TRẦN VĂN KHÊ : TẠI ĐẠI NHẠC HỘI BUDAPEST TRƯỚC HÀNG 70 NƯỚC KHẮP NĂM CHÂU Bạn Trần-văn- Khê đã lãnh giải nhì cho Việt-Nam về cổ-nhạc


TẠI ĐẠI NHẠC HỘI BUDAPEST TRƯỚC HÀNG 70 NƯỚC KHẮP NĂM CHÂU

Bạn Trần-văn- Khê đã lãnh giải nhì cho Việt-Nam về cổ-nhạc

Năm 1949, nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê đã “đơn thân độc mã” thi âm nhạc tại Đại nhạc hội Budapest (Hungari) với 70 nước tham gia rất “hoành tráng”. Ngay sau kỳ thi, chàng Trần Văn Khê đã gửi thư về nước báo tin vui. 

 tvk budapest 1949 1
TRẦN-VĂN-KHÊ trước khi Đại Hội Budapest – Ảnh Việt báo 18-1949

Tuần san Việt báo số 18-1949 ở Sài Gòn đã đăng toàn văn lá thư – bài viết này của chàng nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê, ngay sau trang 3 xã luận. Và hình bìa tạp chí là hình nhạc sĩ Trần Văn Khê.

TTO xin mạn đăng bài viết cách đây 66 năm này của chàng nhạc sĩ trẻ tài hoa Trần Văn Khê mà ngay từ lúc ấy đã có một  tình yêu dân tộc, quê hương mãnh liệt khi “đem chuông đi đấm xứ người”. 

[Bài đăng xin được phép giữ nguyên cách hành văn, từ dùng và quy cách chính tả của người Nam bộ, người Sài Gòn lúc ấy (1949)]

 tvk budapest 1949 2
 
Hình bìa tuần san Việt báo số 18-1949

“…Vẫn biết rằng nhờ toàn-dân Việt-Nam đang anh-dõng tranh-đấu, nhờ những lý-do chánh-trị, họ phải để cho Việt-Nam có một hai kết-quả gì, nhưng tôi sung-sướng vì đã được đem chút tài mọn mà phụng-sự Tổ-quốc: nước Việt-Nam yêu quý của chúng ta”. – TRẦN-VĂN-KHÊ

Tại…

Gửi những anh chị em quen biết,

Budapest, 25-8-49

Tôi gởi thơ nầy để các bạn chia vui với tôi và để khoe với các bạn rằng trong kỳ thi đàn cổ với các nước tại Budapest, tôi đã đem GIẢI NHÌ cho Việt-Nam ngang hàng với Mông-cổ, thua Nga mà hơn Lỗ-ma-ni (Rumani) và Hung-gia-lợi (Hunggari).

Hôm tôi được mời lại Phòng Văn-Hóa của Đại-Nhạc-Hội Budapest để bàn về những cuộc tranh tài về nhạc và khiêu-vũ, tôi đã nói với những nhân-viên Phòng Văn-Hóa rằng: Nước Việt-Nam đã xa xôi lại còn đang tranh-đấu giành tự-do thành ra các nhân-tài vì nhiệm-vụ kháng chiến không thể dự Hội-nghị. Chúng tôi là những sinh-viên ở Âu-châu, bất tài, chỉ cố gắng trình-bày phần nào của văn-hóa Việt-Nam, vì đó là bổn-phận của chúng tôi chứ ra mà tranh tài với các nước thì chúng tôi không dám”.

Nhưng nhân-viên Phòng Văn-Hóa nói rằng: “Nếu Việt Nam không tranh tài về các môn đờn piano hay violon thì ít ra Việt-Nam cũng có một lối nhạc cổ đặc biệt và các nước như Mông-cổ, Hung-gia-lợi cũng sẽ đem nhưng cây đàn cổ thô sơ ra dự thi, anh cố gắng để Việt-Nam có thể góp mặt với các nước chớ!”.

Bảo tôi ra tranh tài thì tôi không dám. Nhưng bảo tôi rán dự thi để Việt Nam được góp mặt với các nước thì tôi khó thể chối từ. Thế là tôi nhận lời.

Về nhà tôi nói với anh em:

“Chắc chắn thể nào mình cũng hạng chót, nhưng ít ra trong lúc dự thi và khi có kết-quả, dầu hạng chót đi nữa, mình cũng làm cho tên tuổi Việt-Nam được người ta để ý thêm một chút. Tôi kỳ này thật là “liều mạng già” làm lý ra dự thi để cho tên Việt-Nam được nhắc nhở đến”.

Tuy nghĩ thế nhưng lòng vẫn phập phồng. Và chiều ngày 17-8-49 tôi o cây đàn cò “chết nhát” của tôi lại, gắn cục tòng chỉ cho ngay, thay dây mới, phủi bụi cây đàn tranh và nhấn dây cho nó êm dây. Đúng 4 giờ chúng tôi lại Magyar Synhez mà dự thi.

Trong lúc chờ đợi, tôi nghe người giới thiệu đọc bằng tiếng Nga, Pháp, Anh, Hung rằng hôm nay có những nước Tiệp-khắc, Hung-gia-lợi, Lỗ-ma-ni, Bảo-gia-lợi (Bungari) và Việt-Nam dự thi về nhạc và khiêu-vũ theo xưa; tôi đâm ra lo.

Đoàn Tiệp-khắc ra sân khấu với trên 80 thanh niên nam nữ hát những bài hát cổ và múa nhưng điệu đặc-biệt theo đồng quê.

Đoàn Bảo-gia-lợi đem trên 100 thanh-niên hợp-xướng những bản xưa và nhảy múa rầm rộ. Lại thêm có giàn nhạc violon đờn theo điệu triganest. Mặc dầu trời không nóng lắm mà tôi toát mồ hôi. Trời ơi! Người ta đi dự thi với hàng trăm người, với bao nhiêu bài hát điệu múa với cả giàn nhạc, mà tôi “đơn thân” với hai cây đàn quèn nầy tôi sợ làm xấu hổ cho Việt-Nam quá. Tôi nhớ lại ân hận rằng không năn nỉ anh Tư Huyện mượn cây đàn-cò cần, để cây đàn-cò bạch chảng của tôi ra sân-khấu dự-thi coi kỳ quá.

Trong khi đoàn Hung-gia-lợi ngoài nhiều lối khiêu-vũ theo xưa còn có thêm một giàn nhạc xưa với cây đàn giống như cây tam-thập-lục với mấy ống sáo bằng đồng bằng cây.

Đoàn Lỗ-ma-ni lựa ra hai người kỳ tài. Một em bé 13 tuổi thổi ông sáo 5 lỗ thổi những bài nhạc xưa giống tiếng sáo của mấy mục đồng đuổi trâu về xóm; một thiếu-nữ chỉ dùng một lá cây mà thổi một điệu nhạc xưa tiếng kêu tương tự như giọng kèn tiểu của nhạc ta. Rồi giàn đờn gồm có mấy cây đàn tam-thập-lục, đàn hình bầu dục như cây tỳ-bà. Thêm vào đấy bao nhiêu điệu múa tưng-bừng.

Chết tôi rồi! Áo tôi ướt đẫm mồ hôi, khi bỏ màn, người giới thiệu ra nói: “Bây giờ đến phiên anh V.K. biểu-diễn cổ nhạc Việt-Nam”.

Trái lại với quang cảnh tưng bừng màu sắc, rầm-rộ với những điệu khiêu-vũ trên sân khấu minh-mông chỉ “đơn thân” và “độc mã” với cây đàn xấu-xí.

Màn kéo lên.

Khán giả hơn ngạc nhiên vì từ 4 giờ tới bây giờ toàn những ban nhạc, những đoàn khiêu vũ bây giờ chỉ một người ngồi với một cây đàn dị kỳ.

Phóng viên các báo chụp hình. Ánh magne-sium làm chóa mắt tôi.

Khi lên dây xong, định thần lại, tôi thấy trên lầu 8 người giám khảo ngồi trước 8 tờ giấy trắng. Thính giả lặng thinh. Tôi nghe tim tôi đập mạnh.

“Cầu xin ông Tổ nhạc giúp cho tôi trong phen nầy”.

Những tay đàn lỗi lạc như Sáu Tửng, Tư Huyện, Sáu Quý, Chín Kỳ,v.v… các anh ở đâu để tôi lãnh trách nhiệm nặng nề là thay mặt cho cổ nhạc Việt- Nam đây?

Tôi bắt đầu rao ít câu. Tôi không rao theo các điệu cải lương. Tôi phỏng theo điệu sa-mạc rồi đặt ra nhiều câu với nhiều ngón run, ngón vuốt.

Hôm nay tôi để cả tâm hồn tôi vào đấy, tôi đàn bực trên rồi xuống bực đưới. Cả rạp im lặng nghe.

Dạo đàn trong 5 phút tôi ngâm 5 câu sa mạc vừa ngâm vừa đàn phụ họa theo. Dứt bài tiếng vỗ tay vang dậy cả rạp và họ vỗ mãi trong vòng gần 2 phút không ngừng. Tôi hơi vững lòng “lên tinh thần” lấy đàn tranh ra. Tôi nhấn trên một sợi dây đến 9 chữ đàn khác nhau. Phóng-viên các báo lại chụp hình một lần nữa. Tôi rao đàn tranh trong 5 phút lại bắt đầu ca bản “Bắc Cung Ai”. Lại cũng vừa đàn vừa ca. Trước khi ca tôi có cắt nghĩa sơ bằng tiếng Anh và tiếng Pháp ý nghĩa bài hát: “một thiếu phụ than thân trách phận”.

Tôi cố diễn tả sự đau đớn của thiếu-phụ bằng giọng ngân, bằng chữ nhất, bằng nét mặt, và khi dứt bài một tràng pháo tay vang dậy. Tôi phải trở ra chào thính-giả mấy lượt. Nhưng tôi nghĩ rằng chẳng qua là lối xã-giao chứ so với các giàn nhạc kia tôi còn cho mình kém quá.

Nhưng tôi đã rán hết sức tôi và tôi đã thành công: tôi đã làm được một số thính giả cảm động vì bài hát.

Nhiều phóng-viên các báo Hung, Tiệp, Lỗ đến hỏi tôi về cây đàn cò và đàn tranh và họ nói rằng đây là đầu tiên trong lịch-sử mà cây đàn tranh và đàn cò lên tiếng tại kinh đô nước Hung.

Cùng đi với tôi, anh Nguyễn-ngọc-Hà đờn bản Thiên-Thai bằng “guitare electrique” nhưng khi nhà báo đến hỏi cây đàn gì anh Hà bảo là cây đàn Lục-huyền cầm Hạ-uy-di cho nó có cái tên Việt-Nam. Anh Hà rất được hoan-nghinh với cây đờn ấy và có điều lạ là dân chúng Hung chưa nghe guitare hawaienne lần nào cả và rất thích giọng đàn uốn éo.

Làm xong phận sự, chúng tôi về ra sung sướng ở chỗ VIỆT-NAM CŨNG ĐÃ GÓP MẶT VỚI CÁC NƯỚC KHÁC trong cuộc tranh tài nầy.

Vài hôm sau nước Nga với một nhạc công danh tiếng biểu diễn balalaika và những cây đàn cổ khác, nước Mông Cổ với cây đàn tami lúc khẩy lúc kéo. Nhạc sĩ Mông-cổ kéo rất hay tiếng kêu như tiếng violoncelle.

Đến bữa 24-8-49, sau khi ban giám khảo cọng điểm lại thì cô thông ngôn hối hả chạy cho tôi hay. “Anh Khê này! Bốn giờ chiều nay anh lại Âm-nhạc-viện mà lãnh thưởng. Phòng Văn-hóa vừa cho hay anh được giải thưởng về nhạc. Anh thay đồ đi mau. Tôi có mấy lời khen anh đấy!”.

Thay đồ đi mà tôi vẫn nghĩ rằng có lẽ mình hạng chót nhưng họ cho giải an ủi hoặc một cấp bằng danh dự chi chi chớ chẳng lẽ mình hơn người ta.

Đến Âm-nhạc-viện thấy bao nhiêu đại biểu các nước ngồi thật. Trên bàn danh dự có Chủ-tịch Thanh niên thế giới, Chủ-tịch sinh viên thế giới, 14 viên giám khảo, các nhạc sư nhạc trưởng các nước.

Hôm ấy, Nga được tất cả 50 giải thưởng đàn violon, đàn piano, hợp xướng, độc xướng, kèn trompette v.v… các anh nhạc sĩ Nga hạng nhứt cả.

Đến phiên cổ nhạc, hạng nhứt anh Garayev (Nga) hạng nhì Biemian (Mông Cổ) và tôi (Việt-Nam), hạng ba Florika (Lỗ-ma-ni) và Beres (Hung-gia-lợi).

Khi kêu đến tên tôi, tôi đi lên sân khấu và trong lúc Chủ-tịch phiên nhóm bắt tay tôi và cả rạp vỗ tay, phóng-viên báo chụp hình, tôi sung sướng vì đại-biểu các nơi không phải hoan-nghinh cá nhân tôi mà hoan nghinh cả một nền cổ nhạc Việt-Nam, tôi sung-sướng vì tôi đã không làm hổ mặt Việt-Nam.

Và nói ra chắc bạn cười tôi sao yếu tánh chớ trong những trường-hợp thế nầy tôi thấy mặt tôi nóng bừng và nước mắt từ đâu tuôn dài theo má khi tôi trở về chỗ ngồi.

Lúc đứng trên sân khấu tôi cố dằn và rán cười nhưng khi về đến chỗ ngồi lại thấy nước mắt đâu nó tuôn ra như thế?

Dở quá bạn nhỉ? Nhưng nhạc-sĩ nào lại chẳng dễ cảm xúc hơn người!

Hôm sau, khi các báo đăng kết quả, khi các đài phát thanh loan báo tin các cuộc tranh tài, nhiều bạn nhạc-sĩ các nước tìm tôi hỏi thăm về âm-nhạc Việt-Nam, về những cây đàn cổ. Tiếc rằng tôi không có những cây đàn sến, đàn kìm, đàn tỳ bà, đàn độc huyền để cho họ biết thêm, vì khi qua Pháp tôi chỉ đem được có hai cây đàn cũ mua lại của người ta. Nhưng hiện giờ tôi quí hai cây đàn ấy lắm. Chúng nó đã giúp tôi trong khi tôi trình bày cổ nhạc Việt-Nam và hôm 24-8, có lẽ tôi đã sống được một phút cảm động nhứt trong đời nhạc của tôi.

Vẫn biết rằng nhờ toàn dân V.N. đang anh-dõng tranh-đấu, nhờ những lý do chính-trị họ phải để cho Việt-Nam có một hai kết quả gì, nhưng tôi sung sướng vì đã được đem chút tài mọn mà phụng-sự Tổ-quốc: nước Việt-Nam yêu quí của chúng ta.

TRẦN-VĂN-KHÊ

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20150625/ban-tranvan-khe-da-lanh-giai-nhi-cho-vietnam-ve-conhac/766839.html

http://chengdec.blogspot.fr/2015/06/giao-su-tran-van-khe.html

TRÂM PHẠM : Đậm đà canh tôm nấu chua kiểu Nam Bộ


TRẦN THIỆN TÙNG : GS, TS TRẦN VĂN KHÊ: “Phải biết thương nghệ thuật cha ông”, VIỆT NAM


GS, TS TRẦN VĂN KHÊ:
 
“Phải biết thương nghệ thuật cha ông”
 
Thứ tư, 23/10/2013 – 03:14 PM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định    
 
 
“Phải biết thương nghệ thuật cha ông”
 
 
 
 

Tôi tới căn biệt thự mà chính quyền TP Hồ Chí Minh dành cho GS, TS Trần Văn Khê (trong ảnh) khi ông chính thức trở về Việt Nam sinh sống thì vị Giáo sư nổi tiếng ngoài 90 tuổi, tuy ngồi xe lăn nhưng vẫn miệt mài lên mạng đọc tin tức, gửi email. Ông trăn trở: “Tôi đã nói rất nhiều, viết cũng rất nhiều nhưng dường như không ai quan tâm, trong khi âm nhạc dân tộc đang chìm dần vào quên lãng”.

 

Đó có phải là điều đáng buồn cho nền âm nhạc truyền thống Việt Nam hiện nay, thưa GS?

Đáng sợ, đáng lo chứ không chỉ đáng buồn! Thanh niên xa rời âm nhạc dân tộc vì nhiều lẽ. Thứ nhất là do điều kiện lịch sử, nước ta bị thực dân Pháp đô hộ cả thế kỷ, họ không cấm âm nhạc dân tộc nhưng đẩy lùi âm nhạc Việt Nam vào bóng tối, làm người dân quên vốn quý dân tộc, đổ xô học âm nhạc phương Tây. Suốt hai cuộc chiến tranh, mọi lực lượng đổ xô đánh giặc giữ nước, văn hóa dân tộc gần như bị đứt đoạn. Thứ hai là bởi dân mình chỉ hãnh diện học âm nhạc bác học phương Tây, cầm cây violon thì khoe, học đàn cò thì giấu giếm. Đó là tâm lý mặc cảm của người Việt, coi cái gì của mình cũng thua người ta. Nước nhà thống nhất, Chính phủ phải ưu tiên cơm ăn, áo mặc nên âm nhạc bị sao lãng. Nhạc mới, thậm chí chất lượng kém cũng được trả cả triệu đồng, còn nhạc dân tộc thì vài chục nghìn đồng. Không ai muốn học nhạc dân tộc để rồi chịu cảnh nghèo túng. Dân chúng mải lo làm ăn, không giáo dục con cháu về thẩm mỹ âm nhạc dân tộc, trong khi ngôi sao Hàn Quốc đến thì đổ xô đi đón rần rần, còn âm nhạc dân tộc làm chương trình rất công phu như CLB Tiếng hát Quê hương phát 600 giấy mời nhưng chỉ có chừng 200 người tới. Chính quyền chưa chăm lo đúng mực tới đời sống của nghệ nhân. Trong khi đó, ở những đất nước như Hàn Quốc, người làm nghệ thuật dân tộc luôn được coi như báu vật quốc gia.

Nhưng thưa ông, cũng có ý kiến cho rằng, những nước có kinh tế phát triển thì mới có điều kiện đối đãi tốt?

Đây là do tư duy chứ đâu phải tại nghèo hay giàu! Ấn Độ không giàu có nhưng vẫn tôn trọng âm nhạc dân tộc. Trong đời sống xã hội hiện nay có nhiều thay đổi gây bất lợi cho âm nhạc dân tộc. Xưa mẹ ru con, “sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn”.

Nay mẹ không hát ru cho trẻ nhỏ thì khi lớn lên, chúng sẽ không thể nhớ và neo giữ âm nhạc dân tộc. Trước đây, người dân hò hát cho quên mệt nhọc, họ tham gia và là chủ thể tạo nên âm nhạc dân tộc, còn nay thì thường để máy phát thanh thu sẵn, thụ động nghe. Gia đình có điều kiện kinh tế ở thành phố thì cho con trẻ học trường quốc tế. Và còn do cách giáo dục trong nhà trường của chính chúng ta.

Xã hội phát triển như vậy thì sự thay đổi với cách nhìn nhận, thưởng thức âm nhạc dân tộc cũng là điều tất yếu chăng, thưa GS?

Nếu chỉ mất một, hai yếu tố thì không sao, nhưng nay chúng ta đã mất hết, mất cả tư duy lẫn tình yêu với âm nhạc dân tộc. Cần phải xem lại và lập lại tuần tự những điều đưa trẻ em đến gần vốn quý dân tộc như: tiếng hát ru, tổ chức những dàn hò khi làm việc, hát đối ca nam nữ trong lúc nghỉ ngơi…

Cơ quan quản lý nói, văn hóa Việt Nam phải có tính chất dân tộc, khoa học đại chúng, nên sáng tác điệu nhạc phải có tính đương đại mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Nói thì đúng nhưng dân chúng làm việc cực khổ mà chưa có đủ cơm ăn áo mặc, lấy đâu ra tiền mua đàn và trả học phí? Trong các nhạc viện, sinh viên không có tiền mua đàn piano thì có thể luyện tập với cây đàn của trường, còn với nhạc cụ dân tộc, sinh viên phải tự trang bị.

Tức là khi hô hào học nhạc dân tộc, mình không tự đầu tư thì ai sẽ đầu tư cho mình?

Đúng thế, Nhật Bản là nước công nghiệp gấp nghìn lần Việt Nam mà còn coi âm nhạc dân tộc là quốc gia chi bảo. Nếu mình không quan tâm thật sự thì ai có thể làm thay cho mình? Mẹ không biết ru con thì nên có chương trình hát ru để thay thế.

Chính quyền, báo chí cần tôn vinh người làm âm nhạc dân tộc. Muốn tìm lại âm nhạc dân tộc thì phải khuyến khích giá trị dân tộc, mà việc đầu tiên chính quyền phải bỏ kinh phí đào tạo, người thầy cũng không được giấu nghề và trò phải tầm sư học đạo. Học để hiểu, có hiểu mới thương, có thương mới tập luyện rồi mới biểu diễn thì âm nhạc dân tộc mới được hồi sinh, chứ nay thì tàn tạ lắm rồi.

Nhắc lại chuyện cũ, nếu năm 1976, GS không gặp NSND Quách Thị Hồ và ghi âm giọng hát của bà để chuyển tới các cuộc thi âm nhạc dân tộc của nước ngoài thì ca trù sẽ ra sao?

Thì sẽ bị rơi vào quên lãng. Khi tôi ra Hà Nội năm 1976, kiếm tiếng trống chầu còn không có, đờn cũng đờn lén, nay ở nhiều nơi có thể nghe được ca trù. Người Việt Nam thường không nhận ra vốn quý mình đang có, chỉ tới khi thế giới quan tâm tới một bộ môn nào đó thì mới… giật mình.

Chắc ông rất xót xa khi nhiều “báu vật quốc gia” hiện sống trong cảnh thanh bần và gần đây, nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu mất trong nghèo túng?

Thương xót không đủ mà phải đấu tranh cho họ. Khi có dịp, tôi luôn sẵn sàng giới thiệu chân giá trị khoa học và nghệ thuật của các bộ môn âm nhạc dân tộc. Người Việt Nam phải biết thương nghệ thuật của cha ông, thương người làm nghệ thuật.

Hiện nay chúng ta có một số loại hình nghệ thuật dân tộc được thế giới vinh danh. Nhưng đâu phải đợi UNESCO công nhận thì nó mới có giá trị mà đã có giá trị từ trước. Việc đưa ra thế giới để họ công nhận là tốt, vì trước đây vốn không ai để ý thì nay được quan tâm. Nhưng đó vẫn là cái nhìn của người ngoài, chẳng lẽ chính bản thân dân tộc Việt Nam không biết quý trọng vốn liếng cha ông mình?

Thời trai trẻ, được tiếp cận âm nhạc phương Tây, tôi thấy nó mới mẻ nên quyết định phải học. Tuy nhiên, mỗi âm nhạc có ngôn ngữ phù hợp với từng dân tộc. Khi bị đau, nằm ở nhà thương, tôi xoay 180 độ về với âm nhạc cha ông. Tôi chuộc tội với âm nhạc dân tộc bằng việc giới thiệu nó trên khắp thế giới và trong nước. Nhưng làm suốt đời chưa được thành công, mười phần thì cũng mới chỉ được tới năm, sáu.

GS Trần Văn Khê và NSƯT Trần Thị Tuyết tại một buổi thuyết trình biểu diễn nghệ thuật dân tộc ở tư gia.

Thưa GS, tôi cảm thấy sự ngậm ngùi, bất lực của một người tâm huyết trong giọng nói của ông?

Một con chim én không làm nên mùa xuân. Tâm huyết của 100 người trong xã hội không bằng một người có tâm trong cơ quan quản lý, vì quyền lực, tiền bạc nằm trong tay thì mọi yêu cầu sẽ được thực hiện dễ dàng.

Nhiều nếp văn hóa dân tộc, nhất là văn hóa ứng xử trong xã hội xuống cấp ghê gớm. Nhất là trong gia đình, xưa gọi dạ bảo vâng, đi thưa về trình thì nay không còn. Trong trường thì khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” nhưng thực chất thiếu tôn ti, trật tự. Ra ngoài đường không ít người không tôn trọng luật pháp.

Câu chuyện về giao thông cho thấy, người Việt Nam thường tôn trọng sự tự do của mình mà không tôn trọng sự tự do của người khác.

Tuổi cao, sức yếu nhưng ông vẫn miệt mài làm việc không ngừng nghỉ. Có vẻ như cho tới thời điểm này, âm nhạc dân tộc vẫn là nỗi canh cánh lớn nhất của ông?

Hồi nào tới giờ tôi vẫn vậy. Tôi thường đi nói chuyện âm nhạc dân tộc hoặc tổ chức những buổi nói chuyện, biểu diễn âm nhạc Việt Nam tại nhà, nhưng có mấy người trong giới chức quản lý tới nghe. Tôi chỉ mới thấy có chừng mươi người quan tâm thật sự. Tôi luôn ưu tư, nhưng nay ưu tư nhiều hơn nữa. Nhất là khi tuổi tôi đã cao, sức đã cạn mà chưa nhận thấy dấu hiệu gì đáng mừng.

Xin được chia sẻ với mối ưu tư lớn của giáo sư. Trân trọng cảm ơn ông.

“Hiện nay chúng ta có một số loại hình nghệ thuật dân tộc được thế giới vinh danh. Nhưng đâu phải đợi UNESCO công nhận thì nó mới có giá trị mà đã có giá trị từ trước. Nhưng đó vẫn là cái nhìn của người ngoài, chẳng lẽ chính bản thân dân tộc Việt Nam không biết quý trọng vốn liếng cha ông mình?”* GS, TS Trần Văn Khê là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Ông sinh năm 1921, trong đại gia đình có bề dày hoạt động âm nhạc nên từ nhỏ đã được học cổ nhạc.

Năm 1949, ông sang Pháp du học về âm nhạc, làm luận án tiến sĩ âm nhạc – văn học ở ĐH Sorbonne (Pháp). Từ năm 1963, ông dạy tại Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris .

Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác… Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, ông trở về nước sinh sống, tiếp tục nghiên cứu, giảng dạy âm nhạc dân tộc và đã hiến tặng cho TP Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc, tài liệu âm nhạc.

Ảnh trong bài do nhân vật cung cấp.

 
BÀI VÀ ẢNH: TRẦN THIỆN TÙNG

 

NGUYỄN MẠNH HÀ : GS.TS Trần Quang Hải: Nhạc Việt là từ tim, VIETNAM


GS.TS Trần Quang Hải: Nhạc Việt là từ tim

TP – Trong dịp nhà dân tộc nhạc học – GS.TS Trần Quang Hải về Việt Nam điền dã chuẩn bị cho hồ sơ di sản hát xoan đệ trình UNESCO, Tiền phong có cuộc trò chuyện cùng ông về di sản và những gì thật sự là âm nhạc Việt Nam.

Công tác tại Bảo tàng Con Người (Pháp) từ 1968 đến nay, Trần Quang Hải nghiên cứu chuyên sâu về kỹ thuật giọng hát.

 

Nhạc sĩ Trần Quang Hải trên đường phố cổ Hà Nội  – Ảnh: N.M.Hà


Ông có thể nói rõ về công việc đo tần số các bài quan họ của anh trong quá trình xây dựng hồ sơ quan họ trình UNESCO?

 

Tôi thể hiện trên máy tính kỹ thuật (rền, vang, nảy, luyến láy) của giọng hát. Như thế nào được cho là con kiến, là giọng tốt, giọng hay – mình đo để xác nhận. Trong đồ hình, cái lằn chính là âm chủ. Phía trên là những bồi âm. Giọng hát được luyện tốt có nhiều bồi âm.

Sau khi đo đạc, ông nhận xét gì về sự đặc sắc của quan họ? Nếu tư duy theo hình thức thì thấy loại hình âm nhạc này rất đơn giản. Chỉ có hai giọng mà hát y như nhau.

Cái đó mới khó! Hát hai giọng mà sao nghe thành một giọng mới đi tới chỗ tuyệt đỉnh. Làm sao nghe không phân biệt được hai người.

Hai người phải lựa nhau, phải ăn khớp: Một giọng dẫn, một giọng luồn. Giọng luồn đi theo chỉ chậm chừng 1/10 giây thôi. Khi hát phải nhìn nhau. Vậy mới phải ngủ bọn, kết nghĩa.

Đã thành cặp là chỉ hát với người đó thôi, cả mấy chục năm luôn. Cái đó là đặc trưng của quan họ, không nơi nào có. Quan họ hay ở chỗ người nào hát giỏi làm anh, không phải lớn tuổi làm anh như trong hát xoan.

Nếu hai người hát để ra hiệu quả như một người, vậy tại sao không đơn ca luôn?

Hát một mình giọng mỏng. Hai người giọng dày, vang hơn. Trong hợp xướng, lựa tới 10 người hát giọng tenor, 10 người hát giọng soprano… Vậy giọng mới vang to hơn nữa.

Hát hai giọng cường độ phải giống nhau, đừng giọng nào lấn át giọng nào. Cái đó khó lắm, phải luyện.

Hay mình cũng thử cho hơn hai người cùng hát quan họ?

Nếu thế nó lại đi đến chỗ không cần luyện kỹ thuật cho tốt nữa. Mà không chỉ hát không, quan họ phải tức hứng. Làm sao 10 người hát tức hứng được.

Khi canh hát đi tới chỗ giọng vặt, bắt đầu giai đoạn khó. Khi bên kia hát một bài, mình phải tìm cách đối về nhạc và lời. Sáng tác hai cái cùng một lúc rất khó.

Truyền thống quan họ có đặc trưng mỗi lần gặp nhau đẻ ra một số bài mới, tới hôm nay có hàng trăm bài mới. Chưa truyền thống nào có. Trống quân, Cò lả có một điệu thôi, chỉ chế lời.

Truyền thống quan họ dần mai một đi. Người hát không cần luyện giọng nữa mà đem mấy cô thanh nhạc trong nhạc viện ra hát quan họ. Quan họ cải biên có hòa âm, có dàn nhạc vào. Cái đó là đi sai đường.

Có thể coi việc hát đơn hoặc hát tốp cùng ban nhạc là một sự phát triển đi lên của quan họ?

Cái đó là đi xuống! Là anh vọng ngoại, bắt chước Tây phương. Truyền thống, quan họ làm gì có hòa âm. Hòa âm là của Tây phương. Nhạc Việt Nam là đơn âm, đơn điệu.

Hòa tấu nhạc cụ truyền thống của ta tạo ra nhạc đa âm chứ không phải nhạc hòa âm. Tức dựa trên một âm giai ngũ cung (điệu), mình chơi tất cả những nốt mà không cần biết nó (tạo ra) quãng mấy, mình nghe khoái lỗ tai thôi.

Ví dụ bây giờ anh vô trong Nam đàn nhạc tài tử, nếu đàn dây Bắc, thì anh phải biết chơi hò xừ xang xê công líu, chứ hò xư xang xê công liu – qua điệu Oán rồi.

Thoái bộ chứ không phải tiến bộ

Nhưng nếu có người nói rằng như thế mới là hội nhập quốc tế, tiếp thu văn minh nhân loại làm giàu cho văn hóa nghệ thuật của mình thì sao?

Có nhiều cách làm giàu cho văn hóa. Anh phải lấy những gì hợp với truyền thống VN. Cho nó đổi màu sắc đi trong tinh thần VN. Đó là anh tiến bộ.

Bây giờ nếu anh cho rằng phải Tây phương hóa mới tiến bộ là sai. Ai làm nhạc mới, nhạc nhẹ, nhạc tiêu khiển, cứ việc. Nhưng không thể nói đó là sự khai triển của truyền thống.

Tức là truyền thống quan họ ngừng ngay chỗ đó. Mấy người khác rút bài quan họ ra muốn làm gì thì làm nhưng đó là nhạc mới, không thể nói đó là quan họ.

Giả sử chế ca trù ra hát thành bè, hoặc có đàn đáy không buồn quá, giờ cho đàn tranh vào, thổi sáo vào. Cái đó không phải làm giàu mà là làm hại, làm mất đi giá trị đặc thù trong ca trù mà thế giới không có. Làm sao phát triển không đi ngược tinh thần dân tộc. Còn không là thoái bộ chứ không phải tiến bộ.

Hơi giống trường hợp đẽo phím ghi ta bắt nó đàn theo ngũ cung của mình?

Trong dàn nhạc cải lương tài tử miền Nam có 3 cây đàn của Tây phương hội nhập vào là ghi ta phím lõm có 6 dây, lời hơn, giống như đờn 3 cây đàn nguyệt; cây violon thay thế cho 2 cây đàn nhị; và ghi ta Hawaii. Từ ghi ta phím lõm đi tới ghi ta điện – chạy chữ rất mau không cần lõm phím nữa.

Những nhạc cụ như trompet, piano, tam thập lục… âm thanh cố định, không đàn nhạc của ta được.

Ông đánh giá thế nào về việc giao hưởng hóa dàn nhạc dân tộc trong nước gần đây?

Cái đó là đem nhạc cụ truyền thống phục vụ nhạc Tây phương. Cũng là một kiểu dàn nhạc giao hưởng, thay vì toàn nhạc cụ phương Tây thì cho nhạc cụ Á châu vào, bắt phải đàn đúng theo nốt ghi trên bản nhạc. 

Để ý ban nhạc 12 cô gái Trung Quốc chơi nhạc cụ dân tộc, phía sau organ rầm rầm. Cái đó để giải trí. Vì vấn đề kinh tế, họ phải bỏ nhạc cổ truyền.

Giờ VN cũng có mấy nhóm bắt chước. Tưởng là mình cấp tiến. Không có. Cái đó là thoái bộ.

Người ta nghe mà người ta cười chứ không phải thấy thấm thía trong lòng. Tại mấy người đó đàn theo kiểu trong đầu chứ không phải trong tim. Nhạc VN là đàn tim chứ không phải đầu.

Cải biên cũng không có gì xấu, nhưng bên cạnh đó, vấn đề bảo vệ vốn cổ phải có. Phải có cái cổ mới đẻ ra được cái mới. Nếu còn rễ, cây âm nhạc vẫn mọc tươi tốt. Giờ mình đốn, mình ghép này kia thì nó đẻ ra những loại cây khác, không còn là cây VN.

Cây bonsai cũng muốn sống vậy mà bị người ta bẻ tới bẻ lui theo ý của người ta, thành ra nó bị tàn phế. Mình thấy nó đẹp, chứ thực ra nó đau khổ lắm. (cười)

Phải học để thấy

Ông có cách gì để giới trẻ hôm nay quay về với nhạc truyền thống?

Đừng bao giờ bắt nó phải trở về nguồn. Gọi là giải thích để nó lần lần tự ý thức quay trở về, khi đó truyền thống mới mạnh. Khi mình bắt buộc sẽ có sự phản ứng ngược.

Lấy thí dụ con gái tôi sinh ra trong gia đình âm nhạc. Hồi nhỏ cho nó nghe nhạc VN, không nghe. Cho vô nhạc viện học piano, không học.

Lớn chút xíu bắt đầu nó nghe nhạc, tự nhiên nó quen. Tôi lỡ đàn sai nó biết liền. Nó không thích đi vào dân tộc nhạc học, bảo có ông nội giỏi quá ba giỏi quá con đi vào trong đó làm gì.

Khi nó đậu tú tài rồi hỏi con muốn học gì, có đi nghiên cứu âm nhạc không. Con muốn học kiến trúc. Rồi. Đi. Trên đường đi ngang qua ĐH Âm nhạc Sorbone, tự nhiên nó quẹo vô ghi tên học âm nhạc học. Tự nhiên nó ý thức. Nó đậu thạc sĩ về âm nhạc.

Âm nhạc cổ truyền cần đưa vào giáo dục phổ thông. Chương trình dài 6 – 7 năm, mỗi năm học một chút. Hết trình độ phổ thông thì trong đời của những đứa trẻ VN thế hệ mới có được hình ảnh âm nhạc VN là thế nào.

Tôi đi khắp nơi trên thế giới, hỏi những đứa trẻ VN về âm nhạc VN – chỉ biết đàn bầu, đàn tranh, hát vọng cổ. Hết. Ca trù là gì không hiểu.

Khi ca trù được liệt kê vào danh sách của UNESCO, mấy người già cũng chỉ vui được hát, được nghe thôi. Lợi không có. Nhiều khi những người đó phải xuất tiền túi ra đi hát.

Trong khi lẽ ra chính phủ phải cho tiền cho họ đi, thưởng tiền khi họ hát, phải trợ cấp những nghệ nhân lớn tuổi. Mỗi tháng cho họ hai triệu đồng đi. Tính ra có chục người à. Mỗi năm chi có 300 triệu đồng – còn ít hơn tổ chức cuộc hội thảo mấy tỉ bạc.

Dường như muốn chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nhạc cổ truyền, buộc phải học để thấy?

Đúng thế. Muốn nghe cồng chiêng, người đó phải có ý thức về truyền thống cồng chiêng. Chỉ nghe với tư cách người thưởng thức âm nhạc thì nó cũng không có gì lạ.

Nghệ nhân nhạc cổ truyền ở làng chưa bao giờ nghe nhạc giao hưởng, giờ dẫn đi nghe, họ sẽ bảo ồn quá. Tại họ không nghe thấy giai điệu.  Rồi họ thấy một nhóm nhạc công ngồi không: Ủa mấy người này có phải nhạc sĩ chuyên nghiệp không. Chuyên nghiệp tại sao cần ông gì điều khiển. Nếu thực sự chuyên nghiệp tự họ đàn được rồi đâu cần phải có ông này…

Nghe nhạc cũng phải được giáo dục. Thí dụ bây giờ muốn nghe cồng chiêng phải gặp nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền. Hiền sẽ giải thích cồng đánh thế nào, chiêng thế nào, cho nghe băng, giải thích cho bạn chỗ nào hay. Sự hấp thụ bài nhạc sẽ khác.

Mấy nhạc sĩ Ấn Độ qua Pháp gọi kiếm tôi. Tại họ cần người biết nghe, biết khen đúng chỗ. Tôi học cả năm trời nhạc Ấn Độ, đi nghe mấy trăm buổi hòa nhạc. Tôi hát, đàn luôn nhạc Ấn Độ.

Khi nào hát được, đàn được, bạn mới thấm nhuần cấu trúc của bài nhạc. Thì khi bạn biết cấu trúc của cồng chiêng, bạn rất sung sướng, thấy nó quá phong phú.

Trong hồ sơ hát xoan trình UNESCO tới đây, ông sẽ tiếp tục đo tần số âm thanh hát xoan?

Bây giờ tôi chưa đo gì hết. Trước khi đi sâu vào vấn đề, mình phải có tất cả tài liệu. Việc này cần sự phối hợp tập thể, tôi chỉ đưa ra phương pháp nghiên cứu, làm việc.

Nguyễn Mạnh Hà

http://www.tienphong.vn/van-nghe/190041/GSTS-Tran-Quang-Hai-Nhac-Viet-la-tu-tim.html

 

Trình diễn trên 3.000 buổi tại 65 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác nhạc hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng, hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại.

Đã thực hiện 23 đĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 3 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới.

Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng, jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ.

Trích phần Tiểu sử tại trang tranquanghai.com

HỒ NAM : GS.TS Trần Quang Hải: Xứng danh quái kiệt nhạc dân tộc Việt Nam


GS.TS Trần Quang Hải: Xứng danh quái kiệt nhạc dân tộc Việt Nam

27.12.2012 | 23:42

Nhắc đến GS.TS Trần Quang Hải, người ta nhớ đến ông là con trai trưởng của nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc GS.TS Trần Văn Khê. Tuy nhiên, ông chưa bao giờ dựa vào danh tiếng của cha để phát triển sự nghiệp cho mình.

Hơn 40 năm qua, ông miệt mài giới thiệu âm nhạc Việt Nam, qua khoảng 3.000 buổi nói chuyện tại hơn 65 quốc gia. Trong dịp nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam – GS.TS Trần Quang Hải về Việt Nam nhận kỷ lục Người Việt Nam đầu tiên phổ biến (giảng dạy, biểu diễn) đàn môi tại nhiều nước trên thế giới, ông đã có cuộc trò chuyện thú vị với PV Nguoiduatin.vn tại chương trình Hội ngộ kỷ lục gia lần thứ 23 và công bố Kỷ lục châu Á.

Từng đi sai đường

Nối tiếp con đường âm nhạc của gia đình, ông vào học nhạc tại trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn với bộ môn vĩ cầm. Trong thời gian này, tài năng âm nhạc của ông được phát lộ và ngày càng được phát triển. Sau khi tốt nghiệp trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, vào năm 1961, ông lên đường sang Pháp học nhạc tại trường đại học Sorbonne với ước mơ trở thành nghệ sĩ độc tấu violon nổi tiếng trên nước Pháp và tại Việt Nam.

GS.TS Trần Quang Hải chia sẻ: “Thời điểm bấy giờ, ước mơ đó thôi thúc tôi đến cháy bỏng. Vì thế, tôi dành hết mọi sức lực để đưa ước mơ đó trở thành sự thật. Tuy nhiên, nếu ước mơ đó trở thành sự thật, chắc giờ đây không phải là tôi như bây giờ. Người phát hiện tôi đi sai đường chính là cha tôi. Ông biết tôi có ước mơ trên nhưng không cản ngăn chí hướng của con trai, ông khéo léo sắp đặt một cuộc gặp gỡ giữa con mình với GS Yehudi Menuhin, một danh sư nổi tiếng về violonist trên thế giới rồi ông kiên nhẫn chờ đợi kết quả từ tôi”.

GS.TS Trần Quang Hải biểu diễn đàn môi.

GS.TS Trần Quang Hải cho biết cuộc gặp gỡ kỳ lạ đó đã làm thay đổi toàn bộ con đường sự nghiệp của mình. Ông bộc bạch: “GS Yehudi Menuhin kêu tôi trổ tài năng của mình trên cây đàn violonist để ông xem. Để không phụ lòng GS Yehudi Menuhin, tôi đã chơi một bản nhạc không thể nào hay hơn. Tuy nhiên, khi kết thúc bản nhạc, GS Yehudi Menuhin thẳng thắn dành cho tôi một lời khuyên chân thành. GS Yehudi Menuhin bảo người Pháp không cần có thêm một nhạc công violonist gốc Việt khi họ đã có hàng ngàn violonist tầm cỡ. Điều họ cần là một chuyên gia về âm nhạc dân tộc Việt Nam như cha anh là GS.TS Trần Văn Khê.

Nghe tới đây, trong suy nghĩ của tôi thật sự bừng tỉnh. Sau đó, tôi đã suy nghĩ rất nhiều và quyết định quay về gặp cha và quỳ dưới chân để xin được thọ giáo dù có hơi muộn, nhưng đó mới là hướng đi đúng đắn của tôi và đúng với giá trị âm nhạc mà đại gia đình đang kế thừa”.

Sau đó, GS.TS Trần Quang Hải quyết định từ bỏ đam mê chơi đàn violonist để theo học các loại nhạc cụ dân tộc khác. Từ nền tảng này, ông tập trung theo học về ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật và âm nhạc tại các trường ĐH: Louvre, Sorbonne (Paris, Pháp), ĐH Cambridge (London, Anh) và ông còn học được những bảo bối từ nghệ thuật truyền khẩu, truyền ngón từ nhiều nghệ nhân đàn dân tộc từ châu Á sang châu Âu.

“Bên cạnh đó, tôi cũng theo cha học hỏi từ ngón đàn dân tộc cho đến công việc nghiên cứu. Chỉ một thời gian sau, tôi được cha giới thiệu vào làm việc tại Viện Bảo tàng con người ở Paris. Tại đây, tôi có những lợi thế từ điều kiện sống, học tập cộng với những nỗ lực bản thân, tôi trở thành tiến sĩ âm nhạc dân tộc người Việt thứ hai trên đất Pháp, sau cha của mình”, GS.TS Trần Quang Hải chia sẻ.

Xứng danh quái kiệt

Nửa thế kỷ qua, GS.TS Trần Quang Hải như con ong chăm chỉ đã miệt mài làm chiếc cầu nối để âm nhạc dân tộc Việt Nam có tên trên bản đồ thế giới. Nỗ lực của ông khiến nhiều người nước ngoài say mê như ngày hôm nay. Nhưng hơn thế nữa, người dân khắp thế giới còn biết đến ông là một người trình diễn kỳ lạ của âm nhạc dân tộc Việt Nam.

GS.TS Trần Quang Hải cùng cha là GS.TS Trần Văn Khê.

Chia sẻ về thể loại đàn muỗng được nhiều người yêu thích, GS.TS Trần Quang Hải tiết lộ: “Với mong muốn truyền bá và làm mới nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân gian trong cuộc sống đương đại, tôi đã tìm tòi học hỏi từ những người bạn Nga cách biểu diễn gõ muỗng theo tiết tấu, giai điệu”. Theo đó, người chơi đàn muỗng dùng hai thìa inox khuấy động cả không gian với nhiều tiết tấu sinh động bằng cách gõ hai muỗng đến ba muỗng, rồi sau đó gõ trên cánh tay, đùi và những ngón tay uyển chuyển.

Trổ tài khả năng chơi đàn muỗng của mình, GS.TS Trần Quang Hải lấy ra hai cái muỗng, thoăn thoắt bẻ quặp chúng lại, và trong khi miệng liên tục đánh nhịp đệm thì bàn tay của ông cầm hai cái muỗng, tấu liên hồi một khúc nhạc kỳ lạ đầy quyến rũ. Nhìn hai cái muỗng trong tay ông lúc đó, cảm thấy ông như một thầy phù thủy đang phù chú cho bùa phép của mình.

Với những sáng tạo vô cùng độc đáo của mình với đàn muỗng, tại Liên hoan dân nhạc tổ chức tại Anh năm 1967, GS.TS Trần Quang Hải đã được phong tặng danh hiệu Vua muỗng. Không chỉ là vua muỗng, ông còn được biết đến với danh hiệu ông vua đàn môi. Để đạt được những thành tựu này, ông phải ròng rã nhiều năm trời đi khắp mọi miền của tổ chức, tìm hiểu và nghiên cứu một cách tỉ mỉ về đàn môi.

Hiện nay, ông đã sở hữu cho mình bộ sưu tầm hàng chục loại đàn môi bằng đồng, thau, tre của người dân tộc thiểu số. Nói về một chiếc đàn môi đang cầm trên tay, GS.TS Trần Quang Hải cho biết đây là chiếc đàn môi của người Mông. Ông chia sẻ thêm: “Trong suốt thời gian qua, tôi đã sưu tập được 27 loại đàn môi. Chiếc đàn này là một trong những chiếc đàn môi độc đáo và đặc sắc”. Nghe GS.TS Trần Quang Hải kể về từng loại đàn môi, sắc thái âm thanh, cấu tạo tiếng đàn, về cái cách để trình diễn chúng như một người lên đồng. Chúng tôi mới hiểu được danh xưng vua đàn môi quả không hề sai.

Nhắc về cơ duyên để mình lao vào nghiên cứu kỹ thuật hát song thanh, GS.TS Trần Quang Hải cho biết: “Tôi đã có cuộc hành trình hơn 30 năm tìm hiểu và trở thành chuyên gia lớn nhất về lối hát đồng song thanh. Đồng song thanh là lối hát mà một người cùng lúc có thể hát được hai giọng.

Tôi đã nghiên cứu kỹ thuật hát độc đáo phát ra hai giọng cùng lúc ở hai cao độ khác nhau của một số bộ tộc Mông Cổ và nước Cộng hòa Tuva. Từ các nghiên cứu này, tôi đã phát triển thêm những sáng tạo riêng, đồng thời áp dụng thành công vào nhiều lĩnh vực âm nhạc thế giới và đương đại, y khoa, âm thanh học, âm nhạc điều trị học, tâm lý điều trị học, âm nhạc trị liệu giúp các phụ nữ giảm đau khi sinh đẻ. Từ đó, tôi sáng lập ra một trường phái hát đồng song thanh ở châu Âu và đã có khoảng 8.000 người ở 70 quốc gia theo học”.

Giờ đây, GS.TS Trần Quang Hải đã đi gần hết đời người nhưng với tình yêu âm nhạc dân tộc vô bờ bến, ông vẫn luôn tiến về phía trước với tư thế của một người dẫn đầu. GS.TS Trần Quang Hải chia sẻ: “Quan điểm của tôi là phải bảo tồn và phát triển nền âm nhạc truyền thống dân tộc nhưng không bảo thủ, mà phải tích lũy thêm những tinh hoa mới, bồi đắp và phát huy cho nền âm nhạc dân tộc nước nhà”.

Hồ Nam

http://www.nguoiduatin.vn/gsts-tran-quang-hai-xung-danh-quai-kiet-nhac-dan-toc-viet-nam-a59844.html

LAM NGỌC : Bảo tồn ca trù: Thiếu người “đứng mũi chịu sào”, VIETNAM 2012


 

Bảo tồn ca trù: Thiếu người “đứng mũi chịu sào”

Thứ Bảy, 22/12/2012 08:04 | In trang nàyIn bài viết

 

(Thethaovanhoa.vn) – Hôm qua (21/12), cuộc tòa đàm Bàn về giải pháp bảo tồn ca trù trên địa bàn Hà Nội trong khuôn khổ Liên hoan ca trù cổ Hà Nội lần thứ 2/2012  đã diễn ra tại Nhà Thái học, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội.

Kể từ khi được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới ( tháng 9/2009), đây là lần đầu tiên Liên hoan ca trù Hà Nội được tổ chức nhằm tôn vinh, kiểm kê, phục vụ công tác bảo tồn, phát huy các làn điệu ca trù Hà Nội cổ; đồng thời là hành động thực hiện cam kết với UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của thế giới đang ở mức “cần được bảo vệ khẩn cấp”.

Vì thế, cuộc tọa đàm Bàn về giải pháp bảo tồn ca trù trên địa bàn Hà Nội trong khuôn khổ liên hoan đã thu hút được rất nhiều những nhà nghiên cứu, nghệ nhân: như GS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, GS Vũ Nhật Thăng, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền cùng các nghệ nhân ca trù.

Liên hoan ca trù cổ Hà Nội lần 2

1. Hiện nay, có rất nhiều CLB ca trù đang hoạt động tại Hà Nội như: Giáo phường ca trù Thăng Long, CLB ca trù Hà Nội, CLB ca trù Thái Hà, CLB ca trù Ngãi Cầu (huyện Hoài Đức), CLB ca trù Thượng Mỗ (huyện Đan Phượng), CLB ca trù Lỗ Khê, CLB ca trù thôn Chanh trong đó Lỗ Khê được đánh giá là cái nôi của ca trù.

GS Vũ Nhật Thăng, nhà nghiên cứu ca trù khá kỹ lưỡng cho biết, để bảo tồn ca trù nhất thiết phải có một quỹ dành cho các nghệ nhân cao tuổi. Ca trù phải được bảo tồn “sống” bằng nhiều cách, không chỉ là biểu diễn “suông” mà còn phải thực hiện quay hình, ghi tiếng thật cụ thể mỗi lần trình diễn cho đến việc nghiên cứu sâu vào âm nhạc ca trù.

Đây không phải cách làm mới nhưng nó vô cùng có ý nghĩa khi nhiều năm sau, chúng ta không thể biết được cách bảo tồn chỉ bằng biểu diễn sẽ tốn kém cỡ nào, sẽ đi về đâu và liệu có bảo tồn nguyên dạng được không hay sẽ “đẻ” ra nhiều dị bản khác nữa, trong khi cái chung ta đang làm là bảo tồn ca trù cổ? Bởi kể từ thời Lý đến nay thì ca trù cũng đã khác rất nhiều. Phải khẳng định, ca trù hiện nay không kiếm ra tiền nên cần phải dựa vào “mạnh thường quân”, Nhà nước để bảo tồn.

Còn theo nghệ nhân Bạch Vân, có rất nhiều cách để bảo tồn, không chỉ là nghiên cứu mà còn phải đưa ra biểu diễn trước công chúng. Việc biểu diễn này còn có giá trị trong việc giảng dạy, đào tạo các thế hệ sau vì được học trực tiếp là hàng đầu. Mặt khác, công chúng cũng cần được đào tạo để thưởng thức thì mới có khán giả. Song, nếu không có nhà di sản thì không thể thực hiện được. “Tại sao các loại hình nghệ thuật khác như chèo, tuồng thì có nhà hát trong khi ca trù lại không có được một nhà di sản?” là thắc mắc của nghệ nhân Bạch Vân.

2. GS Tô Ngọc Thanh đánh giá, “Liên hoan lần này đã cho chúng ta thấy chất lượng và tầm cỡ của ca trù – đặc sản của văn hóa dân tộc. “Vấn nạn” của ca trù thì nhiều nhưng cơ bản, ca trù đang không có chỗ dựa. Vì thế, ca trù rất cần có một cơ quan có trách nhiệm đứng ra làm chủ. Riêng ý kiến của tôi, Bộ VH,TT&DL, Sở VH,TT&DL là đơn vị chịu trách nhiệm toàn bộ các di sản. Cần phải có “người đứng mũi chịu sào” để tạo điều kiện biểu diễn song song với việc bảo tồn”.

Trước những ý kiến của các nhà nghiên cứu, đại diện của Sở VH,TT&DL Hà Nội, PGĐ Nguyễn Khắc Lợi cho biết, sắp tới, trong tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết TƯ khóa 8, chúng tôi sẽ đề xuất thêm về góc độ ca trù. Sở VH,TT&DL cách đây 3 năm cũng đã thành lập được phòng quản lý di sản văn hóa nên đây cũng sẽ là địa chỉ liên hệ của các CLB ca trù Hà Nội. “Hiện tại, cái gì có thể bảo vệ trước mắt thì sẽ bảo vệ, ví dụ như Quỹ Văn hóa sẽ có bảo hiểm dành cho các nghệ nhân cao tuổi từ 2013 và dự kiến sẽ tổ chức Liên hoan ca trù Hà Nội định kì 2 năm.

Trong năm 2013, Sở sẽ tiếp tục tổ chức tạo điều kiện cho hoạt động biểu diễn ca trù gắn liền với du lịch – mũi nhọn kinh tế thủ đô. Theo đó, các điểm biểu diễn của các loại hình văn hóa dân gian trong đó có ca trù sẽ là trọng điểm văn hóa năm 2013. Từ đây, chúng ta mới hình thành điểm di sản văn hóa để đưa ra các mục tiêu phát triển tiếp theo” – ông Lợi cho biết thêm.

Lam Ngọc
Thể thao & Văn hóa

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/bao-ton-ca-tru-thieu-nguoi-dung-mui-chiu-sao-n20121222070031861.htm

NGỮ YÊN : Lễ hội truyền thống: Từ sai văn hóa đến bi kịch văn hóa Đến hội Gióng mà cũng diễn! (Bài 2), VIETNAM 2011


Lễ hội truyền thống: Từ sai văn hóa đến bi kịch văn hóa

Đến hội Gióng mà cũng diễn! (Bài 2)

Thứ Ba, 01/03/2011 07:03 |

(TT&VH Cuối tuần) – TS Nguyễn Văn Huy trở về nhà sau một ngày trảy hội Gióng “suông” ở làng Phù Đổng, nhân lúc hội đền Sóc Sơn đang diễn ra, hội Gióng Phù Đổng (tháng Tư) chưa tới, để tránh cảnh chen lấn. Câu chuyện di sản hội Gióng của ông vì thế còn thoang thoảng hương trà làng Phù Đổng. Năm nay, mỗi gia đình trong xã được tặng một bộ ấm chén có in chữ, đại ý chào mừng việc hội Gióng được vinh danh di sản văn hóa thế giới. Nhưng việc gìn giữ di sản này, theo ông Huy và dân làng mừng ít mà lo nhiều.

>>> Chuyên đề:  TỪ SAI VĂN HÓA ĐẾN BI KỊCH VĂN HÓA

* Nhiều nhà nghiên cứu lo ngại các lễ hội đang bị chính trị hóa dẫn đến sai lệch bản chất văn hóa. Liệu Hội Gióng có nguy cơ như vậy hay không, thưa ông?

– Rõ ràng, có một xu hướng chính trị hóa ngày hội như vậy. Hội Gióng cũng chịu ảnh hưởng từ xu hướng này. Thí dụ, cách đây lâu rồi, trong dịp kỉ niệm 300 năm Sài Gòn, người ta đã có sáng kiến đưa một đoàn gồm 40 người dân vào TP.HCM để trình diễn đám rước và biểu diễn nghi thức hội trận thiêng liêng nhất, huyền bí nhất của hội Gióng. Có lẽ đây là lần đầu tiên hội Gióng được đưa đi trình diễn. Khi ấy, thực lòng người dân không muốn.

* Hậu quả của việc làm trái tự nhiên này ra sao, thưa ông?

– Chỉ tính trong vòng một năm vừa rồi, hội Gióng đã 3-4 lần phải làm những câu chuyện diễn phi lý như vậy. Lần thứ nhất vào dịp Quốc khánh. Lần thứ hai vào dịp đại lễ 1.000 năm Thăng Long, đoàn rước và nghi lễ hội Gióng được mang ra trình diễn tại tượng đài Lý Thái Tổ. Lần thứ ba là khi viện nghiên cứu văn hóa và nghệ thuật tổ chức hội thảo quốc tế về hội Gióng để chuẩn bị xét duyệt hồ sơ. Mới rồi, khi Hà Nội nhận bằng của UNESCO công nhận hội Gióng là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, người ta lại mang bà con ra trình diễn một lần nữa.

 

Tái hiện lễ hội Gióng. Ảnh: Nhật Anh
 
Như thế, những nghi lễ của ngày hội bị biến thành buổi biểu diễn văn nghệ hay diễu hành mang tính chính trị. Các ứng xử với di sản như thế chính là sự cưỡng bức văn hóa, người ta sẵn sàng tái diễn lại ngày hội như một sân khấu rối vậy. Cách làm đó chắc chắn không sớm thì muộn cũng sẽ đánh mất dần sự thiêng liêng của ngày hội, niềm tin trong tâm linh; sự nhàm chán sẽ làm mất tính huyền bí và sự cảm hứng của kịch tính trong ngày hội đó.

Mới có một năm mà chúng ta đã bắt đầu làm mất tính thiêng hội Gióng như thế. Rồi sau này, nếu cứ tùy tiện lặp đi lặp lại kiểu trình diễn bắt buộc như thế, chắc sẽ dẫn đến chuyện giống như diễn viên ở một số làng văn hóa tại Trung Quốc, mà tôi đã có dịp chứng kiến, cứ tới ngày giờ lại đứng ra biểu diễn, mặt lạnh tanh với nụ cười thường trực, mất hết cảm thụ nghệ thuật. Rõ ràng, nhận thức văn hóa không đúng đắn của các cấp lãnh đạo – từ quản lý văn hóa, du lịch đến chính quyền – dẫn đến bắt các nghi lễ thiêng liêng chạy theo phục vụ một cách thô thiển. Chúng ta cần suy nghĩ để thấy hết sự nguy hiểm của hiện tượng và hy vọng cách làm như vậy sẽ không tiếp diễn nữa.

* Nhưng nhu cầu xem hội Gióng khi không có hội là có thật. Khi đó, nên làm thế nào, thưa ông?

– Ngay cả khi đi xem hội thật, người ta cũng không thể nào thưởng thức được toàn cảnh, toàn bộ cái hay, cái đẹp của hội Gióng mà chỉ có thể quan sát ở một vài góc, khó có được cái nhìn tổng thể. Do đó, muốn người dân hiểu kỹ cần có bảo tàng hội Gióng. Ngoài các đạo cụ của hội còn biết bao nhiêu câu chuyện có thể kể được như chuyện cuộc đời các ông hiệu và gia đình họ, từ lớp người này này qua lớp người khác. Chúng ta có những băng video, cái trên màn ảnh nhỏ, cái trên màn lớn tự nhiên người ta sẽ xem được, hiểu được nhiều thứ, hiểu được những thay đổi của hội, những giá trị, những biểu tượng của hội Gióng. Biết bao câu chuyện chúng ta trải ra, đâu phải chỉ mồng Chín tháng Tư, người ta đến lúc nào xem lúc đó. Như thế, tránh được cảnh mang bà con diễn đi diễn lại.

* Phim đi kèm hồ sơ hội Gióng có sử dụng được với mục đích như ông vừa nói không, thưa ông?

– Đấy là hai câu chuyện khác nhau: phim cho nhà nghiên cứu khác, phim cho dân xem khác. Tôi nghe người dân nói, có một bộ phim làm về Hội Gióng, mời cả Kim Tiến đọc lời bình. Nhưng họ không thích phim này. Việc làm phim cần chuyên nghiệp, không thể coi thường, đặc biệt là về quan niệm làm phim – cần sử dụng tối đa tiếng nói của cộng đồng chứ không phải lời bình của nhà nghiên cứu.

* GS Ngô Đức Thịnh đang rất lo chuyện đổ tiền không đúng cách vào hội Gióng sẽ giết chết nó. Theo ông, nên chi dùng vào việc gì cho tốt?

– Không nên chê tiền (cười), nhưng phải đầu tư đúng chỗ và hiệu quả. Cần đầu tư xây dựng cơ bản có quy hoạch: đường xá, chỗ để ô tô, khu dịch vụ. Cũng cần đầu tư cơ sở vật chất cho hội Gióng. Chẳng hạn, cạnh đền chính có đình hạ mã, nơi xưa khách quan chức phải xuống ngựa thay quần áo để vào đình. Đình cũng còn để toàn bộ những người tham gia vào hội Gióng, cái đám rước nghỉ ngơi. Giờ nó không còn nữa vì thời bao cấp, do cách suy nghĩ lễ hội là thừa, là phong kiến nên đã dùng làm kho, sau đó mục nát. Nay đình này cần phục dựng lại. Thứ nữa, trụ sở ủy ban xã cũng đang ở trên đất của đình, đền ngày xưa. Trụ sở chỉ được xây một tầng để không vượt đền. Thế nên, có thể chuyển ủy ban đi chỗ khác, giành khu đó làm bảo tàng hội Gióng thì hợp lý hơn.

Còn chuyện không nên, chẳng hạn, tôi có nghe ở khu di tích đền có hai cái hồ rất đẹp, hình như đang được tư vấn là nên cải tạo như cách hồ Bảy Mẫu. Người ta sẽ tát hết nước lòng hồ cho không có bùn, cho sạch sẽ. Nông thôn đang bị bê tông hóa, nên các di tích càng giữ được vẻ muôn thuở của nó càng tốt. Vậy tại sao chúng ta không giữ được ao đất, ai bảo ao đất xấu? Hãy làm cỏ sạch, làm đường vòng quanh hồ với những đường đi nho nhỏ bằng gạch. Cũng có thể kè hồ nhưng phải có phương án cho thật văn minh, đẹp để không có cảm giác bê tông hóa. Làm văn hóa chỉ có tiền cũng chết, không có tiền cũng chết, có tiền mà anh biết sử dụng có văn hóa sẽ tạo ra những di tích rất đẹp và hấp dẫn

 

Hội Gióng … báo cáo tỷ lệ sinh đẻ có kế hoạch !

“Trong hội Gióng đền Sóc, tôi từng… rụng rời chân tay vì nghe một báo cáo đọc trong hội. Ông chủ tế đọc bài văn tế trong đó nêu rõ chúng ta đã tiến bộ gì so với cùng kỳ năm ngoái. Đặc biệt, có phần tỷ lệ sinh đẻ kế hoạch đã đạt được thế này, thế này. Đây chính là một hình thức chính trị hóa lễ hội không cần thiết. Chưa bao giờ hội Gióng đứng trước thuận lợi như bây giờ khi có nhiều nguồn đầu tư, và cũng chưa bao giờ hội Gióng đứng trước nguy cơ biến dạng ghê gớm như bây giờ”.

GS Ngô Đức Thịnh

* Có thông tin hội Gióng sẽ được đưa vào chương trình phổ thông. Liệu đó có phải là sự bất bình đẳng văn hóa không khi nhiều di sản khác không được đối xử như vậy?

– Trong chương trình hành động của hội Gióng khi trình UNESCO chúng ta có cam kết vấn đề truyền bá di sản. Nhưng theo tôi nghĩ nên đưa nội dung này vào chương trình giáo dục của địa phương, chứ không phải toàn quốc. Chẳng hạn, đưa nội dung về hội Gióng vào chương trình học của các trường ở Hà Nội là đủ, đăc biệt Gia Lâm, Sóc Sơn và các vùng quanh đấy. Không nên đưa vào chương trình quốc gia. Trong chương trình quốc gia đã có dạy truyền thuyết Thánh Gióng rồi. Mỗi địa phương phải có chương trình riêng, phù hợp với văn hóa địa phương mình. Nhân đây cũng nói thêm về chuyện chính trị hóa, chúng ta không thể dạy và nói rằng vua Hùng là ông tổ của các dân tộc Việt Nam. Chúng ta đừng nghĩ như thế, như rất nhiều lần đã nói thế trên các phương tiện thông tin đại chúng. Vua Hùng chỉ là ông tổ trong truyền thuyết của người Việt mà thôi.

Bài kết: Hội đền Trần – việc hành chính thành chỗ cầu quan!?

Ngữ Yên (Thực hiện)

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/den-hoi-giong-ma-cung-dien-bai-2-n20110226134654308.htm

KIỀU TRINH : Lễ hội truyền thống: Từ sai văn hóa đến bi kịch văn hóa Quan họ này đành thành… quan họ khác! (Bài 1), VIETNAM 2011


Lễ hội truyền thống: Từ sai văn hóa đến bi kịch văn hóa

Quan họ này đành thành… quan họ khác! (Bài 1)

Thứ Hai, 28/02/2011 07:10 |

 

Lễ hội truyền thống:

Từ sai văn hóa đến bi kịch văn hóa

Có lẽ chưa năm nào, hoa Xuân chưa rụng dưới chân giày mà những lễ hội Xuân lại “tan nát” thành “thảm họa” như năm nay.

 

Hội Gióng. Ảnh: Nhật Anh

Trong một đánh giá về trình diễn dân gian Việt Nam, trong đó có hội mùa Xuân, hội mùa Thu, GS Tô Ngọc Thanh viết: “Đã được thiêng hóa, trong bản chất của mình, mọi hành động hội đều mang tính biểu tượng và chứa đựng “năng lượng thiêng” ở mức cao nhất mà nhân dân có thể sáng tạo và gửi gắm”. Chẳng hạn, GS Thanh cho rằng, một cuộc hát đối đáp nam nữ trong hội cần được hiểu như một biểu tượng có tính chất ma thuật của sự kết hợp giao hòa đực cái. Tương tự, việc cướp và đẩy quả cầu sơn đỏ vào một cái hố tròn cũng có ý nghĩa âm dương nào đó. Do đó, trò diễn này không thể coi là một môn thể thao đơn thuần! Bởi vậy, việc không hiểu, áp dụng sai nguyên lý văn hóa, những biểu tượng thiêng sẽ dẫn đến “bi kịch văn hóa” (chữ dùng của GS Ngô Đức Thịnh, nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa dân gian) là tầm thường hóa các hội truyền thống, tệ hơn, là bao nhiêu thứ… hóa khác làm biến dạng cả một báu vật văn hóa ngàn năm của dân tộc.

Hãy cùng chuyên đề số này nhìn lại một số hội Xuân “đình đám” để xem chúng đã bị tổ chức sai nguyên lý văn hóa đến đâu.

Tổ chức chuyên đề: NGUYỄN KIỀU TRINH

(TT&VH Cuối tuần) – Nhiều năm nay, câu chuyện quan họ hát mộc hay hát tăng âm mãi vẫn chưa thể có đáp số. Năm nay, năm đầu tiên ban tổ chức hội Lim quyết định “thí điểm” để quan họ hát mộc. Thế nhưng chỉ thí điểm được một ngày thì “âm mưu” phục hồi hát quan họ theo đúng truyền thống đã hoàn toàn phá sản! Hóa ra vấn đề “giải cứu” hội Lim không chỉ nằm ở cái micro hay bộ tăng âm…

>>> Chuyên đề:  Từ sai văn hóa đến bi kịch văn hóa

Âm thanh thời đại… “tổ bố”

Chuyện “quan…uan…uan họ… ọ…ọ” với tiếng vang dài loằng ngoằng không còn lạ lẫm với những người tới xem quan họ đồi Lim. Mỗi lán quan họ lại có một bộ loa đài đi kèm. Nhưng rất nhiều người lại tưởng đó là sự hiện đại. “Báo chí viết hay nhầm lẫn phương tiện khuếch đại là hiện đại”, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền chua chát. “Âm thanh là lĩnh vực hết sức chuyên nghiệp. Nên dùng không khéo thì phương tiện khuếch đại thành phản cảm”, ông Hiền phân tích. “Mà tâm lý nhiều người lại muốn mở hết cỡ. Thế nên tất nhiên ai dại đứng gần loa thì rách màng nhĩ. Lại muốn mở để cho người ở xa cũng nghe được, nhiều nhóm cùng mở thì đương nhiên thành cái chợ âm thanh hỗn loạn. Người chỉnh nhạc ư? Làm gì có ai có nghề ở nơi ấy, cứ vặn to, cho tiếng vang oang oang là họ sướng rồi. Nên hậu quả âm thanh thường kinh dị như karaoke là vậy”.

PGS.TS Đặng Hoành Loan, nguyên Phó Viện trưởng Viện Âm nhạc gọi những âm thanh hỗn độn tại hội Lim là “âm thanh thời đại”. Âm thanh này được ông phân tách bao gồm tiếng nhạc, tiếng hát, tiếng vang của hai âm thanh trên, tiếng rao hàng, quảng cáo, tiếng người đi hội. Nhưng kinh khủng nhất với ông là việc một bước thấy loa, đến đâu cũng loa.

Có điều cả hai nhà nghiên cứu đều công nhận không thể tránh khỏi phải dùng phương tiện khuếch âm với không gian đồi Lim nêm chặt từng ấy người trảy hội. Nêm chặt bởi nhà tổ chức dồn bọn quan họ vào các lều cạnh nhau. Và thực tế thì dồn bọn quan họ vào một nút như vậy vốn sai truyền thống, dẫn đến phá vỡ không gian quan họ.

 

Một canh hát do CLB Quan họ Đặng Xá tổ chức. Ảnh: Quang Hưng
 
“Xưa nghe nói các nhóm lượn lờ trên đồi giao đãi tự nhiên chứ không lập lều cố định biểu diễn cho khách xem và chi tiền thưởng. Quan họ xưa chỉ hát chơi với nhau, ai thích xem thì tự lân la mà dòm”, ông Hiền cho biết. Còn ông Loan lại mơ màng nhớ ngày đầu đến hội cách đây mấy chục năm khi đồi Lim còn vắng tanh. Thời ấy, ông cũng như bao người bây giờ, khao khát diện kiến tiếng hát quan họ, diện kiến lối chơi quan họ. Nhưng “thời oanh liệt nay còn đâu”. “Lúc đó, các liền anh liền chị chỉ chơi lối chơi nhỏ chứ không chơi cái “tổ bố” như bây giờ. Chỉ dăm ba bọn quan họ chơi trên đồi. Còn quan họ quảng đại thế này thì chả ai đủ sức mà nắn nót”, ông cám cảnh.

Nhưng không chơi cái “tổ bố” cũng không xong bởi người người ùn về không kiểm soát nổi. “Như ngày xưa thì người cách xa đến 10 cây số còn khó đến. Còn phương tiện giao thông như bây giờ thì người ở rất xa cũng đổ xô về. Đổ về và phá hết không gian hội xưa”, ông Loan nói.

Ông Loan cũng cho biết, với số người đổ về nhiều như vậy, phủ kín không gian ngoài trời rộng như hội Lim, để trang âm thật tiếng sao cho tiếng đàn nào ra đàn ấy thì đến Bộ VH-TT&DL còn chưa có nói gì đến ban tổ chức lễ hội ở một tỉnh. Mới đây để tổ chức một sự kiện trong không gian tương tự, ông Loan cho biết riêng chỉ thuê một chiếc micro thôi cũng đã mất đến 23 nghìn đô-la Mỹ cho một ngày. Tất nhiên, theo ông, muốn cao siêu thế thì không thể làm được, nhưng cũng vì chỉnh âm cho không gian rộng thế là khó lắm nên “quan họ này đành thành quan họ khác”.

Giải đông để giữ văn hóa làng

“Tôi nghĩ hội Lim từ lâu đã biến thành ngày hội du lịch, không còn là hội làng nữa”, PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học nhận định. “Chính vì thế, tác dụng thực sự của hội Lim rất ít. Chính vì thế, người ta đến rất đông nhưng rồi khi ra về chẳng mấy hứng thú. Cách làm như thế cũng không tôn trọng và phát triển, khuyến khích văn hóa địa phương, văn hóa của các làng – đơn vị cơ bản của nông thôn. Khuyến khích văn hóa địa phương mới là điều quan trọng chứ không phải chạy theo chuyện đông người”.

“Xu hướng nâng cấp hội làng lên thành văn hóa cấp tỉnh là một chiều hướng hủy hoại văn hóa. Mà xu hướng nâng cấp lễ hội của ta giờ gần như phong trào. Hội Lim vốn là hội làng, của làng Lim thế rồi chúng ta nâng cấp di sản đấy thành hội Lim là hội của cả tỉnh. Hậu quả là, tập trung tất mọi người vào một không gian chỉ phù hợp với hội làng, làm nó chật như nêm. Trong khi đó còn bao nhiêu làng xung quanh hát quan họ. Và người hát quan họ đâu chỉ hát vào hội Lim. Ở những làng quanh đó, người ta vẫn hát quan họ, hát vào những thời điểm, những dịp khác nhau”.

Cũng có thể thấy bản thân việc nâng cấp, du lịch hóa không hề đem đến hiệu quả, nâng cao giá trị văn hóa cho hội Lim. Dễ thấy nhất là việc không gian truyền thống như đã nói ở trên bị phá vỡ bởi cách tổ chức của chúng ta. Cần phải có sự đánh giá nghiêm túc và rút ra những bài học về hội Lim và cách tổ chức hội.

“Cách tuyên truyền, quảng bá của chúng ta về các lễ hội như hội Lim cũng còn nhiều vấn đề”, ông Huy khảng khái. “Các phương tiện truyền thông chỉ tập trung nói về một vài ngày hội. Vì thế, cả miền Bắc đến hội Xuân, khách chỉ tập trung ở vài ba nơi đếm trên đầu ngón tay. Nào hội Lim, nào Bái Đính, chùa Hương, đền Trần… Trong khi đó, biết bao nhiêu chùa chiền có giá trị như chùa Tây Phương, chùa Đậu, đình Chu Quyến thì lại vắng khách”.

“Ngành văn hóa – du lịch phải chịu trách nhiệm về chiến lược tuyên truyền này – tuyên truyền quá tập trung mà không làm cho người ta thấy cái hay, cái đẹp của nhiều di sản, nhiều ngôi chùa khác nhau, nhiều ngày hội khác nhau, nhiều hoạt động khác nhau. Dễ nhìn thấy nhất là cho đến giờ dưới sự chỉ đạo của ngành văn hóa, chúng ta chưa hề có một bản đồ ngày hội nào với những giá trị riêng của chúng. Ai muốn xem hội ở đâu, chỗ nào quả là khó trong khi ở các nước chỗ nào cũng có bản đồ di sản”, ông Huy phân tích.

 

“Hãy bảo tồn quan họ trong một làng, khôi phục lại sinh thái văn hóa cho nó. Cách xa đó 5 cây số thì mời khách xuống xe đi bộ vào làng để nghe quan họ chúng tôi hát. Khi đó chẳng cần gì phải hát mi- cro. Một làng giữ được thì những làng khác sẽ giữ theo”

PGS.TS.Đặng Hoành Loan

Cùng ý kiến với ông Huy về việc nâng niu, phát triển không gian văn hóa làng, ông Loan cho rằng: “Cơ cấu nông thôn đã bị phá kinh khủng. Văn hóa làng cũng trong luồng xoáy ấy. Nếu muốn cứu hội Lim, cứu văn hóa nông thôn chỉ có cách chính Bộ VH-TT&DL phải xắn tay lên, bởi chỉ có đầu tư nhà nước mới cứu được các không gian văn hóa nông thôn. Không thể cứ để mặc người dân tự hành động được”.

Với hội Lim, ông Loan đề xuất: “Hãy bảo tồn quan họ trong một làng, khôi phục lại sinh thái văn hóa cho nó. Cách xa đó 5 cây số thì mời khách xuống xe đi bộ vào làng để nghe quan họ chúng tôi hát. Khi đó chẳng cần gì phải hát micro. Một làng giữ được thì những làng khác sẽ giữ theo. Tâm tính làng trong cộng đồng quan họ vẫn còn đậm lắm. Khi chúng tôi tổ chức canh hát cổ, trong một làng nọ chỉ có hai cô đi hát thôi mà níu kéo xin vé cứ rối cả làng lên”.

Ông Bùi Trọng Hiền, người từng tham gia phục hồi canh hát quan họ Đặng Xá mà ông cũng chỉ dám gọi là “giả cổ” lo lắng không hiểu Bộ VH-TT&DL có mấy mặn mà với ý tưởng phục hồi lại tục kết nghĩa tại các làng quan họ hay không. Canh hát này vẫn đang được những nhà nghiên cứu, những người chơi quan họ có hiểu biết tìm về.

Về lo lắng này của ông Hiền, ông Loan nhấn mạnh: “Bộ VH-TT&DL nên vào cuộc là chuyện đã rõ. Cái khó của bộ là thiếu những chuyên gia thực sự. Cho nên tôi nghĩ Bộ nên mạnh dạn thuê chuyên gia, và đã thuê rồi thì nên đồng tình với ý kiến chuyên môn của họ”.

Bài 2: Đến hội Gióng mà cũng diễn!

Kiều Trinh

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/quan-ho-nay-danh-thanh-quan-ho-khac-bai-1-n20110226134230817.htm

HỮU TRỊNH : GS-TS Trần Quang Hải và lối hát “cùng lúc 2 giọng” Trường phái hát của tôi có thể để… chữa bệnh!, VIETNAM 2009


GS-TS Trần Quang Hải và lối hát “cùng lúc 2 giọng”

Trường phái hát của tôi có thể để… chữa bệnh!

Thứ Hai, 16/11/2009 13:27 | In trang nàyIn bài viết

(TT&VH) – Đêm 9/11/2009 tại nhà riêng của GS-TS Trần Văn Khê (32 Huỳnh Đình Hai, Q.Bình Thạnh, TP.HCM), GS-TS Trần Quang Hải đã có buổi nói chuyện và biểu diễn hát đồng song thanh, “đàn” muỗng, đàn môi. Như TT&VH đã giới thiệu “đồng song thanh” là lối hát mà một người cùng lúc có thể hát được hai giọng. Người dự buổi nói chuyện này có thể thấy được những bồi âm (khi hát đồng song thanh) hiện trên màn hình và anh có thể điều khiển giọng hát của mình để bồi âm vẽ thành những hình vẽ, với đàn môi anh có thể biểu diễn một đoạn nhạc techno hấp dẫn… Nhưng đằng sau sự thành công như hôm nay, anh đã mất 40 năm nghiên cứu, mày mò tự học và có khi phải đem cả bản thân mình làm vật thí nghiệm bất chấp cả tính mạng. TT&VH đã có cuộc trò chuyện với anh sau đêm biểu diễn 9/11.Tôi đã tạo ra một trường phái hát đồng song thanh

* Theo anh biết, ở Việt Nam có ai hát được đồng song thanh hay không?

– Ở Việt Nam, theo tôi biết là có anh Bùi Trọng Hiền ở Hà Nội là hát được đồng song thanh, nhưng có lẽ anh Hiền phải dành nhiều thời gian để nghiên cứu những vấn đề khác như cồng chiêng Tây Nguyên, ca trù… nên cũng không đào sâu nhiều về lối hát này.

GS-TS Quang Hải ngẫu hứng “đàn” muỗng cùng GS-TS Trần Văn Khê.
Ảnh: Bạch Xuân Sơn

* Chắc anh cũng từng đến Mông Cổ để học hát đồng song thanh?

– Tôi tình cờ nghe một cuốn băng hát đồng song thanh, lúc đó tôi rất ngạc nhiên và tự hỏi, tại sao một người có thể hát cùng lúc 2 giọng? Do sự tò mò mà tôi đã tìm tòi nghiên cứu trong rất nhiều năm để hát được đồng song thanh. Có nhiều người nghĩ rằng chắc tôi cũng đã đến Mông Cổ để học các nghệ nhân, nhưng không có điều đó, tất cả là do tôi tự học. Sau thời gian nghiên cứu tôi đã thực hành được cách hát 2 giọng và từ đó phát triển thành một hệ thống để phổ biến cho nhiều người. Khi tôi đã gây được  tiếng tăm với lối hát và truyền bá đồng song thanh, tôi đã được mời đến Mông Cổ, được gặp những ca sĩ “thứ thiệt” của xứ Mông Cổ. Tôi có dịp đối chiếu kỹ thuật của họ và của tôi. Hai kỹ thuật khác nhau nhưng cùng cho ra một kết quả. Tôi đã tạo ra một trường phái hát đồng song thanh mới mà không giống với trường phái cổ truyền của người Mông Cổ. Nếu với phương pháp của người Mông Cổ, người học cần thời gian vài tháng mới thực hiện được kỹ thuật hát cơ bản thì phương pháp của tôi chỉ trong vài giờ đồng hồ… và đương nhiên muốn hát giỏi thì phải cần thời gian dài hơn, tùy theo năng khiếu của từng người.

Nghiên cứu âm nhạc bất chấp tính mạng…

* Anh có thể nói những ứng dụng của kỹ thuật hát đồng song thanh trong âm nhạc và trong đời sống?

– Thứ nhất có thể ứng dụng nó trong âm nhạc đương đại. Nghệ sĩ nhạc cổ điển có thể dùng kỹ thuật đồng song thanh để bổ túc cho việc hát opera. Trong âm nhạc đương đại (contemporary music), những nghệ sĩ hát với những kỹ thuật rất “kỳ cục” để tạo ra những âm thanh rất lạ lùng, càng lạ lùng chừng nào thì họ càng thích. Chính việc ứng dụng kỹ thuật hát đồng song thanh mà nó sẽ tạo ra được những âm thanh rất mới lạ. Có gần chục người sáng tác âm nhạc đương đại ở Na Uy, Pháp, Mỹ… đã học với tôi để sáng tác những tác phẩm đương đại có những âm thanh lạ từ bồi âm của kỹ thuật hát đồng song thanh.

Thứ hai là giúp cho giọng hát người ca sĩ có được làn hơi dài và mạnh. Và cuối cùng là giúp cho những người nhút nhát có được sự tự tin, những người xướng ngôn viên, những diễn giả có được giọng nói đầy thuyết phục, giúp cho những người bị hư thanh quản có thể nói được nhờ sử dụng một bộ phận khác của cổ họng để phát âm mà không cần đến dây thanh quản.

GS-TS Quang Hải đang biểu diễn hát đồng song thanh. Ảnh: Bạch Xuân Sơn

* Anh có thể kể những gì gian nan nhất trong quá trình nghiên cứu để tạo ra trường phái hát đồng song thanh của Trần Quang Hải và nhất là cái mà anh gọi là có thể để chữa bệnh?

– Tôi đã từng vào một bệnh viện ở Pháp dùng những máy đo thọt vào mũi, miệng để biết được cơ chế hoạt động của dây thanh quản khi hát đồng song thanh. Nguy hiểm hơn tôi đã chấp nhận để người ta chiếu quang tuyến X trong một thời gian dài để thí nghiệm nhằm biết được hoạt động của các thớ thịt ở cổ họng khi không dùng đến dây thanh quản mà vẫn tạo ra được tiếng nói. Về điều này các bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo tôi là có thể bị ung thư cổ họng và tôi đã sẵn sàng ký vào biên bản cam kết, biến mình thành “con vật” thí nghiệm cho những nghiên cứu của mình bất chấp cả tính mạng. Ba tôi (GS-TS Trần Văn Khê) đã nói rằng nếu phải làm điều đó thì ông không dám làm. Nhưng tôi nghĩ rằng có dám như thế mình mới có những cứ liệu xác đáng cho công trình nghiên cứu của mình.

Có thể giúp người hư thanh quản nói được

* Tại sao anh không mở một trung tâm để dạy kỹ thuật đồng song thanh cho những người bị hư dây thanh quản nhằm giúp họ có thể nói được mà không cần phải phẫu thuật để đặt “máy nói” vào cổ họng?

– Trước hết phải nói rằng, nếu áp dụng kỹ thuật hát đồng song thanh để giúp những người bị hư dây thanh quản có thể nói được thì chi phí rất thấp mà không phải phẫu thuật.

Nhưng ở các nước phương Tây, muốn chữa bệnh thì phải có bằng bác sĩ, tôi muốn giúp cho những người bị hư dây thanh quản có thể nói được, trước hết tôi phải là bác sĩ tai, mũi, họng. Nghĩa là tôi phải đi học để trở thành bác sĩ hoặc một bác sĩ nào đó (có năng khiếu âm nhạc) phải học lối hát đồng song thanh thật hoàn hảo như tôi mới đủ năng lực và tư cách pháp lý để chữa bệnh cho mọi người. Nhưng điều này cũng thật oái oăm vì các bác sĩ thì chưa có ai đủ kiên nhẫn để học đồng song thanh với tôi, còn tôi thì không chịu đi học để có bằng bác sĩ…

* Nếu ở Việt Nam mở một trung tâm chữa bệnh bằng kỹ thuật hát đồng song thanh, anh có hợp tác?

– Điều đó còn tùy thuộc vào trang thiết bị và tùy thuộc vào  vấn đề  tài chính, ít ra là trả lương cho tôi như tôi đang làm việc tại Pháp.

* Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện này!

Hữu Trịnh (thực hiện)

CÚC ĐƯỜNG : Ca trù “kết nghĩa” cùng quan họ, VIETNAM 2009


Ca trù “kết nghĩa” cùng quan họ

Thứ Bảy, 03/10/2009 10:15 |

(TT&VH) – Không thể chờ tới những chương trình hoành tráng và được đầu tư kỹ càng hơn, một đêm diễn chia vui theo hình thức“cây nhà lá vườn” của các nghệ nhân quan họ và ca trù sẽ diễn ra tại đình Cống Vị (Hà Nội) vào tối mai 4/10/2009. Như cách nói vui của người trong cuộc, đây là đêm diễn “tự ăn mừng” của ca trù và quan họ – khi hai loại hình này đều được UNESCO công nhận và tôn vinh vào cuối tháng 9 vừa qua. “Tự ăn mừng” vì đêm diễn được tổ chức khá giản dị: Không bán vé, không giấy mời, không  cả diễn văn chào mừng. Nghệ nhân biểu diễn thuộc về 2 CLB Quan họ Đặng Xá (Bắc Ninh) và Ca trù Thăng Long (Hà Nội). Qua lời mời bằng… điện thoại, khách tới đình Cống Vị, dự kiến cũng chỉ là bạn nghề hoặc những người vốn dĩ đắm đuối với hai loại hình nghệ thuật này.


CLB Ca trù Thăng Long sẽ tham gia biểu diễn
tại đình Cống Vị

Ở Bắc Ninh, CLB Quan họ Đặng Xá là nơi hiếm hoi giữ lại hình thức biểu diễn của quan họ cổ với những chi tiết khá khắt khe về trang phục, làn điệu, cách diễn xướng… Tới đây, người xem có thể thấy được sự khác biệt giữa một canh quan họ của các liền anh, liền chị vài chục năm trước với lối biểu diễn vốn bị chê là “hiện đại hóa” của các làn điệu quan họ hiện nay. Trong khi đó, CLB Ca trù Thăng Long cũng được tổ chức như một nơi “chơi nghề” cho các nghệ nhân. Vốn đầu tư ít  ỏi, họ được “ mượn miễn phí” sân đình Cống Vị làm nơi biểu diễn, với điều kiện một năm hai lần phải tham gia vào các buổi diễn tại đình.

Khá thú vị, trước khi cùng lọt vào danh sách xếp hạng của UNESCO, ca trù Thăng Long và Quan họ Đặng Xá đã… “kết nghĩa” với nhau từ vài năm trước. Lý do đơn giản: gạch nối giữa 2 CLB này là nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam. Là người đưa ra ý tưởng thành lập CLB Quan họ làng Đặng Xá, Hiền cũng chính là “cố vấn chuyên môn” trong việc truyền nghề cho một số nghệ nhân trẻ của CLB Ca trù Thăng Long. Chính vì vậy, khi 2 CLB này lần lượt ra đời từ vài năm trở lại đây, anh là người chủ động tổ chức cho họ… kết nghĩa với nhau.

Quan họ Đặng Xá

Nói nôm na, giữa 2 CLB có việc gì thì vẫn “gọi nhau sang”. “Một số lần, cả quan họ và ca trù của hai phía cùng xuất hiện trong một chương trình nghệ thuật rồi,  anh Hiền kể, “Cùng là nghệ nhân, cùng lao đao vất vả trong nhịp chảy của cuộc sống hiện đại, anh em hai phía hiểu và thương nhau là điều tự nhiên và bình thường.”

Dự kiến, đêm diễn vào tối mai sẽ có đầy đủ những “món” đặc sắc nhất trong quan họ và ca trù. Nếu quan họ là hình thức biểu diễn theo lối cổ thì ca trù tại đấy sẽ có hình thức hát thờ cửa đình – hình thức được coi là quan trọng và thiêng liêng nhất trong nghệ thuật ca trù. Nói như anh Bùi Trọng Hiền, những hình thức biểu diễn theo kiểu “nguyên bản” như vậy khó lòng có điều kiện xuất hiện trong đời sống hiện đại, bởi sự thay đổi về không gian sống, điều kiện biểu diễn cũng như phong cách truyền thống. Tạm thời, một đêm diễn “giả cổ” như vậy phải chăng cũng là dịp hiếm hoi để ca trù và quan họ được sống trong đúng không gian của mình?

Cúc Đường