HUY THÔNG : Để di sản “sống” dễ hay khó?, VIETNAM 2009


Để di sản “sống” dễ hay khó?

Thứ Năm, 24/09/2009 16:27 |

(TT&VH) – Nhân cuộc tọa đàm “Để di sản tiếp tục “sống” trong đời sống đương đại” do báo TT&VH tổ chức, 22/9, có một kinh nghiệm điền dã thú vị được nêu ra trong hội thảo, ấy là trong một lần nghe hát kể sử thi, người ta ngạc nhiên thấy nghệ nhân nhắc đến cả máy bay, xe tăng… Vậy đó có phải là “sử thi “dởm” hoặc nghệ nhân “bịa”?  Có máy bay, xe tăng… trong lời hát sử thi cũng là bình thường!

GS.TS Tô Ngọc Thanh lý giải: “Xin quý vị thông cảm cho các nghệ nhân vì họ đã tỏ ra “biết nhiều thứ”. Tôi đã từng nghe người Thái lên đồng mô tả việc đi tìm hồn bằng cách đi xe ca (xe khách) về Hà Nội. Về Hà Nội tìm không thấy lại đi máy bay sang … California (bởi vì người Thái cũng có thân nhân ở bên Mỹ). Những cái đó tôi cho là không tránh được. Cho nên việc có sử thi Tây Nguyên nào đó nhắc đến máy bay, xe tăng…thì cũng do nghệ nhân muốn chứng tỏ rằng họ rất cập nhật. Xin được nói cái đó không phải là dởm mà là một tâm lý của nghệ nhân chứng tỏ là mình biết rất nhiều mà thôi!

Nghệ nhân Rối Đầu gỗ trong tiết mục múa rối trình diễn tại cuộc tọa đàm.

Thương mại, du lịch mới “nuôi” được di sản, nghệ nhân

Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền bày tỏ: “Từ góc độ nhà nghiên cứu, tôi nói thật nhưng hoàn toàn không vĩ mô để nó trở nên đơn giản đi, đơn giản như cuộc đời một nhà nghiên cứu như tôi, như chúng tôi khi nhìn thấy nghệ nhân và biết được họ cần gì để họ sống và làm thế nào để di sản sống.

Chúng ta không đóng khố, không mặc áo the khăn xếp, không nhuộm răng đen, không búi tó, cài trâm mà tại sao chúng ta cứ bắt đồng bào phải ở nhà rông, mái lá mãi thế? Chúng ta đang “Tây hóa” rồi mà tại sao lại cứ ước mong đồng bào phải “ở khổ” như vậy? Hô hào bảo vệ di sản vậy thực sự các vị có thích di sản không? Hô hào cộng đồng, vậy cộng đồng là ai? Là chúng ta chứ ai! Chúng ta có thích di sản không mà cứ đòi người khác phải thích? Muốn Ca trù là Di sản thế giới nhưng đã có mấy ai đi xem Ca trù bao giờ chưa?…

Rõ ràng chúng ta không thể bắt các em thích hay phải hát Quan họ, Ca trù, Tuồng… Đó là cả một kho tàng của cha ông, chúng ta phải tổ chức giáo dục chuyển biến dần dần vì chúng ta đã bị “chặt đứt” (mối liên hệ) với nền âm nhạc của cha ông trong hơn nửa thế kỷ. Ông bà chúng ta còn nghe, nhưng đến bố mẹ chúng đã không nghe nữa, đến chúng ta nghe mang máng, đến con cái chúng ta thì chúng nghe…thấy “mới cứng”! Và chúng ta cũng không nên đòi hỏi ở một con người ngày nay phải vừa biết nghe  Quan họ, vừa phải nghe Cải lương, vừa phải thưởng thức cồng chiêng… tất tần tật mọi thứ thế. Ở cái Hà Nội này, có được một hai trăm người yêu Ca trù thực sự đã là quý lắm đối với Ca trù rồi.

Mỗi di sản sẽ có lượng khán giả nhất định, và di sản ở vùng nào thì hãy làm (lôi kéo khán giả) ở vùng ấy và theo thời gian, chúng ta hãy nhân   lượng khán giả ấy lên. Nên đưa di sản vào trong thương mại, du lịch bởi có như vậy thì mới “nuôi” được chính di sản và nghệ nhân hoặc người làm công tác bảo tồn. Chỉ có điều chúng ta phải làm như thế nào vẫn đảm bảo được đây vừa là sản phẩm thương mại vừa là sản phẩm nguyên chất”.

Truyền dạy về di sản phải đúng như truyền thống

TS Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) nhận định: “Thực trạng di sản trong đời sống đương đại lại đáng báo động, cụ thể ở những biểu hiện sau:

– Nghệ nhân dân gian đã già, đã mất, lớp trẻ chưa được truyền dạy. Nghệ nhân không còn sống được bằng nghề.

– Không gian văn hóa, môi trường của các di sản này đều đã thay đổi, không như trước nữa.

– Các di sản văn hóa đã bị biến đổi, áp đặt thêm những yếu tố mới, mà quá trình tiếp nhận này không được diễn ra một cách tự nhiên, không phải là đề xuất của chủ thể di sản.

Hàng loạt các lễ hội truyền thống gần đây đã bị không ít người yêu di sản văn hóa rất phản đối. Riêng những lễ hội do Viện Văn hóa Nghệ thuật (thuộc Bộ VH – TT&DL) lên kịch bản đã có: Lễ tịch điền, Lễ hội đền Lảnh Giang, Lễ hội đền Kiếp Bạc và sắp tới đây là lễ hội đền Trần Thương.

Để di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại là một câu hỏi cần được đặt ra với các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách: từ việc truyền dạy, tôn vinh đến việc giới thiệu quảng bá di sản.

Công việc truyền dạy về di sản trước hết phải được tiến hành đúng như truyền thống, tức là dạy theo lối truyền khẩu, không cốt lấy nhanh để báo cáo, cho kịp một dịp lễ lạt nào đó (trường hợp dạy Ca trù chỉ trong 2 tháng là khó đạt được hiệu quả). Về việc tôn vinh ư? Phải được coi là một việc làm thường xuyên, đúng người. Tôn vinh bằng tiền lương và chế độ bảo hiểm; bằng sự trân trọng thực sự: tôn trọng không gian, cách thức hành nghề, cách truyền nghề…

Gần đây, chúng ta đang có xu hướng phân chia rạch ròi văn hóa vật thể và phi vật thể. Cách phân chia này cũng để tiện cho việc kiểm kê, đánh giá, định vị…Nhưng nếu tuyệt đối hóa khái niệm này thì sẽ rất khó khăn trong việc gìn giữ các di sản văn hóa của tổ tiên.

Các đình, chùa, đền, miếu, hay nhà rông, nhà gươl là những di sản văn hóa vật thể. Nhưng mỗi một ngôi đình, đền, chùa… này lại không đơn giản chỉ là một hiện vật bảo tàng, mà xung quanh đó, hàng ngày, hàng giờ vẫn diễn ra các sinh hoạt tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân. Vì vậy, nó chính là một bảo tàng sống động về văn hóa. Nơi ấy diễn ra những đêm hát Chèo, các lễ hội, các buổi lên đồng, kể Khan.v.v. Chính vì vậy, gìn giữ không gian văn hóa chính là để cho di sản văn hóa được gìn giữ, nuôi nấng, bảo vệ trong đời sống đương đại”.

PV – Huy Thông (ghi)

HUY THÔNG : Tọa đàm Để di sản “sống” trong đời sống đương đại: Di sản chỉ có thể “sống” khi cộng đồng muốn giữ, VIETNAM 2009


Tọa đàm Để di sản “sống” trong đời sống đương đại:

Di sản chỉ có thể “sống” khi cộng đồng muốn giữ

Thứ Năm, 24/09/2009 08:26 |

(TT&VH) – “Phải giữ gìn “gen” của di sản” – đó là ý kiến của nhiều đại biểu trong cuộc tọa đàm Để di sản “sống” trong đời sống đương đại do báo TT&VH tổ chức hôm 22/9 vừa qua. Cách ứng xử với di sản và với cả không gian sống của di sản sẽ quyết định việc “di sản sẽ sống như thế nào” trong đời sống đương đại. Các ý kiến trong kỳ này sẽ tiếp cận việc giữ gìn di sản từ góc độ nghiên cứu, kế thừa, từ góc độ quản lý và từ cộng đồng. “Tự đổi tên bố mình đi”

Đó là cách nói hình ảnh của GS-TSKH Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, về hiện tượng người ta bỏ những giá trị tinh hoa của di sản để chạy theo những cách “làm mới” nó.

Để di sản “sống” trong đời sống đương đại – theo GS Thanh – đây là vấn đề vừa cũ vừa mới thường dẫn đến hai thái độ khác nhau. Một thái độ thì kết luận lớp chúng tôi là bảo thủ, khư khư ôm lấy cái cũ. Một thái độ thì cho rằng thanh niên bây giờ mất gốc, quay lưng lại với truyền thống. Thế thì thái độ nào là đúng hay cả hai đều đúng và đều sai?


GS-TSKH Tô Ngọc Thanh

Vấn đề đó, theo tôi, phải giải quyết bằng lý luận vì hai thái độ này không thực tiễn và biện chứng.

Tôi đã đi nhiều nơi trên thế giới và để ý thấy rằng bao giờ người ta cũng có hai chính sách; bảo tồn nguyên vẹn và phát huy những giá trị tinh hoa của văn hóa quá khứ (“tinh hoa” của quá khứ chứ không phải mọi thứ). Như vậy, chúng ta không phản đối những sáng tạo hôm nay (đối với di sản), nhưng đừng vì sáng tạo hôm nay mà bỏ mất tinh hoa quá khứ. Bây giờ tôi đố các bạn đi đâu để xem được một vở chèo cổ, trong khi vốn chèo cổ của chúng ta có 200 vở chứ đâu chỉ có Lưu Bình – Dương Lễ, Quan Âm Thị Kính. Bốn năm năm rồi Nhà hát Chèo Trung ương mới dựng lại được 2 vở này. Chèo là biểu tượng, còn kịch nói là xung đột. Khi chúng ta có “kịch nói pha chèo” thì chúng ta bỏ chèo cổ đi.  Nghĩa là chúng ta tự chặt lịch sử văn hóa chúng ta, tự “đổi tên bố chúng ta đi”. Tôi muốn nhấn mạnh rằng: Tha hồ làm cái mới nhưng đừng bỏ cái cũ!

Thế giới người ta đưa ra hai quy luật: Bảo tồn và phát huy, sau đó là thừa kế và phát triển. Nhưng không ít trường hợp đã nhân danh thừa kế để… phá. Trong 30 năm qua chúng ta chơi nghiêng về cái gọi là phát triển (di sản), mà quên đi việc phải bảo tồn tinh hoa.

Tôi e nói báo động về di sản là hơi quá và cũng chả có vấn đề gì phải bi quan về di sản cả. Có nhiều cái không nên mất, không đáng mất nếu chúng ta có một chính sách phù hợp hơn. Chúng ta đáng lẽ không mất chèo cổ nhưng chúng ta lại nhân danh hiện đại hóa để tiến về kịch nói pha chèo và bỏ không diễn chèo cổ. Cái đó mới là cái đáng báo động. Chứ bản thân di sản thì phải được chọn lọc để nó tồn tại và phát huy trong đương đại, và không phải mọi cái ta làm đều như các cụ. Chẳng hạn bây giờ có ai nhuộm răng đen thì khi ra đường, có lẽ trẻ con nó sẽ chạy theo ngay vì nó tưởng là… hiện vật bảo tàng!


Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền phát biểu tại tọa đàm

Nếu cộng đồng muốn, thì không gian văn hóa còn

“Làm thế nào để di sản “sống” được trong đời sống hôm nay? – TS Lê Thị Minh Lý, Phó Cục trưởng Cục Di sản Văn hóa, phụ trách quản lý di sản phi vật thể – phát biểu. Câu trả lời ngắn của nhà quản lý như chúng tôi là di sản chỉ có thể sống được khi mà cộng đồng muốn và nếu cộng đồng muốn thì không gian văn hóa còn, con người còn. Còn nếu cộng đồng không muốn thì chúng ta khó có thể làm gì đó để giữ gìn. Chẳng hạn những nghệ nhân Rối Đầu Gỗ (được mời biểu diễn tại cuộc tọa đàm – PV) có bảo tồn được hay không thì chính họ cũng phải tìm thấy một cái lợi ích nào đó cho chính bản thân họ, là lợi ích về vật chất cũng như về tinh thần.

Để bảo vệ di sản, tôi nghĩ không chỉ phải là người nghiên cứu, không chỉ và không phải nhà quản lý mà đầu tiên phải là cộng đồng. Nhưng cộng đồng lại không biết được giá trị của di sản, trong khi đó giá trị di sản lại cần đến nhà nghiên cứu. Như vậy, tôi nghĩ để bảo vệ di sản phải là sự kết hợp giữa cộng đồng, nhà nghiên cứu và nhà  quản lý. Bên cạnh đó, muốn di sản đó sống được thì phải có cơ chế chính sách.

Phải có sự tác động bằng tiền!

 Di sản chỉ còn là “cái xác”, nếu…

      Trong quá khứ, những hoạt động và những biểu hiện văn hóa mang tính đa chức năng. Ví dụ như cồng chiêng của đồng bào Tây Nguyên là thành tố sinh hoạt của nhân dân (trong các nghi lễ) như: bỏ mả, đâm trâu, mừng nhà mới, cưới xin… Nếu bây giờ môi trường ấy (trong đó cồng chiêng là thành tố) mà mất đi thì cồng chiêng cũng chỉ còn là cái xác. Tôi hay ví như thế này, cồng chiêng như một bông hoa, để trong vườn hoa thì đẹp. Nhưng nếu anh ngắt bông hoa đó ra, cắm vào lọ thì chỉ được một ngày, ngày hôm sau ắt nó sẽ chết. Khi tôi xem lên đồng, ngày xưa có các Thánh, nào là Mẫu Thượng Thiên, cô Bơ, ông Hoàng Mười… Tức là người ta muốn thể hiện hiện thực hóa vị thần mà người ta tôn vinh. Nhưng bây giờ người ta “diễn đồng” chứ đâu có phải là “hầu đồng”, bởi lẽ chính người ta cũng không tin… Nghĩa là người ta thực dụng hóa tâm linh để đến nỗi nó không còn được là cái xác nữa mà là còn lại các giá trị nghệ thuật văn hóa riêng rẽ” (GS-TSKH Tô Ngọc Thanh).

Bà Thế Thanh, nguyên Phó Giám đốc Sở VH,TT&DL, dẫn chứng: Trong việc đào tạo nghệ nhân hát Pansori, Chính phủ Hàn Quốc đã có một chủ trương rất rõ là không cần biết nghệ nhân làm nghề gì, thu nhập bao nhiêu nhưng chính phủ Hàn Quốc mỗi tháng trả cho mỗi nghệ nhân 800 USD để chỉ thực hiện một nhiệm vụ là tiếp tục hát Pansori mỗi khi cần, đồng thời đào tạo được hai em nhỏ hát được Pansori. Nên chăng bài học đó đáng để cho chúng ta áp dụng?

Tiếp nối ý kiến của bà Thế Thanh, nhà nghiên cứu cổ nhạc Bùi Trọng Hiền (con nuôi nghệ nhân hát xẩm cuối cùng – cụ Hà Thị Cầu) cho biết: Bài toán để bảo tồn di sản chỉ có một đáp số duy nhất. Đó chính là phải có sự tác động bằng tiền, vật chất cụ thể của Nhà nước, của các Mạnh Thường Quân, các nhà tư bản, các nhà doanh nghiệp. Ví dụ ở nước ngoài, một doanh nghiệp nếu tài trợ, hoặc làm từ thiện cho một di sản, một loại hình văn hóa cổ truyền thì sẽ được miễn thuế. Việt Nam làm thế sẽ có nhiều doanh nghiệp nhảy vào!

Vì sao có tiền là có thể giữ được di sản? Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền lạc quan cho rằng việc đưa di sản vào bảo tàng không đối lập với việc giữ cho di sản “sống”. Có những di sản đưa vào bảo tàng sẽ có cuộc sống riêng trong bảo tàng. Đó là mô hình bảo tàng sống khi không gian văn hóa cổ truyền của di sản không thể lưu giữ được.

PV-Huy Thông (lược ghi)

MRKEN : BÙI TRONG HIỀN /Blog 365: Suy bụng ta ra bụng… thần linh!, VIETNAM 2010


Blog 365: Suy bụng ta ra bụng… thần linh!

Image

(TT&VH) – Lễ hội là một phần của bản sắc dân tộc, mỗi dân tộc có những lễ hội khác nhau, và những hoạt động tại lễ hội phản ảnh tâm tư, nguyện vọng, mong muốn, tín ngưỡng, niềm tin… của dân tộc đó về cuộc sống. Tại nước ta, mùa lễ hội vừa bắt đầu với những cảnh nhốn nháo khác thường. Nói khác thường bởi lễ hội ở ta thường diễn ra tại các đền, chùa, phủ, miếu… vốn là chốn tôn nghiêm. Người ta dâng thật nhiều lễ, cúng thật nhiều vàng mã, rải tiền, nhét tiền vào các pho tượng để… xin, xin tiền tài, xin mùa màng, xin bình an, xin sức khỏe. Tại một lễ hội, công chức đã nườm nượp đổ về xin ấn để cầu… thăng quan tiến chức. Chen nhau đến tức thở, dâng lễ thật đầy, thật nhiều… để cầu xin cho điều mình muốn. Có thể nói đây không những là nơi thể hiện tâm tư, nguyện vọng của con người mà còn là nơi con người thể hiện cách đạt được mong muốn của mình.

Sắp lễ dâng lên thần linh. (Ảnh minh họa)

Tín ngưỡng là một điều tốt, cuộc sống sẽ chẳng ra làm sao khi con người chẳng còn tin tưởng vào điều gì. Đầu năm rước tí lộc về nhà để cầu mong những điều may mắn sẽ đến với bản thân và gia đình cũng chẳng phải là điều sai trái, nhưng cầu xin phải bằng tấm lòng chứ không phải bằng vật chất, vì thánh thần đâu phải là con người mà thèm những thứ xa hoa đó.

Trên một tờ báo, nhà nghiên cứu dân gian Bùi Trọng Hiền đã nhắc nhở rằng: “Thánh thần không phải quan tham”, thật không sai vì thần thánh có thể ban chức tước cho con người nhờ những đồng bạc nhét vào pho tượng hay những nỗ lực của bản thân sẽ đem lại điều đó?

Thật tội, văn hóa con người xuống cấp nên tưởng là thánh thần cũng xuống cấp theo. Niềm tin thay đổi đã khiến con người thay đổi, hay nói một cách khác, người ta đang suy bụng ta ra bụng… thần!

Mrken
Thứ Tư, 03/03/2010 11:44 |

PHƯƠNG THÚY / VOV: Xẩm tàu điện trở lại với Hà Thành, VIETNAM 2012


 (VOV) – Sau hơn 20 năm vắng bóng, lần đầu tiên hình thức xẩm này được tái hiện và giới thiệu đến công chúng Thủ đô.

Tối 26/10, tại bảo tàng Phụ nữ Việt Nam diễn ra chương trình “Xẩm tàu điện – nét văn hóa đường phố Hà Thành”.

Xẩm tàu điện là nét đặc trưng của riêng Hà Nội, tồn tại trong khoảng thời gian từ 1900 – 1992. Tên gọi “Xẩm tàu điện” chỉ đơn giản là sự gắn kết song hành với một phương tiện giao thông công cộng xưa, được nhiều tầng lớp thị dân ở Hà Nội ưa chuộng vào thế kỉ trước- tàu điện.

Chương trình “Xẩm tàu điện – nét văn hóa đường phố Hà Thành” đã tái hiện không gian diễn xướng cũng như những bài hát xẩm một thời gắn bó với người dân Hà Nội. Từ tiếng tàu điện, trang phục của người biểu diễn, câu chuyện đời tự kể của những người kiếm cơm với cây đàn hồ, đàn nhị đã được các nghệ sĩ gửi gắm qua các bài hát như: “Anh Khóa”, “Nhị tình”, “Lơ lửng con cá vàng”…

NSƯT Hoàng Anh Tú cho biết, xẩm tàu điện chỉ là cách nói tượng trưng của người xưa thường lên tàu điện hát kiếm ăn. Chương trình muốn quảng bá một hình thức nhạc đường phố – xẩm tàu điện để mọi người nhìn thấy một nét văn hóa của Hà Nội xưa. Cùng với sân xẩm chợ Đồng Xuân, xẩm tàu điện cũng mong muốn tái hiện lại hình thức diễn xướng dân gian đường phố “độc nhất vô nhị” này.

Là người được sinh ra, lớn lên ở Hà Nội và gắn bó với hình ảnh tàu điện, ông Nguyễn Văn Long – một người dân phố cổ cho biết, thuở ấu thơ ông được nghe xẩm nhiều mỗi khi đi tàu điện. Mỗi khi nghe tiếng kêu leng keng, có hai ông cháu xẩm cõng nhau đi, một mõ một nhị hát, những bài hát ca thán về đời mình, ca ngợi vẻ đẹp quê hương. Dần dần khi lớn lên, đất nước trải qua chiến tranh, xẩm đã bị mai một, nay được phục hồi thật đáng quý.

Ông Long cũng mong muốn, các nghệ sĩ phải tìm về gốc cổ và đồng thời phải truyền bá đến thế hệ trẻ không quên cội nguồn, đồng thời khích lệ, phát triển nhạc dân tộc./.

Phương Thúy/VOV – Trung tâm tin

Cập nhật lúc: 22:50, 26/10/2012

http://vov.vn/van-hoa/xam-tau-dien-tro-lai-voi-ha-thanh/231784.vov

HÀ HUƠNG : Hào hứng với hát “xẩm tàu điện”, VIETNAM 2012


Hào hứng với hát “xẩm tàu điện”

HÀ HƯƠNG | 26/10/2012 21:46 (GMT + 7)
TTO – Phải đến 19g30 mới bắt đầu biểu diễn nhưng rất nhiều người đã đến để chờ đợi chương trình hát “xẩm tàu điện” tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam tối 26-10.
  • Xẩm tàu điện trên sân khấu mới – Ảnh: Hà Hương

 

 

“Xẩm tàu điện” ra đời và tồn tại gắn liền với sự xuất hiện cho đến khi ngừng hoạt động của tàu điện Hà Nội (1900 – 1992). Trạm tàu điện nằm ở bờ hồ, từ đó tỏa đi các tuyến Yên Phụ, chợ Bưởi, chợ Mơ, Cầu Giấy, Hà Đông, Vọng nối nông thôn với nội thành Hà Nội. Những chuyến tàu điện đến và đi đã trở thành không gian diễn xướng lý tưởng cho xẩm – một loại hình âm nhạc đường phố “độc nhất vô nhị” này. Mỗi khi đến trạm tàu điện hay ngồi trên các toa tàu, người ta lại được nghe những người nghệ sĩ cất giọng hát trầm bổng tha thiết cùng tiếng nhị, tiếng phách.

Rất nhiều trong số họ tuổi đã xế chiều, đến nghe để hồi nhớ thời tuổi trẻ gắn liền với tiếng leng keng tàu điện và những điệu xẩm. Từng ngỡ rằng xẩm cũng sẽ bị lãng quên khi tàu điện biến mất khỏi mạng lưới giao thông Hà Nội. Nhưng rồi xẩm trở lại với chiếu xẩm tại cổng chợ Đồng Xuân, xẩm vào nhà hát và đến với các sân khấu rộng lớn hơn.

“Để có ngày hôm nay, xẩm đã đi một con đường âm thầm và gian nan. Dù mưa gió vẫn kiên trì mỗi tối thứ bảy ở cổng chợ Đồng Xuân. Các nghệ sĩ, nhà nghiên cứu của Trung tâm phát triển âm nhạc truyền thống đến từng vùng để phục dựng chiếu xẩm, dạy xẩm, gầy dựng từng thế hệ hát xẩm” – NSƯT Thanh Ngoan chia sẻ trước buổi diễn.

Dù cố gắng đến đâu “xẩm tàu điện” cũng không còn trở về được nguyên dáng vẻ vốn có của nó. Những toa tàu cùng tiếng leng keng đã không còn nữa.

Gọi là “xẩm tàu điện” nhưng lại biểu diễn trên một sân khấu đóng hộp, ánh đèn sáng, loa tăng âm bên cạnh. “Chúng ta đành phải chấp nhận sự thay đổi của các hình thức này. Không thể đòi hỏi trở lại thập niên 80 với các toa tàu điện nữa. Quan trọng là cốt cách của làn điệu xẩm tàu điện được giữ lại”, nhà nghiên cứu nghệ thuật Đỗ Bảo chia sẻ.

Những điệu xẩm quen thuộc dù trở lại ở một sân khấu khác vẫn đủ sức níu người nghe. Vui nhất Hà thành, Mục hạ vô nhân, Anh khóa, Lỡ bước sang ngang… vẫn thường vang lên trên các chuyến tàu điện ngược xuôi từ bờ hồ đi Yên Phụ hay về Hà Đông. Không bỗ bã, dân gian, hóm hỉnh như xẩm chợ, xẩm tàu điện vẫn giữ những ca từ đẹp, trau chuốt, sang trọng phù hợp với lối sống của thị dân.

Cũng không thể bỏ qua những bài xẩm quảng cáo bán hàng như tăm tre, thuốc cam Hàng Bạc, thuốc ho bà lang trọc, dầu cù là… Bên cạnh một Thanh Ngoan quen thuộc với các chiếu xẩm, khán giả còn có cơ hội chứng kiến thế hệ nghệ sĩ xẩm mới qua giọng hát của bé Thanh Thanh Tấm (10 tuổi).

 

NGUYỆT ANH : Phục hồi “Xẩm tàu điện”: Dẫu không còn những tiếng leng keng , VIETNAM 2012


Phục hồi “Xẩm tàu điện”:
Dẫu không còn những tiếng leng keng
Cập nhật lúc: 28/10/2012-11:21:15
KTĐT – Nhịp phách tom chát, nhịp đàn nỉ non của “Xẩm tàu điện – Văn hóa đường phố Hà thành” đã khép lại, song nỗi nắc nỏm đợi chờ và hy vọng sự tái sinh của “một phần văn hóa Hà Nội” này lại mở ra trong lòng người yêu Hà Nội.
NSUT-T291012

NSƯT Thanh Ngoan biểu diễn trong chương trình “Xẩm tàu điện – Văn hóa đường phố Hà thành”. Ảnh: Hồng Hạnh

Trở về

Tìm tòi nhiều và chắt chiu mãi, cuối cùng những người nặng lòng với xẩm Hà thành cũng mang được những âm thanh của Hà Nội thời còn tàu điện lên sân khấu đương đại. Xẩm trở về trong không gian của một nhà hát thay vì  một chiếu xẩm trên tàu điện như nó vốn có. Ở đó, chỉ có tàu điện “dựng” bằng kỹ thuật 3D, tiếng leng keng pha trộn trong âm thanh điện tử… thế nhưng chiếu xẩm vẫn chật lối đến tận buổi cuối cùng (từ tối 26/10 đến tối 28/10 tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam). Người đến nghe hát xẩm chủ yếu là thế hệ tóc muối tiêu, mang theo ký ức về Hà Nội một thời xa vắng khi tàu điện chậm chạp “bò” qua các phố, đón khách lên tàu bằng tiếng hát dặt dìu và tiếng nhị nỉ non của cha con ông xẩm mù… Nỗi nhớ ấy chính là cái “thèm”: “Tôi vẫn mong được một lần nghe lại xẩm tàu điện để nhớ thời xin mẹ hai xu mua vé đi từ Công viên Thống Nhất lên Bờ Hồ để nghe hát xẩm” – bà Nguyễn Thị Huệ, ở ngõ Văn Chương, Hà Nội hồi tưởng. “Điệu xẩm “36 phố phường” làm tôi mường tượng ra không khí Hà Nội thuở xưa, mường tượng ra cái tàu điện thủng thẳng gõ nhịp đi quanh Bờ Hồ…” – ông Đặng Văn Bình, ở Hà Đông tâm sự.

Người Hà Nội nay vẫn cần có những không gian thuộc về ký ức, vẫn cần xẩm tàu điện của thế kỷ trước, nên làn điệu “Anh Khóa”, “Nhị tình”, “Vui nhất Hà thành”, những lời rao bán tăm tre, thuốc cam hàng Bạc, dầu cù là… vẫn cứ nức lòng người nghe. Thế nên, nhiều nghệ sĩ xẩm vẫn nuôi ước nguyện và thực hiện bằng được một chương trình xẩm tàu điện, để bắt đầu hành trình phục hồi nét văn hóa độc đáo của Hà Nội.

Dù không còn tàu điện

Tàu điện không còn, nhưng thứ xẩm đặc trưng ấy vẫn có thể sống trong thời hiện đại. Như NSƯT Thanh Ngoan nói: “Mặc dù không có môi trường diễn xướng hợp cảnh, hợp người với câu hát nhưng nếu cứ đòi hỏi quá cao như vậy, sẽ không phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Dù không có tàu điện, chúng ta vẫn có thể hát xẩm tàu điện. Xẩm dù diễn ở đâu quan trọng vẫn là cốt cách, làn điệu, ca từ đầy ý nghĩa mà nó đem lại”. Như vậy, chúng ta hoàn toàn có thể bảo tồn xẩm tàu điện, để điệu hát hồn phách Hà Nội thế kỷ trước trở về trong buổi hôm nay, theo cách mà những người tâm huyết với xẩm đang làm.

Dù tàu điện không còn, nhưng nhạc sĩ Thao Giang và các đồng nghiệp đã sưu tầm được hơn 20 bài xẩm thuộc dòng nhạc này “làm vốn” để biểu diễn. Dù những ông xẩm mù không còn đồng hành trên các chuyến tàu điện cũ, nhưng đã có một lớp nghệ sĩ kế cận chung lòng với xẩm. Điển hình là bé Thanh Thanh Tấm, mới 10 tuổi, nhưng hát đã nhuyễn và say. Trong nỗi băn khoăn “tàu điện không còn”, các nghệ sĩ còn cho rằng, hoàn toàn có thể mang một mô hình tàu điện lên sân khấu, trên đó có chỗ cho cả người kéo nhị lẫn người hát… Thậm chí, có người còn nghĩ tới việc đưa xẩm lên tuyến đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông đang dần hình thành ở Hà Nội. “Xẩm tàu điện của thế kỷ XX hoàn toàn có thể tái sinh trong thế kỷ XXI với một tư duy “thoáng” về trang phục, lời hát hay chỗ ngồi của nghệ nhân để phù hợp với nhu cầu của khán giả bây giờ” – PGS Nguyễn Đỗ Bảo bày tỏ.

Tuy nhiên để xẩm tàu điện có thể sống lại trên các chuyến tàu của tương lai, trước tiên cần được đầu tư để bảo tồn. Các nghệ sĩ đã sẵn lòng, sẵn sàng biểu diễn miễn phí buổi ban đầu, như mấy năm đầu của chiếu xẩm Đồng Xuân, nhưng không thể không có sự ủng hộ, giúp đỡ của các nhà quản lý. Giản đơn như nỗi băn khoăn của NSƯT Thanh Ngoan: “Khán giả cần, nhưng nhà quản lý tàu điện có cho phép hát xẩm trên tàu hay không lại là một chuyện khác. Giao thông của chúng ta rất chật hẹp, liệu họ có dành cho xẩm một chỗ ngồi riêng để diễn xướng?”.

Nguyệt Anh

Thanh Ngoan: Tự mình cũng phải biết rút lui đúng lúc


Thanh Ngoan: Tự mình cũng phải biết rút lui đúng lúc

Gặp nghệ sĩ Thanh Ngoan ngoài đời, không ít người bị cuốn hút vào cách nói vui tươi dí dỏm đầy thông minh giống như chị trên sân khấu hài. Còn khi bàn tới công việc chị lại là một người khá thẳng thắn và nghiêm túc

Thanh Ngoan
Thanh Ngoan

 

Đã lâu ít thấy chị xuất hiện trên sân khấu hài. Phải chăng sân khấu hài không còn hấp dẫn nữa hay chị đang để tâm “chăm chút” cho một sân chơi nghệ thuật nào khác?

– Không đúng. Bởi trong con người cũng như các vai diễn mà tôi góp mặt bao giờ cũng có yếu tố hài đồng hành song song bên cạnh các loại hình sân khấu khác. Chỉ có điều, thời gian gần đây tôi luôn phải làm việc trong quỹ thời gian khá hạn hẹp. Ngoài thời gian diễn trên sân khấu, tôi còn làm công tác quản lý, phần nữa vì muốn trau dồi thêm chút kiến thức về lý luận nên tham gia học cả lớp  đạo diễn. Vì thế Thanh Ngoan muốn dành thời gian tập trung cho công việc mà mình để tâm theo đuổi nhất. Sân khấu có câu “Thầy già con hát trẻ”, đôi khi tự mình cũng phải biết rút đúng lúc.

“Sắm vai” trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật: hát chèo, hát xẩm, tiểu phẩm hài… và bây giờ là một người quản lý, chị cho rằng mình “sắm vai” nào là hợp nhất? 

– Bạn thấy đấy, tôi hát chèo cũng rất Thanh Ngoan, hát xẩm, diễn hài cũng rất Thanh Ngoan và bây giờ làm quản lý thì vẫn là… Thanh Ngoan thôi (cười)

Với âm nhạc truyền thống, chị có nghĩ rằng hiện nay chúng ta đang làm công tác bảo tồn nhiều hơn là phát triển?

– Đúng là chúng ta đang làm công tác bảo tồn, còn phát triển đôi khi còn chưa rõ định hướng. Bây giờ mới chỉ đang cố gắng bảo tồn mà thôi. Bởi nhiều người được giao công tác bảo tồn còn chưa triển khai đúng, chưa hiểu rõ cội rễ của nghệ thuật truyền thống để vạch ra được lối đi chính xác. Nếu như bảo tồn là vấn đề thuộc về bản sắc còn chưa xong mà đã vội phát triển thì thật sự chưa ổn. Nhưng trong thực tế này thì bảo tồn được nghệ thuật truyền thống cũng đã là tuyệt vời rồi.

Hiện nay, thu nhập của ca sĩ hát nhạc trẻ cao hơn nhiều so với những nghệ sĩ hát chèo, hát xẩm… Chị có thấy chạnh lòng không?  

– Nghệ thuật truyền thống hay hiện đại cũng như là một mặt hàng và đã là mặt hàng thì bạn có quyền chọn những gì mà mình thích. Nếu chúng ta quy ước thành một “món ăn” thì sẽ tạm hình dung thế này: Xẩm, ca trù, chèo, chầu văn… với khách hàng hiện nay chẳng khác gì một món ăn “khó nhằn” đặc biệt là với giới trẻ.

Trong nhiều show diễn, tôi từng tham gia với ca sĩ trẻ có tên là “Nguyễn thị nứt mắt” (…), họ được trả cát sê trên chục triệu, còn tôi chỉ có trên dưới một triệu và điều đó là chuyện bình thường. Trên mọi sân khấu, ngoài yếu tố về nghệ thuật thì việc thu hút được đông khán giả với nhà tổ chức cũng là một hình thức kinh doanh. Đã là kinh doanh phải tính toán đến lợi nhuận chứ! 

Nhiều làn điệu xẩm thường được ngẫu hứng ứng tác. Khi hát xẩm chị đã bao giờ làm việc này chưa?

– Có một làn điệu xẩm thường được các nghệ sĩ ứng tác là “Xẩm sai”-  được xuất phát từ thầy cúng mà trong đó ở trong chèo đã có. Đi diễn ở đâu, gặp những hoàn cảnh cụ thể chúng tôi đều có thể ngẫu hứng ứng tác. Nhiều khi hát xong rồi quên nhưng cũng có bài lại được nhiều người rất nhớ!

Theo Tintuconline

Gửi 21/03/10 08:08

http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=171854

PHẠM THU HƯƠNG : NSƯT Thanh Ngoan: Dựng xẩm sao cho thật đời, VIETNAM 2012


NSƯT Thanh Ngoan: Dựng xẩm sao cho thật đời

Thứ năm 08/11/2012 08:00

ANTĐ – Sắc sảo và đanh đá, hình ảnh này không còn xa lạ với công chúng khi xem NSƯT Thanh Ngoan biểu diễn xẩm. Nhưng còn góc khuất khác trầm tĩnh, u buồn trong chị sẽ được hé lộ qua bộ phim “Đời xẩm”. Cùng với nghệ sỹ Hoàng Anh Tú, chị sẽ cho ra mắt bộ phim vào dịp đầu năm 2013 để tái hiện chặng đường xuyên thế kỷ của xẩm từ những ngày xa xưa đến thế kỷ 21. 

 


NSƯT Thanh Ngoan và Hoàng Anh Tú sẽ hóa thân thành vợ chồng xẩm mù trong bộ phim 

 

– PV: Tái hiện lịch sử của xẩm đã khó, chị làm thế nào để tái hiện được tính đời của xẩm khi đặt tên cho bộ phim là “Đời xẩm”?

– NSƯT Thanh Ngoan: Bằng 2 nhân vật: ông xẩm mù (NSƯT Hoàng Anh Tú) và bà xẩm sáng (NSƯT Thanh Ngoan) tung hứng đối thoại tự nhiên và hát xẩm, bộ phim sẽ đưa người xem đến với không gian văn hóa vùng đồng bằng Bắc bộ những ngày đầu tiên xẩm ra đời với bến nước mênh mang. Rồi xẩm lên thành phố cùng với chiếu xẩm của 2 vợ chồng già, xẩm vào không gian khán phòng sang trọng của Nhà hát Lớn, xẩm theo chân những người bán thuốc trên các chuyến tàu điện leng keng chạy khắp nội ngoại thành Hà Nội và xẩm còn ra nước ngoài. Nhưng như thế chưa đủ để miêu tả tính đời của xẩm. Xẩm còn đi vào đời sống với những giằng co dữ dội về nội tâm giữa 2 nhân vật, trong hỉ, nộ, ái, ố của con người. Rồi 2 vợ chồng nhà xẩm ngân nga một làn điệu xẩm để xua tan nỗi lòng và truyền vào câu hát tình cảm của con người. Như vậy, xẩm mới thật đời! (cười). 

– Có ý kiến cho rằng, làm phim về xẩm để lưu lại cho hậu thế sau này hồn cốt dân tộc thì nên để các nghệ nhân biểu diễn mới chuẩn. Chị thấy sao?

– Tất nhiên là tôi không đồng tình rồi! Xẩm mà được đích thân các nghệ nhân biểu diễn thì còn gì bằng. Nhưng thử hỏi nếu không có người kế cận và nối tiếp sự nghiệp của các nghệ nhân thì xẩm sẽ phát triển như thế nào. Tôi và anh Hoàng Anh Tú tuy là 2 nghệ sỹ biểu diễn, không “lớn lên” từ xẩm nhưng đều là những người yêu xẩm và đang hoạt động nghệ thuật dựa vào xẩm. Hơn thế, ngày xưa các nghệ nhân biểu diễn một bài lên tới 30 phút thì ngày nay, chúng ta có thể gọt giũa cho xẩm ngắn lại và phù hợp với đời sống gấp gáp nhưng không làm mất đi hồn cốt của xẩm. Tôi không quá quan trọng việc nghệ sỹ, tài năng trẻ hay các nghệ nhân biểu diễn xẩm mà tôi chỉ quan tâm họ tìm được bí quyết và giữ gìn tinh hoa của xẩm như thế nào mà thôi. 

– Cá nhân chị đang giữ gìn xẩm như thế nào?

– Như tôi đã nói, tôi không ngại sự đổi mới mà chỉ quan tâm đến hồn cốt của xẩm. Nếu cứ sợ phát triển mà bảo thủ trì trệ trong giữ gìn xẩm thì tốt nhất không làm gì cả. Thanh Ngoan đang làm tất cả khả năng để giữ gìn xẩm. Từ một người không biết kéo nhị, tôi đã tự học thầy học bạn nghề để đến giờ phút này có thề vừa hát vừa kéo nhị. Và từ một người hát chèo, giờ thì cái tên Thanh Ngoan đã thật sự được công chúng biết tới ở lĩnh vực hát xẩm bên cạnh những tên tuổi như Xuân Hoạch, Anh Tú và cao hơn nữa là người nghệ nhân cuối cùng thế kỷ 20 của nghệ thuật hát xẩm-Hà Thị Cầu. Tham gia biểu diễn ở chiếu xẩm chợ Đồng Xuân mỗi tối thứ 7, có người bảo tôi, “già rồi thì ai xem” nhưng tôi vẫn tiếp tục đến với sân khấu làm nghề để khán giả không quên đi hình ảnh của những người hát xẩm xa xưa rất gần gũi trong đời sống cư dân thành thị Hà Nội. 

–  Chưa bắt tay vào dựng cảnh quay đầu tiên, “Đời xẩm” đã vấp phải những khó khăn như thế nào, thưa chị?

– Ở bộ phim này, êkíp đang lên danh mục cho từng cảnh quay. Trong đó, có nhiều cảnh rất gần với đời sống hiện đại. Xẩm không chỉ ngồi ở góc chợ kiếm tiền nữa mà còn được các đại gia đầu tư tiền của để biểu diễn, xẩm được tung hô, bị chê bai… Đó là hiện thực của cuộc sống, chúng tôi không bịa ra nhưng cũng lo lắng về các ý kiến đánh giá, nhận xét khi bộ phim được ra mắt. Nhưng xét cho cùng, nếu cứ sợ thì không làm được gì. Thôi thì cứ mạnh dạn làm, được đến đâu hay đến đó. Dự kiến bộ phim sẽ được ra mắt vào đầu năm 2013. 

Phạm Thu Hương (Thực hiện)

http://www.anninhthudo.vn/Blog-nghe-si/NSUT-Thanh-Ngoan-Dung-xam-sao-cho-that-doi/473241.antd

Giang hồ… phố cổ, nghe Thanh Ngoan hát xẩm


Giang hồ… phố cổ, nghe Thanh Ngoan hát xẩm

Bạn đã nghe hát xẩm bao giờ chưa? Cái nghệ thuật của phố chợ, lề đường bình dân đến vậy mà lại quyến rũ đến không ngờ. Không tin, bạn cứ thử “giang hồ vặt” ra Hà Nội phố cổ một chuyến mà nghe Thanh Ngoan hát xẩm. Bạn sẽ phải lòng… hát xẩm Hà Nội cho coi!

Báu vật sống

Giang ho pho co nghe Thanh Ngoan hat xam
Thanh Ngoan

Cách đây có dễ đã hàng chục năm, trong một liên hoan trích đoạn chèo hay toàn quốc tổ chức ở Hoa Lư, Ninh Bình, cả một tuần lễ trên sân khấu rộn ràng những đào kép chèo trẻ trung xuân sắc nườm nượp thi tài, vào đêm cuối bỗng xuất hiện một bà lão “đặc” nông dân, như bước ra từ cổ tích Tấm Cám

 

: nghệ nhân Hà Thị Cầu. Bà cụ vấn khăn, mặc yếm áo cánh, quần đen, tay kéo nhị, răng đen nhưng nhức, khoan thai bước lên sân khấu, ngồi đĩnh đạc trên chiếc chiếu cói Ninh Bình nổi tiếng và cất tiếng hát… xẩm huê tình, như một tiết mục chào mừng.

Khán giả bất ngờ lặng ngắt, gần như tê điếng lòng dạ trước một cảnh tượng vô cùng hi hữu của nghệ thuật dân gian quê mùa, vốn là của những người hát rong khiếm thị trong những làng xã, chợ búa ngày xửa ngày xưa, hay trong những phố thị tỉnh lẻ, những lòng phố, con ngõ nhỏ nhoi của Hà Nội một thời đã quá xa xăm… Tiếng hát xẩm của nghệ nhân Hà Thị Cầu quả thật độc đáo, sang sảng nội lực, lên bổng xuống trầm, khoan nhặt du dương, dìu dặt huê tình, khiến người nghe như muốn tan nát cả cõi lòng…

Kết thúc Hội chèo Ninh Bình, ấn tượng hát xẩm nghệ nhân Hà Thị Cầu, với tôi, hóa ra lại là khó phai nhất. Và quả nhiên, bà đúng là hiển thị rỡ ràng một thứ báu vật sống của văn hóa phi vật thể trong gia tài di sản văn hóa truyền khẩu độc đáo của người Việt. Tôi và nhiều người nghe hôm ấy đều không hẹn mà cùng ngỡ rằng, có lẽ sau bà, khó có nghệ sĩ nào có thể lặp lại được một thứ mã nghệ thuật gần như có một không hai này.

Lúng liếng là lúng liếng ơi…

Thế rồi có một cô đào chèo sáng giá của Nhà hát chèo VN cũng bị bất ngờ phải lòng cái nghệ thuật hát xẩm đặc biệt bình dân, cũng đặc biệt quyến rũ ấy của nghệ nhân Hà Thị Cầu, mà dốc lòng dốc chí khôi phục nghệ thuật hát xẩm và có gan đưa hát xẩm vào biểu diễn ngay giữa lòng phố cổ Hà Nội, tháng 3-2006, khi Hà Nội mở một tuyến du lịch phố cổ, cho khách du lịch đi bộ dọc theo phố Hàng Đào lên tới chợ Đồng Xuân.

Má lúm đồng tiền, đôi mắt lá răm đen láy như ca dao miêu tả huê tình lúng liếng là lúng liếng ơi, cô đào chèo đầy bản lĩnh, nói theo cách Nam bộ là “gan cùng mình” này chính là NSƯT Thanh Ngoan, tuổi Bính Ngọ, 1966, cái tuổi không chịu khoanh tay ngồi chờ số phận đem điều may mắn đến cho mình, mà chỉ muốn phải tự tay lao động và tự tay gặt hái thành quả nghệ thuật.

Thanh Ngoan đang học đại học đạo diễn sân khấu tại chức năm thứ hai, ĐH Sân khấu – điện ảnh Hà Nội. Tôi được mời thỉnh giảng môn cơ sở văn hóa VN và lịch sử sân khấu VN đúng vào lớp của Ngoan, chỉ có hơn chục nghệ sĩ kịch, chèo, cải lương Hà Nội mà có đến quá nửa là “sao sân khấu” của các nhà hát, đoàn hát thủ đô: NSND Lê Khanh, NSƯT Thúy Ngần, Thúy Mùi, Chí Trung, Sĩ Tiến…

Giang ho pho co nghe Thanh Ngoan hat xam
Hai đào lệch Thanh Ngoan (trái) – Thúy Ngần và các bạn diễn trong CLB Sắc Việt – Ảnh tư liệu

Thanh Ngoan chăm chỉ ham học như Lê Khanh. Lạ nhất là Khanh rất mê xem Ngoan diễn chèo, nhất là các vai đào lệch. Tôi và nhà văn Hồ Anh Thái cũng mê như Khanh, mê nhất là những vai đào lẳng, đào lệch.

Thanh Ngoan tự nhận mình là một đào chèo may mắn, trời cho duyên sân khấu bẩm sinh, dẫu rằng cả gia đình cô, một gia đình nông dân vùng biển Thái Thụy, Thái Bình, không một ai theo nghiệp hát chèo. Ngôi làng của Ngoan cách bờ biển chừng 3km, Ngoan cười phá lên, tự nhận xét: “Vì thế da em mới ngăm ngăm cô ơi, mà em thì ăn sóng nói gió, lại lận đận tình duyên nữa. Lần đò thứ hai rồi. Nhưng số em có lẽ ăn về hậu vận, lần này xem ra xuôi chèo mát mái…”.

Tôi chẳng tiện hỏi thêm chuyện riêng của Ngoan, biết vậy để mừng cho cô có thể yêu mến nghệ thuật chèo toàn phần, theo đúng tính cách người mà cũng chính là tính cách nghề nghiệp mà cô có khả năng tự thức thật rõ ràng mạch lạc về mình: “Em yêu nghề diễn viên chèo hết mình, từ khi em là đứa con gái quê lúa Thái Bình khăn gói lên Hà Nội, được tuyển thẳng vào Nhà hát chèo từ năm 13 tuổi. 28 năm ở Hà Nội em chỉ ở Nhà hát chèo, không đứng núi này trông núi nọ, miệt mài học nghề từ các nghệ nhân nổi tiếng: Năm Ngũ, Dịu Hương, Minh Lý, Diễm Lộc.

Lúc nào em cũng biết em đang ở đâu, em đang làm gì, em sẽ làm gì để phát triển nghề nghiệp của em. Em muốn trở thành một nghệ nhân chèo đa dạng, biết hát diễn chèo cổ, chèo cách tân, ca trù, chầu văn… Cách đây vài năm, em đâm đầu vào mê hát xẩm, và cô thấy đấy, em đã có riêng một sân khấu ở phố cổ dành riêng cho hát xẩm Hà Nội xen lẫn với một ít làn điệu chèo cổ, ca trù và hát văn…”.

Rồi Thanh Ngoan lúng liếng mắt hạt nhãn, má lúm, môi hồng, cô cất tiếng hát, đầy những nỗi niềm riêng…

Nhị tình em ở nhất tâm… / Sao anh lại ở với em nhị tình?

Đúng là trong cả cuộc đời nghệ thuật, Thanh Ngoan chỉ sợ nhất là người xem quay lưng ngoảnh mặt với chèo hoặc hiểu sai chèo, làm mất giá chèo, vốn được coi là một đồ cổ lành, một viên ngọc không tì vết, như thầy Trần Bảng của cô vẫn dạy. Ngoan ráng thi đỗ vào khoa đạo diễn, chỉ với ý định được làm nghề chèo một cách có học, được đọc sách “công cụ” để hiểu sâu về văn hóa dân gian, nguồn cội của sân khấu chèo.

Không phải ngẫu nhiên, Thanh Ngoan đã cùng hai nghệ sĩ thành lập Câu lạc bộ Sắc Việt, với một không gian biểu diễn thính phòng ở 75 Hàng Bồ, chuyên biểu diễn chèo cổ, ca trù, chầu văn… đều đều vào thứ bảy, chủ nhật hằng tuần và đã trụ vững gần hai năm, như một địa chỉ du lịch nghệ thuật hấp dẫn khách du lịch trong ngoài nước, nhất là những người Hà Nội xa xứ.

Đợi cho đến chín muồi về thời gian nghiên cứu, cũng như nội lực biểu diễn (Thanh Ngoan có tài lôi kéo các bạn nghề cùng xắn tay áo làm nghệ thuật), tháng 8-2006 này Thanh Ngoan mới “xuất chiêu” hát xẩm và cùng với Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc VN thu ba CD: Năm cung chèo, Xẩm Hà Nội, Hát văn tuyển chọn. Dịp 2-9 vừa qua, Thanh Ngoan hân hoan khoe thêm VCD Hà Nội 36 phố phường mới ra mắt.

Theo “lúng liếng là lúng liếng ơi Thanh Ngoan”, chúng tôi thỉnh thoảng “giang hồ vặt”, từ phía nam thành phố, ngã tư Vọng, lên bờ hồ Hoàn Kiếm, gửi xe máy đầu phố Hàng Đào, lững thững đi dọc phố. Trước cửa chợ Đồng Xuân, 8 giờ tối, cô đào Thanh Ngoan rực rỡ xiêm áo đào chèo, yếm thắm, môi hồng, mắt liếc đong đưa, giọng hát mới tình tứ, đa đoan làm sao: Em ơi em ở lại nhà / Vườn dâu em đốn mẹ già em thương / Mẹ già một nắng hai sương / Chị đi một bước trăm đường chị lo

À, mà đấy mới chỉ là một làn điệu xẩm tầu điện thôi nhé, hay còn gọi là xẩm thập ân, xẩm chợ. Còn nhiều nữa. Đêm đầu thu Hà Nội, ta có thể đi chơi suốt đêm trong phố cổ mà bên tai vẫn còn nữa, văng vẳng các làn điệu xẩm da diết tình tự của những ngày xưa xa lắm, nào là xẩm ngâm (sa mạc, bồng mạc), xẩm xoan (chinh bong), xẩm ba bậc (xẩm nhả tơ), xẩm chợ và sau chót là xẩm huê tình… Theo mỗi bước đi thong thả của ta trong đêm sâu Hà Nội, những làn điệu xẩm ấy mới quấn quyện, quyến luyến làm sao.

Không tin, bạn cứ thử “giang hồ vặt” ra Hà Nội phố cổ một chuyến mà nghe Thanh Ngoan hát xẩm. Bạn sẽ phải lòng… hát xẩm Hà Nội cho coi!

Theo Nguyễn Thị Minh Thái
Tuổi Trẻ

Việt Báo (Theo_Tien_Phong)

MAI XUÂN TÙNG : KTX Mễ Trì chật ních khán giả vì hát xẩm, VIETNAM 2009


KTX Mễ Trì chật ních khán giả vì hát xẩm

 

(Dân trí) – Giọng xẩm điêu luyện, lả lướt đậm chất ngẫu hứng, tiếng đàn nhị réo rắt, tiếng sênh đệm giữ nhịp, vừa đàn vừa hát, NSND Xuân Hoạch đã làm say đắm những sinh viên có mặt tại nhà văn hoá KTX Mễ Trì trong đêm thứ hai giới thiệu về nghệ thuật truyền thống

NSND Xuân Hoạch biểu diễn tại KTX Mễ trì tối 14/5Hội trường chật cứng khán giả thưởng thức xẩm

 

“Gánh xẩm” ông Xuân Hoạch của Trung tâm phát triển âm nhạc vẫn đều đặn chải chiếu hát “miễn phí” vào tối thứ 7 ở khu phố cổ của đất Hà Thành như: Hàng Ngang, Hàng Đào… Nhưng nay mới tối thứ 5(14/5) và ở một địa điểm khác là Nhà Văn hoá KTX Mễ Trì, cùng một số loại hình nghệ thuật cổ nữa, chiếu xẩm có ông và NSƯT Thanh Ngoan được chải trong chương trình “Giới thiệu văn hóa nghệ thuật truyền thống cho cán bộ và sinh viên ĐHQGHN”.

 

Xuất hiện trên sân khấu Mễ Trì với trang phục biểu diễn chỉnh tề, trông ông còn xuân và sung sức lắm. Ít ai có thể ngờ được, tính đến năm con trâu – Kỷ Sửu này “ông xẩm của nhân dân” Xuân Hoạch đã ở tuổi lục tuần.

 

Khoảng 19h30, màn “Trống hội” – hoà tấu nhạc cụ gỗ sôi nổi đã bắt đầu cho đêm diễn thứ hai trong loạt chương trình đưa nghệ thuật truyền thống đến với sinh viên. Khán giả như được sống trong không khí tưng bừng, hứng khởi của một ngày hội thực sự. Và được thấy Xuân Hoạch trong vai trò tay trống chính của tiết mục vẫn vững vàng, linh hoạt, nhuần nhị lắm.
 

Hát xẩm chợ “Sướng khổ vì chồng” do NSND Xuân Hoạch và NSƯT Thanh Ngoan biểu diễn

 

Đến tiết mục hát xẩm chợ “Sướng khổ vì chồng”, khán giả được thưởng thức tài năng vừa đàn vừa hát của ông. Một chất giọng xẩm đạt đến độ điêu luyện lả lướt đầy ngẫu hứng, tiếng đàn nhị réo rắt khiến lòng người không khỏi thổn thức. NSND Xuân Hoạch và người bạn diễn NSƯT Thanh Ngoan đưa cả hội trường chìm vào âm hưởng đặc trưng của làn điệu xẩm chợ – một trong hai điệu chính của loại hình nghệ thuật cổ xưa hát xẩm. Một điệu xẩm có giọng hát mạnh, những tiếng đệm, tiếng hơi đều hát nối tiếng bằng lời hát chính và đệm đàn bầu hay đàn nhị với sênh phách. Tiết mục của hai nghệ sĩ nhận được tiếng vỗ tay nhiệt của khán giả.

 

Khán giả còn tiếp tục được gặp ông trong tiết mục hát Hầu Văn “Xá thượng” cầu tài lộc đầu xuân. 

 

Ngoài hát xẩm, trong chương trình giới thiệu văn hoá nghệ thuật truyền thống, NSND Xuân Hoạch đã cùng các nghệ sĩ Nhà hát ca múa nhạc Trung ương mang đến nhiều âm hưởng độc đáo của dân tộc như: Chùm sáo dân tộc – NS Xuân Trung; Độc tấu đàn bầu – NS Xuân Bình; Quan họ Bắc Ninh (Tương phùng tương ngộ, Hát Giã Bạn) – NS Mạnh Thắng và NSUT Vương Hà; Hoà tấu đàn Tra Ngô: Dân ca Thái – “Inh Lả ơi” … 

 

Và dù là đêm văn nghệ truyền thống; chưa đến cuối tuần lại đang độ thi cử nhưng chương trình vẫn thu hút sự quan tâm của nhiều bạn trẻ. Tham dự có sinh viên trường KHXHNV, ĐHTN và các trường ĐH Hà Nội, ĐH Kiến Trúc… Nhà Văn hoá KTX Mễ Trì, các dãy ghế chật ních khán giả. Không khí cổ vũ không kém phần sôi nổi như những đêm văn nghệ hiện đại.
 
Một tiết mục giao lưu của các nghệ sĩ với sinh viên KTX Mễ Trì tối qua 14/5

 

Nguyễn Văn Chương (sinh viên năm thứ 3 trường KHXHNV) bộc bạch: “Quả không phí. Đây là lần đầu tiên em được thưởng thức một chương trình đặc sắc và chuyên nghiệp, tổng hợp nhiều loại hình văn hoá nghệ thuật truyền thống. Đó là cơ hội để em biết thêm về nét đẹp tinh hoa cội nguồn dân tộc mình”.

 

“Giới thiệu văn hóa nghệ thuật truyền thống với cán bộ và sinh viên ĐHQGHN sẽ là một hoạt động thường xuyên. Mỗi tháng sẽ có hai buổi diễn ở hai địa điểm là: Kí túc xá Mễ Trì (182 Lương Thế Vinh – Hà Nội) và Hội trường 10-12 (144 Xuân Thuỷ – Hà Nội)”, thầy Vũ Minh Giang – Phó GĐ ĐHQG cho biết.

 

Mai Xuân Tùng

(K51-Ngôn ngữ học, trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN)

Thứ Sáu, 15/05/2009 – 09:34