Tag Archives: bài chòi

NGUYỄN THỊ MINH CHÂU : RỦ NHAU ĐẾN VỚI BÀI CHÒI


Rủ nhau đến với Bài chòi

Nguyễn Thị Minh Châu

Rủ nhau đi đánh Bài chòi
Để cho con khóc đến lòi rún ra.

Đánh Bài chòi có gì vui mà người chơi say đến thế?
Chơi Bài chòi có gì thích khiến người xem ham đến vậy?
Xem Bài chòi có gì hay mà người xưa nắc nỏm đến cả trong câu ca dao?
Sức hấp dẫn ấy do đâu mà có và nay có còn lôi cuốn đến thế không?

Câu ca dao “Rủ nhau đi đánh Bài chòi” được nhắc tới trong bốn – năm tham luận không chỉ của tác giả Việt Nam mà cả ngoại quốc nữa. Và đây, họ đã “rủ nhau” đến thành phố biển Quy Nhơn trong những ngày đầy nắng gió đầu năm 2015 để tìm kiếm câu trả lời cho sức sống của thể loại diễn xướng dân gian này.

“Họ” ở đây là nhiều thành phần khác nhau: giới nghiên cứu âm nhạc cổ truyền trong nước và nước ngoài, các nhà sưu tầm đã nhiều năm lăn lộn với nghệ thuật dân dã này, những nghệ nhân “con nhà nòi” hát Bài chòi gia truyền đến mấy đời… Trong số đó cũng có người từng là nhạc công đoàn ca kịch Bài chòi, là tác giả những vở “Bài chòi mới” trên sân khấu chuyên nghiệp (mà dân trong nghề đã gán cho cái tên “Bài chòi quốc doanh”). Ngoài ra không thể thiếu vắng các nhà quản lý văn hóa nghệ thuật trung ương và các địa phương sở hữu Bài chòi, cũng như giới truyền thông với tinh thần quảng bá một sự kiện quốc gia mang ý nghĩa quốc tế.

Tìm hiểu sức hấp dẫn của Bài chòi, trước hết phải trở về với nguồn gốc của nó.

Ở đây cũng giống như ở nhiều thể loại nhạc dân gian khác, có những câu chuyện mà ta chỉ nghe kể lại từ đời trước sang đời sau mang đậm tính truyền thuyết hư cấu, chứ không được lưu bằng giấy trắng mực đen trong sử sách. Những tài liệu về Bài chòi xuất bản sớm nhất là vào đầu thế kỷ XX và của người Pháp, rồi được trích dẫn lại trong nhiều bài viết sau này của người Việt. Có điều là các chú thích nguồn không hoàn toàn thống nhất, ngay trong các văn bản Hội thảo này có chỗ chú dẫn Bài chòi được miêu tả trong một chương có tiêu đề Bài hát phổ thông của người An Nam (La chanson populaire de L’Annam) của tác giả Pháp gốc Ba Lan G.L.Bouvier trong cuốn La Rousse Musicale (Paris, 1928) 2; còn những chỗ khác lại được hiểu Bài chòi có mặt trong hai cuốn sách khác nhau: Hát Bài chòi (Voici quelques pièces Hat Bai Choi tirées du Phong trao Can Vương) của G.L.Bouvier (1902) và La Rousse Musicale với phần miêu tả của hai nhà nghiên cứu Pháp P.Huard và M.Durand (Paris, 1928) 3. Sự thiếu nhất quán dù nhỏ nhặt thôi cũng đưa ra một lời nhắc nhở những ai dẫn lại mấy thông tin đó cần kịp thời rà soát lại nguồn cho chuẩn xác.

Dựa vào các cứ liệu văn bản của Pháp nói trên , đa số tham luận khẳng định Bài chòi được hình thành và phát triển sau năm 1470 trong hành trình di dân mở cõi về phía Nam. Từ đây có một cái mốc: Bài chòi Bình Định ra đời vào giữa thế kỷ XV, cách đây chừng trên 5 thế kỳ. Còn Bài chòi Quảng Nam – Đà Nẵng, theo trí nhớ của các cụ nghệ nhân, xuất hiện gần 200 năm trước.

Cũng lại được biết sự hình thành và phát triển Bài chòi luôn gắn với tên tuổi danh nhân Đào Duy Từ (1571-1634), một quan viên gốc Thanh Hóa rời nhà Lê theo chúa Nguyễn vào Nam dựng nghiệp ở Bình Định. Tương truyền, ông là người đầu tiên nghĩ ra cách chơi Bài chòi. Ông cũng được coi là người đặt nền móng cho hát Bội. Có giả thiết cho rằng Bài chòi là người em sinh sau đẻ muộn của hát Bội và từ đây lại suy ra Bài chòi xuất hiện khoảng cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII chứ không thể sớm hơn.

Chốt lại, Bài chòi khởi nguồn lúc nào? Từ một vài giả thuyết khác nhau chưa thể đi đến một câu trả lời thống nhất và xác thực. Ngay cả “thuyết tương truyền” được nhiều người dẫn giải là ông tổ Đào Duy Từ dạy cho dân chơi Bài chòi cũng “chỉ là phỏng đoán, thiếu chứng cứ thuyết phục” 4. Vậy nên rất đúng mực và xác đáng nếu ghi nhận ý kiến đề xuất cho tổng kết Hội thảo này là: giữ nguyên “câu hỏi treo” về thời điểm ra đời của Bài chòi 5.

Nếu như dữ liệu thời gian “có từ bao giờ” chưa được xác minh rõ ràng và cụ thể, thì vấn đề không gian địa lý “khởi nguồn từ đâu” được xem xét qua những chi tiết cụ thể hơn. Ngay từ cái nghĩa nôm na của tên gọi đã có gì đó dễ liên hệ tới không gian khởi nguồn.

“Chòi” là nơi trông coi đồng ruộng, nương rẫy và tạm nghỉ sau ngày làm lụng vất vả. Để giải khuây, những người canh chòi bày ra trò “hát ống” (căng dây nối hai ống tre bịt một đầu bằng da ếch tựa như cái loa) để trò chuyện tâm tình giữa các chòi, hoặc tụ tập trong vài chòi cùng đối đáp hát xướng qua các câu ca dao, cùng tức hứng đặt hò, thả thơ, làm vè, đố vui… Do vậy mà Bài chòi được coi là sản phẩm “sinh ra trong quá trình lao động sản xuất và phát triển thông qua các loại hình âm nhạc trong dân gian của người dân”6 .

Còn từ “bài” hẳn có sự liên quan tới chơi bài, đánh bài, ván bài, bộ bài, con bài, quân bài, lá bài, thẻ bài, chia bài, chạy bài, hô bài (hô thai)… Đây là lúc mô hình giải trí ở các chòi canh rẫy được chuyển thành hội đánh bài chơi xuân vào dịp tết Nguyên đán (từ 30 tháng chạp cho đến rằm tháng giêng âm lịch). Hoàn toàn không giống những canh bạc đỏ đen sát phạt thắng thua ăn tiền, đánh Bài chòi là một cuộc diễn xướng dân gian hội hè, là hình thức thử vận hên xui, là trò chơi đố chữ có thưởng, xin lộc cầu may đầu năm.

Về thời gian tổ chức (dịp tết) và cách thức chơi (khách mua thẻ rồi ngồi hóng tên con bài được xướng lên và trống mõ khua vang khi có người trúng bài…) cho thấy khá nhiều điểm trùng hợp giữa hội Bài chòi với hội Tổ tôm điếm. Từ đó sinh ra giả thiết: mô hình trò chơi dân gian Tổ tôm điếm rất lâu đời của đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ đã theo chân người mở cõi di dần về phía Nam, để rồi sau đó “tạo thành các lối chơi Bài chòi có phong cách khác nhau ở chín tỉnh Trung bộ Việt Nam”7 .

Cái gốc Bắc còn được suy luận từ truyền thuyết về nhị vị thánh tổ Bài chòi là hai hoàng tử nhà Trần của đất Thăng Long, mà theo lời nghệ nhân thì trước khi đi hát Bài chòi nhất định phải thắp hương khấn bái hai vị nam thần này. Biết đâu “nhị vị thánh tổ này có mối liên hệ dây mơ rễ má nào đó với nhị vị thánh tổ của ngành Ả Đào ở Thăng Long cách nay hơn 1000 năm” ?8

Nhân nói đến tổ nghề, lại có nơi lưu truyền câu chuyện về tam vị thái tử đời Trần trốn khỏi cung đình đi theo gánh hát, rồi hai người em chết đói, còn người anh đi ăn mày. Gánh Bài chòi đã tôn ba vị khán giả chung tình đó làm tổ nghề và lập khánh thờ tự. Mối quan hệ nặng tình nặng nghĩa giữa người diễn với người xem càng chứng tỏ tính bình dân và tinh thần hòa nhập cộng đồng của các gánh Bài chòi. Trong cái đạo làm người “uống nước nhớ nguồn”, Bài chòi đã tôn vinh khán giả, đề cao “đối tượng phục vụ, đối tượng nuôi dưỡng sự sống và kích thích sáng tạo của người nghệ sĩ” 9.

Trở lại với bộ bài, nơi có thể mách bảo thêm những dấu vết bắt rễ xa hơn nữa về phương Bắc. Một số nét tương đồng giữa thẻ Bài chòi, bài Tới, bài Tổ tam được kê ra để thấy “hình vẽ trên những lá Bài chòi, bài Tới, bài Tam cúc có phỏng theo bộ bài Diệp tử mã điếu và bài Toàn đối xuất hiện thời Đường ở Trung Quốc” 10. Cũng như thế, hình họa quân bài của Bài chòi và bài Tới được cho là có “mối quan hệ rất rõ ràng và trực tiếp” với bài Đông Quan của Trung Quốc 11. Đây cũng được xem như một gợi mở cho việc tiếp tục khảo cứu sâu xa hơn về cội rễ của Bài chòi.

Bộ bài – cụ thể là bài Tới vốn có từ trước đó đã được sử dụng trong Bài chòi – trở thành một đầu mối để lần ra nơi xuất xứ Bài chòi. Từ nhiều cuộc dò tìm tới các cơ sở sản xuất bộ bài, từ quá trình đối chiếu bài Tới của Thừa Thiên – Huế với các bộ thẻ Bài chòi ở các tỉnh Trung bộ, một nhận định ban đầu được đưa ra: “Nơi phát tích của lối chơi Bài chòi phải là đất Thuận Hóa” 12.

Bộ bài cung cấp những điểm giống nhau của Bài chòi với các trò chơi bài dân gian khác, mặt khác nó lại khẳng định tính khác biệt trong lối chơi của riêng miền Trung. Với hình vẽ vừa cách điệu vừa tả thực, với tên gọi hầu hết bằng chữ Nôm hoặc ghép Nôm với Hán, bộ bài được coi là sản phẩm của sự tiếp thu có chọn lọc theo tinh thần độc lập của người Việt. Mỗi địa phương lại điều chỉnh hình vẽ hoặc tên gọi lá bài theo sở thích. Cứ như thế theo dòng chảy xuôi vào Đàng Trong, không chỉ bộ bài, mà cả môi trường diễn xướng, tiêu chí cuộc chơi, hình thức trình tấu, lời lẽ hô thai, cho đến nhạc hát và nhạc đàn đã được gom góp dần từ cái riêng mỗi địa phương thành nét đặc thù của trò chơi dân gian này. Cao trào dòng chảy ấy được khẳng định là đất Bình Định. Là “một trong những kiểu thức đặc trưng của văn hóa dân gian Bình Định” 13, Bài chòi từ cái nôi Bình Định lại lan tỏa tiếp vào phía Nam Trung bộ (Phú Yên, Khánh Hòa), đồng thời sức hấp dẫn của nó cũng dội ngược trở ra Bắc Trung bộ (Quảng Ngãi, Quảng Nam – Đà Nẵng…).

Lý giải cho sức sống của Bài chòi cũng chính là nhận diện giá trị của nghệ thuật dân gian này. Những yếu tố tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ trước hết phải kể đến tính cộng đồng, chất dân dã và sự giản đơn của luật chơi. Tính tập thể, sự kết nối giao lưu giữa những người dân quê bình dị là “cách thức tập hợp công chúng rất thông minh của trò chơi dân gian Bài chòi mà chúng ta cần tham khảo” 14:

Đây, một không gian mở, “không ẩn dụ sau cánh cửa của các nhà quyền quý, cao sang mà cho tất cả mọi người cùng tham gia” 15, một không khí hội hè hồ hởi vui nhộn, một thời điểm đón xuân ai ai cũng dễ mở lòng háo hức trông đợi điềm tốt lành.

Đây, một cơ hội lấy may bằng những thẻ bài mang tên gọi kỳ dị ngộ nghĩnh với đầu Hán đuôi Việt: nhất trò, nhì nghèo, tam quăng, tứ cẳng, ngũ trợt, lục chạng, thất vung, bát bồng… ; hoặc thuần Việt: chín gối, ba bụng, sáu ghe…

Và đây, những người xem người chơi bình dân, bình đẳng trong cuộc chơi, không phân biệt tuổi tác, không cần phải động não suy tính đường đi nước bước thế bài chi cho mệt. Người diễn cũng bình dân, không phải trang điểm hay đeo mặt nạ, khỏi phải trang phục cầu kỳ, không cần bài trí cảnh diễn, cũng chẳng tốn nhiều tiền của và thời gian đầu tư cho quá trình tu luyện tay nghề hay công sức tập dượt.

Anh (hoặc chị) Hiệu có thể chỉ là chàng (hoặc nàng) nông dân chân đất có cái duyên đối đáp mau lẹ và tài ứng biến xuất khẩu thành thơ theo phong cách dân gian. Nhân vật được coi là linh hồn cuộc chơi này đem đến cho dân quê những gì họ chờ đợi: những lớp hò đa nghĩa đa tình hoặc những lời thoại ngô nghê tức cười, những mẩu chuyện lịch sử hoặc thời sự, những khúc tiếu lâm và ngụ ngôn hóm hỉnh hoặc những tích ngang trái tình trường, những câu ca dao tục ngữ thành ngữ quen thuộc dễ nhớ của dòng văn học bình dân hoặc những câu đố tục giảng thanh hóm hỉnh tếu táo… Một cuộc chơi hồn nhiên với những lời hô thai nôm na, chân quê, dí dỏm, kiều như: “Tiếc công bỏ mẳn nuôi cu/ Cu ăn, cu lớn, cu gù, cu bay/ Cu say mũ cả, áo dài/ Cu chê nhà khó, phụ hoài duyên em”, và thế là ai may mắn có con “chín cu” trong tay chỉ việc chìa ra lĩnh thưởng!

Sự độc đáo chính là ở đây: nghệ thuật hô thai. Hội chơi thành hay bại đều do người hô thai. Cả cuộc chơi xoay quanh một tâm điểm – nói theo “giọng” thời nay: một tay vừa là người tổ chức sự kiện kiêm đạo diễn chương trình, vừa là MC, ca sĩ kiêm diễn viên. Anh chàng “nhiều trong một” này độc diễn tay năm miệng mười quả thực lắm chiêu: chạy bài, thách đố, dẫn chương trình, đối thoại, kể chuyện, diễn tấu, một lúc sắm mấy vai, bất kể nhân vật nam – nữ, già – trẻ, chính – tà, bi – hài, cổ – kim…

Đa nhân vật, một người diễn. Đổi vai đổi cảnh chỉ bằng lời thoại hoặc chuyển âm vực giọng hát chứ không cần thay bài trí sàn diễn và hoàn toàn không vận đến thủ thuật giả thanh như một vài loại hình diễn xướng cổ truyền ở châu Á. Đơn giản thế thôi, vậy thì sức hấp dẫn của nghệ thuật hô thai phải nằm trong nội dung lời ca, âm nhạc và phong cách trình tấu.

Với cách sử dụng hiệu quả ngữ điệu, một phương thức trong ngữ pháp tiếng Việt để “tạo ra tầng nghĩa mới, có thể đối lập nghĩa ban đầu của câu chữ” 16, Bài chòi không chỉ làm giàu thêm giá trị biểu cảm của ngôn từ, mà còn tăng tính kịch, tính hành động và tạo nét riêng cho lối độc diễn này.

Với lối ứng tác ứng tấu cả ở người hát và người đàn, đường nét cao độ của các mô hình giai điệu được lặp lại nhưng “không bao giờ giống nhau y chang, cũng như chúng ta không bao giờ lặp lại hai lần trên một dòng chảy”17  – người xem không thấy nhàm chán có lẽ lả nhờ tính độc đáo luôn gắn liền với sự linh hoạt và đa dạng trong diễn tấu.

Nói đến tính đa dạng phải kể đến ba hình thức diễn xướng nối tiếp nhau hình thành trong quá trình phát triển Bài chòi cổ, gồm: “1/Bài chòi hô thai, 2/Bài chòi câu, 3/Bài chòi lớp và Bài chòi truyện (kịch Bài chòi)”18 . Giữa các hình thức này có sự chuyển đổi dần về mọi mặt:

– về mục đích: từ hội chơi đánh bài chuyển sang hình thức thuần túy thưởng thức trò diễn;

– về môi trường diễn xướng: từ chòi cao hạ xuống thành chòi chệt, chòi đất, chòi ghế, chòi chiếu, rồi di chuyển thành chòi rong, chòi dạo.

– về lời ca: từ một – hai câu ngắn mở rộng thành khổ thơ và cuối cùng là cả một tích truyện dài;

– về giai điệu hát: từ chất liệu đơn giản của lối nói thơ, đọc vè và hát ru miền Trung đến các điệu Hò: hò khoan, hò mái nhì, hò giã gạo, hò đối đáp…, và phát triển (đôi khi có chuyển hệ) trên các làn điệu Xuân nữ (cổ), Xàng xê, Cổ bản, Hồ quảng;

– về người diễn xướng: từ lối độc diễn của một mình Hiệu chuyển dần sang màn diễn những lớp tuồng hai – ba người trở lên;

– về nhạc đàn: từ độc nhất đàn cò đỡ giọng với một sênh đập theo nhịp một, sau tùy nơi có thêm trống con, trống chiến, trống chầu, mõ, thanh la, kèn bóp, kèn bầu, đàn nguyệt, đàn hồ, đàn bầu, sáo trúc… với lối đệm phù hợp với các tâm trạng nhân vật khác nhau.

Những “tiểu dị” do đặc thù phương ngữ cũng như văn hóa bản địa đã làm cho Bài chòi ngày càng đa sắc hơn, đến mức nhiều nhà sưu tầm nghiên cứu đã chia thành các “vùng Bài chòi” khác nhau. Giá trị văn hóa của mỗi vùng đều như nhau. Song nếu bàn đến nghệ thuật âm nhạc thì mỗi phong cách khác nhau lại cho ra những giá trị khác nhau: Bài chòi Bắc Trung bộ giàu nhạc tính nhưng thiếu kịch tính, còn Bài chòi Nam Trung bộ rất kịch tính với lối hát giàu ngữ khí và được hỗ trợ thêm bởi những động tác múa của hát Bội. Lối trình diễn các câu hô thai giàu tính kịch này đã sinh ra nghệ thuật độc diễn Bài chòi, và nghệ thuật độc diễn “đã làm cho vùng Nam Trung Bộ trở thành trung tâm nghệ thuật Bài chòi, biến vùng Bài chòi Bắc Trung bộ trở thành vùng Bài chòi ngoại diên19 .

Tính đa dạng và sức thu hút của Bài chòi còn là kết quả của tinh thần giao thoa với các loại hình nghệ thuật cổ truyền khác, trong đó đáng chú ý nhất là Tuồng. Được định hình trong cái nôi hát Bội là đất Bình Định, Bài chòi mang nhiều sắc thái Tuồng trong âm nhạc cũng như trong hình thức diễn tấu. Yếu tố Tuồng “là một trong những tế bào chính yếu cấu thành, thậm chí là tố chất nằm ngay trong lòng tế bào của nghệ thuật Bài chòi từ buổi ban sơ của nó”20 .

Bên cạnh Tuồng còn có ảnh hưởng của Cải lương trong Bài chòi truyện “qua việc mượn những bài Nam ai, Vọng cổ, hát Nam, hát Khách” 21 để thể hiện trạng thái tình cảm nhân vật trong các lớp kịch.

Ở đây còn đề cập đến mối liên hệ giữa Bài chòi với nhạc cung đình Huế và nhạc Tài tử Nam bộ thông qua “lộ trình” của bài Cổ bản, khởi hành từ nhạc Huế cho tới điểm đến là nhạc Lễ Nam bộ, và trên con đường Nam tiến đó, Cổ bản đã kịp “là một phần trong bài bản âm nhạc Bài chòi” 22.

Ngoài những hình thức nghệ thuật cổ truyền nói trên, Bài chòi cũng không từ chối những âm điệu mới mẻ của cuộc sống đương đại, vì thế có thể nghe thấy ở đây “âm thanh của những bài dân ca, nhạc Lễ và thậm chí cả những bài nhạc trẻ mới” 23.

Từ đây nảy sinh không ít băn khoăn: sự pha tạp do quá cởi mở trong chuyển đổi môi trường có làm loại hình dân gian này biến chất không? Và ngược lại, rồi đây phải bảo tồn thế nào – cái gì cần loại bỏ, cái gì nên tiếp nhận để thể loại cổ này không quá xa cách với giới trẻ, để nó tiếp tục có cơ hội sống trong thời đại mới? Đây là bài toán khó không giới hạn trong chương trình lập Hồ sơ Bài chòi và cũng không chỉ là bài toán của riêng Bài chòi miền Trung Việt Nam.

Trong việc xem xét những điểm chung và nét riêng, các đại biểu nước ngoài còn so sánh Bài chòi với một số loại hình dân gian và nhạc cụ cổ truyền trên thế giới: ca kịch truyền thống Lăm lượng và đàn cổ Tung lung của Lào 24; Jindo Dasiraegi, và Pansori của Hàn Quốc 25; trình diễn sử thi Darangen và Hudhud của Philippines, hát thơ cổ Meddah và Âsiklik của Thổ Nhĩ Kỳ, trình diễn sân khâu cổ Kutiyattam của Ấn Độ … Với những gợi ý từ kinh nghiệm thực tế và những kiến thức khoa học tổng hợp từ nhiều quốc gia, chẳng có lý gì mà ta không đón nhận như món quà ý nghĩa để tham khảo và vận dụng những gì phù hợp vào việc bảo tồn Bài chòi.

Bên cạnh những cố gắng nhận diện Bài chòi từ nguồn gốc lịch sử đến giá trị nghệ thuật, còn một yêu cầu nữa được nhấn mạnh là làm rõ thực trạng và cơ hội trong tương lai của nó, trong đó có nhiều điều phụ thuộc vào vai trò quản lý của Nhà nước và hiệu quả trao truyền của địa phương sở hữu di sản.

Cho dù sau này Hồ sơ được vinh danh hay không thì Bài chòi vẫn là di sản quý giá của miền Trung, nó phải được trao truyền kịp thời và liên tục để không mất đi vĩnh viễn. Gần đây các địa phương đã phục dựng Bài chòi vào dịp lễ hội tết nhất, thậm chí đã tổ chức được hai cuộc liên hoan Bài chòi và đề xuất đưa Bài chòi vào chương trình phổ thông.

Với các tiêu chí khác nhau – nhằm vào chất lượng nội dung hoặc số lượng hình thức – mà việc trao truyền được lựa chọn từ hai cách: “Cách cổ truyền là từ thế hệ này đến thế hệ kia trong dòng họ và gia đình, cách đó sâu nhất và giữ được phong cách; cách thứ hai là trao truyền có tính đại chúng”27 . Cách sau dường như đang được chú ý hơn trong những năm gần đây. Có thể thấy không ít những nỗ lực phát triển đồng loạt với các biện pháp mang tính “chuyên nghiệp” để dạy lại cho cộng đồng và “nhân bản” Bài chòi theo kiểu toàn dân phải biết hát Bài chòi. Hiệu quả đến đâu còn rất nhiều điều phải xem lại.

Một điều hiển nhiên cần nhấn mạnh là mọi di sản phi vật thể không dừng lại trong thời gian, mà luôn hòa vào dòng chảy văn hóa và được nuôi dưỡng trong sự sáng tạo không ngừng của cộng đồng sở hữu di sản. Có những đổi thay được cộng đồng chấp nhận để rồi truyền lại cho con cháu. Có những đổi thay dù nhân danh “cái chuyên nghiệp mà mang tính thương mại và phục vụ du lịch thì sẽ không thành công”28 .

Quyết định cho sức sống của Bài chòi luôn là yếu tố con người – con người của bối cảnh hiện tại. Tương lai của di sản phụ thuộc vào cộng đồng, mà cộng đồng hôm nay đã thực sự thấu hiểu giá trị di sản và có ý thức bảo vệ giá trị đó chưa? Nghệ nhân còn lại chẳng được mấy người, chính sách đãi ngộ chưa có, “chỉ duy nhất một người được Hội Văn hóa dân gian Việt Nam phong tặng nghệ nhân dân gian”29 , số người tự nguyện học hỏi và say mê đeo đuổi nghệ thuật này cũng chẳng nhiều nhặn gì.

Còn nữa, làm tốt Hồ sơ để Bài chòi được UNESCO đưa vào danh sách di sản phi vật thể của nhân loại có phải là cái đích cuối cùng không? Nếu may mắn được xét duyệt, thì “hậu xét duyệt” sẽ ra sao hay lại dừng ở việc tuyên truyền khuếch trương danh hiệu thôi? Đã có thể lạc quan tin rằng sau đó Bài chòi không còn lâm vào tình cảnh mai một và không còn rơi nguy cơ thất truyền nữa?

Một đêm hội Bài chòi trong dịp Hội thảo được tổ chức ngay giữa trung tâm thành phố Quy Nhơn với đủ chòi cao cờ quạt kèn trống, với sự có mặt các quan khách đại biểu tứ phương, với sự trình diễn của các nghệ nhân “thứ thiệt”, trong đó có cụ đã ngót chín mươi tuổi. Tiếng hô thai, giọng hát của anh Hiệu chị Hiệu qua loa phóng thanh vang khắp quảng trường, tên các lá bài được xướng lên, người trúng thưởng cả ta lẫn Tây hỉ hả. Song người dân của đất Bài chòi vẫn bình thản đi lướt qua, dòng người dòng xe vẫn theo cuộc sống mưu sinh không ngừng trôi vào các ngả phố…

Đủ biết, còn hao công tốn lực lắm mới có thể khôi phục, gìn giữ di sản trong cộng đồng hôm nay và trao truyền lại cho thế hệ mai sau; còn vất vả nhọc nhằn lắm mới có thể khơi dậy lại cho Bài chòi cái mê đắm của một thời xa vắng:

Thà rằng ăn mắm mút dòi
Cũng nghe Bài chòi cho sướng cái tai.
(Ca dao)

27-3-2015

_______________________________________________

1. Về Hội thảo quốc tế Nghệ thuật Bài chòi dân gian Việt Nam và những hình thức nghệ thuật tương đồng trên thế giới do Viện Âm nhạc – Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam tổ chức tại Quy Nhơn vào 1-2015.
2. Nguyễn Bình Định: Đề dẫn Hội thảo.
3. Trần Hồng: Đặc trưng nghệ thuật Bài chòi ở Quảng Nam.
Trần Quang Hải: Nguồn gốc – hình thành – đặc trưng trong nhạc ngữ – tiết tấu thi ca trong Bài chòi miền Trung Việt Nam.
4. Đặng Hoành Loan: Bài chòi Trung bộ Việt Nam từ góc nhìn của người nghiên cứu điền dã.
5. Thụy Loan: Phát biểu miệng.
6. Lê Văn Hoa: Vài nét về nghệ thuật Bài chòi ở Khánh Hòa.
7. Đặng Hoành Loan: Bài đã dẫn.
8. Đặng Hoành Loan: Bài đã dẫn.
9. Nguyễn Tứ Hải: Nghề hát Bài chòi ở Khánh Hòa.
10. Mai Thìn: Góp phần tìm hiểu Bài chòi Bình Định.
11. Phương Nam: Đi tìm nguồn gốc di sản nghệ thuật Bài chòi.
12. Đặng Hoành Loan: Bài đã dẫn.
13. Phương Nam: Bài đã dẫn.
14. Đặng Hoành Loan: Bài đã dẫn.
15. Phương Nam: Bài đã dẫn.
16. Nguyễn Tứ Hải: Bài đã dẫn.
17. Yves Defrance: Bài chòi – một thể loại sân khấu âm nhạc độc đáo.
18. Nguyễn Minh Dũng: Vài chặng đường phát triển của âm nhạc. nhạc hát nhạc đàn trong nghệ thuật Bài chòi Bình Định.
19. Đặng Hoành Loan: Bài đã dẫn.
20. Thụy Loan: Cần nhận diện đúng thế nào là nghệ thuật Bài chòi dân gian.
21. Trần Quang Hài: Bài đã dẫn.
22. Gisa Jachnichen: Ghi chép về nhạc mục của Bài chòi. Bài Cổ bản trong bối cảnh lịch sử của nó.
23. Ebsjorn Watermark: Những âm thanh âm nhạc và những không gian âm thanh.
24. Bountheng Souksavatd: Một số suy nghĩ về Bài chòi.
25. Seong-Yong Park: Những di sản văn hóa phi vật thể Hàn Quốc tương tự như Bài chòi.
26. Yves Defrance: Bài đã dẫn.
27. Tô Ngọc Thanh: Phát biểu tổng kết Hội thảo.
28. Lê Minh Lý: Phát biểu miệng
29. Lê Văn Hoa: Vài nét về nghệ thuật Bài chòi ở Khánh Hòa

TRẦN HỒNG : BÀI CHÒI


BÀI CHÒI – Nhà nghiên cứu TRẦN HỒNG
Ngày xưa, cứ đến Tết Nguyên đán người ta thường tổ chức các hội vui chơi nào là đua ghe, đá gà, hội vật, đấu võ, hát sắc bùa, hát bội, đánh Bài Chòi…Đánh Bài Chòi là trò diễn xướng dân gian rất thịnh hành ở Miền Trung từ những năm đầu thập kỷ 20 cho đến sau những năm kháng chiến chống Pháp, ở các vùng tự do còn tổ chức. Hát Bài Chòi, Nói Vè, Hô Lô Tô, Hát Dân ca được đưa vào các chương trình văn nghệ quần chúng để động viên, tuyên truyền các chính sách của Đảng rất đắc lực.Bài Chòi là một sản phẩm văn hóa rất độc đáo của các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và đến Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai cho đến nay. Bài Chòi vẫn tồn tại mạnh mẽ, sâu rộng trong làng xã khắp nơi trong tỉnh Bình Định.

Bài Chòi ra đời vào lúc nào, ở đâu? Đã có nhiều người sưu tầm, nghiên cứu, tìm tư liệu để xác nhận nguồn gốc Bài Chòi, nhưng đều là giả định và ước đoán, chưa có cơ sở khoa học.

Ông Phan Đình Lang, tức Bốn Trang, còn gọi là Bốn Que, sinh năm 1910, ở xã Nhơn Thành, An Nhơn, Bình Định đã nói rằng hồi còn nhỏ ông đã nghe ông nội và bà con kể là Bài Chòi do ông Đào Duy Từ (1571 – 1634) ở ngoài Bắc vào Bình Định khai khẩn đất hoang, sinh cơ lập nghiệp, xây làng lập ấp. Ông còn lập gánh hát Bội, dạy hát, múa Tuồng, vui trong các ngày lễ, ngày Tết và bày ra chơi Bài Chòi. Từ việc làm các chòi giữ hoa màu khỏi bị heo, nai, thú rừng ăn phá, khi có thú về họ gõ mõ, gõ các dụng cụ để xua đuổi, các chòi làm gần nhau để hỗ trợ, canh gác, họ căng dây nối vào 2 ống tre, có bịt da ếch, nói vào ống, người phía đầu ống ở chòi bên kia để tai vào ống nghe được, “Hát ống” có từ đó, ông Đào Duy Từ mới sáng kiến bày ra trò chơi Bài Chòi trong các ngày Tết.

Theo lời dẫn của nhạc sĩ La Nhiên (trong “Quê hương điệu hát Bài Chòi, Sài Gòn” 1974) có nhà Âm nhạc học người Pháp tên là G.L.Bouvier đã đến Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX để nghiên cứu về các thể loại âm nhạc ở nước ta, ông Bouvier cho rằng: “Bài Chòi được hình thành và phát triển sau những năm 1470 Nam tiến, người Việt ra sức khẩn hoang từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định cho tới Bình Thuận, đặc biệt đã thành công trong việc xây dựng kinh tế, văn hóa và đời sống vùng châu thổ ở Bình Định và Phú Yên rất phì nhiêu. Trong số đó, có nhiều người từ nhiều địa phương có truyền thống văn hóa lâu đời, phong phú và đa dạng, có điều kiện kết hợp nhanh chóng với nền văn hóa dân gian của địa phương, một số làn điệu dân ca, Hò, Lý, Hò chèo thuyền, Hò giã gạo, Hò đi cấy… còn giữ được bản sắc ban đầu, đồng thời phát triển, sáng tạo ra các làn điệu mới.”

Tại những vùng mới khai hoang, nhà ở tạm bợ, họ dựng các nhà chòi để canh giữ, chống thú vật, ăn phá rẫy nương, hoa màu. Các chòi cao để chống lũ lụt và khi chuyển vùng canh tác, tháo dỡ được nhanh chóng.

Khảo sát về tập quán người Việt xưa ở vùng Trung du, miền núi, hai ông P. Huard và M. Durand, các nhà nghiên cứu âm nhạc học người Pháp đã mô tả: “Thôn dân ngủ đêm trên Chòi để canh heo rừng và thú dữ ra phá hoại hoa màu. Trên một chòi cao của mỗi rẫy, họ làm liên hoàn các rẫy và có nhiều chòi quanh nhau, khi có thú rừng về, các chòi đều đánh mõ, khua phèng la và xua đuổi vang động khắp vùng để hỗ trợ cho nhau. Những đêm thanh vắng họ nghĩ ra các trò chơi, hát ống để giải trí và tâm tình với nhau từ chòi này qua chòi kia. Từ đó họ sáng tạo ra Hô Bài Chòi, “Đánh Bài Chòi” được hình thành. Qua một thời gian dài Bài Chòi đã trở thành một nhu cầu giải trí lành mạnh trong kho tàng Văn nghệ dân gian Miền Trung”. (Ca dao, dân ca Phú Yên 1994).

Cụ Phan Đình Long có truyền thuyết Hội Bài Chòi từ việc dựng Chòi cao để khua mõ đuổi thú rừng canh giữ hoa màu. Ông G.L. Bouvier, ông P. Huard, ông M. Durand là những nhà nghiên cứu âm nhạc học người Pháp, các ông này đã đến Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX để nghiên cứu về các thể loại âm nhạc ở nước ta, đã dành một chương dài có tên là La chanson Populaire de L”Anam (trong quyển La Rousse Musicale – Paris 1928) để nói về nguồn gốc Bài Chòi cho rằng: “Bài Chòi được hình thành và phát triển sau những năm Nam tiến, tức là sau năm 1470, các ông này cũng nói Bài Chòi phát xuất từ các chòi giữ thú rừng, các trò chơi giải trí trên chòi, rồi bày ra Hội Bài Chòi”. (Ca dao, dân ca Phú Yên, 1994).

“G.L.Bôviơ, một học giả, người Ba Lan gốc Pháp từng có mặt trong nhóm nghiên cứu văn hóa Phương Đông của Bồ Đào Nha, Italia đến Việt Nam từ trước đại chiến thế giới lần thứ nhất. Năm 1902, Bôviơ hoàn thành tập sách: về Hát Bài Chòi (Voici quelques pièces Hat Bai choi tireés du Phong trao Can Vuong). Mới đây trong khi tìm hiểu về nghệ thuật Hát Bài chòi, tôi tìm được một vài trang trong tập sách trên và xin giới thiệu với bạn đọc.

Hát Bài chòi, theo Bôviơ xuất hiện ở những tụ dân cư vùng rừng núi xa xôi. Tại những nơi này, từ việc xây cất nhà cửa đến việc làm ruộng, làm rẫy, săn thú… đều dựa theo kinh nghiệm lâu đời của người địa phương. Theo đó, nhà được dựng lên bằng hình thức “dã chiến”, có thể tháo – gỡ – lắp ráp dễ dàng mỗi khi cần chuyển vùng canh tác (du canh – du cư). Nhà càng gần rừng núi, gần dã thú càng cất thu hẹp lại và càng cao hơn ở phần chân trụ (dạng nhà sàn – ngày nay vẫn còn). Dựa vào phương tiện nhà ở và nhà chòi giữ rẫy sẵn có, người ta bày ra trò chơi. Giải trí là chủ yếu, nhưng để “sát phạt – hơn thua” nhau cũng thường xảy ra. Trò chơi này về sau người ta quen gọi là “đánh Bài chòi”.

Muốn trò chơi kiểu này được tập trung hơn, mỹ quan hơn… dần dần người ta chọn những nơi có nhiều nhà san sát nhau để tổ chức “đánh bài chòi” với nhau trong những dịp hội hè, tết nhất. Hình thức “đánh bài chòi” giai đoạn sơ khởi chỉ có thế. Sau đó không lâu được hoàn chỉnh dần dần, trở thành trò chơi dân gian không bao giờ thiếu vắng trong thôn xóm vào những ngày vui được mùa hoặc những lần đình đám khác…

Nếu trò chơi “đánh bài chòi” chỉ có hình thức dựng lên một số “nhà chòi” và bắt buộc người dự cuộc phải trèo lên “chòi”ngồi đợt kết quả mỗi ván bài (có khi phải chờ hàng giờ) thì không có gì gọi là hấp dẫn cả, do đó người ta đã dùng ca dao, câu vè, câu thơ thích hợp và chọn người có giọng đọc quyến rũ, đọc lên những câu đó trong những lúc cần chờ đợi kết quả ván bài. Thế rồi thói quen này vô tình tạo ra cho người đọc thơ, đọc vè… vốn có sẵn giọng ngân nga tốt từ bẩm sinh ấy trở thành chuyên nghiệp. Cứ như thế theo năm tháng, càng lâu càng biến đổi, hoàn chỉnh dần… biến thành thể điệu hò hát riêng.

Về sau, càng có nhiều ca dao, câu vè, câu thơ được lượm lặt, sưu tầm, rộng rãi hơn dành cho những dịp cạnh tranh tổ chức giữa các nhóm hò hát bài chòi với nhau. Trong sự cạnh tranh nghề nghiệp đó “hát bài chòi” có lúc đã trở thành “diễn đàn văn nghệ” có tác dụng phê phán những thói hư tật xấu, ca ngợi những nét đẹp, cái hay trong xã hội lúc bấy giờ. Họ làm được việc ấy dù ngẫu nhiên, song đối với các vị khoa bảng, những nhà yêu nước trong lớp người đi khai hoang – lập ấp… đã chú ý và triển khai để… đưa tác phẩm văn học đại chúng của mình vào “lợi thế” diễn đàn này. Cho tới giai đoạn hát bài chòi đã được rất nhiều người yêu chuộng, kể cả các nhân vật quý tộc, nó không còn đơn độc với giọng hò trước đó chỉ có phần đệm bằng “bộ gõ” đơn giản (đệm bằng cặp sanh – Sanh là 2 thanh gỗ chuốt tròn giống như 2 con găng cỡ lớn) mà còn có cả đàn nhị (đàn cò) và kèn lưỡi tre. Kèn này có lần người Pháp đã gọi đùa bằng tên một loại kèn xưa nhất của xứ Ả Rập (Cotarisiplet) (phát âm qua lưỡi gà, tương tự như chiếc Ascsê của Clarinét ngày nay). Phần nhạc đệm tất nhiên có trống tum (trống con) và xụp xòa làm nòng cốt.

Viết đến đoạn này, G.L. Bôviơ bỗng quay sang câu chuyện tương tự xảy ra trong nền dân ca Angêri. Ở đất nước nhỏ bé đó cũng có một thể loại dân ca xuất xứ từ một trò chơi kiểu như “đánh bài chòi” của Việt Nam. Nếu có khác, chỉ khác ở chỗ họ dùng những chiếc bàn con xếp vòng quanh một chiếc bàn lớn, thay vì ở Việt Nam dựng lên những chiếc chòi.

Điểm giống nhất giữa hai trò chơi của hai nước này là đều dùng “hệ chu kỳ 12 con giáp” (cycle Décimal + Cycle Doudécimal) vào trong danh sách những con bài Xuyên qua sự mô tả trên để rồi Bôviơ quả quyết cho rằng, lối chơi bài có mang tên ghép của mỗi con bài lấy từ hệ chu kỳ trên là lối chơi du nhập từ Đông Dương hay nói chính xác hơn đó là lối chơi của người dân xưa kia tại vùng phía nam Việt Nam – nơi có những cụm “nhà sàn” xinh xắn san sát nhau, tuần tự mọc lên phía bên mạn Bắc của dãy núi miền Panduranga… sau những năm đầu có phong trào Nam tiến của người Việt”[1].

Các truyền thuyết trên chưa biết thực hư ra sao? Nhưng xin trích dẫn ra đây, để nhằm giúp cho các nhà nghiên cứu tham khảo sau này.

Trong những ngày Tết Nguyên đán thường tổ chức các Hội Bài Chòi ở sân đình, những nơi có sân rộng, bãi chợ, những nơi tập hợp được nhiều người. Nơi đó người ta dựng lên chín cái chòi, có nơi mười một chòi. Chòi Trung ương ở giữa lớn hơn, chòi dựng thành hai hàng, có tên là chòi Càn, chòi Khảm, chòi Cấn, chòi Chấn xếp 1 hàng dọc, chòi Tốn, chòi Ly, chòi Khôn, chòi Đoài xếp 1 hàng dọc, theo “Bát Quái đồ”: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Còn loại dựng 11 chòi, chòi Trung ương ở giữa, xếp mỗi hàng 5 chòi hai bên, có tên là chòi Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu 1 hàng, chòi Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý 1 hàng theo “Thập can”. Cách dựng chòi như sau:

Chòi Trung ương lớn gấp đôi chòi con. Chòi Trung ương dành cho gia đình các vị chức sắc có thể ngồi được 5, 6 người. Chòi con chỉ ngồi 2, 3 người mà thôi. Nhà Hội làm ở đầu sân, rộng lớn có phản to, bàn ghế, để trà nước, quà thưởng, bánh trái, rượu… Các vị chức sắc trong làng, Tổng và Ban tổ chức hội họp, nghỉ ngơi trong nhà Hội. Xung quanh chòi Trung ương và nhà Hội có cắm cờ đuôi nheo và giăng cờ tam giác đủ màu sắc, trước nhà Hội cắm 1 cây nêu bằng 1 cây tre nhỏ, trảy hết mắt cành, chỉ để lá ở đầu ngọn, 1 lá cờ làng vuông to được treo nghiêng ở đầu cây nêu, ở mỗi chòi con có đặt một khúc chuối nhỏ để khi nào tới 1 con bài, anh Hiệu dâng lá cờ nhỏ hình tam giác cắm vào đó, khi cắm 2 cây cờ là chờ “Tới” con bài thứ 3, anh Hiệu nghe tiếng mõ giục thì đem quà thưởng và cờ tới dâng lên đủ 3 cây cờ. Chòi dựng bằng 4 cây tre, khi trảy mắt còn chừa mỗi mắt 1 đoạn để làm thang trèo lên chòi. Chòi cao bằng nhau, độ 2 mét, có giường tre, lợp 2 mái bằng rạ, hoặc tranh, ba bên che kín, phía trước để trống. Cột chòi có đục thành mõ để gõ ở 2 cột gần chỗ ngồi. Một khoảng đất rộng ở giữa có cắm 1 cây tre có ống đựng con bài, con bài dán vào thẻ tre, 1 đầu dẹp 1 đầu tròn như chiếc đũa bếp, anh Hiệu lúc lắc, rung xóc cho các con bài xáo trộn trước khi rút con bài ra. Dựng 9 chòi thì có 27 cặp bài, chia ra 2 ống. Anh Hiệu đứng chính giữa bắt đầu diễn xướng, có đờn nhị, kèn, nhịp phách đệm, gọi là “Hô thai“, hoặc “Hô bài chòi”.

Anh Hiệu là người hát hay, có tài ứng khẩu linh hoạt, có khả năng làm trò duyên dáng, hài hước, nhanh nhẹn. Anh Hiệu là người chia bài cho các chòi, mỗi chòi 3 con bài dán trên thẻ tre, xong rồi rung, xóc các bài tỳ trong ống ra và hô tên từng con bài, để các chòi nào có con bài đó thì gõ mõ, anh Hiệu liền hô: “Vâng lịnh làng lãnh lấy khay tiền. Hiệu khẩn cấp dâng cờ đệ nhất”. Anh Hiệu bưng khay tiền và cờ giao cho chòi có gõ mõ. Chòi nào trúng được 3 con là “Tới”. Hết 1 hiệp, anh Hiệu thu các con bài về, xáo trộn 1 hồi rồi đem chia cho các chòi và tiếp tục rung xóc ống bài tỳ, hô lên, cho đến khi nào có chòi trúng 3 con đã “Tới” hiệp 2, và cứ như thế các chòi chơi hết 7 hiệp là hết 1 Hội, khi nộp tiền chơi 1 hội là 9 chòi, nhưng chơi 7 hiệp, còn 2 hiệp để lại cho làng dùng mua quà thưởng cho 7 hiệp đã chơi. Xong 1 hội, ai tiếp tục chơi thì nộp tiền và cho các người mới đến nộp tiền để chơi.

Mỗi buổi chơi liên tục được 10 Hội, người chơi và người đến dự chung vui rất đông. Họ lắng nghe các con bài do anh Hiệu hô có sẵn hoặc kiến tại để khen và tán thưởng câu thai này. Hội Bài Chòi ngày Tết thu hút từ trẻ em đến các ông cụ bà cụ trong làng, các cô các cậu thanh niên, các bà lão miệng nhai trầu móm mém, tất cả ai nấy đều xúng xính trong bộ quần áo mới, đẹp nhất tụ hội xung quanh sân hội Bài Chòi. Ai cũng muốn chơi 1 Hội đầu năm, xem vận hên, may đầu năm ra sao, nên đều nô nức đến tham gia chơi Bài Chòi một cách tự nguyện và say mê. Có những gia đình liên tiếp gõ mõ, chòi được may “tới” liền mấy Hội, cờ cắm đỏ cả chòi, có những chòi chỉ được 2 con, chờ con thứ 3 mỏi cả tai mà không “tới”. Chính sự hồi hộp, chờ đợi con bài thứ 3 đó rất hấp dẫn kể cả người đang chơi và người đến tham dự.

Chơi Bài Chòi ngày Tết là thú vui Xuân, nhưng còn có ý nghĩa thử đầu năm vận mệnh có được “hên” không, để phấn khởi làm ăn trong năm tới được phát đạt hay không? Anh Hiệu là người quản trò, làm cho cuộc chơi luôn luôn sôi động và hấp dẫn. Câu hô gọi là “Hô Thai” hay “Thai Bài Chòi” – Chữ “Thai” là đố. Do đó câu hô thường là nôm na bằng thơ lục bát, bóng bẩy, ẩn chứa nội dung con bài 1 cách lắt léo để người nghe phỏng đoán là con bài gì?

Huớ mà huơ…

Chầu rày đã có trăng non

Để anh lên xuống có con em bồng.

(Con bài Bát bồng)

Mỗi con bài đều có hình vẽ khác nhau rất bình dân để vui chơi, giải trí. Người ta vẽ các hoàng tử, công chúa, thái tử, tướng… hoặc hình đồng tiền, con gà, hai người ôm nhau, hoặc những hình tròn, những nét lăng quăng, có con bài vẽ rất thô tục mang chất dân gian quê mùa mà hài hước. Mỗi con bài đều có tên và có câu “hô thai” con bài đó để người chơi bài đoán ra.

Ví dụ: – Một hai bậu nói rằng không

Dấu chân ai đứng bờ sông hai người?

(Tứ Cẳng)

Hoặc: – Lấy chồng từ thuở mười lăm

Chồng chê em nhỏ không nằm với em

Bây giờ mười tám đẹp xinh

Em ngủ dưới đất chồng rinh lên giường.

Một rằng thương, hai rằng thương, ba bốn cũng nói rằng thương

Huớ anh ơi! Thương chi hung rứa? Có bốn cẳng giường gãy 1 còn 3.

(Tứ cẳng)

– Đi đâu mang sách đi hoài

Cử nhân chẳng đậu, Tú Tài cũng không?

(Nhứt trò)

– Đầu rồng, đuôi phượng cánh tiên

Ngày năm bảy vợ, tối ngủ riêng một mình.

(Ba Gà)

– Nghèo mà làm bạn với giàu

Đứng lên ngồi xuống nó đau cái l…

(Bạch Huê)

– Vợ đôi chồng một ra gì

Mỗi người mỗi bụng ở thì sao nên.

(Ba Bụng)…

Khi các người chơi đã lên chòi, anh Hiệu đã chia bài cho 9 chòi xong, làng đánh một hồi trống chầu báo hiệu Hội Bài Chòi bắt đầu vào chơi hiệp thứ nhất, các chòi đều gõ mõ báo hiệu đã sẵn sàng. Anh Hiệu quần áo chỉnh tề bước ra chắp tay cung kính xin phép Hội chơi bắt đầu:

– Dạ dạ… chín chòi lẳng lặng mà nghe

Hoặc: Thập nhất chòi lẳng lặng mà nghe:

– Nay Hiệu tôi phát bài đã đủ

Đây tôi xin thủ bài tì

Ai có lá gì phải nghe cho rõ

Ai có lá đó, gõ mõ ba dùi

Đừng tới đừng lui để Hiệu tôi đem tới.

Anh Hiệu vừa hô vừa làm điệu bộ như múa chân tay, vuốt tóc và làm cho các người chơi bài ngồi ở các chòi phải theo dõi, hồi hộp, chờ đợi đến câu chót mới biết đó là con bài gì để gõ mõ.

– Huớ mà huơ! Một anh để em ra

Hai anh cũng để em ra

Em về em buôn em bán, trả nợ bánh tráng,

trả nợ bánh xèo. Còn thì em trả nợ thịt heo

Anh đừng cầm em nữa kẻo mang nghèo vì em!

Nghèo huớ là “Nhì Nghèo” (Con bài Nhì Nghèo)

Chòi nào có con bài Nhì Nghèo thì gõ 3 tiếng mõ, anh Hiệu cầm con bài tỳ Nhì Nghèo vội vàng đem đưa cho chòi có gõ mõ đó. Xong, anh trở lại vị trí của mình, cầm ống thẻ bài tỳ xóc 1 hồi rồi rút ra hô:

Huớ mà huơ!

Anh say chi say hủy, say hoài

Đã say quá chén còn nài uống thêm

Say sưa đôi mắt lim dim

Đường đi trơn trợt còn tìm thấy ai?

Huớ là con Ngũ Trợt! .v.v…

Điệu hô Bài Chòi ban đầu cũng rất đơn giản, dần dần anh Hiệu đã sáng tạo ra có giai điệu hay và hấp dẫn hơn, anh đã ứng tác những câu dài 4, 6 câu lục bát, rồi lên 10 hoặc 12 câu… Những câu có nội dung hấp dẫn, vui vẻ, hoặc có tính đả kích thói hư tật xấu trong xã hội, được người chơi hưởng ứng, tuy nói về những chuyện của làng xã, miễn sao đến câu cuối có chữ của con bài, hoặc nói bóng gió để người chơi đoán ra là được. Ví dụ:

1. Đi đâu mang sách đi hoài

Cử nhân chẳng có tú tài cũng không?

Huớ là con Nhứt Trò.

2. Huớ mà huơ… Lội suối trèo non

Tìm con chim nhỏ

Về treo trước ngõ

Nó gáy cúc cu

Huớ là con Chín Cu .v.v…

Bộ bài để đánh Bài Chòi chính là bộ bài “Tổ Tôm“, có nơi gọi là “Bài Tới”, hay “Bài Trùng” gồm 3 “Pho”.

Pho Văn: Các con bài có tên: Tráng Hai, Ba Bụng, Tú Tượng, Ngũ Rún, Sáu Miểng, Bảy Liễu, Tám Miểng, Chín Cu, Ông Ầm, Chín Gối.

Pho Vạn: Nhứt Trò, Nhì Bí, Tam Quăng, Tứ Móc, Ngũ Trợt, Lục Trạng, Thất Vung, Bát Bồng, Cửu Chùa, Bạch Huê…

Pho Sách: Nhứt Nọc, Nhì Nghèo, Ba Gà, Tứ Sách, Ngũ Trưa, Sáu Hột, Bảy Thưa, Tám Dây, Cửu Điều, Tứ Cẳng.

Mỗi pho có 10 lá bài. Với hệ thống dựng 9 chòi chỉ có 27 cặp. Nếu chơi với hệ thống 11 chòi phải có 33 cặp, nên người ta thêm vào 3 lá. Ông Ầm đen, Cửu Điền đen và Tứ Cẳng đen. Ba con bài này trong bộ bài đều đỏ để dễ phân biệt.

Toàn bộ bộ bài có 30 con đều màu đen. Riêng 3 con Bài thêm là Ông Ầm đen- Cửu Điều đen, Tứ Cẳng đen- Để phân biệt với 30 con đen kia, người ta in 3 con này đều màu đỏ để không nhầm lẫn.

Hội chơi Bài Chòi trong các ngày Tết, có khi còn kéo dài thêm mấy ngày nữa mới thôi. Các anh Hiệu không còn nơi làm ăn, họ phải đi hát dạo ở những nơi tụ họp đông người, không có chòi thì họ trải chiếu ở sân đình, ngõ chợ để hát, ai hảo tâm cho tiền để họ sinh sống. Họ phải hát Bài Chòi bằng các bài lục bát dài có nội dung, cốt truyện quen thuộc như Ông Xã Bà Đội, Lâm Sanh, Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, bắt đầu có các nhân vật biểu diễn các vai trong truyện, có thay đổi quần áo cho phù hợp. Từ đó thành các tiết mục sân khấu Ca kịch. Họ tập họp thành “gánh” có ba bốn anh Hiệu nhập lại đi diễn quanh làng để kiếm kế sinh nhai. Các “gánh” Bài Chòi thường là một gia đình có vợ chồng, mẹ, cha, anh chị em cùng nhau, hoặc rủ thêm vài ba người bạn bè lập thành gánh với cái trống, vài cây đàn, cặp sanh là đi biểu diễn được. Đêm đêm, trên 3, 4 chiếc chiếu to trải ở sân nhà nào đó, với vài ngọn đèn dầu phụng hoặc dầu dừa, không có phông màn, họ chỉ mặc quần áo thường ngày mà biểu diễn, chỉ dùng cái khăn bịt đầu và cái nón lá, cái thắt lưng, thế mà họ đã đi biểu diễn khắp nơi, đến đâu họ cũng được nhân dân đón rước nồng nhiệt. Giai đoạn này gọi là Bài Chòi trải chiếu.

Nội dung là các bài chòi lẻ độc tấu, hoặc nam nữ đối đáp như hai vợ chồng, hay vài ba người thay nhau kể một câu chuyện có đầu, có đuôi như chuyện Lục Vân Tiên, Phạm Công Cúc Hoa, Thoại Khanh Châu Tuấn… Họ lấy từ cốt truyện đó mà sáng tác chỉ vài ba nhân vật nào đó, để diễn mà thôi. Tùy theo lực lượng và khả năng của “gánh” mà họ sáng tác có nhiều vai hay ít vai cho phù hợp. Từ lúc chỉ diễn trên tấm chiếu, hoặc dưới đất, lúc này họ đã diễn có cốt chuyện như một vở Ca kịch thật sự, khiến cho người xem càng ngày càng đông, không thể nào giữ được trật tự của buổi biểu diễn, nên họ phải mượn 3, 4 bộ phản rồi kê con ngựa và lót ván lên cao, như một sân khấu trống 4 mặt, để người xem khỏi chen lấn. Giai đoạn này gọi là “Bài Chòi từ đất lên giàn” (Sân Khấu).

Khi đã có sân khấu rồi, các “gánh” phải lo các khâu của đêm diễn, sao cho nó “bề thế” hơn khi còn diễn trải chiếu, thế là về nội dung phải có “vở kịch”, họ ngồi lại với nhau và bàn bạc, kẻ thêm, người bớt về cốt chuyện, về câu hát, về nhân vật, sao cho ăn ý, rồi “liệu cơm gắp mắm”, nhắm anh chị nào có giọng hát hay, có mặt mũi sáng sủa, có điệu bộ dễ nhìn mà sắp xếp vai để cùng nhau tập luyện. Các cô gái thì có kiềng vàng, bông tai, thêm cái xây thêu tua quanh cổ. Thắt lưng xanh, vàng, đầu bịt khăn, hay vắt vai tùy từng nhân vật mà ăn mặc cho phù hợp. Con trai thì khăn đóng, áo the, quần trắng, có thắt lưng điều, hay hoa lý, chân đi guốc hay giày hạ, tùy vai mà sắm sửa cho đúng. Về nhạc thì cái trống, cây đàn nhị, cặp song loan, thêm sáo, phèng la, có gánh còn có kèn nữa. Về ánh sáng thì dùng cái nắp vung đất đặt ngữa lên, đổ dầu phụng và 9, 10 cái bất thắp lên. Trước sân khấu và 2 bên có chừng 3, 4 cái đèn cũng đủ sáng, để xem mặt diễn viên. Đồng bào nghe rao bảng, từ trẻ con, đến trai, gái, ông bà già, ăn cơm tối xong, họ kéo nhau đến sân khấu Bài Chòi để xem; với giá vé 2 xu cho trẻ em, 3 xu cho người lớn. Có người hứng chí còn ném tiền thưởng lên sân khấu cho anh, chị nào sắm vai hát hay diễn giỏi, tiếng đàn, tiếng ca Bài Chòi vang lên trong đêm, mọi người say sưa thưởng thức tài nghệ của các vai diễn.

“Ở Bình Định vào những năm 1930, 1935 đến năm 1937, xuất hiện nhiều “gánh Bài Chòi” như gánh Ông Sáu Cóc, gánh vợ chồng Ông Trang, gánh vợ chồng anh Sinh ở An Thái, gánh vợ chồng chị Lợi ở Phước Nghĩa, gánh vợ chồng anh Dần ở Bồng Sơn, gánh vợ chồng anh Miệt lấy tên là “Long Vân“, gánh anh Phạm Đình Chi lấy tên là “Ý Chung”, gánh cụ Lang, cụ Hượt lấy tên là “Ý Đồng” rồi “Đồng Hòa”… Các nghệ nhân Hát Bài Chòi nổi tiếng ở Bình Định các năm ấy có ông Năm Oanh ở An Lương (Phù Mỹ), Thầy Ma Mại (Thầy Thủy), ông Chín Oanh ở Kiến Hàn (An Nhơn), ông xã Sáu Sơn ở Nhạn Tháp (An Nhơn), ông Trương Ân ở An Thái (An Nhơn), hiện nay còn một số nghệ nhân tham gia Câu lạc bộ Bài Chòi cổ của anh Phan Ngạn như nghệ nhân Lê Thị Đào (Minh Trung), nghệ nhân Trần Thị Xuân Mai, bà Nguyễn Thị Đức, bà Cao Thị Bĩnh (Hồng Lợi), các cụ đã ngoài 70 tuổi nhưng tiếng hát vẫn còn hay và thường xuyên đi biểu diễn khắp làng xã trong tỉnh”. (Hoàng Lê)

Các gánh Bài Chòi hoạt động mạnh nhất cho đến ngày Cách Mạng Tháng Tám 1945. Trong những năm trước Cách mạng Tháng Tám, các gánh Hát Bội, Cải lương biểu diễn rất mạnh khắp mọi nơi. Các gánh Bài Chòi sinh sau đẻ muộn, nên phải tìm mọi cách để cạnh tranh, để kiếm sống và tồn tại bộ môn này. Các diễn viên Hát Bội, Cải lương và nhạc công của hai ngành này cũng tham gia biểu diễn Bài Chòi, do đó họ đưa một vài câu ca Cải lương, câu hát Tẩu, Hát Nam của Tuồng vào, khiến cho Bài Chòi có sự giao lưu và ảnh hưởng rất lớn trong Quan Công phục Huê Dung, có mở đầu bằng nói lối Tuồng và chen vào giữa bằng câu hát Nam, hát Khách. Nhạc còn chơi đệm các bản Kim Tiền, Ngũ Điểm, Khổng Minh tọa lầu, thêm một sắp Tây Thi, một lớp Xàng xê của Vọng cổ vào để câu khách. Sự vay mượn, giao lưu để câu khách có tính tự phát và tùy tiện, thiếu tính nghệ thuật đó, đã bị thời gian chọn lọc và loại bỏ. Cũng nhờ đó Bài Chòi mới có thêm điệu Hò Quảng, Điệu Cổ bản ảnh hưởng điệu Nam Xuân của Tuồng. Điệu Hò Quảng đã ảnh hưởng các bài bản Quảng của Cải lương rất đậm nét, nhưng đã bị “Bài Chòi hóa” bằng lời thơ lục bát nên khi hô lên ai cũng nói đó là Bài Chòi.

Sau Cách Mạng Tháng Tám, Bài Chòi phát triển mạnh để phục vụ nhân dân khắp các tỉnh từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa… Các Đoàn Văn Công, các Đội Văn nghệ quần chúng trong chương trình biểu diễn đều có Hô Bài Chòi, Ca kịch Bài Chòi 1 màn, chen kẽ với Múa, Ca, nói thời sự, tuyên truyền giáo dục nhân dân với các nội dung “Học bình dân học vụ, đóng thuế nông nghiệp, đi Tòng quân, công tác địch vận, tăng gia sản xuất, đánh giặc giữ làng…, ca ngợi người tốt, đả kích thói hư tật xấu. Các đơn vị nghệ thuật đã hoạt động suốt trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở Liên Khu Năm, từ Thanh Thiếu niên, dân quân du kích, các mẹ chị, trong cơ quan, trường học, quân đội, anh chị em cán bộ làm công tác Văn hóa Văn nghệ, Tuyên truyền xung phong đều đã nghe có người còn thuộc các Bài Chòi: ca ngợi anh Bế Văn Đàn, chị Nguyễn Thị Chiên, anh Cù Chính Lan, em Đằng Anh Dũng, các vở Ca kịch Bài Chòi như: Giải phóng Kon Tum, giải phóng Man – Đen, Hạ đồn Tú Thủy, Tây cướp thịt heo, Bắn máy bay bà già, Thư em gái gởi anh bộ đội… Bài Chòi đã hoàn thành nhiệm vụ văn nghệ phục vụ chính trị, có công trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Liên Khu Năm một cách tự hào.

Sau ngày Hòa bình được lập lại, Đoàn Văn công Liên Khu Năm tập kết ra Bắc, đã được Trung ương Đảng, Bộ Văn hóa thành lập Đoàn Ca kịch Liên Khu Năm từ năm 1956 là thành viên đứng trong đại gia đình Sân khấu Việt Nam.

Ở Miền Nam, với truyền thống lấy Văn nghệ Dân gian, các điệu Hò, Vè, Bài Chòi, Dân ca để sáng tác tiết mục Văn nghệ phục vụ nhân dân và bộ đội đánh Mỹ – Ngụy cũng rất có hiệu quả, được Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng Trung Trung Bộ, Ban Tuyên huấn khu và các Tỉnh đã thành lập các Đoàn Văn Công giải phóng phục vụ ở chiến trường. Các Đoàn Văn Công giải phóng các Tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đều có Đoàn Kịch dân ca Bài Chòi hoạt động suốt mấy chục năm chống Mỹ – Ngụy và khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam thống nhất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các ngành Văn hóa nghệ thuật, Các Đoàn văn công được phát huy và bảo tồn vốn văn nghệ dân gian, đậm đà bản sắc dân tộc có khoa học hiện đại và tiến bộ không ngừng…

Chúng ta những người làm công tác nghệ thuật là các tác giả kịch bản, âm nhạc, đạo diễn, họa sĩ, biên đạo, nghiên cứu lý luận, các diễn viên, những người có trách nhiệm với nhiệt tình và am hiểu nghệ thuật “Ca kịch Bài Chòi” sẽ góp phần xây dựng sân khấu này càng phát triển và đơm hoa kết trái hơn nữa, xứng đáng với sự có mặt của một loại hình nghệ thuật mới trên Sân khấu Việt Nam.

(Trích từ tập sách “Âm nhạc kịch dân ca”-NXB Sân khấu 2003)

T.H

http://vannghedanang.org.vn/nonnuoc/chitiet.php?id=53&so=39


[1]Tạp chí Sân khấu Xuân Kỷ Tỵ – 1998 – Nguyễn Xuân Đà.

Xây dựng hồ sơ trình UNESCO công nhận Bài Chòi là di sản văn hóa


Xây dựng hồ sơ trình UNESCO công nhận Bài Chòi là di sản văn hóa

 
1
Hát Bài chòi tại Đình làng Túy Loan. (Ảnh: Trần Lê Lâm/TTXVN)

Cuối tháng 8/2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công bố thêm 19 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Trong số 19 di sản phi vật thể vừa được công nhận có nghệ thuật Bài Chòi của các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam, góp phần tạo thuận lợi cho việc xây dựng hồ sơ “Tục chơi Bài Chòi mùa Xuân của người Việt” sẽ được gửi tới trình Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) xem xét ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2016.

Thông tin từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, việc xây dựng hồ sơ quốc gia về nghệ thuật Bài Chòi dân gian hiện nay đã được giao cho Viện Âm nhạc (Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam) và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Định phối hợp thực hiện. Theo đó, các đơn vị phải hoàn thành hồ sơ để Việt Nam trình UNESCO trước ngày 31/3/2015.

Phạm vi thực hiện hồ sơ quốc gia Bài Chòi gồm 11 tỉnh, thành phố miền Trung từ Quảng Bình tới Bình Thuận (không bao gồm Tây Nguyên), gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có văn bản gửi tới các tỉnh, thành phố yêu cầu cử lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tham gia ban chỉ đạo xây dựng hồ sơ; các Sở phối hợp với Viện Âm nhạc (Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam) thực hiện kiểm kê di sản nghệ thuật Bài Chòi trên địa bàn.

Theo giáo sư Hoàng Chương, Tổng Giám đốc Trung tâm bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, Cố vấn Hội đồng xây dựng hồ sơ di sản của nghệ thuật Bài Chòi, đây là một sản phẩm văn hóa độc đáo của vùng đất Trung Bộ, một trong những loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian mang đậm chất sân khấu nhỏ, đầy tính ngẫu hứng, được nhiều người dân vùng nông thôn tham gia.

Giáo sư Hoàng Chương cũng cho biết hội Bài Chòi luôn được người dân miền Trung đưa vào hàng đầu danh sách những trò chơi lễ hội Xuân tại các tỉnh Nam Trung Bộ. Mỗi khi có hội chơi bài chòi là người dân trong vùng lại nô nức kéo nhau đến tham gia. Và hô bài chòi cũng là thể loại dân ca độc đáo của người dân khu vực Nam Trung Bộ.

Bên cạnh những giá trị về văn hóa, nghệ thuật, hát bài chòi còn mang đậm tính nhân văn, tính giáo dục về tình yêu quê hương, đất nước, yêu con người… thông qua những câu hô hát (còn gọi là câu Thai).

Thông qua nội dung của những câu hát, có thể tìm thấy trong đó sự ca ngợi tình thương yêu cha mẹ, tình nghĩa thầy trò, tình nghĩa vợ chồng… Không chỉ mang đậm tính nhân văn, mà nội dung các câu hát trong nghệ thuật bài chòi còn mang đậm tính giáo dục về đạo đức, về nhân cách, lối sống cao đẹp, hướng con người đến những giá trị, chuẩn mực đạo đức cao đẹp hơn.

Các giá trị văn hóa, ý nghĩa nhân văn, giáo dục sâu sắc của loại hình nghệ thuật này là giá trị dân gian đặc biệt, gắn với đời sống người dân và cũng chính là những giá trị độc đáo, đặc sắc cần làm nổi bật trong hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Trong nhiều thế kỷ qua, nghệ thuật Bài Chòi đã dần trở thành nếp sinh hoạt văn hóa, là món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân duyên hải miền Trung. Tuy nhiên, hiện nay ở nhiều địa phương loại hình nghệ thuật này đã dần mai một, chỉ còn Bình Định, Quảng Nam, Khánh Hòa vẫn còn lưu giữ; đặc biệt, Bình Định là địa phương thực hiện khá tốt việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của bài chòi.

Bài Chòi cũng đã có những bước phát triển chuyên nghiệp nhưng lại mất đi tính dân gian. Việc đào tạo đội ngũ nghệ nhân kế cận hát Bài Chòi khá là khó khăn bởi lớp trẻ ngày nay đã không còn nhiều người thích hát dân gian như trước.

Dịp Quốc khánh vừa qua, tại phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam đã lần đầu tổ chức hội thi hát Bài Chòi phục vụ khách du lịch tham quan. Đây là lần đầu tiên kể từ sau năm 1975 đến nay, hội thi hát Bài chòi được Thành phố tổ chức.

Cũng tại Hội An, từ những năm 90 thế kỷ trước đã duy trì hội chơi Bài Chòi ở cơ sở, từ khi Phố cổ Hội An được công nhận Di sản Văn hóa Thế giới, trò chơi này được phục hồi, phục vụ du khách hàng tuần, hàng tháng và vào các “Đêm Phố cổ”./.

 
Tin gốc: http://www.vietnamplus.vn/xay-dung-ho-so-trinh-unesco-cong-nhan-bai-choi-la-di-san-van-hoa/280282.vnp
http://baichoi.com/xay-dung-ho-so-trinh-unesco.html

Đề xuất Bài chòi là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, VIETNAM


Thứ hai, 13 Tháng 2 2012 09:52

Đề xuất Bài chòi là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

Written by  ĐCSVN

 

Viện Văn hóa, Nghệ thuật Việt Nam cho biết, trong thời gian tới, Bài chòi sẽ được ưu tiên lập hồ sơ khoa học trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

 

 

Trò chơi Bài chòi và hát dân ca Bài chòi có lịch sử hàng trăm năm ở các tỉnh Nam Trung Bộ, bắt nguồn từ quá trình lao động sản xuất, giao thoa văn hóa và sự sáng tạo nghệ thuật của người dân. Bài chòi đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa, là món ăn tinh thần không thể thiếu được của nhiều tầng lớp nhân dân, thu hút cả người già và lớp trẻ ở mọi vùng miền, không những trong dịp tết mà còn ở các lễ hội của địa phương.

Trò chơi Bài chòi được tiến hành với 32 tấm thẻ bài, trong không gian là 9 chiếc chòi làm bằng tre lợp tranh hay rạ. Thường được tổ chức vào ngày mồng 1 Tết, nhưng hiện nay, hội Bài chòi không chỉ diễn ra trong những ngày đầu xuân mà còn kéo dài cả tháng Giêng, hay trong các dịp lễ hội truyền thống khác.

Hội Bài chòi thường được tổ chức ở những nơi công cộng rộng rãi, thoáng mát như ở ngã ba đầu làng, sân chợ, sân đình… Tuy nhiên, trong những năm gần đây, loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian này cũng đang gặp nhiều khó khăn do thiếu đội ngũ trẻ kế cận. Vì vậy, công tác bảo tồn là hết sức cấp bách.

Được biết, Đà Nẵng là 1 trong 8 tỉnh, thành phố ở khu vực Nam Trung Bộ được đề nghị khẩn trương làm công tác kiểm kê khoa học di sản văn hóa phi vật thể đối với Bài chòi.Trên cơ sở đó, Viện Văn hóa, Nghệ thuật Việt Nam sẽ xây dựng, hoàn chỉnh hồ sơ báo cáo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để đề nghị Chính phủ trình UNESCO xét duyệt và công nhận Bài chòi là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong thời gian sớm nhất./.

http://www.qta.org.vn/index.php?option=com_k2&view=item&id=220:%C4%91%E1%BB%81-xu%E1%BA%A5t-b%C3%A0i-ch%C3%B2i-l%C3%A0-di-s%E1%BA%A3n-v%C4%83n-h%C3%B3a-phi-v%E1%BA%ADt-th%E1%BB%83-c%E1%BB%A7a-nh%C3%A2n-lo%E1%BA%A1i&Itemid=98&lang=vi

This blog is focused on Trân Quang Hai