Nghệ Nhân Dân Gian – Nữ Danh Ca BẠCH HUỆ: Không còn nữa


Trang nhất » Tin Tức » Đời thường nghệ sĩ

Nghệ Nhân Dân Gian – Nữ Danh Ca BẠCH HUỆ: Không còn nữa

Thứ bảy – 12/10/2013 15:06

 
 
Linh cửu NS Bạch HuệLinh cửu NS Bạch Huệ

(CLVN.VN) – NS Bạch Huệ vừa qua đời vào sáng nay (12-10-2013) tại Dưỡng Lão nghệ Sỹ, thọ: 80 tuổi. Cô ra đi rất nhẹ nhàng, buổi sáng như thường ngày các NS tại DLSN quay quần bên nhau xem film, NS Bạch Huệ thích film Bao Công nhưng đến giờ chiếu film mà NS Bạch Huệ chưa ra xem. Nữ NS Lệ Thẫm bèn mở cửa phòng của NS Bạch Huệ để kêu, thấy cứ tưởng NS Bạch Huệ đang ngủ, nên cầm chân để đánh thức thì tá hỏa …chân đã lạnh ngắt, và NS bạch Huệ đã ngưng thở tự lúc nào không hay.

TANG LỄ NS BẠCH HUỆ TỔ CHỨC TẠI DƯỠNG LÃO NS

Khi NS mở cửa phòng gọi Cô ra xem film Bao Công thì Cô đang nằm thế này …

Zoom in (real dimensions: 800 x 600)Hình ảnh

Phát hiện Cô qua đời…giử nguyên hiện trường gọi cho người nhà đến.
Người nhà đến và sửa soạn lại cho Cô nằm

Zoom in (real dimensions: 800 x 600)Hình ảnh

Mới chết đây thôi vì cơ thể còn mềm …nhưng rờ lên mũi thì…không còn thở nửa

Zoom in (real dimensions: 700 x 933)Hình ảnh

Nữ danh ca tài tử Bạch Huệ tên thật là Huỳnh Thị Huệ, sanh năm 1933 tại Cần Thơ. Con của nhạc sư Sáu Tửng, chuyên đờn kìm và là em ruột của nhạc sĩ tân nhạc Huỳnh Anh, người được biết qua hai bài tân nhạc đã một thời là nhạc được ưa thích nhất của giới sinh viên – thanh niên ở Saigon.

Đó là bản nhạc Hoa trắng thôi cài trên áo tím, nhạc Huỳnh Anh, thơ Kiên Giang và bản nhạc Mưa Rừng, sáng tác riêng cho cố nữ nghệ sĩ Thanh Nga ca trong tuồng Mưa Rừng của Hà Triều Hoa Phượng.

Truyền thống gia đình 

Từ nhỏ, cô Bạch Huệ đã thâm nhiểm điệu đàn câu ca cổ nhạc vì cha của cô là nhạc sư chuyên xử dụng cây đờn kìm, ông có nhiều bạn nhạc sĩ thường tổ chức những buổi đờn ca tài tử ở địa phương. Khi nhạc sư Sáu Tửng đi đờn cho gánh hát của bà Phùng Há thì ở nhà, cô Bạch Huệ cũng được các chú bác nhạc sĩ, bạn của cha cô dạy cho cô ca và mời cô tham gia các buổi đờn ca tài tử. Bạch Huệ nổi tiếng là một danh ca, ca rất đúng bài bản cổ nhạc và ca chắc nhịp, giọng ca mượt mà truyền cảm nên nhiều người khuyên cô nên theo nghề nghiệp cầm ca của gia đình.

Năm 1947, lúc 14 tuổi, Bạch Huệ lên Saigon tìm đường tiến thân bằng con đường ca cổ nhạc. Nhiều nhạc sĩ đờn cho các quán ca nhạc và đài phát thanh là bạn của nhạc sư Sáu Tửng nên họ mời Bạch Huệ đến ca trong quán ca nhạc Đức Thành Hưng ở sau chợ Saigòn và quán cổ nhạc của thầy Mười An ở Cầu Ông Lãnh. Cô Bạch Huệ nổi danh là một danh ca chẳng những tốt giọng mà về nghệ thuật, cô ca rành rẽ, đúng điệu 20 bài bản Tổ, 3 Nam, 6 Bắc, 4 Oán và 7 bài. Đây là một trường hợp đặc biệt vì ít có ca sĩ học đầy đủ trọn bài bản, phần đông các ca sĩ chỉ học ca từng lớp của mỗi bài ca. Ví vụ ca Nam Ai, họ chỉ học Nam Ai lớp một hay bản Nam Ai lớp mái, chứ không học đủ trọn bài một cách căn bản như Bạch Huệ.

Danh ca Tám Thưa, trưởng Ban Việt Nam Cổ Nhạc đoàn mời cô ca trên đài Phát Thanh Pháp Á và sau đó thu nhận cô làm ca sĩ của Ban Việt Nam Cổ nhạc đoàn. Đài Phát Thanh Saigon. Các hãng dĩa Asia, Hoành Sơn, Pathé cũng nhanh chóng khai thác giọng ca lạ và khả năng ca nhiều bài bản của nữ danh ca Bạch Huệ để giới thiệu với thính giả miền Nam và cả thính giả Hà Nội và Huế

Nữ ca sĩ Bạch Huệ ca theo lối chân phương, đúng từng điệu thức, đúng theo phong cách tài tử nên thính giả , thực khách của các nhà hàng ca nhạc rất thích nghe nữ danh ca Bạch Huệ ca, tuy nhiên vì số thính giả chọn lọc nên số thính giả đó chỉ là một số rất ít nếu so với khán giả cải lương, vì vậy thu nhập của các ca sĩ tài tử như Bạch Huệ, Sáu Thoàng, Chín Sớm cũng thua sút xa so với các danh ca vọng cổ trong lãnh vực cải lương như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Mỹ Châu, Ngọc Giàu…

Các danh ca chuyên đờn ca tài tử như Sáu Thoàng, Chín Sớm, Thành Công, Kim Nguyên gia nhập các gánh hát Kim Thoa, Thanh Minh, Kim Chung với hy vọng tìm một địa vị khả quan trên sân khấu cải lương nhờ vào giọng ca tốt và biết nhiều bài bản cổ nhạc. Nữ danh ca Bạch Huệ cũng gia nhập đoàn hát Hoài Dung – Hoài Mỹ và trong hai năm 1957 – 1958, cô đã thay đổi qua các đoàn hát khác như Song Kiều, Kim Thanh, Tơ Đồng nhưng ca sĩ Bạch Huệ sớm nhận ra rằng hát trên sân khấu cải lương không phải chỉ có ca cổ nhạc mà còn phải có khả năng diễn xuất, phải có duyên sân khấu và phản ứng nhạy bén với các bạn diễn. Diễn viên cải lương muốn thành công cần phải có nhan sắc đẹp, giỏi vũ đạo trên sân khấu, có phong thái sang trọng, và nhứt là có dịp may gặp một vai tuồng thích hợp để phát huy khả năng ca diễn của mình.

Danh ca vọng cổ 

Nhạc sĩ tân nhạc Huỳnh Anh. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương. Nữ ca sĩ Bạch Huệ không được khán giả hoan nghinh như các thính giả đã hoan nghinh giọng ca tài tử của Bạch Huệ. Do đó, tuy trong việc đờn ca tài tử ở các đài phát thanh, hãng dĩa hay các quán ca nhạc không mang lại cho Bạch Huệ một số thu nhập khá để cho cuộc sống được thoải mái nhưng Bạch Huệ cũng đành chấp nhận việc trở về với ca nhạc tài tử ở Đài Phát Thanh, hợp với khả năng của cô.

Trong những thập niên 50, 60, 70, các danh ca vọng cổ thành danh trên sân khấu cải lương đều có ký contrat bạc triệu với các bầu gánh hát, số lương cũng lên đến vài ngàn đồng mỗi suất hát. Các danh ca tài tử thì bị thiệt thòi về tài chánh, số thu nhập rất khiêm tốn. Ca sĩ Thành Công có vợ là chủ tiệm may Hạnh Dung nên cuộc sống kinh tế thoải mái hơn các ca sĩ tài tử khác.

Nữ ca sĩ Bạch Huệ vẫn đeo đuổi theo nghiệp cầm ca mà cô đã chọn theo truyền thống của gia đình. Tuy thu nhập vừa đủ sống nhưng về phần tinh thần thì Bạch Huệ được các nghệ sĩ ngành ca cổ tôn vinh là bậc thầy trong lối ca tài tử.

Khi cô Ngọc Ánh, giảng viên dạy ca cổ nhạc trường quốc gia âm nhạc từ trần, Bạch Huệ được mời dạy ca thế cho cố nghệ sĩ Ngọc Ánh.

Đến những năm 1990, tình hình sân khấu cải lương xuống dốc, người ta tổ chức mỗi tháng một lần chương trình Vầng Trăng Cổ Nhạc với hy vọng phục hồi phong trào đờn ca tài tử cổ nhạc, tiền thân của nghệ thuật sân khấu cải lương. Nội dung chương trình Vầng Trăng Cổ Nhạc gồm có nhiều bài vọng cổ nổi tiếng, nhiều trích đoạn cải lương hay với thành phần nghệ sĩ tài danh nhiều thế hệ đã thu hút đông đảo khán giả mỗi tháng một lần, khi thì Vầng Trăng Cổ Nhạc được tổ chức trên sân thượng khách sạn Rex, khi thì được tổ chức trong khu du lịch Đầm Sen. Ở khu dưỡng lão nghệ sĩ cũng tổ chức mỗi tháng một lần chương trình Đêm Rầm Ca Hát.

Các tỉnh tổ chức Vầng Trăng Cổ Nhạc ở địa phương và tổ chức nhiều cuộc thi tuyển những giọng ca vàng, các tour du lịch sinh thái có đờn ca tài tử cổ nhạc. Nữ ca sĩ Bạch Huệ tuy đã lớn tuổi ( 74 tuổi ) nhưng sức khoẻ nghệ sĩ Bạch Huệ còn tốt, giọng ca còn truyền cảm nên cô được mời dạy ca cho các lớp ca tài tử từ vỡ lòng đến các lớp cao với 20 bài bản tổ ở thàng phố và một số tỉnh như Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Cần Thơ. Nữ nghệ sĩ Bạch Huệ cũng được mời làm giám khảo các kỳ thi đờn ca tài tử ở thành phố và các tỉnh.

Khi sân khấu cải lương diễn trọn tuồng không có rạp hát để diễn, khán giả cải lương mất dần thói quen đến rạp hát để coi hát thì những chương trình ca lẽ, ca vọng cổ và hát trích đoạn cải lương của Vầng Trăng Cổ Nhạc được khán thính giả ưa thích, dịp nầy khiến cho nữ nghệ sĩ Bạch Huệ và các ca nhạc sĩ chuyên đờn ca tài tử có đất để hoạt động. Nữ nghệ sĩ Bạch Huệ được phong là Nghệ Nhân Dân Gian sau 60 năm góp công với nền nghệ thuật đờn ca tài tử.

Hiện nay ít có nghệ sĩ thông hiểu tường tận và đầy đủ 20 bài bản Tổ, phần lớn các nghệ sĩ chỉ học ca từng lớp trong mỗì bản ca theo yêu cầu của từng tuồng, tôi nghĩ là nếu không thu thanh ghi âm lại tất cả điệu thức, cách ca, cách đờn thì tôi e rằng sau khi các nghệ nhân lão thành khuất núi rồi thì nghệ thuật đòn ca 20 bài bản Tổ sẽ thất truyền.
 

VÀI HÌNH ẢNH LƯU NIỆM CỦA NS BẠCH HUỆ VỚI TRANG NHÀ CAILUONGVIETNAM.VN
Hình ảnh

Cô góp vui lại một bài hát :

Zoom in (real dimensions: 1024 x 576)Hình ảnh

Trang nhà và toàn bộ các nghệ sĩ trong viện DLNS – trong đó cô ngồi phía tay trái:

LÊ PHƯỚC : Bạch Huệ : Đệ nhất nữ danh ca tài tử Nam Bộ


Image

23.11.2013 10:15
Xem hình
 

Nếu những bậc trí giả ngày xưa có bốn thú tiêu dao tao nhã là : cầm, kỳ, thi, họa (đờn, cờ, thơ, vẽ), thì từ đầu thế kỷ 20 người nông dân miền sông nước Cửu Long cũng bắt đầu biết đến một thú tiêu dao bình dị nhưng rất hàn lâm: Đờn ca tài tử. Đến hiện tại có thể nói rằng, Đờn ca tài tử là một bản sắc văn hóa độc đáo của người Nam Bộ. 

http://www.cailuongvietnam.com/clvn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1372

Image
Nghệ nhân dân gian Bạch Huệ (DR)

Nếu những bậc trí giả ngày xưa có bốn thú tiêu dao tao nhã là : cầm, kỳ, thi, họa (đờn, cờ, thơ, vẽ), thì từ đầu thế kỷ 20 người nông dân miền sông nước Cửu Long cũng bắt đầu biết đến một thú tiêu dao bình dị nhưng rất hàn lâm: Đờn ca tài tử. Đến hiện tại có thể nói rằng, Đờn ca tài tử là một bản sắc văn hóa độc đáo của người Nam Bộ. 

Trải qua thời gian trên dưới một thế kỷ, trong làng Đờn ca tài tử đã xuất hiện nhiều “tay ca” cự phách. Và một trong những tay ca thuộc hàng cự phách nhất đó là nữ danh ca Bạch Huệ, người đã “ca tài tử” cho đến ngày nhắm mắt.

Con nhà tông …

Nữ danh ca tài tử Bạch Huệ sinh năm 1933 tại Cần Thơ. Cha cô là thầy đờn Sáu Tửng, một tay đờn kìm quán tuyệt, một danh cầm lừng lẫy thuộc hàng tiền bối của Văn Vĩ, Năm Cơ, Bảy Bá (Ba người được mệnh danh là Tam Hùng trong làng đờn cổ nhạc hồi trước). Danh cầm Sáu Tửng, ngoài nổi tiếng trong lĩnh vực Đờn ca tài tử, còn tham gia đờn cho nhiều đoàn hát cải lương chuyên nghiệp. Bạch Huệ có một người anh trai là nhạc sĩ nổi tiếng Huỳnh Anh, tác giả của bài tân nhạc trứ danh Mưa Rừng (viết riêng cho Thanh Nga và đến hiện tại vẫn còn được nhiều người yêu thích).

Từ nhỏ, Bạch Huệ đã sống trong cái không khí Đờn ca tài tử của vùng đất Cần Thơ. Tiếng Đờn, lời ca câu hát tài tử đã thấm vào tâm hồn của cô lúc nào không hay biết. Để rồi, dù thân phụ không cho, nhưng Bạch Huệ vẫn lén học ca tài tử. Đến năm 13 tuổi, Bạch Huệ đã được mời ca trên đài phát thanh Pháp Á ở Sài Gòn. Bạch Huệ ca đã có tiếng nhưng cha cô lại chưa hay biết. Đến năm Bạch Huệ 18 tuổi, khi danh cầm Sáu Tửng phát hiện con gái là một tay ca tài tử điệu nghệ thì chuyện đã rồi. Và ông phải chấp nhận cái cảnh: “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”.

Tiếng tăm Bạch Huệ trở nên vang dội khi mà vào năm 1951, tờ báo Tiếng Dội của ông Trần Tấn Quốc -người chủ xướng giải Thanh Tâm, cho trưng cầu ý kiến độc giả, thì Bạch Huệ đoạt danh hiệu “Nữ đệ nhất danh ca”. Sau đó, nhiều đoàn hát đã mời Bạch Huệ cộng tác. Thế nhưng, có lẽ tổ nghiệp đã muốn cho “hai loài hoa trắng” trấn giữ mỗi người một lĩnh vực, nên mới cố tình sắp đặt cho “Hoa lan trắng” (Út Bạch Lan) “trấn” bên cánh nữ của cải lương, còn “Hoa huệ trắng” (Bạch Huệ) trấn bên cánh nữ của Đờn ca tài tử. Và có lẽ vì thế, sau khi tham gia một số đoàn hát cải lương chuyên nghiệp, Bạch Huệ đã không thu được thành công như khi còn ở bên Đờn ca tài tử. Cuối cùng, Bạch Huệ trở lại với lĩnh vực Đờn ca tài tử và hầu như đã “ngự trị” lĩnh vực này đến cuối đời.

Mấy thập niên qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau, sân khấu cải lương chuyên nghiệp đã dần mất khán giả. Thế hệ khán giả lớn tuổi đôi khi cũng không còn mặn mà với cải lương. Và dĩ nhiên, lượng khán giả trẻ đến với cải lương là rất ít. Đờn ca tài tử là bộ môn “xưa” hơn cải lương nên thu hút càng ít người trẻ tuổi.

Thế nhưng, có một điều đặc biệt đối với Bạch Huệ, đó là giọng ca của cô lại được nhiều bạn trẻ biết đến và yêu thích. Từ năm 2008, Bạch Huệ bị tai nạn giao thông phải ngồi xe lăn, thế nhưng, người ta vẫn thấy cô xuất hiện ở hầu hết các chương trình Đờn ca tài tử từ Sài Gòn đến các tỉnh.

Thời gian gần đây, người ta vẫn còn thấy một bà lão tóc bạc ngồi xe lăn ca trên sân khấu của một phòng trà có tiếng ở Thành phố Hồ Chí Minh. Mọi người cũng được chứng kiến một hình ảnh đáng ngạc nhiên : mấy chục sinh viên trẻ tuổi ngồi nghe say mê bài Dạ cổ hoài lang được thể hiện bởi một bà lão liệt hai chân phải bám hai tay vào thân cột nhà để ca. Bà lão tóc bạc phơ đó chính là nữ danh ca tài tử Bạch Huệ.

Từ Đờn ca tài tử đến Cải lương

Bạch Huệ “chuyên trị” Đờn ca tài tử, chứ không phải là nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp. Đờn ca tài tử khác biệt với cải lương như thế nào? Đờn ca tài tử có phải là “quê mùa” như người ta thường nghĩ? Đờn ca tài tử có “dễ chơi” không ? Xin lướt qua đôi chút về những vấn đề này để hiểu thêm và trân trọng hơn nữa “cái nghề” mà danh ca Bạch Huệ đã gắn bó suốt 70 năm.

Tản mạn từ các tài liệu ghi chép cho liên quan, có thể khái quát về tài tử và cải lương như sau : Người dân đồng bằng Nam Bộ từ bao lâu nay có một thú vui rất văn học, đó là hò đối đáp: Hò trên đồng ruộng khi gieo mạ hay cắt lúa, hò trên sông khi chèo thuyền, hò đêm trăng trong dịp lễ cúng đình …

Từ đó mà bao câu hò điệu lý đã ra đời. Đương nhiên, cái hò không phải là do bà con Nam Bộ sáng tạo ra, mà là do ông cha ta đã du nhập vào Nam trong quá trình “Nam tiến”. Thế nhưng, những câu hò điệu lý của bà con Nam Bộ có cái rất riêng, và phải là giọng “rặc” miền Nam thì hò nghe mới hay.

Đến cuối thế kỷ XIX, Nhã Nhạc Cung Đình Huế bắt đầu tiến xuống phương Nam và đương nhiên là được văn hóa Nam Bộ dung hợp như bản chất vốn có của nền văn hóa này. Sự hội ngộ giữa hai nền âm nhạc đã cho ra đời cái gọi là “Đờn ca tài tử”. Bà con nông dân Nam Bộ khi rảnh rỗi, hay nhân dịp trăng rằm, hẹn nhau tập trung lại một nhà, ngồi ngoài sân, cùng “ăn nhậu”, cùng ca hát. “Ăn nhậu” ở đây không mang nghĩa “rượu chè be bét”, mà là: mượn men rượu làm thắm men tình, làm nồng câu ca tiếng hát.
Dần dần, người ta ngồi ca hoài cũng chán, trong khi có những bài ca mới khá dài, có chứa đựng những hành động hay những lời đối đáp. Thế là, người ca tài tử mới bắt đầu đứng dậy “ca” với những “cử chỉ” tay, mắt, mặt…để bổ trợ cho lời ca. Đương nhiên, những cử chỉ điệu bộ này hết sức “thô sơ”, thể hiện đúng như “rập khuôn” cái tình cảm mà bài ca muốn nói. Tức đúng với bản chất chân quê của người nông dân: nghĩ sao nói vậy. Đó là cách ca mà các nhà nghiên cứu sau này gọi là “Ca ra bộ”.

Trong khoảng thời gian đầu thế kỷ XX, người Việt Nam đã biết đến kịch nghệ của Pháp. Kịch cổ điển của Pháp được biểu diễn trên sân khấu, mỗi vở diễn thường được chia ra thành 5 màn, xoay quanh một cốt truyện nào đó. Loại hình này cũng đã ảnh hưởng đến những người ca tài tử Nam Bộ.

Bởi có người nghĩ : Tại sao chỉ viết những bài ca vắn mà không viết thành hẳn một tuồng cùng một cốt truyện nhưng có nhiều tình tiết và đưa lên sân khấu biểu diễn. Trong ý tưởng đó, “Cải lương” đã ra đời.

Như vậy, Cải lương nói một cách nôm na là Ca ra bộ được đưa lên trình diễn trên sân khấu. Thế nhưng, đã lên sân khấu hát nguyên tuồng thì phải “diễn xuất”. Tức là, người nghệ sĩ trên sân khấu lấy lời “ca” để bổ trợ cho động tác “diễn”. Người ta đến “xem” nghệ sĩ biểu diễn, còn người nghệ sĩ thì “hát” cho người ta “xem”. Bởi vậy mà, thường nghe ông bà ta nói là “hát cải lương”, nhưng lại là “Ca tài tử”. Bởi vì, trong Đờn ca tài tử, thì động tác “ca” là chính mà “ra bộ-diễn” là phụ.

Và khi một nghệ sĩ cải lương và một người ca tài tử thể hiện cùng một bài ca, thì qua động tác thể hiện, người ta có thể phân biệt được đâu là dân cải lương mà đâu là dân tài tử: động tác của tài tử thì “thô sơ”, có sao làm vậy, còn động tác của nghệ sỹ cải lương thì có ít nhiều ước lệ trong đó, nên nó được thể hiện đúng mức và đẹp mắt, mang tính chuyên nghiệp.

Vì cái trọng tâm là biểu diễn, cho nên người nghệ sĩ cải lương không phải bận tâm học đầy đủ bài bản tổ, mà thường chỉ học ca cái gì cần thiết cho vai tuồng mà thôi. Ví dụ như bản Phụng Hoàng 12 câu, trong vai tuồng soạn giả chỉ viết có 4 câu, thì người nghệ sĩ đóng vai tuồng đó chỉ tập trung học ca bốn câu đó mà thôi.

Phụng Hoàng là bài bản khá quen thuộc nằm trong 20 bài bản tổ, nên dĩ nhiên nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp đều biết ca hết 12 câu, thế nhưng không phải ai cũng làu thông 20 bài bản tổ. “Làu thông” ở đây tức là hiểu rõ nhịp nhàng và ca đúng nhịp từ đầu đến cuối tất cả 20 mươi bài bản tổ.

Chưa hết, mỗi bài bản đều thể hiện một tâm trạng cụ thể. Có bài bản thể hiện sự bi ai tột cùng, có bài bản thể hiện sự đau khổ vừa phải, có bài bản thể hiện sự bi hùng, có bài bản thể hiện sự tươi vui rộn rã…Trong từng bài bản, người ca phải làm sao sử dụng giọng ca thể hiện được tâm trạng cần thiết (đúng “cái thần” của bài bản) và đương nhiên cũng phải đúng nhịp nhàng.

Đây là một yêu cầu rất khó mà nếu không phải nghệ sỹ cải lương bậc thầy thì khó lòng đạt đến được. Bởi vậy, nhiều nghệ sĩ cải lương được gọi là chuyên nghiệp, nhất là trong giai đoạn ngày nay, chỉ đạt được một điều là ca đúng nhịp thôi chứ chưa đạt đến mức thể hiện được “cái thần” của bài bản. Trong khi đó, như đã nói, dân ca tài tử “đúng điệu” là phải đặt trọng tâm cho việc “ca”, vì thế họ tập trung thể hiện được “cái thần” của bản ca.

Như vậy, dù sinh ra và trưởng thành từ nơi thôn dã, nhưng Đờn ca tài tử thật sự là một nghệ thuật mang tính hàn lâm. Tức là, không phải khi ca tài tử là muốn ca thế nào thì ca, mà rất có khuôn phép, bài bản. Người ca phải ca làm sao cho đúng nhịp, đúng dây đờn. Hơn thế nữa, người ca phải hiểu được nét tinh túy của các bài bản tài tử, đó là: mỗi bài bản tài tử đều có ý thể hiện một tâm trạng cụ thể, đó là “cái thần” của Đờn ca tài tử.

Người ca tài tử được xem là “đúng điệu” không chỉ biết ca đúng nhịp, mà còn phải biết sử dụng giọng ca để thể hiện đúng tâm trạng, đúng “cái thần” mà bài bản đòi hỏi. Nói cách khác là thể hiện tất cả những cung bậc tình cảm bằng giọng hát. Một nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp chưa chắc gì có nhịp nhàng và cách ca “chuẩn” như dân ca tài tử “đúng điệu”. Trên có sở đó, có thể nói rằng, người ca tài tử là những nghệ sĩ nhà nghề “chuyên trị” về “ca”. Đương nhiên, ở đây chỉ nói đến những dân ca tài tử “đúng điệu”, tức là những bậc thầy trong Đờn ca tài tử, chứ không nói đến Đờn ca tài tử đại trà trong quần chúng.

Có người cho rằng, chữ “tài tử” trong Đờn ca tài tử có nghĩa là “dân chơi không chuyên nghiệp”. Thế nhưng, qua những điều phân tích bên trên, ta thấy không thể hiểu như vậy. Còn nhớ cụ Trần Văn Khê thường nói, chữ “tài tử” phải mang ý nghĩa của câu “Dặp dìu tài tử giai nhân” như trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du.

Người ca tài tử là những bậc tài hoa, yêu thích môn nghệ thuật đờn ca Nam Bộ này, nhưng không phải lấy đó làm nghề để sinh nhai, mà lấy đó là một đam mê, một thú tiêu khiển không thể thiếu và sẵn sàng sống hết mình với thú tiêu khiển đó. Tức là, người ca tài tử lấy sự ca để nuôi dưỡng tinh thần và cũng biết “chết sống” với nó.

Có lẽ đó cũng là lý do mà tại sao danh ca Ngọc Bảo bên tân nhạc suốt đời ông chỉ thích xưng là “Tài tử Ngọc Bảo” chứ không phải là “Ca sĩ Ngọc Bảo” trong khi giọng ca Ngọc Bảo thuộc đẳng cấp bậc thầy trong dòng nhạc của ông.

Người ca tài tử “đúng điệu” không lấy tài tử làm kế sinh nhai còn có trình độ ca như vậy, thì huống gì là người lấy ca tài tử làm nghề, tức là ca tài tử chuyên nghiệp như Danh ca Bạch Huệ, thì trình độ ca còn “chuẩn” đến dường nào.

Đệ nhất nữ danh ca tài tử Nam Bộ

Bạch Huệ có giọng trong, có pha một chút khàn, là một giọng có thế mạnh để “ca mùi”. Tuy nhiên, điểm đặc trưng nhất trong giọng ca của Bạch Huệ đó là một giọng ca “đầy đặn”. Tiếng ca của Bạch Huệ rất khỏe. Thời gian gần đây, dù ở tuổi 80, Bạch Huệ vẫn ca “đầy đặn” như xưa. Nghe Bạch Huệ ca, người nghe không có cảm giác ráng hơi hay đuối hơi.

Bạch Huệ ca rất “tròn vành rõ chữ”. Nhiều danh ca tài tử và nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp cũng đạt được tiêu chí tròn vành rõ chữ, thế nhưng điểm đáng lưu ý là có một số người quá lạm dụng kỹ thuật để được tròn vành rõ chữ. Ca mà có kỹ thuật là điều cần thiết, nếu tập luyện đúng mức và áp dụng thỏa đáng kỹ thuật thì giọng ca sẽ trở nên đẳng cấp hơn.

Thế nhưng, nếu quá lạm dụng kỹ thuật hoặc tập luyện chưa đúng mức thì giọng ca sẽ trở nên « phô », mất tự nhiên và thiếu hồn. Có những nghệ sĩ bậc thầy vận dụng kỹ thuật một cách thượng thừa vào giọng ca nên đã tạo được nét riêng và giọng ca đã đứng vững trong lòng người mộ điệu mấy chục năm qua. Bạch Huệ xếp trong số các nghệ sĩ thượng thừa này. Bạch Huệ ca tròn vành rõ chữ một cách hết sức tự nhiên và rất có hồn, người nghe không hề nhận ra được yếu tố kỹ thuật trong đó. Nói cách khác, Bạch Huệ đã đưa kỹ thuật vào giọng ca ở mức độ thượng thừa, để cho nó trở nên rất tự nhiên.

Một điểm thu hút nữa trong giọng ca Bạch Huệ : dù là bậc thầy về ca tài tử chuyên nghiệp, nhưng Bạch Huệ khi ca luôn tỏ ra cố gắng, đầy tâm huyết, gửi hết tâm hồn cho bài ca. Nhờ đó, mà trong tiếng ca mạnh mẽ của Bạch Huệ, người nghe cảm nhận được sự trân trọng của người ca đối với bài ca, cảm nhận được ở đó cả tâm hồn, cả trái tim của người ca. Và chính điều đó đã làm cho giọng ca Bạch Huệ thêm quyến rũ, làm cho người nghe muốn thưởng thức trọn vẹn bài ca.

Nói về nhịp nhàng, Bạch Huệ là “thợ sắp nhịp”. Tài sắp nhịp của Bạch Huệ thuộc hàng siêu đẳng, thuộc “đẳng cấp Út Trà Ôn”. Bạch Huệ không chỉ giữ nhịp trường canh để về đúng song lan chánh, mà còn là bậc thầy của việc xử lý nhịp ngay trong lòng bản. Giữ nhịp trong lòng bản cũng là một đặc trưng của dân tài tử bởi nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp khi ca thì thường chỉ giữ nhịp trường canh để về đúng song lan chánh mà thôi. Nhờ cách sắp nhịp đều cho các chữ, giữ đúng câu trong lòng bản, nên khi Bạch Huệ ca, người nghe luôn có cảm giác “yên tâm” không sợ cô rớt nhịp. Có thể nói, trong trường phái tạo được cảm giác “yên tâm” như vậy cho người nghe, Bạch Huệ là một bậc thầy.

Mấy chục năm qua, bản vọng cổ được sử dụng phổ biến nhất là vọng cổ nhịp 32, gồm 6 câu. Thế nhưng, dần dần người ta chỉ sử dụng 4 câu để rút ngắn thời gian của bài vọng cổ. Tuy nhiên, vọng cổ thoát thai từ Dạ cổ hoài lang có đủ loại : nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, nhịp 32, nhịp 64…Và không có nhiều nghệ sĩ cải lương được gọi là chuyên nghiệp, đặc biệt là thế hệ nghệ sĩ trẻ ngày nay, ca được các loại vọng cổ không phải nhịp 32.

Thế nhưng, Bạch Huệ là người “chuyên trị” tất cả thể loại vọng cổ. Phải nói rằng, mỗi loại vọng cổ có cái hay riêng. Chẳng hạn như vọng cổ nhịp 4 mỗi câu rất ngắn, vì thế người nghe không có cảm giác chờ đợi, bởi vì vừa dứt câu này lại tới ngay câu khác. Đó có phải chăng cũng là một cách giúp người nghe giảm cảm giác “bị chán”?

Đối với những bài bản không phải vọng cổ, thì ngoài 20 bài bản tổ còn có vô số bài bản tài tử khác. Gần 3/4 thế kỷ theo nghiệp ca tài tử, Bạch Huệ làm cho nhiều nghệ nhân ca tài tử và ngay cả nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp “kính nể”, vì cô ca sành điệu rất nhiều bài bản. Xin nhắc lại ca sành điệu ở đây tức là Bạch Huệ không chỉ ca đúng nhịp mà còn ca đúng “cái thần” của các bài bản. Điều đáng nói là nghe Bạch Huệ ca bất kỳ bài bản nào, người muốn học ca cảm thấy rất dễ theo dõi nhịp nhàng và có cảm giác dễ làm theo. Có lẽ vì thế mà Bạch Huệ đã là thầy dạy rất thành công của rất nhiều thế hệ học trò trong bộ môn Đờn ca tài tử.

Một điểm nổi bật nữa ở Bạch Huệ, mà chính điểm nổi bật này đã đưa Bạch Huệ lên một đẳng cập khó có người bì kịp. Trong nhiều sự khác biệt giữa cải lương và tài tử, nổi bật nhất đó là cách ca. Nghệ sĩ cải lương thường có cách ca “mướt” hơn dân tài tử, tức là nghệ sĩ cải lương có khuynh hướng ca “uốn éo, bay lượn, điểm tô” giọng ca, còn dân tài tử thì giữ giọng ca theo lối “chân phương” không “hoa lá”.

Cái tính chân phương thuần túy này được thể hiện rất rõ trong cách ca tài tử theo kiểu xưa. Và một trong những cái dễ nhận biết nhất đối với dân tài tử là họ hay ca theo lối “hơ hơ”. Như Danh ca Tám Thưa, Cô Tư Sạng, Cô Năm Cần Thơ, Cô Ba Bến Tre, Chín Hòa, Tư Bé, Năm Phồi…những tay ca tài tử cự phách của miền Nam trước kia. Khi nghe những bậc tiền bối này ca, người nghe sẽ nhận ra ngay đó là ca theo lối tài tử kiểu xưa qua cách họ ca rất chân phương, lối hơ hơ rất đặc trưng của tài tử.

Thế nhưng, theo thời gian, Đờn ca tài tử cũng phải dần thay đổi. Cái lối ca tài tử theo kiểu xưa vì thế cũng dần được các thế hệ sau cách tân. Bạch Huệ gắn bó với Đờn ca tài tử từ những ngày lối ca tài tử theo kiểu xưa còn được yêu mến đến khi nó dần được thay đổi để phù hợp với thời đại. Giọng ca Bạch Huệ là một minh chứng rõ nét nhất cho sự cách tân này. Ta thấy rằng, ca mà chỉ có “chân phương” thì có lẽ hợp với đời xưa hơn, và chọn lọc người nghe hơn, còn nếu như ca mà uốn éo, lạng bẻ quá mức thì cũng làm mất cái thần của tài tử. Bởi vì nên nhớ rằng, ca tài tử rất trọng cái “chân phương”. Chỉ có điều ca tài tử theo lối xưa quá thiên về tính chân phương, còn nhiều nghệ sĩ cải lương, nhất là thế hệ ngày nay, thì lại lạm dụng cái “hoa lá”.

Bạch Huệ đã biết chan hòa đúng mức cái “chân phương” và “hoa lá” trong giọng ca. Và đương nhiên, Bạch Huệ ca “chân phương” nhiều hơn “hoa lá”, nhưng cô đã biết đưa cái “hoa lá” một lượng vừa đủ để cho giọng ca mượt mà hơn, “thời đại” hơn. Tức là, khi nghe Bạch Huệ ca, người nghe cảm nhận được đó là ca theo lối tài tử nhưng vẫn có sự mượt mà vừa phải. Bởi thế mà giọng ca Bạch Huệ giữ được nét chân phương của tài tử xưa nhưng cũng có nét “thời đại”, vì thế mà thu hút được người mộ điệu cả bên tài tử lẫn cải lương.

Nếu Danh ca Minh Chí nổi tiếng là “Vua” ca bài Xàng Xê, thì Bạch Huệ cũng nổi tiếng là người ca tuyệt vời hơi Oán. Hồi đầu những thập niên 1990, khi phong trào Đờn ca tài tử bắt đầu được phục hồi, Bạch Huệ, Công Thành và Tấn Đạt đã tạo ra một “tam tuyệt” trong bài “Bùi Kiệm-Nguyệt Nga” theo điệu Tứ Đại Oán trong đó Bạch Huệ vai Nguyệt Nga, Tấn Đạt vai Bùi Kiệm và Công Thành vai Bùi Ông. Ba người ca bài này theo lối tài tử Nam Bộ một cách xuất thần : Chững chạc trong giọng ca, chuẩn mực trong nhịp nhàng, chuẩn xác trong việc thể hiện cái thần của bài Tứ Đại Oán.

Có một điểm đặc biệt nữa mà không thể nào không nhắc đến khi bàn về tài ca của Bạch Huệ, đó là: Bạch Huệ có thể được xem là người ca hay nhất bài Dạ Cổ Hoài Lang của cụ Cao Văn Lầu. Đây là bài ca ra đời trong bối cảnh nông thôn Nam Bộ, nói lên nỗi lòng của người vợ quê mùa đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng ngoài biên ải (Dạ cổ hoài lang tức là: Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng).

Nếu vọng cổ là bài bản “vua” của cả hai bên tài tử và cải lương, thì Dạ cổ hoài lang là bài bản tổ của bản vọng cổ. Trong bài Dạ cổ hoài lang mang tính chân phương, nhưng cũng có chút hoa lá lãng mạn. Bởi vậy mà ca bài này chân phương quá thì “khô” mà hoa lá quá thì “ướt”. Và giọng ca Bạch Huệ hoàn toàn phù hợp với bài Dạ Cổ Hoài Lang.

Nghe Bạch Huệ ca Dạ cổ hoài lang, người nghe cảm nhận được cái không khí xa xưa, cái u buồn man mác của người vợ nhớ chồng. Nghe Bạch Huệ ca Dạ cổ hoài lang, người nghe cảm nhận được một sự nhớ thương trĩu nặng tâm hồn của người vợ quê nhà mong chồng ngoài vạn lý. Tuy nhiên, giọng ca Bạch Huệ mang đến một cảm giác không quá bi lụy mà có chút gì đó lãng mạn, một niềm hy vọng sum vầy. Đúng như tâm trạng của nhạc sĩ Cao Văn Lầu khi viết bài này vì khi đó ông đang trong cảnh xa vợ và mong chờ đoàn tụ. Đến hiện tại, chưa thấy có người nào ca Dạ cổ hoài lang đạt đến trình độ như Bạch Huệ.

Ngoài việc đóng góp bằng giọng ca, Bạch Huệ mấy chục năm qua còn được biết đến là người góp phần đào tạo nhiều nhân tài cho Đờn ca tài tử và cải lương. Bạch Huệ được mời dạy ca cho các lớp đào tạo nghệ sỹ cải lương chuyên nghiệp ở Trường Sân Khấu Điện Ảnh TP.HCM. Các tỉnh cũng thi nhau mời Bạch Huệ tham gia các lớp đào tạo ca tài tử. Ngoài ra, Bạch Huệ cũng là một “giám khảo thường trực” của các chương trình giao lưu Đờn ca tài tử ở khắp nơi suốt mấy thập niên qua.

Trong xã hội Việt Nam hiện tại, ít người trẻ tuổi yêu thích Đờn ca tài tử, mà một trong những nguyên nhân chính đó là do chưa hiểu được tinh hoa của bộ môn nghệ thuật này. Và như Giáo Sư Trần Văn Khê từng nói rằng : Hãy tìm hiểu đi rồi sẽ thấy thích. Bạch Huệ đóng góp bằng cả cuộc đời cho nghệ thuật Đờn ca tài tử. Những năm tuổi trên 70, Bạch Huệ vẫn rày đây mai đó ca tài tử. Bạch Huệ đóng góp rất lớn cho việc quảng bá tinh hoa của Đờn ca tài tử.

Một điểm đáng quý nữa đó là, các nghệ sĩ cải lương khi nổi tiếng thì kiếm được rất nhiều tiền, chứ còn bên tài tử thì ngược lại. Dù là không kiếm được nhiều tiền, nhưng Bạch Huệ vẫn theo đuổi cái nghiệp Đờn ca tài tử suốt 70 năm với bao nỗi thăng trầm, để khi tuổi vượt hàng “thất thập cổ lai hy”, dù đi ca suốt, nhưng vẫn sống trong cảnh khổ nghèo. Tấm lòng yêu nghề này của Bạch Huệ thật đáng trân trọng.

Năm 2007, Bạch Huệ được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân dân gian”. Ngày 12/10/2013, Bạch Huệ đã về với tổ nghiệp. Sự ra đi của cô có thể được xem là sự ra đi của “Cây đại thụ cuối cùng” của làng Đờn ca tài tử Nam Bộ. Gần 3/4 thế kỷ góp phần bảo tồn và phát triển Đờn ca tài tử, với tài năng đó và với đẳng cấp đó, Bạch Huệ xứng đáng được xem là “Đệ nhất nữ danh ca tài tử Nam Bộ”.

Lê Phước

 

 Gửi tin qua email  Thảo luận

Những bản tin khác: 


Tang lễ Nghệ sĩ Bạch Huệ tổ chức tại Dươnng Lão Nghệ sĩ


TANG LỄ NS BẠCH HUỆ TỔ CHỨC TẠI DƯỠNG LÃO NSKhi NS mở cửa phòng gọi Cô ra xem film Bao Công thì Cô đang nằm thế này …

Zoom in (real dimensions: 800 x 600)

Phát hiện Cô qua đời…giử nguyên hiện trường gọi cho người nhà đến.
Người nhà đến và sửa soạn lại cho Cô nằm
Zoom in (real dimensions: 800 x 600)

Mới chết đây thôi vì cơ thể còn mềm …nhưng rờ lên mũi thì…không còn thở nửa

Zoom in (real dimensions: 700 x 933)

Nữ danh ca tài tử Bạch Huệ tên thật là Huỳnh Thị Huệ, sanh năm 1933 tại Cần Thơ. Con của nhạc sư Sáu Tửng, chuyên đờn kìm và là em ruột của nhạc sĩ tân nhạc Huỳnh Anh, người được biết qua hai bài tân nhạc đã một thời là nhạc được ưa thích nhất của giới sinh viên – thanh niên ở Saigon.

Đó là bản nhạc Hoa trắng thôi cài trên áo tím, nhạc Huỳnh Anh, thơ Kiên Giang và bản nhạc Mưa Rừng, sáng tác riêng cho cố nữ nghệ sĩ Thanh Nga ca trong tuồng Mưa Rừng của Hà Triều Hoa Phượng.

Truyền thống gia đình 

Từ nhỏ, cô Bạch Huệ đã thâm nhiểm điệu đàn câu ca cổ nhạc vì cha của cô là nhạc sư chuyên xử dụng cây đờn kìm, ông có nhiều bạn nhạc sĩ thường tổ chức những buổi đờn ca tài tử ở địa phương. Khi nhạc sư Sáu Tửng đi đờn cho gánh hát của bà Phùng Há thì ở nhà, cô Bạch Huệ cũng được các chú bác nhạc sĩ, bạn của cha cô dạy cho cô ca và mời cô tham gia các buổi đờn ca tài tử. Bạch Huệ nổi tiếng là một danh ca, ca rất đúng bài bản cổ nhạc và ca chắc nhịp, giọng ca mượt mà truyền cảm nên nhiều người khuyên cô nên theo nghề nghiệp cầm ca của gia đình.

Năm 1947, lúc 14 tuổi, Bạch Huệ lên Saigon tìm đường tiến thân bằng con đường ca cổ nhạc. Nhiều nhạc sĩ đờn cho các quán ca nhạc và đài phát thanh là bạn của nhạc sư Sáu Tửng nên họ mời Bạch Huệ đến ca trong quán ca nhạc Đức Thành Hưng ở sau chợ Saigòn và quán cổ nhạc của thầy Mười An ở Cầu Ông Lãnh. Cô Bạch Huệ nổi danh là một danh ca chẳng những tốt giọng mà về nghệ thuật, cô ca rành rẽ, đúng điệu 20 bài bản Tổ, 3 Nam, 6 Bắc, 4 Oán và 7 bài. Đây là một trường hợp đặc biệt vì ít có ca sĩ học đầy đủ trọn bài bản, phần đông các ca sĩ chỉ học ca từng lớp của mỗi bài ca. Ví vụ ca Nam Ai, họ chỉ học Nam Ai lớp một hay bản Nam Ai lớp mái, chứ không học đủ trọn bài một cách căn bản như Bạch Huệ.

Danh ca Tám Thưa, trưởng Ban Việt Nam Cổ Nhạc đoàn mời cô ca trên đài Phát Thanh Pháp Á và sau đó thu nhận cô làm ca sĩ của Ban Việt Nam Cổ nhạc đoàn. Đài Phát Thanh Saigon. Các hãng dĩa Asia, Hoành Sơn, Pathé cũng nhanh chóng khai thác giọng ca lạ và khả năng ca nhiều bài bản của nữ danh ca Bạch Huệ để giới thiệu với thính giả miền Nam và cả thính giả Hà Nội và Huế

Nữ ca sĩ Bạch Huệ ca theo lối chân phương, đúng từng điệu thức, đúng theo phong cách tài tử nên thính giả , thực khách của các nhà hàng ca nhạc rất thích nghe nữ danh ca Bạch Huệ ca, tuy nhiên vì số thính giả chọn lọc nên số thính giả đó chỉ là một số rất ít nếu so với khán giả cải lương, vì vậy thu nhập của các ca sĩ tài tử như Bạch Huệ, Sáu Thoàng, Chín Sớm cũng thua sút xa so với các danh ca vọng cổ trong lãnh vực cải lương như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Mỹ Châu, Ngọc Giàu…

Các danh ca chuyên đờn ca tài tử như Sáu Thoàng, Chín Sớm, Thành Công, Kim Nguyên gia nhập các gánh hát Kim Thoa, Thanh Minh, Kim Chung với hy vọng tìm một địa vị khả quan trên sân khấu cải lương nhờ vào giọng ca tốt và biết nhiều bài bản cổ nhạc. Nữ danh ca Bạch Huệ cũng gia nhập đoàn hát Hoài Dung – Hoài Mỹ và trong hai năm 1957 – 1958, cô đã thay đổi qua các đoàn hát khác như Song Kiều, Kim Thanh, Tơ Đồng nhưng ca sĩ Bạch Huệ sớm nhận ra rằng hát trên sân khấu cải lương không phải chỉ có ca cổ nhạc mà còn phải có khả năng diễn xuất, phải có duyên sân khấu và phản ứng nhạy bén với các bạn diễn. Diễn viên cải lương muốn thành công cần phải có nhan sắc đẹp, giỏi vũ đạo trên sân khấu, có phong thái sang trọng, và nhứt là có dịp may gặp một vai tuồng thích hợp để phát huy khả năng ca diễn của mình.

Danh ca vọng cổ 

Nhạc sĩ tân nhạc Huỳnh Anh. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương. Nữ ca sĩ Bạch Huệ không được khán giả hoan nghinh như các thính giả đã hoan nghinh giọng ca tài tử của Bạch Huệ. Do đó, tuy trong việc đờn ca tài tử ở các đài phát thanh, hãng dĩa hay các quán ca nhạc không mang lại cho Bạch Huệ một số thu nhập khá để cho cuộc sống được thoải mái nhưng Bạch Huệ cũng đành chấp nhận việc trở về với ca nhạc tài tử ở Đài Phát Thanh, hợp với khả năng của cô.

Trong những thập niên 50, 60, 70, các danh ca vọng cổ thành danh trên sân khấu cải lương đều có ký contrat bạc triệu với các bầu gánh hát, số lương cũng lên đến vài ngàn đồng mỗi suất hát. Các danh ca tài tử thì bị thiệt thòi về tài chánh, số thu nhập rất khiêm tốn. Ca sĩ Thành Công có vợ là chủ tiệm may Hạnh Dung nên cuộc sống kinh tế thoải mái hơn các ca sĩ tài tử khác.

Nữ ca sĩ Bạch Huệ vẫn đeo đuổi theo nghiệp cầm ca mà cô đã chọn theo truyền thống của gia đình. Tuy thu nhập vừa đủ sống nhưng về phần tinh thần thì Bạch Huệ được các nghệ sĩ ngành ca cổ tôn vinh là bậc thầy trong lối ca tài tử.

Khi cô Ngọc Ánh, giảng viên dạy ca cổ nhạc trường quốc gia âm nhạc từ trần, Bạch Huệ được mời dạy ca thế cho cố nghệ sĩ Ngọc Ánh.

Đến những năm 1990, tình hình sân khấu cải lương xuống dốc, người ta tổ chức mỗi tháng một lần chương trình Vầng Trăng Cổ Nhạc với hy vọng phục hồi phong trào đờn ca tài tử cổ nhạc, tiền thân của nghệ thuật sân khấu cải lương. Nội dung chương trình Vầng Trăng Cổ Nhạc gồm có nhiều bài vọng cổ nổi tiếng, nhiều trích đoạn cải lương hay với thành phần nghệ sĩ tài danh nhiều thế hệ đã thu hút đông đảo khán giả mỗi tháng một lần, khi thì Vầng Trăng Cổ Nhạc được tổ chức trên sân thượng khách sạn Rex, khi thì được tổ chức trong khu du lịch Đầm Sen. Ở khu dưỡng lão nghệ sĩ cũng tổ chức mỗi tháng một lần chương trình Đêm Rầm Ca Hát.

Các tỉnh tổ chức Vầng Trăng Cổ Nhạc ở địa phương và tổ chức nhiều cuộc thi tuyển những giọng ca vàng, các tour du lịch sinh thái có đờn ca tài tử cổ nhạc. Nữ ca sĩ Bạch Huệ tuy đã lớn tuổi ( 74 tuổi ) nhưng sức khoẻ nghệ sĩ Bạch Huệ còn tốt, giọng ca còn truyền cảm nên cô được mời dạy ca cho các lớp ca tài tử từ vỡ lòng đến các lớp cao với 20 bài bản tổ ở thàng phố và một số tỉnh như Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Cần Thơ. Nữ nghệ sĩ Bạch Huệ cũng được mời làm giám khảo các kỳ thi đờn ca tài tử ở thành phố và các tỉnh.

Khi sân khấu cải lương diễn trọn tuồng không có rạp hát để diễn, khán giả cải lương mất dần thói quen đến rạp hát để coi hát thì những chương trình ca lẽ, ca vọng cổ và hát trích đoạn cải lương của Vầng Trăng Cổ Nhạc được khán thính giả ưa thích, dịp nầy khiến cho nữ nghệ sĩ Bạch Huệ và các ca nhạc sĩ chuyên đờn ca tài tử có đất để hoạt động. Nữ nghệ sĩ Bạch Huệ được phong là Nghệ Nhân Dân Gian sau 60 năm góp công với nền nghệ thuật đờn ca tài tử.

Hiện nay ít có nghệ sĩ thông hiểu tường tận và đầy đủ 20 bài bản Tổ, phần lớn các nghệ sĩ chỉ học ca từng lớp trong mỗì bản ca theo yêu cầu của từng tuồng, tôi nghĩ là nếu không thu thanh ghi âm lại tất cả điệu thức, cách ca, cách đờn thì tôi e rằng sau khi các nghệ nhân lão thành khuất núi rồi thì nghệ thuật đòn ca 20 bài bản Tổ sẽ thất truyền.

VÀI HÌNH ẢNH LƯU NIỆM CỦA NS BẠCH HUỆ VỚI TRANG NHÀ CAILUONGVIETNAM.VN


Hình ảnhCô góp vui lại một bài hát :

Zoom in (real dimensions: 1024 x 576)Hình ảnh

 

Trang nhà và toàn bộ các nghệ sĩ trong viện DLNS – trong đó cô ngồi phía tay trái:

MINH NGA : Thương tiếc nghệ nhân dân gian Bạch Huệ!, VIETNAM


Thương tiếc nghệ nhân dân gian Bạch Huệ!

Thứ Hai, 14/10/2013 16:34

(NLĐO)- Một trong những “đại thụ” của đờn ca tài tử (ĐCTT) đã ra đi vĩnh viễn nhưng tên tuổi và tiếng hát mê đắm lòng người của bà vẫn vang danh hậu thế. Nghệ nhân dân gian Bạch Huệ sẽ luôn sống mãi trong lòng giới mộ điệu đờn ca tài tử (ĐCTT).

Giới mê ĐCTT ở TP HCM và các tỉnh miền Tây Nam Bộ có lẽ không thể quên hình ảnh bà cụ tóc bạc, tuổi “thất thập cổ lai hy” vẫn nặng nghiệp cầm ca, luôn chăm chút từng câu hát ngọt ngào, mê đắm lòng người trên sân khấu các kỳ liên hoan. Với giọng ca trời phú, khi còn tại thế bà luôn cố gắng truyền nghề cho thế hệ sau. Một thời, Bạch Huệ từng là đệ nhất danh ca ĐCTT, từng dạy rất nhiều thế hệ học trò, được Nhà nước công nhận là Nghệ nhân dân gian.

Có lần ghé thăm Viện dưỡng lão nghệ sĩ TP HCM, tình cờ được nghe bà kể về cái duyên nghề với ĐCTT đầy hào hứng. Bà Huệ lúc ấy đã bước qua tuổi 77, sức khỏe và trí nhớ không còn minh mẫn như xưa nhưng hễ ai nhắc đến ĐCTT là mắt bà lại sáng rực lên. Những chuyện mấy chục năm trước, tưởng chừng trở thành ký ức, trôi theo thời gian bỗng chốc được bà kể lại đầy đủ, vẹn nguyên.

Nghệ nhân dân gian Bạch Huệ. Ảnh: tư liệu

Dù xuất thân trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật (cha là nhạc sư Sáu Tửng, chuyên đờn kìm, anh là nhạc sĩ tân nhạc Huỳnh Anh – PV) nhưng bà không được cha ủng hộ khi chọn ĐCTT. Ông tìm mọi cách để “cách ly” bà với niềm đam mê cháy bỏng nhưng tất cả đều hoài công vô ích khi đam mê đó đã ăn sâu trong tâm hồn cô gái trẻ Bạch Huệ.

Theo lời kể của bà trên các phương tiện truyền thông, từ năm 10 tuổi, Bạch Huệ đã mê mẩn tiếng đàn vang lên từ những buổi họp mặt ĐCTT ở miền quê sông nước. Cũng thời đó, bà thường xuyên trốn gia đình đi xem, thậm chí có lúc làm thuê cũng lén nghe ĐCTT. Dần dà, vì quá đam mê và yêu thích, bà tham gia vào các buổi sinh hoạt ĐCTT ở địa phương, được các nhạc sĩ dạy cho cách ca bài bản.

Nghệ nhân dân gian Bạch Huệ biểu diễn tại Lễ trao giải Mai Vàng năm 2007
Khi lên Sài Gòn, bà có cơ hội tiếp xúc và học về ĐCTT nhiều hơn. Bà được mời vào ca ở Đài Phát thanh Pháp Á rồi vào ban Việt Nam Cổ nhạc đoàn của danh ca Tám Thưa, trình diễn trên đài phát thanh và ở các sân khấu ở Sài Gòn. Kể từ đó, tiếng hát của Bạch Huệ trở nên rất quen thuộc qua sóng phát thanh, đĩa và ở lại trong lòng người nghe vào những năm thập niên 1950 .

Đúng lúc, ông bầu Ba Bản vừa là bầu gánh hát Thủ Đô, vừa mở một hãng dĩa có tên là Hoành Sơn mời Bạch Huệ và Thành Công song ca. Đó cũng là lúc tên tuổi Bạch Huệ và Thành Công trở nên vang dội trong giới như một “hiện tượng”. Mỗi lần nhắc đến, bà không quên tên hai tuồng: Lâm Sanh – Xuân Nương và Thoại Khanh – Châu Tuấn đã giúp tên tuổi bà ghi dấu ấn trong lòng khán giả thời ấy. Không chỉ vậy, bà cùng nghệ sĩ Thành Công được độc giả của tờ báo Tiếng Dội (của ông chủ bút Trần Tấn Quốc) bình chọn là “Đệ nhất danh ca” lúc bấy giờ. Năm ấy, Bạch Huệ vừa tròn 18 tuổi…

Bạch Huệ được đánh giá là giọng ca hiếm có! 60 năm cống hiến cho nghệ thuật đờn ca tài tử, năm 2007, bà được công nhận là Nghệ nhân dân gian về ĐCTT.

Bạch Huệ ca bài bản cải lương. Ảnh: Thanh Hiệp

Không chỉ nổi tiếng là một danh ca, Bạch Huệ còn là một người thầy tận tuy với công việc giảng dạy. Sau năm 1975, bà được mời giảng dạy ở Viện Nghiên cứu âm nhạc TP HCM, Trường Sân khấu – điện ảnh TP HCM, cố vấn cho CLB đờn ca tài tử của Trung tâm Văn hóa TP HCM… Không thể đếm hết đã có bao nhiêu thế hệ người trẻ được bà hướng dẫn, chỉ dạy đến với bộ môn nghệ thuật này.

Trải qua bao thăng trầm dâu bể của cuộc đời, ngay cả khi tuổi về già bà vẫn nặng nợ với nghề. Dẫu di chuyển khó nhọc nhưng bà vẫn ngồi trên sân khấu, cất giọng mượt mà, ngân lên từng tiếng hát sâu thẳm tận đáy lòng làm rung động biết bao con tim mỗi dịp tham gia liên hoan ĐCTT. Rồi lại thấy bà cần mẫn dạy các lớp ca tài tử từ vỡ lòng đến lớp cao với 20 bài bản tổ ở TP HCM và một số tỉnh như Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Cần Thơ. Khi được mời vào ghế giám khảo, bà cũng nhận lời không do dự.

Nói đến việc gắn đời mình cùng ĐCTT, bà hay bảo đó là cái nghiệp đã trót mang, kiếp tằm thì phải nhả tơ, nhả cho đến những sợi tơ cuối cùng…

Nữ danh ca tài tử Bạch Huệ tên thật là Huỳnh Thị Huệ, sanh năm 1933 tại Cần Thơ. Bà vừa mất vào sáng 12-10, thọ 80 tuổi.
Linh cữu Nghệ nhân dân gian Bạch Huệ được quàn tại Viện dưỡng lão nghệ sĩ TP HCM, hẻm 314 Âu Dương Lân, Q.8. Lễ động quan lúc 6 giờ ngày 15-10, sau đó đưa đi hỏa táng tại nghĩa trang Bình Hưng Hòa.
Minh Nga (tổng hợp)

HOÀNG KIM : Vĩnh biệt nghệ nhân Bạch Huệ (1933-2013), TP HCM, VIETNAM


MINH AN : Nghệ nhân dân gian Bạch Huệ qua đờiChủ nhật, VIETNAM


Nghệ nhân dân gian Bạch Huệ qua đờiChủ nhật, 13/10/2013, 07:42 (GMT+7)

(SGGP).- Nghệ nhân dân gian, nữ danh ca tài tử Bạch Huệ vừa qua đời sáng ngày 12-10 tại Viện dưỡng lão nghệ sĩ, quận 8, TPHCM.

 

Nữ danh ca tài tử Bạch Huệ tên thật là Huỳnh Thị Huệ (ảnh), sinh năm 1933, tại Cần Thơ trong gia đình có truyền thống nghệ thuật. Là con gái của đôi vợ chồng nghệ sĩ Sáu Tửng – Kim Liên, em ruột của nhạc sĩ Huỳnh Anh. Ngay từ thuở nhỏ, bà đã thuộc lòng bài vọng cổ 16 nhịp và hầu như có mặt khắp các chiếu tài tử ở miệt sông nước Cần Thơ; tham gia vào ban nhạc “Việt Nam cổ nhạc đoàn” của danh ca Tám Thưa, trình diễn trên đài phát thanh và ở sân khấu các rạp ở Sài Gòn.

Giọng ca của bà nhanh chóng được chú ý, bà được mời vào ca cho Đài phát thanh Pháp Á. Các hãng đĩa như Asia, Hoành Sơn, Pathé… đã liên tục mời bà thu âm nhiều tuồng tích, giới thiệu với thính giả miền Nam và cả ở Huế, Hà Nội. Những năm 1957 – 1958, nghệ sĩ Bạch Huệ cũng “thử sức” ở một số đoàn hát như Hoài Dung – Hoài Mỹ, Song Kiều, Kim Thanh, Tơ Đồng nhưng bà chuyên tâm theo con đường nhạc tài tử.

Từ sau năm 1975, nghệ sĩ Bạch Huệ về tham gia giảng dạy tại Viện Nghiên cứu âm nhạc TPHCM, dạy lớp nâng cao nghệ thuật tài tử cải lương cho các học viên Trường Nghệ thuật sân khấu 2, giảng dạy và cố vấn cho CLB Đờn ca tài tử của Trung tâm Văn hóa TPHCM và nhiều tỉnh thành Nam bộ… Hơn 60 năm gắn bó với nghiệp tài tử, bà đã được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian.

 
 

Linh cữu Nghệ nhân dân gian Bạch Huệ quàn tại Viện dưỡng lão nghệ sĩ TPHCM, hẻm 314 đường Âu Dương Lân, quận 8, TPHCM. Lễ viếng bắt đầu từ 18 giờ ngày 12-10. Lễ động quan lúc 6 giờ ngày 15-10, sau đó đưa đi hỏa táng tại Bình Hưng Hòa.

http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2013/10/330091/

 
 

MINH AN

 

LINH ĐOAN : NSDG BẠCH HUỆ : Một “bảo tàng sống” về ca tài tử đã ra đi (1933-2013)


Một “bảo tàng sống” về ca tài tử đã ra đi

14/10/2013 01:55 (GMT + 7)
 
 
TT – Sáng 12-10, nghệ nhân dân gian Bạch Huệ đã đột ngột qua đời tại Viện dưỡng lão nghệ sĩ TP.HCM. Ký giả Tần Nguyên – người quản lý viện dưỡng lão – cho biết buổi chiều trước ngày 12-10 bà còn đi dự đám giỗ nhà người quen, khi về bà có bị mắc mưa nhưng vẫn bình thường, còn đi chia quà đám giỗ cho những người bạn trong viện.

Nghệ nhân Bạch Huệ – Ảnh: T.T.D.

 

>> “E ngại cái chất đờn ca tài tử không còn như xưa”

Khoảng 7g sáng 12-10, có người vẫn nhìn thấy bà ra mở cửa phòng rồi lại đi vào. Khoảng 10g sáng cùng ngày, mọi người để phần ăn trưa trước phòng nhưng không thấy bà ra nhận, sau đó nghệ sĩ Lệ Thẩm (cùng sống trong viện) vào phòng mới phát hiện bà đã qua đời.

Nghệ nhân dân gian Bạch Huệ tên thật là Huỳnh Thị Huệ, sinh năm 1933 tại Cần Thơ. Bà là con của nhạc sư Sáu Tửng chuyên đàn kìm, em của nhạc sĩ Huỳnh Anh. Khoảng năm 14, 15 tuổi, bà lên Sài Gòn sinh sống. Với chất giọng trong, vang, mang nhiều suy tư và hát rành rẽ 20 bài bản tổ, bà được các thầy đờn chú ý và được các hãng đĩa, các đài phát thanh chào mời hợp tác. Khoảng những năm 1950, bà và nghệ sĩ Thành Công được khán giả bình chọn là “Đệ nhất danh ca”. Với kinh nghiệm của hơn 50 năm theo nghiệp đờn ca tài tử, sau năm 1975 bà được mời giảng dạy ở Viện Nghiên cứu âm nhạc TP.HCM, Trường Sân khấu – điện ảnh TP.HCM, cố vấn cho CLB đờn ca tài tử của Trung tâm Văn hóa TP.HCM… Năm 2007 bà được công nhận là nghệ nhân dân gian về ca tài tử.

Nói về bà, soạn giả Ngô Hồng Khanh cho rằng: “Bà Bạch Huệ là một nghệ nhân tài tử gốc, con nhà nòi, từng hát trong những ban tài tử Sài Gòn suốt từ hồi xưa đến giờ không ngừng nghỉ. Tôi cho rằng giọng ca của bà là bảo tàng sống về ca tài tử!”.

Cái chết của nghệ nhân Bạch Huệ khiến nhiều người trong viện bất ngờ vì sức khỏe của bà còn khá tốt. Tuần trước bà còn đi chấm giải Liên hoan đờn ca tài tử – Giải Hoa sen vàng do Đài Tiếng nói nhân dân TP.HCM phối hợp với Trung tâm Văn hóa TP.HCM tổ chức.

Linh cữu nghệ nhân dân gian Bạch Huệ được quàn tại Viện dưỡng lão nghệ sĩ TP.HCM, hẻm 314 Âu Dương Lân, Q.8. Lễ động quan lúc 6g ngày 15-10, sau đó đưa đi hỏa táng tại nghĩa trang Bình Hưng Hòa.

LINH ĐOAN

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/574345/mot-bao-tang-song-ve-ca-tai-tu-da-ra-di.html