Tag Archives: bài chòi bình định

LY KHA : Đề xuất Hát Bài chòi là Di sản Văn hóa của nhân loại


Đề xuất Hát Bài chòi là Di sản Văn hóa của nhân loại

LY KHA (TTXVN) LÚC : 11/09/13 17:52
Ngày 11/9, tại thành phố Quy Nhơn, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định phối hợp với Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam, đã tổ chức Hội thảo khoa học nghệ thuật Bài chòi.

Nhiều nghệ sỹ, nhà nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực văn hóa dân gian đã đưa đến nhiều kiến giải cho loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo này, nhằm hướng tới đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận Bài chòi là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Xuất xứ Bài chòi

Bài chòi là loại hình sinh hoạt văn hóa, diễn xướng dân gian phổ biến ở các tỉnh Nam–Ngãi-Bình-Phú (Quảng Nam–Đà Nẵng cũ, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Khánh cũ), tức Liên khu 5 cũ và là khu vực duyên hải Nam Trung bộ hiện nay.

Trong đó đáng kể nhất là khu vực từ Nam đèo Bình Đê đến Bắc đèo Cả, cũng là địa giới hoàn toàn của 2 tỉnh Bình Định, Phú Yên. Bên trong loại hình văn hóa này chứa đựng nhiều nét đẹp văn hóa riêng biệt vùng miền và phát triển dần theo thời gian.

Giáo sư Hoàng Chương, Tổng giám đốc Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam cho biết: “Trò chơi đánh Bài chòi do danh nhân Đào Duy Từ dạy cho dân Bình Định lập chòi để bảo vệ nương rẫy. Những người canh chòi hát với nhau để giải trí trong lúc thức suốt đêm, dần dần phát triển lên thành trò chơi 9 chòi gọi là đánh Bài chòi, sau này phát triển thêm một bước thành hội Bài chòi, Bài chòi chiếu, Bài chòi ghế, rồi lên dàn biểu diễn và đến bước phát triển loại hình ca kịch Bài chòi hiện nay.”

Những kiến giải về xuất xứ của trò chơi dân gian Bài chòi trên được nhiều sự đồng tình bởi danh nhân Đào Duy Từ (1572–1634) là nhà văn hóa, quân sự kiệt xuất dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên; cha ông là Đào Tá Hán -một xướng ca chuyên nghiệp.

Có thể thấy Bài chòi đã ra đời cách đây vài trăm năm và phát triển trong vòng 100 năm trở lại đây, tương ứng với nghệ thuật Cải lương của Nam bộ.

Ban đầu, Bài chòi sử dụng hầu hết các làn điệu dân ca trong khu vực các tỉnh trên như cổ bản, sàng sê, xuân nữ, hò quảng, lý thương nhau, nói lối… Đến khi vở “Thoại Khanh–Châu Tuấn” của soạn giả Nguyễn Tường Nhẫn được chuyển thể từ loại hình dân gian sang ca kịch Bài chòi, Bài chòi đã có bước phát triển mới, từ diễn xướng dân gian ngoài trời bước lên sân khấu.

Bài chòi cũng kết tinh các tinh túy văn hóa dân tộc theo lịch sử và chiều dài đất nước từ Bắc vào Nam. Nó kế thừa nhiều hình thức diễn xướng dân gian khác rồi phát triển theo một hướng riêng bằng một hình thức riêng biệt.

Phó giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Thị Mỹ Liêm, Phó Giám đốc Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: “Cũng như Cải lương hoặc nhiều loại hình âm nhạc khác, Bài chòi kế thừa nhiều giá trị văn hóa từ các loại hình âm nhạc, làn điệu dân gian khác, nhưng đã có đặc thù riêng biệt, hoàn toàn không lẫn và có một hướng đi nghệ thuật của riêng mình.”

Bên trong 33 lá bài của Bài chòi còn thể hiện nhiều nét văn hóa các dân tộc khác nhau. Nhiều ý kiến cho rằng đó là sự giao lưu văn hóa, tạo nét hòa hiếu giữa người Việt với văn hóa các dân tộc Chăm, Bana…

Vào phía Nam, Phú Yên và Khánh Hòa có vai trò then chốt trong lịch sử khi lần lượt được nhà Nguyễn dựng nên 2 dinh trấn biên trước khi đặt dinh trấn biên cuối cùng tại Biên Hòa (Đồng Nai).

Chung tay để Bài chòi trở thành di sản nhân loại

Giáo sư Hoàng Chương cho rằng: “Lâu nay, Bài chòi được xem là môn nghệ thuật dân gian, nên việc tổ chức nghiên cứu khoa học về nó rất ít. Vì vậy, Bài chòi đã phát triển không theo nguyên lý, lý luận nào, những người hát Bài chòi hát dân ca nhiều hơn là hát Bài chòi. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có kế hoạch lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Bài chòi là di sản phi vật thể của nhân loại; nên Trung tâm NCBT và PHVHDT Việt Nam cùng tỉnh Bình Định từng bước thực hiện các nghiên cứu khoa học, tạo cơ sở để lập hồ sơ.”

Giáo sư Hoàng Chương nhấn mạnh không gian Bài chòi được xác định là các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ. Các nhà nghiên cứu cần thống nhất Bình Định là địa phương xuất xứ, còn đang lưu giữ tất cả các hình thức Bài chòi từ xưa đến nay và cả phát triển Bài chòi hiện đại.

Bình Định đang thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật Bài chòi. Ngoài các đơn vị, đoàn hát Bài chòi chuyên nghiệp, Bình Định có nhiều câu lạc bộ, điểm hát Bài chòi dân gian thường xuyên hoạt động.

Ông Mai Thanh Thắng – Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Định cho biết: “Bình Định đã và đang thúc đẩy sự phát triển của loại hình nghệ thuật này, chúng tôi đang xúc tiến việc đưa Bài chòi vào giảng dạy ngoại khóa ở các trường học, góp phần gìn giữ, phát triển loại hình này để hướng đến lập hồ sơ đề nghị Bài chòi là di sản phi vật thể của nhân loại.”

Ngày 10/9, Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam phối hợp với Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Định đã thành lập Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam khu vực Nam Trung bộ tại thành phố Quy Nhơn. Đây là địa chỉ quy tụ tài năng, ý kiến để làm hồ sơ trình UNESCO bên cạnh các hoạt động nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc./.

http://www.vietnamplus.vn/de-xuat-hat-bai-choi-la-di-san-van-hoa-cua-nhan-loai/220064.vnp

ĐỖ TRƯỞNG : Phố cổ Hội An phát huy giá trị bài chòi gắn với phát triển du lịch


Phố cổ Hội An phát huy giá trị bài chòi gắn với phát triển du lịch

ĐỖ TRƯỞNG (TTXVN/VIETNAM+) LÚC : 08/11/14 09:13

Một tiết mục hát bài chòi. (Ảnh: Nhật Anh/TTXVN)

Phố cổ Hội An (tỉnh Quảng Nam) như một “bảo tàng sống” về văn hóa vật thể và phi vật thể; trong đó, nghệ thuật diễn xướng hô hát bài chòi có một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân nơi đây.

Trải qua bao thăng trầm của thời gian và lịch sử, tình yêu bài chòi của người dân phố Hội luôn tuôn chảy và đang được những thế hệ hôm nay giữ gìn và phát huy.

Phát huy giá trị bài chòi gắn với phát triển du lịch

Hội An vào đêm rằm hằng tháng, tại sân khấu ngoài trời ngay bên bờ sông Hoài thơ mộng với những chiếc đèn lồng lung linh hòa quyện những điệu hát bài chòi từ lâu đã trở thành địa điểm thu hút rất đông du khách và người dân khi tới tham quan phố cổ.

Cùng với tiếng trống và tiếng nhạc rộn rã, những câu hát mượt mà được anh Hiệu và chị Hiệu (hai người hát chính) cất lên trong tiếng vỗ tay không ngớt của khán giả: “Trống kia đã đỗ. Cờ đỏ đã phất xong. Hiệu giữ bài tì đó nghe. Gió xuân phảng phất nhành tre, mời bà con cô bác lắng nghe bài chòi…”

Từ năm 2010 đến nay, thành phố Hội An đã tổ chức chương trình “Đêm phố cổ” với điểm nhấn là sân khấu bài chòi ở ngoài trời tạo ra một sản phẩm du lịch đặc sắc đồng thời cũng tạo nên một không gian nghệ thuật để bài chòi “tỏa sáng” với du khách gần xa.

Là một sân khấu mở nên du khách có thể tham gia trò chơi bài chòi cùng với những anh Hiệu, chị Hiệu vui tính, ứng đối lanh lợi.

Di sản văn hóa thế giới Hội An hằng năm đón hơn 1,5 triệu khách du lịch; trong đó, có khoảng 900.000 khách quốc tế, vì vậy nơi đây còn được xem như “cửa ngõ” giao lưu quốc tế.

Khi đến thăm quan phố cổ du khách có nhiều cách để tiếp cận với loại hình diễn xướng hô hát bài chòi, đó là ở trong không gian những ngôi nhà cổ, ở sân khấu ngoài trời vào buổi tối hay ở trong Nhà hát biểu diễn nghệ thuật cổ truyền Hội An.

Hiện nay, Trung tâm Văn hóa-Thể thao Hội An có khoảng hơn 10 nghệ sỹ hát bài chòi thường xuyên tham gia biểu diễn để phục vụ khách du lịch, đây đa phần là những nghệ sỹ trẻ tuổi, có niềm đam mê với nghệ thuật truyền thống.

Ở Hội An việc giới thiệu nghệ thuật diễn xướng hô hát bài chòi gắn với các hoạt động du lịch được thực hiện một cách bài bản, không làm mất đi tính “dân dã” vốn có của loại hình nghệ thuật này; đồng thời, vừa giúp những nghệ sỹ có thể sống được từ niềm đam mê của mình.

Chị Huỳnh Thị Thủy, người gắn bó với hát dân ca bài chòi ở phố cổ 5 năm cho biết những nghệ sỹ biểu diễn bài chòi ở đây, rất tự hào vì mình đang trực tiếp đem những lời ca tiếng hát của quê hương để giới thiệu với du khách trong và ngoài nước, đồng thời chúng tôi cũng ý thức được trách nhiệm của mình trong việc không ngừng nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn về loại hình diễn xướng này này.

Khi muốn phát triển một loại hình nghệ thuật dân gian không thể bê nguyên xi nó vào trong đời sống đương đại mà cần phải có những sáng tạo, điều chỉnh, nâng cao và bài chòi cũng không nằm ngoài quy luật đó.

Ông Võ Phùng, Giám đốc Trung tâm Văn hóa-Thể thao Hội An, cho biết đối với lời hát bài chòi bên cạnh những lời cổ, hiện nay đội ngũ nghệ sỹ của thành phố còn có sáng tác lời mới để bài chòi đến gần hơn với công chúng.

Về hình thức cũng vậy, ở trong phố cổ không thể dựng 8-10 cái chòi để tổ chức trò chơi bài chòi như trước đây mà làm rút lại 4-5 chòi; những quân bài chòi cũng được cải tiến từ chỗ chỉ bằng hai ngón tay, nay được làm lớn hơn để du khách có thể nhìn được tên, hoa văn trên từng quân bài.

Với đối tượng chơi bài chòi là du khách nước ngoài, sẽ có đội ngũ hướng dẫn viên giỏi ngoại ngữ giải thích nội dung trò chơi và ý nghĩa những câu hát; thậm chí những người chủ trò hiện nay, còn học thêm chút tiếng Anh để có thể đánh vần tên những quân bài ra tiếng nước ngoài cho du khách.

Chị Kathy Griffin, một du khách người Mỹ, cho biết những làn điệu bài chòi và trò chơi bài chòi được tổ chức biểu diễn ở ngay giữa phố cổ là một điều rất thú vị. Với một sân khấu mở những du khách như chị đều có thể tham gia trò chơi bài chòi, nó tạo cảm giác như du khách “chạm” được tới văn hóa địa phương. Chính giá trị phi vật thể này càng làm cho giá trị vật thể kiến trúc ở phố cổ Hội An được tôn vinh thêm.

Không chỉ giới thiệu dân ca bài chòi đến du khách khi tới thăm phố cổ mà những năm gần đây, các nghệ sỹ hát bài chòi của Trung tâm Văn hóa-Thể thao Hội An còn tham gia các chương trình biểu diễn giao lưu văn hóa ở 7 nước châu Âu và châu Á gây được nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn bè quốc tế.

Truyền tình yêu dân ca bài chòi cho thế hệ trẻ

Bài chòi có 2 loại hình là hát bài chòi và trò chơi bài chòi, với 4 làn điệu cơ bản là xàng xê, xuân nữ, hồ quảng và cổ bản.

Ngoài ra, tại Quảng Nam còn có thêm làn điệu vè Quảng và vọng kim lang qua đó tạo nên nét riêng của bài chòi Quảng Nam.

Hô hát và biểu diễn bài chòi từ lâu đã trở thành “món ăn tinh thần” không thể thiếu của người dân phố hội.

Thành phố Hội An hiện nay, có 7 đội hát bài chòi quần chúng tại các xã phường, các đội hát này hoạt động sôi nổi nhất là vào những dịp lễ hội, dịp Tết đến Xuân về; họ sẽ tiến hành dựng lều, dựng rạp ngay tại các thôn xóm để hát và chơi bài chòi.

Hội An hiện nay, còn khoảng 30 người (ở độ tuổi trên 50) có thể làm chủ trò để làm anh Hiệu, chị Hiệu hô hát bài chòi. Thành phố hiện đã làm hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét phong tặng danh hiệu nghệ nhân cho nghệ sỹ Nguyễn Đáng, người có nhiều đóng góp cho việc phát huy và truyền dạy lại nghệ thuật hát bài chòi cho thế hệ trẻ.

Nghệ sỹ Nguyễn Đáng là một anh Hiệu nổi tiếng hát bài chòi tại phố cổ với giọng hát mượt mà, tài ứng biến thông minh trên sân khấu và có nhiều sáng tác lời mới hay. Ông cũng là người thầy đã phát hiện và truyền lại nghề cho nhiều thế hệ nghệ sỹ hát bài chòi tài năng của Hội An hiện nay, như nghệ sỹ Thu Hương, Lệ Nga, Dương Qúy, Thu Sang, Kim Anh… Những người nghệ sỹ học trò này đang cùng với ông tiếp tục truyền tình yêu hát bài chòi cho các em nhỏ nơi đây.

Từ năm 2003 đến nay, Trung tâm Văn hóa-Thể thao Hội An đã phối hợp với Phòng Giáo dục thành phố đưa nghệ thuật diễn xướng hô hát bài chòi vào dạy ngoại khóa cho các em học sinh tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn thành phố.

Ngoài ra vào các buổi tối trong tuần, Trung tâm Văn hóa-Thể thao Hội An còn tổ chức một lớp dạy hát bài chòi cho các em nhỏ ngay trên phố cổ, với sự chỉ dẫn trực tiếp của những nghệ sỹ hát bài chòi.

Theo ông Võ Phùng, Giám đốc Trung tâm Văn hóa-Thể thao Hội An, các em nhỏ tham gia học hát bài chòi với tinh thần tự nguyện và rất hào hứng, mỗi một buổi dạy thường thu hút hơn 20 em tham gia.

Ông Phùng cũng cho biết ông và các đồng nghiệp không có tham vọng tất cả các em sau này đều trở thành nghệ sỹ hát bài chòi mà mong muốn với những kiến thức cơ bản về bài chòi có được các em sẽ là những “hạt giống” để loại hình nghệ thuật bài chòi ngày càng bén rễ sâu và vững chắc hơn trong từng thôn, xóm.

Thông qua những lớp học này nhiều em học sinh tài năng và có niềm đam mê với bài chòi đã được phát hiện như em Nguyễn Văn Vĩnh Phúc, học sinh lớp 3, Trường tiểu học Lương Thế Vinh.

Hiện nay, em Nguyễn Văn Vĩnh Phúc có thể hát được 25 bài chòi lời mới và thỉnh thoảng tham gia cùng các cô chú nghệ sỹ biểu diễn hát bài chòi tại Nhà hát biểu diễn nghệ thuật cổ truyền thành phố.

Khi nói về thế hệ trẻ của Hội An hôm nay, trong việc gìn giữ và phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật diễn xướng hô hát bài chòi, nghệ sỹ Nguyễn Đáng rất lạc quan bởi theo ông tình yêu bài chòi từ bao đời nay đã ăn sâu vào từng nếp nhà, từng con người sống ở mảnh đất này và thế hệ trẻ hôm nay vẫn đang giữ được tình yêu đó.

Nghệ thuật diễn xướng hô hát bài chòi đang trên hành trình để được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đối với người dân Hội An, bài chòi từ lâu đã thực sự trở thành di sản văn hóa tinh thần chung của cả cộng đồng và đang được chính cộng đồng nơi đây gìn giữ, nâng tầm để giới thiệu với du khách gần xa./.

http://www.vietnamplus.vn/pho-co-hoi-an-phat-huy-gia-tri-bai-choi-gan-voi-phat-trien-du-lich/290288.vnp

LTTT-TCVHBĐ : Bảo tồn và phát huy giá trị và nghệ thuật bài chòi trong đời sống hôm nay


Bảo tồn và phát huy giá trị và nghệ thuật bài chòi trong đời sống hôm nay
Viết bởi LTTT-TCVHBĐ
Thứ ba, 25 Tháng 2 2014 16:09
Năm 1964, năm 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với nghệ thuật Bài Chòi ở khu Văn công Mai Dịch (Hà Nội) khi được xem vở diễn “Đội kịch chim chèo bẻo”. Tiếp đó là vở “Thoại Khanh – Châu Tuấn”, và trong quá trình hoạt động nghề nghiệp gắn bó với nghệ thuật, tôi được xem vở “Tiếng sấm Tây Nguyên” rồi biết đến nghệ thuật Bài Chòi nhiều hơn qua một số vở diễn trong các đợt Liên hoan, Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc. Vì vậy cảm nhận được những cái hay cái đẹp của nghệ thuật sân khấu Bài Chòi.

Bài chòi sinh ra ở vùng Nam Trung bộ là sản phẩm văn hóa quý giá, độc đáo của đất nước. Nó giữ một vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân Nam Trung bộ. Tôi cũng như nhiều khán giả miền Bắc được biết tới nghệ thuật Bài Chòi và Bài Chòi phát triển trên đất Bắc suốt quãng thời gian mấy chục năm là nhờ công lớn của những nghệ sĩ ở miền Trung ra Bắc đã gìn giữ được loại hình nghệ thuật rất riêng này. Các nghệ sĩ, nhạc sĩ, tác giả đã có công lớn mở rộng đề tài cho loại hình sân khấu ca kịch này. Tôi nghĩ phải chăng vì sinh ra ở vùng đất đã có sự phát triển của sân khấu Tuồng mà Bài Chòi đã tiếp thu từ tinh hoa ấy mà phát triển và khẳng định được những nét độc đáo riêng, đặc trưng riêng trong chiếc nôi của nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc. Nó vừa có nét độc đáo nghệ thuật của một miền văn hóa vùng duyên hải Nam Trung bộ, vừa có nét chung của sân khấu dân tộc, góp mặt vào sự phong phú và đa dạng của nền nghệ thuật sân khấu nước nhà. Ngoài tiếp thu có chọn lọc những cấu trúc của sân khấu nói chung, nghệ thuật Tuồng nói riêng, dân ca Bài Chòi còn tiếp tục làm giàu hệ thống làn điệu của mình bằng các làn điệu dân ca trong khu vực sáng tạo của các nhạc sĩ cùng các nghệ nhân, nghệ sĩ biểu diễn.

Cái gốc của sân khấu Bài Chòi có hô Bài Chòi, ca Bài Chòi, tấu Bài Chòi và cuối cùng là ca kịch Bài Chòi. Sân khấu Bài Chòi có thể diễn các đề tài dân gian – lịch sử – thần thoại – chuyện thời đại – chuyện trong nước và ngoài nước, nhưng phải nói bằng tiếng nói của chính mình, nội dung phải phù hợp với tâm tư, nguyện vọng và đạo đức con người Việt Nam, phải tiếp nối những câu chuyện dân gian quen thuộc mà người dân lao động đã được thưởng thức từ khi ngồi trên chín cái chòi cách đây hàng trăm năm mà phát triển lên thành sân khấu chuyên nghiệp. Trong sân khấu Bài Chòi, tùy theo vở diễn đề tài cận đại hoặc hiện đại mà tác giả chỉ sử dụng 5 làn điệu: Xuân nữ, Xàng xê, Cổ bản, Hồ quảng và Nói lối.

Có thể nói, nghệ thuật Bài Chòi đã có một thời vàng son đóng góp vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam. Việc được giới sân khấu chuyên nghiệp đánh giá “Thoại Khanh – Châu Tuấn” là vở diễn xuất sắc tại Hội diễn năm 1957 đã chứng tỏ sự phát triển vượt bật, làm mốc cho sự hình thành kịch chủng dân ca Bài Chòi, đưa Bài Chòi lên thành sân khấu chính quy hiện đại. Tiếp đó là vở “Tiếng sấm Tây Nguyên” tham gia Hội diễn năm 1962 đã gây tiếng vang lớn trong giới sân khấu và được đánh giá cao với gần 20 huy chương vàng, bạc dành cho kịch bản, âm nhạc, mỹ thuật và diễn viên… đã đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc thể hiện đề tài mới của nghệ thuật Bài Chòi. Phát huy những thành quả đạt được, các tác giả sân khấu Bài Chòi đã mở ra nhiều đề tài khác nhau với một loạt các vở diễn như: “Trước giờ tạm biệt”, “Chống cưỡng ép di cư”, “Anh Tâm trở về”, “Đường sống”, “Đội kịch chim chèo bẻo”, “Tầm vóc Đại Hồng”, “Một mạng người”, “Bà Đô đốc áo đỏ”, “Lưu Bình – Dương Lễ”, “Kiều – Từ Hải”, “Vượt Chư Lây”, “Người con thứ”, “Muối Bok Hồ”, “Ba cha con”… góp phần không nhỏ trong việc phục vụ sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc. Sau ngày thống nhất đất nước, các nghệ sĩ Bài Chòi trở về Nam phục vụ, miền Bắc không còn đoàn nghệ thuật Bài Chòi nữa. Nhờ trưởng thành trên miền Bắc mà khi trở về Nam, nghệ thuật sân khấu Bài Chòi vẫn tiếp tục phát triển, vẫn biểu diễn và tham gia đầy đủ các đợt hội diễn lớn. Năm 2010, Hội diễn Sân khấu Tuồng và Dân ca kịch chuyên nghiệp toàn quốc tổ chức tại thành phố Đà Nẵng đã thu hút được 3 đoàn Ca kịch Bài Chòi tham gia. Với sự tìm tòi và sáng tạo mới, vở diễn “Thời con gái đã xa” của Đoàn Ca kịch Bài Chòi Bình Định đạt huy chương bạc. Năm 2011, tại thành phố Quy Nhơn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Bình Định đã tổ chức Liên hoan Sân khấu Dân ca kịch Bài Chòi chuyên nghiệp toàn quốc. Các Đoàn ca kịch Bài Chòi Quảng Nam, Bình Định và Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Khánh Hòa đã mang đến những vở diễn đề tài truyền thống, lịch sử, huyền sử, dân gian hoặc hiện đại… tạo nên sắc màu dân tộc đậm đà của mỗi địa phương, nhưng vẫn nổi bật được giá trị riêng của nghệ thuật Bài Chòi.

Đặc biệt, đầu xuân 2011, UBND tỉnh Bình Định đã chỉ đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Định phục dựng lại hội Bài Chòi dân gian, sau đó đưa Hội đánh Bài Chòi cổ dân gian của Bình Định giới thiệu với công chúng Thủ đô tại không gian sân khấu Nhà hát Kim Mã (Hà Nội) đã tạo không khí rất sôi nổi những ngày đầu xuân và giúp người dân nơi đây hiểu nhiều hơn về phong cách tham gia hội đánh Bài Chòi cổ và nghệ thuật Bài Chòi.

Thông qua việc giới thiệu và quảng bá về Bài Chòi với hình thức diễn xướng dân gian và biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, có thể thấy, Bình Định là địa phương còn gìn giữ và phát triển được hội đánh Bài Chòi cổ tại các lễ hội lớn trên địa bàn tỉnh. Bắt nguồn từ trò chơi dân gian do Đào Duy Từ truyền dạy từ thế kỷ XVII, từ đó Bài Chòi phát triển thành hình thức đánh Bài Chòi – hội đánh Bài Chòi trong các dịp lễ hội. Hình thức này ra đời đã hơn 100 năm duy trì mãi tới hôm nay, trải qua nhiều giai đoạn từ đất lên giàn, từ độc diễn đến tập thể biểu diễn. Dần dần, Bài Chòi đã phát triển đi lên thành nghệ thuật quần chúng.

Từ những năm Bài Chòi mới ra đời cho đến nay, Bình Định hiện cũng là địa phương có thế mạnh về phát triển sân khấu Bài chòi. Nhiều năm qua, Đoàn Ca kịch Bài Chòi Bình Định đã gìn giữ, kế thừa và phát huy nghệ thuật dân ca Bài Chòi – một di sản tinh thần của cha ông, đã quyện chặt vào tâm thức dân gian của người Bình Định. Và trải qua những năm tháng thăng trầm của lịch sử, nhưng được nhân dân nuôi dưỡng coi như món ăn tinh thần không thể thiếu nên Bài chòi vẫn âm thầm tồn tại trong nhân dân, trong làng xã nông thôn Bình Định.

Hiện nay, Bài Chòi cũng như các loại hình sân khấu dân tộc khác đang đứng trước thử thách gay go về việc giữ gìn và phát triển trong cuộc sống hôm nay. Nếu trước Cách mạng tháng Tám 1945 cả vùng Nam Trung bộ đều có phong trào hát Bài Chòi thì nay chỉ còn 3 đoàn Bài Chòi chuyên nghiệp (Bình Định, Quảng Nam, Khánh Hòa). Tuy số lượng các đoàn ít ỏi nhưng vừa qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vẫn quyết tâm tổ chức Cuộc thi Nghệ thuật sân khấu Tuồng  và Dân ca kịch chuyên nghiệp toàn quốc năm 2013 nhằm duy trì và khôi phục loại hình nghệ thuật truyền thống này. Đây là dịp để các đoàn Dân ca kịch Bài Chòi chuyên nghiệp giới thiệu quảng bá tác phẩm, kết quả bảo tồn phát huy các giá trị nghệ thuật Bài Chòi trong những năm qua. Đây cũng là dịp để tôn vinh những nghệ sỹ, diễn viên có tâm huyết với nghệ thuật Bài Chòi truyền thống… Tham dự cuộc thi có 3 đơn vị Dân ca kịch Bài Chòi chuyên nghiệp trong toàn quốc là Đoàn Ca kịch Quảng Nam, Đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định và Nhà hát nghệ thuật truyền thống Khánh Hòa. Tại cuộc thi này, Đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định đã gặt hái được thành công lớn với huy chương Vàng cho vở diễn “Khúc ca bi tráng” (Tác giả kịch bản: Văn Trọng Hùng, chuyển thể: Đoàn Thanh Tâm, Đạo diễn: NSND Hoài Huệ), một lần nữa đã khẳng định sức sống của nghệ thuật Bài Chòi cũng như sự trưởng thành lớn mạnh và sự tìm tòi, sáng tạo trong việc bảo tồn, thúc đẩy nghệ thuật Bài Chòi ở Bình Định phát triển trong giai đoạn mới. Điều này cũng là niềm vinh dự, tự hào cho tỉnh Bình Định khẳng định thế mạnh của nghệ thuật Bài Chòi, đồng thời cũng là động lực cho những người tâm huyết với nghệ thuật Bài Chòi làm hết sức mình trong sự nghiệp bảo tồn, phát huy, phát triển nghệ thuật Bài Chòi theo định hướng của Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

Để bảo tồn và phát triển nghệ thuật Bài Chòi trong cuộc sống hôm nay mà vẫn giữ được những giá trị nguyên gốc, theo tôi cần có những giải pháp sau:

Sức sống của ca kịch Bài Chòi đã được gieo mầm và trưởng thành từ trong kháng chiến, đến nay cần phải có sự bảo tồn, phát huy và phát triển phù hợp đáp ứng đúng với yêu cầu của thời đại, đúng với môn nghệ thuật này, đúng tầm với những loại hình sân khấu dân tộc của nước ta, đáp ứng được yêu cầu thưởng thức cũng như giá trị chân, thiện, mỹ của loại hình nghệ thuật độc đáo trong đời sống hiện đại hôm nay.

Nghệ thuật sân khấu nói chung và nghệ thuật Bài Chòi nói riêng có vai trò to lớn trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong việc nâng cao nhận thức, phát triển và hoàn thiện nhân cách con người. Các nghệ nhân, nghệ sĩ đã xây dựng nền nghệ thuật truyền thống độc đáo từ chính cuộc sống lao động sản xuất và sản sinh những di sản nghệ thuật quý giá trong kho tàng sân khấu cổ truyền với Tuồng, Chèo, Cải lương… và những làn điệu, lời ca mượt mà, thấm đẫm giá trị đạo đức, nhân văn của con người Việt Nam qua từng thế hệ. Với người dân Việt Nam, nền nghệ thuật sân khấu truyền thống là kho báu về di sản văn hóa phi vật thể, là tinh hoa sáng tạo nghệ thuật của bao thế hệ tiền nhân, là niềm tự hào của mỗi người con đất Việt. Việt Nam đã có nhiều loại hình âm nhạc truyền thống được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Việc lập hồ sơ trình UNESCO xét duyệt, công nhận Bài Chòi là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại nhằm tôn vinh đúng giá trị đích thực về khoa học, lịch sử, văn hoá của di sản và có kế hoạch bảo tồn, phát huy nghệ thuật Bài Chòi có tính khả thi nếu chúng ta triển khai đúng định hướng, có sức thuyết phục trong quá trình hội nhập quốc tế là vô cùng cần thiết. Bài Chòi là nghệ thuật dân gian mang hình thái riêng biệt nên từ kịch bản đến đạo diễn, diễn xuất, âm nhạc và trang trí đều phải xuất phát từ quan điểm dân gian mà sáng tạo. Hiện nay, xu hướng hiện đại hóa Bài Chòi (dân ca Bài Chòi và đưa nhạc sáng tác quá nhiều vào sân khấu Bài Chòi) đã dẫn tới hệ lụy mất bản sắc Bài Chòi dân gian truyền thống, cái mà chúng ta cần bảo tồn, cần phát huy và cũng là mục tiêu chúng ta đang phấn đấu để UNESCO công nhận Bài Chòi là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại. Do đó, nếu xây dựng hồ sơ trình UNESCO xét duyệt thì phải giữ tư liệu gốc của Bài Chòi trên cả 2 phương diện là hội đánh Bài Chòi và nghệ thuật biểu diễn Bài Chòi chuyên nghiệp.

Mục đích của việc bảo tồn và phát triển nghệ thuật Bài Chòi chính là mang đến cho công chúng những giá trị thẩm mỹ, vì vậy, chúng ta cần thực hiện đồng bộ các giải pháp để giữ gìn vốn cổ, trong đó chú trọng:

+ Tổ chức đưa nghệ thuật sân khấu Bài Chòi vào chương trình sân khấu học đường.

+ Thường xuyên tổ chức Liên hoan Sân khấu Bài Chòi (những vở sáng tác mới, Liên hoan những vở diễn có tính truyền thống của nghệ thuật Bài Chòi).

+ Tổ chức nhiều Hội thảo khoa học để tổng kết đánh giá, rút ra những kinh nghiệm trong sự hình thành và phát triển của nghệ thuật Bài Chòi từ một loại hình diễn ca (hô thai) trở thành loại hình nghệ thuật Sân khấu tổng hợp.

+ Tổ chức tập huấn nâng cao trình độ biểu diễn cho các nghệ sĩ trẻ hàng năm.

Thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị “tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới”, các thế hệ nghệ nhân, nghệ sĩ sân khấu đã không ngừng sáng tạo nhiều tác phẩm có chất lượng cao, góp phần đưa nghệ thuật sân khấu nói chung và nghệ thuật sân khấu Bài Chòi nói riêng phát triển trong xu thế hội nhập và đáp ứng yêu cầu của thời đại.

Ta có thể tin vào một chặng đường mới, cuộc hành trình – tiếp tục vươn lên, đứng vững để bảo tồn một nghệ thuật đặc sắc của văn hóa dân tộc: Nghệ thuật Bài Chòi, như đã từng tin vào sức sống của sân khấu Bài Chòi hôm qua, hôm nay và mai sau.

http://svhttdl.binhdinh.gov.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1737:bo-tn-va-phat-huy-gia-tr-va-ngh-thut-bai-choi-trong-i-sng-hom-nay&catid=40:vanhoa&Itemid=50

H.N.(tổng hợp) : Nghệ thuật Bài Chòi sắp được trình UNESCO vào danh sách Di sản phi vật thể của nhân loại


Nghệ thuật Bài Chòi sắp được trình UNESCO vào danh sách Di sản phi vật thể của nhân loại

H.N (Tổng hợp) 25/11/14 10:26

Tháng 12/2014, Hồ sơ quốc gia nghệ thuật Bài Chòi miền Trung Việt Nam chính thức được trình UNESCO xét duyệt và ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa Đại diện của nhân loại.

Trước đó ngày 27.10, Bộ VHTTDL đã phê duyệt về việc thành lập Ban chỉ đạo xây dựng hồ sơ đề cử quốc gia “Nghệ thuật bài chòi miền Trung Việt Nam” đề nghị UNESCO đưa vào danh sách văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Hồ sơ Bài chòi bao gồm các yêu cầu về lịch sử, nghệ thuật, văn hóa và cam kết của cộng đồng, sự đồng lòng của cộng đồng khi đề đạt nghệ thuật Bài chòi để UNESCO công nhận đây là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Hát bài chòi ở Quy Nhơn

Theo tiến sĩ Nguyễn Bình Định, Viện trưởng Viện Âm nhạc (Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam), Bài chòi là hình thức nghệ thuật dân gian sinh động bởi sự kết hợp khéo léo cả thơ, nhạc, hát, diễn xuất, ứng tác…Đây chính là điểm đặc sắc mà không phải địa phương nào cũng có.

Bài chòi là sản phẩm văn hóa dân gian độc đáo của người dân các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên vào đến các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai.

Hát bài chòi thường được tổ chức thành một lễ hội. Hội này thường được tổ chức vào dịp Tết Nguyên đán. Người ta thường dựng 9 hoặc 11 chòi, chia thành 2 bên. Mỗi bên có 5 chòi, mỗi chòi độ cao từ 2-3 m, rộng đủ 3 người ngồi và một chòi trung tâm giành cho các vị chức sắc địa phương.

Bộ bài để đánh bài chòi là bộ bài tam cúc cải tiến với 33 lá với nhiều tên nôm na như: nhứt nọc, nhì nghèo, ông ầm, thằng bí, lá liễu … được vẻ trên giấy, dán vào thẻ tre..

Hội bài chòi thường được tổ chức vào dịp đầu năm

Vào cuộc chơi, anh hiệu xốc bài, rút một con và xướng tên con bài. Người chơi phải suy đoán, anh hiệu hô lên một câu thai hoặc một câu ca dao có tên bài. Nếu chòi nào trúng tên con bài thì gõ mõ để anh hiệu mang bài đến. Bài chòi đó “tới” nếu trúng ba con bài, xổ một hồi mõ dài. Khi đó, anh hiệu cầm lá cờ cùng với rượu đến trao thưởng cho người trúng. Mỗi lá cờ đuôi nheo bằng giấy là dấu hiệu của một lần thắng. Góp vui cùng cuộc chơi còn có ban nhạc cổ gồm đờn cò, kèn, sanh, trống hòa tấu lên khi có chòi “tới”. Khả năng trình diễn của anh Hiệu (người chủ trì trong hội chơi bài chòi) đã để lại trong lòng người xem sự hồn nhiên, dí dỏm, thông minh, tạo được sự lôi cuốn và hấp dẫn.

http://www.ngaynay.vn/Nghe-thuat-Bai-Choi-sap-duoc-trinh-UNESCO-vao-danh-sach-Di-san-phi-vat-the-cua-nhan-loai-p265042.html

HỮU TRUNG : Bài chòi – di sản văn hóa đặc sắc vùng Nam Trung Bộ


Bài chòi – di sản văn hóa đặc sắc vùng Nam Trung Bộ

Thứ hai – 01/12/2014 08:42


Năm 2012, loại hình nghệ thuật dân gian Bài chòi đã được đưa vào danh sách lập hồ sơ đề cử quốc gia trong giai đoạn 2012-2016 trình UNESCO xét duyệt và ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Mới đây, Bộ VH-TT&DL đã giao Viện Âm nhạc chủ trì, phối hợp với các tỉnh, thành phố có di sản Bài chòi xây dựng hồ sơ quốc gia “Nghệ thuật Bài chòi dân gian miền Trung Việt Nam” đệ trình UNESCO ghi danh Bài chòi vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Hồ sơ quốc gia nghệ thuật Bài chòi miền Trung Việt Nam chính thức trình UNESCO trong tháng 12 năm nay.

Từ hình thái nghệ thuật dân gian…

Tiến sĩ Nguyễn Bình Định, Viện trưởng Viện Âm nhạc (Học Viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) khẳng định: Trong số các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian ở các nước thuộc khu vực Đông Á và Đông Nam Á, Bài chòi là một trong những hình thức nghệ thuật dân gian sinh động, bởi trong đó có sự kết hợp khéo léo cả thơ, nhạc, hát, diễn xuất, ứng tác… Đây chính là điểm đặc sắc mà không phải loại hình trình diễn nào cũng có. Từ hình thức đánh bài lá tiến tới hội chơi Bài chòi, Bài chòi chiếu; rồi từ chỗ trình diễn dưới đất đi lên hình thức trình diễn trên giàn và sau đó còn bước tiếp để phát triển thành hình thức sân khấu truyền thống, mang tính chuyên nghiệp đã cho thấy nghệ thuật Bài chòi có sức sống mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật ngày càng cao của công chúng.

Theo nhạc sĩ Trần Hồng, người cả đời nặng lòng với nghệ thuật Bài chòi, các Giáo sư Hoàng Châu Ký, Giáo sư nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, các NSND như Nguyễn Nho Túy, Nguyễn Lai, Ngô Thị Liễu là những người được sinh ra từ những năm đầu thế kỷ XX cho biết từ lúc các cụ còn bé đã theo cha mẹ ngồi trên chòi để vui chơi Hội Bài chòi ở các đình chợ, đình làng. Điều này cũng có nghĩa là Bài chòi đã có ít nhất cách đây hàng trăm năm. Năm 1902, khi hoàn thành tập sách La Rousse Misicale, học giả người Pháp G.L Bovier cho rằng Bài chòi được hình thành và phát triển sau những năm Nam tiến, tức là sau những năm 1470, tính đến nay là 544 năm. Bài chòi phát xuất từ các chòi giữ thú rừng, các trò chơi giải trí trên chòi, rồi bày ra Hội chơi Bài chòi.

Nhiều du khách nước ngoài say sưa xem Hội thi hát bài chòi tại Bình Định.

Còn nhạc sĩ Trương Đình Quang nghiêng về giả thuyết cho rằng: Bài chòi bắt nguồn từ bài tổ tôm. Theo đó, các con bài trong bộ Bài chòi cũng có đủ từ 1 đến 9, có những tên gọi nhất, nhị, tam, tứ… và có thể xếp theo như các pho văn, vạn, sách của tổ tôm. Hiện tượng trên không đủ để chứng minh sự “dân gian hóa” tổ tôm, mà có thể chứng minh cho sự “nho hóa” Bài chòi. Và cũng có thể do dụng ý của các nhà nho bình dân, muốn nho hóa ngữ vựng và dụng tâm tham khảo tổ tôm để chỉnh lý Bài chòi cho phù hợp…

Hội chơi Bài chòi thường diễn ra vào dịp đầu Xuân, thu hút nhiều người tham gia nhưng người chơi đến với Bài chòi không phải vì tính ăn thua, thắng được mà là để tìm sự thanh thản, vui vẻ đầu năm, để đắm mình trong những làn điệu dân ca quen thuộc, thả hồn theo những câu hò, điệu hát mộc mạc, dân dã, đồng thời cũng muốn tìm sự may mắn, chúc phúc đầu năm. Tính nhân văn của Bài chòi là ở đó.

…Đến di sản văn hóa nhân loại

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, Tổng đạo diễn xây dựng hồ sơ quốc gia nghệ thuật Bài chòi miền Trung Việt Nam trình UNESCO công nhận Bài chòi là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã khẳng định: Bài chòi là hình thái nghệ thuật dân gian bình dân, mang bản sắc văn hóa riêng của cộng đồng dân cư. Bài chòi mang hơi thở của cuộc sống, thể hiện tính đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của những cộng đồng dân cư và được kế tục qua nhiều thế hệ. Về yếu tố lịch sử, cho đến nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu thấu đáo về lịch sử ra đời của Bài chòi. Tuy nhiên, phần lớn các ý kiến đều cho rằng Bài chòi được sinh ra trong khoảng thế kỷ XV.

Dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng theo nhạc sĩ Trần Hồng và nhạc sĩ Trương Đình Quang, các nhạc sĩ, các nhà nghiên cứu, các nghệ nhân đều gặp nhau ở chỗ: Bài chòi là sản phẩm văn hóa dân gian độc đáo của người dân các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, vào đến tận các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai. Điểm đặc sắc của trò chơi Bài chòi và ý nghĩa nhân văn của nó đã vượt ra khỏi hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian, là nơi trổ tài, biểu diễn, là nơi gặp gỡ của cộng đồng và trở thành sợi dây vô hình gắn kết tính cộng đồng, mang nét văn hóa truyền thống độc đáo của người Việt.

Cũng theo nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, để xây dựng hồ sơ nghệ thuật Quốc gia về Bài chòi trình UNESCO, việc đầu tiên có vai trò hết sức quan trọng là công tác điền dã. Qua điền dã sẽ tìm hiểu được toàn bộ giá trị và đời sống của Bài chòi, xác định nghệ thuật Bài chòi tồn tại trong cộng đồng, được cộng đồng gìn giữ và bảo vệ như thế nào. Cộng đồng có yêu cầu, đề xuất gì và cộng đồng có ý kiến gì chung quanh việc giữ gìn nghệ thuật Bài chòi. Bởi chỉ có cộng đồng là chủ thể văn hóa mới có thể phát biểu chính xác nhất, đầy đủ nhất về nghệ thuật Bài chòi từ việc loại hình nghệ thuật này được sinh ra cho đến quá trình nó tồn tại và phát triển trong đời sống cộng đồng…

Sản phẩm chính của bộ hồ sơ quốc gia nghệ thuật Bài chòi trình UNESCO trước hết là bộ hồ sơ đăng ký khoa học, thể hiện toàn bộ các yêu cầu của UNESCO gồm tất cả các yêu cầu về mặt lịch sử, nghệ thuật, văn hóa và sự cam kết của cộng đồng, sự đồng thuận của cộng đồng khi đề đạt nghệ thuật Bài chòi để UNESCO công nhận đây là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Từ câu Hô Bài chòi (Hô Thai) đến hát Bài chòi trải chiếu là sự phát triển vượt bậc của Bài chòi về mặt nghệ thuật. Sự phát triển đó đã tạo ra được một loại hình nghệ thuật biểu diễn độc đáo của Việt Nam- nghệ thuật độc diễn Bài chòi.

Hình thức nghệ thuật độc diễn này đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa nghệ thuật đặc sắc của cư dân Việt ở vùng Trung Bộ. Sản phẩm văn hóa ấy xứng đáng có chỗ đứng trong kho tàng di sản văn hóa dân gian Việt Nam. Cũng chính loại hình nghệ thuật này là nguồn cội sinh ra sân khấu dân ca kịch Bài chòi Nam Trung Bộ với các tên gọi khác nhau. Đây cũng chính là một trong những lý do để Bài chòi xứng đáng là đối tượng được đề cử để tổ chức UNESCO thẩm định và công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại – Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan nhấn mạnh.

Tác giả bài viết: Hữu Trung

Nguồn tin: Báo Công An Đà Nẵng

http://baichoi.com/vi/news/Bai-viet/Bai-choi-di-san-van-hoa-dac-sac-vung-Nam-Trung-Bo-13.html


CÚC ĐƯỜNG : Danh hiệu di sản phi vật thể thế giới: Đầy triển vọng với nghệ thuật bài chòi


Thứ Hai, 17/11/2014, 15:13 (GMT+7)

Danh hiệu di sản phi vật thể thế giới: Đầy triển vọng với nghệ thuật bài chòi

Vừa trở thành di sản Phi vật thể cấp Quốc gia vào tháng 8, nghệ thuật Bài chòi của các tỉnh Nam Trung Bộ đã được đưa vào danh sách đệ trình UNESCO xin danh hiệu cấp thế giới trong năm 2015 tới đây. Đâu là lý do của sự ưu tiên này?

Theo kế hoạch, chậm nhất là 31.3.2015, hồ sơ của di sản này phải được hoàn thành và được chuyển tới UNESCO – trước khi chờ kết quả chính thức vào năm 2016.

 
 viewimage.aspx

Đáp ứng tiêu chí của UNESCO

Hiện nay, Nam Trung Bộ vẫn đang là vùng “trắng” danh hiệu Di sản phi vật thể Thế giới khi đặt cạnh đồng bằng Bắc Bộ (hát xoan, quan họ, ca trù), Bắc Trung Bộ (nhã nhạc Huế), Tây Nguyên (không gian văn hóa cồng chiêng) hay Nam Bộ (đờn ca tài tử). Tuy nhiên, theo đánh giá ban đầu của giới nghiên cứu, bản thân những nét độc đáo của nghệ thuật bài chòi cũng hoàn toàn đáp ứng được những tiêu chí mà UNESCO đòi hỏi cho danh hiệu này.

“Hát bài chòi có những đặc thù rất riêng và khó nói rằng nó chịu ảnh hưởng trực tiếp của bất kỳ loại hình dân ca nào khác, kể cả nghệ thuật tuồng vốn là đặc sản miền Trung” – GS Hoàng Chương, cố vấn đặc biệt cho phía lập hồ sơ (Viện Âm nhạc và các tỉnh Nam Trung Bộ), khẳng định.

Về cơ bản, bài chòi là sự kết hợp giữa một số điệu dân ca với diễn xướng trò chơi dân gian – trong đó người chơi ngồi trên 9 chiếc chòi cao, sử dụng một bộ bài riêng với hệ thống mõ và cờ đuôi nheo bằng giấy.

Năm 1902, trong công trình có tên, La Rousse Musicale, học giả người Pháp G.L. Bovier đã khẳng định: bài chòi được hình thành và phát triển sau những năm Nam tiến của người Việt tại Nam Trung Bộ (giai đoạn cuối thế kỷ 15). Thậm chí, truyền thuyết địa phương cho rằng trò chơi này được  Đào Duy Từ – vị danh tướng xuất thân từ nghề xướng ca – sáng tạo nên khi dạy cho người dân bản địa dựng chòi để canh nương rẫy. Từ những điệu hát giải trí khi thức đêm, bài chòi dần phát triển thêm về hình thức và làn điệu, trở thành lễ hội bài chòi trong những dịp Tết Nguyên đán, rồi đặc biệt phát triển mạnh trong 100 năm trở lại đây với tính chất của một hình thức diễn xướng dân gian gần gũi với người dân .

“Rất thú vị, bài chòi phát triển đặc biệt mạnh vào giai đoạn kháng chiến chống Pháp, trong khi những loại hình nghệ thuật như tuồng, chèo, cải lương lại gặp cảnh lao đao. Bởi, nếu những diễn xướng này bị coi là tàn dư của phong kiến thì bài chòi vẫn tồn tại nguyên vẹn trong dân gian” – GS Hoàng Chương cho biết. “Thêm vào đó, khi những diễn xướng cần tới sân khấu không tổ chức được trong điều kiện chiến tranh, những người dân Nam Trung Bộ lại càng dồn sự quan tâm cho bài chòi. Không có điều kiện cắm chòi hát, bài chòi chuyển thành đơn ca, song ca và luôn được cộng đồng thực hành mọi nơi mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh”.

Tính truyền thống xuyên thời gian ấy, cộng cùng sự sáng tạo đặc biệt của cộng đồng, là những tiêu chí quan trọng nhất mà UNESCO đòi hỏi ở một di sản phi vật thể như bài chòi.

Đánh thức sự quan tâm của cộng đồng

Theo GS Hoàng Chương, khó khăn lớn nhất trong quá trình xây dựng hồ sơ nằm ở yêu cầu về việc xác định vùng không gian cơ bản của bài chòi. Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, nhiều địa phương đã phần nào có sự mai một về việc thực hành loại hình di sản này và chỉ còn tồn tại lác đác vài nghệ nhân hát bài chòi cổ.

“Hiện tại, 3 tỉnh Quảng Nam, Bình Định và Khánh Hòa là những địa phương còn hào hứng nhất với việc bảo tồn nghệ thuật bài chòi. Trong đó, tỉnh Bình Định cần được ưu tiên nhìn nhận như một trong những cái nôi mà nghệ thuật bài chòi khởi phát” – GS Hoàng Chương cho biết. Theo lời ông, trong 3 địa phương này, Bình Định là nơi lưu giữ được nghệ thuật bài chòi ở mức cơ bản nhất, với hơn 10 CLB bài chòi vẫn đang tồn tại trong dân gian.

“Sự thật là nghệ thuật bài chòi vẫn tồn tại như một dòng chảy thầm lặng tại đây, bất chấp mọi biến thiên của hoàn cảnh. Vào những dịp lễ Tết, lượng người dồn về những CLB bài chòi tại Bình Định vẫn lên tới con số hàng ngàn” – GS Hoàng Chương cho biết. “Và trong trường hợp trở thành di sản thế giới, tôi tin rằng bài chòi vẫn có sức hấp dẫn tuyệt đối với du khách. Bởi, hình thức diễn xướng huy động hệ thống 9 chòi hát là cách làm rất độc đáo và luôn khơi gợi trí tò mò của khách du lịch nước ngoài”.

Nhưng, với bề dày lịch sử hiện hữu, rõ ràng cái đích lớn nhất của danh xưng Di sản Thế giới mà bài chòi hướng tới vẫn là nhu cầu đánh thức sự quan tâm gìn giữ và bảo tồn của cộng đồng – chứ không đơn thuần là việc khai thác danh hiệu để thỏa mãn tâm lý tự hào địa phương hay phục vụ khách du lịch.

Theo Cúc Đường (Thể thao & Văn hóa)

http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=26&macmp=26&mabb=31474

NGUYỄN VĂN NGỌC : Đi tìm nguồn gốc bộ bài chòi


Thứ Sáu, 19/09/2014, 10:33 (GMT+7)

Đi tìm nguồn gốc bộ bài chòi

“Rủ nhau đi đánh bài chòi – Để con nó khóc cho lòi rốn ra”, câu ca xưa phần nào cho thấy sức lôi cuốn của diễn xướng bài chòi với người dân lao động. Bao đời nay, các thế hệ nghệ sĩ, nghệ nhân Bình Định dành nhiều tâm huyết để sáng tạo, vun đắp cho nghệ thuật bài chòi. Và hội đánh bài chòi cũng nhận được sự hưởng ứng tích cực của công chúng. Tuy nhiên, bộ bài chòi vốn vẫn được sử dụng trong hội đánh bài chòi ở Bình Định có nguồn gốc từ đâu?

 nguon goc la bài chòi 1
Quang cảnh hội bài chòi. Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Bài chòi, bài tới

Hiện nay, một số nhà nghiên cứu đưa ra luận cứ rằng Ðào Duy Từ (1572-1634), người Thanh Hóa, theo chúa Nguyễn vào Nam, điểm dừng chân đầu tiên của ông là Bình Định. Đào Duy Từ đã dựa theo mô hình tiêu khiển ở các chòi canh miền núi mà sáng tạo ra hội bài chòi. Từ lối sinh hoạt văn hóa nương rẫy, ông ứng dụng vào trò chơi đánh bài trên chòi, dần dần có tên gọi là hội đánh bài chòi. Về sau, hội bài chòi thường được tổ chức trong những dịp xuân nên được gọi là hội đánh bài chòi xuân.

Thực tế cho thấy, dù bài tới phổ biến khắp Trung – Nam bộ, nhưng bài chòi chỉ phổ biến ở Trung bộ. Có lẽ vì lý do này mà một số nhà nghiên cứu cho rằng bài chòi ra đời muộn mằn hơn hát bội, hát sắc bùa?

Bài tới, theo định nghĩa của tác giả Huỳnh Tịnh Của trong Đại Nam quốc âm tự vị (1896, tập II, trang 455), là “Thứ bài bắt cặp, ai bắt được đủ cặp trước thì gọi là tới, nghĩa là đến trước, rồi cũng được ăn tiền”. Chúng ta không có cứ liệu nào để xác định thời điểm ra đời của bài tới, nhưng trò chơi này trong bối cảnh phong hóa cộng đồng dễ phát triển và lan tỏa theo quy luật trình mở cõi về phương Nam. Có lẽ đó cũng là lý do mà bài tới phổ biến đến tận Nam bộ.

 nguon goc la bài chòi 2
Thẻ cái. Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Từ đánh cờ tướng với hai người chơi đã tích hợp nhiều yếu tố người trình diễn biến thành trò chơi cờ người diễn ra ở sân đình, chùa, những nơi sinh hoạt văn hóa lễ hội nói chung. Đây là một ví dụ. Từ bài tổ tam (người Quảng Nam gọi là tổ tôm), bài tam cúc biến thành tổ tam điếm (chòi) là những ví dụ khác. Ở đây bài tới đã tích hợp với ca nhạc, với chòi/ điếm với rạp/ sân khấu (ngày nay) để trở thành hội đánh bài chòi hấp dẫn. Bài chòi phát triển mạnh đến mức lấn át danh tiếng và cách chơi khác nhiều so với bài tới, nhưng về bộ bài để chơi bài chòi lại cũng là bộ bài để chơi bài tới, không thay đổi gì cho mấy.

Bài chòi, bài tổ tam

Bộ bài chòi có 30 con, chia làm ba pho, gọi là pho Văn, pho Vạn, pho Sách; mỗi pho có 9 con bài (quân bài) và một con bài Yêu (ba con bài Yêu: Ông Ầm, Thái Tử, Bạch Huê). Tên gọi con bài tùy từng địa phương có cách gọi di bản khác nhau. Con bài làm bằng giấy bời, hình chữ nhật (2x 8,5cm), in một mặt đồ án biểu trưng cho con bài và lưng phét màu đỏ sẫm.

Do sự giống nhau của bộ bài chòi, bài tới và bài tổ tam ở chỗ cả ba loại bài đều chia thành ba pho và ba con bài Yêu nên không ít nhà nghiên cứu đã khẳng định mối quan hệ nguồn gốc của bài chòi, bài tới và bài tổ tam có quan hệ với nhau.

Thực ra, xét đồ án hình họa của các con bài tương ứng bài chòi và tổ tam, chúng ta thấy nhiều khác biệt: Bài tổ tam vẽ đa số là hình người Nhật (đầu, mình, tứ chi, dụng cụ cầm tay, vác vai và thêm vào đó là hình tháp (con Ngũ vạn), cá (con Bát vạn), trái đào (con Nhị vạn), thuyền buồm (con Ngũ sách). Còn ở bộ bài chòi thì đồ án trang trí mang tính trừu tượng và hình người trừu tượng, chủ yếu là bán thân hay mặt người. Bài tổ tam mang dấu vết bộ bài chòi là các biểu tượng và chữ Hán – Nôm xác định số thứ tự của con bài.

 nguon goc la bài chòi 3
Ban nhạc trong hội bài chòi. Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Chữ Hán – Nôm: Từ chữ nhất đến chữ cửu trên 9 con bài của pho Vạn; và các chữ ghi tên 3 con bài Yêu: Ông Ầm, Thái Tử và Bạch Huê (Bạch Tuyết).

Về biểu trưng, có hai loại: Hình tròn nhỏ có chấm ở giữa (tạm gọi là nút), hiểu là nút chỉ số điểm của mặt xúc xắc, cũng có thể hiểu là đồng tiến điếu và hình tượng đồng tiền nguyên/ tròn giữa vuông hoặc một nửa đồng tiền/ bán nguyệt.

Biểu tượng thể hiện “phức nghĩa”, đặc biệt là các đồ hình trên 9 con bài của pho Sách là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và theo đó có những biện giải khác nhau. Chẳng hạn như con bài Nhứt Nọc (có địa phương gọi Nọc Thược, Nọc Đượng) được gán cho hình vẽ biểu tượng dương vật và cho rằng nó có nguồn gốc từ Linga của văn hóa Chăm. Theo đó, con Bạch Huê lại được coi là âm vật (Yoni) của văn hóa Chăm. Thế là từ cặp Linga – Yoni, một số nhà nghiên cứu cho rằng bài chòi có gốc gác chi đó với văn hóa Chăm. Thậm chí từ đồ hình quân bài Ba Gà, có người liên tưởng đến hình khắc trên trống đồng Đông Sơn. Các biện giải quá mức này chủ yếu dựa vào sự diễn dịch chủ quan. Thực ra, cách gọi tên con bài bài Chòi, bài Tới là của dân gian, “coi mặt, đặt tên”, tức dựa trên hình tướng đặc trưng nào đó của hình họa mà gọi tên. Và như vậy, trong cái nhìn trực quan là có thể đạt được sự thích đáng cần thiết để có thể phân biệt các con bài.

Khi xưa, chữ Quốc ngữ chưa có, chữ Hán – Nôm cũng không phổ cập rộng rãi trong dân gian, đặc biệt đối với người bình dân thì không phải ai cũng đọc được mặt chữ Hán – Nôm in trên con bài, thì các biểu tượng “nút” và “đồng tiền điếu” có chức năng chỉ số (nhất đến cửu) cho các con bài pho Văn và pho Sách. Đó là các ký hiệu để phân biệt các con bài của bộ bài chòi. Còn đồ hình ở pho Sách được các nhà nghiên cứu biện giải đa tạp, thật ra là hình vẽ các chồng, xâu tiền điếu cộng với dãi uốn cong như hình con rắn, để chỉ rõ chúng thuộc pho Sách. Sách, chữ Hán có nghĩa là dây (ví dụ Quyến Sách nghĩa là dây lụa). Nếu gọi là có mối quan hệ giữa bài chòi với bài tổ tam là hình vẽ dây lằng ngoằn, là một trong các bằng chứng tương đối rõ ràng nhất. Một bằng chứng khác, là con bài Bạch Huê (Bạch Tuyết) của bài chòi, bài tới tương ứng với con bài thang thang của bài tổ tam.

Nói chung, tuy có một số điểm tương đồng giữa bộ bài chòi, bài tới, bài tổ tam, xong xét một cách tường tận hơn thì có nhiều điểm bất cập. Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu thật dài hơi, đối chiếu với các loại bài giấy (chỉ bài) khác, đặc biệt là các loại bài gốc từ Diệp tử mã điếu của Trung Quốc.

 nguon goc la bài chòi 4
Người hô hiệu phải là người có kiến thức văn chương, biết ứng đối… Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Bài chòi, bài diệp tử mã điếu, bài toàn đối

Hình thức cờ bạc phổ biến nhất ở Trung quốc thời cổ là gieo xúc xắc. Một số trò trực tiếp thắng thua dựa vào kết quả của việc gieo xúc xắc; còn có nhiều trò phải kết hợp gieo xúc xắc với đánh cờ, đánh bài mới có thể quyết định thắng bại. Ngoài xúc xắc, hình thức cờ bạc tương đối quan trọng khác là bài xương, ra đời vào niên hiệu Tuyên Hòa thời Bắc Tống. Bài xương hoặc bài ngà, trên thực tế là biến thái từ xúc xắc, trên mặt mỗi con bài là do hai mặt xúc xắc kết hợp lại thành các con bài có điểm (nút) lớn nhỏ khác nhau. Đó là cội nguồn của hình nút (hình tròn nhỏ có chấm ở giữa) trên một số con bài của bộ bài chòi, bài tới đã nói ở phần trên.

Ngoài bài xương, bài ngà ở Trung Quốc còn phổ biến loại bài giấy. Thời cổ gọi là Diệp tử (xuất hiện từ thời Đường), đến thời nhà Minh, nhà Thanh trò chơi bài lá này đặc biệt thịnh hành. Bài diệp tử có hai loại: Diệp tử in theo điểm số của bài xương in ra và diệp tử mã điếu thì dùng nhiều lớp giấy bồi in lên. Diệp tử có 40 lá, chia làm 4 môn (pho): Thập tự, Vạn tự, Sách tự, Văn tiền.

Bài diệp tử mã điếu lưu hành từ niên hiệu Vạn Lịch thời Minh, đến đời nhà Thanh biến đổi thành bài mặc hòa, chỉ còn lại ba pho: Pho Vạn, pho Sách và pho Văn. Ngoài loại bài mặc hòa, còn có một số loại biến thể khác như đấu hổ, chỉ trương.

Những dữ liệu về loại bài diệp tử mã điếu đã chỉ ra mối quan hệ loại bài này với bài chòi, bài tới, bài tổ tam, có số lá con bài, cơ cấu ba pho và đồ án hình họa tương đồng về phần “lý’; còn về phần “biểu” thì phải nói đến Đông Quan bài.

 nguon goc la bài chòi 5
Diễn bài chòi lớp. Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Đông Quan bài (bài Đông Quan) còn gọi là bài toàn đối, vốn xuất xứ và phổ biến ở huyện Đông Quan (Quảng Đông – Trung Quốc). Bộ bài này gồm 120 lá, chia làm bốn bộ (mỗi bộ 30 con bài), mỗi bộ có ba pho: Văn, Vạn, Sách, mỗi pho có 9 con bài, và ba con bài lẻ (gọi là ba con bài đặc biệt, bài Yêu): Đại hồng, Tiểu hồng và Bát xuyến. Các con bài của ba pho đều mang số từ 1 đến 9. Hình học của pho Văn và pho Vạn cũng dùng hình quan tiền và nút làm biểu tượng chỉ số điểm. Riêng pho Vạn vẽ hình nhân vật, trên mỗi lá bài có ghi số điểm bằng chữ Hán (Nhất…, Cửu).

Một vài nhận định

Về mặt đồ án (hình họa), mối quan hệ của bộ bài chòi, bài Tới với loại bài diệp tử mã điếu và đặc biệt là bài Đông Quan (Trung Quốc) là rõ ràng hơn và trực tiếp hơn so với bài tổ tam. Theo đó, các biểu tượng của hình họa trên các lá bài của bài chòi, bài tới được hiểu tự sự đối sánh với các loại đồ án và chức năng khu biệt “danh – số” của diệp tử mã điếu và toàn đối.

Các con bài thuộc pho Vạn: Có chữ viết Hán tự, người bán thân và đồ án trang trí ở dưới cùng. Ở các con bài này, hình người bán thân hẳn bắt nguồn từ nhân vật Hý khúc hay nhân vật Thủy hử thuộc pho Vạn của diệp tử mã điếu và toàn đối. Đối với bộ bài chòi, bài tới trong chừng mực nào đó là mặt tuồng (hát bội) – loại hình “Hý khúc” chiếm vị trí thống trị một thời ở các tỉnh Trung bộ nói chung, Bình Định nói riêng, nơi bộ bài chòi, bài tới thịnh hành. Đặc trưng nhất là đôi mắt xếch, rất tuồng và đặc trưng khu biệt là khăn, mũ đội đầu như học trò (Nhứt trò), thầy (Cửu chùa) đội mũ Tì lư.

Bài diệp tử mã điếu có 4 pho, đến thời nhà Thanh biến đổi thành bài mặc hòa, đấu hổ, chỉ trương có 3 pho. Điều này cho phép đoán định niên đại ra đời của bộ bài chòi, bài tới ở nước ta sớm nhất trong thời nhà Thanh (Trung quốc), giữa cuối thế kỷ XVII trở về sau. Song vì lý do khách quan, bài chòi đòi hỏi tính tiêu khiển tập thể cao, mang tính cộng cảm cao và nhiều lý do khác nên ít thấy lưu lạc vào vùng đất Nam bộ theo chân các vị khai khẩn vùng đất mới.

 nguon goc la bài chòi 6
Một cảnh lại quả khi du khách trúng thưởng.  Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Tại hội thảo “Phát triển sân khấu ca kịch bài chòi miền Trung” do Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức tại Nha Trang tháng 10.1991, có ý kiến cho rằng: Cái gốc của các làn điệu cổ, xuân nữ, xàng xê… đang sử dụng trong hát bội, cải lương đều bắt nguồn từ bài chòi mà ra. Hư thực thế nào, vấn đề đang còn tranh luận. Duy nhất một điều được mọi người đồng ý với nhau: Là các điệu thức trong hô bài chòi có nhiều nét tương đồng với hát bội và cải lương. Đây không phải là sự pha tạp để làm mất cái nguyên gốc ban đầu của chính nó, mà chỉ thêm vào để một bài hô hay hơn và cùng song hành trong đời sống làng xã nông thôn Bình Định nói riêng, vùng đất miền Trung nói chung.

Đánh bài mặc hòa, đấu hổ, bài xì, tứ sắc, roulette hay cờ tướng… nếu không vay mượn của phương Tây thì cũng vay mượn của Trung Hoa, ngược lại đánh bài chòi là hoàn toàn của người Bình Định, người Việt Nam, do người Việt Nam nghĩ ra, không chịu ảnh hưởng nước ngoài nhiều, song cũng phải thừa nhận đã tiếp thu có chọn lọc của loại hình bài diệp tử mã điếu và toàn đối. Tên gọi của những lá bài hầu hết đề tên Nôm, rất ít từ Hán -Việt. Những chữ Hán, chữ Nôm trên các lá bài trộn lẫn vào nhau hầu như không theo một định lệ, khuôn thước nào. Điều này đủ để giúp chúng ta hiểu thêm tinh thần độc lập của người Việt, đồng thời chứng minh rằng đánh bài chòi là một trong những kiểu thức đặc trưng của văn hóa dân gian Bình Định, cũng như miền Trung Việt Nam.

Tính đơn giản trong tên gọi, khiến cho trò chơi đánh bài chòi được phổ thông hơn. Nó không giới hạn trong tính cách của người chơi, không ẩn dụ sau cánh cửa của các nhà quyền quý, cao sang mà cho tất cả mọi người cùng tham gia. Như vậy “Tính chất phổ thông hóa, bình dân hóa của trò chơi đánh bài chòi dễ kết nạp thêm yếu tố, một lối ca hát có nguồn gốc sâu xa vào trong sinh hoạt dân gian của người dân Bình Định nói riêng và các tỉnh Nam Trung bộ Việt Nam.

NGUYỄN VĂN NGỌC

Tài liệu tham khảo:

  1. Hoàng Chương – Nguyễn Có 1997, Bài chòi và dân ca Bình Định, NXB Sân khấu.
  2. Trần Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt, Đào Phương Chi (dịch) 1997, Lịch sử văn hóa Trung Quốc, tập II, NXB Văn hóa – Thông tin.
  3. Hoàng Lê 2001, Lịch sử ca kịch và âm nhạc bài chòi, Sở Văn hóa – Thông tin Bình Định.
  4. Cao Tự Thanh (dịch) 2004, Lịch sử trò chơi Trung Quốc, NXB TP Hồ Chí Minh. 

http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=26&macmp=26&mabb=28310