MỤC ÂM NHẠC do TRẦN QUANG HẢI phụ trách ở trang nhà http://vietsciences.free.fr


http://vietsciences.free.fr/forum/viewforum.php?f=13

Image

Xin mời vào mục âm nhạc để đọc những bài viết về âm nhạc nói chung (cổ truyền, tân nhạc, sinh hoạt âm nhạc việt nam) do Trần Quang Hải phụ trách từ năm 2004. Có trên 2.000 bài đuợc gài trong mục này .

THÚY BÌNH : GS-TS Trần Quang Hải: Muốn đóng góp nhiều hơn cho âm nhạc dân tộc


TRÒ CHUYỆN CHỦ NHẬT

GS-TS Trần Quang Hải: Muốn đóng góp nhiều hơn cho âm nhạc dân tộc
Thứ bảy, 14/11/2009, 22:15 (GMT+7)

Sinh trưởng trong một gia đình 5 đời nhạc sĩ cổ truyền Việt Nam, GS-TS Trần Quang Hải  – con trai của GS Trần Văn Khê – bắt đầu làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con Người (Musée de l’Homme) ở Paris – Pháp từ năm 1968 đến nay. Bên cạnh những nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực Dân tộc âm nhạc học: hát đồng song thanh, phát triển gõ muỗng, phát triển kỹ thuật biểu diễn đàn môi… đang được thế giới quan tâm, GS Trần Quang Hải và vợ là nghệ sĩ Bạch Yến, đã thực hiện hơn 3.000 buổi giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở nhiều nước trên thế giới…

PV: Thời gian gần đây, khán giả yêu nhạc dân tộc thành phố biết đến ông là một GS-TS rất tài hoa qua một số chương trình biểu diễn, giới thiệu những nét độc đáo của nghệ thuật âm nhạc truyền thống diễn ra tại nhà GS Trần Văn Khê. Đây có phải là hướng đi mới của ông sau những năm dài xa quê hương, học tập, nghiên cứu, giới thiệu và biểu diễn nhạc truyền thống ở các nước trên thế giới?

Giáo sư Trần Quang Hải

GS-TS TRẦN QUANG HẢI: Công việc hiện nay của tôi là đi khắp thế giới để giới thiệu, giảng dạy hoặc tham gia các hội thảo về âm nhạc dân tộc, ví dụ như Festival Cồng chiêng quốc tế 2009 được tổ chức tại tỉnh Gia Lai trong những ngày này. Sau buổi hội thảo, tôi sẽ về Pháp. Đến ngày 12-12, tôi lại về nước tham gia hội thảo tổ chức tại Hà Nội, cùng tham luận với những chuyên gia về hát xoan để nghiên cứu và chuẩn bị tư liệu lập hồ sơ gửi UNESCO, với mong muốn hát xoan Phú Thọ được công nhận là văn hóa phi vật thể, được đưa vào danh sách bảo trợ khẩn cấp. Nghĩa là nơi nào mời, tôi sẽ nhận lời tham gia, vì sự bảo tồn, gìn giữ và phát huy nghệ thuật âm nhạc truyền thống dân tộc.

Riêng những chương trình giới thiệu và biểu diễn mới đây tại nhà GS Trần Văn Khê, ngoài việc thăm ba, tôi muốn đóng góp chút công sức của mình trong việc giới thiệu, truyền bá về âm nhạc cổ truyền Việt Nam và của các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước trong khu vực châu Á.

Nhiều khán giả thắc mắc, vì sao GS không tham gia giảng dạy ở Việt Nam trong khi có rất nhiều người, trong đó có nhiều bạn trẻ rất thích các buổi nói chuyện, giới thiệu nhạc cổ truyền của ông?

Không phải tôi không muốn về… Hiện chỉ có ba tôi thường tổ chức định kỳ các buổi sinh hoạt về âm nhạc truyền thống dân tộc, nên tôi tham gia cùng ông để giới thiệu những nét đặc trưng, độc đáo của nhạc dân tộc Việt Nam và của thế giới. Đã có nhiều bạn trẻ hỏi tôi: “Sao chú về đây, lại không nói chuyện ở chỗ rộng hơn, để cho nhiều người cùng đến xem, thưởng thức, hiểu thêm về những cái hay, cái đẹp của âm nhạc dân tộc…?”. Tôi bảo rằng, tôi không thể tự tổ chức những buổi nói chuyện lớn như thế, nếu có một đơn vị đứng ra thực hiện các chương trình về nhạc dân tộc, hay có dự án giảng dạy về Dân tộc Âm nhạc học… mời tôi, tôi sẽ nhiệt tình tham gia.

Ngày nay, nhạc dân tộc Việt Nam giới thiệu ra nước ngoài ít nhiều còn hạn chế, thiếu những dấu ấn, ông nghĩ sao về vấn đề này?

Điều đó đúng. Hiện có khá nhiều đoàn Việt Nam đi giới thiệu âm nhạc dân tộc ra thế giới nhưng cách biểu diễn nhạc dân tộc mang tính ngoại lai nhiều quá! Từ trang phục, đến phong cách trình diễn… đều mang tính chất làm show, không phải biểu diễn nhạc truyền thống.

Và hoạt động âm nhạc dân tộc trong nước cũng thiếu sự bứt phá cần thiết…

Một loại hình nghệ thuật truyền thống càng có nhiều người trẻ tham gia thì càng phát triển mạnh. Nhưng ngày nay, giới trẻ vọng ngoại nhiều hơn, cả khán giả lẫn ca sĩ thích chạy theo các trào lưu âm nhạc mới, trong khi đó trình độ biểu diễn và thưởng thức nghệ thuật của nhiều ca sĩ và công chúng lại bị hạn chế nhiều mặt. Loại hình cải lương thường trình diễn những tuồng tích cũ, nghệ thuật hát bội chỉ phục vụ được cho khán giả lớn tuổi… không thu hút được lớp trẻ, nên việc bảo tồn, gìn giữ và phát triển nhạc cổ truyền dân tộc không thể làm thành phong trào, thiếu sức sống.

Rất đông khán giả đến với buổi giới thiệu các công trình nghiên cứu dân tộc âm nhạc học của GS-TS Trần Quang Hải.Ảnh: L.T.B.

Có lẽ vì thế nên GS Trần Văn Khê từng nhận định: “Trong vòng 20 năm nữa, nếu chúng ta không làm tốt công tác bảo tồn, gìn giữ và phát triển âm nhạc dân tộc thì âm nhạc dân tộc sẽ lụi tàn và mất đi”. Theo ông thì sao?

Tôi luôn muốn về Việt Nam, được đi từ Bắc vào Nam, tham gia giảng dạy, truyền đạt, huấn luyện các cán bộ về chuyên môn và dạy cho lớp trẻ… nhưng vẫn còn thiếu những điều kiện… Theo tôi, để gìn giữ và phát triển nhạc cổ truyền dân tộc, điều cấp thiết nhất là cần có sự đào tạo tốt tại Việt Nam, làm thành một phong trào để có nhiều người tiếp nối, giảng dạy, theo nghề.

Ta nên tổ chức những hội thảo, phác họa chương trình giáo dục âm nhạc trong nhà trường, quan tâm đến việc giáo dục âm nhạc từ nội thành đến vùng sâu vùng xa, để làm sao ngay từ nhỏ các em học sinh đã có một kiến thức căn bản về âm nhạc Việt Nam nói chung, sau đó học thêm về nhạc cổ điển Tây phương, nhạc dân tộc Việt Nam và các nước láng giềng…

Chưa kể cũng cần có thêm nhiều nhạc viện để đào tạo các tài năng trẻ và tạo điều kiện để các tài năng ra trường có việc làm ổn định cuộc sống. Một thư viện âm nhạc cung cấp thông tin âm nhạc từ căn bản đến nâng cao cũng là điều mong mỏi của nhiều người quan tâm đến âm nhạc.

Bên cạnh đó, các đài truyền hình nên thực hiện những chương trình giáo dục âm nhạc, định hướng âm nhạc, giới thiệu những gì hay, độc đáo, tiêu biểu của nhạc truyền thống dân tộc Việt Nam và các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước châu Á… đến với công chúng cả nước.

THÚY BÌNH

http://www.sggp.org.vn/gapgocuoituan/2009/11/208570/

TRẦN QUANG HẢI : LỊCH SỬ TÂN NHẠC VIỆT NAM , phần 2


Lịch sử Tân Nhạc Việt Nam, phần 2

Vietsciences-Trần Quang Hải         24/08/2004TQH in front of Eiffel Tower 2008

Phần II

 5. Nhạc di tản từ 30 tháng 4, 1975.

 30 năm lặng lẽ trôi qua.30 năm đầy biến chuyển trong lịch sử thế giới nói chung và trong lịch sử Việt Nam nói riêng. Chỉ riêng về ngành âm nhạc Việt Nam, nhất là ở hải ngoại, số lượng bài bản tân nhạc , những ca khúc đã thay đổi nhiều đề tài, đã tăng số lượng theo một mức độ ngoài sức tưởng tượng của loài người. Những năm đầu của thời di tản cho thấy những băng nhựa đủ loại, từ các cuốn băng sao lại băng cũ thời trước 75, đến các băng được sản xuất tại Âu Mỹ do hàng chục trung tâm băng nhạc. Ðến năm 1988 mở màn cho giai đoạn dĩa laser loại compact disc. Chỉ trong vòng 5 năm (1988-1993) hàng nghìn dĩa laser tràn lan khắp nơi. Loại dĩa laser video phát triển từ 1992 lúc phong trào hát Karaoke khởi xướng mạnh tại Hoa Kỳ và Canada. Nhiều quán cà phê và quán phở, tiệm ăn ở Bắc Mỹ phải trang bị máy karaoke và luôn cả tư nhân cũng thích hát Karaoke vào cuối tuần trong những cuộc họp bạn tại gia. Gần đây hơn, các loại dĩa CDV, và DVD thay thế loại laserdisc làm bành trướng mạnh phong trào Karaoke tại tư gia. Video về tân nhạc cũng rất thịnh hành. Hàng mấy chục trung tâm băng nhạc xuất hiện tại Âu Mỹ và các ca sĩ tự lập các trung tâm sản xuất riêng. Trong phạm vi nhạc di tản, tôi chỉ đề cập tới tân nhạc Việt Nam ở hải ngoại. Tân nhạc Việt Nam ở hải ngoại (1975-2005) Giai đoạn di tản qua 25 năm cho thấy sức mạnh vô cùng mãnh liệt của ngươì Việt trong lĩnh vực sáng tác. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người làm văn nghệ lúc nào cũng hăng say tìm nguồn hứng qua những sáng tác âm nhạc. Một số nhạc sĩ ra đi trong đợt di tản đầu tiên gồm có Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Nam Lộc, Song Ngọc, Tô Huyền Vân, Huỳnh Anh. Năm giai đoạn thể hiện lịch sử tiến triển của tân nhạc hải ngoại:

1.      Nhớ Quê Hương, nhớ Saigon

Ðất nước vừa bị mất, quê hương phải lìa xa. Saigon vừa bị đổi tên. Niềm thất vọng tràn trề dâng cao trong lòng tất cả người dân Việt phải bỏ xứ ra đi trong uất hận, căm tức, tủi nhục. Toán người di tản ra đi đầu tiên đã đến Mỹ vào giữa mùa xuân năm 1975. Phải đợi tới cuối thu 1975, một số nhạc sĩ có tên tuổi ở Saigon đã ra đi trong đợt đầu và trong số đó có Nam Lộc. Nam Lộc là người đã viết một bản nhạc vào cuối năm 1975 và là bài thành công nhứt trong giai đoạn đầu của di tản (1975-1980). Ðó là bài “Saigon Ơi ! Vĩnh Biệt “. Saigon , thành phố của bao kỷ niệm, của nhớ nhung, của hàng triệu con tim bi. rung động mỗi khi hai chữ Saigon được nhắc đến, là đề tài cho một số nhạc phẩm như “Saigon Ơi! Vĩnh Biệt !” (Nam Lộc , 1975), “Saigon Ơi ! Thôi Ðã Hết” (Nam Lộc , 1976), “Saigon, Bây giờ Buồn Không Em ?” (Song Ngọc, 1976), “Ðêm Qua Mơ Thấy Saigon” (Hoàng Thi Thơ, 1976), “Saigon Niềm Nhớ Không Tên” (Nguyễn Ðình Toàn, 1977), “Khi Xa Saigon” (Lê Uyên Phương, 1980), “Bài Cuối Cho Saigon” (Song Ngọc, 1981), “Saigon Áo Xanh Nón Lá ” (Anh Bằng – Vũ Kiện, 1981), “Trả lại Saigon Cho Tôi” , “Saigon Ra Ðường” (thơ Duyên Anh, nhạc Vũ Trung Hiền, 1982), “Saigon Năm Xưa “(Trần Quang Hải, 1985).
 Ngày 9 tháng 5, 1976 tại Los Angeles, California, lễ kỷ niệm một năm xa xứ đã được một số nghệ sĩ Việt tổ chức một chương trình đại nhạc hội đầu tiên giống như ở Saigon cùng lúc với sự chào đời cuốn băng thực hiện lần đầu tại hải ngoại do nữ ca sĩ Thanh Thúy hát với tựa cuốn băng Thanh Thúy 1: Saigon ơi! Vĩnh biệt đánh dấu một biến chuyển mấu chốt trong lĩnh vực tân nhạc di tản và sản xuất băng nhạc tại hải ngoại.
 Ở Âu châu tại Paris, phải đợi tới tháng 9,1976 mới thấy sự bùng nổ của chương trình nhạc hội qua sự cố gắng của Lê Lai (đài VOA) từ Hoa Thịnh Ðốn sang Paris để tổ chức 4 buổi trình diễn tân nhạc, dân ca và ngâm thơ với Khánh Ly, Hoàng Oanh và sự cộng tác của nhạc sĩ Trần Quang Hải . Sự thành công của chương trình thi ca nhạc di tản đầu tiên đã khơi mào cho chương trình thi ca vũ nhạc kịch của đoàn Hoàng Thi Thơ từ Mỹ sang Pháp và Thụy Sĩ trình diễn vào cuối tháng 10, 1976.
Các trung tâm băng nhạc lần lần xuất hiện ở Mỹ và Pháp. Từ 1988 bắt đầu chuyển mình sang phong trào làm dĩa laser. Cả chục nghìn dĩa CD đã được tung ra trên thị trường băng nhạc Việt Nam từ 1987. Nhạc sĩ Phạm Duy là người đầu tiên đưa nhạc Việt vào dĩa CD do Phạm Duy Cường soạn hòa âm và sản xuất với tựa đề “Nhạc Tình Phạm Duy” vào cuối năm 1987. Vào đầu tháng 2, 1988, tại Paris, nhà sản xuất dĩa hát Pháp Playasound đã tung ra thị trường quốc tế dĩa laser đầu tiên về nhạc cổ truyền Việt Nam với Trần Quang Hải và Bạch Yến qua dĩa “Rêves et Réalités/Trần Quang Hải et Bạch Yến” (Giấc Mơ và Sự Thật).

Băng vidéo trở thành một món ăn tinh thần cần thiết cho cộng đồng người Việt hải ngoại. Trung tâm Thúy Nga trở nên một nơi phát hành các chương trình ca nhạc hay nhất từ 1989 trở đi với sự tuyển chọn ca sĩ, phối hợp vơí kỹ thuật thu hình do một cơ quan chuyên nghiệp Pháp đảm nhận. Phong trào Karaoke lan tràn vào giới nhạc Việt từ 1990.

1.      Nhạc tranh đấu và kháng chiến

Sau ba năm im hơi 1975-1978), sống ẩn dật tại Miami (Florida) bên Mỹ trong khi chờ đợi các con (ban nhạc The Dreamers) còn kẹt lại ở Saigon (sau đó toàn ban nhạc The Dreamers đã được sang Mỹ và hiện định cư tại Midway City, California), trong khi ca sĩ Duy Quang đã nhờ Julie Quang (bây giờ chỉ mang tên Julie thôi sau khi chia tay với Duy Quang) để sang Pháp vào cuối năm 1978, Phạm Duy, người sáng tác nhạc nhiều nhất ở Việt Nam, lại xuất hiện lộ diện qua quyển nhạc “Hát Trên Ðường Tạm Dung” (1978). Bản “Tôi Ði Trên Ðường Tạm Dung” và bản “Nguyên Vẹn Hình Hài” của Phạm Duy đã là ngọn đuốc đốt cháy tạo nguồn hứng sáng tác cho một số nhạc sĩ trẻ để tung ra những nhạc phẩm tả nỗi uất ức oán hờn căm thù đi liền với phong trào phục quốc kháng chiến cùng lúc với sự xuất hiện của Võ Ðại Tôn và Hoàng Cơ Minh. Nguyệt Ánh , một hiện tượng mới trong làng tân nhạc từ 1980 bắt đầu sáng tác nhiều nhạc phẩm phục quốc qua những cuốn băng như “Em nhớ màu cờ”, “Dưới Cờ Phục Quốc”, vv… Tên Nguyệt Ánh đi liền với giai đoạn phục quốc, kháng chiến.
 Việt Dzũng, một nhạc sĩ trẻ, hăng say kháng chiến, nói lên tiếng nói căm hờn qua các bản nhạc đầy ý chí trong hai cuốn băng “Lưu Vong Khúc” và “Kinh Tỵ Nạn” (1981). Trần Quang Hải và Bạch Yến đã sáng tác một số nhạc phẩm đấu tranh , điển hình nhất là “Thương Nhớ Quê Hương” (1978), “Cầu Mong Cho Mau Hòa Bình” (1978), và “Em Về Giữ Lửa” ( phổ thơ của Minh Ðức Hoài Trinh, 1978) Chí nguyện đoàn hải ngoại phục quốc Việt Nam, với mục đích yểm trợ “chiến dịch người về” đã xuất bản hai cuốn băng “Hát Cho Những Người Về ” (1981), và “Rực Lửa Trời Ðông” (1983) gồm những ca khúc nung nấu tinh thần kháng chiến ở hải ngoại và quốc nội. Nhiều chủ đề được tung ra qua một số băng nhạc sản xuất từ 1976-80 như “Tháng Tư Buồn”, “Sài Gòn Vĩnh Biệt Tình Ta”, “Ngày Quốc Hận 30 tháng 4, 75”, “Người Di Tản Buồn”, “Hát Cho Người Tìm Tự Do”, “Quê Hương Bỏ Lại”, vv…

2.      Nhạc tả lại cảnh lao tù Việt Nam

Năm 1981, Phạm Duy sáng tác 20 bài lấy tựa là “Ngục Ca” qua lời thơ của ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện trong tập thơ “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực” . Hà Thúc Sinh sáng tác trong thời gian học tập cải tạo ở Việt Nam . Sau khi vượt biển , được định cư tại Mỹ, đã xuất bản tập nhạc “Tiếng Hát Tủi Nhục” (1982). Châu Ðình An, một nhạc sĩ trẻ , đã đóng góp qua tập nhạc “Những Lời Ca Thép ” (1982). Phạm Duy, Lê Uyên Phương, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Nguyễn Ðức Quang ở Mỹ, Nguyễn Hữu Nghĩa, Phan Ni Tấn, Vy Hùng ở Canada, Trần Quang Hải, Duyên Anh, Ngô Càn Chiếu ở Pháp, Nguyễn Quyết Thắng ở Hòa Lan, Nguyễn Ðình Ngoạn ở Ðức, Phạm Quang Ngọc, Cung Ðàn Nguyễn Sỹ Nam, Hoàng Ngọc Tuấn ở Úc châu đã viết nhiều bài ca tranh đấu cũng như những ca khúc phù hợp với phong trào phục quốc.

3.      Sự phục sinh của nhạc tiền chiến

 Từ năm 1982 trở đi, hiện tượng phục sinh nhạc tiền chiến được phát triển rộng rãi. Những ca sĩ đua nhau sản xuất băng nhạc hát lại những bài hát tiền chiến hay những bài trước 1975. Bạch Yến, Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Kim Anh, Minh Hiếu, Thanh Tuyền, Hương Lan, Julie, Huyền Châu, Bích Thuận, Phương Dung, Kim Loan, Duy Quang, Elvis Phương, Thanh Mai, vv…. trong những năm 1983-85 đã phát hành trên 100 cuốn băng nhạc làm sống lại những bài ca tiền chiến như để gợi lại biết bao kỷ niệm của thời quá khứ. Chủ đề phục quốc, kháng chiến nhường bước cho chủ đề tình yêu và kỷ niệm quê hương sau 10 năm lưu vong. Một số nhạc sĩ như Lam Phương, Ðức Huy, Phan Kiên, Duy Quang, Ngô Minh Khánh, Trần Quang Hải, Duyên Anh trong khoảng thời gian 1982-85 đã sáng tác rất nhiêù nhạc phẩm ca ngợi tình yêu đôi lứa. “Yêu Em Dài Lâu” (Ðức Huy), “Ru Ðơì Phù Ảo” (Duyên Anh, 1984), “Anh Cần Em” (Trần Quang Hải -Lương Ngọc Châu, 1982). Giai đoạn này đánh dấu một chiều hướng mới trong làng nhạc Việt với sự viết lời ngoại quốc (Pháp và Anh) trên nhạc Việt do nhạc sĩ Trần Quang Hải đề xướng và mang nhạc Việt do nhạc sĩ Việt sáng tác vào thị trường quốc tế.

1.      Hưng Ca, nhạc trẻ, nhạc song ngữ

 Phong trào phổ thơ được bành trướng, cũng như sự tái sinh phong trào du ca vơí Nguyễn Ðức Quang, Nguyễn Hữu Nghĩa và Phan Ni Tấn. Nguyễn Quyết Thắng ở Hòa Lan đã đẩy mạnh phong trào du ca với sự thực hiện một trang nhà Du Ca với đầy đủ hình ảnh các sáng lập viên, bài hát và sinh hoạt ở hải ngoại .(http://home.wanadoo.nl/duca )
 Phong trào Hưng Ca gồm các nhạc sĩ Nguyễn Hữu Nghĩa, Hà Thúc Sinh, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Châu Đình An, Huỳnh Công Ánh, Trần Lãng Minh, Phan Ni Tấn, Khúc Lan, được chánh thức ra đời tại San Jose vào ngày 7 tháng 9, năm 1985 với tôn chỉ là dùng văn nghệ sân khấu và thanh niên để giữ vững niềm tin cách mạng dân tộc chống chủ nghĩa và bạo quyền cộng sản. Hai tập nhạc được phát hành: “Hưng Ca 1: Lên Ðường “(1985), và “Hưng Ca 2: Hẹn Em Sài Gòn” (1986).
 Vấn đề thích nhạc ngoại quốc đã có từ thập niên 60 tại Việt Nam. Ba mươi năm trôi qua ở hải ngoại, giờ đây phong trào thích nhạc ngoại quốc (giống loại nhạc trẻ thời thập niên 70 ở Saigon) lại bành trướng mạnh và được giới trẻ lớn lên ở hải ngoại hưởng ứng nồng nhiệt. Từ chỗ ưa thích nhạc ngoại quốc đã tạo ra phong trào xuất bản nhạc khiêu vũ và sự phát hiện nhiều vũ trường ở các nơi có đông người Việt sinh sống. Một số mầm non ca sĩ trẻ như Linda Trang Ðài, Cinda Thúy, Sơn Tuyền, Thúy Vi, Thái Hiền, Phương Thúy, Lucia Kim Chi, Tryzzie Phương Trinh, Tuệ Châu, Tuấn Anh ở Mỹ, Ngọc Huệ (sang định cư ở Mỹ từ năm 1991), Bảo Khánh, Quỳnh Lân ở Úc châu cùng với Công Thành và Lynn (sang định cư ở Hoa kỳ từ năm 1987). Về sau có Don Hồ (nổi tiếng nhứt trong năm 1992), Dalena (nữ ca sĩ Mỹ chuyên hát tiếng Việt, nổi tiếng nhứt trong hai năm 1991 và 1992),Trịnh Nam Sơn, Thái Tài, Ý Nhi, Ý Lan, Sher’e Thu Thủy, Phi Khanh, Như Mai, Kenny, Mỹ Huyền, Ngọc Bích, Thanh Hà, Quỳnh Như, Mạnh Ðình, Phi Nhung, Thanh Trúc, vv… mang lại cho nền nhạc trẻ một luồng gió mới và tạo nhiều sống động.
Từ chỗ ưa thích nhạc ngoại quốc đi tới nhạc song ngữ rất gần. Một số nhạc sĩ Việt như Phạm Duy, gần đây hơn có Khúc Lan, Ngọc Huệ, tất cả đều ở Mỹ và dịch lời ca Mỹ và Pháp ra bằng tiếng Việt và các ca sĩ trẻ hát nửa Việt nửa Anh hay Pháp và tạo thành một phong trào nhạc song ngữ từ năm 1987 trở đi. Trong thơì gian 10 năm chót của thế kỷ 20, Phạm Duy đã phổ nhạc thơ Hoàng Cầm, phát hành quyển “Ngàn Lời Ca” (1987). Năm 1991, Phạm Duy thực hiện một loạt ca khúc “Bầy Chim Lìa Xứ“, và phần giao hưởng cho “Con Ðường Cái Quan“. Sau cùng ông soạn nhạc phổ thơ “Truyện Kiều” và sẽ hoàn thành trong một thời gian gần đây. Trong vài năm chót đây (từ 1988), một số ca sĩ tân nhạc sống dưới chế độ cộng sản đã thoát ra hải ngoại và xin tỵ nạn như Họa Mi ( Pháp, 1988), Ái Vân (Ðức, 1990, và sau đó định cư tại Hoa Kỳ), Anh Khoa (Hung Gia Lợi, 1988), Thái Châu (Gia nã đại, 1990), Bích Liên (Ðức, 1992), Duy Khánh (Hoa Kỳ, 1991), Duy Trác (Hoa Kỳ, 1992), Nhật Trường (Hoa Kỳ, 1993) đã mang lại cho nhạc Việt ở hải ngoại một luồng gió mới , nhứt là trong ngành phát hành băng nhạc và băng vidéo.
Một số nữ nhạc sĩ nổi danh ở hải ngoại qua nhiều sáng tác như Nguyệt Ánh, Khúc Lan, Linh Phương, Lê Tín Hương, mdtt ở Hoa kỳ, Bảo Trâm ở Canada, Trang Thanh Trúc, Mộng Trang ở Pháp, Bích Hà, Quách Nam Dung ở Úc châu. Nhạc sĩ Vô Thường (từ trần năm 2003 tại Hoa kỳ) tạo một chỗ đứng riêng biệt với tiếng đàn Tây ban cầm tay trái qua hàng trăm CD tự xuất bản tại Hoa Kỳ . Các nhạc sĩ nghiệp dư như bác sĩ Phạm Anh Dũng (Hoa Kỳ), bác sĩ Nguyên Bích (Hoa Kỳ), giáo sư tiến sĩ Phạm Quang Tuấn (Úc châu) có viết nhạc , và nhiều hội viên của hai hội Nhạc Việt (nhacviet@yahoo.com ) và Em Ca Hát (emcahat@yahoo.com) , cũng như nhạc sĩ Võ Tá Hân đã phổ nhạc cho trên 200 bài thơ và thực hiện trên 22 CD với toàn nhạc của anh. Nhạc thiền đạo được phát triển từ năm 1996 vơí hai hiện tượng đáng kể: thiền sư Lương Sĩ Hằng và Vô Thượng Sư Thanh Hải và một số nhạc phổ thơ của hai vị này.
Nhạc cận đại Việt Nam theo chiều hướng Tây phương cũng được phát triển trong giới nhạc Việt . Nhạc sĩ Nguyễn Mạnh Cường chưa đầy 30 tuổi khi sáng tác bài « Phụng Vũ » đã đoạt giải thưởng  ở đại hội quốc tế âm nhạc gia trẻ Á châu và Thái Bình Dương  tại Wellington (Tân Tây Lan) năm 1984. Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn rời Việt Nam năm 1983 định cư tại Úc châu đã học dân tộc nhạc học và hiện giảng dạy nhạc đương đại tại trường đại học University of New South Wales và mỹ học tại University of Sydney .. Tác giả của nhiều nhạc phẩm đương đại phối hợp nhạc ngữ Việt, Á và Úc , Âu qua nhiều dĩa CD xuất bản tại Úc . Nhạc sĩ Lê Tuấn Hùng (sinh năm 1962 đậu tiến sĩ dân tộc nhạc học tại trường đại học Monash University (Melbourne, Úc châu) và chú trọng nhiều tới sáng tác nhạc đương đại giữ nhạc Việt và nhạc Tây phương  cùng với sự cộng tác của vỡ là nữ nhạc sĩ Đặng Kim Hiền (huy chương vàng đàn tranh và dân ca ở Việt Nam trước khi sang định cư tại Úc năm 1990) với nhiều dĩa CD phát hành tại Úc .
Tại Hoa Kỳ , nhạc sĩ Cung Tiến (sinh năm 1938) tiếp tục sáng tác nhạc đương đại. Nhạc tấu khúc « Chinh phụ ngâm » (1987) , soạn cho 21 nhạc khí, đã được trình diễn lần đầu vào ngày 27 tháng 3, 1988 tại San Jose với dàn nhạc thính phòng San Jose, đã được giải thưởng Văn Học nghệ thuật quốc khánh 1988. Hội viên của hội nhạc sĩ sáng tác ở Minneapolis (Minnesota, Hoa Kỳ), Cung Tiến đã trình làng một sáng tác nhạc đương đại « Lơ thơ tơ liễu buông mành » dựa trên một điệu dân ca Quan họ (2003). Nhạc sĩ Phan Quang Phục ( sinh năm 1962) sang Hoa Kỳ năm 1982, đậu tiến sĩ âm nhạc tại trường đại học Michigan (Hoa kỳ), dạy sáng tác tại trường đại học Cleveland State University (1993-1996) và sau đó tại trường đại học University of Illinois. Được giải thưởng Prix de Rome năm 1997, một giải thưởng cao quý nhứt trong lĩnh vực âm nhạc . Phan Quang Phục, được xem như là một trong 6 nhạc sĩ trẻ giỏi nhứt xứ Mỹ về nhạc đương đại, đã sáng tác rất nhiều và các nhạc phẩm được trình diễn khắp năm châu .

Xứ Pháp đã đào tạo một số nhạc sĩ Việt Nam có một chỗ đứng quan trọng trong làng nhạc hiện đại . Nguyễn Văn Tường (1929-1996), người Việt đầu tiên học nhạc điện thanh (musique électro-acoustique) đã viết những nhạc phẩm phối hợp hai tư tưởng Âu Á như bài « Cộng Tồn » (1968) (Co-existence), « Về Nguồn » (1975) sử dụng máy móc điện tử và nhạc cổ truyền Việt Nam . Nguyễn Thiên Đạo (sinh năm 1939) , học trò Việt duy nhứt của nhạc sư Olivier Messiaen đã sử dụng  nhạc ngữ cận đại tây phương  trong một số nhạc phẩm như « Thành Đồng Tổ Quốc », « Khóc Tố Như », vở kịch opéra « Mỵ Châu Trọng Thủy ». Tôn Thất Tiết (sinh năm 1933) học nhạc ở Pháp từ năm 1958 và khởi sự sáng tác năm 1964. Ông đã sáng tác trên 50 nhạc phẩm đa số mang tên Việt như « Tứ đại cảnh » (1968), « Hy Vọng » (1971), « Ngũ Hành » (1973), « Chu Kỳ 1 tới 5 » (1976-1983, « Kiếm Ai » (1978), « Tranh » (1980). Ông nhận rất nhiều giải thưởng quốc tế, và ông viết nhạc phim cho những phim « Mùi Đu Đủ Xanh », « Xích Lô » của nhà đạo diễn trẻ tuổi Trần Anh Hùng. Trương Tăng (1936-1989) học nhạc ở nhiều trường nhạc tại Paris, sáng tác nhiều nhạc phẩm như « Fujiyama » (thơ giao hưởng), « Dạ Hương » (kịch hát dựa trên một truyện cổ tích Việt Nam), « Mẹ ». Anh đã sáng tác nhiều tiểu khúc cho đàn tranh, đàn bầu. Được giải thưởng của ông hoàng Rainier của Monaco cho một giao hưởng khúc với 100 nhạc khí . Trương Tăng chuyển sang nhạc điện toán (musique assistée par ordinateur) và học tại trung tâm IRCAM , Paris . Trần Quang Hải đóng góp nhiều trong lĩnh vực nhạc đương đại. Cộng tác với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tường  trong phần trình diễn đàn môi, đàn tranh, hát đồng song thanh và muỗng trong nhạc phẩm « Về Nguồn » (1975), cũng như đã cộng tác với Misha Lobko để hoàn thành bản « Shaman » (1982) trong đó nhạc jazz, điện tử, nhạc cổ truyền, nhạc tùy hứng đều được sử dụng. Trần Quang Hải đã trình bày nhạc phẩm « Trở Về Nguồn Cội » với đàn tranh và nhạc điện tử tại đại học nhạc Á châu ở tỉnh Etampes (Pháp) năm 1988. Sự khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh nghĩa là hát hai âm thanh khác nhau cùng một lúc từ trong cổ họng  (chant diphonique / chant de gorge – overtone singing / throat singing) phát xuất từ Mông Cổ, Tuva đã giúp cho Trần Quang Hải từ năm 1974 sáng tác nhiều nhạc phẩm mới trong nhạc điện thanh (musique électro-acoustique), nhạc tùy hứng (musique improvisée – improvized music), nhạc thế giới (musique du monde – world music), nhạc thiền (musique méditative – music for meditation), nhạc điều trị học (musicothérapie– music therapy).

1.      Nhạc tại Việt Nam sau 1975

Tân nhạc từ năm 1975 trở đi đã thay đổi đề tài. Nhạc đã xoay từ chiến tranh tới hòa bình, từ đất nước bị chia đôi tới thống nhất với một cuộc sống mới, từ nhạc bị gò ép trong lối viết nhạc Nga sô và Trung quốc tới sự giao lưu văn hóa phóng túng với thế giới . Trong vòng gần 30 năm (1975-2004) mức sản xuất ở Việt Nam đã tiến rất xa và rất mau .
Đất nước được thống nhất, đề tài xoay về phong cảnh đẹp của Việt Nam. Lính trong vai trò kiến thiết , trong hòa bình. Tình yêu đôi lứa được phát triển mạnh.
Trong xứ Việt Nam có hai chiều hướng về nhạc : nhạc nhẹ chú trọng về giải trí, hay nói một cách khác là tân nhạc , và nhạc nặng tức là loại nhạc giao hưởng, nhạc trình diễn trong khung cảnh của viện quốc gia âm nhạc viết cho kịch, vũ và điện ảnh .

*Nhạc nhẹ

Loại nhạc nhẹ dính liền với nhạc thời trang, nhạc trẻ khơi nguồn từ các nguồn nhạc dân gian, nhạc ngoại quốc kích động . Nó được phát hiện theo hai khuynh hướng .
1. Khuynh hướng dùng ngôn ngữ âm nhạc cổ điển Âu châu do nhạc sĩ Thanh Tùng (« Mưa Ngâu », « Giọt Nắng Bên Thềm ») đề xướng qua đề tài tình yêu . Có rất nhiều nhạc sĩ trẻ đi theo khuynh hướng này với những tìm tòi và sáng tạo khác nhau như Nguyễn Đình Bảng (« Cơn Mưa Em Bất Chợt »), Từ Huy (« Những Lời Em Hát »), Phú Quang (« Em Ơi, Hà Nội Phố »), Duy Thái , Nguyễn Ngọc Thiện ( « Như Khúc Tình Ca »), Dương Thụ (« Tiếng Sóng Biển »), Đặng Hữu Phúc (« Ru Con Mùa Đông »), Phạm Trọng Cầu (« Tiếng Hát Cho Em »).
2. Khuynh hướng  thứ nhì chuyên về âm nhạc dân tộc cổ truyền . Ban nhạc nhẹ của nhà hát Tuổi Trẻ do Đỗ Hồng Quân phụ trách đã đưa các nhạc khí dân tộc, cũng như cách phối âm phối khí, trình diễn, sáng tác theo chiều hướng nhạc dân gian. Các nhạc sĩ Nguyễn Cường « Đừng Sánh Em Với Mặt Trời », « Một Nét Ca Trù Mùa Xuân »), Trần Tiến (« Tùy Hứng Ngựa Ô », « Tiếng Trống Baranưng ») , Phó Đức Phương (« Nha Trang Thu »), Trương Ngọc Ninh sáng tác theo chiều hướng này .
Nhạc tại Việt Nam sau 1975 Trong xứ Việt Nam có hai chiều hướng về nhạc: nhạc nhẹ chú trọng về giải trí, hay nói một cách khác là tân nhạc, và nhạc nặng tức là loại nhạc giao hưởng, nhạc trình diễn trong khung cảnh của viện quốc gia âm nhạc. Loại nhạc nhẹ dính liền với nhạc thời trang, nhạc trẻ khơi nguồn từ các nguồn nhạc dân gian, nhạc ngoại quốc kích động. Nó được phát hiện theo hai khuynh hướng:
  1. khuynh hướng dùng ngôn ngữ âm nhạc cổ điển Âu châu do nhạc sĩ Thanh Tùng đề xướng qua đề tài tình yêu. Có rất nhiều nhạc sĩ trẻ đi theo khuynh hướng này với những tìm tòi và sáng tạo khác nhau như Nguyễn Ðình Bảng, Từ Huy, Phú Quang, Duy Thái, Nguyễn Ngọc Thiện, Dương Thụ.
  2. khuynh hướng thứ nhì chuyên về âm nhạc dân tộc cổ truyền . Ban nhạc nhẹ của nhà hát Tuổi Trẻ do Ðỗ Hồng Quân phụ trách đã đưa các nhạc khí dân tộc, cũng như cách phối âm phối khí, trình diễn, sáng tác theo chiều hướng nhạc dân gian. Các nhạc sĩ Nguyễn Cường, Trần Tiến, Phó Ðức Phương, Trương Ngọc Ninh sáng tác theo chiều hướng này.
Một số nhạc sĩ thuộc thế hệ trước như Hoàng Vân, Huy Du, Xuân Hồng, Hoàng Hiệp, Phan Huỳnh Điểu, Nguyền Đức Toàn, Phạm Tuyên, Tân Huyền, Hồng Đăng, Văn Ký, Vũ Thanh, Nguyễn Văn Tý cũng sáng tác những nhạc phẩm được phổ biến rộng rãi trong quần chúng .
Ca khúc quần chúng gồm có mọi thể loại : hành khúc (« Khúc Quân Hành Trên Bán Đảo » của Cát Vận, « Hành Quân Lên Tây Bắc » của An Thuyên ; trữ tình (« Dáng Đứng Bến Tre » của Nguyễn Văn Tý , « Điệp Khúc Tình Yêu » của Trần Tiến, « Em Ơi , Hà Nội Phố » của Phú Quang phổ thơ Phan Vũ .
Nhóm « Những Người Bạn » gồm 8 nhạc sĩ : Trịnh Công Sơn (từ trần năm 2001), Trần Long Ẩn , Tôn Thất Lập, Từ Huy, Nguyễn Ngọc Thiện, Thanh Tùng, Nguyễn Văn Hiên, và Vũ Hoàng  được chào đời tại Sài Gòn vào ngày 8 tháng 3, năm 1992 sau khi Trịnh Công Sơn sang Pháp gặp nhóm nghệ sĩ phố (artists on the road / artists de rue). Tên « Những Người Bạn » do Trịnh Công Sơn đề nghị với mục đích là sáng tác và trình bày sáng tác mới cho bạn và công chúng nghe . Mỗi tháng, nhóm đều có họp và mỗi người phải giới thiệu ít nhất là một sáng tác mới của mình và nghe lời phê bình của an hem . Nhóm « Những Người Bạn » sẵn sàng  đi giới thiệu những tác phẩm mới và làm thành băng nhạc, vidéo với sự phụ giúp của những ca sĩ nổi tiêng như Lệ Thu (sang định cư tại Pháp), Lê Tuấn, Ngọc Sơn, Thế Sơn, Thu Hà, Yến Linh. Trong buổi đầu tiên của nhóm này, Trịnh Công Sơn đã trình bày nhạc phẩm mới nhứt  tên là «  Con Mắt Còn Lại » (ý thơ Bùi Giáng). Thanh Tùng  viết một ca khúc «  Lối Cũ Ta Về » trong hoài niệm về người vợ đã mất . Trần Long Ẩn viết tặng mẹ. Hiện tượng này xảy ra vì các ca khúc mới sau 1975 không còn người nghe . Dân chúng ưa nhạc « sến », nhạc « vàng » hay nhạc trướ 75. Các ca khúc trữ tình trước 75 xua đuổi các loại nhạc đấu tranh ca tụng Bác và Đảng, và luôn cả nhạc mới sau 75.
Từ năm 1990 trở đi, phong trào tổ chứ hát vinh danh các nhạc sĩ lão thành như Nguyễn Văn Thương, Lê Thương , Hoàng Giác, Tô Vũ, Nguyễn Văn Tý hay các nhạc sĩ trẻ hơn như Trịnh Công Sơn được tổ chức tại Hà Nội và Sài Gòn và những ca khúc tiền chiến được hát trở lại .
Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã chuyển hướng sáng tác qua nhạc trẻ em (nhạc đồng dao) được nhiều thành công qua hàng trăm ca khúc mới . Một số nhạc sĩ trẻ như Phú Quang, Thanh Tùng, Trần Tiến, Nguyễn Cường, Phạm Minh Tuấn, Tôn Thất Lập, Thế Hiền, Nguyễn Văn Hiên, Dương Thụ, Từ Huy, Ngọc Đại , vv… viết nhiều bài nhạc mới rất được ưa chuộng. Đề tài mới hướng về tình yêu chứ không còn ca tụng Đảng nữa .
Nhiều nhạc sĩ trẻ tiếp nối các nhạc sĩ đàn anh tạo một thế hệ mới trong địa hạt sáng tác . Có thể kể Nguyễn Hiệp (1947), Thế Hải (1947), Văn Thành Nho (1949), Nguyễn Phú Quang (1949), Trần Quang Lộc (1949), Vũ Ngọc Giao (1951), Linh Giang, Trần Thiết Hùng (1951, Quang Minh (1953), Quang Lộc (1954), Châu Đăng Khoa (1955), Vũ Hoàng (1956), Võ Công Ánh (1957), Nguyễn Hải (1958), Trương Ngọc Ánh (1959).
Các ca sĩ  trẻ nổi tiếng hiện nay càng ngày càng nhiều như Lê Dung (từ trần năm 2001), Ánh Tuyết, Thanh Lam, Hồng Nhung, Hồng Hạnh, Cẩm Vân, Cẩm Ly, Phương Thanh, Lam Trường, Đan Trường , Quang Linh, Bảo Yến, Khắc Dũng, Thanh Long, Mỹ Linh, Tam Ca Áo Trắng, Bằng Kiều (sang định cư ở Hoa Kỳ, thành hôn với nữ ca sĩ Trizzy Phương Trinh), Trang Nhung, Hồ Lệ Thu, Nguyên Vũ, Hiền Thục, Trần Thu Hà (định cư tại Hoa kỳ), Tạ Minh Tâm, Quang Thọ… Nhạc trẻ, nhạc ngoại quốc thuộc đủ loại pop, hip hop, house, rave, rap, jazz, thịnh hành trở lại với nhiều tụ điểm hát ngoài trời rộng lớn tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ)
Năm 2002 đánh dấu sự phát hiện hai nhạc sĩ trẻ Quốc An và Nguyễn Nhất Huy với bản nhạc « Hát Với Dòng Sông ». Một nhạc sĩ trẻ khác Tiến Luân chuyên về nhạc có âm hưởng dân tộc nổi lên với bài « Quê Em Mùa Nước Lũ ». Nhạc sĩ Quang Đạt (sinh năm 1976), giảng viên Nhạc Viện TPHCM và trường âm nhạc Yamaha và là người soạn hòa âm cho rất nhiều ca khúc thịnh hành nhất trong năm 2002 như « Cây Đàn Sinh Viên », « Hát Với Dòng Sông », « Hát Cho Người Ở Lại », « Tình Phiêu Lãng », « Lời Mẹ Ru ». Các ca sĩ thuộc thế hệ thế kỷ 21 như Mỹ Tâm, Nguyễn Phi Hùng , Thanh Thảo, nhóm MTV, Minh Quân, Nhóm Ty My Ty, Việt Quang, Ưng Hoàng Phúc, Lâm Chí Khanh, Ngô Thành Vân, Mỹ Lệ, vv….
Thị trường băng dĩa, CD, VCD và ngay cả DVD bành trướng mạnh mẽ từ năm 2000. Hàng chục đại hội liên hoan tân nhạc được đài truyền hình , đài phát thanh, báo chí tổ chức khắp nơi trên toàn xứ tạo cơ hội cho những ca sĩ trẻ có điều kiện thăng tiến. Hội nhạc sĩ Việt Nam thành lập năm 1957 đã quy tụ hàng trăm nhạc sĩ và trở thành hội viên của hiệp hội các nhà soạn nhạc Châu Á ( ACL – Asian Composers League) từ năm 2000. Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam được thành lập vào năm 2002 bảo vệ những nhạc phẩm Việt Nam ở Việt Nam và ngoại quốc .
Từ năm 2001, một số ca sĩ trẻ trong nước chạy ra xứ ngoài (Trần Thu Hà, Bằng Kiều qua hôn nhân, Thu Phương, MC Huy, Bảo Yến, Nhã Phương), một số ca sĩ bị mắc bịnh « siêu sao », đa số chạy theo kiểu hát nhép (tạo nên những « búp bê biết hát »), fan ảo (phát sinh fan club ), hát nhạc chưa được phép, một số ca sĩ tranh nhau ca khúc mua độc quyền , làm xáo trộn đời sống âm nhạc trẻ ở Việt Nam.
Một số nhạc sĩ tìm lợi tức thương mại qua việc đặt lời Việt cho nhạc ngoại, chìm đắm trong nhạc lai, nhạc nhái , đạo nhạc (chấn động nhất trong năm 2004 với hai nhạc sĩ  Bảo Chấn và Quốc Bảo), đạo thơ.
Việc viết lời Việt trên nhạc ngoại không phải là chuyện mới mẻ. Trước đó đã có các bản « Đồng Xanh » ( từ « Greenfield »), « Cha Yêu » (từ « Papa »), và rất nhiều ca khúc song ngữ được lưu hành ở miền Nam trước 75. Vấn đề chuyển ngữ bị lạm phát vì yếu tố thương mại. Những ca khúc thời trang của Tây phương hay Á châu được chuyển ngữ một cách hấp tấp, vội vàng, đôi khi trở nên ngây ngô, ngớ ngẩn, không còn ý nghĩa nguyên bản như trong ca khúc « Yêu Nhau Đi » (từ « Tragedy »), « Ôi Tình Yêu », « Mắt Bồ Câu » (từ nhạc Thái)
Những bài hát nổi tiếng của các « diva » lừng danh thế giới như Whitney Houston, Celine Dion, Mariah Carey, Toni Braxton đã được các ca sĩ Việt Nam chọn và bắt chước sao cho thật giống nguyên bản, tạo thành một phong trào nhạc nhái . Điển hình nhất là nữ ca sĩ Hồng Nhung với « Everything I Do », « Beauty and Beast » (do Brandy hát nguyên bản), Thanh Lam với « Unbreak My Heart », « I Will Always Love You » (do Toni Braxton hát), Hồng Hạnh nổi tiếng với bài « I Wanna Dance With Somebody » (do Whitney Houston trình bày).
Sự ra đời của chương trình Làn Sóng Xanh (LSX) của đài Tiếng Nói Nhân Dân TPHCM, chương trình VTV Bài Hát Tôi YêuMai Vàng  cho thấy những bản nhạc ngoại đa số đứng đầu bảng xếp hạng ca khúc được yêu thích nhứt . Vì lý do đó, các ca sĩ đua nhau hát nhạc ngoại để có tên trên danh sách ca khúc của ba chương trình kể trên . Ca khúc thuần túy Việt Nam hay có âm hưởng dân ca dần dần bị chìm trong quên lãng và không được giới trẻ để ý tới . Hiện tượng « nhạc sĩ thị trường » được chào đời để đáp ứng thị hiếu quần chúng trẻ .
Hiện tượng trong làng nhạc trẻ ở Việt Nam từ năm 2003 là « liveshow » đã đưa nữ ca sĩ Mỹ Tâm lên hàng đầu các ca sĩ nổi tiếng trong năm 2003 và 2004 .
Năm 2004, nhạc ngoại lời Việt chiếm 30% số ca khúc phổ biến trong băng dĩa nhạc theo thống kê của phòng ca múa nhạc sở VHTT TPHCM . Trên sân khấu biểu diễn, số ca khúc nhạc ngoại lời Viẹt chiếm gần 50 % . Những quyết định, kiểm điểm, phê bính, trừng phạt được đưa ra qua các quyết định mới trong quy chế 47 về tổ chức biểu diễn để mong mang lại trật tữ và tạo điều kiện cho việc hồi sinh nhạc trẻ thuần túy Việt Nam
Nhạc Jazz được nhập vào thị trường nhạc Việt từ khi Việt Nam mở cửa và chấp nhận « đổi mới » (perestroika) vào cuối thập niên 80. Nhạc sĩ kèn saxophone Quyên Văn Minh đã gây dựng phong trào nghe nhạc Jazz từ đầu thập niên 90 với sự thành lập Hanoi Jazz Club . Tại Sài Gòn (TPHCM bây giờ) có một số quán có nhạc Jazz như Dragon Bar, Yoko Cafe, Bob Jazz va Wild Horse . Qua 4 liên hoan nhạc Jazz Châu Âu từ năm 2001, không khí thích nhạc Jazz được bừng sôi trong giới yêu nhạc jazz còn trong giai đoạn phôi thai tại Việt Nam , nhưng hy vọng sẽ được phát triển mạnh trong tương lai .

Nhạc thiếu nhi

Từ năm 1976, sau khi Việt Nam được thống nhất, ca khúc thiếu nhi được sáng tác mạnh hơn với sự đóng góp của nhiều nhạc sĩ đàn anh như Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước , Phong Nhã (« Bài Ca Sum Hợp »), Phan Huỳnh Điểu (« Ngày Vui Mới »), Phạm Tuyên (« Hát Dưới Trời Thu Hà Nội », tập nhạc thiếu nhi « Chú Voi Con Ở Bản Đôn »), Hoàng Vân, Hồ Bắc, Xuân Giao (« Giấc Mơ Em Bé »), Hoàng Hà (« Chú Bộ Đội ») , Hoàng Long ( « Từ Rừng Xanh Cháu Về Thăm Lăng Bác » sáng tác chung với Hoàng Lân), Hoàng Hà ( « Con Mèo Ra Bờ Sông »), Vũ Thanh (« Em Đi Trong Tươi Xanh »), Huy Trân (« Bầu Trời Này, Mặt Đất Này » thơ Diệp Minh Tuyên ), Minh Châu (« Dàn Đồng Ca Mùa Hạ »), Hàn Ngọc Bích (« Mùa Xuân Và Tuổi Hoa »), vv… Các nhạc sĩ trẻ của thế hệ đang lên như Cao Minh Khanh (« Mùa Xuân Và Tình Bạn »), Trần Ngọc (« Em Như Chim Câu Trắng »), Đỗ Trí Dũng (« Các Đám Mây Sẽ Kể »), Vũ Trọng Tường (« Mùa Thu Ngày Khai Trường »), vv… cũng như các nhạc sĩ nổi tiếng như Trịnh Công Sơn (« Em Là Hoa Hồng Nhỏ »), Phạm Trọng Cầu (« Nhịp Cầu Tre »), Trương Quang Lục ( « Màu Mực Tím »), Nguyễn Văn Hiên (« Thêm Một Tuổi Hồng »), Nguyễn Ngọc Thiện ( « Cô Bé Dỗi Hờn »), Phạm Đăng Khương (« Con Đường Đến Trường »), Vũ Hoàng (« Hoa Điểm 10 »), vv…viết nhiều bài hát cho trẻ em . Nhiều trung tâm văn hóa thiếu nhi Hà Nội, TPHCM, Quảng Nam, Đà Nẵng , Cần Thơ tạo điều kiện cho trẻ em hát với nhau. Đại hội liên hoan nhạc trẻ em được tổ chức hàng năm khắp nơi . Cuộc hội thảo « Âm nhạc thiếu nhi » do ban âm nhạc thiếu nhi – hội nhạc sĩ Việt Nam tổ chức năm 1985 đánh dấu sự lưu ý của giới nhạc sĩ đối với giới trẻ em. Băng nhạc cassette audio và video, hay băng karaoke giúp cho trẻ em thích hát nhạc của lứa tuổi của chúng .

Nhạc mới cho nhạc khí cổ truyền

Sau 1975, phong trào cải tiến nhạc khí cổ truyền và sáng tác bài bản mới lên tới cao độ. Những  công trình cải tiến nhạc khí đáng được để ý như cải tiến đàn tính của dân tộc Tày, Thái, hệ thống mõ ống, mõ cá của Tạ Thâm, đàn trưng của Đỗ Lộc, Bá Phổ, sáo mèo của Lương Kim Vinh, sáo trúc của Đinh Thìn, đàn bầu của Phan Chí Thanh, Xuân Hoạch, k’ni của Quốc Hùng, dinh pah cũa Nay Knia Sơn, đàn tranh của Phương Bảo, Nguyễn Vĩnh Bảo. Ngoài ra, một số nhạc sĩ đã chế ra những cây đàn hoàn toàn mới như nhạc sĩ Phạm Lý (Tp.HCM) chế tạo mới bộ đàn lý gồm 4 cây. Nhạc sĩ Lê Thái Sơn (Hà Tây) với cây đàn p’rông (một dạng piano làm bằng tre, nứa). Những trường hợp này được xem như là sự sáng chế nhạc cụ.
Các nhạc phẩm được lưu truyền trong dân chúng gồm có : « Trở Về Tây Nguyên » (Đỗ Lộc) cho đàn trưng và dàn nhạc dân tộc, « Khát Vọng Ba Dan » (Nguyễn Cường) cho đàn đinh pah của dân tộc Ê Đê và dàn nhạc, « Thúy Kiều » (Văn Thắng) cho đàn tỳ bà và tốp nhạc dây (2 viôlông, 1 viôla, 1 xenlô), « Biển Quê Hương » (Trần Quý) cho đàn bầu và dàn nhạc giao hưởng, tổ khúc « Rừng Đêm Trăng » (Phú Quang) viết cho 5 loại sáo cải tiến píthiu, pípặp, sáo H’Mông, pítầmlay, pítốp) của một số sắc tộc Tây Bắc cùng dàn nhạc nhẹ Tây phương với trống mõ dân tộc . Nhạc cụ gõ rất được các nhạc sĩ dùng trong nhiều sáng tác đương đại như « Tiếng Pháo Giao Thừa » (Nguyễn Xuân Khoát), « Trống Cười Cưới Chồng » (Đỗ Nhuận), « Âm Vang Điện Biên » (Huy Thục) .

Ca kịch, nhạc kịch, vũ kịch, nhạc điện ảnh

Những loại ca kịch (kịch hát mới –comédie musicale ), và nhạc kịch (opéra) chỉ được phát triển thực sự từ 1985 trở đi. Vở kịch hát  « Thạch Sanh Lý Thông » (Đức Minh) đã tạo thành công qua lần trình diễn đầu tiên năm 1985 tại Hải Phòng. Đề tài được lấy từ các truyện cổ tích như « Nàng Công Chúa Lên Rừng » (Văn Thành Nho), « Chuyện Tình Nàng Tiên Du » (Phó Đức Phương), hay đề tài trong đời sống hàng ngày như « Lửa Tình Trên Cát Trắng » (Vũ Ngọc Quang) , « Yêu Trước Phật Đài » (Trọng Đài), hoặc liên hệ tới văn học xứ người như « Tình Yêu Và Danh Dự » (Vũ Ngọc Quang) dựa trên Le Cid của Pierre Corneille thuộc xứ Pháp .
Nhạc kịch (opéra) theo kiểu opéra tây phương  phải kể đến hai vở tạo tiếng vang nhiều nhứt sau 1975. Đó là vở « Nguyễn Trãi » (Đỗ Nhuận) được trình diễn lần đầu nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, và vở « Tình Yêu Của Em » (Tiếng Hát Xanh) (Nguyễn Đình Tấn) diễn lần đầu năm 1981 nói lên số phận của một số người trong cuộc chiến tranh cách mạng dành lại độc lập, tự do cho Việt Nam .
Vũ kịch (ballet) là một loại hình đã có trước 1975, dựa trên các vũ điệu sắc tộc Việt Nam nhưng chưa có hoàn chỉnh . Tổ khúc thơ múa « Giai điệu Niềm Tin » (biên đạo múa : Đoàn Long, nhạc của Hoàng Việt với nhạc phẩm « Giao Hưởng số 1 ») và thơ múa « Hồ Gươm » với Hoàng Đình Quý biên đạo múa, và nhạc của Cao Việt Bách . Từ năm 1990 trở đi, vũ kịch tái sinh và nẩy nở khắp nơi . Vở kịch múa « Ngọc Trai Đỏ » (Ca Lê Thuần) được ra mắt tại nhà hát lớn TPHCM nhân dịp kỷ niệm 300 năm thành lập thành phố Sài Gòn . Đa số đề tài vũ kịch đều hướng về các sắc tộc ở Việt Nam như « Hành Trình Đến Cõi Then » (múa do Lê Khình, nhạc của Phó Đức Phương), « Sự Tích Chiếc Khèn Bè » múa do Đoàn Long, nhạc của Vũ Duy Cường), « Huyền Sử Chiêng Cồng » (múa do Đoàn Long, nhạc của Đặng Nguyễn), « Huyền Thoại Trường Sơn » (múa do Bằng Thịnh, nhạc của Ngô Quốc Tính .
Nhạc kịch nói chỉ là nhạc đệm, nhạc nền (musique de fond) cho vở kịch. Loại này ít được phát triển. Một số nhạc sĩ đã thử thách qua một số kịch nói . Chẳng hạn như « Âm Mưu Và Hậu Quả » (Đàm Linh), « Hẹn Ngày Trở Lại » (Trọng Bằng), « Quyền Được Hạnh Phúc » (Hoàng Vân), « Cuộc Gặp Gỡ Muộn Màng » (Doãn Nho), « Ăn Mày Hạnh Phúc » (Huy Thục), « Chị Nhàn » (Tô Hải), « Đứng Gác Dưới Đèn Nêông » (Trần Ngọc Xương), « Nguồn Sáng Trong Đời » (Phó Đức Phương), và những nhạc sĩ khác như Ca Lê Thuần, Quang Hải, Phú Quang, Phạm Minh Tuấn, An Thuyên, Ngô Quốc Tính, vv…
Nhạc điện ảnh còn ở trong tình trạng sơ khai trong giai đoạn chiến tranh (1954-75) với chủ đề chiến tranh, giải phóng đất nước. Nhạc phim chuyên về nhạc hùng. Cuốn phim đầu tiên có nhạc loại giao hưởng của Nguyễn Đình Phúc được soạn nghiêm túc là « Chung Một Dòng Sông ». Sau đó có thêm nhạc sĩ khác như Hoàng Vân, Trọng Bằng, Hoàng Hiệp, Y Vân, Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn, Phạm Minh Tuấn, vv…
Nhạc sĩ Hồng Đăng viết cho trên 70 phim đủ loại « Kén Rể », « Hà Nội Mùa Chim Làm Tổ », « Đời Hát Trong », « Hạt Muối Của Biển », vv… Trọng Bằng, tốt nghiệp ở Nga Sô, viết nhạc loại giao hưởng cho các phim « Cù Chính Lan », « Hoàng Hoa Thám », « Ngôi Sao Tren Biển », vv… Đàm Linh tạo sự chú ý qua nhạc của phim « Trận Chiến Đấu Tiếp Diễn », « Đường Về Quê Mẹ », « Đứa Con Người Hàng Xóm », vv… với cách sử dụng nhạc khí Tây phương, hay hòa hợp Tây phương và Việt Nam . Hoàng Vân viết nhạc phim chuyên về nhạc giao hưởng cho cả trăm cuốn phim trong đó có phim được giải thưởng như « Con Chim Vành Khuyên », « Biển Gọi », « Em Bé Hà Nội ». Đặng Hữu Phúc khởi sự viết nhạc cuốn phim « Anh Và Em » từ năm 1986 và liên tiếp nhiều phim khác như « Tướng Về Hưu », « Người Đàn Bà Bị Săn Đuổi », vv… Gần đây Đặng Hữu Phúc sử dụng máy vi tính để viết nhạc phim. Trọng Đài viết nhạc phim từ 1989 như « Canh Bạc » , « Số Phận Của Một Tình Yêu », « Quạ Và Công » (phim hoạt họa). Đỗ Hồng Quân đã chiếm nhiều giải thưởng âm nhạc của liên hoan phim toàn quốc lần 8 (1987) với phim « Thằng Bờm », liên hoan phim toàn quốc lần 9 (1990) với phim « Đêm Hội Long Trì », liên hoan phim toàn quốc lần 10 (1993) với phim « Cờ Lau ».

Nhạc Giao Hưởng

Trong thời gian 10 năm đầu (1975-1985) nhạc giao hưởng theo ngôn ngữ Tây phương cổ điển gặp khó khăn trong việc phổ biến. Nhưng sau đó, giới yêu nhạc cổ điển đông hơn, và nhiều nhạc phẩm được chào đời qua tài năng của các nhà soạn nhạc được huấn luyện tại Âm nhạc viện Hà Nội hay ở các âm nhạc viện Âu châu và Nga sô .
Đỗ Hồng Quân (« Chủ Đề Và Biến Tấu » cho dương cầm, « Rápxôđi Việt Nam »), Đặng Hữu Phúc (« Xô Nát Phúc Điệu » cho dương cầm), Nguyễn Văn Quý (« Xô Nát số 4 cho viôlông và pianô »), Nguyễn Cường (« Tứ tấu dây 94 »), Thụy Loan (« Khúc Trữ Tình » – Romance), Phúc Linh (« Ngẫu Hứng » cho ôboa, bátxông, và pianô), Xuân Tứ (« Bài Ca Chung Thủy ») mở màn cho những nhạc phẩm lớn theo chiều hướng nhạc cổ điển Tây phương đương đại .
Nhạc giao hưởng thu hút một số nhạc sĩ như Doãn Nho (thơ giao hưởng « Thánh Gióng »), Nguyễn Thị Nhung (thơ giao hưởng « Khát Vọng »), Trần Trọng Hùng ( « Giao hưởng cho đàn dây và gõ »), Đàm Linh (giao hưởng « Không Đề ») , Nguyễn Đình Bảng (balát giao hưởng « Thị Kính Thị Mầu »), Trọng Bằng (« Người Về Đem Tới Ngày Vui »), Trần Ngọc Xương (« Trăm Sông Đổ Về Biển Lớn »), Lê Khiêm Hoàn (tổ khúc giao hưởng « Hội Được Mùa »), Đặng Văn Bông (‘Mẹ Và Đất Nước », Trần Trọng Hùng (« Trở Về Với Điện Biên »).
Loại hình hòa tấu (concerto) cho nhạc cụ và dàn nhạc không thấy trong nhạc Việt Nam cho tới năm 1985. Một số nhạc phẩm dùng nhạc khí cổ truyền dân tộc cho phần độc tấu (Quang Hải với nhạc phẩm « Hòa Tấu Số 1 » chủ đề 1 cho đàn tranh và dàn nhạc « Quê Tôi Giải Phóng ») . Điển hình là các nhạc sĩ Ca Lê Thuần (« Hòa Tấu Nhỏ Cho Pianô Và Dàn Nhạc ») Phạm Minh Tuấn (« Bất Khuất »), Trọng Đại (« Hòa Tấu Cho Dàn Nhạc »), Đỗ Hồng Quân (« Hòa Tấu Cho Viôlông Và Dàn Nhạc »). Chủ đề để sáng tạo nhạc giao hưởng, hòa tấu dựa trên làn điệu dân ca, thang âm điệu thức nhạc dân tộc. Trong sự phát triển các nhạc phẩm, đa số các nhà soạn nhạc chú tâm về các bè theo chiều ngang . Nhưng cũng có một vài nhà soạn nhạc trẻ như Vũ Nhật Tân (« Ký Ức ») tạo sự gặp gỡ các âm theo chiều dọc .
Giá trị âm nhạc Việt Nam trong giai đoạn lịch sử bi thảm, khó khăn mà chúng ta hiện nay đang trải qua, sẽ được chấp nhận, hay bị đào thải là do nơi sự cố gắng của mỗi cá nhân, mỗi nghệ sĩ. Khi chúng ta tự hào nhạc của tổ tiên và hãnh diện khi học hỏi cũng như lúc trình diễn, tìm đủ mọi cách để vun bồi, phát triển và truyền lại cho đám hậu sinh theo một đường lối tốt đẹp, phản ảnh dân tộc tính thì trong tương lai, nhạc Việt sẽ được nẩy nở ngày càng đẹp hơn, giàu hơn, phong phú hơn để tạo một chỗ đứng vững mạnh trong vườn nhạc Á châu. Chính dân tộc Việt Nam sẽ quyết định sự sống còn của nền âm nhạc Việt trong tương lai .

Sách tham khảo

ĐÀO Trọng Từ , 1979 : « La Renaissance de la musique vietnamienne », Essais sur la     musique viêtnamienne, Editions en langues étrangères : 146-221, Hanoi, Vietnam .
GIBBS, Jason, 1996 : « Nhạc Tiền Chiến : The Origins of Vietnamese Popular Song », bài tham luận ở hội nghị của Society for Ethnomusicology, Northern Carolina, Hoa kỳ (8 trang)
GIBBS, Jason, 1997 : « Reform and Tradition in Early Vietnamese Popular Song », Nhạc Việt 6: 5-33, Kent , Ohio, Hoa Kỳ
HOÀNG Hiệp, CA Lê Thuần, XUÂN Hồng , LƯU Hữu Phước, QUANG Hải, NGUYỄN Lang, PHAN Huỳnh Điểu, TRÍ Thanh, TRỊNH Công Sơn, TRẦN Trọng, ĐĂNG Đàn, TÔ Hải, 1986: Âm Nhạc ở thành phố Hồ Chí Minh , nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, 180 trang, TP HCM, Việt Nam
HỒ Trường An, 1998: Theo Chân Những Tiếng Hát, 385 trang, tổ hợp xuất bản miền Đông, Arlington, Virginia, Hoa Kỳ .
HỒ Trường An , 2000: Theo Chân Những Tiếng Hát, 380 trang, tổ hợp xuất bản miền Đông, Arlington, Virginia, Hoa Kỳ
LÊ Hoàng Anh, 2000 : Trò Chuyện Với Nghệ Sĩ , nhà xuất bản Thanh Niên, 965 trang, TP HCM, Việt Nam
LÊ Hoàng Long, 1996: Chuyện Tình Các Nhạc Sĩ Tiền Chiến, Văn Hóa Thông Tin (nxb), 202 trang, Hà Nội, Việt Nam
PHẠM Duy, : Hồi ký 1: Thời Thơ Ấu, Vào Đời, 149 trang, Midway City, Calif. Hoa Kỳ
PHẠM Duy, : Hồi ký 2: Thời Cách Mạng Kháng Chiến, 128 trang, Midway City, Calif, Hoa kỳ
PHẠM Duy, : Hồi ký 3: Thời Phân Chia Quốc Cộng, 164 trang, Midmay City, Calif, Hoa Kỳ
PHẠM Duy, : Hồi ký 4: Thời Lưu Vong, 176 trang, Midway City, Calif, Hoa Kỳ
REYES, Adelaida, 1999: Songs of the Caged, Songs of the Frê/ Music and the Refugê Experience, Temple University Press (nxb), 218 trang, Philadelphia, Hoa Kỳ
TRẦN Cường, 1996: Âm Nhạc / Tác Giả Và Tác Phẩm, Giáo dục âm nhạc phổ thông, tập 1, Nhà xuất bản âm nhạc, 347 trang, Hà Nội, Việt Nam
TRẦN Quang Hải, 1987: “La Musique et les réfugiés », La Revue Musicale (nxb) 402-403-404 : 125-133, Paris, Pháp .
TRẦN Quang Hải, 1989 : Âm Nhạc Việt Nam Biên Khảo , Bắc Đẩu (nxb), 361 trang, Paris, Pháp .
TRẦN Quang Hải, 2001, 2002, 2003 : Tổng Kết Nhạc Việt Hải Ngoại, trang nhà www.vietnhac.org , Minneapolis, Minnesota, Hoa Kỳ
TRẦN Quang Hải, 2001 : « Vietnamese Music in Exile since 1975 and Musical Life in Vietnam since Perestroika”, The World of Music 2-3: 103-112, University of Bamberg, Đức  (có thể xem trang nhà www.honque.com , New Jersey, Hoa Kỳ hay www.vietnhac.org , Minneapolis, Hoa Kỳ)
TRƯỜNG Kỳ, 1995: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 1 , tác giả xuất bản, 300 trang, Montreal, Canada
TRƯỜNG Kỳ, 1997: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 2 , tác giả xuất bản, 320 trang, Montreal, Canada
TRƯỜNG Kỳ, 1999: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 3 , tác giả xuất bản, 367 trang, Montreal, Canada
TRƯỜNG Kỳ, 2000: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 4 , tác giả xuất bản, 368 trang, Montreal, Canada
TRƯỜNG Kỳ, 2001: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 5 , tác giả xuất bản, 378 trang, Montreal, Canada
TRƯỜNG Kỳ, 2002: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 6 , tác giả xuất bản, 384 trang, Montreal, Canada
TRƯỜNG Kỳ, 2002 : Một Thời Nhạc Trẻ, tác giả xuất bản, 384 trang, Montreal, Canada
TÚ Ngọc, NGUYỄN Thị Nhung, VŨ Tự Lân, NGUYỄN Ngọc Oánh, THÁI Phiến : 2000 : Âm Nhạc Mới Việt Nam / Tiến Trình Và Thành Tựu, Viện Âm Nhạc (nxb), 1000 trang, Hà Nội, Việt Nam
VŨ Tự Lân, 2001: Những Tác Động Của Giao Lưu Văn Hóa Quốc Tế Đối Với Sự Hình Thành – Phát Triển Âm Nhạc Chuyên Nghiệp Mới Việt Nam , Hội Nhạc Sĩ Việt Nam (nxb), 92 trang, Hà Nội, Việt Nam .
Báo Chí
Sóng Nhạc, nguyệt san, chuyên về sinh hoạt tân nhạc Việt Nam ở quốc nội ,địa chỉ: 81 Trần Quốc Tuhảo, Q3, TPHCM, Việt Nam . điện thư: ngvanhien@hcmeuco.edu.vn
Văn Hóa Nghệ Thuật , nguyệt san, chuyên về nghiên cứ nhạc dân tộc, tân nhạc và nhạc cổ điển Tây phương ỡ Việt Nam ; địa chỉ: 32 Hào Nam, Đống Đa, Việt Nam . điện thư : tcvhnt@hn.vnn.vn
Âm Nhạc và Thời Đại, nguyệt san, chuyên về đủ mọi khí cạnh âm nhạc Việt Nam tại quốc nội . Cơ quan ngôn luận của Hội Nhạc sĩ Việt Nam ; địa chỉ : 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội, Việt Nam. ĐT: (84-4) 94 35 384
Trang Nhà
Hai trang nhà này của Trần Quang Hải có một bài viết về tân nhạc Việt Nam bằng 3 thứ tiếng (Việt / Pháp / Anh)
www.vnstyle.vdc.com.vn/vim : khánh thành năm 2002, trang nhà này của Viện Âm Nhạc Hà Nội giới thiệu sinh hoạt của Viện qua tin tức, bài vở, sách , dĩa CD, VCD về nhạcViệt Nam bằng hai thứ tiếng (Việt / Anh)
www.vov.org.vn : những bài ca không quên, ca khúc trữ tình, nhạc không lời, chương trình ca nhạc, ca nhạc thiếu nhi .
www.vietscape.com : nhạc trẻ, tân nhạc, phỏng vấn ca nhạc sĩ Việt Nam hải ngoại
www.saigonbao.com/amnhac/Amnhac2.htm : những trang nhà về nhạc Việt và điện ảnh Việt Nam ở hải ngoại
http://www.vnunited.org/audio : rất nhiều bài tân nhạc Việt Nam do các ca sĩ trình bày (MP3)
http://www.vncentral.com/news/vanhoa: tin tức về tân nhạc Việt Nam
http://www.angelfire.com/ut/ttran4/VN.html : các ca sĩ Việt Nam, tân nhạc, nhạc vàng
www.vietet.com : tin tức nhạc trẻ Việt Nam ở Hoa kỳ, tiểu sử các ca sĩ và địa chỉ
www.vietnhac.org : trang nhà do sinh viên ở Minneapolis thực hiện có trên 100 tiểu sử nhạc sĩ hải ngoại, tiểu sử các nhạc sĩ qua đời, và gần 200 bài viết về nhạc Việt Nam đủ loại .
www.honque.com : báo mạng lưới với nhiều bài viết về nhạc Việt Nam , phỏng vấn nhiều nhạc sĩ Việt Nam hải ngoại, và có thể nghe và xem video nhạc Việt sáng tác ở hải ngoại
www.talawas.org : báo mạng lưới ỡ Đức với một số bài về nhạc Việt Nam, phỏng vấn nhạc sĩ Việt Nam hải ngoại
www.tienve.org : báo mạng lưới ở Úc châu với nhiều bài viết và nhạc phẩm về nhạc Việt Nam .
http://vietsciences.free.fr : báo mạng lưới ở Pháp có một chương trình dành cho nhạc Việt Nam
http://home.wanadoo.nl/duca : lịch sử du ca, du ca viên, và nghe nhạc du ca
www.emviet.com/pvh : trang nhà chào đời năm 2002 ở Úc châu, giới thiệu những sáng tác của nhạc sĩ Phan Văn Hưng và những ca khúc khác cùng một số dân ca Việt Nam
http://home.vicnet.net.au/~aaf/us.htm : trang nhà của đôi nhạc sĩ Lê Tuấn Hùng và Đặng Kim Hiền ớ Úc châu, gồm có những sáng tác nhạc hiện đại của Lê Tuấn Hùng và những bài viết về nhạc Việt Nam .
www.geocities.com/emcahat: nơi sinh hoạt của giới yêu nhạc tài tử và bán chuyên nghiệp ở hải ngoại
www.vota.com/nhac : trang nhà của nhạc sĩ Võ Tá Hân với tất cả sáng tác của anh và có thể nghe những CD gồm trên 200 nhạc phẩm đã được phát hành .
http://perso.club-internet.fr/nmchau : rất nhiều sáng tác của các nhạc sĩ của nhóm Nhạc Việt và của nhóm The Silicon Band ở Pháp .
www.giaidieu.net : diễn đàn trao đổi nhạc Việt, tin tức nhạc trẻ Việt Nam , tiểu sử nhạc sĩ và ca sĩ  sống tại Việt Nam .
www.giaidieuxanh.com.vn : tất cả tin tức nhạc ở  Việt Nam từ nhạc cổ truyền dân tộc đến nhạc Pop Việt /Tây phương, nhạc cổ điển Tây phương và nhạc hiện đại thế giới .

© http://vietsciences.free.fr  Trần Quang Hải

LE CHANT DES HARMONIQUES 2 , Co-auteurs: TRAN QUANG HAI & HUGO ZEMP, FRANCE


Uploaded on Nov 14, 2008
CHANT DE MONGOLIE
蒙古 呼麦
Dans la technique vocale du chant diphonique connu surtout en Asie centrale, une seule personne chante à deux voix: un bourdon (une note grave) constitué par le son fondamental, et une mélodie superposée par des harmoniques sélectionnées dans la cavité buccale.
TRAN QUANG HAI , ethnomusicologue et musicien, enseigne cette technique dans un atelier d’initiation. Des images radiologiques et spectrales, en temps réel et son synchrone, permettent de visualiser les procédés vocaux du point de vue psysiologique puis acoustique. Deux artistes mongols sont interviewés et filmés lors d’un concert à Paris.
Film tournée en 1988 et fini en 1989.

Workshop Overtone Singing led by Tran Quang Hai, ITALY


http://www.youtube.com/watch?v=DUXI7S_UA0g

Uploaded on Oct 15, 2009

Un piccolo frammento del seminario tenuto dal maestro Tran Quang Hai all’ Accademia dello Spettacolo in via Olivari 5 il 12 e 13 Settembre, 2009

Prossima sessione : Marzo

A small fragment of the seminar held by the Master Tran Quang Hai ‘Academy of Performing Arts in via Olivari 5 on 12 and 13 September, 2009

Tran Quang Hai & John Wright – duet in Jew’s harp, Paris, January 15, 2012


Uploaded on Jan 16, 2012

Tran Quang Hai & John Wright in a duet of Jew’s Harp at the celebration of Folkclub Le Bourdon after 43 years existence (since 1969) (John and Hai are founding members of Folkclub Le Bourdon)
This musical event took place at 22 rue Delambre , 75014 Paris, France, on January 15th 2012.
Filmed by Bach Yen

This blog is focused on Trân Quang Hai