Tag Archives: bài chòi bình định

H.N.(tổng hợp) : Nghệ thuật Bài Chòi sắp được trình UNESCO vào danh sách Di sản phi vật thể của nhân loại


Nghệ thuật Bài Chòi sắp được trình UNESCO vào danh sách Di sản phi vật thể của nhân loại

H.N (Tổng hợp) 25/11/14 10:26

Tháng 12/2014, Hồ sơ quốc gia nghệ thuật Bài Chòi miền Trung Việt Nam chính thức được trình UNESCO xét duyệt và ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa Đại diện của nhân loại.

Trước đó ngày 27.10, Bộ VHTTDL đã phê duyệt về việc thành lập Ban chỉ đạo xây dựng hồ sơ đề cử quốc gia “Nghệ thuật bài chòi miền Trung Việt Nam” đề nghị UNESCO đưa vào danh sách văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Hồ sơ Bài chòi bao gồm các yêu cầu về lịch sử, nghệ thuật, văn hóa và cam kết của cộng đồng, sự đồng lòng của cộng đồng khi đề đạt nghệ thuật Bài chòi để UNESCO công nhận đây là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Hát bài chòi ở Quy Nhơn

Theo tiến sĩ Nguyễn Bình Định, Viện trưởng Viện Âm nhạc (Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam), Bài chòi là hình thức nghệ thuật dân gian sinh động bởi sự kết hợp khéo léo cả thơ, nhạc, hát, diễn xuất, ứng tác…Đây chính là điểm đặc sắc mà không phải địa phương nào cũng có.

Bài chòi là sản phẩm văn hóa dân gian độc đáo của người dân các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên vào đến các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai.

Hát bài chòi thường được tổ chức thành một lễ hội. Hội này thường được tổ chức vào dịp Tết Nguyên đán. Người ta thường dựng 9 hoặc 11 chòi, chia thành 2 bên. Mỗi bên có 5 chòi, mỗi chòi độ cao từ 2-3 m, rộng đủ 3 người ngồi và một chòi trung tâm giành cho các vị chức sắc địa phương.

Bộ bài để đánh bài chòi là bộ bài tam cúc cải tiến với 33 lá với nhiều tên nôm na như: nhứt nọc, nhì nghèo, ông ầm, thằng bí, lá liễu … được vẻ trên giấy, dán vào thẻ tre..

Hội bài chòi thường được tổ chức vào dịp đầu năm

Vào cuộc chơi, anh hiệu xốc bài, rút một con và xướng tên con bài. Người chơi phải suy đoán, anh hiệu hô lên một câu thai hoặc một câu ca dao có tên bài. Nếu chòi nào trúng tên con bài thì gõ mõ để anh hiệu mang bài đến. Bài chòi đó “tới” nếu trúng ba con bài, xổ một hồi mõ dài. Khi đó, anh hiệu cầm lá cờ cùng với rượu đến trao thưởng cho người trúng. Mỗi lá cờ đuôi nheo bằng giấy là dấu hiệu của một lần thắng. Góp vui cùng cuộc chơi còn có ban nhạc cổ gồm đờn cò, kèn, sanh, trống hòa tấu lên khi có chòi “tới”. Khả năng trình diễn của anh Hiệu (người chủ trì trong hội chơi bài chòi) đã để lại trong lòng người xem sự hồn nhiên, dí dỏm, thông minh, tạo được sự lôi cuốn và hấp dẫn.

http://www.ngaynay.vn/Nghe-thuat-Bai-Choi-sap-duoc-trinh-UNESCO-vao-danh-sach-Di-san-phi-vat-the-cua-nhan-loai-p265042.html

HỮU TRUNG : Bài chòi – di sản văn hóa đặc sắc vùng Nam Trung Bộ


Bài chòi – di sản văn hóa đặc sắc vùng Nam Trung Bộ

Thứ hai – 01/12/2014 08:42


Năm 2012, loại hình nghệ thuật dân gian Bài chòi đã được đưa vào danh sách lập hồ sơ đề cử quốc gia trong giai đoạn 2012-2016 trình UNESCO xét duyệt và ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Mới đây, Bộ VH-TT&DL đã giao Viện Âm nhạc chủ trì, phối hợp với các tỉnh, thành phố có di sản Bài chòi xây dựng hồ sơ quốc gia “Nghệ thuật Bài chòi dân gian miền Trung Việt Nam” đệ trình UNESCO ghi danh Bài chòi vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Hồ sơ quốc gia nghệ thuật Bài chòi miền Trung Việt Nam chính thức trình UNESCO trong tháng 12 năm nay.

Từ hình thái nghệ thuật dân gian…

Tiến sĩ Nguyễn Bình Định, Viện trưởng Viện Âm nhạc (Học Viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) khẳng định: Trong số các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian ở các nước thuộc khu vực Đông Á và Đông Nam Á, Bài chòi là một trong những hình thức nghệ thuật dân gian sinh động, bởi trong đó có sự kết hợp khéo léo cả thơ, nhạc, hát, diễn xuất, ứng tác… Đây chính là điểm đặc sắc mà không phải loại hình trình diễn nào cũng có. Từ hình thức đánh bài lá tiến tới hội chơi Bài chòi, Bài chòi chiếu; rồi từ chỗ trình diễn dưới đất đi lên hình thức trình diễn trên giàn và sau đó còn bước tiếp để phát triển thành hình thức sân khấu truyền thống, mang tính chuyên nghiệp đã cho thấy nghệ thuật Bài chòi có sức sống mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật ngày càng cao của công chúng.

Theo nhạc sĩ Trần Hồng, người cả đời nặng lòng với nghệ thuật Bài chòi, các Giáo sư Hoàng Châu Ký, Giáo sư nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, các NSND như Nguyễn Nho Túy, Nguyễn Lai, Ngô Thị Liễu là những người được sinh ra từ những năm đầu thế kỷ XX cho biết từ lúc các cụ còn bé đã theo cha mẹ ngồi trên chòi để vui chơi Hội Bài chòi ở các đình chợ, đình làng. Điều này cũng có nghĩa là Bài chòi đã có ít nhất cách đây hàng trăm năm. Năm 1902, khi hoàn thành tập sách La Rousse Misicale, học giả người Pháp G.L Bovier cho rằng Bài chòi được hình thành và phát triển sau những năm Nam tiến, tức là sau những năm 1470, tính đến nay là 544 năm. Bài chòi phát xuất từ các chòi giữ thú rừng, các trò chơi giải trí trên chòi, rồi bày ra Hội chơi Bài chòi.

Nhiều du khách nước ngoài say sưa xem Hội thi hát bài chòi tại Bình Định.

Còn nhạc sĩ Trương Đình Quang nghiêng về giả thuyết cho rằng: Bài chòi bắt nguồn từ bài tổ tôm. Theo đó, các con bài trong bộ Bài chòi cũng có đủ từ 1 đến 9, có những tên gọi nhất, nhị, tam, tứ… và có thể xếp theo như các pho văn, vạn, sách của tổ tôm. Hiện tượng trên không đủ để chứng minh sự “dân gian hóa” tổ tôm, mà có thể chứng minh cho sự “nho hóa” Bài chòi. Và cũng có thể do dụng ý của các nhà nho bình dân, muốn nho hóa ngữ vựng và dụng tâm tham khảo tổ tôm để chỉnh lý Bài chòi cho phù hợp…

Hội chơi Bài chòi thường diễn ra vào dịp đầu Xuân, thu hút nhiều người tham gia nhưng người chơi đến với Bài chòi không phải vì tính ăn thua, thắng được mà là để tìm sự thanh thản, vui vẻ đầu năm, để đắm mình trong những làn điệu dân ca quen thuộc, thả hồn theo những câu hò, điệu hát mộc mạc, dân dã, đồng thời cũng muốn tìm sự may mắn, chúc phúc đầu năm. Tính nhân văn của Bài chòi là ở đó.

…Đến di sản văn hóa nhân loại

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, Tổng đạo diễn xây dựng hồ sơ quốc gia nghệ thuật Bài chòi miền Trung Việt Nam trình UNESCO công nhận Bài chòi là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã khẳng định: Bài chòi là hình thái nghệ thuật dân gian bình dân, mang bản sắc văn hóa riêng của cộng đồng dân cư. Bài chòi mang hơi thở của cuộc sống, thể hiện tính đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của những cộng đồng dân cư và được kế tục qua nhiều thế hệ. Về yếu tố lịch sử, cho đến nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu thấu đáo về lịch sử ra đời của Bài chòi. Tuy nhiên, phần lớn các ý kiến đều cho rằng Bài chòi được sinh ra trong khoảng thế kỷ XV.

Dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng theo nhạc sĩ Trần Hồng và nhạc sĩ Trương Đình Quang, các nhạc sĩ, các nhà nghiên cứu, các nghệ nhân đều gặp nhau ở chỗ: Bài chòi là sản phẩm văn hóa dân gian độc đáo của người dân các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, vào đến tận các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai. Điểm đặc sắc của trò chơi Bài chòi và ý nghĩa nhân văn của nó đã vượt ra khỏi hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian, là nơi trổ tài, biểu diễn, là nơi gặp gỡ của cộng đồng và trở thành sợi dây vô hình gắn kết tính cộng đồng, mang nét văn hóa truyền thống độc đáo của người Việt.

Cũng theo nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, để xây dựng hồ sơ nghệ thuật Quốc gia về Bài chòi trình UNESCO, việc đầu tiên có vai trò hết sức quan trọng là công tác điền dã. Qua điền dã sẽ tìm hiểu được toàn bộ giá trị và đời sống của Bài chòi, xác định nghệ thuật Bài chòi tồn tại trong cộng đồng, được cộng đồng gìn giữ và bảo vệ như thế nào. Cộng đồng có yêu cầu, đề xuất gì và cộng đồng có ý kiến gì chung quanh việc giữ gìn nghệ thuật Bài chòi. Bởi chỉ có cộng đồng là chủ thể văn hóa mới có thể phát biểu chính xác nhất, đầy đủ nhất về nghệ thuật Bài chòi từ việc loại hình nghệ thuật này được sinh ra cho đến quá trình nó tồn tại và phát triển trong đời sống cộng đồng…

Sản phẩm chính của bộ hồ sơ quốc gia nghệ thuật Bài chòi trình UNESCO trước hết là bộ hồ sơ đăng ký khoa học, thể hiện toàn bộ các yêu cầu của UNESCO gồm tất cả các yêu cầu về mặt lịch sử, nghệ thuật, văn hóa và sự cam kết của cộng đồng, sự đồng thuận của cộng đồng khi đề đạt nghệ thuật Bài chòi để UNESCO công nhận đây là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Từ câu Hô Bài chòi (Hô Thai) đến hát Bài chòi trải chiếu là sự phát triển vượt bậc của Bài chòi về mặt nghệ thuật. Sự phát triển đó đã tạo ra được một loại hình nghệ thuật biểu diễn độc đáo của Việt Nam- nghệ thuật độc diễn Bài chòi.

Hình thức nghệ thuật độc diễn này đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa nghệ thuật đặc sắc của cư dân Việt ở vùng Trung Bộ. Sản phẩm văn hóa ấy xứng đáng có chỗ đứng trong kho tàng di sản văn hóa dân gian Việt Nam. Cũng chính loại hình nghệ thuật này là nguồn cội sinh ra sân khấu dân ca kịch Bài chòi Nam Trung Bộ với các tên gọi khác nhau. Đây cũng chính là một trong những lý do để Bài chòi xứng đáng là đối tượng được đề cử để tổ chức UNESCO thẩm định và công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại – Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan nhấn mạnh.

Tác giả bài viết: Hữu Trung

Nguồn tin: Báo Công An Đà Nẵng

http://baichoi.com/vi/news/Bai-viet/Bai-choi-di-san-van-hoa-dac-sac-vung-Nam-Trung-Bo-13.html


CÚC ĐƯỜNG : Danh hiệu di sản phi vật thể thế giới: Đầy triển vọng với nghệ thuật bài chòi


Thứ Hai, 17/11/2014, 15:13 (GMT+7)

Danh hiệu di sản phi vật thể thế giới: Đầy triển vọng với nghệ thuật bài chòi

Vừa trở thành di sản Phi vật thể cấp Quốc gia vào tháng 8, nghệ thuật Bài chòi của các tỉnh Nam Trung Bộ đã được đưa vào danh sách đệ trình UNESCO xin danh hiệu cấp thế giới trong năm 2015 tới đây. Đâu là lý do của sự ưu tiên này?

Theo kế hoạch, chậm nhất là 31.3.2015, hồ sơ của di sản này phải được hoàn thành và được chuyển tới UNESCO – trước khi chờ kết quả chính thức vào năm 2016.

 
 viewimage.aspx

Đáp ứng tiêu chí của UNESCO

Hiện nay, Nam Trung Bộ vẫn đang là vùng “trắng” danh hiệu Di sản phi vật thể Thế giới khi đặt cạnh đồng bằng Bắc Bộ (hát xoan, quan họ, ca trù), Bắc Trung Bộ (nhã nhạc Huế), Tây Nguyên (không gian văn hóa cồng chiêng) hay Nam Bộ (đờn ca tài tử). Tuy nhiên, theo đánh giá ban đầu của giới nghiên cứu, bản thân những nét độc đáo của nghệ thuật bài chòi cũng hoàn toàn đáp ứng được những tiêu chí mà UNESCO đòi hỏi cho danh hiệu này.

“Hát bài chòi có những đặc thù rất riêng và khó nói rằng nó chịu ảnh hưởng trực tiếp của bất kỳ loại hình dân ca nào khác, kể cả nghệ thuật tuồng vốn là đặc sản miền Trung” – GS Hoàng Chương, cố vấn đặc biệt cho phía lập hồ sơ (Viện Âm nhạc và các tỉnh Nam Trung Bộ), khẳng định.

Về cơ bản, bài chòi là sự kết hợp giữa một số điệu dân ca với diễn xướng trò chơi dân gian – trong đó người chơi ngồi trên 9 chiếc chòi cao, sử dụng một bộ bài riêng với hệ thống mõ và cờ đuôi nheo bằng giấy.

Năm 1902, trong công trình có tên, La Rousse Musicale, học giả người Pháp G.L. Bovier đã khẳng định: bài chòi được hình thành và phát triển sau những năm Nam tiến của người Việt tại Nam Trung Bộ (giai đoạn cuối thế kỷ 15). Thậm chí, truyền thuyết địa phương cho rằng trò chơi này được  Đào Duy Từ – vị danh tướng xuất thân từ nghề xướng ca – sáng tạo nên khi dạy cho người dân bản địa dựng chòi để canh nương rẫy. Từ những điệu hát giải trí khi thức đêm, bài chòi dần phát triển thêm về hình thức và làn điệu, trở thành lễ hội bài chòi trong những dịp Tết Nguyên đán, rồi đặc biệt phát triển mạnh trong 100 năm trở lại đây với tính chất của một hình thức diễn xướng dân gian gần gũi với người dân .

“Rất thú vị, bài chòi phát triển đặc biệt mạnh vào giai đoạn kháng chiến chống Pháp, trong khi những loại hình nghệ thuật như tuồng, chèo, cải lương lại gặp cảnh lao đao. Bởi, nếu những diễn xướng này bị coi là tàn dư của phong kiến thì bài chòi vẫn tồn tại nguyên vẹn trong dân gian” – GS Hoàng Chương cho biết. “Thêm vào đó, khi những diễn xướng cần tới sân khấu không tổ chức được trong điều kiện chiến tranh, những người dân Nam Trung Bộ lại càng dồn sự quan tâm cho bài chòi. Không có điều kiện cắm chòi hát, bài chòi chuyển thành đơn ca, song ca và luôn được cộng đồng thực hành mọi nơi mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh”.

Tính truyền thống xuyên thời gian ấy, cộng cùng sự sáng tạo đặc biệt của cộng đồng, là những tiêu chí quan trọng nhất mà UNESCO đòi hỏi ở một di sản phi vật thể như bài chòi.

Đánh thức sự quan tâm của cộng đồng

Theo GS Hoàng Chương, khó khăn lớn nhất trong quá trình xây dựng hồ sơ nằm ở yêu cầu về việc xác định vùng không gian cơ bản của bài chòi. Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, nhiều địa phương đã phần nào có sự mai một về việc thực hành loại hình di sản này và chỉ còn tồn tại lác đác vài nghệ nhân hát bài chòi cổ.

“Hiện tại, 3 tỉnh Quảng Nam, Bình Định và Khánh Hòa là những địa phương còn hào hứng nhất với việc bảo tồn nghệ thuật bài chòi. Trong đó, tỉnh Bình Định cần được ưu tiên nhìn nhận như một trong những cái nôi mà nghệ thuật bài chòi khởi phát” – GS Hoàng Chương cho biết. Theo lời ông, trong 3 địa phương này, Bình Định là nơi lưu giữ được nghệ thuật bài chòi ở mức cơ bản nhất, với hơn 10 CLB bài chòi vẫn đang tồn tại trong dân gian.

“Sự thật là nghệ thuật bài chòi vẫn tồn tại như một dòng chảy thầm lặng tại đây, bất chấp mọi biến thiên của hoàn cảnh. Vào những dịp lễ Tết, lượng người dồn về những CLB bài chòi tại Bình Định vẫn lên tới con số hàng ngàn” – GS Hoàng Chương cho biết. “Và trong trường hợp trở thành di sản thế giới, tôi tin rằng bài chòi vẫn có sức hấp dẫn tuyệt đối với du khách. Bởi, hình thức diễn xướng huy động hệ thống 9 chòi hát là cách làm rất độc đáo và luôn khơi gợi trí tò mò của khách du lịch nước ngoài”.

Nhưng, với bề dày lịch sử hiện hữu, rõ ràng cái đích lớn nhất của danh xưng Di sản Thế giới mà bài chòi hướng tới vẫn là nhu cầu đánh thức sự quan tâm gìn giữ và bảo tồn của cộng đồng – chứ không đơn thuần là việc khai thác danh hiệu để thỏa mãn tâm lý tự hào địa phương hay phục vụ khách du lịch.

Theo Cúc Đường (Thể thao & Văn hóa)

http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=26&macmp=26&mabb=31474

NGUYỄN VĂN NGỌC : Đi tìm nguồn gốc bộ bài chòi


Thứ Sáu, 19/09/2014, 10:33 (GMT+7)

Đi tìm nguồn gốc bộ bài chòi

“Rủ nhau đi đánh bài chòi – Để con nó khóc cho lòi rốn ra”, câu ca xưa phần nào cho thấy sức lôi cuốn của diễn xướng bài chòi với người dân lao động. Bao đời nay, các thế hệ nghệ sĩ, nghệ nhân Bình Định dành nhiều tâm huyết để sáng tạo, vun đắp cho nghệ thuật bài chòi. Và hội đánh bài chòi cũng nhận được sự hưởng ứng tích cực của công chúng. Tuy nhiên, bộ bài chòi vốn vẫn được sử dụng trong hội đánh bài chòi ở Bình Định có nguồn gốc từ đâu?

 nguon goc la bài chòi 1
Quang cảnh hội bài chòi. Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Bài chòi, bài tới

Hiện nay, một số nhà nghiên cứu đưa ra luận cứ rằng Ðào Duy Từ (1572-1634), người Thanh Hóa, theo chúa Nguyễn vào Nam, điểm dừng chân đầu tiên của ông là Bình Định. Đào Duy Từ đã dựa theo mô hình tiêu khiển ở các chòi canh miền núi mà sáng tạo ra hội bài chòi. Từ lối sinh hoạt văn hóa nương rẫy, ông ứng dụng vào trò chơi đánh bài trên chòi, dần dần có tên gọi là hội đánh bài chòi. Về sau, hội bài chòi thường được tổ chức trong những dịp xuân nên được gọi là hội đánh bài chòi xuân.

Thực tế cho thấy, dù bài tới phổ biến khắp Trung – Nam bộ, nhưng bài chòi chỉ phổ biến ở Trung bộ. Có lẽ vì lý do này mà một số nhà nghiên cứu cho rằng bài chòi ra đời muộn mằn hơn hát bội, hát sắc bùa?

Bài tới, theo định nghĩa của tác giả Huỳnh Tịnh Của trong Đại Nam quốc âm tự vị (1896, tập II, trang 455), là “Thứ bài bắt cặp, ai bắt được đủ cặp trước thì gọi là tới, nghĩa là đến trước, rồi cũng được ăn tiền”. Chúng ta không có cứ liệu nào để xác định thời điểm ra đời của bài tới, nhưng trò chơi này trong bối cảnh phong hóa cộng đồng dễ phát triển và lan tỏa theo quy luật trình mở cõi về phương Nam. Có lẽ đó cũng là lý do mà bài tới phổ biến đến tận Nam bộ.

 nguon goc la bài chòi 2
Thẻ cái. Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Từ đánh cờ tướng với hai người chơi đã tích hợp nhiều yếu tố người trình diễn biến thành trò chơi cờ người diễn ra ở sân đình, chùa, những nơi sinh hoạt văn hóa lễ hội nói chung. Đây là một ví dụ. Từ bài tổ tam (người Quảng Nam gọi là tổ tôm), bài tam cúc biến thành tổ tam điếm (chòi) là những ví dụ khác. Ở đây bài tới đã tích hợp với ca nhạc, với chòi/ điếm với rạp/ sân khấu (ngày nay) để trở thành hội đánh bài chòi hấp dẫn. Bài chòi phát triển mạnh đến mức lấn át danh tiếng và cách chơi khác nhiều so với bài tới, nhưng về bộ bài để chơi bài chòi lại cũng là bộ bài để chơi bài tới, không thay đổi gì cho mấy.

Bài chòi, bài tổ tam

Bộ bài chòi có 30 con, chia làm ba pho, gọi là pho Văn, pho Vạn, pho Sách; mỗi pho có 9 con bài (quân bài) và một con bài Yêu (ba con bài Yêu: Ông Ầm, Thái Tử, Bạch Huê). Tên gọi con bài tùy từng địa phương có cách gọi di bản khác nhau. Con bài làm bằng giấy bời, hình chữ nhật (2x 8,5cm), in một mặt đồ án biểu trưng cho con bài và lưng phét màu đỏ sẫm.

Do sự giống nhau của bộ bài chòi, bài tới và bài tổ tam ở chỗ cả ba loại bài đều chia thành ba pho và ba con bài Yêu nên không ít nhà nghiên cứu đã khẳng định mối quan hệ nguồn gốc của bài chòi, bài tới và bài tổ tam có quan hệ với nhau.

Thực ra, xét đồ án hình họa của các con bài tương ứng bài chòi và tổ tam, chúng ta thấy nhiều khác biệt: Bài tổ tam vẽ đa số là hình người Nhật (đầu, mình, tứ chi, dụng cụ cầm tay, vác vai và thêm vào đó là hình tháp (con Ngũ vạn), cá (con Bát vạn), trái đào (con Nhị vạn), thuyền buồm (con Ngũ sách). Còn ở bộ bài chòi thì đồ án trang trí mang tính trừu tượng và hình người trừu tượng, chủ yếu là bán thân hay mặt người. Bài tổ tam mang dấu vết bộ bài chòi là các biểu tượng và chữ Hán – Nôm xác định số thứ tự của con bài.

 nguon goc la bài chòi 3
Ban nhạc trong hội bài chòi. Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Chữ Hán – Nôm: Từ chữ nhất đến chữ cửu trên 9 con bài của pho Vạn; và các chữ ghi tên 3 con bài Yêu: Ông Ầm, Thái Tử và Bạch Huê (Bạch Tuyết).

Về biểu trưng, có hai loại: Hình tròn nhỏ có chấm ở giữa (tạm gọi là nút), hiểu là nút chỉ số điểm của mặt xúc xắc, cũng có thể hiểu là đồng tiến điếu và hình tượng đồng tiền nguyên/ tròn giữa vuông hoặc một nửa đồng tiền/ bán nguyệt.

Biểu tượng thể hiện “phức nghĩa”, đặc biệt là các đồ hình trên 9 con bài của pho Sách là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và theo đó có những biện giải khác nhau. Chẳng hạn như con bài Nhứt Nọc (có địa phương gọi Nọc Thược, Nọc Đượng) được gán cho hình vẽ biểu tượng dương vật và cho rằng nó có nguồn gốc từ Linga của văn hóa Chăm. Theo đó, con Bạch Huê lại được coi là âm vật (Yoni) của văn hóa Chăm. Thế là từ cặp Linga – Yoni, một số nhà nghiên cứu cho rằng bài chòi có gốc gác chi đó với văn hóa Chăm. Thậm chí từ đồ hình quân bài Ba Gà, có người liên tưởng đến hình khắc trên trống đồng Đông Sơn. Các biện giải quá mức này chủ yếu dựa vào sự diễn dịch chủ quan. Thực ra, cách gọi tên con bài bài Chòi, bài Tới là của dân gian, “coi mặt, đặt tên”, tức dựa trên hình tướng đặc trưng nào đó của hình họa mà gọi tên. Và như vậy, trong cái nhìn trực quan là có thể đạt được sự thích đáng cần thiết để có thể phân biệt các con bài.

Khi xưa, chữ Quốc ngữ chưa có, chữ Hán – Nôm cũng không phổ cập rộng rãi trong dân gian, đặc biệt đối với người bình dân thì không phải ai cũng đọc được mặt chữ Hán – Nôm in trên con bài, thì các biểu tượng “nút” và “đồng tiền điếu” có chức năng chỉ số (nhất đến cửu) cho các con bài pho Văn và pho Sách. Đó là các ký hiệu để phân biệt các con bài của bộ bài chòi. Còn đồ hình ở pho Sách được các nhà nghiên cứu biện giải đa tạp, thật ra là hình vẽ các chồng, xâu tiền điếu cộng với dãi uốn cong như hình con rắn, để chỉ rõ chúng thuộc pho Sách. Sách, chữ Hán có nghĩa là dây (ví dụ Quyến Sách nghĩa là dây lụa). Nếu gọi là có mối quan hệ giữa bài chòi với bài tổ tam là hình vẽ dây lằng ngoằn, là một trong các bằng chứng tương đối rõ ràng nhất. Một bằng chứng khác, là con bài Bạch Huê (Bạch Tuyết) của bài chòi, bài tới tương ứng với con bài thang thang của bài tổ tam.

Nói chung, tuy có một số điểm tương đồng giữa bộ bài chòi, bài tới, bài tổ tam, xong xét một cách tường tận hơn thì có nhiều điểm bất cập. Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu thật dài hơi, đối chiếu với các loại bài giấy (chỉ bài) khác, đặc biệt là các loại bài gốc từ Diệp tử mã điếu của Trung Quốc.

 nguon goc la bài chòi 4
Người hô hiệu phải là người có kiến thức văn chương, biết ứng đối… Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Bài chòi, bài diệp tử mã điếu, bài toàn đối

Hình thức cờ bạc phổ biến nhất ở Trung quốc thời cổ là gieo xúc xắc. Một số trò trực tiếp thắng thua dựa vào kết quả của việc gieo xúc xắc; còn có nhiều trò phải kết hợp gieo xúc xắc với đánh cờ, đánh bài mới có thể quyết định thắng bại. Ngoài xúc xắc, hình thức cờ bạc tương đối quan trọng khác là bài xương, ra đời vào niên hiệu Tuyên Hòa thời Bắc Tống. Bài xương hoặc bài ngà, trên thực tế là biến thái từ xúc xắc, trên mặt mỗi con bài là do hai mặt xúc xắc kết hợp lại thành các con bài có điểm (nút) lớn nhỏ khác nhau. Đó là cội nguồn của hình nút (hình tròn nhỏ có chấm ở giữa) trên một số con bài của bộ bài chòi, bài tới đã nói ở phần trên.

Ngoài bài xương, bài ngà ở Trung Quốc còn phổ biến loại bài giấy. Thời cổ gọi là Diệp tử (xuất hiện từ thời Đường), đến thời nhà Minh, nhà Thanh trò chơi bài lá này đặc biệt thịnh hành. Bài diệp tử có hai loại: Diệp tử in theo điểm số của bài xương in ra và diệp tử mã điếu thì dùng nhiều lớp giấy bồi in lên. Diệp tử có 40 lá, chia làm 4 môn (pho): Thập tự, Vạn tự, Sách tự, Văn tiền.

Bài diệp tử mã điếu lưu hành từ niên hiệu Vạn Lịch thời Minh, đến đời nhà Thanh biến đổi thành bài mặc hòa, chỉ còn lại ba pho: Pho Vạn, pho Sách và pho Văn. Ngoài loại bài mặc hòa, còn có một số loại biến thể khác như đấu hổ, chỉ trương.

Những dữ liệu về loại bài diệp tử mã điếu đã chỉ ra mối quan hệ loại bài này với bài chòi, bài tới, bài tổ tam, có số lá con bài, cơ cấu ba pho và đồ án hình họa tương đồng về phần “lý’; còn về phần “biểu” thì phải nói đến Đông Quan bài.

 nguon goc la bài chòi 5
Diễn bài chòi lớp. Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Đông Quan bài (bài Đông Quan) còn gọi là bài toàn đối, vốn xuất xứ và phổ biến ở huyện Đông Quan (Quảng Đông – Trung Quốc). Bộ bài này gồm 120 lá, chia làm bốn bộ (mỗi bộ 30 con bài), mỗi bộ có ba pho: Văn, Vạn, Sách, mỗi pho có 9 con bài, và ba con bài lẻ (gọi là ba con bài đặc biệt, bài Yêu): Đại hồng, Tiểu hồng và Bát xuyến. Các con bài của ba pho đều mang số từ 1 đến 9. Hình học của pho Văn và pho Vạn cũng dùng hình quan tiền và nút làm biểu tượng chỉ số điểm. Riêng pho Vạn vẽ hình nhân vật, trên mỗi lá bài có ghi số điểm bằng chữ Hán (Nhất…, Cửu).

Một vài nhận định

Về mặt đồ án (hình họa), mối quan hệ của bộ bài chòi, bài Tới với loại bài diệp tử mã điếu và đặc biệt là bài Đông Quan (Trung Quốc) là rõ ràng hơn và trực tiếp hơn so với bài tổ tam. Theo đó, các biểu tượng của hình họa trên các lá bài của bài chòi, bài tới được hiểu tự sự đối sánh với các loại đồ án và chức năng khu biệt “danh – số” của diệp tử mã điếu và toàn đối.

Các con bài thuộc pho Vạn: Có chữ viết Hán tự, người bán thân và đồ án trang trí ở dưới cùng. Ở các con bài này, hình người bán thân hẳn bắt nguồn từ nhân vật Hý khúc hay nhân vật Thủy hử thuộc pho Vạn của diệp tử mã điếu và toàn đối. Đối với bộ bài chòi, bài tới trong chừng mực nào đó là mặt tuồng (hát bội) – loại hình “Hý khúc” chiếm vị trí thống trị một thời ở các tỉnh Trung bộ nói chung, Bình Định nói riêng, nơi bộ bài chòi, bài tới thịnh hành. Đặc trưng nhất là đôi mắt xếch, rất tuồng và đặc trưng khu biệt là khăn, mũ đội đầu như học trò (Nhứt trò), thầy (Cửu chùa) đội mũ Tì lư.

Bài diệp tử mã điếu có 4 pho, đến thời nhà Thanh biến đổi thành bài mặc hòa, đấu hổ, chỉ trương có 3 pho. Điều này cho phép đoán định niên đại ra đời của bộ bài chòi, bài tới ở nước ta sớm nhất trong thời nhà Thanh (Trung quốc), giữa cuối thế kỷ XVII trở về sau. Song vì lý do khách quan, bài chòi đòi hỏi tính tiêu khiển tập thể cao, mang tính cộng cảm cao và nhiều lý do khác nên ít thấy lưu lạc vào vùng đất Nam bộ theo chân các vị khai khẩn vùng đất mới.

 nguon goc la bài chòi 6
Một cảnh lại quả khi du khách trúng thưởng.  Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Tại hội thảo “Phát triển sân khấu ca kịch bài chòi miền Trung” do Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức tại Nha Trang tháng 10.1991, có ý kiến cho rằng: Cái gốc của các làn điệu cổ, xuân nữ, xàng xê… đang sử dụng trong hát bội, cải lương đều bắt nguồn từ bài chòi mà ra. Hư thực thế nào, vấn đề đang còn tranh luận. Duy nhất một điều được mọi người đồng ý với nhau: Là các điệu thức trong hô bài chòi có nhiều nét tương đồng với hát bội và cải lương. Đây không phải là sự pha tạp để làm mất cái nguyên gốc ban đầu của chính nó, mà chỉ thêm vào để một bài hô hay hơn và cùng song hành trong đời sống làng xã nông thôn Bình Định nói riêng, vùng đất miền Trung nói chung.

Đánh bài mặc hòa, đấu hổ, bài xì, tứ sắc, roulette hay cờ tướng… nếu không vay mượn của phương Tây thì cũng vay mượn của Trung Hoa, ngược lại đánh bài chòi là hoàn toàn của người Bình Định, người Việt Nam, do người Việt Nam nghĩ ra, không chịu ảnh hưởng nước ngoài nhiều, song cũng phải thừa nhận đã tiếp thu có chọn lọc của loại hình bài diệp tử mã điếu và toàn đối. Tên gọi của những lá bài hầu hết đề tên Nôm, rất ít từ Hán -Việt. Những chữ Hán, chữ Nôm trên các lá bài trộn lẫn vào nhau hầu như không theo một định lệ, khuôn thước nào. Điều này đủ để giúp chúng ta hiểu thêm tinh thần độc lập của người Việt, đồng thời chứng minh rằng đánh bài chòi là một trong những kiểu thức đặc trưng của văn hóa dân gian Bình Định, cũng như miền Trung Việt Nam.

Tính đơn giản trong tên gọi, khiến cho trò chơi đánh bài chòi được phổ thông hơn. Nó không giới hạn trong tính cách của người chơi, không ẩn dụ sau cánh cửa của các nhà quyền quý, cao sang mà cho tất cả mọi người cùng tham gia. Như vậy “Tính chất phổ thông hóa, bình dân hóa của trò chơi đánh bài chòi dễ kết nạp thêm yếu tố, một lối ca hát có nguồn gốc sâu xa vào trong sinh hoạt dân gian của người dân Bình Định nói riêng và các tỉnh Nam Trung bộ Việt Nam.

NGUYỄN VĂN NGỌC

Tài liệu tham khảo:

  1. Hoàng Chương – Nguyễn Có 1997, Bài chòi và dân ca Bình Định, NXB Sân khấu.
  2. Trần Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt, Đào Phương Chi (dịch) 1997, Lịch sử văn hóa Trung Quốc, tập II, NXB Văn hóa – Thông tin.
  3. Hoàng Lê 2001, Lịch sử ca kịch và âm nhạc bài chòi, Sở Văn hóa – Thông tin Bình Định.
  4. Cao Tự Thanh (dịch) 2004, Lịch sử trò chơi Trung Quốc, NXB TP Hồ Chí Minh. 

http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=26&macmp=26&mabb=28310

PHƯƠNG LAN : Bài chòi trên đường thành di sản thế giới – Bài 1


Thứ Hai, 18/08/2014, 09:47 (GMT+7)

Bài chòi trên đường thành di sản thế giới – Bài 1

Nghệ thuật bài chòi đang trong quá trình xây dựng hồ sơ trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, bởi những giá trị về văn hóa, nghệ thuật cũng như sức sống mạnh mẽ của loại hình nghệ thuật này trong lòng người dân vùng duyên hải miền Trung.

Bài 1: Di sản sáng tạo của nhân dân lao động

Từ khi bắt đầu hình thành với hình thức sơ khai là trò chơi đánh bài chòi (hay còn gọi là hô bài chòi), hát bài chòi trở thành loại hình nghệ thuật dân gian gần gũi, đặc sắc thể hiện tâm tư, tình cảm, cuộc sống sinh hoạt của người dân duyên hải miền Trung.

 Nếu người Nam Bộ say mê và tự hào với Đờn ca tài tử, thì người miền Trung cũng say mê và tự hào với nghệ thuật bài chòi.

“Rủ nhau đi đánh bài chòi

Để con nó khóc mà lòi rốn ra”

 
Đông đảo người dân đến xem hội đánh bài chòi cổ ở Bình Định.

Câu ca dao ấy của người dân miền Trung đã cho ta thấy, nghệ thuật hát bài chòi được nhân dân miền Trung yêu thích và bài chòi đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được của nhân dân lao động miền Trung. Cũng như hát bội, bài chòi có nguồn gốc từ dân gian, trải qua thời gian, bài chòi đã phát triển thành nghệ thuật chuyên nghiệp, nhưng hình thức sinh hoạt bài chòi theo kiểu dân gian vẫn bám trụ trong lòng nhân dân lao động ở các tỉnh miền Trung.

Nói về nguồn gốc của bài chòi, GS Hoàng Chương, Tổng Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, người đã có hàng chục năm tìm hiểu và nghiên cứu nghệ thuật bài chòi cho biết: “Cho đến nay, vẫn chưa tìm thấy văn bản nào có ghi lại nguồn gốc ra đời của nghệ thuật bài chòi. Tuy nhiên, qua truyền thuyết dân gian, qua lời kể của những nghệ nhân cho thấy, nguồn gốc và sự ra đời của nghệ thuật bài chòi gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của nhân dân lao động”.

Theo lời kể của các nghệ nhân, vào cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII, nhiều thú dữ trên rừng thường về phá hoại mùa màng, quấy nhiễu cuộc sống của dân lành. Để chống lại thú dữ tấn công, người dân trong làng đã dựng những chiếc chòi rất cao ở ven rừng, trên mỗi chiếc chòi cắt cử một thanh niên trai tráng canh gác, nếu thấy thú dữ về phá hoa màu thì đánh trống, hô to để đuổi thú rừng… Trong quá trình canh giữ như vậy, để đỡ buồn chán, những người canh giữ trên chòi đã nghĩ cách giao lưu với nhau bằng những câu hát, câu hò.

 
Đánh bài chòi đã thành một sinh hoạt văn hóa không thể thiếu với người Bình Định.

Để phù hợp với hoàn cảnh khi đó, các chòi đã ngồi trên chòi hát – hô đối đáp nhau, giữa chòi này với chòi khác. Không chỉ có hô – hát không, người dân còn sáng tạo ra cách ngồi chơi bài tứ sắc (tương tự như tam cúc ở ngoài Bắc – PV). Hình thức vừa chơi bài, vừa hô (hát) giữa các chòi với nhau để giải trí này được dân gian gọi là hô bài chòi, khởi nguồn của nghệ thuật bài chòi sau này.

Trải qua thời gian, để nhiều người dân có thể biết đến cách chơi hát – hô bài chòi này, những cuộc giải trí này dần dần được nâng lên thành hội bài chòi. Mỗi một hội đánh bài chòi, họ cắt cử một chòi trung tâm làm ông hiệu, cầm thẻ bài hô: “Đi đâu đi hủy đi hoài/Cử nhân không đậu tú tài cũng không” – câu hô đó ứng với con bài anh học trò, người ngồi trên chòi khác, ai có quân bài học trò thì gõ vào mõ cốc cốc, báo hiệu là tôi trúng rồi… Cứ như vậy, trong quá trình chơi, những người dân lao động đã sáng tác và phát triển ra rất nhiều câu hô, mỗi câu ứng với những con bài khác nhau.

Cùng với tình yêu văn chương, nghệ thuật, dần dần, việc thắng thua trong chơi bài không còn mang ý nghĩa vật chất, mà nó đã trở thành một trò giải trí, một sân chơi văn hóa của người dân nơi đây. Người dân chủ yếu đến để nghe người chơi hát – hô bằng những câu ca dao, tục ngữ, hoặc là tự sáng tác ra những câu hát hay, hô hay. Dần dần, để đáp ứng nhu cầu người xem, trong quá trình phát triển, những người chơi bài chòi đã đưa thêm những tích trò, những câu chuyện vào trong nghệ thuật hát bài chòi…

Theo GS Hoàng Chương, thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám (khoảng những năm 1930 – 1940), để thu hút người xem, từ một điệu hô ban đầu, những nghệ nhân hát bài chòi đã sáng tạo ra 4 làn điệu cơ bản của bài chòi là xuân nữ, cổ bản, xàng xê và hò quảng để diễn tả nhân vật. Sau này, các nghệ nhân còn mượn một vài làn điệu của hát bội sang làm phong phú thêm cho nghệ thuật này những năm 1930 -1940.

Đến năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng ta nhận thấy, người dân ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ đặc biệt yêu thích hát bài chòi, nên đã vận dụng đưa loại hình nghệ thuật vào hỗ trợ công tác tuyên truyền cho người dân. Vậy nên, trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp được coi là “thời hoàng kim” của nghệ thuật bài chòi. Khắp nơi khắp chốn, từ bộ đội, nhân dân… đâu đâu cũng hát bài chòi nên nhiều sáng tác mới, gắn với cuộc sống sinh hoạt của người dân đã ra đời.

Khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết (năm 1954), đất nước chia 2 miền, tất cả nghệ nhân bài chòi phục vụ kháng chiến được tập kết ra Bắc. Đến đầu năm 1955, bài chòi bắt đầu lên sân khấu và đến năm 1957 thì thành chuyên nghiệp khi chính thức thành lập đoàn nghệ thuật bài chòi đầu tiên ở Hà Nội. Các nghệ sỹ đã xây dựng vở bài chòi Thoại Khanh – Châu Tuấn với sự tham gia của nhiều nghệ sỹ, vở diễn này sau đó cũng đã giành được Huy chương vàng trong hội diễn văn nghệ. Vào những năm 1960, nghệ thuật bài chòi đã phát triển rất mạnh, thu hút đông đảo người xem, trở thành món ăn tinh thần hấp dẫn thu hút đông đảo người xem. Sau này, Nhà nước đã cử nhiều diễn viên và nhạc công của đoàn nghệ thuật bài chòi về Nam Trung Bộ biểu diễn phục vụ kháng chiến, đồng thời đào tạo lớp nghệ sỹ kế cận.

Theo Phương Lan (Tin tức)

http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=26&macmp=26&mabb=26615

HOÀNG NHUNG : Sức sống bài chòi


Sức sống bài chòi

“Chiếu” bài chòi của các bà, các cô ở tổ 124 phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà.  Ảnh: H.N
“Chiếu” bài chòi của các bà, các cô ở tổ 124 phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà. Ảnh: H.N

Ngày đầu năm, gặp anh Đỗ Hữu Quế, chủ nhiệm câu lạc bộ (CLB) Bài chòi Sông Yên (xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang) tại Hội Hoa xuân ở công viên 29-3, anh cười vui: “Năm nay thắng lợi lớn em ạ, có đến hàng nghìn lượt khách. Không chỉ người lớn tuổi, lớp trẻ cũng biết chơi bài chòi. Vậy là bài chòi vẫn còn đầy sức sống”. Nhớ câu ca “Rủ nhau đi đánh bài chòi/ Để con nó khóc mà lòi rốn ra…” mới thấy bài chòi hấp dẫn lắm, nam thanh nữ tú còn mê huống gì người lớn tuổi.

Khu vực bài chòi cũng được xem là nơi thu hút nhiều người xem, người chơi nhất Hội Hoa xuân. Tiếng hô, tiếng hát của người cầm trịch, tiếng cười vui của người thắng bài đôi khi như muốn át tiếng các làn điệu du dương, bay bổng. Đặc biệt là tiếng trống chầu vang lên giục giã. Sức sống của bài chòi là đây, một trò chơi truyền thống của vùng Khu 5, tồn tại hàng trăm năm, có lúc thăng, lúc trầm, nhưng nhiều năm trở lại đây đã thực sự tìm được đất sống qua các ngày hội làng, mừng xuân, mừng mùa vụ mới…

CLB Bài chòi mang tên Sông Yên của huyện Hòa Vang có 14 thành viên chính thức, ai cũng am hiểu thể lệ cuộc chơi, các làn điệu bài chòi và đặc biệt là có năng khiếu, chất giọng và tâm huyết. Nhiều năm nay, CLB ra đời đã làm được nhiệm vụ bảo tồn một loại hình văn hóa truyền thống, giúp những người yêu thích các làn điệu dân ca, bài chòi có điều kiện phát huy tiềm năng.

Mỗi ván bài chòi có 30 quân cờ với 30 tên gọi khác nhau chia thành 10 loại thẻ gỗ (3 quân cờ là một thẻ) và người chơi sẽ được chọn mua các loại thẻ đó. Sau khi “nhà cái” phát hết thẻ cho mọi người, ván cờ sẽ được bắt đầu bằng việc rút thăm que tre có ghi tên một quân cờ. Lúc này, anh “hiệu” (người hô hiệu) sẽ dẫn dắt cuộc chơi bằng những câu hát dân ca truyền thống mượt mà giai điệu quê hương, nhất là nội dung “Xuân đến Tết về” có liên quan đến tên quân cờ ghi trên chiếc thăm đó, lần lượt cho đến khi ba thẻ tre được rút liên tiếp có tên gọi trùng với các tên quân cờ ghi trên cùng một thẻ gỗ…

Khi tham gia, nếu thấy tên quân cờ của mình được nhắc đến trong câu hát, người chơi sẽ phải hô lên và trình thẻ gỗ để được phát một lá cờ vàng, tương đương với một phần thưởng nhỏ. Nếu người chơi có được chiếc thẻ gỗ ghi tên 3 quân cờ được nêu tên, người đó sẽ đoạt được phần thưởng lớn nhất của cuộc chơi và ván cờ kết thúc.

Anh Đỗ Hữu Quế cho hay, trước khi hô “hiệu”, anh phải tìm hiểu văn hóa, đặc trưng của địa phương nơi sẽ diễn hội bài chòi rồi ứng biến vào trong các câu thai nhằm tạo sự gần gũi và sinh động, thu hút được sự chú ý của bà con hơn. Người hô “hiệu” phải rành các điệu hát, điệu hò quen thuộc, phải lặn lội đi về những vùng quê để hỏi, ghi chép lại những điệu hô bài chòi cổ, rồi dựa vào đấy mà sáng tạo ra những lời hô vừa dân dã, vừa hiện đại để làm cho người chơi hội bài chòi thấy được hình ảnh quê hương thân yêu của mình lồng trong một trò chơi văn hóa đầy ý nghĩa đó.

Anh hiệu là người quản trò, làm cho cuộc chơi luôn luôn sôi động và hấp dẫn. Câu hô bằng thơ lục bát, bóng bẩy, ẩn chứa nội dung con bài một cách lắt léo để người nghe phỏng đoán là con bài gì. Mỗi con bài đều có hình vẽ khác nhau rất bình dân để vui chơi, giải trí. Người ta vẽ các hoàng tử, công chúa, thái tử, tướng… hoặc hình đồng tiền, con gà, hai người ôm nhau, hoặc những hình tròn, những nét lăng quăng, hài hước. Mỗi con bài đều có tên và có câu “hô thai” con bài đó để người chơi bài đoán ra.

Ở mỗi hội bài chòi, khi anh Hiệu quần áo chỉnh tề bước ra chắp tay cung kính xin phép hội chơi bắt đầu:

– Dạ dạ… chín chòi lẳng lặng mà nghe/Nay hiệu tôi phát bài đã đủ/Đây tôi xin thủ bài tì/Ai có lá gì phải nghe cho rõ/ Ai có lá đó, gõ mõ ba dùi/ Đừng tới đừng lui để hiệu tôi đem tới…

Anh hiệu vừa hô vừa làm điệu bộ như múa chân tay, vuốt tóc và làm cho các người chơi bài ngồi ở các chòi phải theo dõi, hồi hộp, chờ đợi đến câu chót mới biết đó là con bài gì để gõ mõ.

Anh hiệu hô: Lấy chồng từ thuở mười lăm/Chồng chê em nhỏ không nằm với em/Bây giờ mười tám đẹp xinh/Em ngủ dưới đất chồng rinh lên giường/Một rằng thương, hai rằng thương, ba bốn cũng nói rằng thương/Huớ anh ơi! Thương chi hung rứa? Có bốn cẳng giường gãy 1 còn 3. Đó là lời hát con bài Tứ cẳng

Hay lời của con bài Nhứt trò: Đi đâu mang sách đi hoài/Cử nhân chẳng đậu, tú tài cũng không?

Những người ngồi chơi niềm vui đong đầy với tâm trạng thấp thỏm, hồi hộp. Anh Hữu Quế cho biết, đối với dân sành đánh bài chòi thì chỉ cần nghe câu hò đầu tiên là có thể đoán con bài. Ví dụ: con ba bụng, ở Quảng Nam-Đà Nẵng hô: Chồng nằm chính giữa / Hai vợ hai bên / Lấy chiếu đắp lên / Gọi là ba bụng / Huơ ba bụng!. Người ta đánh bài chòi để thử thời vận hên xui dịp đầu năm, chứ không tính ăn thua đỏ đen, và trở thành một loại hình nghệ thuật dân gian. Hiện nay có nhiều nghệ nhân phát triển loại hình bài chòi ở nhiều vùng khác nhau ở Đà Nẵng như anh CLB của anh Tấn ở Hòa Minh, chị Nguyệt ở Nam Ô…

Vốn “tài sản” là các bài ca dao, câu vè, câu thơ của CLB Sông Yên giờ đã lên đến hàng trăm, được sưu tầm ở nhiều vùng quê, đặc biệt là vùng Hòa Tiến, Hòa Phong, nơi còn lưu giữ nhiều làn điệu dân ca Khu 5, nơi dòng sông Yên mượt mà chảy qua. Nhiều câu hát bài chòi có ý nghĩa như một “diễn đàn văn nghệ” có tác dụng phê phán những thói hư tật xấu, ca ngợi những nét đẹp, cái hay trong xã hội.

Đi vào nhiều khu dân cư thấy bài chòi không còn thịnh hành như ngày xưa, đến cái nôi bài chòi Đà Nẵng là Hòa Vang thấy bài chòi thưa vắng. Nhưng rất bất ngờ là tại nhiều khu dân cư ở phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, nhiều ông, bà đầu hai thứ tóc vẫn tổ chức hội bài chòi cho các bạn già, và cũng là cho chính mình. Chỉ có thể gọi là “chiếu” bài chòi, với mươi người tham gia, nhưng nói như bà Ba Hồng, ở tổ 124 phường Nại Hiên Đông là “vui đáo để”…

HOÀNG NHUNG

http://baodanang.vn/channel/6061/201402/suc-song-bai-choi-2305795/

Nhà nghiên cứu TRẦN HỒNG : BÀI CHÒI –


BÀI CHÒI – Nhà nghiên cứu TRẦN HỒNG
Ngày xưa, cứ đến Tết Nguyên đán người ta thường tổ chức các hội vui chơi nào là đua ghe, đá gà, hội vật, đấu võ, hát sắc bùa, hát bội, đánh Bài Chòi…Đánh Bài Chòi là trò diễn xướng dân gian rất thịnh hành ở Miền Trung từ những năm đầu thập kỷ 20 cho đến sau những năm kháng chiến chống Pháp, ở các vùng tự do còn tổ chức. Hát Bài Chòi, Nói Vè, Hô Lô Tô, Hát Dân ca được đưa vào các chương trình văn nghệ quần chúng để động viên, tuyên truyền các chính sách của Đảng rất đắc lực.Bài Chòi là một sản phẩm văn hóa rất độc đáo của các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và đến Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai cho đến nay. Bài Chòi vẫn tồn tại mạnh mẽ, sâu rộng trong làng xã khắp nơi trong tỉnh Bình Định.

Bài Chòi ra đời vào lúc nào, ở đâu? Đã có nhiều người sưu tầm, nghiên cứu, tìm tư liệu để xác nhận nguồn gốc Bài Chòi, nhưng đều là giả định và ước đoán, chưa có cơ sở khoa học.

Ông Phan Đình Lang, tức Bốn Trang, còn gọi là Bốn Que, sinh năm 1910, ở xã Nhơn Thành, An Nhơn, Bình Định đã nói rằng hồi còn nhỏ ông đã nghe ông nội và bà con kể là Bài Chòi do ông Đào Duy Từ (1571 – 1634) ở ngoài Bắc vào Bình Định khai khẩn đất hoang, sinh cơ lập nghiệp, xây làng lập ấp. Ông còn lập gánh hát Bội, dạy hát, múa Tuồng, vui trong các ngày lễ, ngày Tết và bày ra chơi Bài Chòi. Từ việc làm các chòi giữ hoa màu khỏi bị heo, nai, thú rừng ăn phá, khi có thú về họ gõ mõ, gõ các dụng cụ để xua đuổi, các chòi làm gần nhau để hỗ trợ, canh gác, họ căng dây nối vào 2 ống tre, có bịt da ếch, nói vào ống, người phía đầu ống ở chòi bên kia để tai vào ống nghe được, “Hát ống” có từ đó, ông Đào Duy Từ mới sáng kiến bày ra trò chơi Bài Chòi trong các ngày Tết.

Theo lời dẫn của nhạc sĩ La Nhiên (trong “Quê hương điệu hát Bài Chòi, Sài Gòn” 1974) có nhà Âm nhạc học người Pháp tên là G.L.Bouvier đã đến Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX để nghiên cứu về các thể loại âm nhạc ở nước ta, ông Bouvier cho rằng: “Bài Chòi được hình thành và phát triển sau những năm 1470 Nam tiến, người Việt ra sức khẩn hoang từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định cho tới Bình Thuận, đặc biệt đã thành công trong việc xây dựng kinh tế, văn hóa và đời sống vùng châu thổ ở Bình Định và Phú Yên rất phì nhiêu. Trong số đó, có nhiều người từ nhiều địa phương có truyền thống văn hóa lâu đời, phong phú và đa dạng, có điều kiện kết hợp nhanh chóng với nền văn hóa dân gian của địa phương, một số làn điệu dân ca, Hò, Lý, Hò chèo thuyền, Hò giã gạo, Hò đi cấy… còn giữ được bản sắc ban đầu, đồng thời phát triển, sáng tạo ra các làn điệu mới.”

Tại những vùng mới khai hoang, nhà ở tạm bợ, họ dựng các nhà chòi để canh giữ, chống thú vật, ăn phá rẫy nương, hoa màu. Các chòi cao để chống lũ lụt và khi chuyển vùng canh tác, tháo dỡ được nhanh chóng.

Khảo sát về tập quán người Việt xưa ở vùng Trung du, miền núi, hai ông P. Huard và M. Durand, các nhà nghiên cứu âm nhạc học người Pháp đã mô tả: “Thôn dân ngủ đêm trên Chòi để canh heo rừng và thú dữ ra phá hoại hoa màu. Trên một chòi cao của mỗi rẫy, họ làm liên hoàn các rẫy và có nhiều chòi quanh nhau, khi có thú rừng về, các chòi đều đánh mõ, khua phèng la và xua đuổi vang động khắp vùng để hỗ trợ cho nhau. Những đêm thanh vắng họ nghĩ ra các trò chơi, hát ống để giải trí và tâm tình với nhau từ chòi này qua chòi kia. Từ đó họ sáng tạo ra Hô Bài Chòi, “Đánh Bài Chòi” được hình thành. Qua một thời gian dài Bài Chòi đã trở thành một nhu cầu giải trí lành mạnh trong kho tàng Văn nghệ dân gian Miền Trung”. (Ca dao, dân ca Phú Yên 1994).

Cụ Phan Đình Long có truyền thuyết Hội Bài Chòi từ việc dựng Chòi cao để khua mõ đuổi thú rừng canh giữ hoa màu. Ông G.L. Bouvier, ông P. Huard, ông M. Durand là những nhà nghiên cứu âm nhạc học người Pháp, các ông này đã đến Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX để nghiên cứu về các thể loại âm nhạc ở nước ta, đã dành một chương dài có tên là La chanson Populaire de L”Anam (trong quyển La Rousse Musicale – Paris 1928) để nói về nguồn gốc Bài Chòi cho rằng: “Bài Chòi được hình thành và phát triển sau những năm Nam tiến, tức là sau năm 1470, các ông này cũng nói Bài Chòi phát xuất từ các chòi giữ thú rừng, các trò chơi giải trí trên chòi, rồi bày ra Hội Bài Chòi”. (Ca dao, dân ca Phú Yên, 1994).

“G.L.Bôviơ, một học giả, người Ba Lan gốc Pháp từng có mặt trong nhóm nghiên cứu văn hóa Phương Đông của Bồ Đào Nha, Italia đến Việt Nam từ trước đại chiến thế giới lần thứ nhất. Năm 1902, Bôviơ hoàn thành tập sách: về Hát Bài Chòi (Voici quelques pièces Hat Bai choi tireés du Phong trao Can Vuong). Mới đây trong khi tìm hiểu về nghệ thuật Hát Bài chòi, tôi tìm được một vài trang trong tập sách trên và xin giới thiệu với bạn đọc.

Hát Bài chòi, theo Bôviơ xuất hiện ở những tụ dân cư vùng rừng núi xa xôi. Tại những nơi này, từ việc xây cất nhà cửa đến việc làm ruộng, làm rẫy, săn thú… đều dựa theo kinh nghiệm lâu đời của người địa phương. Theo đó, nhà được dựng lên bằng hình thức “dã chiến”, có thể tháo – gỡ – lắp ráp dễ dàng mỗi khi cần chuyển vùng canh tác (du canh – du cư). Nhà càng gần rừng núi, gần dã thú càng cất thu hẹp lại và càng cao hơn ở phần chân trụ (dạng nhà sàn – ngày nay vẫn còn). Dựa vào phương tiện nhà ở và nhà chòi giữ rẫy sẵn có, người ta bày ra trò chơi. Giải trí là chủ yếu, nhưng để “sát phạt – hơn thua” nhau cũng thường xảy ra. Trò chơi này về sau người ta quen gọi là “đánh Bài chòi”.

Muốn trò chơi kiểu này được tập trung hơn, mỹ quan hơn… dần dần người ta chọn những nơi có nhiều nhà san sát nhau để tổ chức “đánh bài chòi” với nhau trong những dịp hội hè, tết nhất. Hình thức “đánh bài chòi” giai đoạn sơ khởi chỉ có thế. Sau đó không lâu được hoàn chỉnh dần dần, trở thành trò chơi dân gian không bao giờ thiếu vắng trong thôn xóm vào những ngày vui được mùa hoặc những lần đình đám khác…

Nếu trò chơi “đánh bài chòi” chỉ có hình thức dựng lên một số “nhà chòi” và bắt buộc người dự cuộc phải trèo lên “chòi” ngồi đợt kết quả mỗi ván bài (có khi phải chờ hàng giờ) thì không có gì gọi là hấp dẫn cả, do đó người ta đã dùng ca dao, câu vè, câu thơ thích hợp và chọn người có giọng đọc quyến rũ, đọc lên những câu đó trong những lúc cần chờ đợi kết quả ván bài. Thế rồi thói quen này vô tình tạo ra cho người đọc thơ, đọc vè… vốn có sẵn giọng ngân nga tốt từ bẩm sinh ấy trở thành chuyên nghiệp. Cứ như thế theo năm tháng, càng lâu càng biến đổi, hoàn chỉnh dần… biến thành thể điệu hò hát riêng.

Về sau, càng có nhiều ca dao, câu vè, câu thơ được lượm lặt, sưu tầm, rộng rãi hơn dành cho những dịp cạnh tranh tổ chức giữa các nhóm hò hát bài chòi với nhau. Trong sự cạnh tranh nghề nghiệp đó “hát bài chòi” có lúc đã trở thành “diễn đàn văn nghệ” có tác dụng phê phán những thói hư tật xấu, ca ngợi những nét đẹp, cái hay trong xã hội lúc bấy giờ. Họ làm được việc ấy dù ngẫu nhiên, song đối với các vị khoa bảng, những nhà yêu nước trong lớp người đi khai hoang – lập ấp… đã chú ý và triển khai để… đưa tác phẩm văn học đại chúng của mình vào “lợi thế” diễn đàn này. Cho tới giai đoạn hát bài chòi đã được rất nhiều người yêu chuộng, kể cả các nhân vật quý tộc, nó không còn đơn độc với giọng hò trước đó chỉ có phần đệm bằng “bộ gõ” đơn giản (đệm bằng cặp sanh – Sanh là 2 thanh gỗ chuốt tròn giống như 2 con găng cỡ lớn) mà còn có cả đàn nhị (đàn cò) và kèn lưỡi tre. Kèn này có lần người Pháp đã gọi đùa bằng tên một loại kèn xưa nhất của xứ Ả Rập (Cotarisiplet) (phát âm qua lưỡi gà, tương tự như chiếc Ascsê của Clarinét ngày nay). Phần nhạc đệm tất nhiên có trống tum (trống con) và xụp xòa làm nòng cốt.

Viết đến đoạn này, G.L. Bôviơ bỗng quay sang câu chuyện tương tự xảy ra trong nền dân ca Angêri. Ở đất nước nhỏ bé đó cũng có một thể loại dân ca xuất xứ từ một trò chơi kiểu như “đánh bài chòi” của Việt Nam. Nếu có khác, chỉ khác ở chỗ họ dùng những chiếc bàn con xếp vòng quanh một chiếc bàn lớn, thay vì ở Việt Nam dựng lên những chiếc chòi.

Điểm giống nhất giữa hai trò chơi của hai nước này là đều dùng “hệ chu kỳ 12 con giáp” (cycle Décimal + Cycle Doudécimal) vào trong danh sách những con bài Xuyên qua sự mô tả trên để rồi Bôviơ quả quyết cho rằng, lối chơi bài có mang tên ghép của mỗi con bài lấy từ hệ chu kỳ trên là lối chơi du nhập từ Đông Dương hay nói chính xác hơn đó là lối chơi của người dân xưa kia tại vùng phía nam Việt Nam – nơi có những cụm “nhà sàn” xinh xắn san sát nhau, tuần tự mọc lên phía bên mạn Bắc của dãy núi miền Panduranga… sau những năm đầu có phong trào Nam tiến của người Việt”[1].

Các truyền thuyết trên chưa biết thực hư ra sao? Nhưng xin trích dẫn ra đây, để nhằm giúp cho các nhà nghiên cứu tham khảo sau này.

Trong những ngày Tết Nguyên đán thường tổ chức các Hội Bài Chòi ở sân đình, những nơi có sân rộng, bãi chợ, những nơi tập hợp được nhiều người. Nơi đó người ta dựng lên chín cái chòi, có nơi mười một chòi. Chòi Trung ương ở giữa lớn hơn, chòi dựng thành hai hàng, có tên là chòi Càn, chòi Khảm, chòi Cấn, chòi Chấn xếp 1 hàng dọc, chòi Tốn, chòi Ly, chòi Khôn, chòi Đoài xếp 1 hàng dọc, theo “Bát Quái đồ”: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Còn loại dựng 11 chòi, chòi Trung ương ở giữa, xếp mỗi hàng 5 chòi hai bên, có tên là chòi Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu 1 hàng, chòi Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý 1 hàng theo “Thập can”. Cách dựng chòi như sau:

Chòi Trung ương lớn gấp đôi chòi con. Chòi Trung ương dành cho gia đình các vị chức sắc có thể ngồi được 5, 6 người. Chòi con chỉ ngồi 2, 3 người mà thôi. Nhà Hội làm ở đầu sân, rộng lớn có phản to, bàn ghế, để trà nước, quà thưởng, bánh trái, rượu… Các vị chức sắc trong làng, Tổng và Ban tổ chức hội họp, nghỉ ngơi trong nhà Hội. Xung quanh chòi Trung ương và nhà Hội có cắm cờ đuôi nheo và giăng cờ tam giác đủ màu sắc, trước nhà Hội cắm 1 cây nêu bằng 1 cây tre nhỏ, trảy hết mắt cành, chỉ để lá ở đầu ngọn, 1 lá cờ làng vuông to được treo nghiêng ở đầu cây nêu, ở mỗi chòi con có đặt một khúc chuối nhỏ để khi nào tới 1 con bài, anh Hiệu dâng lá cờ nhỏ hình tam giác cắm vào đó, khi cắm 2 cây cờ là chờ “Tới” con bài thứ 3, anh Hiệu nghe tiếng mõ giục thì đem quà thưởng và cờ tới dâng lên đủ 3 cây cờ. Chòi dựng bằng 4 cây tre, khi trảy mắt còn chừa mỗi mắt 1 đoạn để làm thang trèo lên chòi. Chòi cao bằng nhau, độ 2 mét, có giường tre, lợp 2 mái bằng rạ, hoặc tranh, ba bên che kín, phía trước để trống. Cột chòi có đục thành mõ để gõ ở 2 cột gần chỗ ngồi. Một khoảng đất rộng ở giữa có cắm 1 cây tre có ống đựng con bài, con bài dán vào thẻ tre, 1 đầu dẹp 1 đầu tròn như chiếc đũa bếp, anh Hiệu lúc lắc, rung xóc cho các con bài xáo trộn trước khi rút con bài ra. Dựng 9 chòi thì có 27 cặp bài, chia ra 2 ống. Anh Hiệu đứng chính giữa bắt đầu diễn xướng, có đờn nhị, kèn, nhịp phách đệm, gọi là “Hô thai“, hoặc “Hô bài chòi”.

Anh Hiệu là người hát hay, có tài ứng khẩu linh hoạt, có khả năng làm trò duyên dáng, hài hước, nhanh nhẹn. Anh Hiệu là người chia bài cho các chòi, mỗi chòi 3 con bài dán trên thẻ tre, xong rồi rung, xóc các bài tỳ trong ống ra và hô tên từng con bài, để các chòi nào có con bài đó thì gõ mõ, anh Hiệu liền hô: “Vâng lịnh làng lãnh lấy khay tiền. Hiệu khẩn cấp dâng cờ đệ nhất”. Anh Hiệu bưng khay tiền và cờ giao cho chòi có gõ mõ. Chòi nào trúng được 3 con là “Tới”. Hết 1 hiệp, anh Hiệu thu các con bài về, xáo trộn 1 hồi rồi đem chia cho các chòi và tiếp tục rung xóc ống bài tỳ, hô lên, cho đến khi nào có chòi trúng 3 con đã “Tới” hiệp 2, và cứ như thế các chòi chơi hết 7 hiệp là hết 1 Hội, khi nộp tiền chơi 1 hội là 9 chòi, nhưng chơi 7 hiệp, còn 2 hiệp để lại cho làng dùng mua quà thưởng cho 7 hiệp đã chơi. Xong 1 hội, ai tiếp tục chơi thì nộp tiền và cho các người mới đến nộp tiền để chơi.

Mỗi buổi chơi liên tục được 10 Hội, người chơi và người đến dự chung vui rất đông. Họ lắng nghe các con bài do anh Hiệu hô có sẵn hoặc kiến tại để khen và tán thưởng câu thai này. Hội Bài Chòi ngày Tết thu hút từ trẻ em đến các ông cụ bà cụ trong làng, các cô các cậu thanh niên, các bà lão miệng nhai trầu móm mém, tất cả ai nấy đều xúng xính trong bộ quần áo mới, đẹp nhất tụ hội xung quanh sân hội Bài Chòi. Ai cũng muốn chơi 1 Hội đầu năm, xem vận hên, may đầu năm ra sao, nên đều nô nức đến tham gia chơi Bài Chòi một cách tự nguyện và say mê. Có những gia đình liên tiếp gõ mõ, chòi được may “tới” liền mấy Hội, cờ cắm đỏ cả chòi, có những chòi chỉ được 2 con, chờ con thứ 3 mỏi cả tai mà không “tới”. Chính sự hồi hộp, chờ đợi con bài thứ 3 đó rất hấp dẫn kể cả người đang chơi và người đến tham dự.

Chơi Bài Chòi ngày Tết là thú vui Xuân, nhưng còn có ý nghĩa thử đầu năm vận mệnh có được “hên” không, để phấn khởi làm ăn trong năm tới được phát đạt hay không? Anh Hiệu là người quản trò, làm cho cuộc chơi luôn luôn sôi động và hấp dẫn. Câu hô gọi là “Hô Thai” hay “Thai Bài Chòi” – Chữ “Thai” là đố. Do đó câu hô thường là nôm na bằng thơ lục bát, bóng bẩy, ẩn chứa nội dung con bài 1 cách lắt léo để người nghe phỏng đoán là con bài gì?

Huớ mà huơ…

Chầu rày đã có trăng non

Để anh lên xuống có con em bồng.

(Con bài Bát bồng)

Mỗi con bài đều có hình vẽ khác nhau rất bình dân để vui chơi, giải trí. Người ta vẽ các hoàng tử, công chúa, thái tử, tướng… hoặc hình đồng tiền, con gà, hai người ôm nhau, hoặc những hình tròn, những nét lăng quăng, có con bài vẽ rất thô tục mang chất dân gian quê mùa mà hài hước. Mỗi con bài đều có tên và có câu “hô thai” con bài đó để người chơi bài đoán ra.

Ví dụ: – Một hai bậu nói rằng không

Dấu chân ai đứng bờ sông hai người?

(Tứ Cẳng)

Hoặc: – Lấy chồng từ thuở mười lăm

Chồng chê em nhỏ không nằm với em

Bây giờ mười tám đẹp xinh

Em ngủ dưới đất chồng rinh lên giường.

Một rằng thương, hai rằng thương, ba bốn cũng nói rằng thương

Huớ anh ơi! Thương chi hung rứa? Có bốn cẳng giường gãy 1 còn 3.

(Tứ cẳng)

– Đi đâu mang sách đi hoài

Cử nhân chẳng đậu, Tú Tài cũng không?

(Nhứt trò)

– Đầu rồng, đuôi phượng cánh tiên

Ngày năm bảy vợ, tối ngủ riêng một mình.

(Ba Gà)

– Nghèo mà làm bạn với giàu

Đứng lên ngồi xuống nó đau cái l…

(Bạch Huê)

– Vợ đôi chồng một ra gì

Mỗi người mỗi bụng ở thì sao nên.

(Ba Bụng)…

Khi các người chơi đã lên chòi, anh Hiệu đã chia bài cho 9 chòi xong, làng đánh một hồi trống chầu báo hiệu Hội Bài Chòi bắt đầu vào chơi hiệp thứ nhất, các chòi đều gõ mõ báo hiệu đã sẵn sàng. Anh Hiệu quần áo chỉnh tề bước ra chắp tay cung kính xin phép Hội chơi bắt đầu:

– Dạ dạ… chín chòi lẳng lặng mà nghe

Hoặc: Thập nhất chòi lẳng lặng mà nghe:

– Nay Hiệu tôi phát bài đã đủ

Đây tôi xin thủ bài tì

Ai có lá gì phải nghe cho rõ

Ai có lá đó, gõ mõ ba dùi

Đừng tới đừng lui để Hiệu tôi đem tới.

Anh Hiệu vừa hô vừa làm điệu bộ như múa chân tay, vuốt tóc và làm cho các người chơi bài ngồi ở các chòi phải theo dõi, hồi hộp, chờ đợi đến câu chót mới biết đó là con bài gì để gõ mõ.

– Huớ mà huơ! Một anh để em ra

Hai anh cũng để em ra

Em về em buôn em bán, trả nợ bánh tráng,

trả nợ bánh xèo. Còn thì em trả nợ thịt heo

Anh đừng cầm em nữa kẻo mang nghèo vì em!

Nghèo huớ là “Nhì Nghèo” (Con bài Nhì Nghèo)

Chòi nào có con bài Nhì Nghèo thì gõ 3 tiếng mõ, anh Hiệu cầm con bài tỳ Nhì Nghèo vội vàng đem đưa cho chòi có gõ mõ đó. Xong, anh trở lại vị trí của mình, cầm ống thẻ bài tỳ xóc 1 hồi rồi rút ra hô:

Huớ mà huơ!

Anh say chi say hủy, say hoài

Đã say quá chén còn nài uống thêm

Say sưa đôi mắt lim dim

Đường đi trơn trợt còn tìm thấy ai?

Huớ là con Ngũ Trợt! .v.v…

Điệu hô Bài Chòi ban đầu cũng rất đơn giản, dần dần anh Hiệu đã sáng tạo ra có giai điệu hay và hấp dẫn hơn, anh đã ứng tác những câu dài 4, 6 câu lục bát, rồi lên 10 hoặc 12 câu… Những câu có nội dung hấp dẫn, vui vẻ, hoặc có tính đả kích thói hư tật xấu trong xã hội, được người chơi hưởng ứng, tuy nói về những chuyện của làng xã, miễn sao đến câu cuối có chữ của con bài, hoặc nói bóng gió để người chơi đoán ra là được. Ví dụ:

1. Đi đâu mang sách đi hoài

Cử nhân chẳng có tú tài cũng không?

Huớ là con Nhứt Trò.

2. Huớ mà huơ… Lội suối trèo non

Tìm con chim nhỏ

Về treo trước ngõ

Nó gáy cúc cu

Huớ là con Chín Cu .v.v…

Bộ bài để đánh Bài Chòi chính là bộ bài “Tổ Tôm“, có nơi gọi là “Bài Tới”, hay “Bài Trùng” gồm 3 “Pho”.

Pho Văn: Các con bài có tên: Tráng Hai, Ba Bụng, Tú Tượng, Ngũ Rún, Sáu Miểng, Bảy Liễu, Tám Miểng, Chín Cu, Ông Ầm, Chín Gối.

Pho Vạn: Nhứt Trò, Nhì Bí, Tam Quăng, Tứ Móc, Ngũ Trợt, Lục Trạng, Thất Vung, Bát Bồng, Cửu Chùa, Bạch Huê…

Pho Sách: Nhứt Nọc, Nhì Nghèo, Ba Gà, Tứ Sách, Ngũ Trưa, Sáu Hột, Bảy Thưa, Tám Dây, Cửu Điều, Tứ Cẳng.

Mỗi pho có 10 lá bài. Với hệ thống dựng 9 chòi chỉ có 27 cặp. Nếu chơi với hệ thống 11 chòi phải có 33 cặp, nên người ta thêm vào 3 lá. Ông Ầm đen, Cửu Điền đen và Tứ Cẳng đen. Ba con bài này trong bộ bài đều đỏ để dễ phân biệt.

Toàn bộ bộ bài có 30 con đều màu đen. Riêng 3 con Bài thêm là Ông Ầm đen- Cửu Điều đen, Tứ Cẳng đen- Để phân biệt với 30 con đen kia, người ta in 3 con này đều màu đỏ để không nhầm lẫn.

Hội chơi Bài Chòi trong các ngày Tết, có khi còn kéo dài thêm mấy ngày nữa mới thôi. Các anh Hiệu không còn nơi làm ăn, họ phải đi hát dạo ở những nơi tụ họp đông người, không có chòi thì họ trải chiếu ở sân đình, ngõ chợ để hát, ai hảo tâm cho tiền để họ sinh sống. Họ phải hát Bài Chòi bằng các bài lục bát dài có nội dung, cốt truyện quen thuộc như Ông Xã Bà Đội, Lâm Sanh, Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, bắt đầu có các nhân vật biểu diễn các vai trong truyện, có thay đổi quần áo cho phù hợp. Từ đó thành các tiết mục sân khấu Ca kịch. Họ tập họp thành “gánh” có ba bốn anh Hiệu nhập lại đi diễn quanh làng để kiếm kế sinh nhai. Các “gánh” Bài Chòi thường là một gia đình có vợ chồng, mẹ, cha, anh chị em cùng nhau, hoặc rủ thêm vài ba người bạn bè lập thành gánh với cái trống, vài cây đàn, cặp sanh là đi biểu diễn được. Đêm đêm, trên 3, 4 chiếc chiếu to trải ở sân nhà nào đó, với vài ngọn đèn dầu phụng hoặc dầu dừa, không có phông màn, họ chỉ mặc quần áo thường ngày mà biểu diễn, chỉ dùng cái khăn bịt đầu và cái nón lá, cái thắt lưng, thế mà họ đã đi biểu diễn khắp nơi, đến đâu họ cũng được nhân dân đón rước nồng nhiệt. Giai đoạn này gọi là Bài Chòi trải chiếu.

Nội dung là các bài chòi lẻ độc tấu, hoặc nam nữ đối đáp như hai vợ chồng, hay vài ba người thay nhau kể một câu chuyện có đầu, có đuôi như chuyện Lục Vân Tiên, Phạm Công Cúc Hoa, Thoại Khanh Châu Tuấn… Họ lấy từ cốt truyện đó mà sáng tác chỉ vài ba nhân vật nào đó, để diễn mà thôi. Tùy theo lực lượng và khả năng của “gánh” mà họ sáng tác có nhiều vai hay ít vai cho phù hợp. Từ lúc chỉ diễn trên tấm chiếu, hoặc dưới đất, lúc này họ đã diễn có cốt chuyện như một vở Ca kịch thật sự, khiến cho người xem càng ngày càng đông, không thể nào giữ được trật tự của buổi biểu diễn, nên họ phải mượn 3, 4 bộ phản rồi kê con ngựa và lót ván lên cao, như một sân khấu trống 4 mặt, để người xem khỏi chen lấn. Giai đoạn này gọi là “Bài Chòi từ đất lên giàn” (Sân Khấu).

Khi đã có sân khấu rồi, các “gánh” phải lo các khâu của đêm diễn, sao cho nó “bề thế” hơn khi còn diễn trải chiếu, thế là về nội dung phải có “vở kịch”, họ ngồi lại với nhau và bàn bạc, kẻ thêm, người bớt về cốt chuyện, về câu hát, về nhân vật, sao cho ăn ý, rồi “liệu cơm gắp mắm”, nhắm anh chị nào có giọng hát hay, có mặt mũi sáng sủa, có điệu bộ dễ nhìn mà sắp xếp vai để cùng nhau tập luyện. Các cô gái thì có kiềng vàng, bông tai, thêm cái xây thêu tua quanh cổ. Thắt lưng xanh, vàng, đầu bịt khăn, hay vắt vai tùy từng nhân vật mà ăn mặc cho phù hợp. Con trai thì khăn đóng, áo the, quần trắng, có thắt lưng điều, hay hoa lý, chân đi guốc hay giày hạ, tùy vai mà sắm sửa cho đúng. Về nhạc thì cái trống, cây đàn nhị, cặp song loan, thêm sáo, phèng la, có gánh còn có kèn nữa. Về ánh sáng thì dùng cái nắp vung đất đặt ngữa lên, đổ dầu phụng và 9, 10 cái bất thắp lên. Trước sân khấu và 2 bên có chừng 3, 4 cái đèn cũng đủ sáng, để xem mặt diễn viên. Đồng bào nghe rao bảng, từ trẻ con, đến trai, gái, ông bà già, ăn cơm tối xong, họ kéo nhau đến sân khấu Bài Chòi để xem; với giá vé 2 xu cho trẻ em, 3 xu cho người lớn. Có người hứng chí còn ném tiền thưởng lên sân khấu cho anh, chị nào sắm vai hát hay diễn giỏi, tiếng đàn, tiếng ca Bài Chòi vang lên trong đêm, mọi người say sưa thưởng thức tài nghệ của các vai diễn.

“Ở Bình Định vào những năm 1930, 1935 đến năm 1937, xuất hiện nhiều “gánh Bài Chòi” như gánh Ông Sáu Cóc, gánh vợ chồng Ông Trang, gánh vợ chồng anh Sinh ở An Thái, gánh vợ chồng chị Lợi ở Phước Nghĩa, gánh vợ chồng anh Dần ở Bồng Sơn, gánh vợ chồng anh Miệt lấy tên là “Long Vân“, gánh anh Phạm Đình Chi lấy tên là “Ý Chung”, gánh cụ Lang, cụ Hượt lấy tên là “Ý Đồng” rồi “Đồng Hòa”… Các nghệ nhân Hát Bài Chòi nổi tiếng ở Bình Định các năm ấy có ông Năm Oanh ở An Lương (Phù Mỹ), Thầy Ma Mại (Thầy Thủy), ông Chín Oanh ở Kiến Hàn (An Nhơn), ông xã Sáu Sơn ở Nhạn Tháp (An Nhơn), ông Trương Ân ở An Thái (An Nhơn), hiện nay còn một số nghệ nhân tham gia Câu lạc bộ Bài Chòi cổ của anh Phan Ngạn như nghệ nhân Lê Thị Đào (Minh Trung), nghệ nhân Trần Thị Xuân Mai, bà Nguyễn Thị Đức, bà Cao Thị Bĩnh (Hồng Lợi), các cụ đã ngoài 70 tuổi nhưng tiếng hát vẫn còn hay và thường xuyên đi biểu diễn khắp làng xã trong tỉnh”. (Hoàng Lê)

Các gánh Bài Chòi hoạt động mạnh nhất cho đến ngày Cách Mạng Tháng Tám 1945. Trong những năm trước Cách mạng Tháng Tám, các gánh Hát Bội, Cải lương biểu diễn rất mạnh khắp mọi nơi. Các gánh Bài Chòi sinh sau đẻ muộn, nên phải tìm mọi cách để cạnh tranh, để kiếm sống và tồn tại bộ môn này. Các diễn viên Hát Bội, Cải lương và nhạc công của hai ngành này cũng tham gia biểu diễn Bài Chòi, do đó họ đưa một vài câu ca Cải lương, câu hát Tẩu, Hát Nam của Tuồng vào, khiến cho Bài Chòi có sự giao lưu và ảnh hưởng rất lớn trong Quan Công phục Huê Dung, có mở đầu bằng nói lối Tuồng và chen vào giữa bằng câu hát Nam, hát Khách. Nhạc còn chơi đệm các bản Kim Tiền, Ngũ Điểm, Khổng Minh tọa lầu, thêm một sắp Tây Thi, một lớp Xàng xê của Vọng cổ vào để câu khách. Sự vay mượn, giao lưu để câu khách có tính tự phát và tùy tiện, thiếu tính nghệ thuật đó, đã bị thời gian chọn lọc và loại bỏ. Cũng nhờ đó Bài Chòi mới có thêm điệu Hò Quảng, Điệu Cổ bản ảnh hưởng điệu Nam Xuân của Tuồng. Điệu Hò Quảng đã ảnh hưởng các bài bản Quảng của Cải lương rất đậm nét, nhưng đã bị “Bài Chòi hóa” bằng lời thơ lục bát nên khi hô lên ai cũng nói đó là Bài Chòi.

Sau Cách Mạng Tháng Tám, Bài Chòi phát triển mạnh để phục vụ nhân dân khắp các tỉnh từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa… Các Đoàn Văn Công, các Đội Văn nghệ quần chúng trong chương trình biểu diễn đều có Hô Bài Chòi, Ca kịch Bài Chòi 1 màn, chen kẽ với Múa, Ca, nói thời sự, tuyên truyền giáo dục nhân dân với các nội dung “Học bình dân học vụ, đóng thuế nông nghiệp, đi Tòng quân, công tác địch vận, tăng gia sản xuất, đánh giặc giữ làng…, ca ngợi người tốt, đả kích thói hư tật xấu. Các đơn vị nghệ thuật đã hoạt động suốt trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở Liên Khu Năm, từ Thanh Thiếu niên, dân quân du kích, các mẹ chị, trong cơ quan, trường học, quân đội, anh chị em cán bộ làm công tác Văn hóa Văn nghệ, Tuyên truyền xung phong đều đã nghe có người còn thuộc các Bài Chòi: ca ngợi anh Bế Văn Đàn, chị Nguyễn Thị Chiên, anh Cù Chính Lan, em Đằng Anh Dũng, các vở Ca kịch Bài Chòi như: Giải phóng Kon Tum, giải phóng Man – Đen, Hạ đồn Tú Thủy, Tây cướp thịt heo, Bắn máy bay bà già, Thư em gái gởi anh bộ đội… Bài Chòi đã hoàn thành nhiệm vụ văn nghệ phục vụ chính trị, có công trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Liên Khu Năm một cách tự hào.

Sau ngày Hòa bình được lập lại, Đoàn Văn công Liên Khu Năm tập kết ra Bắc, đã được Trung ương Đảng, Bộ Văn hóa thành lập Đoàn Ca kịch Liên Khu Năm từ năm 1956 là thành viên đứng trong đại gia đình Sân khấu Việt Nam.

Ở Miền Nam, với truyền thống lấy Văn nghệ Dân gian, các điệu Hò, Vè, Bài Chòi, Dân ca để sáng tác tiết mục Văn nghệ phục vụ nhân dân và bộ đội đánh Mỹ – Ngụy cũng rất có hiệu quả, được Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng Trung Trung Bộ, Ban Tuyên huấn khu và các Tỉnh đã thành lập các Đoàn Văn Công giải phóng phục vụ ở chiến trường. Các Đoàn Văn Công giải phóng các Tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đều có Đoàn Kịch dân ca Bài Chòi hoạt động suốt mấy chục năm chống Mỹ – Ngụy và khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam thống nhất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các ngành Văn hóa nghệ thuật, Các Đoàn văn công được phát huy và bảo tồn vốn văn nghệ dân gian, đậm đà bản sắc dân tộc có khoa học hiện đại và tiến bộ không ngừng…

Chúng ta những người làm công tác nghệ thuật là các tác giả kịch bản, âm nhạc, đạo diễn, họa sĩ, biên đạo, nghiên cứu lý luận, các diễn viên, những người có trách nhiệm với nhiệt tình và am hiểu nghệ thuật “Ca kịch Bài Chòi” sẽ góp phần xây dựng sân khấu này càng phát triển và đơm hoa kết trái hơn nữa, xứng đáng với sự có mặt của một loại hình nghệ thuật mới trên Sân khấu Việt Nam.

(Trích từ tập sách “Âm nhạc kịch dân ca”-NXB Sân khấu 2003)

T.H


[1]Tạp chí Sân khấu Xuân Kỷ Tỵ – 1998 – Nguyễn Xuân Đà.

http://vannghedanang.org.vn/nonnuoc/chitiet.php?id=53&so=39

TÚC HẠNH : Trò chơi bài chòi hay tiếng gọi của làng quê


Thứ hai, 19 Tháng một 2004, 11:22 GMT+

Trò chơi bài chòi hay tiếng gọi của làng quê

Bài chòi là một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống đặc sắc của miền Trung nói chung, Quảng Nam nói riêng. Vào mỗi dịp lễ Tết, ở vùng nông thôn rất phổ biến trò chơi này. Ban đầu, trò chơi chỉ mang tính chất gia đình, về sau, cứ mỗi độ xuân về, người ta dựng những chòi cao trên bãi đất trống thu hút khách thập phương đến tham gia…

Tro choi bai choi hay tieng goi cua lang que
Hội quê.

Ngày Tết, người đi xa vừa về đến đầu thôn đã nghe tiếng hô bài chòi giục giã. Những chòi lợp mái rạ ngày mùa còn thơm hương nếp, những cây cờ con ngũ sắc trên bàn cái rồi tiếng hô, tiếng mõ vang dậy một góc làng như thúc giục các cụ, các bà, các em nhỏ đến xin những con bài thử vận đầu năm.

Có thể nói đã là người miền Trung thì đều biết chơi bài chòi. Hát bài chòi từ lâu đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân nông thôn miền Trung. Người ta sáng tác những câu hò, làn điệu dân ca… trong quá trình chơi. Văn chương bài chòi là văn chương bình dân, nhưng nghe kỹ vẫn thấy chất thơ lai láng. Bộ bài chơi gồm 30 con bài in mộc bản theo lối thủ công, được dán trên những thanh tre vót mỏng. Người quản trò được gọi là “ông hô hiệu”, là người có kiến thức văn chương, có tài ứng đối dí dỏm, có thể độc diễn với tiếng trống, tiếng đàn cò, tiếng phèng la… Khi con bài được rút ra, ông hiệu bắt đầu chạy lăng xăng, miệng không ngớt xướng to những câu thơ, câu vè ghép với tên những con bài ngộ nghĩnh, khiến người lớn lẫn đám trẻ con cười ngặt nghẽo. Tuỳ theo mỗi địa phương mà tên gọi các con bài khác nhau từ nhất trò, nhì nghèo, ba bụng, tứ giống, tám tiền, chín xe… cho đến sưa, dóng, xơ, quăng, ầm, voi, rún…

Tro choi bai choi hay tieng goi cua lang que
Chuẩn bị chòi chơi bài.

Người chơi có thể mua một hoặc nhiều thẻ cho mỗi lần chơi. Ông hô hiệu xáo thẻ trong ống lon rồi rút một thẻ bất kỳ. Mỗi đợt chơi đều có người trúng. Người chơi khi nghe hô trúng con bài của mình thì đáp to, lập tức sẽ được trao một chiếc cờ nhỏ màu đỏ. Sau đó, cuộc chơi tiếp tục cho đến khi có người trúng đủ ba con bài trong cùng một thẻ. Giải thưởng được trao bằng tiền mặt, chỉ độ vài ba chục nghìn đồng nhưng niềm vui thì thật lớn; mà người không trúng cũng vui!

Tro choi bai choi hay tieng goi cua lang que
Già trẻ đều náo nức vào cuộc chơi.

Người chơi sành bài chòi chỉ cần nghe câu hô đầu tiên là có thể đoán ra con bài, ví như: “Chồng nằm chính giữa – hai vợ hai bên – lấy chiếu đắp lên – gọi là ba bụng – ơ con ba bụng!”, “Đi đâu mang sách đi hoài – Cử nhân không đậu, Tú tài cũng không – con nhất trò nó vừa ra xong” hay như “Hai bên chòi lẳng lặng mà nghe – róc rách ống tre con gì nó ra đây? – anh trai Kim Bồng đi bán chiếu tre – gặp em gái nhỏ bên sông Thu Bồn – thương ai lòng thấy bồn chồn – đêm nằm thao thức chiếu bông anh gối đầu – con chín gối nó ra rồi”…

Đánh bài chòi là một trò chơi giải trí mang tính văn chương bình dân. Cái thú của bài chòi không nằm ở ăn thua đỏ đen mà chủ yếu là vui đầu năm cùng bà con làng xã. Điệu hát bài chòi khẳng khái, rắn rỏi cũng vì thế trở thành máu thịt trong lòng người miền Trung xa xứ, gợi nhớ đến nao lòng…
  • Túc Hạnh
Việt Báo (Theo_VietNamNet)

Bài chòi – nghệ thuật hồn nhiên


Cập nhật ngày : 10-07-2014
Nghệ thuật dân gian nào mà chả hồn nhiên, vì nó đều được thể hiện và đồng sáng tạo bởi những nghệ nhân dân gian, những người nông dân hồn nhiên từ bản chất, ngày xưa chỉ quen ở bên trong lũy tre làng. Nhưng có lẽ trong nhiều loại hình nghệ thuật dân gian, thì bài chòi và hô bài chòi là nghệ thuật hồn nhiên bậc nhất. Vì sao như vậy ?

Bài chòi và hô bài chòi là một trò chơi, một trò chơi văn nghệ nhằm giúp gây hưng phấn, vui thú, giải tỏa cho cả người trực tiếp chơi lẫn người xem. Một trò chơi, thì trước hết nó phải mang những đặc tính của trò chơi, nghĩa là phải thật sự hồn nhiên, hài hước và vô vị lợi. Trò chơi bài chòi được tổ chức vào những ngày đầu Xuân nên lại càng phơi phới những tươi vui. Đó là trò chơi có thưởng, có dùng những quân bài, nhưng không phải là trò đánh bạc. Không có chuyện sát phạt, ăn thua nhau về tiền hay vật dụng thưởng quy ra tiền, mà ở đây, chơi là chính, vui là chính, thưởng thức nghệ thuật là chính, thông qua những điệu hô chòi trầm bổng, nhịp nhàng, du dương mà người lĩnh xướng có tên là anh hiệu thể hiện. Anh hiệu – nghệ sĩ ẩn danh – chính là nhân vật trung tâm của bài chòi. Đó là một nghệ sĩ dân gian diễn xướng những bài bản có sẵn lẫn những sáng tạo tức thời mang tính ngẫu hứng, những bài thơ ứng tác đậm dấu ấn cá nhân. Có thể nói, anh hiệu chính là một nhà thơ dân gian, một người ngày xưa ít nhiều có học trong làng, dù dở dang. Và nhất là có năng khiếu đặt vè, hát thơ, sáng tác và nhất là ứng tác rất linh hoạt những bài vè hay thơ lục bát, lục bát biến thể một cách trực tiếp, hài hước, tươi vui, nhuần nhị. Có thể ngày xưa mỗi tổng hay mỗi làng đều có những anh hiệu như thế, họ vừa là nghệ sĩ bình dân vừa là tinh hoa văn nghệ của làng. Tôi nghĩ, có thể họ cũng được miễn những công việc tạp dịch trong làng, nhất là những khi làng có việc. Vì việc lớn nhất của họ mỗi độ Xuân về là làm anh hiệu, là hô bài chòi, phục vụ dân làng và bá tánh. Thế cũng là đủ. Sự hồn nhiên của nghệ thuật bài chòi bắt đầu từ anh hiệu, còn sự hồn nhiên dí dỏm thông minh của anh hiệu lại bắt đầu từ nhân dân. Thế còn nghệ thuật bài chòi ở miền Trung Việt Nam, nó khởi lên từ hồi nào?

Nhà âm nhạc học người Pháp tên là G.L.Bouvier đã đến Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX để nghiên cứu về các thể loại âm nhạc ở nước ta, ông Bouvier cho rằng: “Bài Chòi được hình thành và phát triển sau những năm 1470 Nam tiến, người Việt ra sức khẩn hoang từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định cho tới Bình Thuận, đặc biệt đã thành công trong việc xây dựng kinh tế, văn hóa và đời sống vùng châu thổ ở Bình Định và Phú Yên rất phì nhiêu. Trong số đó, có nhiều người từ nhiều địa phương có truyền thống văn hóa lâu đời, phong phú và đa dạng, có điều kiện kết hợp nhanh chóng với nền văn hóa dân gian của địa phương, một số làn điệu dân ca, Hò, Lý, Hò chèo thuyền, Hò giã gạo, Hò đi cấy… còn giữ được bản sắc ban đầu, đồng thời phát triển, sáng tạo ra các làn điệu mới.” (Theo lời dẫn của nhạc sĩ La Nhiên trong “Quê hương điệu hát Bài Chòi, Sài Gòn” 1974. Dẫn lại theo nhà nghiên cứu Trần Hồng).

Như thế, nghệ thuật bài chòi có lẽ thịnh nhất ngay từ thời Trấn quốc công Bùi Tá Hán (nửa đầu thế kỷ XVI) lãnh đạo người Việt cùng người bản địa khai phá và canh tân miền Trung. Nó có thể theo chân những binh lính và lưu dân người Việt vào lập nghiệp ở miền này, nhưng đối tượng phục vụ của nó gồm cả người dân Việt và người dân Chàm. Đây có thể coi là một hình thức nghệ thuật diễn xướng đậm chất Việt, nhưng được thử thách và tồn tại ở ngay mảnh đất mà ban đầu, nghệ thuật của người Chàm giữ vị trí quan trọng. Lý do để nghệ thuật bài chòi có được chỗ đứng vững vàng trong sinh hoạt cộng đồng Việt – Chàm nằm ở ngay tính hồn nhiên và dân chủ của nó. Sức lan tỏa và thuyết phục của nó ở chỗ nó không phân biệt, nó bình đẳng với mọi người chơi và mọi người nghe. Tuồng hát bội ban đầu chỉ biểu diễn ở cung đình hay ở các nhà quan lớn, dành cho những đối tượng người xem chọn lọc. Về sau mới hướng về phục vụ cả dân chúng. Còn bài chòi, ngay từ đầu đối tượng phục vụ của nó đã là lính, là dân, là bất cứ ai ham thích trò chơi này, không phân biệt. Với cư dân nông nghiệp Việt Nam, mùa xuân là mùa lễ hội, mùa của sự thăng hoa và tinh thần dân chủ. Đó cũng là mùa của bài chòi. Ta thử nghe một đoạn bài chòi xem nhé:

“Chỗ này là chỗ vui chơi
Có trống nẫu nhịp, có cây kèn nẫu thổi ò í e…
Có rượu rồi lại có chè
Cô cứ gác chân tréo ngoảy ngồi nghe hô bài (…)
Tôi bưng khay rượu nạm vàng
Chúc mừng năm mới an khang xóm làng…”

Cô gái “gác chân tréo ngoảy”, cái động tác ấy mới hồn nhiên và dân chủ làm sao! Và cũng dễ thương biết chừng nào! Ngay tên những con bài cũng đã nói lên tính bình dân và dân chủ rất rõ. Như câu hô thai (hô đố) Nhứt Nọc này:

 “Tay cầm sào chống lái

Mắt liếc bãi lều tranh

Ở đây đưa rước bộ hành

Thuyền nan một chiếc tử sanh trọn bề

Trải qua bãi bạc gành nghê

Tứ mùa chèo chống đôi bề sóng xao

Thú vui ngang dọc một sào

Ngồi trong tịnh viện kẻ gào người kêu

Tiếng ai văng vẳng kêu đò

Mau mau nhổ nọc chèo qua rước người.”

Người nghe tinh ý biết ngay câu thai (đố) ấy ứng với con bài Nhứt Nọc. Đúng là đố vui có thưởng! Nhưng trên đường giải đố, người nghe đã được hưởng trọn vẹn một đoạn hô chòi rất hay, nó là tâm sự của một anh chèo đò, mà cũng là những câu thơ sinh động vẽ nên cảnh sông nước ngày xưa.

Nghệ thuật bài chòi trên đường hoàn thiện mình đã thu hút vào nó những làn điệu dân ca, những điệu lý có nguồn gốc từ âm nhạc Chàm. Nhưng tiêu chí để thu hút của nó vẫn là sự hồn nhiên. Trong bài chòi, cho đến nay còn giữ một số làn điệu dân ca có bản sắc ban đầu, như các điệu lý, điệu hò: lý con sáo, lý ngựa ô, lý quét nhà, hò chèo thuyền, hò cấy lúa, hò giã gạo…Toàn là những điệu lý, điệu hò mộc mạc đúng như tên gọi của chúng.

Cùng với sự hồn nhiên, điểm thu hút đặc biệt của bài chòi là tính hài hước. Cái này là “độc quyền” của các anh hiệu. Những anh hiệu nào càng có những câu hô thai hài hước, thậm chí có những câu thơ ứng tác chọc cười có duyên nhất là những anh hiệu “ăn khách” nhất, được bà con hưởng ứng nhiều nhất, ủng hộ nhiều nhất. Và những câu hô thai ấy, dù không được ghi ra giấy, vẫn lưu lại lâu bền trong trí nhớ của những người dân chơi hay nghe bài chòi. Ở đây có thể coi bài chòi là một dòng văn học dân gian truyền miệng, một kiểu “trình diễn thơ” độc đáo mà bây giờ khó có nhà thơ “mô-đéc” nào theo kịp trong khả năng thu hút công chúng.

Hồn nhiên và hài hước, đó không chỉ là bí quyết trường thọ của bài chòi, mà còn là bí quyết trường thọ của văn học, của thơ ca. Sự tương tác với công chúng ở bài chòi đã đạt tới đỉnh cao và nó tạo ra một từ trường đồng sáng tạo mà văn học nghệ thuật hiện đại luôn ao ước.

Mãi mãi, bài chòi thuộc về nhân dân.

http://demo.lhqtvct.binhdinh.gov.vn/newsdetail.php?lang=vi&newsid=530&id=170

BTC      

XUÂN VŨ : “NGHỆ THUẬT BÀI CHÒI DÂN GIAN MIỀN TRUNG VIỆT NAM, HIỆN TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN”


“NGHỆ THUẬT BÀI CHÒI DÂN GIAN MIỀN TRUNG VIỆT NAM, HIỆN TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN”

(PhuongNam.Net.Vn) – “Nghệ thuật Bài chòi dân gian miền Trung Việt Nam, hiện trạng và vấn đề bảo tồn” là nội dung hội thảo khoa học do Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Định tổ chức ngày 27/9, tại thành phố Quy Nhơn (Bình Định).
Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL Đặng Thị Bích Liên trao chứng nhận nghệ thuật bài chòi tỉnh Bình Định được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cho Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định Mai Thanh Thắng

Tham dự và chủ trì hội thảo có bà Đặng Thị Bích Liên, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; ông Mai Thanh Thắng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định; GS.TS. Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và ông Lê Văn Toàn, Giám đốc Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam cùng nhiều nhà quản lý văn hóa, các nhà khoa học và nghệ nhân Bài chòi trên cả nước.Hội thảo nằm trong khuôn khổ các hoạt động chuẩn bị cho việc xây dựng Hồ sơ quốc gia “Nghệ thuật Bài chòi miền Trung Việt Nam” đề nghị UNESCO đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Phạm vi thực hiện hồ sơ quốc gia Bài chòi gồm 11 tỉnh, thành phố miền Trung gồm: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận.

 
Nghệ thuật Bài chòi là một sản phẩm văn hóa độc đáo của vùng đất miền Trung. Trải qua nhiều sự thay đổi của lịch sử, xã hội đến nay nghệ thuật Bài chòi vẫn là một trong những loại hình dân gian độc đáo không thể thiếu trong các lễ hội của người dân miền Trung. Bên cạnh những giá trị về văn hóa, nghệ thuật, hát Bài chòi còn mang đậm tính nhân văn, tính giáo dục về tình yêu quê hương, đất nước, yêu con người…Mặc dù khá phổ biến như vậy, song nghệ thuật Bài chòi cũng có những giai đoạn từng bị lãng quên, mai một. May mắn là vẫn còn những người dân, những nghệ nhân yêu thích và âm thầm giữ gìn nghệ thuật truyền thống để đến nay nghệ thuật Bài chòi mới có cơ hội phát triển trở lại.
 

Quang cảnh Hội thảo kho học về nghệ thuật Bài Chòi

 
Gần 20 tham luận trình bày tại Hội thảo cho thấy thực trạng bảo tồn nghệ thuật bài chòi dân gian ở các tỉnh, thành phố Bình Định, Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Trị… còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết. Các tham luận cũng đưa ra nhiều ý kiến phân tích, đánh giá những điểm độc đáo, cùng những bước phát triển của nghệ thuật bài chòi dân gian Nam Trung Bộ; khẳng định đóng góp tích cực của nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định. Hội thảo cũng nhận được nhiều ý kiến đóng góp thiết thực cho các địa phương, đơn vị liên quan đến việc chuẩn bị xây dựng hồ sơ quốc gia “Nghệ thuật bài chòi miền Trung Việt Nam” đề cử UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
 
Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL Đặng Thị Bích Liên chỉ đạo: Viện Âm nhạc tổng hợp các ý kiến từ Hội thảo, ghi nhận thêm những nghiên cứu của các chuyên gia để có những đề xuất, kiến nghị cụ thể đối với các bộ, ngành liên quan nhằm phục vụ hiệu quả cho việc xây dựng hồ sơ. Với các tỉnh, thành phố có di sản nghệ thuật bài chòi dân gian, cần tích cực triển khai thực hiện công tác kiểm kê để đánh giá hiện trạng di sản; từ đó, đề xuất kế hoạch bảo tồn và phát huy nghệ thuật bài chòi dân gian gắn với truyền thống văn hóa, lịch sử của địa phương. Việc xây dựng hồ sơ phải hoàn thành và nộp lên Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vào cuối tháng 12.2014, để trình các hội đồng thẩm định…
 
Tại hội thảo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã trao chứng nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cho di sản nghệ thuật bài chòi Bình Định.
 
 
Không khí hát Bài Chòi Bình Định
Viện trưởng Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Bình Định cho biết, hội thảo lần này tập trung thảo luận sâu về các vấn đề: Lịch sử, văn hóa, nghệ thuật của Bài chòi dân gian; âm nhạc trong nghệ thuật Bài chòi dân gian; hiện trạng của di sản Bài chòi ở các địa phương; chương trình hành động bảo vệ và phát huy giá trị của di sản Bài chòi.
 
Theo ông Nguyễn Văn Dũng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Định, trên địa bàn tỉnh hiện nay có 28 nhóm, 22 hội đánh Bài chòi dân gian được UBND cấp xã bảo trợ, quản lý, trên 150 nghệ nhân đang hoạt động về các lĩnh vực Bài chòi dân gian. Ngoài ra, còn có đoàn ca kịch Bài chòi Bình Định trực thuộc sở, với nhiệm vụ giữ gìn và phát huy vốn tinh túy của sân khấu Bài chòi Bình Định nói riêng.
 
Bên cạnh đó, những năm gần đây, tỉnh Bình Định cũng đã chủ động đưa nghệ thuật Bài chòi vào các lễ hội truyền thống của tỉnh nhằm quảng bá và giới thiệu nghệ thuật độc đáo của miền Trung đến với đông đảo người dân trong và ngoài nước.
 
Tổng kết hội thảo, GS.TS. Tô Ngọc Thanh đề nghị cần tiếp tục lưu tâm, nghiên cứu, phân tích một các khoa học trên nhiều khía cạnh về nguồn gốc, tên gọi, đặc trưng, sự lan tỏa… của nghệ thuật bài chòi để phục vụ xây dựng hồ sơ
 
Xuân Vũ