo tàng con người Pháp nhưng vì một lý do nào đó không thành công?

Việc này tùy thuộc vào điều kiện tài trợ mà lúc đó chưa thể thực hiện được. Tôi chỉ mang về một số nhỏ tài liệu cho thấy bộ môn dân tộc nhạc học ở xứ người như thế nào. Đó là dự án trong tương lai là làm sao mang về Việt Nam tất cả sách vở, đĩa hát, nhạc cụ mà tôi muốn trao lại cho Việt Nam. Điều kiện duy nhất để thực hiện là phải có tiền để trả kinh phí cho việc chuyển những tài liệu này từ Pháp về Việt Nam.

– Nếu Paris hoa lệ, thủ đô của nước Pháp là nơi ông định cư, thì Hà Nội, thủ đô của quê hương yêu dấu có ý nghĩa thế nào với ông?

Dù là người sinh ra tại một miền khác và lớn lên ở xứ Pháp, Hà Nội đã mang lại cho tôi hình ảnh của nền văn minh, văn hóa và nghệ thuật của dân tộc Việt Nam. Đó thực sự là niềm tự hào có một thành phố quê hương nghìn năm văn vật, đầy những di tích lịch sử mà lúc nhỏ tôi chỉ biết qua sách vở.

Xin cám ơn ông về cuộc trò chuyện thú vị này!

Điệp Trần (thực hiện)

Đăng trên báo Thời Nay ngày 27.9.2010

Chú thích ảnh:

Ảnh 1: Với Giáo sư Trần Quang Hải, khám phá Hà Nội thực sự thú vị

Ảnh 2: Phút ngẫu hứng của GS.Trần Quang Hải với những người bạn Hà Nội.

Ảnh 3: GS.Trần Quang Hải biểu diễn chơi đàn môi tại Hội thảo quốc tế ICTM về âm nhạc dân tộc

Thông tin thêm

GS.Trần Quang Hải là con trai trưởng của GS.Trần Văn Khê, người có công to lớn trong việc truyền bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam ra thế giới. Ông đã trình diễn hơn 3000 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 65 quốc gia, giảng dạy tại hơn 100 trường đại học trên thế giới và tham dự hơn 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống.

Tuy nối gót cha theo đuổi sự nghiệp bảo tồn cổ nhạc Việt Nam, song GS.Trần Quang Hải thiên về ứng dụng, biểu diễn và thuyết trình giới thiệu âm nhạc dân tộc học. Quan điểm nghiên cứu của ông là kết hợp chất nhạc cổ truyền của nhiều dân tộc, pha trộn tùy hứng với jazz, nhạc đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc mới lạ mang tính ứng dụng. Ngoài ra, ông còn được biết đến như một chuyên gia về đồng song thanh và đàn muỗng. Kết quả, hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng, đồng sonh thanh, nhạc tùy hứng và đương đại của ông đã ra đời.

Hiện, GS.Trần Quang Hải đang làm đại diện của Việt Nam (ủy viên) tại Hội đồng âm nhạc truyền thống quốc tế (ICTM).

Tóm lược từ tranquanghai.info

Thứ hai, ngày 27 tháng chín năm 2010

TRAN QUANG HAI , Chevalier de la Légion d’Honneur, FRANCE, 2002


Décret du 29 mars 2002 portant promotion et nomination

Ministère de la cultureet de la communication

Au grade de chevalier

M. Barrère (Jacques, Marcel, Antoine), expert, négociant en objets d’arts d’Extrême-Orient ; 35 ans d’activités professionnelles et de services militaires.
M. Berthier de Lioncourt (Vincent, Paul, François), directeur d’un centre musical ; 29 ans d’activités professionnelles et de services civils.
M. Brossmann (Jean-Pierre), directeur d’un théâtre ; 42 ans d’activités professionnelles et de services militaires.
M. Campana (André, Gaëtan, Philippe), journaliste, producteur ; 39 ans d’activités professionnelles et de services militaires.
Mme Clément (Marie, Thérèse, Aurore), comédienne ; 28 ans d’activités artistiques.
Mme Colleu (Chantal, Yvonne, Jeanne), épouse Dumond, directrice de l’abbaye royale de Fontevraud ; 21 ans d’activités professionnelles et de services civils.
M. Erdös (Thomas), conseiller artistique, producteur ; 55 ans d’activités professionnelles et artistiques.
Mme Fortier (Marie, Odile, Jeanne), épouse Masek, traductrice ; 40 ans d’activités professionnelles.
Mme Genin (Alice, Louise), épouse Eleftheriades dite Teriade, experte de l’oeuvre de l’éditeur Teriade, donatrice ; 31 ans d’activités professionnelles et culturelles.
Mme Jacquin de Margerie (Diane, Jeanne, Marie), romancière, traductrice ; 34 ans d’activités littéraires.
M. Lachat (Raymond, Jean-Louis), directeur des affaires culturelles de Bretagne ; 38 ans de services civils.
Mme de Lacretelle (Anne, Marie, Jeanne), directrice du mécénat culturel dans un établissement bancaire ; 50 ans d’activités professionnelles.
M. Mollat (Denis, Albert, Jean), libraire ; 24 ans d’activités professionnelles et de services militaires.
Mme Rouault (Danielle, Valentine, Renée), épouse Heude, conservatrice générale du patrimoine, inspectrice générale des musées ; 41 ans de services civils.
M. Sabatier (Daniel), maître de conférences ; 35 ans d’activités professionnelles et de services civils.
M. Sabatier (Jean, Aimé, Pierre), sculpteur plasticien ; 50 ans d’activités artistiques.
M. Tran (Quang Hai), musicien, musicologue ; 42 ans d’activités musicales.
M. Vincent (Jean-Marie, Etienne), conservateur général du patrimoine, chef du service de l’inspection générale à la direction de l’architecture et du patrimoine au ministère ; 42 ans d’activités professionnelles et de services civils.
M. Vincent (Jean-Pierre), directeur de théâtre, metteur en scène ; 44 ans d’activités professionnelles et théâtrales.

One of our jury members, Tran Quang Hai has sent me the following email:

Dear Friends,

I have the pleasure to announce … that Mr. Jacques Chirac, President of the Republic of France has decided to nominate me at the grade of Chevalier dans l’ordre National de la Legion d’Honneur (Knight in the National Order of Legion of Honour) the highest medal of French Distinctions to reward the multiple talent of the one who,at the same time researcher and musician, ethnomusicologist and composer, teacher,singer and imitator, knows how to combine study and music , East and West, vietnamese traditions and contemporary music in the very original way .
HOping that all my friends will share with me this happy moment and exceptional event in my life. Thank you in advance.

Tran Quang Hai >>> WEBSITE

I have sent him congratulations in the name of the forum expressing that we participate in his honour, feeling proud to have been selected by him.
http://www.titanicahoy.com/asfp/news-2.htm

WIKIPEDIA : LE CHANT DIPHONIQUE


Chant diphonique

Le chant diphonique est une technique vocale permettant à une personne de produire un timbre vocal caractérisé par deux notes de fréquences différentes. Il s’agit donc de faire du chant polyphonique (à plusieurs voix) au moyen d’un seul organe vocal combinant d’une part divers types de voix (de gorge, de tête, etc.) et d’autre part divers positionnements de la langue ou des lèvres. La seconde voix, ou harmonique, est dans un rapport exact de fréquences avec celle de la voix de base, H1, bourdon ou encore fondamental. Elle peut être égale à deux fois la fréquence du bourdon (H2), trois fois (H3), quatre (H4), etc.

Bien que la plupart des techniques d’émissions diphoniques soient fondées sur un agencement ou un usage particulier des cavités bucco-nasales, on distingue aussi le chant de gorge ou encore chant harmonique permettant également de produire plusieurs sons à la fois : un bourdon grave est produit avec la gorge tandis que des harmoniques aiguës sont produites simultanément par résonance.

Ce type de chant est pratiqué depuis longtemps dans diverses musiques traditionnelles du monde, plus particulièrement en Haute-Asie (chez les Mongols, Touvas, Khakashs, Bachkirs, Altaiens, Tibétains notamment), et de manière plus discrète parmi les Sardes d’Italie, les Rajasthanis d’Inde et les Xhosas d’Afrique du Sud.

Sommaire

Variétés du chant diphonique

En Asie, chez les Touvains, il existe quatre techniques principales avec bourdon du plus grave au plus aigu selon les styles kargyraa, borbannadyr, ezengileer et sygyt :

  • Dans le style kargyraa le fondamental a un timbre spécial (cor de chasse) avec une fréquence variant entre 55 Hz (la 0) et 65 Hz (do 1) ; les harmoniques se promènent entre H6, H7, H8, H9, H10 et H12. Chaque harmonique correspond à une voyelle déterminée.
  • Le fondamental dans le style borbannadyr (autour de 110 Hz) reste fixe, et a un timbre plus doux que celui du kargyraa. Le chanteur peut produire deux formants harmoniques au-dessus du fondamental. La parenté technique entre kargyraa et borbannadyr permet au chanteur d’alterner les deux styles dans la même pièce musicale.
  • Le style sygyt possède un fondamental plus aigu (entre 165 Hz-mi2 et 220 Hz-la 2) selon les chanteurs. La mélodie harmonique utilise les harmoniques H9, H10 et H12 (maximum jusqu’à 2 640 Hz).
  • Le style ezengileer est une variante de sygyt, caractérisé par un rythme dynamique particulier, venant de l’appui périodique des pieds du cavalier sur les étriers.

Les types de chant diphonique des Touvains sont fondés sur les mêmes principes d’émission sonore que ceux de la guimbarde. La mélodie est créée par les harmoniques d’un fondamental, engendrés par le résonateur d’Helmholtz que constitue la cavité buccale humaine dont on modifie les dimensions. Pour la guimbarde, c’est la lame vibrante qui attaque le résonateur. Pour le chant diphonique, ce sont les cordes vocales qui seront ajustées sur des hauteurs différentes, ce qui crée plusieurs fondamentaux, donc plusieurs séries d’harmoniques.

D’autres techniques secondaires ou moins connues ont été “retrouvées”, à savoir sigit moyen, kargiraa de steppe ou kargyraa de montagne, stil oidupa (inspiré du kargyraa et appelé d’après le nom du créateur, est considéré comme le premier style urbain).

Chez les Mongols, il existe 6 techniques différentes de chant diphonique : xamryn xöömi (xöömi nasal), bagalzuuryn xöömi (xöömi pharyngé), tseedznii xöömi (xöömi thoracique), kevliin xöömi (xöömi abdominal), xarkiraa xöömi (xöömi narratif avec un fondamental très grave) et isgerex (la voix de flûte dentale). Les chanteurs D. Sundui et Tserendavaa sont reconnus.

Chez les Khakashs est utilisé le style xaj. Avant la domination russe, les Khakashs avaient des styles de chant diphonique proches de ceux pratiqués par les Touvains, à savoir sygyrtyp (comme le sygyt), kuveder ou kylenge (comme le ezengileer) et kargirar (comme le kargyraa).

Chez les Gorno-Altaiens on trouve un style semblable kaj pour accompagner les chants épiques en plus des styles kiomioi, karkira et sibiski (respectivement ezengileer, kargyraa, sygyt).

Chez les Bachkirs il y a le style uzlau proche du ezengileer.

Chez les Tibétains des monastères Gyuto et Gyüme, le chant des tantras et des mantras use du chant de gorge. Leur tradition remonte à un groupe de maîtres indiens, le plus connu étant le yogin Padmasambhava, qui visitèrent le Tibet au VIIIe siècle et, plus récemment, au fondateur de l’un des quatre courants du bouddhisme tibétain, Tsongkhapa (1357-1419) qui aurait introduit le chant diphonique et le style de méditation. Il tenait, dit on, ce type de chant de sa divinité protectrice, Maha Bhairava qui, bien qu’étant une incarnation du Bodhisattva de la compassion (Avalokiteśvara) possédait un esprit terrifiant. Le visage central de Maha Bhairava est celui d’un buffle en colère. Aujourd’hui encore, les maîtres de cette école aiment comparer leur chant au beuglement d’un taureau.

Il existe plusieurs manières de réciter les prières : la récitation dans un registre grave avec vitesse modérée ou rapide sur des textes sacrés, les chants avec trois styles (ta chanté avec des mots clairement prononcés sur une échelle pentatonique ; gur avec un tempo lent utilisé dans les cérémonies principales et au cours des processions ; yang avec une voix extrêmement grave sur des voyelles produisant l’effet harmonique pour communiquer avec les Dieux). Les moines tibétains du monastère Gyüto sortent un bourdon extrêmement grave et un harmonique H10 correspondant à la tierce majeure au-dessus de la 3e octave du bourdon, tandis que les moines du monastère Gyüme produisent un bourdon grave et un harmonique 12 équivalant la quinte au-dessus de la 3e octave du bourdon. On dit que le chant des moines Gyutö correspond à l’élément Feu et celui des moines Gyüme exprime l’élément Eau. Ces moines obtiennent cet effet harmonique en chantant la voyelle O avec la bouche allongée et les lèvres arrondis.

Chez les Inuits on trouve le chant de gorge inuit.

À Formose (Taïwan), les Bununs, une des minorités ethniques, chantent les voyelles dans une voix très tendue et font sortir quelques harmoniques dans un chant à l’occasion de la récolte des millets (pasi but but).

En Inde, un Rajasthanais, enregistré en 1967, est arrivé à utiliser la technique du chant diphonique proche du style sygyt pour imiter la guimbarde et la flûte double satârâ. Cet enregistrement unique représente la seule trace de l’existence du phénomène du chant diphonique au Rajasthan.

En Afrique du Sud, les Xhosas pratiquent le chant diphonique (découvert en 1983), surtout les femmes. Cette technique s’appelle umngqokolo ngomqangi imitant l’arc musical umrhube. Ngomqangi est le nom d’un coléoptère. Selon une chanteuse, cette technique à double voix simultanée est inspirée du bruit du coléoptère placé devant la bouche utilisé comme bourdon en modulant la cavité buccale pour varier les harmoniques produits.

Il faut faire la distinction entre le chant diphonique (chant créant une mélodie d’harmoniques) et le chant à résonance harmonique (chant accompagné par moments par des effets harmoniques).

Dans certains types de chants où l’émission des voyelles est très résonantielle, ce qui permet aux chanteurs de créer un deuxième formant non intentionnel (le chant bouddhique japonais shōmyō, certains chants polyphoniques d’Europe de l’Est), ou intentionnel (le phénomène quintina – la 5e voix virtuelle, résultant de la fusion des 4 voix produites ensemble – des chants sacrés sardes).

En Italie, en Sardaigne, dans la région de la Barbagia, il existe deux styles de chant polyphonique. Le cuncordu est une forme de musique sacrée et emploie des voix normales. En revanche, le a tenore est une musique profane qui a des caractéristiques de chant diphonique. Le canto a tenore est pratiqué par un groupe de quatre chanteurs dont chacun a un rôle distinct.

Aspect acoustique

Plusieurs techniques de chant diphonique existent, telles le kargyraa, qui consiste à faire vibrer certains tissus présents au-dessus des cordes vocales, produisant une note grave — une octave en dessous de la note chantée — évoquant certains chants sacrés tibétains ; la technique de gorge est appelée sygyt, etc

Cette voix se caractérise par l’émission conjointe de deux sons, l’un dit “son fondamental” ou bourdon, qui est tenu à la même hauteur tout le temps d’une expiration, pendant que l’autre, plus aigu, dit “son harmonique” (qui est l’un des harmoniques naturels du son fondamental constituée d’un formant qui se déplace dans le spectre pour donner une certaine mélodie) varie au gré du chanteur. Ce son harmonique a un timbre proche à celui de la flûte (voix flûtée) ou à celui de la guimbarde (voix guimbarde).

La mise en évidence du bourdon est relativement facile, grâce aux sonagrammes. Le chant classique se caractérise par un doublement de l’écartement des raies harmoniques lorsque le chant passe à l’octave. Le chant diphonique présente un écartement égal des raies (ceci est prévisible puisque le bourdon demeure constant) pendant le passage d’une octave où l’on voit le déplacement du formant. En effet, on peut mesurer avec facilité la distance entre les raies pour chaque son émis ; dans ce cas, la perception de la mélodie du chant diphonique se fait par le biais du déplacement du formant dans le spectre sonore. Ceci n’est vraiment possible que si le formant se concentre dans l’aigu. L’énergie sonore est principalement divisée entre le bourdon et la deuxième voix constituée de deux harmoniques, au plus trois harmoniques.

Il a été parfois dit qu’une troisième voix pouvait être produite avec les techniques touvines, mais il est impossible d’affirmer que la troisième voix est contrôlée. On peut établir un parallèle entre chant diphonique et guimbarde. La guimbarde produit comme le chant diphonique plusieurs “voix” différentes : le bourdon, le chant et le contre chant. Cette troisième voix ressemble à un contre chant, peut être délibéré, mais sans doute non contrôlé.

Champ de liberté

Du point de vue du champ de liberté (désignant l’étendue des performances et comprenant le champ des formes musicales en intensité, en hauteur, en timbre), le chant diphonique équivaut au chant normal sauf en ce qui concerne l’ambitus. Le temps d’exécution dépend évidemment de la cage thoracique du chanteur et de sa respiration, mais également de l’intensité sonore en rapport avec le débit d’air.

Le champ de liberté concernant l’intensité est par contre relativement restreint et le niveau des harmoniques est lié au niveau du bourdon. Le chanteur a intérêt à garder un bourdon d’intensité suffisante afin de faire émerger un maximum d’harmoniques. Les harmoniques sont d’autant plus claires que le formant est étroit et intense.

Il est admis que pour une tonalité judicieuse (en fonction de l’exécutant et de la pièce musicale à interpréter), un chanteur peut moduler ou choisir entre les harmoniques 3 et 13. L’ambitus est fonction de la tonalité. Si la tonalité est en DO2, la réalisation se fait sur 14 harmoniques du 6e au 20e, ceci représentant une octave et une sixte. Si la tonalité est élevée, par exemple DO3, le choix se fait entre les harmoniques 3 et 10 soit 8 harmoniques, représentant également une octave et une sixte.

L’ambitus du chant diphonique est plus restreint que celui du chant normal. Si en théorie le chanteur choisit la tonalité qu’il veut entre DO2 et DO3, en pratique, il réalise instinctivement un compromis entre la clarté de la deuxième voix et l’ambitus de son chant. Si la tonalité est élevée, par exemple, DO3, le choix des harmoniques se trouve restreint, mais la deuxième voix est alors très claire. Dans le cas d’une tonalité en DO2, la deuxième voix est plus confuse, alors que l’ambitus atteint son maximum. La clarté des sons peut s’expliquer par le fait que dans le premier cas, le chanteur ne peut sélectionner qu’un harmonique, alors que dans le deuxième cas il peut en sélectionner presque deux. Pour la question de l’ambitus, la mise en action des résonateurs buccaux est indépendante de la tonalité des sons émis par les cordes vocales ; le chanteur sélectionne toujours les harmoniques dans la même zone du spectre que ceux-ci soient écartés ou resserrés.

Le chanteur choisit la tonalité instinctivement pour avoir à la fois l’ambitus maximum et le maximum de clarté, le meilleur compromis se trouvant entre DO2 et le LA2 : on peut ainsi produire avec les harmoniques à partir d’un son fondamental entre DO2 et LA2 une mélodie couvrant jusqu’à deux octaves.

Perception de la hauteur des sons

La hauteur des sons tient plus de la psycho-acoustique que de la physique. Le Sona-Graph permet d’obtenir l’image du son étudié. Les manuels d’acoustiques disent que la hauteur des sons harmoniques, comportant un fondamental de fréquence F et une suite d’harmoniques F1,F2… multiples de F, est donnée par la fréquence du premier son fondamental. Ceci n’est pas tout à fait exact car il est possible de supprimer électroniquement ce fondamental sans pour cela changer la hauteur subjective du son perçu. Si cette théorie était exacte, une chaîne électro-acoustique ne reproduisant pas l’extrême grave changerait la hauteur des sons. Il n’en est rien car le timbre change mais pas la hauteur. Certains chercheurs proposent une autre théorie plus cohérente : la hauteur des sons est donnée par l’écartement des raies harmoniques ou la différence de fréquence entre deux raies harmoniques. Que devient la hauteur des sons dans ce cas pour les spectres sonores dit “à partiels ” (les partiels sont les harmoniques qui ne sont pas des multiples entiers du fondamental) ? Dans ce cas, l’individu perçoit une moyenne de l’écartement des raies dans la zone qui l’intéresse.

On désigne par l’expression “spectre à formant” le renforcement en intensité d’un groupe d’harmoniques constituant un formant, c’est-à-dire une zone de fréquences où l’énergie est grande. En rapport avec l’existence de ce formant, une deuxième notion de la perception de hauteur se fait jour. On s’est en effet aperçu que la position du formant dans le spectre sonore donnait la perception d’une nouvelle hauteur. Dans ce cas, il s’agit de la position du formant dans le spectre. Cette théorie doit être nuancée, car des conditions s’imposent.

La disparition du formant ne change pas la hauteur des sons. La perception de la hauteur par la position du formant n’est possible que si celui-ci est très aigu, à savoir que l’énergie du formant n’est répartie que sur 2 ou 3 harmoniques. Si la densité d’énergie du formant est grande, et que le formant est étroit, celui-ci donnera une information de hauteur en plus de la tonalité globale du morceau chanté, ouvrant la possibilité technique du chant diphonique / diplophonique / biformantique.

Mécanismes de production sonore

Un résonateur est une cavité pouvant résonner dans un domaine de fréquences. Le système excitateur – le pharynx et les cordes vocales – émet un spectre harmonique, et les résonateurs amplifient celui-ci. Un bon chanteur est capable de choisir ces fréquences : lorsqu’un chanteur porte la voix pour se faire entendre dans une grande salle il adapte ses résonateurs (volume de la cavité buccale, de la section de l’ouverture de la bouche et de la position des lèvres) pour émettre le maximum d’énergie.

Pour un chant diphonique, il faut deux voix : le bourdon, la première, provient du fait que celui-ci est intense à l’émission et qu’il ne subit pas le filtrage des résonateurs. Son intensité, supérieure à celle des harmoniques, lui permet de survivre grâce à un rayonnement buccal et nasal. En fermant la cavité nasale, le bourdon diminuait en intensité : d’une part une source de rayonnement est fermée, et d’autre part le débit d’air est réduit de même que l’intensité sonore émise au niveau des cordes vocales.

L’intérêt d’avoir plusieurs cavités est primordial. Seul le couplage entre plusieurs cavités permet d’avoir un formant aigu tel que l’exige le chant diphonique. La tonalité du son monte si la bouche est grande ouverte. Pour mettre en évidence la formation d’un formant aigu, on a essayé de produire deux sortes de chant diphonique : l’un avec la langue au repos, la bouche devenant une grande et unique cavité, et l’autre avec la pointe de la langue remontant et touchant la voûte palatine, divisant ainsi la bouche en deux cavités. Dans le premier cas, les sons ne sont pas clairs. On entend très bien le bourdon mais la deuxième voix est difficile à entendre et la mélodie s’impose difficilement à l’écoute. Avec une cavité buccale unique, l’énergie du formant se disperse sur trois ou quatre harmoniques et la sensation de la deuxième voix devient beaucoup plus faible et l’effet diphonique disparaît. Par contre, quand la langue divise la bouche en deux cavités, le formant aigu et intense réapparaît.

Le chant diphonique nécessite un réseau de résonateurs sélectifs qui filtre uniquement les harmoniques désirés par le chanteur. Dans le cas d’un couplage serré entre les deux cavités, celles-ci donnent une résonance unique très aiguë. Si le couplage devient lâche, le formant a une intensité moins grande, et on étale l’énergie sonore dans le spectre. Si ces cavités se réduisent à une seule cavité, la courbe pointue devient encore plus ronde et on aboutit au premier exemple évoqué, consistant en un chant diphonique très flou (langue en position de “repos”).

Réalisation du chant diphonique

On peut produire les deux sons simultanés grâce à trois méthodes distinctes :

  • avec une cavité buccale : la langue peut être à plat, en position de repos, ou la base de la langue légèrement remontée sans jamais toucher la partie molle du palais. Seules la bouche et les lèvres bougent. Par cette variation de la cavité buccale en prononçant les deux voyelles ü et i liées sans interruption (comme si l’on disait “oui” en français), on perçoit une faible mélodie des harmoniques qui ne dépasse guère l’harmonique 8.
  • avec deux cavités buccales : on chante avec la voix de gorge, on prononce la lettre “L”, dès que la pointe de la langue touche le centre de la voûte palatine, on maintient cette position, on prononce ensuite la voyelle “Ü” avec toujours la pointe de la langue collée fermement contre le point de fixation entre le palais dur et le palais mou, on contracte les muscles du cou et ceux de l’abdomen pendant le chant comme si on essayait de soulever un objet très lourd, on donne un timbre très nasalisé en l’amplifiant à travers les fosses nasales, on prononce ensuite les deux voyelles “I” et “Ü” (ou bien “O” et “A”) liées mais alternées l’une après l’autre en plusieurs fois. Ainsi sont obtenus le bourdon et les harmoniques en pente ascendante et descendante selon le désir du chanteur. On varie la position des lèvres ou celle de la langue pour moduler la mélodie des harmoniques. La forte concentration musculaire augmente la clarté harmonique.
  • avec la base de la langue remontée et mordue par les molaires supérieurs pendant que le son de gorge est produit sur les deux voyelles “I” et “Ü” liées et répétées plusieurs fois pour créer une série d’harmoniques descendants et ascendants. Cette série d’harmoniques se trouvent dans la zone entre 2KHz et 3,5 KHz. Cette méthode ne permet pas le contrôle de la mélodie formantique et n’est qu’une démonstration expérimentale sur les possibilités de timbre harmonique.

Dans les années 1980, l’analyse comparée des spectogrammes fibroscopiques, stroboscopiques, laryngoscopiques et ceux du Sona-Graph a permis de classer pour la première fois les différents styles de chant diphonique d’Asie et d’Afrique du Sud en fonction des résonateurs, des contractions musculaires et des ornementations :

  • en mettant en évidence le bourdon harmonique et la mélodie fondamentale, ce qui est le contraire du principe initial du chant diphonique traditionnel ;
  • en croisant les deux mélodies (fondamentale et harmoniques) et en explorant le chant triphonique ;
  • en mettant en évidence les trois zones harmoniques sur la base d’un même son fondamental.

Utilisation thérapeutique du chant diphonique ?

Le Dr Tomatis a développé une théorie selon laquelle il existerait une relation entre harmonie et santé (mentale ou physique). Des musiciens ont voulu faire du chant diphonique un nouvel outil pour des applications thérapeutiques (Trần Quang Hải, Jill Purce, Jonathan Goldman, Dominique Bertrand, Philippe Barraqué, Bernard Dubreuil, Emmanuel Comte).

Le pouvoir supposé du chant dépend de la mélodie, des qualités harmoniques de la voix et de la puissance du fondamental. Les principaux objectifs du chant diphonique, quand il est utilisé avec des visées thérapeutiques, est de rétablir la concentration et l’équilibre psychologique (voir thérapie vocale). On retrouve ces objectifs dans certaines pratiques chamaniques ou dans le chant des moines tibétains[réf. souhaitée].

Jill Purce (Royaume Uni), par exemple, propose un travail fondé sur la respiration et le chant diphonique auprès de personnes qui bégaient, éprouvent des sensations de blocage dans la gorge, sont effrayées par leur propre voix ou qui souffrent d’inhibition, de troubles respiratoires, d’anxiété, de fatigue[réf. nécessaire].

Le chant diphonique a également été utilisé dans le but de diminuer la douleur physique pendant l’accouchement. Mais il n’existe aucune étude confirmant l’efficacité de cette méthode.

Aspect historique

La découverte et l’étude du chant diphonique remonte au XIXe siècle. M. Rollin, professeur au Conservatoire de Paris, au XIXe siècle, a dit qu’à la Cour de Charles le Téméraire, un baladin chantait à deux voix simultanées, la deuxième étant à la quinte de la première. Manuel Garcia, dans son Mémoire sur la voix humaine présenté à l’Académie des Sciences le 16 novembre 1840, a signalé le phénomène à double voix chez les paysans russes. Plusieurs voyageurs ont rapporté dans leurs récits de voyages qu’au Tibet se pratiquait le dédoublement de la voix pendant certaines récitations de mantras. Mais cette constatation n’était pas prise au sérieux.

En 1934, des chercheurs russes enregistrèrent des disques 78 tours de chant diphonique chez les Touvains ; étudiés par Aksenov, ils sont l’objet d’un article (publié en 1964 en URSS et traduit en allemand en 1967 et en anglais en 1973) considéré comme le premier sur le chant diphonique d’une grande valeur scientifique. Depuis, de nombreux chercheurs, acousticiens, ethnomusicologues, ont essayé de “dévoiler” les mystères du chant diphonique. On peut en citer quelques-uns : Lajos Vargyas (Hongrie, 1967), Emile Leipp (France, 1971), Gilles Léothaud (France, 1971), Roberte Hamayon et Mireille Helffer (France, 1973), Suzanne Borel-Maisonny (France, 1974), Trần Quang Hải (France, 1974), Richard Walcott (États-Unis, 1974), Sumi Gunji (Japon, 1980), Roberto Laneri (1983), Lauri Harvilahti (Finlande, 1983), Alain Desjacques (France, 1984), Ted Levin (États-Unis, 1988), Carole Pegg (Grande-Bretagne, 1988), Graziano Tisato (Italie, 1988), Hugo Zemp (France, 1989), Mark Van Tongeren (Pays-Bas, 1993).

Des appellations diverses furent proposées par des chercheurs français au cours des trente dernières années : « chant diphonique » (Emile Leipp, Gilles Léothaud en 1971, Tran Quang Hai en 1974), « voix guimbarde » (Roberte Hamayon et Mireille Helffer, 1973), « chant diphonique solo » (Claudie Marcel-Dubois, 1978), « chant diplophonique » (diplo en grec signifiant “deux”, la diplophonie, terme d’origine médicale, désigne l’existence simultanée de deux sons de hauteur différente dans le larynx, Tran Quang Hai, 1993) et « chant biformantique » (chant à deux formants, Tran Quang Hai, 1994). Le terme de « chant harmonique » est plus délicat car chaque chant, quel que soit le type de voix, est créé par une série d’harmoniques renforcés différemment et sélectionnés suivant la volonté du chanteur pour créer une mélodie.

Des chanteurs ou compositeurs comme Trần Quang Hải (France, 1975), Demetrio Stratos (Italie, 1977), Roberto Laneri (Italie, 1978), David Hykes et son Harmonic Choir (États-Unis, 1983), Joan La Barbara (États-Unis, 1985), Meredith Monk (États-Unis, 1980), Michael Vetter (Allemagne, 1985), Christian Bollmann (Allemagne, 1985), Michael Reimann (Allemagne, 1986), Noah Pikes (Angleterre, 1985), Tamia (France, 1987), Quatuor Nomad (France, 1989), Valentin Clastrier (France, 1990), Bodjo Pinek (Yougoslavie, 1987), Josephine Truman (Australie, 1987), Iegor Reznikoff (France, 1989), Rollin Rachelle (Pays-Bas, 1990), Thomas Clements (France, 1990), Sarah Hopkins (Australie, 1990), Mauro Bagella (Italie, 1995), Lê Tuân Hùng (Australie, 1996) ont introduit l’effet du chant diphonique dans les musiques actuelles (world music, New Age, etc.) et dans la musique électro-acoustique.

Des musicothérapeutes, tels que Jill Purce (Royaume Uni), Dominique Bertrand (France), Catherine Darbord (France), Philippe Barraqué (France) ont utilisé la technique du chant diphonique comme moyen thérapeutique reprenant une tradition chamanique, parfois combiné avec la gymnastique holistique dans le but de soigner les gens par les vibrations harmoniques et les mouvements corporels.

Film

Maîtres de chant diphonique, Jean-François Castell, Les Films Du Rocher/La Curieuse, 2010 – Prix Bartok du meilleur film ethnomusicologique au 30e Festival International Jean Rouch 2011

Le Chant des harmoniques, co-auteurs : Tran Quang Hai & Hugo Zemp, réalisateur : Hugo Zemp, CNRS Audio-visuel, film 16 mm, 38 minutes, couleur, 1989 – Grand Prix du film scientifique à Parnü (Estonie), 1990, Prix Spécial de Recherche Scientifique, Palaiseau, 1990, Grand Prix du Film scientifique, Montréal, 1991 (réédition en DVD en 2005 – version française et en DVD en 2006 – version anglaise)

Le Chant diphonique, co-auteurs : Tran Quang Hai & Luc Souvet, DVD, 28 minutes, CRDP, Saint Denis, Ile de la Réunion, 2004.

Références

Bibliographie

  • (en) Jonathan Goldman, Healing Sounds: The Power of Harmonics,
  • Philippe Barraqué, À la source du chant sacré, Éditions Diamantel, 1999.
  • Philippe Barraqué, La guérison harmonique (techniques de chant diphonique), Éditions Jouvence, 2004.
  • Ezzu, Alberto, (2009). “Il Canto degli Armonici – Storia e tecniche del canto difonico”, Ed. Musica Practica, Torino.
  • Catherine Darbord : “Chant harmonique, résonance intérieure : Méthode d’apprentissage” (CD), Ed. Prikosnovenie (2011).
  • Cyprien Bole, 2012, Chanter seul à deux voix, méthode complète de chant diphonique, livre & CD, Éditions les 2 oreilles, p. 1-134.

Liens externes

This blog is focused on Trân Quang Hai