Tag Archives: 20 bài tổ đờn ca tài tử

HAI MƯƠI BÀI TỔ CỔ NHẠC MIỀN NAM


Cổ Nhạc Miền NamNHẠC TÀI TỬ20 BÀI TỔ
HAI MƯƠI BÀI TỔ
CỔ NHẠC MIỀN NAM
Song song với nghệ thuật trình diễn trên sân khấu là Hát Bội, các bộ môn ca Huế, Nhạc Lễ và Nhã Nhạc cung đình cũng theo bước chân khẩn hoang của những người dân miền Trung vào Nam, qua mỗi vùng đất nước, thâu nhận thêm những bài dân ca, câu hò, điệu lý của từng vùng mà tạo thành một loại ca nhạc “sa lông”, tức là loại nhạc thính phòng để đờn ca giải trí vui chơi trong lúc nhàn hạ chứ không có trình diễn gọi là Nhạc Tài Tử. Sau cuộc binh biến kinh thành Huế vào năm 1885, vua Hàm Nghi xuất bôn ra chiếu Cần Vương, một số nhạc quan và nhạc công của triều đình lánh nạn vào miền Nam sinh sống, trong đó có Nguyễn Quang Đại, người đã có công rất nhiều trong việc phổ biến Nhạc Tài Tử tại miền Nam. Nguyễn Quang Đại được các báo chí hồi đầu thế kỷ 20 gọi là Ba Đại, nhưng sau này đổi thành Ba Đợi (có người cho là do gọi theo cách phát âm của miền Trung, nhưng có lẽ do kỵ húy tên vua Bảo Đại thì đúng hơn vì trước khi vua Bảo Đại lên ngôi, báo chí vẫn gọi Nguyễn Quang Đại là Ba Đại), nguyên quán ở Hải Lăng, Quảng Trị vào sinh sống tại các vùng Đakao, Cần Giuộc, Cần Đước để truyền dạy Nhạc Lễ và Nhạc Tài Tử. Ông đã đào tạo được nhiều nhạc sĩ lừng danh như ở Đakao có Tám Hạnh, Sáu Thới (thầy của các nhạc sư Tư Nghi, giáo Thinh, Năm Cần), Cao Quỳnh Cư, Cao Quỳnh Diêu, Bảy Nhỏ… Tại các vùng Long An, Cần Giuộc, Cần Đước có các môn sinh như nhạc Láo, Sáu Thoàn, Chín Chiêu, nhạc Thời, Hai Tò Le, Năm Tịnh, cô Sáu Giỏi, cô Bảy Lung v.v… là những nhạc sĩ tài ba mà tiếng tăm còn truyền lại tới bây giờ. Từ những môn sinh của ông, các nghệ sĩ tài danh của thế hệ thứ ba đã được nối tiếp truyền nghề như Tư Huyện, Sáu Quý, Bảy Hàm, Chín Kỳ, Hai Phát, Hai Biểu, Tư Tụi, Ba Lựa v.v… Ngoài việc truyền dạy nghề đờn, Ba Đợi còn đem một số Nhạc Cung Đình cải biên thành Nhạc Lễ miền Nam, hệ thống hóa Nhạc Tài Tử thành bốn điệu Bắc, Hạ, Nam, Oán (còn được gọi là 20 bài tổ). Hai mươi bài tổ gồm có: Ba Nam:

  1. Nam Xuân
  2. Nam Ai
  3. Đảo Ngũ Cung

Bài Đảo Ngũ Cung còn gọi là Nam Đảo. (Tài liệu xưa là sách Cầm Ca Tân Điệu và Nhạc Cổ Điển Việt Nam chỉ gọi là Đảo Ngũ Cung mà thôi).

Sáu Bắc:

  1. Lưu Thủy Trường
  2. Phú Lục Chấn
  3. Bình Bán Chấn
  4. Cổ Bản Trường
  5. Xuân Tình Chấn
  6. Tây Thi Trường

Giới đờn ca tài tử thường chơi Cổ Bản Vắn và Tây Thi Vắn mà ít chơi hai bài Cổ Bản Trường và Tây Thi Trường.

Bảy Bài (tức 7 bài nhạc lễ):

  1. Xàng Xê
  2. Ngũ Đối Thượng
  3. Ngũ Đối Hạ
  4. Long Ngâm
  5. Long Đăng
  6. Vạn Giá
  7. Tiểu Khúc

Bốn Oán:

  1. Tứ Đại Oán
  2. Phụng Cầu
  3. Giang Nam
  4. Phụng Hoàng

Bài Giang Nam còn gọi là Giang Nam Cửu Khúc (vì có 9 lớp), bài Phụng Cầu còn gọi là Phụng Cầu Hoàng Duyên, bài Phụng Hoàng còn gọi là Phụng Hoàng Lai Nghi. (Tài liệu xưa là sách Cầm Ca Tân Điệu và Nhạc Cổ Điển Việt Nam chỉ gọi là Phụng Cầu, Phụng Hoàng mà thôi).

Hai mươi bài tổ này bao gồm đủ cả các âm điệu vui, buồn, thương, giận nên được nhạc giới miền Nam dùng làm căn bản cho nền cổ nhạc từ đó cho đến bây giờ. Vì sự đa dạng của 20 bài tổ nên ít có người đờn hoặc ca làu thông 20 thể điệu này. Vào năm 2007, nhạc sư Ba Tu đã độc tấu đờn kìm đầy đủ 20 bài, xin được giới thiệu sau đây.

Xin nhấn vào hình loa màu xanh phía dưới kế bên mỗi bài để nghe nhạc.

BA NAM:

    Nam Xuân: Điệu nhạc thanh thản lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng, có người cho là “tiên phong đạo cốt”. Bài này thường được dùng để mở đầu các chương trình đờn ca tài tử hoặc ca nhạc cải lương.     Nam Ai: Buồn ảo não, não nùng, bi thảm. Bài này có 8 lớp, cấu trúc cũng như Nam Xuân (cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lớp). Lớp 7 và 8 (hai lớp Mái) thường hay dùng nhất.     Đảo Ngũ Cung qua Song Cước: Tôn nghiêm, hùng tráng, gay gắt. Hai câu cuối được chuyển sang hơi Hò Ba âm điệu buồn, để chấm dứt, gọi là “song cước”.
    Nam Xuân: Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn –(20 câu đầu). Ca sĩ: Kim Thanh     Nam Ai: Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn –(lớp 1, 2 qua lới Mái 7 câu đầu). Ca sĩ: Kim Thanh     Đảo Ngũ Cung: Hiệp Nhứt Trường – (20 câu đầu). Ca sĩ: Kim Thanh
SÁU BẮC:
    Lưu Thủy Trường: Điệu nhạc nhàn hạ, khoan thai, phù hợp với cảnh trí thanh nhàn, non xanh nước biếc, cỏ hoa chim chóc. Lưu Thủy Trường là do Lưu Thủy Đoản phát triển, kéo dài ra. Một câu của “đoản” bằng hai câu của “trường”. Bài này có 4 lớp, 32 câu (8, 6, 12, 6).     Phú Lục Chấn: Sôi nổi, rộn rã, khẩn trương, khác với bài Lưu Thủy Trường có tính thiên nhiên. Bài này có xuất xứ từ bài Phú Lục ở Huế. Khi mới vào Nam Bộ được cải lương hóa thành bài Phú Lục Vắn (17 câu, nhịp 1), sau phát triển thành bài Phúc Lục của nhạc tài tử (34 câu nhịp 4). Bài này rất nghiêm chỉnh cân đối, câu đối câu, nhịp đối nhịp, có 4 lớp (8, 8, 8, 10).     Bình Bán Chấn: Phát triển từ bài Bình Bán, đến Bình Bán Vắn, rồi đến bài Bình Bán Chấn (dài). Gốc là bài Bình Bán vui vẻ sảng khoái, nhưng khi phát triển thành Bình Bán Chấn thì trở thành đĩnh đạc, nghiêm trang. Bài này phức tạp, khúc mắc, ít được dùng trên sân khấu.     Cổ Bản Vắn: Câu ngắn gọn, dồn dập, nhưng không nhấn mạnh như bài Phú Lục.
    Lưu Thủy Trường: Bá Nha Tử Kỳ – (lớp 1, 2). Ca sĩ: Đoàn Dự     Phú Lục Chấn: Khổng Tử Khóc Nhan Hồi – (lớp 1, 2 và 4), Ca sĩ: Đoàn Dự     Bình Bán Chấn: Họa Tượng Vân Tiên – lời: Mười Phú. Ca sĩ: Từ Hải     Cổ Bản Vắn: Duyên Hậu Nghệ – Ca sĩ:Cao Thị Thắng
    Xuân Tình Chấn: Vui tươi, lúc bình thường khi rộn rã, âm điệu vang, trong sáng, nồng nhiệt.     Tây Thi Vắn: Êm dịu, trong sáng, vui tươi, có tính tự sự, không gay gắt như Phú Lục. Bản này là bản dễ nhớ nhứt trong sáu bài Bắc. Bài này có 26 câu, 3 lớp (9, 13, 4).
    Xuân Tình: Tống Tửu Đơn Hùng Tín – Ca sĩ: Hề Sa (Trình Giảo Kim), An Danh ( La Thành), Thanh Phú ( Đơn Hùng Tín).     Tây Thi Trường: Lưu Bình Dương Lễ – lời: Mười Phú (26 câu). Ca sĩ: Thế Hùng
BẢY BÀI:
    Xàng Xê: Hùng tráng uy nghi nhưng dịu dàng, êm ái.     Ngũ Đối Thượng: Có tính uy nghi, nghiêm trang của kẻ trên đối với người dưới.     Ngũ Đối Hạ: Còn gọi tắt là bài Hạ, uy nghi, nghiêm trang, man mác, thanh thản.     Long Ngâm: Rồng xuống, tượng trưng Âm khí. Bài này giống như bài Hạ, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.
    Xàng Xê: Nhớ Quê Ngũ Tân, Thanh Bình – lời: Thanh Hiền (8 câu đầu). Ca sĩ: Đoàn Dự     Ngũ Đối Thượng: Lữ Bố Hí Điêu Thuyền – (16 câu lớp 1). Ca sĩ: Thanh Tuyết     Ngũ Đối Hạ: Hồn Thiêng Sông Núi – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ     Long Ngâm: Nam Quốc Sơn Hà – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ
   Long Đăng: Rồng lên, tượng trưng Dương khí. Giống bài Hạ, nhưng tiết tấu khỏe, ít nghiêm trang.     Vạn Giá: Vạn vật sinh thành đều có giá trị.     Tiểu Khúc: Nhỏ ngắn đều có định luật.
    Long Đăng: Hồn Thiêng Sông Núi – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ     Vạn Giá: Cải Lương Tiền Giang – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ     Tiểu Khúc: Hồn Thiêng Sông Núi – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ
BỐN OÁN:
    Tứ Đại Oán: Điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chơn chất hơn. Hai lớp Xang vắn thường hay được dùng.     Phụng Cầu: Như Tứ Đại Oán, nhưng hơi dựng hơn.     Giang Nam Cửu Khúc: Trầm hơn Tứ Đại Oán, chậm rãi.     Phụng Hoàng: Như Phụng Cầu.
    Tứ Đại Oán: Mong Chờ – lời: Trần Ngọc Thạch (lược bớt lớp Xang dài). Ca sĩ: Kim Thanh     Phụng Cầu: Từ Hải Thọ Tiễn – lời: Trần Ngọc Thạch (10 câu đầu lớp 1). Ca sĩ: Kim Thanh     Giang Nam Tam Khúc: Tình Hoài Hương – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ     Phụng Hoàng: Nhớ Cha – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Kim Thanh

Bài viết tổng hợp từ những tài liệu:

  • Nhị Tấn, Nhạc Tài Tử Nam Bộ, TP HCM, Câu lạc bộ Đờn Ca Tài Tử quận 8, 1997.
  • Nguyễn Tuấn Khanh, Bước Đường Của Cải Lương, California-USA, Viện Việt-Học, 2014.
  • CD 20 Bài Tổ do nhạc sư Ba Tu độc tấu đờn kìm, Long An, Sở VHTT&DL Long An, 2007.
  • CD Đồng Điệu Tri Âm, Long An, Sở VHTT&DL Long An, 2013.
  • Cassettes Đờn Ca Tài Tử do soạn giả Trần Ngọc Thạch thu trong những buổi Đờn Ca Tải Tử.

http://www.namkyluctinh.org/a-amnhac/ntkhanh-HaiMuoiBaiTo.html

Nhạc sư BA TU đờn kìm 20 bài tổ trọn bản dưới đây

BA NAM : Nam Xuân, Nam Ai, Đảo Ngũ Cung

Nam Xuân: Điệu nhạc thanh thản lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng, có người cho là “tiên phong đạo cốt”. Bài này thường được dùng để mở đầu các chương trình đờn ca tài tử hoặc ca nhạc cải lương.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Nam%20Xuan.mp3

Nam Xuân: Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn –(20 câu đầu). Ca sĩ: Kim Thanh

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Luu%20Thuy%20Truong%20Ba%20Nha%20Tu%20Ky-Doan%20Du.mp3

Nam Ai: Buồn ảo não, não nùng, bi thảm. Bài này có 8 lớp, cấu trúc cũng như Nam Xuân (cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lớp). Lớp 7 và 8 (hai lớp Mái) thường hay dùng nhất.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Nam%20Ai.mp3

Nam Ai: Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn –(lớp 1, 2 qua lới Mái 7 câu đầu). Ca sĩ: Kim Thanh

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Nam%20Ai%20-%20To%20Hue%20Chuc%20Cam%20Hoi%20Van-Kim%20Thanh.mp3

Đảo Ngũ Cung qua Song Cước: Tôn nghiêm, hùng tráng, gay gắt. Hai câu cuối được chuyển sang hơi Hò Ba âm điệu buồn, để chấm dứt, gọi là “song cước”.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Dao%20Ngu%20Cung%20qua%20Song%20Cuoc.mp3

Đảo Ngũ Cung: Hiệp Nhứt Trường – (20 câu đầu). Ca sĩ: Kim Thanh

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Dao%20Ngu%20Cung%20Hiep%20Nhut%20Truong-Doan%20Du.mp3

SÁU BẮC : Lưu Thủy Trường, Phú Lục Chấn, Bình Bán Chấn, Cổ Bản Vắn, Xuân Tình Chấn, Tây Thi Vắn

Lưu Thủy Trường: Điệu nhạc nhàn hạ, khoan thai, phù hợp với cảnh trí thanh nhàn, non xanh nước biếc, cỏ hoa chim chóc. Lưu Thủy Trường là do Lưu Thủy Đoản phát triển, kéo dài ra. Một câu của “đoản” bằng hai câu của “trường”. Bài này có 4 lớp, 32 câu (8, 6, 12, 6).

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Luu%20Thuy%20Truong.mp3

Lưu Thủy Trường: Bá Nha Tử Kỳ – (lớp 1, 2). Ca sĩ: Đoàn Dự

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Luu%20Thuy%20Truong%20Ba%20Nha%20Tu%20Ky-Doan%20Du.mp3

Phú Lục Chấn: Sôi nổi, rộn rã, khẩn trương, khác với bài Lưu Thủy Trường có tính thiên nhiên. Bài này có xuất xứ từ bài Phú Lục ở Huế. Khi mới vào Nam Bộ được cải lương hóa thành bài Phú Lục Vắn (17 câu, nhịp 1), sau phát triển thành bài Phúc Lục của nhạc tài tử (34 câu nhịp 4). Bài này rất nghiêm chỉnh cân đối, câu đối câu, nhịp đối nhịp, có 4 lớp (8, 8, 8, 10).

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Phu%20Luc%20Chan.mp3

Phú Lục Chấn: Khổng Tử Khóc Nhan Hồi – (lớp 1, 2 và 4), Ca sĩ: Đoàn Dự

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Phu%20Luc%20Chan%20Khong%20Tu%20khoc%20Nhan%20Hoi-Doan%20Du.mp3

Bình Bán Chấn: Phát triển từ bài Bình Bán, đến Bình Bán Vắn, rồi đến bài Bình Bán Chấn (dài). Gốc là bài Bình Bán vui vẻ sảng khoái, nhưng khi phát triển thành Bình Bán Chấn thì trở thành đĩnh đạc, nghiêm trang. Bài này phức tạp, khúc mắc, ít được dùng trên sân khấu.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Binh%20Ban%20Chan.mp3

Bình Bán Chấn: Họa Tượng Vân Tiên – lời: Mười Phú. Ca sĩ: Từ Hải

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BINHBANCHAN-HOATUONGVANTIEN-MUOIPHU-TUHAI-MINHNHUT-VANXINH-D.mp3

Cổ Bản Vắn: Câu ngắn gọn, dồn dập, nhưng không nhấn mạnh như bài Phú Lục.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Co%20Ban%20Van.mp3

Cổ Bản Vắn: Duyên Hậu Nghệ – Ca sĩ:Cao Thị Thắng

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/Co%20Ban%20Van%20-%20Duyen%20Hau%20Nghe%20-Cao%20Thi%20Thang.mp3

Xuân Tình Chấn: Vui tươi, lúc bình thường khi rộn rã, âm điệu vang, trong sáng, nồng nhiệt.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Xuan%20Tinh%20Chan.mp3

Xuân Tình: Tống Tửu Đơn Hùng Tín – Ca sĩ: Hề Sa (Trình Giảo Kim), An Danh ( La Thành), Thanh Phú ( Đơn Hùng Tín).

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/TongTuuDonHungTin-HeSa-AnDanh-ThanhPhu.mp3

Tây Thi Vắn: Êm dịu, trong sáng, vui tươi, có tính tự sự, không gay gắt như Phú Lục. Bản này là bản dễ nhớ nhứt trong sáu bài Bắc. Bài này có 26 câu, 3 lớp (9, 13, 4).

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Tay%20Thi%20Van.mp3

Tây Thi Trường: Lưu Bình Dương Lễ – lời: Mười Phú (26 câu). Ca sĩ: Thế Hùng

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/Tay%20Thi%20Truong%2026%20cau%20Luu%20Binh%20Duong%20Le-The%20Hung.mp3

BẢY BÀI:  Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Đối Hạ, Long Ngâm, Long Đăng, Vạn Giá, Tiểu Khúc

Xàng Xê: Hùng tráng uy nghi nhưng dịu dàng, êm ái.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Xang%20Xe.mp3

Xàng Xê: Nhớ Quê Ngũ Tân, Thanh Bình – lời: Thanh Hiền (8 câu đầu). Ca sĩ: Đoàn Dự

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Xang%20Xe%20Nho%20que%20Ngu%20Tan-Thanh%20Binh-Doan%20Du.mp3

Ngũ Đối Thượng: Có tính uy nghi, nghiêm trang của kẻ trên đối với người dưới.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Ngu%20Doi%20Thuong.mp3

Ngũ Đối Thượng: Lữ Bố Hí Điêu Thuyền – (16 câu lớp 1). Ca sĩ: Thanh Tuyết

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/Ngu%20Doi%20Thuong%20-%2016%20cau%20Thanh%20Tuyet.mp3

Ngũ Đối Hạ: Còn gọi tắt là bài Hạ, uy nghi, nghiêm trang, man mác, thanh thản.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Ngu%20Doi%20Ha.mp3

Ngũ Đối Hạ: Hồn Thiêng Sông Núi – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/TranNgocThach-Ngu%20Doi%20Ha%20-%20Hon%20Thieng%20Song%20Nui-Bach%20Hue.mp3

Long Ngâm: Rồng xuống, tượng trưng Âm khí. Bài này giống như bài Hạ, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Long%20Ngam.mp3

Long Ngâm: Nam Quốc Sơn Hà – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/TranNgocThach-Long%20Ngam%20-%20Nam%20Quoc%20Son%20Ha-Bach%20Hue.mp3

Long Đăng: Rồng lên, tượng trưng Dương khí. Giống bài Hạ, nhưng tiết tấu khỏe, ít nghiêm trang.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Long%20Dang.mp3

Long Đăng: Hồn Thiêng Sông Núi – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/TranNgocThach-Long%20Dang%20-%20Hon%20Thieng%20Song%20Nui-Bach%20Hue.mp3

Vạn Giá: Vạn vật sinh thành đều có giá trị.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Van%20Gia.mp3

Vạn Giá: Cải Lương Tiền Giang – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/TranNgocThach-Van%20Gia%20-%20Cai%20Luong%20Tien%20Giang-Bach%20Hue.mp3

Tiểu Khúc: Nhỏ ngắn đều có định luật.mp3

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Tieu%20Khuc.mp3

Tiểu Khúc: Hồn Thiêng Sông Núi – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/TranNgocThach-Tieu%20Khuc%20-%20Hon%20Thieng%20Song%20Nui-Bach%20Hue.mp3

BỐN OÁN: Tứ Đại Oán, Phụng Cầu, Giang Nam Cửu Khúc, Phụng Hoàng 

Tứ Đại Oán: Điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chơn chất hơn. Hai lớp Xang vắn thường hay được dùng.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Tu%20Dai%20Oan.mp3

Tứ Đại Oán: Mong Chờ – lời: Trần Ngọc Thạch (lược bớt lớp Xang dài). Ca sĩ: Kim Thanh

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Tu%20Dai%20Oan%20Mong%20Cho-Kim%20Thanh.mp3

Phụng Cầu: Như Tứ Đại Oán, nhưng hơi dựng hơn.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Phung%20Cau.mp3

Phụng Cầu: Từ Hải Thọ Tiễn – lời: Trần Ngọc Thạch (10 câu đầu lớp 1). Ca sĩ: Kim Thanh

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Phung%20Cau%20Tu%20Hai%20Tho%20Tien-Kim%20Thanh.mp3

Giang Nam Cửu Khúc: Trầm hơn Tứ Đại Oán, chậm rãi.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Giang%20Nam%20Cuu%20Khuc.mp3

Giang Nam Tam Khúc: Tình Hoài Hương – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/TranNgocThach-Giang%20Nam%20Tam%20Khuc%20-%20Tinh%20Hoai%20Huong-Bach%20Hue.mp3

Phụng Hoàng: Như Phụng Cầu.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Phung%20Hoang.mp3

Phụng Hoàng: Nhớ Cha – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Kim Thanh

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Phung%20Hoang%20Nho%20Ca-Kim%20Thanh.mp3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CẨM THÚY : Thống nhất 20 Bản tổ Đờn ca tài tử: Dự án đầu tiên của chương trình hành động quốc gia về Đờn ca tài tử


NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ

Thứ Hai, 31/03/2014, 08:40
Thống nhất 20 Bản tổ Đờn ca tài tử: Dự án đầu tiên của chương trình hành động quốc gia về Đờn ca tài tử
Dưới sự chủ trì của Viện Âm nhạc Việt Nam, một hội đồng nghệ thuật âm nhạc Đờn ca tài tử (ĐCTT) khu vực Đông – Tây Nam bộ và TP. HCM đã được thành lập để thực hiện dự án đầu tiên trong chương trình hành động quốc gia bảo vệ nghệ thuật ĐCTT – dự án thống nhất 20 bản tổ. Họ là những danh ca, danh cầm trứ danh của các tỉnh Đông – Tây Nam bộ và khu vực TP. HCM.
 tran hai dang

Ông Trần Hải Đăng.

Nói rõ về mục đích, ý nghĩa của dự án đầu tiên này, Phó Viện trưởng Viện Âm nhạc Việt Nam, ông Trần Hải Đăng cho biết:

Gọi nôm na là dự án, nhưng thực tế đây là chuyến điền dã về ĐCTT cũng như nhiều chuyến điền dã trước đây Viện Âm nhạc đã từng thực hiện về ĐCTT. Chuyến điền dã lần này có mục đích thu âm 20 bản tổ, các bản bắt buộc nằm trong hệ thống ĐCTT (bắc, hạ, nam, oán).

Với chủ trương ấy, Viện Âm nhạc chủ trì cùng với hội nghệ thuật của các tỉnh miền Đông, miền Tây, khu vực TP. HCM gồm những nghệ nhân, nghệ sĩ, nhạc sĩ là những thầy đờn giỏi, như Ba Tu, Tấn Nhì, Thiện Vũ, Huỳnh Khải… thực hiện việc thu âm. Sau khi được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, đây là dự án đầu tiên trong chương trình hành động quốc gia bảo vệ nghệ thuật ĐCTT, đây cũng là việc làm mà Tổ chức UNESCO quy định bắt buộc đối với di sản văn hóa thế giới được công nhận, phải làm sao để chứng tỏ được ĐCTT đã đi vào đời sống như hồ sơ đã trình bày trước UNESCO.

PV: Để có một tài liệu gọi là chuẩn xác nhất, thưa ông, việc thu âm 20 bản tổ lần này được thực hiện như thế nào?

Ông Trần Hải Đăng: Thật ra lâu nay chúng ta đã từng thống nhất với nhau về 20 bản tổ trong âm nhạc tài tử rồi, nhưng chỉ dừng lại ở mức độ là văn bản chữ viết, còn một tài liệu dưới hình thức thu âm băng đĩa để minh chứng sống động về việc thống nhất 20 bản tổ chưa có. Viện Âm nhạc là đơn vị có ý tưởng và là người đại diện thực hiện, còn cách làm của Viện là chúng tôi để cho các tỉnh tự chọn ra hội đồng nghệ thuật thực hiện việc thống nhất và thực hành 20 bản tổ trên nền thu âm. Họ là các danh cầm giỏi được chọn từ 21 tỉnh, thành. Việc thu âm sẽ được thực hiện ở 2 điểm Bạc Liêu và TP. HCM. Điểm ở Bạc Liêu sẽ do nghệ sĩ ưu tú Thiện Vũ (tỉnh An Giang) phụ trách thực hiện, nhóm sẽ thực hiện một số bài quy định bắt buộc trong 20 bản tổ (đờn và ca), nhóm còn lại sẽ tiến hành tại TP. HCM do nghệ nhân Ba Tu và nhạc sĩ Huỳnh Khải phụ trách.

Buổi thu âm của hội đồng nghệ thuật âm nhạc đờn ca tài tử khu vực Đông – Tây Nam bộ
và TP. HCM thực hiện tại Bạc Liêu. Ảnh: C.T

Trước tiên hội đồng nghệ thuật phải xây dựng thành văn bản và thu âm dựa trên đúng văn bản ấy. Và để có được văn bản mang tính thống nhất cao, trước đó chúng tôi đã tổ chức cuộc hội thảo, nghĩa là Viện Âm nhạc đã có hành trình khá dài để thực hiện việc này. Những bài bản đã được xác định sẵn thành văn bản và việc ghi âm thực hiện đúng theo bản đờn ấy sẽ đem lại bản mẫu chuẩn xác nhất. Trên cơ sở vững chắc ấy, chúng tôi tin dự án sẽ thành công ở mức độ cao nhất!

PV: Ngoài việc thực hiện đúng theo quy định bắt buộc của tổ chức UNESCO, thì việc thống nhất 20 bản tổ theo ông còn có ý nghĩa đặc biệt như thế nào đối với nghệ thuật ĐCTT hiện tại và trong tương lai?

Ông Trần Hải Đăng: Trước tiên, chúng tôi khẳng định, những người được chọn vào hội đồng nghệ thuật này rất vinh dự, đây là niềm vinh dự trong nghề. Gọi là dự án, nhưng chúng tôi thực hiện bằng tâm huyết là chính, vì đây là lần đầu tiên, chúng tôi tạo ra một hệ thống bài bản chuẩn xác và sinh động cho ĐCTT.

Với đĩa thu âm này, Viện Âm nhạc có chủ trương sẽ sản xuất hàng loạt, bằng nhiều hình thức như cho, biếu, tặng, bán… để phổ cập chương trình này, từ đó mọi người cùng nắm vững các bài bản tổ của ĐCTT. Cùng với đĩa thu âm, kèm theo sách hướng dẫn chữ đờn, người chơi nhìn văn bản và nghe đĩa là có thể chơi được. Theo tôi, đây sẽ là tài liệu vô cùng quý giá, đĩa tư liệu để đời mang lại ý nghĩa rất lớn cho hiện tại và mai sau. Lâu nay, ĐCTT thường được lưu truyền, dạy theo kiểu truyền khẩu, truyền ngón mà thiếu việc hướng dẫn kiến thức văn bản chữ viết đi kèm thực hành. Vì vậy, đây có thể xem là tiền đề để cho việc dạy âm nhạc tài tử sau này một cách bài bản, chỉn chu.

PV: Xin cảm ơn ông!

Theo Cẩm Thúy – Báo Bạc Liêu Online

http://festivaldoncataituquocgia.baclieu.gov.vn/nghethuatDCTT/lists/posts/post.aspx?Source=%2fnghethuatDCTT&Category=&ItemID=19&Mode=1

 

 

TIN MỚI HƠN
TIN ĐÃ ĐƯA

Tiếng đàn kìm NS NSUT Ba Tu : 20 bài tổ của ĐỜN CA TÀI TỬ


Bấm vào địa chỉ sau đây để nghe 20 bài tổ

http://www.conhacvietnam.com/trangnha/?p=1137

Tiếng đàn kìm NS NSUT BA TU : 20 bài tổ của ĐỜN CA TÀI TỬ

Image

NSUT BA TU 

Mời các bạn nghe tiếng đàn độc tấu đàn kìm 20 bản tổ nhạc tài tử do Nhạc sỹ Nghệ Sỹ Ưu Tú Ba Tu trình tấu.

6 BẮC

1. LƯU THỦY TRƯỜNG

2. PHÚ LỤC CHẤN

3. BÌNH BÁN CHẤN

4. XUÂN TÌNH CHẤN

5. CỔ BẢN VẮN

6. TÂY THI VẮN

3 NAM 

7. NAM XUÂN

8. NAM AI

9. ĐẢO NGŨ CUNG qua SONG CƯỚC

7 LỄ

10. XÀNG XÊ

11. NGŨ ĐỐI THƯỢNG

12. NGŨ ĐỐI HẠ

13. LONG ĐĂNG

14. LONG NGÂM

15. VẠN GIÁ

16. TIỂU KHÚC

4 OÁN

17. PHỤNG HOÀNG

18. TỨ ĐẠI OÁN

19. GIANG NAM CỬU KHÚC

20. PHỤNG CẦU HOÀNG DUYÊN