Tag Archives: biography

Nguyễn Vĩnh Bảo’s Life and Goals


ImageImageImage

Nguyễn Vĩnh Bảo’s Life and Goals

Born to landholding parents on August 19, 1918 in Cao Lãnh Village, Sa Đéc Province in southern Vietnam, I am the second youngest  of seven children—four boys and three girls. My father was considered a cultured person and one who loved poetry and music. He played three instruments: the đàn kìm (moon-shaped lute), the đàn tranh (sixteen-stringed zither) and the đàn (two-stringed fiddle) 

At age five, I began to teach myself to play the đàn đoản (short-necked moon-shaped lute) by imitating my brothers and sisters, who were also musicians.

Soon after, I started studying the mandolin, đàn kìm, đàn tranh and đàn gáo (two-stringed fiddle with a coconut shell as a resonating chamber). I eventually mastered all instruments of a genre of Vietnamese traditional music specific to southern Vietnam called nhạc tài tử Nam bộ or the music of talented amateurs. I also developed some familiarity with the European classical tradition with my study of the piano.

As was the case for most performers of nhạc tài tử, my siblings and I played music simply as a pastime. The early twentieth century saw the introduction of new technologies and institutions to Vietnam, however, and in 1938, a German producer for Beka Records. invited me to participate in a professional recording session.

In 1956, the National School of Music in Sài Gòn has been set up, with the attempt to support two musical cultures: Western and Vietnamese traditional music. Of these, the former displays to the young Vietnamese its flawless instruments, its accurate notation, varied repertoire, disciplined orchestras, whereas on the Vietnamese music they find archaid instruments, primitive system of notation, restricted repertoire, no orchestration, and a complete lack of discipline within the orchestra.

In Vietnam as in all Westernized countries, in order to fit new enrironnement, a number of people are trying to imitate the manner of living, the outlook, the artistic and literary style introduced by the Western. Thus, the Vietnamese music often takes on the figure of a clumsy old woman for whom one can have a certain respect, but whose company is rather boring. Partisan of progress and faithful to the tradition, I willingly became an instructor of the đàn tranh and also served as a resource and consultant to the Director. 

In 1964, after leaving the School of Music, I was invited to give a number of domestic and international lectures on traditional music. In Sài Gòn, I spoke about general aspects of Vietnamese traditional music and its place within the sphere of the Asian traditional arts at the Vietnamese American Association, the Saigon Goethe Institute, and the French Cultural Center.

Outside of Vietnam, I participated in the Southeast Asia Cultural Festival in Singapore in 1963 and performed at NHK Broadcasting in Tokyo in 1970. From October 1, 1971 to March 31, 1972, I was Visiting Professor of Music at Southern Illinois University, Carbondale, where I tutored fifteen students on the đàn tranh and served as a major contributor to the academic programs of the University. In April 1972, I was invited to give a joint-lecture performance with Trần Văn Khê at the Grand Amphithéâtre de l’Institut d’Art et d’Archéologie in Paris. I also made a series of recordings with Trần Văn Khê for Ocora Records and UNESCO.

After returning to Sài Gòn, I continued to give private music lessons at home, online and to build musical instruments.

“Art is vaste, but life is short”.

Vĩnh Bảo

NGUYỄN THẾ THANH : NHÀ TRẦN VĂN KHÊ Ở SAIGON


Nhà Trần Văn Khê ở Sài Gòn

NGUYỄN THẾ THANH | 11/02/2013 15:00 (GMT + 7)
TTXuân – Tết 2006 là một cột mốc thời gian đáng nhớ trong cuộc đời giáo sư – tiến sĩ Trần Văn Khê. Lần đầu tiên được ăn Tết tại “nhà của mình” trên chính đất nước mình, cảm giác trong ông xao xuyến, bồi hồi rất lạ.
  • Buổi sinh hoạt âm nhạc định kỳ tại nhà giáo sư Trần Văn Khê – Ảnh: Nguyễn Á
  • Giáo sư Trần Văn Khê và ca nương Phạm Thị Huệ – Ảnh: T.T.D.
 

Lúc khai đàn đầu xuân, tập quán mà ông giữ được bao năm qua, cuốn phim ký ức bỗng đưa ông về những năm đầu thập niên năm mươi ở nước Pháp, khi ông vừa theo học ở khoa giao dịch quốc tế Trường Chính trị Paris vừa đi đánh đàn thuê ở tiệm ăn La Paillote do ông Từ Bá Hòa làm chủ. Đánh đàn để kiếm sống, nhưng ông chỉ sử dụng các nhạc cụ truyền thống Việt Nam và chơi các bản nhạc truyền thống Việt Nam, vậy mà thực khách ưa thích.

 

 

Từ đó đến nay đã hơn nửa thế kỷ mà ông vẫn đeo đuổi chỉ một công việc: nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống Việt Nam và góp phần vinh danh giá trị đó ở khắp nơi trên thế giới. 15 đại học ở nước ngoài, 200 hội nghị quốc tế về âm nhạc tại 67 quốc gia, 20 liên hoan âm nhạc thế giới… ở bất cứ nơi đâu ông có mặt, âm nhạc Việt Nam lại đĩnh đạc vang lên.

Tháng 8-2006, tại một nhà hát ở Torino (Ý) trong tuần lễ “Di sản âm nhạc Việt Nam” do các bạn Ý tổ chức, mỗi khi các nghệ sĩ Hải Phượng, Huỳnh Khải, Nhứt Dũng biểu diễn dứt một tiết mục nhạc tài tử và nhạc lễ Nam bộ, giáo sư Trần Văn Khê lại lên sân khấu giới thiệu bằng tiếng Pháp và tiếng Anh về ý nghĩa, về những điểm chung và riêng của các loại hình âm nhạc này.

Rồi, thật là bất ngờ, ông cầm lấy cái trống bồng đánh lên để khán giả có thể nhận ra những âm thanh khác biệt của nó với các loại trống khác. Tay trống của ông mềm mại và dứt khoát, tiếng trống lúc nhặt lúc khoan, không ai còn nhớ ra người chơi trống đã tám mươi lăm tuổi…

Tiếng vỗ tay dành cho ông rền vang khán phòng. Khoảnh khắc xúc động ấy người viết bài này may mắn được chứng kiến…  Chả trách, các đồng nghiệp quốc tế của Trần Văn Khê vẫn gọi ông là người đa tài: giỏi nghiên cứu, giỏi truyền giảng, giỏi ngoại ngữ và giỏi kỹ năng biểu diễn. Họ thành tâm thú nhận đã bị mê hoặc vì sự tài tình và vẻ say sưa của ông khi truyền đến họ nét đặc sắc của một nền âm nhạc mà ông đã đắm mình từ tấm bé…

Trở về Việt Nam sau chặng đường bôn ba hơn nửa thế kỷ ở xứ người, giáo sư Trần Văn Khê đã mang theo về 435 kiện sách và hiện vật âm nhạc quý giá mà ông thu thập, gìn giữ trong suốt những năm dài nghiên cứu, giảng dạy và nay tặng lại Nhà nước Việt Nam để phục vụ cộng đồng. Nhưng, có lẽ biệt tài giới thiệu âm nhạc dân tộc của ông mới chính là thứ tài sản quý giá hơn cả mà cộng đồng được ông trao tặng.

Với sự giúp sức của các cơ quan nhà nước và bạn bè thân hữu, ngôi nhà ông ở những năm cuối đời tại đường Huỳnh Đình Hai (Bình Thạnh, TP.HCM) thực sự trở thành một địa chỉ văn hóa sống động. Tại ngôi nhà này, từ tuổi tám mươi lăm đến nay, Trần Văn Khê vẫn kết nối các mối quan hệ âm nhạc trong và ngoài nước, vẫn trực tiếp tham gia giảng dạy và giới thiệu âm nhạc dân tộc, đặc biệt nhất là vẫn tham gia biểu diễn trong các buổi sinh hoạt định kỳ và ngoại kỳ.

Một đêm tháng 2-2007, khi ca nương Phạm Thị Huệ chuyển từ đàn đáy phụ họa với nhóm ca trù TP.HCM sang phần độc tấu đàn tì bà theo phong cách Huế, Trần Văn Khê đã bất ngờ nhập cuộc, kéo Phạm Thị Huệ ứng tác ứng tấu với ông một đoạn chỉ có trống và tì bà. Tiếng tì bà của Phạm Thị Huệ đi theo tiết tấu trống của Trần Văn Khê say sưa và thần tình một cách lạ lùng.

Đoạn nhạc hòa tấu đầy ngẫu hứng và hào hứng sáng tạo đó khó gặp ở thời nay đã lay động hết thảy những người tham dự chương trình sinh hoạt định kỳ hôm ấy. Ngoài vẻ say sưa, không ai còn nhận thấy nét già nua, đau ốm nào trên gương mặt Trần Văn Khê. Ông đã luôn cháy lên như thế mỗi khi đắm mình với nghệ thuật dân tộc, bằng lời và bằng nhạc.    

Đến thăm giáo sư Trần Văn Khê một ngày cuối năm 2012, câu chuyện giữa chủ khách đã theo các sổ ghi chép và hình ảnh mà lần trở lại những kỷ niệm xa gần liên quan đến sự nghiệp của ông. Ông lướt qua rất nhanh, thậm chí bỏ qua những gì ông cho là không còn quan trọng nữa. Tỉ như những giải thưởng, những danh hiệu của các chính phủ, các tổ chức quốc tế và cả Chính phủ Việt Nam đã trao cho ông trong hơn nửa thế kỷ qua. Chúng rất nhiều và không phải không có ý nghĩa.

Nhưng giờ đây, với tư cách là nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc, quan trọng nhất với ông vẫn là những ngày cuối đời này làm sao góp phần nhiều hơn nữa vào việc nghiên cứu, giảng dạy và quảng bá để âm nhạc dân tộc thực sự làm rung động và đi vào tâm cảm của người đương thời, nhất là người trẻ. Ông sợ cách làm cẩu thả, chiếu lệ, thiếu cảm xúc và thiếu cả kỹ năng sẽ làm cho âm nhạc dân tộc mất đi khả năng lay động khán giả đương thời, cho dù di sản ấy thực sự quý giá và đặc sắc.

Ông muốn những Thúy Hoan, Đỗ Lộc, Trần Quang Hải, Phạm Thị Huệ, Huỳnh Khải, Hải Phượng, Đức Dũng, Anh Tấn, Nhứt Dũng, Văn Môn, Lê Tứ, Đinh Linh, Tuyết Mai… và những điểm sáng khác được nhân ra nhanh hơn, nhiều hơn thay vì còn ít như hiện nay.

Và trong khi mọi sự chưa phải đã được như mong muốn, Trần Văn Khê vẫn tự mình tham gia các chương trình giảng dạy và giới thiệu âm nhạc dân tộc cho người trẻ. Thực hiện dự án “Dạy âm nhạc dân tộc trong bậc tiểu học” ở Trường tiểu học Trần Hưng Đạo. Lên truyền hình biểu diễn các bài dân ca Bắc, Trung, Nam cùng các cháu bé ở Nhà Thiếu nhi quận 1. Nhìn ông mặc áo dài khăn đóng, mái tóc bạc phơ say sưa hát tung hứng với các diễn viên nhí, ai mà biết được mắt ông đã mờ đi nhiều lắm và đi lại đã rất khó khăn.

Gần đây nhất, ngày 22-11-2012 ông nhận lời làm diễn giả trong chương trình “Đi tìm tiếng nói thế hệ” do PACE tổ chức. Với đề tài “Người trẻ và âm nhạc dân tộc”, ông không nói với hơn 600 bạn trẻ về khả năng dâng hiến, về khát vọng thành công, về tính độc lập trong tư duy. Đó là phần luận bàn của các chuyên gia khác. Ông đi xe lăn đến diễn đàn này để trò chuyện với những người trẻ về cảm xúc mà mỗi con người cần phải có, phải giữ để làm nên độ mặn nhạt trong lối sống của mình. Nguồn cội văn hóa sẽ cho người ta một phần rất quan trọng của cảm xúc đó.

Ông giải thích một cách giản dị cho cử tọa trẻ nghe về sự khác biệt của ca trù, ca Huế, chầu văn, nhã nhạc, nhạc tài tử…, về sự tinh tế của dòng nhạc dân gian và sự thâm trầm của dòng nhạc bác học trong âm nhạc dân tộc. Và, bằng chất giọng còn rất trầm ấm nhưng hơi lực chẳng còn như ý, ông đã cất tiếng hát cho các bạn trẻ nghe những điệu ru của miền Nam, miền Trung và miền Bắc.

“Ví dầu con cá nấu canh/Bỏ tiêu cho ngọt bỏ hành cho thơm”. Nỗ lực ngân nga của ông, nét biểu cảm của bài ru trên gương mặt của một người đã đi qua chín mươi hai năm cuộc đời đã làm xúc động thế hệ 7X, 8X, 9X. Tiếng vỗ tay nhiều lần và kéo dài trong khán phòng như thay cho sự chia sẻ và lời tri ân dành cho ông – người mà cả đời tự gánh lấy trách nhiệm giữ gìn và truyền đến mọi người ngọn lửa tình yêu với âm nhạc dân tộc. Vượt qua sự thông thường, câu chuyện về âm nhạc truyền thống Việt Nam có phần nỗ lực minh họa sống động của ông trở thành bức thông điệp về một giá trị văn hóa đặc sắc mà cha ông để lại cho con cháu. 

Đến nhà Trần Văn Khê ở Sài Gòn, nếu may mắn gặp chủ nhà, khách có thể sẽ được nghe nhiều câu chuyện thú vị. Như là câu chuyện sau đây mà nếu muốn, khách có thể lục lọi trong Thư viện Trần Văn Khê (đặt tại nhà ông hiện nay) để biết. Đó là chuyện ông – với tư cách là người Việt Nam đầu tiên được Đại học Sorbonne Paris trao bằng tiến sĩ âm nhạc học với đề tài “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” (La Musique Vietnammienne (traditionnelle) – đã may mắn có cơ hội được giao soạn thảo chín trang về lịch sử âm nhạc Việt Nam trong Encyclopedie de la Pleiade vào cuối năm 1958. Đó là lần đầu tiên âm nhạc Việt Nam được góp mặt vào hệ thống công cụ tra cứu tri thức thế giới.

Đó cũng là một điểm tựa tinh thần, “danh chính ngôn thuận” để Trần Văn Khê thêm tự tin dấn thân vào sự nghiệp quảng bá miệt mài các giá trị âm nhạc truyền thống Việt Nam ở Pháp, ở Hội đồng quốc tế âm nhạc Unesco và nhiều trung tâm nghiên cứu quan trọng khác. Nhờ đó và cùng với sự góp sức từ nhiều bạn bè, đồng nghiệp của Trần Văn Khê mà nhiều năm sau nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên, ca trù… được Unesco vinh danh là kiệt tác di sản truyền khẩu phi vật thể của nhân loại.

Cũng có thể khách sẽ được nghe câu chuyện ca trù nhiều năm bị quên lãng ở miền Bắc Việt Nam đã “sống lại” như thế nào. Đó là năm 1976, giáo sư – tiến sĩ Trần Văn Khê lần đầu về thăm đất nước theo lời mời của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Nhiều cơ quan ở Hà Nội đã mời ông đến nói chuyện: Hội nhạc sĩ Việt Nam, Trường Âm nhạc Việt Nam, Bộ Văn hóa, Đài Tiếng nói Việt Nam…

Ở đâu ông cũng nói về giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống Việt Nam và tầm quan trọng của việc giảng dạy, quảng bá, khai thác đúng nguyên tắc để bảo tồn và phát huy vốn cổ. Sau đó ít lâu, thính giả rất ngạc nhiên nghe trên sóng phát thanh quốc gia tiếng tom chát của ca trù, cả tiếng giới thiệu vang vang của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. Với lần xuất hiện đó, ca trù đã đàng hoàng góp mặt vào đời sống âm nhạc đương đại. Nguyễn Xuân Khoát đã viết cho Trần Văn Khê bức thư vẻn vẹn một dòng “Sự kiện anh về nước đã động viên tôi rất nhiều. Cảm ơn anh”. Lời cảm ơn ấy không mảy may xã giao mà từ đáy lòng một người hằng thiết tha với nghệ thuật ca trù.

Khê nghĩa là suối. Trần Văn Khê một đời qua ví như dòng suối chảy ra biển cả rồi lại ngược về nguồn, đã đậm đà vị mặn nhưng không hề bớt trong mát. Những điều ích lợi mà ông đã làm cho dân tộc mình theo cách riêng của ông đã được quê hương xứ sở ghi nhận sau những năm dài. Tết Quý Tỵ năm nay, theo cách tính của ông bà, Trần Văn Khê bước vào tuổi 93. Trong lời kết cuốn sách sắp xuất bản dịp đầu năm tới ông viết về Phạm Duy – người bạn sinh cùng tuổi con gà, tình thân quyện chặt với nhau già nửa thế kỷ, mỗi câu đều thấm đẫm tâm sự của một người đã nghiền ngẫu trải nghiệm tri hành nghề nghiệp cùng thời cuộc:

“Chúng ta đã đến, đã đi và đã về, đã làm và đã sống, đã yêu và đã mơ, đã thăng và đã trầm, đã cười và đã khóc… qua hai thế kỷ nay. Nhưng Duy ơi, một kiếp nhân sinh với bao năm tháng trôi chảy không ngừng nghỉ, có lúc này cũng có lúc khác, những câu chuyện cứ tiếp nối nhau không dứt, thì Khê cũng như Duy, Duy cũng như Khê, đều mỉm cười và mong rằng:

Nhưng cuối bước đi trăm năm một lần
Đầu cành khô bỗng hoa nở tràn”

(Người tình già trên đầu non).

————————————

* Tin bài liên quan:

>>Xem thêm về GS-TS Trần Văn Khê

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/Am-nhac/532583/nha-tran-van-khe-o-sai-gon.html

Trần Quang Hải : VÔ THƯỜNG (1940 – 2003): Một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt Nam hải ngoại


Trần Quang Hải : VÔ THƯỜNG (1940 – 2003): Một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt Nam hải ngoại

Image

Từ nhiều năm qua, tôi đã nghe rất nhiều băng nhạc, dĩa CD, gặp gỡ rất nhiều danh ca cũng như nhạc sĩ Việt Nam từ những người nổi tiếng từ lúc còn ở Việt Nam đến những người bắt đầu tạo nên tiếng tăm ở hải ngoại . Tôi muốn nói đến các nhạc sĩ đàn anh như Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Phạm Đình Chương, Phạm Mạnh Cương, Nhật Bằng, Hoàng Trọng, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Trịnh Hưng, Lê Hữu Mục, Mạnh Bích, đến các danh ca có nhiều tên tuổi như Thái Thanh, Khánh Ly, Bạch Yến, Lệ Thu, Thanh Thúy, Hương Lan, Elvis Phương, Chế Linh, Anh Khoa, Tuấn Ngọc, Duy Quang ,Thanh Tuyền, Kim Tước, Châu Hà, vv… 

VÔ THƯỜNG (1940 – 2003): Một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt Nam hải ngoại

Trần Quang Hải (Paris, Pháp) 

 

Tôi muốn nói tới những nhạc sĩ trẻ như Đức Huy, Trần Quãng Nam, Trịnh Nam Sơn, các nhạc sĩ phong trào Hưng Ca,các nhạc sĩ các quán Nhạc Việt, Em Ca Hát , các nữ nhạc sĩ trẻ xuất hiện ở hải ngoại như Nguyệt Ánh, Khúc Lan, Lê Khắc Thanh Hoài, Trang Thanh Trúc, Bảo Trâm, Hoàng Kim Chi ,hay các ca sĩ trẻ như Ngọc Lan, Ý Lan, Linda Trang Đài, Như Quỳnh, Dalena, Thanh Hà, Tuấn Anh, Tuấn Vũ, Mạnh Đình, vv…

Băng nhạc đã được sản xuất quá nhiều. Rồi tới CD, VCD, DVD đủ tất cả các loại . Các trung tâm băng nhạc « mọc » lên như nấm . Từ những cuốn băng đầu tiên được thu ở hải ngoại của Thanh Thúy khoảng tháng 4, năm 1976 cho tới ngày hôm nay , bìa băng đã ghi nhận một sự tiến bộ vượt bực từ cách trình bày trang nhã, đơn sơ đến phần chữ nổi, đến những tấm hình ca sĩ hay « người đẹp » chụp rất « hấp dẫn » . Kỹ thuật trình bày có tiến bộ. Kỹ thuật thu thanh tân kỳ hơn . Một vài trung tâm thu băng đầu tiên do nhạc sĩ Việt đứng ra làm chủ như Trung Tâm Tùng Giang, trung tâm Anh Tài . Cả hai Tùng Giang và Anh Tài đều là nhạc sĩ nên họ chú trọng đến kỹ thuật âm thanh nhiều dù rằng người mình vẫn còn mắc phải bịnh để quá nhiều « écho » .

Trong thập niên 80, thị hiếu của người mua băng nhạc có vẻ « thoái bộ ». Qua những cuốn băng được xuất bản từ giữa năm 1985 cho tới 1989, tôi chỉ thấy hình bìa với những cô gái Việt Nam đẹp thì không chỗ chê, nhưng càng ngày càng ăn mặc hở hang . Nếu người mua chỉ thích mua vì hình bìa « hở hang » khêu gợi thì chắc người đó sẽ không để ý tới nghệ thuật âm nhạc của cuốn băng đó .

 

Lý do biết tới nhạc sĩ Vô Thường

Tình cờ đọc trên báo Hồn Việt phát hành tại Glendale, Quận Cam, Cali hồi tháng 5 năm 1987, tôi thấy có một bài quảng cáo 2 cuốn băng chuyên về tây ban cầm do anh Vô Thường độc tấu các bản nhạc quen thuộc của giới nghe nhạc Việt Nam . Tôi tự hỏi : » Vô Thường là ai vậy cà ? » Cái biệt hiệu cũng lạ nữa Tại sao lại Vô Thường ? Như vậy có nghĩa là « không có bình thường » hay là « Khác thường », « Dị thường », « Bất thường » ?

Tôi tự đánh dấu hỏi trong đầu hoài . Anh này đâu có gì là người « không có bình thưòng » mà chắc cũng không phải là người « khác thường ». Theo tôi hiểu chữ « Vô Thường » có nghĩa là « lúc có lúc không » hay « biến cố thình lình đến » theo định nghĩa cua ông Đào Duy Anh trong quyển Hán Việt tự điển . Anh Vô Thường đàn tây ban cầm hồi nào mà tôi không bao giờ nghe tiếng biêt tên ? Tôi chỉ biết có anh chàng trẻ tuổi nổi tiếng bên Mỹ tên là Trịnh Bách hay anh Lê thành Đông, giáo sư Tây ban cầm ở Pháp, hay anh Hoàng Ngọc Tuấn ở Sydney bên Úc mà thôi . Anh này là ai mà mãi tới bây giờ mới xuất đầu lộ diện ???

Thế là tôi liền viết thơ cho anh Vô Thường để nhờ anh ấy gởi cho tôi mấy cuốn băng do anh tự sản xuất lấy, và tự trình diễn . Rồi một hôm , tôi nhận được 2 cuốn băng tựa đề là « Ru Khúc Mộng Thường » 1 và 2 .

Ngồi lắng nghe cuốn « Ru khúc Mộng Thường » 1, những âm điệu của các nhạc phẩm quen biết của Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Trần Định, Đoàn Chuẩn, Phạm Đình Chương qua ngón đàn tây ban cầm của anh Vô Thường gây cho tôi từ ngạc nhiên nây đến ngạc nhiên nọ . Người này là ai mà có ngón đàn có hồn như vậy mà mình chẳng bao giờ quen hay biết tới ? Nghe một lần, chưa đủ để nhận định . Nghe lần thứ hai, rồi lần thứ ba . Càng nghe càng thấm. Tiếng đàn chạy khắp cơ thể, vào tận trong tim não . Càng về khuya, tiếng đàn càng ảo não, như gợi cho tôi một hình ảnh đau buồn, một tâm hồn tuyệt vọng, một ảo thanh của thế giới huyền mộng chứ không phải là « mộng thường » của một anh chàng mang tên là Vô Thường . Tôi không muốn để đầu óc chuyên phân tách nhạc ngữ của tôi làm chi phối tôi mà tôi muốn để tâm hồn tôi bay theo tiếng đàn . Quên đi kỹ thuật mà chỉ nhắm vào tình cảmû, để tìm hiểu con người yêu nhạc, muốn mượn tiếng đàn của mình để nói lên một cái gì đó . Và chính « cái gì đó » làm cho tôi tò mò muốn tìm hiểu thêm về con người, về hứng nhạc của anh nhạc sĩ có tên khá đặc biệt là VÔ THƯỜNG .

 

Vài dòng về thân thế anh Vô Thường

Anh tên thật là Võ Văn Thường, sinh năm 1940 tại Phan Rang, đỗ khóa 9 trường sĩ quan Thủ Đức, phục vụ ngành tâm lý chiến . Lúc nhỏ, anh rất yêu nhạc, có thể nói là mê nhạc nhưng không có phương tiện để học nhạc vì nơi anh ở không có trường quốc gia âm nhạc như Saigon và Huế . Cho nên anh tự học đàn lấy một mình . Nhờ có khiếu, anh đánh đàn măng cầm (mandoline) rất khá, và đã chiếm giải « người đánh đàn mandoline hay nhứt của quân khu » vào năm 1962 .

Tên VÔ THƯỜNG đã được xuất hiện từ lúc đó, nhưng chỉ được một số người trong binh chủng biết đến mà thôi . Anh cũng có giao dịch và gặp gỡ những tay đàn mandoline nổi tiếng ở Việt Nam lúc đó như Pierre Trần ( Trần Anh Tuấn), Lê Duyên , Khánh Băng, Nguyễn Mạnh, Đức Qưê, Văn Lạc. Cũng như nhạc sĩ Khánh Băng, anh chuyển từ mandoline qua tây ban cầm vào năm 1966 . Có một điều là anh đàn tây ban cầm bằng tay trái, ngược đối với tất cả cao thủ đàn ghi-ta. Tuy vậy anh cũng thường xuyên đàn trong một số ban nhạc ở các club Mỹ tại Phan Rang , nơi anh làm việc ở tại trung tâm Bình Định phát triển ở tòa hành chánh Ninh Thuận .

Cuộc đời binh chủng cũng như văn nghệ của anh tưởng cứ như thế mà tiến triển một cách trầm lặng. Nào dè 30 tháng 4, 1975 đến với sự xâm chiếm miền Nam của cộng sản, anh đã phải tự tháo thân , không kịp đem theo vợ và hai con gái trên con đường tạm dung . Anh đã theo lớp người Việt đầu tiên đến xứ Mỹ .

Không biết làm nghề gì trong giai đoạn đầu của cuộc sống mới, anh mới nẩy ra ý mở một cửa hàng bán bàn ghế, tủ giường . Anh trở thành ngưới Việt đầu tiên hành nghề này tại vùng Quận Cam . Từ đó cho tới năm 1987 anh làm chủ tiệm Kim’s Furniture ở Santa Ana, California . Có một dạo, anh mở tới 5 tiệm nhưng vì coi không xuể, lớp vì có máu văn nghệ mạnh quá, anh mới «thử thời vận » hùn với một người bạn mở một khiêu vũ trường mang tên là RITZ vào tháng 3, năm 1983. Nhưng tới tháng 7, 1984, sau 16 tháng « lăn lóc » có dịp thù tạc chén anh chén em, anh đã nhường khiêu vũ trường RITZ lại cho Ngọc Chánh, trưởng ban Shotgun, để quay về nghề bán bàn ghế như trước .

Tuy không có hợp mặt cùng anh em nghệ sĩ trên sân khấu, anh vẫn tiếp tục mượn tiếng đàn tây ban cầm để dạo những khúc nhạc của thời vàng son của miền Nam . Không những nhạc Việt mà còn cả nhạc ngoại quốc . Trong một lá thơ anh viết cho tôi, anh đã kể như sau : « tôi đàn tay trái, thành ra phải học mò và đàn lấy một mình khi còn nhỏ . Không học ký âm pháp nhiều, chỉ quọt quẹt chút ít, nên đôi khi nhìn bản nhạc mà đàn thì chẳng ra hồn . Tôi chỉ ân hận những ngày còn nhỏ vứt đi những thời giờ quý báu . Thành ra cho tới bây giờ, nghĩ cũng muốn để đi vào khuôn khổ . Tôi kỳ vọng gởi hồn vào những bản nhạc những khi hứng đàn, hát và viết nhạc .. Đền bù vào đó, tôi rất nhớ dai và dễ học . Những bản nhạc nghe qua một lần hai lần là tôi mò ra và đánh được, dầu không đúng hẳn 100 % ».

Rồi một ngày chủ nhật 19 tháng 4, 1987, tại quán Phở Ngon ở quận Cam, Cali, anh Vô Thường đã cho trình làng hai cuốn « Ru khúc mộng thưòng » 1 và 2, kết quả của tiếng đàn tây ban cầm mà anh đã để hết tâm hồn cho hai đứa con gái của anh đã đòi hỏi anh đàn cho chúng nghe vì khi anh ra đi, chúng chỉ mới có 6 và 4 tuổi . Giờ đây đãø 18 tuổi và 16 tuổi xuân xanh .

Hai cuốn băng trình làng với sự hiện diện của 200 bạn bè đã gặt hái một kết quả tài chánh và nghệ thuật rất đáng kể . Anh đã dành số tiền 800 Mỹ kim bán băng buổi ra mắt để tặng cho Ủy ban cứu trợ quốc tế (International Rescue Committee) để giúp những trẻ mồ côi tại các trại tỵ nạn Đông Nam Á .

Băng của Anh đã được tái bản nhiều lần, hơn hẳn những băng nhạc « chuyên nghiệp » và báo chí đã cho hiện tượng đó là « ngựa về ngược ». Anh tiếp tục cho trình làng thêm hai cuốn băng khác vào tháng 6 với tựa đề « Hạnh phúc nửa vời » gồm những bản nhạc do Anh sáng tác qua một số giọng hát có tên tuổi trình bày, và một cuốn « Hải Âu » do ca sĩ và nhạc sĩ Phạm Hoàng Dũng phụ trách .

Con đường âm nhạc anh đãø dấn thân vào chỉ mới có mấy tháng trong năm 1987 mà đã gây một tiếng vang. Và dư âm đã vang dội cho tới ngày anh ra đi vào tháng 4, 2003 sau nhiều tháng chống trả với tử thần vì bịnh ung thư , 16 năm thành công với hơn 120 CD đã lưu lại cho hậu thế .

 

Vơ Thường : Ca sĩ và Nhạc sĩ

Anh Vô Thường có viết cho tôi rằng anh không phải là ca sĩ hay nhạc sĩ gì cả . Giọng anh thì khàn, loại « khao khao vọng cổ », nếu không nói là « giọng vịt đực ». Nhưng anh Vô Thưòng đâu có biết rằng giọng hát đó rất khó tìm, vì nó lạ, vì nó khác giọng thường nghe, vì chất nhựa của thuốc, của rượu đã quện lại thành một loại giọng của người đã từng lăn lóc trong trường đời .Đó là cái may mắn của anh mà anh Vô Thường không biết hay không muốn biết .

Ở Pháp có ca sĩ Charles Aznavour cò một giọng hát the thé, hát lên cứ rung hoài. Vậy mà « ăn khách » đến nỗi anh ta phải tìm hãng bảo hiểm giọng hát của anh ta . Ở Mỹ có Louis Amstrong cũng nhờ có giọng khàn đặc biệt mà thế giới thần tượng hóa trong lĩnh vực nhạc Jazz . Nhờ vào cái tâm hồn rất phong phú mà khi anh Vô Thường hát , tiếng hát đó dễ đi sâu vào lòng người nghe, như truyền đi những gì anh muốn nói qua lời ca, qua tiếng nhạc .

Lúc đó tôi chưa gặp anh Vô Thường . Tôi chỉ nghe giọng hát, nghe lời nhạc anh viết , tôi mường tượng con người đã bị đời cho nhiều « vố » đau điếng nên xuyên qua giọng hát , tôi có cảm tưởng một bầu trời bi quan, chán chường, tuyệt vọng, một khung cảnh u sầu, uất hận .

Bản nhạc anh vừa sáng tác vào tháng 8, 1987 với tựa đề « Giọt nước mắt lưu đày » gói ghém nỗi lòng của anh .

 

Đêm thức giấc quanh đây trời đất lạ

Ta một mình biết nói với ai đây

Bao ưu phiền ray rứt bấy lâu nay

Thân lạc loài viễn xứ mấy ai hay.

Giòng nước mắt no đầy kiếp lưu đày

Ly rượu này chưa uống sao ta say ?

Một đoạn khác của bài hát nói lên tâm tư của anh

 

Bây giờ đây, bên kia đại dương cha ta nhục nhã đói

Bây giờ đây, lao tù giam tù nhân đến mấy kiếp

Bây giờ đây căn nhà hoang mẹ ta vừa nhắm mắt

Chiếc quan tài, hay manh chiếu rách gói thân mẹ ta

Ôi trẻ thơ, ôi đàn con đang lang thang ngoài phố trời,

Đi về đâu, không ngày mai, tương lai là bóng tối,

Saigon ơi ! Saigon ơi ! Thay tên và hấp hối

Xác bạn bè, ngã xuống không mồ chôn .

Cuốn băng « Hạnh phúc nửa vời » của anh Vô Thường phát hành giữa năm 1987. Tất cả những nhạc phẩm trong cuốn băng đầu tay có tính cách « chuyên nghiệp » hơn qua các giọng ca đầy triển vọng của Uyên Lan, Lê Uyên, Phạm Hoàng Dũng, Việt Dzũng, Hằng Nga, Ngọc Giao, Như Mai và Vô Thường . Nữ ca sĩ Uyên Lan , một tài năng mới xuất hiện, trước kia ở Houston, nay đã dời đô về Cali, có một giọng hát nghiêng về « alto » hơn là « soprano ». Đa số nữ ca sĩ Việt đều có giọng cao « soprano ». Bản nhạc « Hạnh phúc phù du » cũng như bài « Hạnh phúc nửa vời » đã được Uyên Lan diễn tả với tất cả tâm hồn làm người nghe như lắng đọng trong không gian hư vô .

« Hạnh phúc nửa vời vì không trọn vẹn, vì bên em mà nửa hồn anh như cùng mềm . Khách khoảng thương quê hương vì mòn mỏi đợi chờ , mơ một ngày trở lại . Anh thốt gọi tên em trong câm lặng. Hạnh phúc phù du, hạnh phúc nửa vời » . Đó là lời anh Vô Thường khơi mào vào đầu cuốn băng .

Hạnh phúc nửa vời, qua nhịp điệu habanera chậm buồn, tôi có cảm giác anh Vô Thường muốn gởi trọn nỗi lòng của anh trong tiếng hát của Uyên Lan :

 

Có bao giờ anh khóc một mình

Có bao giờ anh thương nhớ cuộc tình

Một đêm mưa, mưa đêm dĩ vãng

Đến bên anh, lại vuốt vai gầy

Lời tính đầu , cho nhau bỡ ngỡ

Chút ngây thơ, tình thuở dại khờ

Có bao giờ em nhớ trong đời

Có bao giờ em tiếc nuối một thời

Bài nhạc sầu yêu thương với nhớ

Nhớ đêm mưa là nhớ mãi một người

Trong cuốn băng «Hạnh phúc nửa vời », bài tôi thích nhất có lẽ là bản nhạc « Tình khúc cho Saigon » được Lê Uyên diễn tả rất đậm đà, chân tình trong một giọng hát nồng ấm . Cặp Lê Uyên Phương giờ đây không còn nữa . Phương tức Lộc đã ra người thiên cổ sau khi hai người đã xa nhau một thời gian. Lê Uyên hiện vẫn còn hát và điều khiển quán Cà phê LUP, nơi tụ họp của những người làm văn nghệ tại Quận Cam, Cali . Dòng nhạc của bài « Tình khúc cho Saigon » nghe như đi nhẹ vào hồn, như dìu ta về dĩ vãng của thời Saigon xa xưa .

 

Saigon ơi, chớp mắt mười năm qua,

Đời tha hương vẫn thấy buồn trong ta

Giờ lưu vong, mang kiếp sống xa nhà,

Saigon ơi, còn đó ơi xa thật xa

Mười năm trời, ôi nhớ quá Saigon tôi

Đầy đau thưong trống, vắng và đơn côi

Và hôm nay, lê thân xác nơi quê người

Bầy chim non lạc tổ quên lối về

Ngày trôi đi, tôi cứ ngỡ ngày về không xa

Mà mười năm qua, ta hỏi đã được gì cho ta

Nhìn lại ta vẫn sống kiếp xa nhà

Saigon ơi, còn đó nhưng xa thật xa

Dù nơi đây ai có sống đời yên vui

Một mình tôi, tôi vẫn thấy lòng buồn không nguôi

Dù hôm nay tôi sống sót nơi que người

Tim yêu cuối đời, tôi xin gửi hết lại SAIGON tôi

Tất cả những bản nhạc (11 bài tất cả) đều được thể hiện qua hai chủ đề : thương nhớ quê hương , nuối tiếc hạnh phúc mà vì hoàn cảnh đất nước anh đã mất đi và tuyệt vọng trong kiếp sống lưu đầy .

Anh đã bị đời dày xéo . Nếu còn đươc giây phút nào để nói về thân phận , về cuộc đời trên giấy bút , trên âm nhạc, trên văn thơ, thì anh Vô Thường sẽ không ngần ngại .

Nhục nhã của 16 năm làm lính, mất « quê hương », mất gia đình, mất tất cả, lại thêm một nhục lớn là phải ở xứ lạ quê người. Đời chỉ được một lần sinh ra và chết, nhưng bổn phận làm người và tình không còn nữa . Anh Vô Thường đã tâm tình với tôi rằng :

 

« Tôi xin được nói những khi còn có thể nói,

Tôi xin được viết những khi tôi còn có thể viết,

Xin còn đủ lý trí để nhận định và không gì thay đổi

Dù sang hay hèn,

Nghèo hay giàu,

Dù có danh hay không ? »

Đúng như nhà Phật đã nói : « Sắc sắc không không . Không tức thị Sắc . Sắc tức thị Không ».

Cuộc đời của anh Vô Thường được gói ghém qua mấy câu

« Một quê hương trước khi nhắm mắt không hiểu còn có thấy lại hay không ?

Một cuộc đời toàn những hạnh phúc phù du, người đây, vợ và con một ngã, của 12 năm

Ước muốn chi nhiều, rồi cũng bấy nhiêu thôi . »

Khi Anh sang thăm chúng tôi tại Paris vào đầu thập niên 90, anh Vô Thường giới thiệu Tín Hương, một người đàn bà miền Trung rất đẹp . Một bài nhạc đã được viềt ra trên đất Pháp, dọc sông Seine, giữa thành phố Paris hoa lệ .

 

Một chút tình bỏ quên

Đầu cơn mưa mùa hạ

Em lạc bước chân xa

Paris dường như đã

Nghe tình lên trong ta

Từ Anh lặng lẽ tới

Cho nhung nhớ đầy vơi

Cho mộng tràn chăn gối

Hao gầy trái tim côi .

Một chút duyên để nhớ

Một chút tình để quên

Một thoáng thơ mộng vỡ

Nửa vời hạnh phúc ơi

Đừng trách nhau lầm lờ

Dù tình ta lỡ lầm

Một chút ân tình vỡ

Tình buồn mãi trăm năm

Từng đêm mưa hững hờ

Em xuống phố ngẩn ngơ

Paris tình muôn thuở

Nhớ thương Anh dại khờ

Hàng cây sầu im tiếng

Hiu hắt bên sông Seine

Có một lần Anh đến

Nhớ chút tình bỏ quên

Bạch Yến đã dịch bài thơ của anh Vô Thường ra tiếng Pháp vài năm sau với tựa « Souvenir d’un amour oublié »

 

On s’est rencontés

Un beau soir d’été

Au coeur de Paris

Notre amour est né

Depuis je te vois

En rêve chaque nuit

Et ne pense qu’à toi

Qui toujours me fuis

Cet amour si beau

Si tendre et si doux

Où l’on s’aime trop

A s’en rendre fou

Si tu pars un jour

Me laissant sans toi

O ! Mon bel amour

Je ne te suivrais pas

Paris et la Seine

Bercent mon âme meurtrie

Qu’importe ma peine

Je veux que tu ris

Que tombe la pluie

Que règne l’ennui

Nos beaux souvenirs

Deviendront ma vie

 

Ít lâu sau , anh loan bào tin anh lập gia đình . Chúng tôi có sang Cali mấy lần gặp anh và Tín Hương . Anh đã giúp và khuyến khích Tín Hương sáng tác nhạc . Và Tín Hương đã thực hiện được hai CD . Cuộc tình tưởng như sẽ tốt đẹp như bài thơ . Nhưng có ai ngờ là vào cuối năm 1999, Tín Hương và anh không còn chung sống với nhau . Anh Vô Thường có buồn thật nhưng sau đó , anh tìm lại nguồn vui và đã cùng anh Lữ Mộc Sinh sáng tác một nhạc phẩm « Từ lúc yêu em » .

Anh vẫn tiếp tục sản xuất CD nhạc khiêu vũ, nhạc ngoại quốc, nhạc để nghe , loại nhạc ûkhông lời » mà anh đã tạo một chỗ đứng « không đối thủ ». Nhạc của anh đàn đã đi vào thị trường Mỹ . Mỗi tuần anh nhận được nhiều thơ hỏi mua, hoặc viết lời khen anh , cám ơn Anh đã mang lại cho họ những giây phút êm ái qua những ca khúc du đương .

Thỉnh thoảng Anh mang thơ của những người ái mộ người Mỹ từ khắp xứ Mỹ đưa cho tôi đọc để cùng chung vui với Anh .

Anh Vô Thường đã thành công mang hai đứa con gái Diễm và Khanh sang Mỹ và đã giúp cho hai cháu có một nghề chắc chắn và cả hai đều lập gia đình với hai chàng rể thật dễ thương . Anh đã hoàn thành sứ mạng của một người cha trước khi nhắm mắt . Tôi có gặp anh lần chót vào tháng 10 , 2001 tại San Jose khi chúng tôi sang diền . Anh tuy ốm nhưng vẫn còn tếu như mọi khi . Anh có trở về Việt Nam lần chót để thực hiện CD « Tình Ca Vô Thường / Giọt Nước Mắt Vô Thường » qua tiếng hát của Quỳnh Lan, Đức Minh, Vô Thường và bài « Nhớ chút tình bỏ quên » do Bạch Yến hát cả hai lời Việt / Pháp . Đây là dĩa CD với nhạc và tiếng hát Vô Thường và là dĩa « có lời » nhưng chưa kịp « kiếm lời » là anh đã ra đi . Bạch Yến đến thăm Anh lần chót vào ngày mùng 1 Tết Quý Mùi ( tháng 2, 2003) , hai tháng trước khi anh lìa trần

Anh Vô Thường đã trở về với cát bụi , nhưng Anh đã để lại cho đời một số sáng tác nhạc, hàng trăm dĩa CD ghi lại tiếng đàn ghi-ta tay trái bất hủ của anh . Anh ra đi nhưng đã để lại bao tiếc thương một người bạn tốt với bạn, với người đồng hương (Anh đã đóng góp rất nhiều cho các cơ quan từ thiện qua số dĩa CD và băng nhựa anh tặng ), với đất nước .

Những sáng tác mới của anh Vô Thường là những điểm son trong làng nhạc Việt . Sự đóng góp của anh Vô Thường , tuy không to tác nhưng rất có ý nghĩa vì anh viết nhạc đặt lời rất thành thật tự đáy lòng phát ra . Anh Vô Thường là một ngôi sao sáng , một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt ở hải ngoại .

Trần Quang Hải (Paris, mùa thu 2003) 

 

WIKIPEDIA : TRẦN QUANG HẢI , tiểu sử


Trần Quang Hải

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Image

Giáo sư Tiến sĩ Trần Quang Hải (sinh năm 1944) là một chuyên gia về âm nhạc châu Á người Việt Nam.

Mục lục

Thân thế

Ông sinh ngày 13 tháng 5 năm 1944, tại Linh Ðông, quận Thủ Ðức, tỉnh Gia Định. Ông là hậu duệ đời thứ năm của nhạc sĩ cung đình Hu, Trần Quang Thọ (1830-1890), đời thứ bốn của nhạc sĩ nổi tiếng về đàn tỳ bà, Trần Quang. Ông là con trai trưởng của Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn Trường nữ Trung học Gia Long.

Sự nghiệp

Chịu ảnh hưởng truyền thống gia đình, ông sớm định hướng theo con đường nghiên cứu âm nhạc. Sau khi tốt nghiệp khoa violin ở Sài Gòn, ông sang Pháp tiếp tục học nâng cao về violin.[1]

Ông bắt đầu làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con Người (Musée de l’Homme) Paris (Pháp) từ năm 1968. Ông đã có những nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực Dân tộc âm nhạc học như: hát đồng song thanh, phát triển gõ muỗng, phát triển kỹ thuật biểu diễn đàn môi… đang được thế giới quan tâm. Ông cũng là thành viên của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế [2]

Ông và vợ là nghệ sĩ Bạch Yến, đã thực hiện hơn 3.000 buổi giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở nhiều nước trên thế giới… [3]

Danh hiệu

Ông được tôn xưng danh hiệu “vua muỗng” sau khi chiến thắng tại một cuộc thi gõ muỗng trong khuôn khổ Đại nhạc hội dân nhạc tại Cambridge, Anh vào năm 1967. Tính ra, ông có hơn 60 năm gắn bó với những giai điệu từ muỗng. Ông từng biểu diễn “gõ muỗng” trong hơn 1.500 chương trình biểu diễn, buổi sinh hoạt âm nhạc ở hơn 70 quốc gia, vùng lãnh thổ. Tại Việt Nam, ông được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục người thể hiện tiết tấu – âm thanh đa dạng nhất từ nghệ thuật gõ muỗng.[4]

Đời tư

Ông lập gia đình với nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17 tháng 6 năm 1978 tại Paris (Pháp).[5]

Chú thích

Liên kết ngoài

WIKIPEDIA : TRẦN QUANG HẢI , biographie


Trần Quang Hải

Image
Dans ce nom vietnamien, le nom de famille, Trần, précède le prénom.

Trần Quang Hải (né le 13 mai 1944 à Linh Dong Xa au Viêt Nam) est un ethnomusicologue dont le domaine de recherche est la musique vietnamienne, la musique asiatique, et le chant diphonique sibérien.

Trâǹ Quang Hải est issu d’une famille de musiciens traditionnels depuis cinq générations. Il est le fils de l’ethnomusicologue Trâǹ Văn Khê.

Il a été ethnomusicologue au CNRS (Centre national de la recherche scientifique) depuis 1968 et a pris sa retraite en mai 2009.

Travaux

Membre de nombreuses Sociétés scientifiques dans le domaine d’ethnomusicologie (Société d’ethnomusicologie aux États-Unis depuis 1969, Conseil international de musique traditionnelle – ICTM depuis 1971 et membre du bureau exécutif depuis 2005, Société française d’ethnomusicologie comme membre fondateur depuis 1985, Société international de guimbardes comme membre fondateur depuis 2000), etc…

Il a publié 23 disques sur la musique traditionnelle du Vietnam (Grand Prix du Disque Charles Cros en 1983), 4 DVD sur le chant diphonique (2004, 2005, et 2006), 2 DVD sur la musique du Vietnam (2000, 2009), un film sur sa vie (2005), des articles dans le New Grove Dictionary of Music and Musicians (1re édition en 1980 et 2e édition en 2001), New Grove Dictionary of Musical Instruments (1984), et quelques centaines d’articles sur les musiques du monde et le chant diphonique.

Il a reçu la médaille de cristal du CNRS (1995), la médaille de Chevalier de la Légion d’honneur (2002), et la médaille d’honneur du Travail, catégorie Grand or (2009).

TRAN QUANG HAI : biographie


Biographie courte de Tran Quang Hai

TRAN QUANG HAI


Né le 13 mai 1944, à Linh Dông Xa (Gia Dinh), Sud Viet Nam , Trân Quang Hai est à la fois musicien accompli, éminent ethnomusicologue, pédagogue, conférencier, compositeur, coureur de la planète sonore, membre du Centre National de la Recherche Scientifique, et le plus grand spécialiste du chant diphonique dans le monde.Tel est le protéiforme de Trân Quang Hai. Il a choisi de suivre son père sur les traces de la reconnaissance scientifique. De la musique et de l’étude, de l’Orient et de l’Occident, il a créé un mélange à sa manière toute personnelle, emprunte d’humour et de conscience profonde de ses responsabilités.

Ancien élève du Conservatoire de Musique de Saigon (1955-1961), il est diplômé du Centre d’Etudes de Musique Orientale de Paris en 1970.

De famille de musiciens traditionnels depuis cinq générations, il joue d’une quinzaine d’instruments de musique : cithare à 16 cordes (dàn tranh), vièle à 2 cordes (dàn co), cliquettes à sapèques (sinh tiên), guimbardes (dàn môi), cuillers (muông) pour le Vietnam ; vièle à 2 cordes (nan hu) pour la Chine ; tambour à 1 peau (zarb) pour l’Iran ; luth à 4 cordes principales et 3 cordes rythmiques (vina), luth d’accompagnement à 4 cordes (tampura) pour l’Inde ; violon, guitare, mandoline, banjo, flûte à bec, différentes guimbardes d’Europe et d’Asie.

Ses études sont approfondies et variées. Il faisait ses études à différentes universités : Institut de Musicologie, British Institute, Institut d’Ethnologie, Ecole du Louvre, Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales, Laboratoire d’Acoustique Musicale.

Depuis 1968, il travaille comme chercheur du CNRS au Département d’ethnomusicologie du Musée de l’Homme. Entre 1968 et 1987, il travaillait au Département d’ethnomusicologie du Musée National des Arts et Traditions Populaires à Paris.

Pendant presque 45 ans de carrière de musicien professionnel (1962-2005), il a donné plus de 3.000 concerts et un millier de concerts scolaires dans le monde

Depuis 1971, il a fait 15 disques microsillons 33 tours et 8 CD sur la musique vietnamienne. Plusieurs de ses compositions ont été enregistrées et mentionnées dans le Who’s Who in Music (1998, 1999, 2000, 2001, 2002), dans le Who’s Who in the World (depuis 1981) et dans le Who’s Who en France (depuis 1997).

Trân Quang Hai est le premier musicien vietnamien à jouer dans plusieurs événements historiques : Bicentenaire d’Australie (1988), Bicentenaire de la Révolution Française (1989), 700 ans de Suisse (1991), 350 ans de Montréal, Canada (1992), 500 ans de la découverte d’Amérique par Christophe Colomb (1992), 600 ans de Seoul, Corée (1994), Jubilée du Roi de Thailande (1996).100 ans d’indépendance de la Norvège (2005)

Il est un des rares musiciens d’avoir participé à plusieurs Fêtes de la Musique (depuis la 1ère Fête de la Musique en 1982 , puis en 1984, 1985 à Paris , en 1991 à Saint Denis – Ile de la Réunion , en 2000 et 2001 à Paris, et la 21ème Fête de la Musique en 2002 à Beyrouth – Liban) Il est le seul musicien à interpréter plusieurs oeuvres musicales des compositeurs de musique contemporaine comme Nguyên Van Tuong, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard, et aussi de la musique de film écrite par Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, et Jean Claude Petit.

Ses recherches sur le chant diphonique depuis 1969 lui ont donné le titre du plus grand spécialiste de cette technique vocale si singulière avec plus de 8.000 stagiaires des 60 pays dans le monde, le Prix Spécial du chant diphonique Khoomei à Kyzyl (Tuva, 1995), la Médaille de Cristal du CNRS en 1996 , la Médaille du Chevalier de la Légion d’Honneur en 2002 , et la Médaille du travail, catégorie Grand Or en 2009

Pour mieux connaître Tran Quang Hai, visitez son site : http://tranquanghai.com

TRỌNG MINH : Tiểu sử TRẦN QUANG HẢI


Trọng Minh : Tiểu sử Trần Quang Hải

TRẦN QUANG HẢI

Tên đầy đủ: Trần Quang Hải
Năm & Nơi sinh:
13-5-1944, Linh Ðông, Thủ Ðức, Việt Nam

GIÁO SƯ NHẠC HỌC-CHUYÊN GIA VỀ ÂM NHẠC Á CHÂU TRÊN THẾ GIỚI

Gia cảnh: Hậu duệ đời thứ năm của nhạc sĩ trong triều đình Huế, Trần Quang Thọ (1830-1890), đời thứ bốn của nhạc sĩ nổi tiếng về đàn Tỳ Bà, Trần Quang Diệm (1853-1925), cháu nội nhạc sĩ đã chế ra cách lên dây đàn Tố Lan cho đàn Kìm, Trần Quang Triều, biệt hiệu Ba Triều (1897-1931), con của ông Trần văn Khê (1921-), nhà dân tộc nhạc học, cựu giáo sư nhạc học trường Ðại học Sorbonne, Paris, giám đốc nghiên cứu trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học, Paris, cựu phó chủ tịch hội đồng quốc tế âm nhạc (UNESCO), đã về hưu.
Trần Quang Hải đã kết hôn với cô Quách Bạch Yến, tức nữ danh ca Bạch Yến, có một con gái Trần thị Minh Tâm.

* Học trình:
Cựu học sinh trường Trung học Petrus Ký, Sàigòn, 1954-1961.
Tốt nghiệp trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn: vĩ cầm (Ðỗ Thế Phiệt, 1961), nhạc lý (Hùng Lân, Nguyễn Cầu, 1961).
Chứng chỉ văn chương Pháp, Ðại học Sorbonne, Paris, 1963.
Chứng chỉ dân tộc nhạc học, viện dân tộc học Paris, 1964.
Chứng chỉ Anh văn (Certificate of Proficiency of English) Cambridge University, Anh quốc, 1964.
Cao học dân tộc nhạc học, trường cao đẳng khoa học nhân văn, Paris, 1968.
Tốt nghiệp trung tâm nghiên cứu nhạc đông phương về lịch sử và thực tập nhạc Việt Nam, Paris, 1969.
Chứng chỉ âm thanh học, đại học khoa học, Paris, 1970.
Tiến sĩ dân tộc nhạc học, Paris, 1973.
Tốt nghiệp giáo sư nhạc cổ truyền trong kỳ thi do Bộ Văn hóa Pháp tổ chức, Paris, 1989.

* Sự nghiệp:
Dân tộc nhạc học gia: Musée National des Arts Traditions Populaires, Paris, 1968-1987.
Dân tộc nhạc học gia: Musée de l’Homme, Paris, từ 1968 tới nay.
Giáo sư đàn tranh Centre d’Etudes de Musique Orientale, Paris, 1970-1975.
Giảng viên đại học: Université de Paris X-Nanterre, Pháp, từ 1987.
Ðược mời dạy tại các trường đại học trên thế giới từ 1969: University of Maryland, USA (1980); University of California, San Diego, USA (1990); Cape Town University, Nam Phi (1984); Stellenbosch University, Nam Phi (1984); Monash University, Melbourne, Úc châu (1986); University of Sydney, Sydney, Úc châu (1986); Western Australian University, Perth, Úc châu (1986), Melbourne College of Advanced Education, Melbourne, Úc châu (1988); Seoul National University, Seoul, Nam Hàn (1981); Ueno University, Tokyo, Nhật Bản (1981); University of the Philippines, Manila, Phi Luật Tân (1988); Institut de Musicologie, Louvain, Bỉ (1976); Musée Royal Instrumental, Bruxelles (1984); Université d’Anvers, Anvers, Bỉ (1976); Institut de Musicologie, Bologna, Ý Ðại Lợi (1979); Lund Universitet, Lund, Thụy Ðiển (1976); Stockholm Universitet, Stockholm, Thụy Ðiển (1976); Institute of Musicology, Trondheim, Na Uy (1976, 1980, 1981); University of Oslo, Na Uy (1980); Jaap Kunst Centre for Ethnomusicology, Amsterdam, Hòa Lan (1974); Tropen Museum, Amsterdam, Hòa Lan (1992); Summer University, Madrid, Tây Ban Nha (1990); Academy of Music, Sarajevo, Nam Tư lạp phụ (1991), Kunst Akademy, Berlin, Ðức (1971); Volkerkunde Museum, Berlin, Ðức (1985); Freie Univertet, Berlin, Ðức (1985); Bonn Univertet, Bonn, Ðức (1983); Volkerkunde Museum Basel, Thụy Sĩ (1969); Horniman Museum, London, Anh quốc (1972); Durham University, Anh quốc (1985); University of London, Anh quốc (1991); National Sound Archive, London, Anh quốc (1987); Queen’s University of Belfast, Bắc Ái Nhĩ Lan (1985); Conservatorium of Music, Rio de Janeiro, Ba Tây (1983).

* Nhạc sĩ:
15 dĩa hát (30cm/33 vòng) từ 1971, với tư cách nhạc sĩ nhạc Việt (nhiều hãng dĩa Le Chant du Monde, Ocora, Studio Sm, Société Francaise de Productions Phonographiques, Playasound ở Pháp; Lyrichord, Music of the World ở Mỹ; Albatros ở Ý Ðại Lợi).
Một dĩa compact “Rêves et Réalité – Trần Quang Hải và Bạch Yến” do Playasound sản xuất, Paris, 1988.
Năm băng nhạc thương mại về tân nhạc Việt Nam với hãng Playasound, Pháp.
Một băng Video về “Nhạc Cổ truyền Việt Nam”, do Hà Phong sản xuất, 1984.
Một băng Video “Music of Viet Nam”, do Bộ Giáo dục Úc ở Perth phát hành, 1989.
Một băng Video “Ðàn Tranh Music” do Volkerkunde Museum, Berlin phát hành, 1991.
Ðàn nhạc trong 23 cuốn phim thương mại Pháp, từ 1966.
Tham dự trên 80 đại nhạc hội quốc tế.
Trình bày 1,000 buổi nhạc dân ca Việt cho các trường tiểu và trung học ở Pháp, do Jeunesses Musicales de France (JMF) và Addim tổ chức, cũng như tại Bỉ, do Jeunesses Musicales de Belgique, tại Na Uy và Thụy Ðiển, do Rikskonsertene, tổ chức.

* Nhạc sĩ sáng tác:
Ðã sáng tác 300 ca khúc với lời Việt, Pháp và Anh.
Ðã viết 100 nhạc phẩm cho đàn tranh, đàn độc huyền, muỗng, đàn môi, hát đồng song thanh.
Ðã soạn 3 bài nhạc điện thanh (musique électro-acoustique) (1975,1988, 1989).

* Nghiên cứu:
Soạn quyển Âm nhạc Việt Nam, nhóm Bắc Ðẩu, Paris, 36 trang, 1989.
Tác giả của trên 200 bài viết về nhạc Việt và nhạc Á châu.
Ðồng điều hành cho tự điển New Grove’s Dictionary of Music and Musicians (ấn bản lần thứ 6, London, 1980), tác giả một số bài trong tự điển nhạc Algemeine Muziekencyclopedia (Hòa Lan, 1982), tự điển Encyclopaedia Universalis (Pháp 1984, 1986, 1988, 1990, 1991).
Ðồng tác giả với Hugo Zemp cho cuốn phim về hát đồng song thanh “Le Chant des Harmoniques”, do Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học – Thính thị (Centre National de la Recherche Scientifique – Audio – Visuel) phát hành, Paris, 1989.
Nghiên cứu dân tộc nhạc học gia về nhạc Việt, nhạc Ðông Nam Á, kỹ thuật hát đồng song thanh, điều trị nhạc học, âm nhạc sư phạm, sáng tạo kỹ thuật cho đàn tranh, đàn môi và muỗng.

*Hội viên:
– Society for Ethnomusicology, Hoa Kỳ, từ 1969.
– Society for Asian Music, Hoa Kỳ, từ 1978.
– International Council for Traditional Music, Hoa Kỳ, từ 1976.
– International Musicological Society, Thụy Sĩ, từ 1977.
– International Association for Sound Archives, Thụy Ðiển, từ 1978.
– Société de Musicologie, Pháp, 1980.
– Société Francaise d’Ethnomusicologie, Pháp, từ 1985 (sáng lập viên).
– European Seminar for Ethnomusicology, Thụy Sĩ, từ 1983.
– Association Francaise d’Archives Sonores, Pháp, 1979.
– Centre d’Etudes de Musique Orientale, Pháp, từ 1962 (giáo sư từ 1970-1975).
– Hội Văn bút Việt Nam hải ngoại, Pháp, 1987.
– Trung tâm nghiên cứu Việt học, Pháp, từ 1987.
– Association Francaise de Recherche sur l’Asie du Sud-Est, Pháp, từ 1986.
– Société des Auteurs, Compositeurs et Editeurs de la Musique, Pháp, từ 1983.

* Sinh hoạt chính trị:
Bảo vệ nhân quyền, chủ trương hòa bình, và giúp đỡ người tỵ nạn trên thế giới.

* Nhạc phẩm sáng tác chọn lọc
Nhạc cho nhạc khí dân tộc: Nhớ miền thượng du, cho đàn tranh, 1971; Xuân ve�, cho đàn tranh, 1971; Tiếng hát sông Hương, cho đàn độc huyền, 1972; Ảo thanh, cho muỗng, 1973; Về nguồn, nhạc điện thanh với Nguyễn văn Tường, 1975; Ðộc tấu đàn môi Mông, cho đàn môi dân tộc Mông, 1982; Tiếng hát đàn môi tre, cho đàn môi tre, 1982; Tùy hứng muỗng, cho muỗng, 1982; Nhịp tấu sinh tiền, cho sinh tiền, 1982; Tiết tấu miền thượng, cho hai đàn môi, 1982; Núi Ngự sông Hương, cho đàn độc huyền, 1983; Nam Bắc một nhà, cho đàn tranh, 1984; Chuyển hệ, cho đàn tranh, 1984; Solo Thai, cho đàn tranh, 1989.

Nhạc cận đại và điện thanh: Về nguồn, nhạc điện thanh với Nguyễn văn Tường, 1975; Shaman, cho giọng, hắc tiêu và đàn synthé, 1982; Ca đối ca, cho 6 giọng hát đồng song thanh, 1982; Voyage chamanique, cho hát đồng song thanh, 1986; Trở về nguồn cội, nhạc cận đại, 1988; Tambours 89, nhạc cận đại với Yves Herwan-Chotard, 1989; Envol, cho hát đồng song thanh (phim La Chant des Harmoniques), 1989; Nhạc phim cho cuốn phim Long Vân Khánh Hội, 1980.

Tân nhạc: Mừng Phật Ðản, 1975; Thương nhớ quê hương, 1975; Tân hôn dạ khúc, 1978; 12 nhạc tuổi thơ (thơ: Duyên Anh, nhạc: Trần Quang Hải), 1984; Phổ nhạc thơ của Cung Vũ, Phan Ni Tấn, Nguyễn Mậu Quý, Phạm Ðình Tân, Lê Khắc Thanh Hoài, Duyên Anh.

* Sách, Bài viết về nhạc:
Âm nhạc Việt Nam, Nhóm Bắc Ðẩu, Paris, 361 trang, 1989.
Musique du Viet Nam, Musique et Culture, Strasbourg, 20 trang, 1985.
Dossier Le Chant Diphonique, Institut de la Voix, Limoges, 50 trang, 1989.
200 bài về nhạc Việt và Ðông Nam Á cho các báo nghiên cứu trên thế giới.
500 bài cho 30 báo Việt ngữ khắp năm châu.

* Giải thưởng:
* 1983: Grand Prix de l’Académie Charles Cros (Giải thưởng Hàn Lâm viện Charles Cros) cho dĩa hát “Viet Nam/ Trần Quang Hải và Bạch Yến.” (SM 3011.97).
* 1986: Médaille d’Or de la Musique (Huy chương vàng về âm nhạc), của Académie Culturelle Asiatique (Hàn Lâm viện Văn hóa Á châu), Paris.
* 1987: D.MUS (HON) (Tiến sĩ âm nhạc danh dự), của International University Foundation, Hoa Kỳ.
* 1987: Deputy Governor (DG), của ABIRA (American Biographical Institute and Research Association), Hoa Kỳ.
* 1987: Life Fellow of the American Biographical Institute and Research Association (LFABIRA), Hoa Kỳ.
* 1987: Life Fellow of the International Biographical Association (LFIBA), Cambridge, Anh quốc.
* 1987: Director Deputy General (DDG), của American Biographical Association, Hoa Kỳ.
* 1988: International Advisor of the ABIRA, Hoa Kỳ.
* 1988: International Order of Merit, International Biographical Association, Anh quốc.
* 1989: Ph.D. (HON) (Tiến sĩ âm nhạc danh dự), của Albert Einstein International Academy Foundation, Hoa Kỳ.
* 1990: Grand Prize of the International Festival of Anthropological and Visual Film (Ðại hội quốc tế phim nhân chủng) cho cuốn phim Le Chant des Harmoniques, Estonia.
* 1990: Prize of Best Ethnomusicological Film (Giải thưởng phim dân tộc nhạc học hay nhất) cho cuốn phim Le Chant des Harmoniques, Academy of Science, Estonia.
* 1990: Prix Spécial de la Recherche (Giải thưởng đặc biệt nghiên cứu) cho cuốn phim Le Chant des Harmoniques, của Festival International du Film Scientifique, Palaiseau, Pháp.
* 1991: Grand Prix Northern Telecom cho cuốn phim Le Chant des Harmoniques, của 2è Festival International du Film Scientifique du Québec, Montréal, Canada.
* 1991: Van Laurens Award, của British Voice Association and the Ferens Institute, cho bài tham luận Mysteries of the Overtone Singing Style, London, Anh quốc.
* 1991: Honorary International Advisor, của International Biographical Association, Anh quốc.
* 1991: Alfred Nobel Medal (Huy chương Alfred Nobel), của Albert Einstein Academy Foundation, Hoa Kỳ.
* 1991: Grand Ambassador, của American Biographical Institute, Hoa Kỳ.
* 1991: Man of the Year 1991, của American Biographical Institute and Research Association, Hoa Kỳ.
* 1991: Man of the Year 1991-1992, của International Biographical Association, Anh quốc.

* Tiểu sử được đăng trong các sách:
1.- Dictionary of International Biography, ấn bản 15, Anh quốc.
2.- Men of Achievement, ấn bản 5, 6 và 7, Anh quốc.
3.- International Who’s Who in Community Service, ấn bản 3, Anh quốc
4.- International Who’s Who in Music, ấn bản 8, 9, 10, 11, 12 và 13, Anh quốc.
5.- Who’s Who in Europe, ấn bản 2, 3, Anh quốc.
6.- Men and Women in Distinction, ấn bản 1, 2, Anh quốc.
7.- International Register of Profiles, ấn bản 4, 5, Anh quốc.
8.- International Who’s Who of Intellectuals, ấn bản 2, 3, Anh quốc.
9.- The First Five Hundred, ấn bản 1, Anh quốc.
10.- Who’s Who in the World, ấn bản 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, Hoa Kỳ.
11.- 5,000 Personalities in the World, ấn bản 1, Hoa Kỳ.
12.- International Directory of Distinguished Leadership, ấn bản 1, Hoa Kỳ.
13.- International Register of Personalities,D> ấn bản 1, Hoa Kỳ.
14.- Nouveau Dictionnaire Européen, ấn bản 5, 6, 7, 8, 9, Bỉ.
15.- Who’s Who International Art, ấn bản 1, Thụy Sĩ.
16.- One in a Million, ấn bản 1, Anh quốc.
17.- Vẻ Vang Dân Việt – The Pride of the Vietnamese, quyển 1, ấn bản 1, Hoa Kỳ.

* Ước vọng:
Trình diễn 5,000 buổi nhạc Việt trong cuộc đời nhạc sĩ.
Tham gia 100 đại nhạc hội quốc tế.

* Một vài chi tiết cần ghi nhận thêm
Nhạc sĩ Trần Quang Hải là nhạc sĩ Việt đầu tiên đã trình diễn nhân dịp kỷ niệm 200 năm thành lập xứ Úc (Bicentennial of Australia, 1988); 200 năm Cách Mạng Pháp (Bicentenaire de la Révolution Francaise, Paris, 1989); và 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ (700 ans de la naissance de la Suisse, Lausanne, 1991). Nhạc sĩ Việt đã trình bày những nhạc phẩm cận đại của những nhạc sĩ cận đại, như: Nguyễn văn Tường, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yvers Herwan-Chotard, và nhạc phim của các nhà soạn nhạc danh tiếng của Pháp, như: Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared.

Ngoài ra Trần Quang Hải là người duy nhất biết sử dụng nhiều loại đàn của nhiều truyền thống âm nhạc: Âu châu với violon, guitare, mandoline, banjo, flute; Việt Nam với đàn tranh, đàn độc huyền, đàn cò, sinh tiền, muỗng; Trung quốc với nam hồ; Ấn Ðộ với đàn dây tampura và đàn Vina; Ba Tư với trống Zarb. Anh còn đàn được cả chục loại đàn môi của Âu, Á.

* Cập nhật:
Tháng 4 năm 1992, Nhạc sĩ Trần Quang Hải được trao tặng World Lifetime Achievement Award của Hội American Biographical Institute.
Nhạc sĩ Trần Quang Hải đã tham dự chương trình Văn hóa Âm nhạc kỷ niệm 350 năm thành lập thành phố Montréal, tại Montréal, Canada, ngày 7 tháng 9-1992.
Ngày 13 tháng 9-1992, Nhạc sĩ Trần Quang Hải được mời làm hội viên danh dự của Society of Vietnamese Canadian Professionals, Ontario, Canada.
Ðược chọn làm liên lạc viên của Hội International Council For Traditional Music, đại diện cho xứ Pháp để báo cáo về những hoạt động nhạc cổ truyền tại Pháp. Ông là người Việt Nam đầu tiên được cử giữ chức vụ này cho Pháp quốc, và cũng là người đầu tiên sau gần 25 năm Pháp không có đại diện trong tổ chức trên. Từ năm 2005 ông được bầu vào ban chấp hành của hội ICTM (International Council for Traditional Music), và năm 2011 ông được tái cử cho tới 2017.

Năm 1995, ông được huy chương pha lê (médaille de crystal) của CNRS (Centre National de la Recherche Scientifique) Pháp

Năm 2002, ông được huy chươg Bảo quốc huân chương (médaille de la Légion d’Honneur) của Pháp về công trình nghiên cứu hát đồng song thanh qua 30 năm quảng bá khắp thế giới .

Năm 2009, ông được huy chương lao động , hạng đại kim (médaille du travail, catégorie Grand Or) sau 41 năm làm việc tại Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp .