Tag Archives: ca huế

THÁI LỘC : ​Ca Huế thành di sản phi vật thể quốc gia


​Ca Huế thành di sản phi vật thể quốc gia

11/06/2015 17:34 GMT+7

TTO – Ngày 11-6, tin từ Bộ VH-TT&DL cho biết ca Huế đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. 

Một tiết mục ca Huế trên thuyền sông Hương - Ảnh: THÁI LỘC
Một tiết mục ca Huế trên thuyền sông Hương – Ảnh: THÁI LỘC

Theo hồ sơ di sản do tỉnh Thừa Thiên – Huế xây dựng, ca Huế đã có hơn ba thế kỷ hình thành và phát triển trên mảnh đất Thuận Hóa – Phú Xuân (Huế hiện nay). Trong cái nôi của vùng văn hóa Huế vốn rất đặc thù, ca Huế trở thành một thú chơi tao nhã của các văn nhân tài tử, là loại hình nghệ thuật diễn xướng đặc sắc. “Ở đấy, văn chương, âm nhạc hòa quyện làm một, tạo nên một vẻ đẹp thơ mộng mà tinh tế, dân gian mà bác học”…

Loại hình nghệ thuật này đang trở thành sản phẩm du lịch thu hút du khách trong và ngoài nước cả ở thuyền rồng trên sông Hương và trong các thính phòng tại cố đô Huế. 

Nhà thơ Võ Quê, người gắn liền với đời sống ca Huế trong suốt 40 năm qua, cho rằng cùng với việc công nhận và tôn vinh, Nhà nước cần khuyến khích nghiên cứu, sưu tầm và sáng tác; quảng bá sâu rộng ca Huế trong giới trẻ, quan tâm đến đời sống văn nghệ sĩ…

Cùng với ca Huế, Bộ VH-TT&DL còn công nhận 25 hệ thống khác là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia thuộc ba loại hình: lễ hội truyền thống, nghệ thuật trình diễn dân gian và tập quán xã hội-tín ngưỡng…

Các thế hệ nghệ sĩ ca Huế trong một buổi diễn thính phòng tại tư gia nhà nghiên cứu Bửu Ý-Huế - Ảnh: THÁI LỘC
Các thế hệ nghệ sĩ ca Huế trong một buổi diễn thính phòng tại tư gia nhà nghiên cứu Bửu Ý-Huế – Ảnh: THÁI LỘC

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20150611/ca-hue-thanh-di-san-phi-vat-the-quoc-gia/760338.html

VĨNH PHÚC : CA HUẾ QUA NHẬN XÉT CỦA MỘT SỐ NHÀ NGHIÊN CỨU ÂM NHẠC


Vĩnh Phúc. Ca Huế qua nhận xét của một số nhà nghiên cứu âm nhạc

Email InCA HUẾ QUA NHẬN XÉT CỦA MỘT SỐ NHÀ NGHIÊN CỨU ÂM NHẠC

VĨNH PHÚC

 

Nếu kinh đô Thăng Long xưa từ trong cung phủ đã có một lối hát cửa quyền phát tán thành một dòng dân gian chuyên nghiệp là hát Ả đào và vẫn thịnh đạt dưới thời vua Lê chúa Trịnh, thì kinh đô Phú Xuân sau này, hoặc là đã từ trong dinh phủ của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong phát tán thành một lối gọi là Ca Huế (gồm cả ca và đàn). Vậy cũng có thể gọi Ca Huế là mộtlối hát Ả đào của người Huế, một lối chơi của các ông hoàng bà chúa xét trên quan điểm tiếp biến trong tiến trình của một lối hát truyền thống và tiến trình lịch sử từ Thăng Long đến Phú Xuân-Huế.

Ca Huế mang sắc thái địa phương rõ nét bởi nó gắn chặt với đặc điểm ngữ âm ngữ điệu của giọng nói Xứ Huế, hoặc nói một cách khác mang tính hệ quả là do mối quan hệ gắn bó với nền âm nhạc dân gian – dân ca xứ Huế. Đây là một đặc điểm trong tiến trình phát triển của Ca Huế và cũng là một đặc điểm của nền âm nhạc cổ truyền xứ Huế; nơi mà hai thành phần âm nhạc: chuyên nghiệp bác học (nhạc Cung đình, Ca Huế), thành phần dân gian (dân ca: Hò, lý…) thường xuyên tác động qua lại, gắn bó, thâm nhập, thúc đẩy lẫn nhau với hiện tượng dân gian hóa ở âm nhạc bác học và bác học hóa ở âm nhạc dân gian xảy ra liên tục trong quá trình phát triển.

Dù Ca Huế mang rõ nét tính chất đặc thù địa phương nhưng nó đã không chỉ bó hẹp trong một xứ Huế. Ngoài yếu tố đặc thù và một số đặc điểm vốn có của mọi thể loại nhạc cổ truyền thì nghệ thuật Ca Huế vẫn là khởi nguyên từ văn hóa nghệ thuật cội nguồn Thăng Long, hội tụ từ truyền thống văn hóa âm nhạc dân tộc. Vì vậy trong giai đoạn thịnh đạt đã lan tỏa trở lại với cội nguồn, thâm nhập và trở thành một thành phần tương hợp trong hầu hết dân ca vùng Trung du và đồng bằng Bắc bộ. Chẳng hạn: hơi Huế, giọng Lý, giọng Kinh ở khối giọng Vặt, giọng Ngoại trong hát Quan họ, hát Xoan, hát Ghẹo, hát Chèo v.v… Hướng phát triển về phía Nam của Ca Huế thì rõ ràng đã sản sinh ra lối nhạc tài tử như nhà nghiên cứu Gs. Trần Văn Khê nhận xét: “lối “nhạc tài tử” trong Nam là con đẻ của lối “ca Huế” miền Trung”.

Nói là Ca Huế gắn với ngữ âm của giọng nói Xứ Huế, mà giọng Huế thì không chuẩn như Hà Nội trong vấn đề xử lý các dấu giọng, nên với đặc tính “cạn và hẹp” giọng nói Huế đã để lại dấu vết trong đường nét giai điệu Ca Huế một tính chất đặc hữu, khác với dân ca nhạc cổ từ đèo Ngang trở ra và từ Hải Vân trở vào. Tuy vậy một số nhà nghiên cứu còn căn cứ vào sự giao thoa ảnh hưởng của các truyền thống văn hóa khác trong lịch sử văn hóa Việt Nam cho rằng: điệu Nam trong ca Huế do ảnh hưởng nhạc Chăm mà có. Đến nay vấn đề này vẫn đang bỏ ngỏ vì thiếu chứng liệu.

Từ năm 1956 trong một bài viết về Việc sưu tầm nghiên cứu của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba [1] nhạc sĩ Văn Cao đã rất e dè với vấn đề ảnh hưởng của nhạc Chàm trong ca Huế mà Nguyễn Hữu Ba đã đặt ra: “Tôi không biết được anh (NHB) đã có những thí dụ gì chứng minh, nhưng tôi biết rằng phần thắc mắc này của anh còn đợi có phương tiện đầy đủ mới giải quyết được”.Thái Văn Kiểm trong bài Ảnh hưởng Chiêm Thành trong ca nhạc Huế [2] lại nhận xét một cách chắc chắn là điệu Nam trong ca Huế đã “phỏng theo các ca khúc của Chiêm Thành mà đặt ra”. Tuy nhiên các sự kiện lịch sử mà ông nêu ra làm căn cứ cho nhận xét của mình thì hoàn toàn không liên quan gì đến việc hình thành điệu Nam trong ca Huế. Những sự kiện các vua nhà Lý đi chinh phạt Chiêm quốc mà cụ thể là việc vua Lý Thái Tông năm 1044 đánh vào quốc đô là Phật Thệ bắt cung nữ Chiêm biết múa hát khúc Tây Thiênđưa về kinh (là Kinh Bắc); năm 1202 vua Lý Cao Tông sai nhạc công soạn khúc Chiêm Thành âm… thì cớ gì mà hình thành điệu Nam trong ca Huế ở tận xứ Thuận Hóa mấy trăm năm sau? Nếu cho rằng hát Quan họ, Ca trù và kể cả dân ca khu vực đồng bằng Bắc bộ ảnh hưởng nhạc Chăm vì những sự kiện lịch sử nêu trên thì khả dĩ còn hợp lý hơn, chứ không thể vô lý như tác giả bài viết kết luận: “Theo những tài liệu trên, thì “Khúc Tây Thiên” và “Chiêm Thành âm” có lẽ là nguồn gốc các điệu Nam của ca nhạc Huế nay” (!).Luận điểm này về sau được một số nhà nghiên cứu tiếp tục nêu lại, như Lê Văn Hảo trong một khảo cứu về ca Huế năm 1978 dù có chung chung hơn: “ảnh hưởng của nhạc Champa và nhạc Ấn Độ thể hiện trong các điệu Nam của ca nhạc Huế”.

Gs. Trần Văn Khê xếp ca Huế vào loại Quan nhạc để phân biệt với Tục nhạc. Trong bài viết Lối “ca Huế” và lối “nhạc Tài tử” [3] ông đã căn cứ vào sách Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ để giả định tổ tiên của lối ca Huế: “Trong các loại nhạc triều đình, có lẽ lối Cung trung nhạc – hay là Cung trung chi nhạc – là gần với lối đàn Huế nhất”. Để nêu ra giả thiết này Gs Trần Văn Khê đã dựa vào việc “ông quan nội điện cung phụng quản tiên hữu đội” là Nguyễn Đình Địch đời Cảnh Hưng nhà Lê “học nhạc Trung Hoa rồi biến đổi ra theo tiếng Nam… và ông Vũ Chỉ Đồng trước học điệu tàu rồi gảy ra tiếng ta và xen theo các bài đàn đáy, đàn nguyệt của ta… bụng nghĩ thế nào tay gảy được thế”. Hiện nay Cung trung nhạc thời Nguyễn, là thời đại gần ta nhất nhưng bài bản như thế nào các nhà Nhã nhạc học vẫn tỏ ra lúng túng. Còn thời Lê, cái nhạc của ông quan nội điện cung phụng quản tiên hữu độiđó chắc gì đã là nhạc của Cung trung chi nhạc. Nhưng nếu Cung trung chi nhạc thời Lê đồng nghĩa với lối Hát cửa quyền thì chắc đó là lối hát Ả đàothính phòng trong cung phủ mà Phạm Đình Hổ chép trong sách Vũ trung tùy bút: “Hát ở trong cung, tục gọi là hát cửa quyền, tiếng hát xinh xắn uốn éo dịu dàng, thanh nhã hơn giọng hát ngoài chốn giáo phường. Nhưng âm luật cũng không khác gì mấy”. Như thế, theo quan điểm chúng tôi trình bày ở đầu bài viết này: Ca Huế có thể gọi là một lối hát Ả đào của người Huế vậy.

Cũng trong bài viết này Gs Trần Văn Khê đã trình bày sự biến chuyển của ca đàn Huế từ thế kỷ XX so với ngoài Bắc và trong Nam. Ông cho rằng truyền thống cổ nhạc ở Huế được gìn giữ kỹ hơn, ít biến chuyển trước làn sóng của âm nhạc Âu-Tây. Trong khi ở ngoài Bắc hội Khai trí tiến đức chủ trương“dùng khí cụ và chút ít phương pháp của Âu Tây để hòa những bản đàn cổ”hoặc “bài đàn như trước viết lại cho đúng phương pháp Âu-Tây”. Ở trong Nam có nhạc sĩ Trần Quang Quờn đặt bài bản mới phỏng theo cung điệu xưa, sáng chế nhạc khí mới và đặt ra cách chép nhạc riêng; phong trào cải lương làm cho đờn ca tài tử phát triển mạnh theo hướng sân khấu; dùng đàn Tây như mandoline, guitare và violon để đờn Vọng cổ v.v… Ở Huế thì tồn cổ một cách cực đoan, đại diện có ông Hoàng Yến “cực lực chống lại việc canh tân nhạc cổ; quan niệm điệu cổ và điệu kim khác nhau xa như trời với đất; điệu cổ êm ái mà trang nghiêm, điệu kim tục tằn và thô lỗ” [4]. Tác giả bài viết đã đưa ra chính kiến cho vấn đề này: “Chúng tôi không đồng ý với ông Hoàng Yến về chỗ người nhạc sĩ không có quyền sáng tác bài bản mới. Nhưng tôi đồng ý với nhạc sĩ miền Trung ở chỗ giữ truyền thống. Các lối đờn ngoài Bắc nhứt là trong Nam đều xa căn bản hơn đờn Huế”. Có thể đây là do tính cách của người Huế, sự đổi mới thường muộn hơn so với các nơi khác chứ không hoàn toàn tồn cổ kiểu ông Hoàng Yến mà vẫn “ảnh hưởng Âu nhạc phát hiện bằng sự thành lập nhóm Tỳ bà với nhạc sư Nguyễn Hữu Ba”. Bài viết dù kém mạch lạc, ít tập trung và đôi lúc miên man, tản mạn như kiểu kể chuyện nhưng đã có những nhận xét và nêu những sự kiện lịch sử đáng chú ý.

Quan niệm trên của ông Hoàng Yến về điệu cổ  điệu kim là một vấn đề mà Gs Trần Văn Khê đã tiếp tục đề cập trong một bài viết khác: Vài cái hay cái dở trong nhạc Việt [5]. Sau khi nêu vài ý kiến, nhận xét khen, chê đều mang tính chất cực đoan của một số thính giả trong và ngoài nước đối với nhạc cổ Việt Nam, tác giả muốn đánh giá lại một cách khách quan cái hay cái dở trong nhạc Việt cổ truyền (chủ yếu là lối ca đàn Huế và lối nhạc tài tử) với thiện chí “tìm khuyết điểm để bổ cứu, tìm ưu điểm để phát huy”. Trong việc khen – chê, hay – dở, nếu đứng trên quan điểm thẩm mỹ của một truyền thống này để nhận xét một truyền thống âm nhạc khác mà mình chưa am tường thường sinh ra những trường hợp kiểu như nhạc sĩ Pháp Hector Berlioz nhận xét nhạc Trung Hoa là giống tiếng “chó ngáp mèo mửa“. Trái lại một ông hoàng ở Lahore thì rất sành nhạc Ấn Độ, còn nhạc Âu đối với ông chỉ là “tiếng sói tru giữa sa mạc”. Những nhận xét trong bài viết này của Gs Trần Văn Khê là vào năm 1961 (được đăng trên tạp chí Bách Khoa năm 1969). Ở thời điểm này ông đã được tiếp xúc tương đối nhiều với các nền âm nhạc cổ truyền trên thế giới, vì vậy so sánh nhạc cổ Việt Nam với các nước khác ông đã nêu lên 4 nhược điểm của lối ca Huế và đàn tài tử như:Bài bản ít lại hay lặp điệu; Cách chép nhạc không khoa học; Phần lý thuyết rất yếu và Nhạc khí thì thô sơ. Đồng thời nêu 3 ưu điểm cần được phát huy là: Rao hay dạo; Nhấn và Cách hòa đờn. Đây là những nhận xét rất tâm huyết của tác giả. Đến nay, càng được tiếp xúc thêm với nhiều truyền thống âm nhạc khác nhau trên thế giới, kể cả Việt Nam, có thể Gs đã phát hiện ra thêm những nhược điểm, những ưu điểm mới trong lối ca Huế và nhạc tài tử nói riêng và ca nhạc cổ truyền Việt Nam nói chung.

Dưới hình thức một bức thư gửi cho Trần Văn Khê ở nước ngoài, ông Vĩnh Phan, một nghệ sĩ đàn Huế đã nêu lên Vài ý kiến về các hơi nhạc cổ truyền Huế [6]. Đặc biệt ông cho Gs. Trần Văn Khê biết là vừa tìm được một cuốn sách chép tay của một nhạc công trong Ban Tiểu nhạc có ký âm 17 bài bằng chữ Hán. 17 bài này nằm trong hệ thống bài bản của Tiểu nhạc, hiện nay chỉ còn lưu truyền 6 bài. Trong sách Lược sử âm nhạc Việt Nam Gs. Nguyễn Thụy Loan có kể tên 17 bài này nhưng có khác với tài liệu của Vĩnh Phan chút ít là không có tên bài Bái Kinh  Bắc xướng Tẩu mã là hai bài khác nhau. Không rõ cuốn sách này hiện nay lưu lạc ở đâu?

Vấn đề chính trong bức thư này vẫn là ý kiến về hơi nhạc cổ truyền Huế. Những luận giải của nghệ sĩ Vĩnh Phan về Ngũ cung và các hơi chủ đích là để phản đối luận điểm của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba cho rằng thang âm Huế là thang bảy bậc đều nhau. Ông đã đưa ra một loạt dẫn chứng rất thuyết phục để xác định các hơi trong nhạc Huế thuộc hệ thống thang năm âm. Đáng chú ý là sự phân tích của ông về hơi thiền (thuyền): “Trong một bài hơi Khách (Bắc) mà có 2 cung Ì, PHÀN thì dĩ nhiên có chuyển hệ; Cũng trong một bài hơi khách mà hai cung XỰ và CỐNG luôn luôn có mặt trong khi dứt câu, hay ở đầu ô nhịp, lúc đánh cho ta cảm giác một âm giai thứ. Hoặc dùng cả Ì, PHÀN nữa, hơi đó nhất định là hơi thuyền”. Tuy nhiên việc ông gọiKhách (Bắc), Nam, Dựng, Ai  Thiền đều là hơi và chữ hơi này được ông chú là: “Theo tôi, nhạc Huế có nhiều hơi (système)”, thì vấn đề còn cần phải xem xét lại. Một điểm nữa không biết nghệ sĩ Vĩnh Phan có cố ép cho người xưa hay không khi nói rằng: “Chỉ cần nhìn lại thang âm từ trước sẽ thấy người xưa đã định cho mỗi cung một tên riêng nhất định như sau:

            Xang  (Fa 2)

 Xê    (Sol 2)

Công  (La 2)

 Phàn  (Sib 2)

 Họ    (Đô 3)

Xự    (Ré 3)” v.v…

            Người xưa là ai và vào thời nào mà định được mỗi cung một vị trí cao độ của hệ thống hàng âm bình quân như trong nhạc lý châu Âu? Trong Đờn Huếhầu như cũng chưa bao giờ có khái niệm về âm chuẩn.

Một vốn quý trong kho tàng âm nhạc Việt Nam cổ truyền [7] của Lê Văn Hảo là một khảo cứu đầy đặn về ca Huế đăng trên tạp chí từ trước đến nay. Mặc dù không phân thành chương, phần nhưng nội dung trình bày đã tập trung vào hai mảng lớn: Đặc điểm nghệ thuật ca Huế và nguồn gốc, quá trình phát triển.

Ông khẳng định “ca nhạc Huế không phải là nhạc cung đình triều Nguyễn nhưng cũng không thuộc loại nhạc dân gian”. Với một hệ thống bài bản phong phú, cấu trúc phức tạp nhưng chặt chẽ, hoàn chỉnh; những sắc thái tình cảm tinh tế cùng với những đòi hỏi khá phức tạp đối với ca công về cách hát, đối với nhạc công về kỹ thuật diễn tấu nhạc cụ, nên ca Huế thuộc về phạm trù âm nhạc cổ điển, bác học.

Đặc biệt, Lê Văn Hảo đã phân tích khá sâu sắc về vấn đề thang âm, điệu hơi trong ca Huế. Hơi theo cách ông gọi là sắc thái của điệu: “Ca nhạc Huế có điệu thức Bắc và bốn sắc thái (quen gọi là hơi): hơi quảng, hơi đảo, hơi thiền, hơi nhạc, có điệu thức Nam và bốn sắc thái: hơi xuân, hơi thương, hơi ai, hơi oán. Giữa hai điệu thức Bắc và Nam có một sắc thái trung gian: hơi dựng”. Phát triển nhận xét của Trần Văn Khê về loại thang âm ngũ cung được Lê Văn Hảo lý giải hiện tượng các cung mạnh thu hút các cung phụ – hay cung yếu và đưa ra nhận xét khá sâu sắc: “Chính hiện tượng các cung mạnh thu hút các cung yếu làm cho một thang âm đều trở thành một thang âm không đều và có ý nghĩa quyết định làm cho sắc thái tình cảm trở nên vui dịu nhẹ, hay buồn, ảo não”.

Tuy vậy, có một số vấn đề trong bài khảo cứu cần phải luận bàn thêm. Chẳng hạn: không cần thiết phải gọi là ca nhạc Huế thay cho tên gọi đã trở thành quen thuộc là ca Huế. Ca Huế đã tồn tại trong truyền thống như tên gọi ca Trù (hay là hát Ả đào) là một thể tài chuyên nghiệp luôn đi kèm với nhạc cụ. Ca nhạc Huế không thể không bị hiểu nhầm là toàn bộ nền ca nhạc tại Huế, cả quá khứ lẫn đương thời, cả nhạc cổ truyền (dân ca, ca Huế, ca nhạc cung đình, âm nhạc tín ngưỡng) lẫn tân nhạc (một khối lượng lớn các bài hát mới sáng tác về Huế, sáng tác trên chất liệu âm nhạc Huế). Tại sao lại liệt kê Nhã nhạc, Tiểu nhạc là một thành phần trong thành phần các loại nhạc cung đình với giao nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc…? Tác giả đã không tiếc lời khi cho ca Huế là quá uyên bác, là điêu luyện, hoàn chỉnh, mẫu mực, là cấu trúc chặt chẽ với tính khoa học cao, và để dẫn đến là: “chẳng khác gì các hình thức đoạn đổi, đoạn điệp, chủ đề và biến tấu như trong nhạc cổ điển phương Tây”! Một số sơ xuất đáng tiếc trong khi phân tích về thang âm điệu thức, như việc xác định thang âm điệu bắc trong ca Huế là ngũ cung đúng; thang âm điệu nam là thang âm ngũ cung khuyết (thang âm tứ cung với tàn dư tam cung) hoặc là thang âm ngũ cung không đều; các bậc non,già được chú thích là dièse, bémol v.v… Và nhất là tìm cách cố gán ép ca Huế là loại nhạc cổ điển do nhân dân sáng tạo ra, phân trần cho được các nghệ nhân, nghệ sĩ là sinh trưởng trong dân gian nhưng “một số không may bị trưng tập vào các đội ngự nhạc ở cung điện triều đình nhà Nguyễn… bị bọn thống trị ép buộc phục vụ chúng” một cách không cần thiết. Văn hóa Nghệ thuật của giai cấp nào mà chẳng là sản phẩm trí tuệ của Nhân dân. Khi đã bác học hóa thì trở thành lối chơi của ông hoàng bà chúa, giới quý tộc; khi đã dân gian hóa thì vẫn là sản phẩm trong tổng thể văn hóa dân gian mà thôi. Trong lịch sử văn hóa Huế sự không phân định rạch ròi các thành phần cũng là một đặc điểm. Nói gì thì nói, những người bảo lưu gìn giữ ca Huế cho đến 15, 20 năm trước Cách mạng Tháng 8 như tác giả kể đến thì hầu hết đều là các ông đội (đội trưởng đội ngự nhạc), ông hoàng và các chức sắc dưới triều Nguyễn như: các ông hoàng Nam Sách, Trấn Biên, Lãng Biên, Miên Trinh, các công chúa Ngọc Am, Mai An, Huệ Phố; gia đình ông Tống Văn Đạt với các ông đội Chín, đội Phước; đội Thức; các danh cầm, danh ca như Cả Soạn, Thừa Khiêm, Khóa Hài, Ngũ Đại, cậu Tốn Út, Ưng Biều, Ưng Thông, đội Trác, Trợ Tồn, Bửu Bát v.v…Vấn đề nguồn gốc được tác giả đề cập quá chung chung. Quá trình phát triển nếu chỉ căn cứ vào những mốc lớn của lịch sử Việt Nam thì không những ca Huế mà các thể loại âm nhạc cổ truyền khác cũng đều bị ảnh hưởng. Tất nhiên, chính vấn đề này Gs Trần Văn Khê cũng đã từng thừa nhận: “Chúng tôi chưa gặp một sử liệu nào có thể soi rõ sự chuyển biến của lối đàn Huế qua các thời đại”.

Trong bài Sự phong phú và đa dạng của ca nhạc Huế [8] nhà nghiên cứu, nghệ sĩ ca kịch Huế Văn Lang có nêu vấn đề ảnh hưởng của nhạc Chàm đối với hai bài ca Huế: Nam ai và Nam bình. Theo ông, căn cứ vào sự kiện năm 1202 Lý Cao Tông sai soạn khúc Chiêm Thành âm có âm điệu “buồn sâu sắc mà người nghe không thể cầm được nước mắt” cho rằng “bài Nam ai có thể bắt nguồn từ khúc Chiêm Thành âm mà ra. Người nhạc sĩ trước đây đã dựa vào khúc Chiêm Thành âm để đặt ra bài Nam ai, vì trong Nam ai cũng có những âm cao và mang một nỗi buồn ai oán”. Điều phỏng đoán này, cũng như ông Thái Văn Kiểm trong bài nêu ở trước, là đều không có chứng lý.

Một vấn đề khác cũng được tác giả bài viết nêu ra là cặp từ Bắc, Nam trong ca nhạc Huế. Ông không hoàn toàn nhất trí với quan điểm điệu Bắc mangảnh hưởng âm nhạc Trung Hoa, điệu Nam là do ảnh hưởng nhạc Chiêm Thành. Theo ông: “những từ Bắc và Nam ở đây có thể chỉ là thuật ngữ để phân loại các hệ thống điệu thức – nhất là trong lĩnh vực hát dân tộc mà chủ yếu là cải lương và ca Huế”.

Nhạc Huế [9] là bài viết mang tính chất tổng lược về âm nhạc cổ truyền xứ Huế. Tuy nhiên không hẳn là kiểu bài giới thiệu mang tính chất “điểm mặt”các thành phần, thể loại, Gs Tô Vũ đã đưa ra những nhận định sâu sắc về mặt âm nhạc. Chẳng hạn, ông bổ sung thêm những nghiên cứu trước của Trần Văn Khê, Phạm Duy về thang âm hò Mái đẩy là: “cũng là một loại thang âm rất gần so với chuỗi âm có thể thấy ở một loại kèn trong âm nhạc Chăm”. Giáo sư phân định nhạc Huế thành ba thành phần chính yếu: Nhạc Lễ, Dân ca và Ca Huế. Đặc biệt đối với ca Huế, sau khi nhận xét các yếu tố bài bản, khúc thức, bố cục và phong cách trình diễn, ông đã có sự đánh giá sâu sắc: “Như vậy, có thể nói: ca Huế là một thể loại nhạc hát mang nhiều yếu tố chuyên nghiệp về cấu trúc và phong cách biểu diễn, nhưng về nội dung âm nhạc của nó thì bộ phận đặc sắc nhất lại chịu ảnh hưởng rõ rệt của Hò, Lý dân gian…”

Vấn đề giao thoa giữa hai thành phần này đã được Dương Bích Hà phát triển trong bài viết Âm nhạc cổ truyền xứ Huế trong mối quan hệ bác học và dân gian [10]: “Ca Huế mặc dù xuất phát tại cung đình nhưng nguồn gốc lại gắn bó với dân gian. Có thể nói rằng, trong nền âm nhạc cổ truyền Huế thì ca Huế – bộ phận thứ hai của dòng bác học – là nhịp cầu nối giữa cung đình – dân gian”.

…………..

 

[1] Văn Cao – Việc sưu tầm nghiên cứu của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba;Tập san âm nhạc 7/1956

[2] Thái Văn Kiểm – Ảnh hưởng Chiêm Thành trong ca nhạc Huế; Nguyệt san văn hữu số 3/1960.

[3] Trần Văn Khê – Lối ca Huế và lối nhạc tài tử; Bách khoa số 101,102/1961.

[4] Hoàng Yến – Âm nhạc Huế – Đờn nguyệt Đờn tranh;Tập san Những người bạn Cố đô Huế; Tập VI,1919

(B) Nxb Thuận Hóa – Huế, 1998.

[5] Trần Văn Khê – Vài cái hay cái dở trong nhạc Việt; Bách khoa số 101/1961

[6] Vĩnh Phan – Vài ý kiến về các hơi nhạc cổ truyền Huế; Tập san nghiên cứu Việt Nam số 1/1966.

[7] Lê Văn Hảo – Một vốn quý trong kho tàng âm nhạc Việt Nam cổ truyền; Âm nhạc số 3/1978.

[8] Văn Lang – Sự phong phú và đang dạng của ca nhạc Huế; Tạp chí Sông hương số 9/1984.

[9] Tô Vũ – Nhạc Huế; Văn hóa nghệ thuật số 7/1995.

[10] Dương Bích Hà – Âm nhạc cổ truyền xứ Huế trong mối quan hệ bác học và dân gian; Tạp chí Sông hương số 125. 7/1999

 http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-hoc-ung-dung/vhh-nghe-thuat/2037-vinh-phuc-ca-hue-qua-nhan-xet-cua-mot-so-nha-nghien-cuu-am-nhac.html

 

 

Nguồn: tapchi songhuong

TRẦN TRỌNG BÌNH : Chuyên đề 1 – LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CA HUẾ TRONG TRUYỀN THỐNG ÂM NHẠC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM


Chuyên đề 1 – LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CA HUẾ TRONG TRUYỀN THỐNG ÂM NHẠC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM 14-02-2014

Thân Trọng Bình

1. Từ khởi nguyên đến tiếp biến, giao thoa

Ca Huế cùng với Ca trù (Ả đào) ở miền Bắc và Ca nhạc tài tử Nam Bộ là 3

thể loại thuộc dòng âm nhạc thính phòng, đại diện đỉnh cao của thể loại thanh

nhạc trong di sản của âm nhạc truyền thống Việt Nam, mang tính chuyên

nghiệp, bác học. Đây là 3 thể loại âm nhạc có một hệ thống bài bản phong phú,

cấu trúc giai điệu hoàn chỉnh, với nhiều lối rung giọng, đổ hột, luyến láy mang

đặc trưng của 3 miền, lời ca giàu chất văn học, kỹ thuật ca hát tinh tế, điêu

luyện, có yêu cầu cao về hệ thống nhạc đệm, môi trường diễn xướng chọn lọc,

quan hệ giữa người diễn và người nghe là quan hệ tri âm, tri kỷ, đồng điệu.

Theo các nhà nghiên cứu về lịch sử, văn hóa và âm nhạc Huế thời điểm ra đời

của Ca Huế là vào khoảng thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII. Đây là giai đoạn yên

bình và cực thịnh của các Chúa Nguyễn ở xứ Đàng Trong. Thời kỳ hưng thịnh

nhất của Ca Huế là vào thế kỷ XIX, thời Tự Đức (1847 – 1883) khi Phú Xuân –

Huế đã trở thành kinh đô của nước Đại Nam thống nhất. Ca Huế là thú vui tao

nhã dành cho các ông hoàng, bà chúa, các văn nhân, nho sĩ, quan lại ở chốn kinh

Nguồn gốc của Ca Huế bước đầu được rút ra từ Tế nhạc cung đình như các

bài bản Long ngâm, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, 10 bài liên hoàn. Sau đó là

những sáng tác mới của các ông hoàng, bà chúa, các văn nhân, nho sĩ, các nhạc

công tài năng dưới triều Nguyễn.

Từ năm 1938 trong cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” của GS. Đào Duy Anh

cũng đã đề cập đến Ca Huế, theo giáo sư: “Từ khi các Chúa Nguyễn vào Đàng

Trong, âm nhạc Bắc đã chịu ảnh hưởng âm nhạc Chiêm Thành tạo ra các khúc

1

nhạc như Nam ai, Nam bình, Nam xuân có vẻ trầm bi oán vọng, những cung Bắc

(Khách) như Lưu thủy, Cổ bản, Phú lục, 10 bản Tàu thì có vẻ linh hoạt vui vẻ và

mạnh mẽ hơn”. Giáo sư cũng cho biết trong khi âm nhạc ở Đàng Ngoài đang suy

vong thì âm nhạc ở Đàng Trong “nhờ các Chúa Nguyễn cùng các bậc vương công

ham chuộng, nhờ ảnh hưởng của Chiêm Thành nên phong phú và thịnh vượng.

Nhiều nhà quý phái như ông hoàng Nam Sách, ông phò Trần Quang Phổ ở đời Tự

Đức là tay danh cầm xưa nay không ai hơn nổi”.

Ca Huế được nối tiếp qua nhiều thời kỳ trong lịch sử. Cuối thế kỷ XIX và đầu

thế kỷ XX cũng có nhiều danh ca, danh cầm về Ca Huế nối gót các bước đi của

tiền nhân. Từ 1945 đến năm 1975, mặc dù có những biến động về mặt lịch sử,

nhưng truyền thống Ca Huế vẫn luôn được bảo lưu tại các nhà của các nhạc sĩ,

nhạc công, những người yêu mến Ca Huế tại Cố đô Huế và một số thành phố lớn

như Hà Nội, Sài Gòn.

Như vậy Ca Huế là một thể loại âm nhạc có nguồn gốc và xuất xứ từ lâu đời

của dân tộc Việt. Nó chính thức ra đời và hình thành là vào khoảng thế kỷ thứ

XVII và XVIII, đây là thời kỳ yên bình và cực thịnh của các Chúa Nguyễn ở xứ

Đàng Trong, là thú vui ca nhạc tao nhã của các ông hoàng, bà chúa, các vị quan

lại, văn nhân, nho sĩ của đất kinh kỳ. Một số bài bản của nó bước đầu được lấy

ra từ tế nhạc cung đình và dần dần về sau là các sáng tác của các ông hoàng, bà

chúa, các văn nhân, nho sĩ, các ca công, nhạc công tài năng đã dần dần định

hình cho thể loại Ca Huế vào thế kỷ XIX dưới triều Vua Tự Đức – một ông Vua

rất thông minh, có tài văn học, thích nghiền ngẫm kinh điển Nho giáo, uyên bác

về Nho học và Khổng học, luôn quan tâm đến các loại hình nghệ thuật. Như

nhận xét của TS.Lê Văn Hảo trong cuốn “Huế giữa chúng ta”: “Ca nhạc Huế là

thuộc dòng nhạc cổ điển, tài sản chung của dân tộc nhưng lại một loại nhạc

mang nhiều màu sắc địa phương. Nhạc điệu của ca nhạc Huế bắt nguồn từ ca

nhạc dân gian Bình Trị Thiên và thanh âm của ca nhạc Huế phát sinh từ tiếng

2

nói, giọng nói của người dân xứ Huế. Quê hương của ca nhạc Huế chính là xứ

Huế tức là vùng đất kinh kỳ Thuận Hóa, Phú Xuân”.

Và sau này trong nhạc hội Ca Huế lần thứ nhất tổ chức tại Huế vào năm 1977,

nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, nguyên Viện trưởng Viện Âm nhạc Việt Nam đã khẳng

định: “Trong toàn bộ vốn ca nhạc cổ truyền của dân tộc, một kho tàng quý báu

vô giá là nền nghệ thuật ca nhạc Huế của chúng ta (…). Nghệ thuật ca nhạc Huế

là một cột mốc lớn đánh dấu một giai đoạn phát triển của văn hóa dân tộc, đồng

thời là một cơ sở xuất phát cho những làn sóng ca nhạc rộng lớn tràn khắp châu

thổ sông Cửu Long đến mũi Cà Mau, cũng như ngược dòng Nam tiến ảnh hưởng

trở lại nơi địa bàn chôn rau cắt rốn của dân tộc là vùng châu thổ sông Hồng,

sông Thái Bình, sông Mã, sông Cả và miền trung du Bắc Bộ”.

Sử liệu đã chứng minh rằng, Ca Huế mang rõ nét tính chất đặc thù địa

phương nhưng nó đã không chỉ bó hẹp trong một xứ Huế. Ngoài yếu tố đặc thù

và một số đặc điểm vốn có của mọi thể loại âm nhạc cổ truyền thì Ca Huế vẫn là

khởi nguyên từ văn hóa nghệ thuật cội nguồn Thăng Long, hội tụ từ truyền thống

văn hóa âm nhạc dân tộc. Vì vậy trong giai đoạn phát triển thịnh đạt, Ca Huế đã

lan tỏa, thâm nhập trở lại với cội nguồn và trở thành một thành phần tương hợp

trong hầu hết dân ca vùng Trung du và đồng bằng Bắc bộ. Chẳng hạn: hơi Huế,

giọng Lý, giọng Kinh ở khối giọng Vặt, giọng Ngoại trong hát Quan họ, hát

Xoan, hát Ghẹo, hát Chèo v.v…

Một số tài liệu công bố vào nửa đầu thế kỷ XX cho ta biết Ca Huế có một

thời được gọi là Ca lý, Lý kinh: “Lối ca lý thịnh hành trước ở trong Kinh, Quảng,

rồi dần dần lan mãi ra ngoài Bắc, lối này phải đặt theo dịp đàn mà hát theo tiếng

Kinh, Quảng; Sài Gòn cũng có một lối hát lý giống như Lý kinh. Nhưng xét ra lối

hát lý thời phần nhiều là những điệu bi ai, thê thảm, hay là giọng huê tình, dễ

khiến người ta chau mày mà rơi lụy.”… Các ấn phẩm tại Hà Nội thời kỳ này cho

biết Ca Huế và kể cả nhạc Tài tử được giới cầm ca Hà thành gọi là “Ca lý”. Các

3

tuyển tập lời hát các điệu Ca Huế như “Các bài Ca lý” xuất bản tại Phúc An hiệu

51, 59 phố Hàng Gai, Hà Nội năm 1927 và “Bài hát năm canh”, “Lý giao duyên

vọng phu” năm 1929. Tập “Các bài ca lý” được giới thiệu 9 điệu Ca Huế tiêu

biểu: Cổ bản (3 bài), Nam ai (2 bài), Lưu thủy, Hành vân, Nam thương, Nam

bình, Tứ đại cảnh, Vọng phu và Giao duyên. Qua việc in ấn, kinh doanh, chứng

tỏ sự lan tỏa trở lại với cội nguồn của Ca Huế đối với Thăng Long – Đông Đô giai

Hướng phát triển về phía Nam của Ca Huế thì rõ ràng đã sản sinh ra lối

nhạc tài tử như GS Trần Văn Khê đã nhận xét: “lối nhạc tài tử trong Nam là con

đẻ của lối ca Huế miền Trung”… “Những người học nhạc trong Nam, cũng đàn

Huế – Ông nội chúng tôi, ông Trần Quang Diệm chuyên đàn tì bà theo lối Huế và

cô ruột chúng tôi bà Trần Ngọc Viện cũng thường đàn Cổ bản Huế, kim tiền

Năm 1956 trong bài Việc sưu tầm nghiên cứu của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba,

nhạc sĩ Văn Vao đã rất e dè với vấn đề ảnh hưởng của nhạc Champa trong ca Huế

mà Nguyễn Hữu Ba đã đặt ra: “Tôi không biết được anh đã có những thí dụ gì

chứng minh, nhưng tôi biết rằng phần thắc mắc này của anh còn đợi có phương

tiện đầy đủ mới giải quyết được”. Thái Văn Kiểm trong bài Ảnh hưởng Chiêm

Thành trong ca nhạc Huế lại nhận xét một cách chắc chắn là điệu Nam trong ca

Huế đã “phỏng theo các ca khúc của Chiêm Thành mà đặt ra”. 2

Trong cuốn Đặc khảo về dân nhạc Việt Nam, Phạm Duy có đặt ra giả định:

“Có thể trong dĩ vãng, người Việt ở miền Bắc vốn quen dùng ngũ cung đúng (Do

– Re – Fa – Sol – La), khi Nam tiến đã bị nhạc Chàm (Champa) với ngũ cung Oán

– Fa – Sol – La) quyến rũ, rồi sáng tạo ra ngũ cung Ai (Do – Rê non – Fa

Vĩnh Phúc (Bùi Ngọc Phúc). Âm nhạc cổ truyền Việt Nam qua báo chí nửa sau

TKXX. NXB Thuận Hóa, Huế,

4

già – Sol – La non) chăng?”. Nói về sự giao thoa, tiếp biến với âm nhạc Champa,

cuốn Hòa tấu nhạc cung đình Huế của Thân Văn có nêu: “Thực ra, âm nhạc

người Champa đã từng có mặt trong cung đình nước Đại Việt từ thời Lý (1010-

1225) với điệu Chiêm Thành âm và Vũ khúc Tây Thiên của các vũ nữ Champa.

Do vậy, điệu Nam hơi Ai Huế có thể là do hơi Bắc của người Việt, giao thoa với

điệu thức âm nhạc người Champa mà hình thành. Hơi Ai chủ yếu thấy biểu hiện

trong thang âm, điệu thức Ca Huế, một hình thức ca nhạc thính phòng thời

Nguyễn còn tồn tại cho đến ngày nay”.

Về vấn đề giao thoa giữa âm nhạc Huế với âm nhạc phía Nam, Dương

Bích Hà trong bài viết Âm nhạc cổ truyền xứ Huế trong mối quan hệ bác học và

dân gian có viết: “Ca Huế là một di sản âm nhạc đặc trưng của cư dân Việt tại

trung tâm Thuận Hóa, nơi đã hội nhập vào văn hóa nghệ thuật xứ Đàng Trong

cũng như âm nhạc cung đình các triều đại nhà Nguyễn. Ca Huế đồng thời cũng là

ngọn nguồn sản sinh ra lối “đờn Quảng” ở Nam Trung Bộ và “Đờn ca tài tử” ở

Nam Bộ”.

2. Thuận Hóa (Huế) vẫn là trung tâm hình thành và phát triển Ca

Huế.

2.1. Giai đoạn phát triển và thịnh đạt của ca nhạc Huế (khoảng từ đầu thế

kỷ XIX đến trước ngày thất thủ kinh đô – 1885).

Trong giai đoạn này, ngoài dân gian cũng như chốn cung đình, ca Huế đã

phổ biến rộng rãi. Trong cung đình có một số bài Ca Huế có lời bằng chữ Hán

(10 bài Ngự vừa có lời chữ Hán thông dụng trong cung đình vừa có lời Nôm

thông dụng trong dân gian). Trong những dịp xe vua ra vào cung điện, 10 bài ngự

(10 bài liên hoàn) được ban ngự nhạc của triều đình tấu lên, cõ lẽ đó là những bản

vay mượn từ ca nhạc Huế và bị cung đình hoá.

Năm 1863, Có một tập bài bản ca nhạc Huế khá hoàn chỉnh gồm 25 tác

phẩm khuyết danh, trong đó 10 bài có kèm theo lời ca và 15 bản không có lời ca.

5

Mười bài có lời ca có những bài giống tên với những bài bản thông dụng trong ca

nhạc Huế như: Lưu Thuỷ, Kim tiền, Xuân phong, Hồ Quảng, Nam xuân.

Đây là thời kỳ thịnh đạt nhất của Ca nhạc Huế. Một số ông hoàng, bà chúa

con cháu của Minh Mạng (1820 – 1840) có sáng tác, diễn xướng, hay tổ chức sinh

hoạt ca nhạc thính phòng đó là: Miên Tông (Thiệu Trị), ông Hoàng Nam Sách,

Miên Bửu, Thanh, ông hoàng Miên Thẩm, Miên Trinh, Miên Bửu.

Giai đoạn này còn nhiều nghệ nhân nổi tiếng trong dân gian như Đẩu

nương một ca nhi ở An Cựu, các nhạc công Biên Nhận, Trần Quang Phổ, gia

đình Tống Văn Đạt, Tống Văn Chín, Tống Văn Phước, cậu Ba Toàn…

Danh sách này còn có thể kể thêm các cậu Thứ, cậu Khánh, cậu Trương

Sáu, cậu Cung, các ông Bá Yến, Thông phán Châu Hữu Ninh, Bố chánh Trương

Trọng Hữu, Tiến sĩ Đỗ Huy Liên, Cử nhân Lê Cảnh…

Về nữ có công chúa Huệ Phố vừa là nhà thơ, vừa giỏi đàn, ca kỹ Đầu

nương vang danh với cây đàn Nam cầm và giọng hát tuyệt diệu, bà Thiện, bà Tứ

là những tay lão luyện về nhạc cụ. Ngoài ra, tác giả Hoàng Yến đã kể tên một số

người mà ta chưa rõ tiểu sử như thông phán Tôn Thất Toại giỏi đàn tì bà, ông

Hoàng Mỹ Hoà nổi tiếng về tiêu, quan Thị Tôn Thất Linh; Hầu Chí, chỉ nằm lòng

bài Cổ bản nhưng tài năng của ông được dân chúng truyền tụng.

Trong giai đoạn này ta thấy rõ ca Huế dần dần đã phổ biến ra ngoài dân

gian. Các nhạc công, nghệ nhân giỏi về đàn của ca Huế đông đảo từ trong cung

đình lẫn ngoài dân gian chứng tỏ sự phát triển sinh hoạt ca nhạc thính phòng

trong dinh phủ của các ông hoàng và trong các gia đình quyền thế. Các ông

hoàng bà chúa còn để lại những công trình nghiên cứu về đàn như: Nguyệt cầm

phổ, Nam cầm phổ, ngoài ra Công chúa Ngọc Am, Lại Đức, ông hoàng Miên

Trinh, Tương An quận vương Miên Bửu còn sáng tác những bài ca Huế.

Các vua triều Nguyễn cũng rất thích ca Huế. Như vua Tự Đức đã sử dụng

các nghệ sĩ dân gian tài hoa làm chức suất đội trưởng để điều khiển dàn nhạc như

trường hợp đội Chín, đội Phước con cháu Tống Văn Đạt là một chứng cứ cụ thể.

6

Huế là địa điểm thuận lợi, nơi có thể tập hợp một số nghệ nhân giỏi đàn ca,

xướng hát trong giai đoạn này. Ca Huế trở thành một nhu cầu văn hoá tinh thần

không thể thiếu được ở chốn kinh đô này.

Những nghệ nhân tiêu biểu đặt nền móng cho việc khai sinh nền ca nhạc

Huế. Trước hết phải kể đến những gương mặt nghệ sĩ trong tầng lớp quý tộc từ

thế kỷ XVII – XVIII như chúa Nguyễn Phúc Chu (1675 – 1725), Luân Quốc công

Nguyễn Phúc Tứ (1698 – 1753), Nguyễn Phúc Dục (1727 – 1771)…, những nghệ

sĩ này có thể xem là những người đặt nền móng cho việc định hình và phát triển

của loại hình ca nhạc Huế.

1. Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng Đế Nguyễn Phúc Chu (1675 – 1725).

Bên cạnh những cải cách có tính quyết định cho việc bình ổn xã hội và phát

triển văn hóa của chúa Nguyễn Phúc Chu trong thời gian cầm quyền, trong một

số thư tịch cổ (Thích Đại Sán (1963), Hải Ngoại kỷ sự, Ủy ban dịch thuật, Huế:

Viện Đại học Huế), chúa được nhắc đến như một tay đánh trống tuồng lão luyện,

là một nghệ sĩ lớn của thế kỷ XVIII. Tương truyền chính chúa là người sáng tác

bài “Ai Giang Nam” – tiền thân của bài Nam Ai hiện nay. Tuy nhiên, theo chúng

tôi, đây chỉ là bước kế từ những thành tựu của các thế hệ tiền nhân, đặc biệt là

chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 – 1635) – thời kỳ âm nhạc rất khởi sắc với sự

kiện Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ thành lập Hoà Thanh Thự (nơi biểu diễn, đồng

thời là nơi tập luyện, đào tạo nghệ sĩ), đúng như nhận định của một số nhà nghiên

cứu: “…các chúa Nguyễn ở Đàng Trong tiếp nối truyền thống thưởng thức âm

nhạc ở Đàng Ngoài mà cho tổ chức các buổi ca nhạc có lời ca ở cung đình” (Trần

Văn Khê (1961), Lối “ca Huế” và lối “nhạc tài tử”, Tạp chí Bách Khoa, số 101

– 102: 69).

2. Luân Quốc Công Nguyễn Phúc Tứ (1698 – 1753).

7

Nguyễn Phúc Tứ là hoàng tử thứ 8 con của Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế

Nguyễn Phúc Chu, có tên là Đán. Năm 1715, ông làm Nội hữu Cai đội, thư tịch

ghi chép về ông như một người phong độ, tinh thông sử sách và đặc biệt sở

trường về thơ chữ Nôm. Khi Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng đế Nguyễn Phúc Khoát

lên ngôi chúa, Nguyễn Phúc Tứ vì có tài, bị nhiều người ghen ghét, gièm pha nên

xin từ quan về hưu dưỡng ở xã Hương Cần (Hương Trà – Thừa Thiên Huế), ngày

ngày chơi trăng thưởng gió, uống rượu ngâm thơ để mua vui. Sinh thời ông viết

Hoa Tình Truyện, lời lẽ rất thương tâm, thê thảm, được người đương thời truyền

tụng, ngợi ca (Quốc Sử quán triều Nguyễn (1997), Đại Nam Liệt truyện [tập I],

Huế, Nxb. Thuận Hóa: 52).

3. Nguyễn Phúc Dục (1727 – 1771).

Ông là con trưởng của Luân Quốc công Nguyễn Phúc Tứ. Đời Duệ Tông

Hiếu Định hoàng đế Nguyễn Phúc Thuần, ông được bổ nhiệm làm Chưởng Cơ

lãnh việc bộ Hình. Khi triều chính bị lũng đoạn, triều thần Trương Phúc Loan lôi

kéo ông làm vây canh nhưng bị từ chối, ông bị vu oan tội mưu phản, và bị bãi

chức. Từ đó, ông sống cuộc sống thanh đạm, và ông đặt chỗ ở của mình là Tĩnh

Viên Đường, để ngày ngày ngâm thơ. Là người hay thơ, am tường về âm nhạc

nên khi ông nhận thấy điệu Nam trong những bài ca Huế thường cao, đàn xưa

nhấn nhịp không đúng, ông đã dày công nghiên cứu đặc điểm của đàn Cầm, đàn

Sắt, Tỳ Bà rồi chế ra cây Nam cầm (đàn Nam)1

truyền, ông dạy cho vợ thứ của mình sử dụng cây đàn này, về sau, bà lại truyền

nghề lại cho một thiếu nữ sống ở vùng An Cựu (Thành phố Huế) tên là Đẩu

Nương. Đẩu Nương cùng Nam Cầm Khúc nổi danh một thời và để lại không ít

giai thoại, hiện còn lưu truyền trong giới mộ điệu.

Vào thời các vua Nguyễn, nhất là trong giai đoạn trước khi Thực dân Pháp

xâm lược, ca nhạc Huế đã được giới quý tộc thượng lưu đặc biệt ưa chuộng.

8

Những thành tựu có tính quyết định cho con đường phát triển của loại hình ca

nhạc Huế về sau, trong thời kỳ này phải kể đến sự đóng góp của một số hoàng

thân quốc thích, những người có sáng tác, tham gia diễn xướng hay tổ chức sinh

hoạt ca nhạc Huế trong hoàng cung hoặc ở ngay tại dinh phủ của mình: Miên

Tônng (vua Thiệu Trị), Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Tuy Lý Vương Miên

Trinh, Tương An Quận Vương Miên Bửu, Nam Sách Quận Công Miên Ổn, Công

chúa Ngọc Am, Mai Am, Thuận Lễ công chúa Tĩnh Hòa, Hồng Nhậm (vua Tự

Đức)…Song song là sự góp mặt của một số gia đình nghệ nhân có truyền thống

dân ca như: gia đình ông Tống Văn Đạt (cùng các thế hệ con, cháu là Tống Văn

Chín, Tống Văn Phước), các nghệ sĩ: Biện Nhân, Trần Quang Phổ, cậu Ba Toàn,

Đẩu Nương, cậu Thứ, cậu Khánh, cậu Trương Sáu, cậu Cung, ông Bá Yến,

Thông Ninh (Thông phán Châu Hữu Ninh), Bố chánh Trương Trọng Hữu, Tiến sĩ

Đỗ Huy Liên, cử nhân Lê Cảnh…

Có thể nói trong thời gian này, ca nhạc Huế dần phổ biến trong dân gian, với

sự có mặt đông đảo của các nghệ nhân nổi tiếng, đủ mọi giai tầng trong xã hội,

đây cũng là thời gian xuất hiện các công trình nghiên cứu về đàn, ca Huế như:

Nguyệt cầm phổ, Nam cầm phổ…

1. Dực Tông Anh Hoàng Đế Tự Đức – Hồng Nhậm (1829 – 1883).

Trong các triều vua Nguyễn, Tự Đức là ông vua giỏi văn thơ. Tuy nhiên, vào

thời kỳ này, xã hội Việt Nam có những biến chuyển đáng kể, sự đụng đầu giữa

hai phương thức sản xuất cũ và mới khi người Pháp đến Việt Nam đã đẩy ông

đứng trước những lựa chọn, những thách thức trọng đại, ông dành cả tâm huyết

cho văn thơ và ca nhạc. Ông đã để lại một khối lượng sáng tác đáng kể, đặc biệt

là trong lĩnh vực tuồng và ca Huế. Trong những sáng tác này, Tứ Đại Cảnh –

khúc nhạc hoành tráng, chan chứa những nỗi niềm ai lạc trong cùng một tác

phẩm, tương truyền do chính ông sáng tác (E.Le Bris (1927), Musique

9

Annamite: les musicien aveugles de Hué. Le Tu Dai Canh, Tạp chí B.A.V.H,

số 4: 137 – 149).

2. Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (1819 – 1870).

Vào giữa thế kỷ XIX, ở kinh đô Huế xuất hiện hai nhà thơ hoàng tộc rất

được khen ngợi:

“Văn như Siêu – Quát vô tiền Hán

Thi đáo Tùng – Tuy thất thịnh đường”

Tùng tức Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Tuy tức Tuy Lý Vương Miên

Trinh. Tùng Thiện Vương là hoàng tử thứ 10 của Thánh tổ Nhân hoàng đế Minh

Mạng và bà Thục tần Nguyễn Thị Bảo (1801 – 1851) nên cũng thường được gọi

là “ông Hoàng Mười”.

Tùng Thiện Vương nổi tiếng là người thông minh đĩnh ngộ, năm 4 tuổi ông

đã theo học Hiếu kinh, 7 tuổi được 2 vị đại quan đầu triều là Trương Đăng Quế

và Thân Văn Quyền dạy dỗ nên kiến thức rất uyên bác. Ông nổi tiếng về thơ văn

chữ Hán, tài văn của ông đã có lần khiến cho sứ giả Trung Quốc Lao Sùng Quan,

khi công cán đến Việt Nam đã phải kính phục nể vì. Trong số các anh em của

mình, cũng như trên thi đàn thời kỳ này, Miên Thẩm là người nổi tiếng nhất,

được người đương thời khâm phục gọi là “nhất đại thi ông”. Là một hoàng thân,

sống ở chốn cao sang quyền quý, nhưng thơ ca và tâm tưởng của ông dường như

vươn thoát ra khỏi khuôn phép của lễ giáo phong kiến, Miên Thẩm đã viết nhiều

bài thơ nói lên sự đau xót của mình trước thực trạng đất nước và nỗi thống khổ

lầm than của người dân:

“Mở đọc bài văn điếu từ chiến trường

10

Tựa hồ như tin ở biên giới dồn dập đưa về

Người dân cầm sào làm cờ, chặt gỗ làm gươm, tự ngàn xưa vẫn

anh hùng…”

Hay

“Dân đen bán nhà, bán đến vợ

Thân này tuy còn, nhà đã tan

Khỏi bị gông cùm thì mất vợ

Vợ bồng con đến từ biệt chồng

Miệng nhai cau trầu khóc nức nở…”

Tương truyền Nam Cầm Phổ là sách ông soạn ra để dạy cho nàng Tiều Bạch

3. Tuy Lý Vương Miên Trinh (1820 – 1897).

Tuy Lý Vương Miên Trinh sinh ngày 19 tháng chạp năm Gia Long XVIII

(1820), tự là Khôn Chương và Quý Trọng, hiệu Vĩ Dạ và Tĩnh Phố, là em của

Tùng Thiện Vương. Ông là hoàng tử thứ 11 của vua Minh Mạng và bà Tiệp Dư

họ Lê, măm 13 tuổi đã nổi tiếng hay thơ nên về sau thường được gọi là “ông

hoàng thơ”. Năm Minh Mạng XX (1839), ông được phong tước Tuy Quốc Công,

năm 1851 (Tự Đức IV) được cử trông coi Tôn Học Đường – trường học dành cho

con em trong hoàng tộc và được phong là Tuy Lý Công. Năm 1863, bà Tiệp Dư

mất, ông từ quan về nhà chịu tang. Hai năm sau, ông kiêm chức Hữu Tôn NHơn,

năm Tự Đức XIV (1871), được thăng chức Tả Tôn Nhơn, năm 1878 tấn phong

Quận Vương.

11

Năm 1883, Tuy Lý Quận Vương được Hiệp Hòa đế gia phong Tuy Lý

Vương đặc trách việc bang giao với sứ thần ngoại quốc. Bảy năm sau, khi vua

Thành Thái tức vị, ông được cử làm Đệ nhất Phụ chính Thân thần kiêm Nhiếp tả

Tôn chính, sau đó lại giữ chức Phụ nghị Cận thần cho đến khi mất.

Ngài Tuy Lý Vương để lại rất nhiều tác phẩm văn thơ chữ Hán và chữ Nôm

như Nữ Phạm Diễn Nghĩa Từ, Nghinh Tường Khúc, Hòa Lạc Ca (viết chung

cùng Tùng Thiện Vương và Tương An Quận Vương), đặc biệt, Nam Cầm Khúc

Diễn Nghĩa Ca được xem là nốt son trong lĩnh vực ca nhạc Huế.

4. Tương An Quận Vương Miên Bửu (1820 – 1854).

Miên Bửu tự Khiêm Trai, năm Thiệu Trị II, ông được phong làm Tương An

Công. Trong lĩnh vực ca nhạc Huế, Tương An Quận Vương Miên Bửu rất nổi

tiếng với ngón đàn tỳ bà, bên cạnh đó, ông cũng đặt lời cho rất nhiều bài ca Huế.

Ví như bài Nam ai:

“Trông nhau luống những xưa rày

Xưa rày đêm ngày chờ đợi

Mưa nắng cành lê, tuyết ủ gốc mai…”

Tương truyền bài Nam ai trên cùng Hương Giang Hoài Cổ Khúc được ông

sáng tác sau khi cuộc đảo chính của Hồng Bảo thất bại, Hồng Bảo bị vua Tự Đức

ám hại. Miên Bửu thương cảm nên mới viết chúng cùng với một loạt những bài

thơ khác, kín đáo phản ánh cuộc sống ngột ngạt của những con người tài hoa

dưới chế độ phong kiến.

“Thương chi thương khéo bông lông

Thương chi cảnh có người không thương gì…”

12

(Khúc ngậm trăng thương)

5. Nam Sách Quận Công Miên Ổn (1833 – 1894).

Là hoàng tử thứ 11 Thánh tổ Nhân hoàng đế, Miên Ổn sinh năm Minh Mạng

XIV, ông lấy tên là Các Trang Tử, hiệu là Thúc Ân.

Năm Tự Đức III, ông được phong Nam Sách Quận Công là người đàn giỏi,

lại dày công nghiên cứu về ca nhạc Huế, tập Nguyệt Cầm Phổ là kết quả nghiên

cứu của ông được viết vào năm 1859.

Trong công trình khảo cứu của mình, tác giả Hoàng Yến cũng đã nhắc nhở

đến tài năng về đàn của ông: “Trong Hoàng phái có Hoàng tử Nam Sách, không

chỉ giỏi về đàn tranh và đàn nguyệt, mà còn là người chơi đàn tỳ bà giỏi nhất

trong thời kỳ ấy. Ông học nhạc với Tống Văn Đạt. Trong phần mở đầu cuốn sách

nhạc của ông, ông có nói là ông mời ông Tống Văn đạt đến chơi nhạc ở nhà ông

và ông chỉ đạt được nghệ thuật này sau 5 năm học tập” (Hoàng Yến (1919), Đàn

nguyệt và đàn tranh, Tạp chí B.A.V.H, số 4: 108). Năm Thành Thái VII

(1895), ông Hoàng Nam Sách qua đời, thọ 63 tuổi, thuỵ là Cung Lượng.

6. Thuận Lễ Công Chúa Tĩnh Hòa (1830 – 1882).

Có tên Huệ Phố, tự Quý Khan và Diễm Chi, Tĩnh Hoà công chúa là con gái

thứ 34 của Thánh Tổ Nhân hoàng đế, em cùng mẹ của Tùng Thiện Vương và Mai

Am công chúa.

Sinh năm Minh Mạng X, Huệ Phố tỏ ra là người thông minh, đức độ, học

thông kinh sử và có tài làm thơ như các anh chị, Tập thơ Huệ Phố của bà đến

nay vẫn còn được lưu truyền.

13

Tĩnh Hòa công chúa rất thích âm nhạc, khéo đặt khúc hát và lập ra nhóm nữ

nhạc, ngày ngày cùng các anh chị hội yến, lấy đàn hát làm vui. Trong ban nữ

nhạc này, Huệ Phố là một nữ nhạc công xuất sắc, sở trường của bà là đánh trống

và thổi tiêu.

7. Lại Đức Công chúa Trinh Thận (1826 – 1904).

Lại Đức công chúa có thên hiệu là Mai Am, Diệu Liên, tự là Thúc Khánh Nữ

Chi, là con gái thứ 25 của vua Minh Mạng.

Năm 1849, sau khi Tuy Lý Vương xây dựng Sở Tiêu Viên bên bờ sông Lợi

Nông (Vĩ Dạ – Huế) và đưa mẹ ra ở, Lại Đức công chúa cùng các anh chị của

mình có cơ hội để bàn chuyện thơ văn, sáng tác ca từ, tiếp xúc với các danh sĩ đất

kinh sư trong Tùng Vân thi xã do Tùng Thiện Vương làm chủ soái. Cũng trong

thời gian này, bốn anh em của bà nổi danh là “Thi Tứ Đất Thần Kinh”.

Cùng với việc mô phỏng theo ca khúc Việt Quảng để làm ra mười bài ca mà

người Huế gọi là 10 bản Tàu, Lại Đức công chúa cũng phỏng theo điệu Nam bình

và đặt ra nhiều bài Hán văn như Thu lai mộng bất ly ngô đồng và bài Gối loan

trằn trọc năm canh (Ngô Thị Thuỷ (2000), Nghệ nhân Huế và Điệu Đàn – ca

xứ Huế, Luận văn tốt nghiệp khoá 1995 – 2000, Huế, Trường Đại học Nghệ

thuật: 91).

“Mối sầu đoanh

Lệ tình chan chứa, vì nợ ba sinh

Một khối tình, gớm ghê thay

Bao nhiêu sợi tơ mành

Vương càng thêm rối, rối, muôn vàn, khôn lần ra mối

14

Thiệt lạ cho đời!…”

Năm 1880, bà kết hôn cùng Thân Trọng Di, hậu duệ của một thế gia khoa

bản nổi tiếng ở đất kinh kỳ, 5 năm sau, trong sự biến kinh thành Huế, phò mã hộ

tống vua Hàm Nghi bôn tẩu ra Sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị), nhưng bị bạo

bệnh mất giữa rừng. Công chúa đau xót sai người tìm xác chồng nhưng không

được, bà làm tập thơ khóc chồng với ý nguyện khi chết sẽ được táng cùng chồng

trong cùng khu lăng mộ. Ý nguyện này đã được thực hiện vào năm Qúy Mão

(1903), khi ở làng Nguyệt Biều (Huế) xuất hiện khu mộ với ba ngôi trong một

vòng thành cùng với tấm bia khắc bài thơ của bà: một của công chúa Mai Am,

một là mộ trống dành cho chồng và ngôi mộ khác nhỏ hơn dành cho con trai của

bà mất lúc 5 tuổi.

8. Tống Văn Đạt

Gia đình ông Tống Văn Đạt ba đời truyền nối là nghệ nhân giỏi: ông Đạt

còn là đội Chín, cháu là đội Phước (chức đội trưởng đội Ngự nhạc triều Nguyễn),

và một số người tài khác như đội Thức, Thập tri.

Ông Tống Văn Đạt là một người có biệt tài về nhạc. Ông hoàng Nam Sách

đã có những nhận xét về tài năng của ông, trong lời tựa tập sách “Nguyệt cầm

phố” năm 1859 viết: “Đạt là một người đặc tài, anh chỉ xuất hiện ở những đại gia.

Người ta trọng tài anh với cung cách thật đặc biệt”.

Ông là học trò của Biện Nhân, một nghệ nhân đàn trứ danh thời bấy giờ,

được nhiều người truyền tụng và ghi vào sử sách. Tống Văn Đạt ở trong giai

đoạn phát triển và thịnh đạt cuả ca nhạc Huế. Ông đã truyền dạy nghề nghiệp

mình cho nhiều người, được sự ái mộ và kính nể của họ, đáng kể là các Vương

tôn công khanh cung triều Nguyễn Tài năng của ông đã có ảnh hưởng đến triều

9. Tống Văn Chín: con trai của ông Tống Văn Đạt, làm chánh suất đội

trưởng đội nhạc hoàng cung triều Nguyễn. Ông là người thừa kế tài năng của cha

15

một cách tường tận, nhất là các nhạc cụ bằng dây. Cũng nhờ tài năng này, vua Tự

Đức đã chọn ông làm đội trưởng được ghi nhận đầu tiên trong lịch sử âm nhạc

nước ta. Sau khi ông quan đời, con ông được kế tục sự nghiệp cùng chức vụ

người cha; vì nhà vua rất hâm mộ tài năng của ông.

10. Tống Văn Phước: Con trai của ông Tống Văn Chín (đội Chín), cháu

của Tống Văn Đạt, cả ba ông cháu đều giỏi về nhạc, kế tiếp làm chánh suất đội

trưởng đội nhạc cung đình triều Nguyễn, rất được vua Tự Đức ưa chuộng và đặc

biệt quan tâm do tài năng và đức độ của họ. Cậu Phước rất giỏỉ đàn dây nên sau

khi ông đội Chín mất, đội Phước đã được vua cho làm chánh suất đội kế chân

cha.

Ông còn là thầy tuồng trong Thanh Bình Thự là cha của Viên Lưu và cô ba

Thuội, cũng đều là diễn viên tuồng nổi tiếng. Đội Phước chuyên đóng vai kép

văn làm kép cũng giỏi. Đến khi bị hại, không đi được, nhưng vua Thành Thái

mến tài, truyền gia đình đưa ông đến, mời ông diễn tuồng ngay trên xe đẩy.

Gia đình ông Tống Văn Phước cho ta hình dung được lề lối học nhạc ngày

trước thường là “cha truyền con nối”.

2.2. Giai đoạn ngưng đọng và suy thoái (1885-1945):

Thời kỳ ngưng đọng và suy thoái của ca nhạc Huế là giai đoạn từ sau khi

thất thủ kinh đô cho đến trước cách mạng tháng 8 (1945)

Trong thời tao loạn, tối tăm, của chế độ nửa thực dân, nửa phong kiến thì

nghệ thuật tao nhã như ca Huế cũng mất dần tính chất sang trọng nơi tư dinh, phủ

đệ . Bởi vậy, thời gian này ca nhạc Huế có lúc đã bị biến chất, trở thành một thú

tiêu khiển không lành mạnh…

Ca Huế là một loại ca nhạc thính phòng, người ca, người đàn cùng thưởng

thức là những khách tri âm… Vì vậy, ngoài tư thất, phủ đệ thì dòng sông Hương

là nơi lý tưởng cho những lần tập họp khách tao nhân, tài năng thiên phú. Tất cả

tính chất ấy nay đã bị biến đổi cùng dòng sông ấy và những buổi ca Huế lúc bấy

16

giờ đã trỏ thành những cuộc an chơi trác táng của bọn người có đồng tiền. Bởi

vậy mà sông Hương trong giai đoạn này còn có tên là sông Tiêu Kim Thuỷ.

Các nhạc công, ca sĩ, lâm vào cuộc sống lầm than, bế tắc. Có người bán rẽ

tài năng, có khi bán cả nhân phẩm của mình để mua vui cho bọn quyền quý giàu

sang lại còn phải chịu nhục vì thành kiến “xướng ca vô loài”.

Ca nhạc Huế cũng như hát Ả đào, bị xuống dốc và bị coi rẻ. Trong hoàn

cảnh ấy, một số lớn những nhạc công ngay thẳng, lương thiện luôn giữ gìn vốn

cổ quý báu của cha ông. Họ đã nêu cao phẩm tiết chân chính của mình để bảo vệ

giá trị cho ca nhạc Huế!

Kể từ khi kinh đô thất thủ đánh dấu một giai đoạn biến chuyển trong mọi

sinh hoạt văn hoá nghệ thuật và cũng kể từ đây nhà nước phong kiến không được

quyền thống trị như trước. Vì không được triều đình nhà Nguyễn chăm lo, nâng

đỡ nên nhiều bộ môn nghệ thuật khác cũng bắt đầu có hiện tượng suy thoái, biến

chất. Và từ 1885 trở về sau, thật khó tìm ra những ông vua Nguyễn ham thích

nghe ca Huế, tổ chức các buổi ca Huế đặc sắc, lưu lại trong sử sách văn chương.

Từ một nghệ thuật trang nhã ở chốn cung đình, trở thành một sinh hoạt, mang

tính chất giải trí ở chốn dân gian.

Nhưng cũng do hoàn cảnh lịch sử, giai đoạn này cũng là một dấu ấn đậm

nét cho sự phát triển của Ca Huế: Đó là Ca Huế từ cung phủ đến với dân gian. Có

nhiều nghệ sĩ hoàng tộc với tâm hồn dân dã, dễ thích nghi với đời sống bình

thường nên họ rất dễ hoà hợp, đồng điệu với những nghệ sĩ dân gian. Họ là

những nghệ sĩ đàn ca Huế trung thực, đúng đắn đã có công giữ gìn vốn cổ cùng

bảo vệ bản sắc dân tộc trong hoàn cảnh hết sức khó khăn. Ta có thể kể tên các

nhạc sĩ, ca sĩ ấy, những người đã có công bảo vệ cho ca nhạc Huế trong giai đoạn

triều đình Huế mất thực quyền (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX).

Và trước những thay đổi phức tạp bên ngoài ấy, các nghệ sĩ, nghệ nhân nầy

vẫn sống với ca Huế càng tâm huyết hơn, họ là: Trợ quốc Khanh Ưng Dũng, gọi

là Trợ Dõng, con trai ông hoàng Gia Hưng, giỏi đàn nguyệt. Ông cựu Tri phủ

17

Đoàn Diệu (phủ Thông) giỏi tiết tấu, hoà điệu. Ông Kiểm thảo Trần Trịnh soạn,

thường họi là Cả Soạn, người làng Minh Hương đàn tranh thiện nghệ giỏi đàn

nguyệt. Ông Cửu phẩm Nguyên Chánh Tư, người gốc An Cựu (Huế) giỏi đàn

tranh. Ông Ưng Ân dòng dõi Tuy Lý Vương. Ông Khoá Hài tên thật là Ngô Phố

người làng Bác Vọng (Huế) ngụ ở An Cưụ, thuộc nhiều điệu, nhiều bài. Ông

huyện hầu Ưng Biều (mệ Chín Thành) giỏi tất cả các loại đàn dây, nhưng nổi

tiếng về đờn nhị và độc huyền. Ông Phan Đình Uyển gọi là câụ ấm Ba, người

Phú Lương (Thừa Thiên) giỏi đàn độc huyền và nổi tiếng về thổi tiêu.

Các nữ danh cầm gồm: cô Phò 24, vợ goá của Trần Quang Phổ, gốc người

An Cựu (Thừa Thiên); bà Khoẻ con cậy Cung (Người Kim Long) và vợ của Đốc

Soạn, họ là ngững người chơi giỏi đàn tranh, Danh ca thì có cô Phủ Sáu, Cô Tra.

Trước cách mạng tháng 8 khoảng 10 – 15 năm, có các danh cầm thường

được nhắc tới như:

– Ông Cả Soạn, ông Bảy Thiều, ông Thừa Khiêm, cậu Khoá Hài… nổi tiếng

về đàn tranh.

– Ông Ngũ Đại (tức Vĩnh Trân), cậu Tôn Út, nổi tiếng về đàn nguyệt

– Ông Hầu Biều (tức Ưng Biều) nổi tiếng về đàn bầu và đàn nhị.

– Ông Lý Vũ, ông Ưng Thông (Thân phụ của nhạc sĩ Bửu Lộc) nổi tiếng về

đàn nhị.

– Ông Đội Trác, Ông Ngũ Đại, ông Trợ Tồn, ông Sơn Huy Nguyễn Ngọc

Liệu nổi tiếng về đàn tỳ bà.

– Ông Nguyễn Khoa Tân, giỏi về đàn nguyệt, tranh

– Ông Chủ Văn (Tôn Thất Văn) giỏi về đàn tranh

– Ông Tôn Thất Đổng đàn bầu, đàn nhị

– Ông Vương Tứ Đại người Quy Nhơn lấy vợ hoàng tộc, biết chơi nhiều

nhạc cụ.

– Cô Nhơn, cô Thống Thắng, cô Tuyết Hương… nổi tiếng về ca

18

– Về sáng tác trong thời kỳ này có ông Ưng Bát là tác giả điệu “Tương Tư

khúc” ra đời và những năm 1930.

– Về nghiên cứu lý luận có những công trình của Di Sơ Ưng Dự như “Văn

thích lục” “Âm nhạc luân lược”; của tác giả Hoàng Yến như ”Âm nhạc ở Huế”,

“Cầm học tầm nguyên”. Trong giai đoạn này còn có:

– Ông Bảy Thiều (người Bình Định) chơi đàn tranh, có cách luyến láy rất

– Ông Đội Trác là một người có tài năng và nhạc cảm tốt, ông chơi đàn tỳ

bà và đàn nguyệt, Có một lần nghe các nhạc công người Hà Nội biểu diễn, ông đã

nhớ và đàn lại trọn vẹn bài nhạc mà người nhạc công vừa trình tấu.

– Ông Lý Vũ (sinh năm 1911), đã mất. Ông thường chơi đàn tri âm, ông

giỏi đàn nhị là thầy của ông Nguyễn Văn Tạ (đã mất)

– Ông Thầy Nậy (thường gọi là thầy bói): đàn bầu

– Bác Đồng (Đoàn Đồng là người giỏi tiếng Pháp – giáo sư giỏi ở Huế) là

một người thường nghe ca Huế và rất am hiểu về loại âm nhạc này.

Còn có các danh ca khác như: cô Điền, cô Thu Em, cô Yến…

Cụ Cả Soạn (tức là Trần Trịnh Soạn), xuất thân từ một gia đình khoa

bảng, Phụ thân của cụ Cả Soạn là cụ Trần Chỉ Tín đỗ cử nhân, giữ chức Thượng

Thư Bộ Lễ dưới triều Thành Thái, ở làng Minh Hương (Thừa Thiên).

Thuở niên thiếu, cụ Cả vốn người không được khoẻ mạnh nên gia đình

không cho đến trường mà được phụ thân dạy dỗ ở nhà. Với tư chất thông minh

lại đam mê, năng khiếu của cụ bộc lộ rất sớm trên cả 2 lĩnh vực: cờ và âm nhạc.

và là thầy thuốc giỏi, đã sáng chế một loại thuốc chữa mắt rất công hiệu

Cụ Cả cao cờ từ thuở thiếu thời. Đến tuổi lập thân cụ nổi tiếng là một danh

kỳ chốn kinh đô.

19

Là một danh cầm xứ Huế, cụ chơi nhiều loại đàn: đàn nguyệt, tranh, tỳ

bà…. đàn nào cụ chơi cũng tuyệt. Cụ đã đào tạo những học trò xuất sắc về cờ và

đàn, sau này họ đều trở thanh danh kỳ, danh cầm xứ huế.

Về đàn cụ đã dạy cho những người sau: Nguyễn Quang Tồn (Trợ Tồn) đàn

tỳ bà; Trần Ngọc Toản (nghè Toản) đàn tranh, đàn tỳ; Nguyễn Gia Cẩm đàn

nguyệt rất xuất sắc. Ba người này không những là học trò xuất sắc của cụ mà còn

là bạn tri âm của cụ Cả.

Nói về tiếng đàn của cụ, có một giai thoại như sau: “Cụ Cả thường chơi

đàn vào lúc đêm khuya, khi có hoa quỳnh nở, lúc trăng lên. Sau khi tắm rửa sạch

sẽ, cụ thắp nén hương, khoan thai ngồi vào bàn, trên một chiêc ghế tràng ký.

Tiếng đàn tránh thánh thót vang lên trong một đêm trăng yên tĩnh mịch. Đêm

càng về khuya, ánh trăng càng sáng, những đoá quỳnh rung rinh nở theo tiếng

đàn theo ánh trăng. Khung cảnh ấy đã được chứng kiến bởi một tên trộm định lẽn

vào nhà của cụ…. Sau đó ít lâu tên trộm đến gặp cụ và lễ pháp thưa rằng: cháu

thỉnh thoảng đi làm thuê, qua đây nghe tiếng đàn của cụ, xin cụ cho phép cháu

được vào hầu trà để được nghe tiếng đàn của cụ”

Ông Nguyễn Quang Tồn (thầy Trợ Tồn) cũng có một giai thoại nhiều bí

ẩn, thể hiện những tình cảm tri âm, tri kỹ với cụ Cả Soạn:

“Thầy Trợ Tồn, người học trò yêu của cụ cũng là một danh cầm xứ Huế,

thường hay đến hoà đàn với cụ. Với phong cách chơi đàn vào giờ ấy, bên cạnh

những bình hoa huệ toả hương ngào ngạt. Có một lần, đêm đã khuya lắm. Sau khi

đàn bài Nam ai xong, thầy đi ngủ. Nửa đêm thức giấc tỉnh dậy, thầy gọi vợ và nói

“Này mình! Bác Cả đến gọi tôi đi với Bác”. Vợ thầy hốt hoảng nói nhẹ “Thầy

ngủ đi, mộng mị gì lạ vậy!”. Thầy Trợ Tồn gật đầu, nằm lại ngay ngắn và ngủ

tiếp và từ giây phút đó, thầy Tốn vĩnh viễn từ giã cõi đời mà trong giấc mộng

thấy cụ Cả về rủ thầy đi.

Việc ra đi đột ngột của thầy Trợ Tồn sau khi đàn xong là có thật. Còn

nguyên nhân cái chết đột ngột ấy thì có người cho là do quá xúc động khi đàn

20

trong một phòng đóng kín, ngào ngạt hương hoa nên bị tai biến. Nhưng cũng có

người cho đó là một cái chết tâm linh, ra đi theo tiếng gọi của người thầy, người

bạn tri âm…

Ông Ưng Biều (là bạn thân của cụ Cả Soạn): Phong cách đàn không giống

cụ cả Soạn. Ông cũng là người Huế.

Ông còn được gọi là Huyện hầu Ưng biều hay “mệ” chính Thành (vì ông là

con thứ 9 lúc ở nhà tên Thành). Ông giỏi tất cả những loại đàn dây, nhưng nổi

tiếng hơn cả là đàn nhị và đàn bầu. Nhờ giỏi nhấn nhá, luyến láy, ông biểu lộ cảm

xxúc của mình rất trung thực, làm người nghe hết sức xúc động, buồn thương.

Ông là danh cầm bậc thầy của nhiều người sau này như: Giáo sư, nghệ sĩ ưu tú

Nguyễn Hữu Ba. Được học đàn với thầy Biều là một vinh hạnh may mắn. Ông

cũng thường đàn một mình giữa khuya để tiếng đàn thêm phần sinh động và có

hồn. Ông thường hoà đàn với các danh cầm khác như Hoàng Yến (đàn tỳ) cụ Cả

Soạn (đàn tranh).

Ông Ưng Dũng (còn gọi là Trợ Dũng): chức vụ của Ưng Dũng là Trợ quốc

khanh. Cha của ông là ông hoàng Gia Hưng là người giỏi đàn nguyệt. Nhạc của

ông chơi rất trang nghiêm và cao khiết. Những buổi hoà nhạc của ông luôn luôn

tạo cho người nghe cảm xúc như đang ở trong một cung điện nghiêm trang, đầy

vẻ tĩnh lặng và sùng kính.,

Ông Nguyễn Ngọc Liệu có hiệu là Sơn Huy, tuy không phải là người gốc

Huế, nhưng ông rất thích thú và say mê đàn Huế. Sinh tại Điện Bàn, Quảng Nam.

Ông sử dụng thành thạo ba cây đàn: tranh, tỳ bà và nguyệt, với những tiếng nhấn

nhá điêu luyện, với cách khéo léo sửa đổi một vài bài tiết tấu. Tiếng đàn của ông

đầy sinh lực và tươi trẻ. Nhờ biết đàn tỳ bà, ông thêm bớt nhiều nét rất duyên

dáng vào bài đàn nguyệt, nghe ông đàn người nghe có cảm tưởng trong tiếng đàn

có tiếng ca. Ông cũng chơi đàn đồng thời với ông Cả Soạn, Đội Trác, Bảy

Thiều…

21

Ông Nguyễn Chánh Tâm (còn gọi là Cửu Tâm) ông gốc người Thừa

Thiên – Huế nhưng cư ngụ Quảng Trị. Ông là học trò của thầy đội Tống Văn

Phước và Trợ quốc khanh Ưng Dũng, giỏi chơi đàn tranh và đàn nguyệt.

Ông Phan Đình Uyển (thường được gọi là cậu Ấm Ba) ông là người Phú

Lương, Thừa Thiên Huế, ông chơi giỏi đàn bầu, thổi tiêu hay có tiếng về sáo và

tiêu. Ông là người giữ được các điệu nhạc cổ chính thông cũng như Ưng Biều,

Nguyễn Khoa Tân, Trần Trịnh Soạn. Chứ không biến đổi nhạc điệu theo thời

thượng của một số người yêu nhạc Huế tân thời.

Ông Nguyễn Khoa Tân (1870 – 1938) Ở làng An Cựu – Huế Ông lãnh

chức Tuần Phủ Hà Tĩnh là danh cầm về đàn tranh và giữ được những điệu nhạc

chính thống đương thời. Ông là con thứ 4 của cụ Nguyễn Khoa Luận, hiệu là

Bình Nam. Chức tước: Hiệp Biên Lãnh Hội Bộ Thượng Thư, sung cơ mật viện

đại thần tăng động các điện Đại học sĩ. Ông thọ được 68 tuổi (mất vào thánh 12

năm 1938).

Ông Hoàng Yến: Ông sinh khoảng vào những năm cuối thế kỷ XIX, ông

là một tiến sĩ Hán học xưa, làm Ngự tiền văn phòng cho vua Bảo Đại.

Ông là người tiên phong trong sự nghiệp nghiên cứu âm nhạc cổ truyền.

Ông không những chơi nhạc cổ, theo ông thì các điệu ngày xưa tấu lên êm dịu,

trang trọng, trong khi âm điệu ngày nay được trình tấu với những uốn éo thô tục,

tầm thường, không thoả đáng, mang tính phóng đãng… Ông lo sợ âm nhạc nước

ta thoái hoá như thời nước Trịnh, Vệ, và tập tục cũng suy đồi theo, nên đã bỏ

công sưu tầm, ngjhiêm cứu và biên tập các tác phẩm âm nhạc, đó cũng là một

đóng góp đáng quý, khẳng định một giai đoạn của môn nghệ thuật này (suy đồi

hay phát triển)

Những tác phẩm của ông như: “Cầm học tầm nguyên” “ Âm nhạc Huế –

đờn nguyệt, đờn tranh”… rất đáng trân trọng cho thế hệ sau hiểu biết về âm nhạc

nước nhà. Ông thường chơi đàn tỳ và thường hoà đàn với ông Hầu Biểu, Cả

22

Soạn. Ông vừa là một danh cầm, vừa là một người hiếm hoi nghiên cứu về đàn ta

và để lại những tác phẩm quý trong thời đại của ông.

2.3. Giai đoạn tái sinh và phục hưng.

Năm 1954 (sau chiến dịch Điện Biên Phủ) Ca Huế lại có cơ hội để phục

hồi.

Ở vùng bị tạm chiếm nhiều nhạc công và ca sĩ yêu nước đã có những cố

gắng để bảo vệ ca Huế, họ tiếp nối truyền thống yêu dân tộc, bảo vệ những di sản

quý báu của cha ông.

Hành động này nhằm chống lại ảnh hưởng lai căng đồ trụy, chống lại âm

mưu thủ đoạn, lợi dụng mua chuộc, tha hóa nhằm biến ca Huế thành một thú tiêu

khiển trụy lạc hay một công cụ chiến tranh tâm lý. Và để minh chứng cho việc

bảo vệ cho ca Huế. Họ gồm có: nhạc sĩ Bửu Lộc lập ban “Hương Bình”, nhạc sĩ

Nguyễn Hữu Ba lập viện “Tỳ Bà” ở Huế và Sài Gòn, các nghệ nhân Tôn Thất

Toàn, Viễn Dung lập “Hội Ái Hữu” cổ nhạc Miền Trung. Tục lệ tế tổ ngành ca

nhạc Huế được duy trì tại từ đường cổ nhạc ở huế từ năm 1971 (trước kia thì vào

ngày 16 tháng 10, do thời tiết giá lạnh nên mấy năm trở lại đây tổ chức vào ngày

16 tháng 3 Âm Lịch).

Ở Miền Bắc, nhiều nghệ nhân trước đây là những diễn viên nhạc công ở

các gánh hát ca Huế. Năm 1945 (sau khi hòa bình lập lại) họ tập kết ra Bắc. Họ

bán tài sản riêng của mình để chiêu mộ lực lượng, thành lập ra đoàn ca kịch Huế .

Vào hoạt động biểu diễn nghệ thuật phục vụ tại tuyến lửa Vĩnh Linh. Với phương

châm: Bảo vệ và phát huy vốn nghệ thuật truyền thống của dân tộc, mà ca Huế là

loại hình nghệ thuật độc đáo, là sản phẩm tinh thần của nhân dân tỉnh Thừa Thiên

Huế. Rất nhiều nghệ sĩ ca Huế đã trưởng thành trong thời kỳ này.

Đến năm 1975, đất nước thống nhất, đoàn đã trở về quê hương trở thành

đoàn ca kịch Bình Trị Thiên, đến năm 1986 chia tỉnh, đoàn có tên gọi là đoàn ca

kịch Huế.

23

Từ năm 1993, các diễn viên chủ yếu đi diễn rời rạc để phục vụ du khách

nghe Ca Huế trên sông. Cũng có nhiều ý kiến cho rằng nghe ca Huế như thế nhộn

nhạo quá, không còn thanh thản, yên tỉnh của tiếng hò sông nước và giai điệu của

những bài ca cũng ít nhiều bị phát đi tiết tấu xưa. Đó là một vấn đề của hoạt động

ca Huế thời hiện đại.

Giai đoạn này, các nhân vật nổi tiếng có thể kể đến như:

– Ưng Quả viết tập nghiên cứu về ca Huế (nhưng thất lạc năm 1947).

– Ưng Bình Thúc Giạ Thị sáng tác các bài ca Huế, đăng trong tập “Bán

buôn mua vui”.

– Vu Hương, Hiều Khê, Thanh Tùng sáng tác các bài ca Huế trong tập cố

đô Huế.

Còn có những người có tài sáng tác ca Huế như cụ Hà Viên, Kính Chỉ, Hỷ

Thần, Lương Khánh, Nhược Thủy, Diên Chi, Hòe Đình, Quật Đình.

– Về danh cầm phải kể: Ông Đội Song, Cậu Tôn Đổng, Cậu Tôn Lục, Ông

Mộng Tiên, Ông Vân Hán, Ông Bửu Huấn, Ông Văn Tạ, Ông Tôn Thất Toàn,

Ông Mông Trân, Ông Bửu Lôc, Ông Nguyễn Hữu Ba, Ông Vĩnh Phan, Ông Trần

Kích, Ông Nguyễn Kế, Ngoài ra, cụ Tôn Thất Toàn còn cho biết thêm một số

danh cầm cùng thời với cụ là: Nguyễn Gia Cầm, Lê Hữu Dậu, Dương Văn Lẫm,

Nguyẽn Văn Tân (đàn Nhị), Bác khai Tôn Thất Thể. Thanh Tùng ( Nguyễn Gia

Tuân), ông Tịch (Tỳ Bà), Tôn Thất Hường (con ông chủ Văn – đàn Trạnh), Hồ

Đăng Thi em ruột ông Hồ Đăng Đại (Đàn nguyệt, đàn Tỳ Bà), Ông Cao Hữu On,

Ông Thăng, Ông Cháu Mù (người Đà Nẵng, đàn Nhị), Ông Mại (chồng cô Bích

Vân), Ông Hai Kỳ (đàn Bầu), Ông Khai Ca, Ông Viễn Dũng (đàn Nguyệt).

Cụ Tôn Thất Toàn còn cho biết thêm danh sách của những người ca Huế

như sau: Cô Thu Tâm (ca xuất sắc), Cô Thu Nhơn (độc quyền về đĩa Béka – tròng

vàng), Cô Thái (độc quyền cho đĩa Pate – tròng đỏ), Trần Thị thu, Cô Điền, Cô

Yến, Cô Thu Nương (ở Vĩ Dạ – là em ruột của Thuyền Nương), cô Quế Trân (vợ

ông Viễn Dung), Cô Vân Phi (ở Bao Vinh), Cô Minh Mẫn (vợ ông Cao Hữu On),

24

Cô Thanh Xuân (vợ ông Tôn Thất Thể), Cô Ba Cúc, Cô Thanh Yên (vợ ông

Huyện Hoan), cô Nghè Miên (chủ yếu bên tuồng), Cô Xuân (vợ của ông nhà báo

Phạm Bá Uyên, bút danh Ấm Bể), cô Diêu Cầm (vợ ông Tư Nghĩa), Cô Diệp (em

cô Châu Loan), Cô Chanh (vợ ông Ký thợ may), Cô Năm (vợ ông Hàn Tôn người

Tàu), cô Lịu (vợ ông Tạ), Cô Thanh Tâm (Vàng em), Cô Thu Đôi (người rất đẹp,

vợ ông Hồ Đăng Thi), cô Trúc Anh (vợ Nguyễn Thanh Sằng – chuẩn trưởng), cô

Tuyết (con ông Đội Thê), Cô Lê (vợ ông Lợi), cô Mai (em cô Lê), Cô Bích Vân

(tức cô Lài).

Một số nghệ sĩ tiêu biểu:

Bửu Bát

Bửu Bát hay còn được gọi là Trợ Bát, là nhạc phụ của nhà soạn nhạc Tôn

Thất Tiết (cháu nội của Phụ chính Đại thần Tôn Thất Hân), ông rất am hiểu về ca

Huế và sáng tác nhiều bài ngũ đối, đặc biệt là Tương tư khúc của ông đã góp

phần làm giàu thêm cho thể loại âm nhạc này.

Ưng Bình Thúc Giạ Thị (1877 – 1961).

Ưng Bình Thúc Giạ Thị sinh ngày 9.3.1877, mất ngày 4.4.1961, là cháu nội

của Tuy Lý Vương, con trai của Hiệp Tá Tiểu Thảo Hường Thiết (tác giả của

Việt Sử Diễn Nghĩa Tứ Tự Ca – lịch sử Việt Nam kể từ thời Hồng Bàng, tập thơ

chữ Hán Liên Nghiệp Hiên Thi Tập, Đại Nam Lịch Đại Long Phi Đồ…Năm

1904, ông đỗ đầu kỳ thi ký lục, năm 1909 đổ cử nhân Hán học, sau đó được bổ

làm tri huyện – tri phủ rồi Bố Chánh Hà Tĩnh (1922), năm 1933, ông về hưu và

được thăng làm Thượng thư, Hiệp tá Đại học sĩ, Viện trưởng Viện Dân biểu

Trung kỳ (1940 – 1945), đồng thời, trong thời kỳ này ông cũng là chủ soái của

Hương Bình thi xã – một hội Tao Đàn tụ hợp của những nhà thơ trẻ đương thời

(Hoàng Phủ Ngọc Tường (2001), Ưng Bình Thúc Giạ Thị, Tạp chí Sông

Hương, số 114: 78 – 81).

25

Cô Thanh Xuân (vợ ông Tôn Thất Thể), Cô Ba Cúc, Cô Thanh Yên (vợ ông

Huyện Hoan), cô Nghè Miên (chủ yếu bên tuồng), Cô Xuân (vợ của ông nhà báo

Phạm Bá Uyên, bút danh Ấm Bể), cô Diêu Cầm (vợ ông Tư Nghĩa), Cô Diệp (em

cô Châu Loan), Cô Chanh (vợ ông Ký thợ may), Cô Năm (vợ ông Hàn Tôn người

Tàu), cô Lịu (vợ ông Tạ), Cô Thanh Tâm (Vàng em), Cô Thu Đôi (người rất đẹp,

vợ ông Hồ Đăng Thi), cô Trúc Anh (vợ Nguyễn Thanh Sằng – chuẩn trưởng), cô

Tuyết (con ông Đội Thê), Cô Lê (vợ ông Lợi), cô Mai (em cô Lê), Cô Bích Vân

(tức cô Lài).

Một số nghệ sĩ tiêu biểu:

Bửu Bát

Bửu Bát hay còn được gọi là Trợ Bát, là nhạc phụ của nhà soạn nhạc Tôn

Thất Tiết (cháu nội của Phụ chính Đại thần Tôn Thất Hân), ông rất am hiểu về ca

Huế và sáng tác nhiều bài ngũ đối, đặc biệt là Tương tư khúc của ông đã góp

phần làm giàu thêm cho thể loại âm nhạc này.

Ưng Bình Thúc Giạ Thị (1877 – 1961).

Ưng Bình Thúc Giạ Thị sinh ngày 9.3.1877, mất ngày 4.4.1961, là cháu nội

của Tuy Lý Vương, con trai của Hiệp Tá Tiểu Thảo Hường Thiết (tác giả của

Việt Sử Diễn Nghĩa Tứ Tự Ca – lịch sử Việt Nam kể từ thời Hồng Bàng, tập thơ

chữ Hán Liên Nghiệp Hiên Thi Tập, Đại Nam Lịch Đại Long Phi Đồ…Năm

1904, ông đỗ đầu kỳ thi ký lục, năm 1909 đổ cử nhân Hán học, sau đó được bổ

làm tri huyện – tri phủ rồi Bố Chánh Hà Tĩnh (1922), năm 1933, ông về hưu và

được thăng làm Thượng thư, Hiệp tá Đại học sĩ, Viện trưởng Viện Dân biểu

Trung kỳ (1940 – 1945), đồng thời, trong thời kỳ này ông cũng là chủ soái của

Hương Bình thi xã – một hội Tao Đàn tụ hợp của những nhà thơ trẻ đương thời

(Hoàng Phủ Ngọc Tường (2001), Ưng Bình Thúc Giạ Thị, Tạp chí Sông

Hương, số 114: 78 – 81).

25

Ưng Bình Thúc Giạ Thị đã xuất bản nhiều tập thơ Tình Thúc Giạ (1942),

Đời Thúc Giạ (1961), Bán buồn mua vui (1954), Tiếng hát sông Hương

(1972), đặc biệt là vở tuồng Lộ Địch (cốt truyện dựa theo tác phẩm Le Cid của

nhà văn Pháp P. Corneill)… Cụ Thúc Giạ cũng là tác giả của rất nhiều điệu hò,

bài ca Huế đã đi vào dân gian:

“Chiều chiều trước bến Văn Lâu

Ai ngồi ai câu, ai sầu, ai thảm?

Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông

Thuyền ai thấp thoáng bên sông

Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non”

Hay:

“Một vũng nước trong, mười dòng nước đục

Một trăm người tục, một chúc người thanh

Biết đâu gan ruột gởi mình

Mua tơ thêu lấy tượng Bình Nguyên Quân…”

Một nhà giáo nổi tiếng đương thời – Phan Thế Roanh đã viết về cụ: “Cụ Ưng

Bình đã làm cho phong trào thi ca Huế ngày càng thêm thịnh”; hay như Mộng

Tuyết Thất Tiểu Muội đã nhắc đến Ưng Bình như là “cái phong vận tài hoa của

đất cố đô văn vật”.

Cùng với những gương mặt có thể xem là kiệt xuất như trên, trong hoàng tộc

Nguyễn cũng có không ít các vị hoàng tử, công chúa giỏi về một vài thể loại nhạc

26

cụ như Hoàng Tử Mỹ Hòa giỏi thổi tiêu; Hoàng Tử Tuy An giỏi chơi Tỳ bà;

Công tử Tịnh Kỳ con của Định Viễn Quận Công, vị Thông phán Tôn Thất Toại

thành thạo Tỳ bà và đàn tranh; Quan thị Tôn Thất Linh, Hậu Chí giỏi bài Cổ Bốn

và tài nghệ của họ được truyền tụng trong dân gian với câu: “Đờn thì Hậu Chí,

Hát thì Hiệu Giồ”…

Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba (1914 – 1997).

Sinh năm 1914 tại làng Đạo Đầu, xã Triệu Trung, huyện Triệu Phong tỉnh

Quảng Trị, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba xuất thân trong một gia đình nhà nông lam

lũ. Năm 6 tuổi, ông được truyền dạy những ngón nghề của độc huyền cầm và chỉ

3 năm sau, ông đã thành thạo tiếng đàn, câu hát cùng với các ban nhạc lưu diễn

nhiều nơi.

Sự nghiệp của nhạc sĩ bắt đầu từ rất sớm, năm lên 9, ông đã là thầy dạy của

nhiều học trò ở Quảng Trị, năm 11 tuổi ông cùng chị là Nguyễn Thị Dung (tức

danh ca Ngọc Lan) vào Huế biểu diễn và được sự ủng hộ của đông đảo công

chúng. Tại kinh đô Huế, ông đã được học đàn với nhiều tên tuổi lớn như: Cả

Soạn, Ưng Biền… Năm 16 tuổi (1930), ông cùng một số danh cầm, danh ca ở

Huế như cậu Tôn Út, cô Dung Ngọc Lan, cô Nhơn…được lựa chọn để thu thanh

cho hãng đĩa Béka (Đức), đây là đĩa hát sớm nhất về điệu đàn, giọng ca Việt Nam

được thu và phổ biến ở Tây Âu trong nửa đầu thế kỷ XX.

Năm 1932, trước sự xâm nhập của những trào lưu âm nhạc phương Tây, ông

nghĩ đến vấn đề cải biên âm nhạc dân tộc để phổ cập với quảng đại quần chúng.

Sau một thời gian nghiên cứu, so sánh, ông là người đầu tiên dùng ký âm pháp

Tây Phương để thay thế cách ghi nhạc cổ truyền căn cứ trên thang âm ngũ cung.

Trong thời gian này, một số tác phẩm của ông được xuất bản: Phương pháp và

bài bản các nhạc cụ Việt Nam, Sưu tầm nghiên cứu tư liệu, thư tịch âm nhạc Việt

Nam, Nhạc pháp quốc nhạc Việt Nam và Dân ca Việt Nam. Đồng thời ông cũng

27

cải tiến chất lượng, hình thức nhạc cụ theo nguyên tắc của mình với các loại đàn

như: đàn bầu, đàn nhị, nguyệt, tranh…

Với nghệ thuật biểu diễn cây đàn nhị điêu luyện, năm 1937, ông đã đạt giải

thưởng ưu hạng tại hội chợ Huế. Năm 1940, ông xuất bản cuốn tự học đàn nguyệt

và sáng tác bài hát quãng đường mai. Về sau còn có thêm Vài thiển kiến về âm

nhạc Việt Nam (1950), bài đàn tranh (1951), bài ca Huế (1956), giới thiệu sơ

lược về âm nhạc Việt Nam (1956), nhạc Pháp quốc, nhạc Việt Nam (1961), bài

đàn nguyệt, bài đàn tỳ bà, bài đàn độc huyền, bài đàn nhị huyền (1962), ca nhạc

miền Trung (1962), dân ca Việt Nam (1970).

Năm 1940 – 1941, ông được tặng huân chương của Hàn Lâm viện và Đại

Nam Long Bội Tinh. 4 năm sau, ông tham gia cách mạng và công tác tại Đoàn

Văn hóa Xây dựng thuộc Thành Ủy Huế. Trong thời gian tham gia kháng chiến,

ông sáng tác nhiều bản anh hùng ca: Thanh niên đồng tiến, Ánh dương trời Nam;

Tiếng hát quân Nam. Năm 1946, ông thành lập Quán Nghệ sĩ tại Huế.

Năm 1948, ông làm uỷ viên UNESCO, đến năm 1949, ông xây dựng Tỳ Bà

Trang (sau đổi Tỳ Bà Viện). Ở đây, ông đã sưu tập nhiều nhạc cụ dân tộc truyền

thống rất có giá trị như đàn tranh của ông hoàng Nam Sách, cây tỳ bà của Tương

An Quận Vương, cây đàn nguyệt của cụ Cả Soạn…cùng với nhiều bản ca, nhạc

Huế viết bằng chữ Hán, Nôm đầu thế kỷ như Nguyệt cầm phố của Tùng Thiện

Vương.

Năm 1953, ông làm Giám học trường Quốc gia Âm nhạc Kịch nghệ Sài

Gòn, ông đã cải tiến và đưa âm thanh điện tử vào nhạc cụ Việt Nam (1957). Năm

1960, ông sang Pháp làm đại diện cho mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam

Việt Nam và đảm nhận nhiệm vụ vận động trí thức Việt Kiều.

28

Năm 1964, được sự giúp đỡ của giáo sư Trần Văn Khê, ông thực hiện đĩa

hát Việt Nam I và Việt Nam II. Từ năm 1968 – 1972, ông làm Giám đốc trường

Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Huế. Năm 1970 ông cùng đoàn Văn Nghệ cổ

truyền Việt Nam tham dự hội chợ OSAKA Nhật Bản và đã được tặng Bội tinh

Văn hóa.

Sau năm 1975, ông công tác tại Viện Âm nhạc Tp. Hồ Chí Minh. Năm 1976,

làm phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc và phó Chủ tịch Hội Âm nhạc Thành phố Hồ

Chí Minh. Năm 1984, ông được Nhà nước trao tặng danh hiệu nghệ sĩ ưu tú

ngành ca Huế.

Nhạc sĩ Bửu Lộc (1911 – 1986).

Nhạc sĩ Bửu Lộc người làng An Cựu, ông bắt đầu học đàn từ năm 15 tuổi,

sử dụng thành thạo cả tứ cầm cổ truyền: tranh, tỳ, nhị, nguyệt. Nhưng với cây đàn

tranh, ông đã đem đến cho người mộ điệu sự rung cảm trọn vẹn, đặc biệt là trong

hoà âm, phối khí với những danh cầm khác trong ban nhạc Hương Bình.

Bửu Lộc không chỉ nổi tiếng về danh cầm mà ông còn là một nhạc sĩ trứ

danh, các ca khúc bất hủ của ông vẫn còn trên sàn diễn như Ai phong lưu người

điêu (sáng tác theo điệu cổ bản) và tiếng Hương bình (điệu tứ đại cảnh). Từ

những năm 1957 – 1963, ông được mời giảng dạy và là giám khảo trong các kỳ

thi tốt nghiệp môn đàn tranh, nguyệt tại trường Quốc gia Âm nhạc Thành phố Hồ

Chí Minh, đồng thời là trưởng ban ca Huế Hương Bình. Năm 1946, ông đoạt giải

nhất đàn tranh ở cuộc thi nhạc cụ dân tộc tại Hà Nội.

Nhạc sĩ Vĩnh Phan

Sinh năm 1917 tại Huế, nhạc sĩ Vĩnh Phan là cha của Bảo Chấn, Bảo Phúc.

So với các nhạc sĩ khác cùng thời, ông đến với ca nhạc Huế khá muộn (năm 25

29

tuổi) nhưng ông lại sử dụng được nhiều loại nhạc cụ, đặc biệt sở trường là đàn

tranh và đàn tỳ bà.

Ông vừa là giảng viên trường Quốc gia Âm nhạc, vừa là thành viên của ban

nhạc Hương Bình.

Danh cầm Tôn Thất Thể

Con của cụ Tôn Đổng, cũng là một danh cầm, nhưng ngoài tứ cầm cổ truyền

như tranh, tỳ, nhị, nguyệt, ông còn chơi thạo cả đàn Violon.

Nghệ nhân Cao Hữu On

Cao Hữu On là người có biệt tài về ca nhạc Huế, ban đầu ông chơi đàn nhị,

về sau nhờ khổ công luyện tập ông chơi được tất cả các loại đàn dùng trong ca

nhạc Huế: tranh, bầu, nguyệt, tỳ bà và cả đàn hồ (đàn hồ còn được gọi là hồ cầm,

nay đã bị thất truyền, nhưng theo hồi ức của một số nghệ nhân thì loại đàn này rất

khó sử dụng).

Nghệ nhân Cao Hữu On không chỉ giỏi chơi đàn mà còn là người giỏi đánh

trống chiến cho Ban nhạc cung đình Huế. Ông chủ trì bộ môn nhạc lễ tại trường

Quốc gia Âm nhạc, và ông cùng với vợ là danh ca Minh Mẫn đã chiếm một vị trí

không nhỏ trong lòng người yêu ca Huế hiện nay.

Nghệ nhân Nguyễn Khai

Ông là người làng Mậu Tài, chơi giỏi đàn tỳ bà và đàn nguyệt, nhưng điểm

đặc biệt dễ nhận thấy ở nghệ nhân này là chơi đàn bằng tay trái, và ông thường

vừa ca vừa đàn.

Ông là người đầu tiên đưa bộ chén vào làm nhạc cụ đệm cho dàn ca Huế.

30

Tôn Thất Viễn Dung

Ông là người làng An Truyền – huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế, ông

thường chơi đàn nguyệt. Cùng với nhóm bạn tri âm của mình Tôn Thất Toàn,

Trần Kích Giám Cơ, Nguyễn Ngọc Cọng…, ông là một trong tám người đầu tiên

đứng ra thành lập Hội Ái Hữu cổ nhạc Trung phần (năm 1962)

Thanh Tùng (Nguyễn Gia Tuân)

Thanh Tùng Nguyễn Gia Tuân sinh năm 1914 ở Huế, ông vừa là học trò

trường Quốc tử giám, lúc trưởng thành làm trưởng ty thuế vụ Thừa Thiên Huế.

Thanh Tùng rất đam mê ca nhạc Huế, sử dụng thành thạo đàn nguyệt, đàn tranh.

Ngoài tác phẩm Cố đô Huế ca và hò viết chung với Vu Hương, Kiều Khê, ông

còn đặt lời chơ hơn 60 bản ca Huế.

Lê Thị Mùi (cô Nhơn)

Lê Thị Mùi được gọi là cô Nhơn, sinh năm 1907 tại Nại Cửu Phường (Triệu

Phong, tỉnh Quảng Trị), là người có chất giọng thiên phú, đặc biệt là khi thể hiện

các bài bản Nam ai, Nam bình…

Bà đoạt giải nhất cuộc thi ca Huế tại hội chợ Huế năm 1937, được bình chọn

là ca sĩ tiêu biểu trong giai đoạn (1925 – 1945). Cô Nhơn là người duy nhất được

chọn ghi âm cho hãng đĩa Béka cùng với tiếng đàn của cậu Tôn Út và Nguyễn

Hữu Ba.

Cô Thông Thắng

Cô Thông Thắng là ca sĩ tài danh xứ Huế, người làng Dưỡng Mong và được

gọi theo tên chồng. Cô hát thành công trong những bài bản lớn như Tứ đại cảnh,

Nam ai, Nam xuân, Cổ bản, Phú lục…

31

Cô Tuyết Hương

Danh ca Tuyết Hương cùng thời với Thông Thắng, là người sáng lập viên

của ban nhạc Hương Bình – nơi hội tụ của những danh ca, danh cầm gốc Huế tại

Sài Gòn gồm: nhạc sĩ Bửu Lộc, Gia Cẩm, Bích Liễu, Vĩnh Phan, Thu Tâm, Trịnh

Chất, Ngũ Đại…. Ngoài giọng ca trác tuyệt, cô còn là một nghệ sĩ đàn tài hoa và

là gương mặt không thể thiếu trong những buổi sinh hoạt ca Huế trong gia đình

cụ Ưng Bình Thúc Giạ.

Nghệ sĩ Nguyễn Thị Châu Loan

Sinh năm 1926 tại thôn Phước Mỹ, xã Vĩnh Giang huyện Vĩnh Linh tỉnh

Quảng Trị, ca sĩ Châu Loan xuất thân trong một gia đình có truyền thống đàn ca.

Cha cô là một danh cầm, thông thạo cả tứ cầm: tranh, tỳ, nhị, nguyệt nên Châu

Loan được cha truyền dạy từ rất sớm, về sau, khi gia đình chuyển vào sống ở

Huế, cô có cơ hội được thụ giáo với nhiều nghệ sĩ nổi danh như cậu Nghè Toản,

Ngũ Đại (con của vua Thành Thái – một bậc thầy về đàn nguyệt và ca Huế) và

được mời biểu diễn ở nhiều thế gia.

Năm 1954 – 1963, Châu Loan là giọng ca trụ cột cho chương trình ca Huế

của đài tiếng nói Việt Nam, tháng 10/1955 cô tham gia Đại hội Thanh niên sinh

viên tại Ba Lan và thường biểu diễn ở nhiều nơi. Năm 1962, là thành viên Ban

chấp hành Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội.

Nghệ sĩ Hồng Lê

Cùng thời với Châu Loan, nghệ sĩ Hồng Lê quê ở An Cựu. Lúc 8 tuổi, Hồng

Lê bắt đầu sự nghiệp của mình bằng cách giúp việc cho bà chủ gánh hát Kim

Sanh (gánh hát chuyên sử dụng các làn điệu ca Huế để xây dựng những vở ca

kịch dựa trên các tích cổ Trung Quốc và Huế xưa), không lâu sau, bằng tài năng

32

của mình, cô sớm thu hút sự chú ý và được quan tâm bồi dưỡng bằng những vai

diễn trong các vở: Thói đời đen bạc, Tống Nhân Tông khóc biệt Bàng Phi, Điêu

Thuyền vọng nguyệt…

Năm 1956, cùng với Châu Loan, cô công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam.

Gần 30 năm công tác trong Đội ca Huế, Đài tiếng nói Việt Nam, Hồng Lê là

gương mặt điển hình cho việc sưu tầm và bảo tồn vốn cổ, bà đã có những ý kiến

quý giá trong việc chỉnh lý, hoàn thiện một số bài ca Huế, điệu lý, hò, vè quê

hương.

Bên cạnh những gương mặt trên, chúng ta còn được biết đến những nghệ

nhân tên tuổi khác như: Đội Song, Tôn Lục, Mộng Tiên, Vân Hán, Bửu Huấn,

Vĩnh Trân, Lê Hữu Dậu, Dương Văn Lẫm, Nguyễn Hữu Vũ – anh của giáo sư

Nguyễn Hữu Ba, chơi đàn nguyệt, nhị; ông Tịnh – đàn tỳ; Tôn Thất Hường – đàn

tranh; Hồ Đăng Thi – đàn tỳ, nguyệt; ông Mại, Hai Kỳ, Nguyễn Hữu Xướng – độc

huyền. Cùng những danh ca như Thu Tâm, Thu Nhơn, cô Thái, Trần Thị Thu, cô

Điền, cô Yến, Thu Nương, Quế Trân, Bích Liễu, Thanh Xuân, Ba Cúc, Diệu

Cầm, cô Diệp, cô Chanh, cô Năm, cô Lịu, Diệu Liên, Mộng Thu, Băng Tâm, Thu

Đôi, Trúc Anh, Bích Vân, cô Tuyết, cô Lê, cô Minh, cô Sâm, cô Quyến, cô

Dung, Bạch Yến, Ngọc Yến…

Ngoài những khuôn mặt thành danh trước và sau năm 1975, trong lĩnh vực

ca nhạc Huế, còn có một số khuôn mặt nghệ nhân lão thành tiêu biểu:

Nghệ nhân Tôn Thất Toàn

Ông Toàn sinh năm 1915, là một trong những sáng lập viên của Hội Ái Hữu

Cổ nhạc miền Trung vào năm 1962. Ban đầu Hội gồm 8 thành viên, ngoài Tôn

Thất Toàn có Viễn Dung, Trần Kích, Giám Cơ, Trần Tấn, Nguyễn Ngọc Cọng,

Đội Hòa, Trần Kết.

33

Năm 62 tuổi, Tôn Thất Toàn là một trong số nghệ nhân ít ỏi được lựa chọn

tham dự Nhạc hội ca nhạc Huế lần I tổ chức tại Thành phố Huế và được cố nhạc

sĩ Lưu Hữu Phước ghi bằng chứng nhận là một trong những người có công trong

việc bảo vệ truyền thống cổ nhạc ở Huế.

Ngoài tài năng trong lĩnh vực đàn tranh, Tôn Thất Toàn còn giỏi cả đàn

nguyệt và tỳ bà. Ông đã từng cùng Hội Ái Hữu cổ nhạc duy trì và cổ suý cho

ngành ca nhạc Huế, thu hút được nhiều thành viên khác tham gia.

Danh cầm Nguyễn Kế

Nguyễn Kế sinh năm 1918 và so với những nghệ nhân khác cùng thế hệ, ông

đến với loại hình ca nhạc Huế khá muộn, nhưng trong quá trình tập luyện của

mình, ông là tấm gương cho việc hiếu học của những nghệ sĩ đàn ca Huế cao

tuổi. Cả cuộc đời, ông dồn hết cho tiếng tơ của mình với các loại: tỳ bà, đàn bầu,

đàn nguyệt…

Khác với ngón đàn của nghệ sĩ Trần Kích đằm thắm và nhu hoà, tiếng tơ của

người nghệ sĩ này trải ra trên phím đàn một sức sống nội tâm mãnh liệt. Tiếng

đàn của ông tuy dứt, nhưng âm hưởng của nó như vẫn còn vang vọng mãi trong

lòng bạn tri âm.

Ông tham gia vào câu lạc bộ ca Huế, giảng dạy nhiều thế hệ ở trường Đại

học Nghệ thuật, trường Văn hóa Nghệ thuật. Ông cũng đã từng biểu diễn ở Pháp

cùng với ban nhạc cung đình.

Nghệ sĩ Trần Kích

Sinh năm 1921 tại làng Thành Trung, xã Quảng Điền, huyện Quảng Điền,

tỉnh Thừa Thiên Huế, cùng thế hệ với danh cầm Nguyễn Kế, Mạnh Cẩm…

34

Nghệ sĩ Trần Kích thuộc thế hệ đầu tiên giảng dạy thực hành các loại nhạc:

đàn nhị, nguyệt và bầu. Ông chủ yếu truyền dạy những tấu khúc căn bản của cổ

nhạc: các bài đại nhạc, Tam luân cửu chuyển, Phú lục, kèn chiến, Tẩu mã, Nam

xuân, Hồ Quảng, Quả phụ…, các bài tiểu nhạc, 10 bản tấu khúc và các bài bản ca

Huế.

Ông đã đào tạo một số học trò thành đạt trong lĩnh vực ca nhạc như nghệ sĩ

ưu tú La Cẩm Vân, Lệ Hoa, Nguyễn Quý Cát…Ông dược phong tặng Nghệ nhân

dân gian Việt Nam năm 2003 và Nghệ sĩ Ưu tú năm 2007, được Bộ Văn hóa và

Truyền thông Pháp phong tặng tước hiệu Hiệp sĩ Văn hóa và Nghệ thuật năm

2008.

Nghệ sĩ Mạnh Cẩm

Ông sinh năm 1918 trong một gia đình có truyền thống cổ nhạc và tuồng.

Các anh chị của ông như Cửu Dưỡng – học viên lớp đồng ấu ở Thanh Bình Thự,

Bạch Trúc cũng là một nghệ sĩ tuồng nổi danh. Mạnh Cẩm thuở thiếu thời đã

thuộc nhiều làn điệu ca Huế cổ truyền và có tài năng với nhạc cụ trống. Năm 13

tuổi, ông đã là thành viên của Ban nhạc Cung đình.

Nghệ nhân Vân Phi

Vân phi sinh năm 1933 là người quê ở làng Đông Xuyên, huyện Quảng

Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ thiếu thời, Vân Phi đã hâm mộ ca Hếu, cùng với

chất giọng thiên phú, Vân Phi sớm nổi tiếng với làn điệu Tứ đại cảnh và một số

giai điệu ca Huế khác.

Năm 1962, Vân Phi là giảng viên của trường Quốc gia Âm nhạc, cộng tác

viên của Đài Phát Thanh Huế trong các chương trình Nhạc cổ dân tộc và đã đạt

35

huy chương vàng trong các Liên hoan Nghệ thuật Khu vực hay toàn quốc trong

các năm 1979, 1993…

Nghệ nhân Minh Mẫn (sinh năm 1934), là vợ nghệ nhân Cao Hữu On, cô

có tám người con (đã mất ba người). Từ năm 15 tuổi cô phải vừa đi học vừa buôn

bán (hàng xén) cô rất mê hát nên đã được những nghệ nhân có tiếng chỉ dạy cho

hát ở nhà như ông Cửu Song, Cô Nhơn, Ông Thông Đinh, tới năm 17 tuổi cô ca

rất giỏi, tuy nhiên gia đình không cho cô đi hát vì quan niệm “xướng ca vô loại”.

Cô sinh ra ở Chánh Lộc, Phong Điền, Thừa thiên Huế. Tuy nhiên, khi lớn lên vào

năm 1932 cô gặp thầy Cao Hữu On, từ đó cô có cơ hội để trau dồi tài năng và

tham gia nhiều gánh hát thời bấy giờ như: Thanh Hương (Bảo Đại làm chủ) và

cuối cùng là gánh Kim Thịnh (do một người quê ở An Lỗ làm chủ).

Cô sinh hoạt ở gánh hát Hương Thanh khoảng 2 năm, gánh hát chỉ lưu diễn

tại Huế. Những bài bản cổ được cô Minh Mẫn thể hiện rất điêu luyện, tuy đã lớn

tuổi, dáng người thì nhỏ nhắn. Những giọng ca của cô lại rất khỏe, vừa cao vừa

thánh thót, nghe cô ca tưởng chừng cô chỉ đang ở tuổi 50 mà thôi. Cô đã làm ở

Đàì phát thanh sau khi thành lập được 6 tháng. Trước giải phóng cô đã dạy ca

Huế (từ 1970 – 1974) và người học trò xuất sắc của cô bây giờ là trưởng đoàn

múa hát cung đình huế, nghệ sĩ ưu tú La Cẩm Vân.

Theo suốt con đường mà ca Huế trong giai đoạn của những thập niên 40,

50 và 60 của thế kỷ XX, cô Minh Mẫn đã được tận mắt chứng kiến những chìm

nổi của thời cuộc và ca Huế không thoát được khung cảnh ấy. Với những kiến

thức già dặn về nghề nghiệp, thấu đáo về làn điệu, nghệ nhân Minh Mẫn rất xứng

đáng là một danh ca hàng đầu xứ Huế.

Nghệ nhân Thanh Hương (sinh năm 1938), là người ở làng Thanh

Phước, Quãng Điền, Thừa Thiên Huế, cũng từng là một danh ca của đất cố đô, cô

Thanh Hương có làm ở Đàì phát thanh Huế, sau đó dạy ở trường âm nhạc thường

biểu diển, sinh hoạt các buổi ca Huế.

Nghệ nhân Diệu Liên

36

Sau ngày đất nước thống nhất, cùng với các nghệ sĩ, nghệ nhân đàn anh ,

đàn chị như Minh Mẫn, Vân Phi, Quế Trân, Thanh Hương… Diệu Liên là lớp

nghệ nhân thế hệ thứ hai. Bà tham gia sinh hoạt CLB Ca Huế ( Nhà văn hóa

Huế) từ năm 1983. Vào thời gian đó, ở địa chỉ 47 Trần Hưng Đạo, vào tối thứ 4

và thứ 7 hàng tuần , trong chương trình biểu diễn phục vụ quần chúng nhân dân

thành phố Huế, nghệ nhân Diệu Liên là một trong những giọng ca được khán giả

yêu mến. Nghệ nhân Diệu Liên có thể ca những bài bản lớn như Nam Ai, Nam

Bằng, đặc biệt là làn điệu Nam Xuân. Nghệ nhân Diệu Liên là 1 trong 16 nghệ

nhân được UBND Tỉnh tặng bằng khen về thành tích đóng góp và duy trì loại

hình âm nhạc truyền thống Huế trong 15 năm từ 1980-1995. Bà đã đoạt Huy

chương vàng trong Hội diễn Nghệ thuật quần chúng tại Bắc Giang năm 1976,

Huy chương Bạc Hội thi Dân ca và Ca Huế khu vực miền Trung. Bây giờ đã

bước sang tuổi 61 bà vẫn giữ một giọng ca khỏe khoắn và ấm áp.

Nghệ nhân Thanh Tâm

Thanh Tâm xuất thân trong một gia đình hoạt động nghệ thuật. Cha là ông

Phan Hữu Lễ, một nghệ nhân tuồng, phục vụ trong ban nhạc cung đình. Người

anh của Thanh Tâm cũng là một giọng hát tuồng, từng được bà Từ Cung khen

thưởng. Hơn 10 tuổi, cô bé Thanh Tâm được cha dạy hát tuồng, được học nhạc ở

ban nhạc cung đình và sau này trở thành diễn viên của đoàn Ba Vũ. Thanh Tâm

từng sắm các vai trong các tích tuồng xưa như: Phụng Nghi Đình, Tống Địch

Thanh, Điêu Thuyền, vai đào điên…. Nhưng ca Huế mới là sở đắc của Thanh

Tâm. Năm 14 tuổi, Thanh Tâm đã hát ca Huế trên làn sóng của Đài Phát thanh

Huế, và sau đó là Đài Truyền hình Huế.

Thanh Tâm bồi hồi nhớ lại: “Tôi học ca Huế với thầy Khai, thầy ở trong

ban nhạc cung đình. Thầy dạy ca rất nhiệt tình, ai cũng kính phục thầy. Chúng tôi

được học một ngôi nhà phía sau cung Diên Thọ ở Đại Nội Huế. Tôi học đàn

nguyệt và đàn Tỳ. Tình cảm thầy trò thật cao quý”.

37

Nhưng rồi nghệ thuật cổ truyền của dân tộc, trong đó có ca Huế bị tàn phai.

Năm 1970, Thanh Tâm chuyển sang hát tân nhạc. Sau giải phóng 1975, vốn cổ

dân tộc được bảo tồn và phát huy, giọng ca da diết của Thanh Tâm lại cất lên ở

các hội diễn, câu lạc bộ, đoàn nghệ thuật, trong các buổi sa-lông tri âm, tri kỷ.

Các nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc như Lưu Hữu Phước, Nguyễn Hữu Ba,

Hoàng Châu Ký, Huy Hồng… đều đánh giá cao tài năng nhiều mặt, nhất là giọng

ca của Thanh Tâm…

http://www.cahue.vn/vi/news/code/chuyen-de-01

FILE ĐÍNH KÈM:

CA HUẾ : phóng sự và những nghệ sĩ tiêu biểu của Ca Huế


Ca Huế (Ca nhạc Huế) Lúc đầu chỉ là thể loại ca nhạc thính phòng, hình thành đầu thế kỷ XIX dưới triều các vua Nguyễn, phục vụ trong cung đình. Đời vua Tự Đức (1848 – 1883) ca nhạc Huế phát triển đến đỉnh cao, được truyền bá rộng trong dân gian, được nhân dân bổ sung những điệu Hò, điệu Lý… Ca nhạc Huế từ đó được sân khấu hoá như các loại hình sân khấu khác.
Thưởng thức ca nhạc Huế, người nghe cảm nhận được sự đan xen nhuần nhuyễn giữa dòng ca nhạc cung đình và dân ca miền Trung.

Theo nguồn sử liệu khác,thì tên gọi  ca Huế xuất hiện từ  năm 1687, khi chúa  Nguyễn Phúc Tần chọn vùng Thừa Thiên làm kinh đô Huế. Nghệ thuật trong ca Huế vừa nhẹ nhàng vừa trau chuốt lại pha một chút phong lưu đài các. Khởi thủy, ca Huế vốn dựa trên một số bài tế nhạc trong cung đình và một số sáng tác mới của các ông hoàng bà chúa, được thể hiện ở hệ nhạc khí dùng để đệm và diễn tấu, gồm có song tấu (đàn nguyệt-đàn tranh) và tam tấu (đàn nguyệt-đàn tranh và đàn tỳ bà) hay ngũ tuyệt (đàn nguyệt, đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn tam thập lục và đàn bầu). Đại bộ phận nhạc khí dùng trong ca nhạc Huế là nhạc cụ dây, mà nổi hơn hết là đàn tranh. “Ca Huế luôn luôn phải có ca. Người biểu diễn vừa ngồi ca vừa gõ hai miếng gỗ (gọi là cái sanh) vào nhau. Bài bản trong ca Huế được chia theo hai hệ thống thang âm điệu thức; một là điệu Bắc (dạo khách) dùng cho những bản vui tươi, có khi trang nghiêm và một loại là điệu Nam có âm điệu buồn man mác. Nhưng khác với các loại ca nhạc miền Bắc mà phần lớn bắt đầu từ ca khúc không có nhạc khí đệm, ở ca Huế hai yếu tố thanh nhạc và khí nhạc phát triển đồng đều” (GS Trần Văn Khê).

Phóng sự nghệ thuật Ca Huế

×

Các Nghệ nhân, nghệ sĩ tiêu biểu

Nguyễn Hữu Ba
Nguyễn Kế
Trần Kích
Vân Phi
Minh Mẫn
Thanh Hương
Thanh Tâm
Khánh Vân
Châu Dinh
 Hành vân Video
 Nam xuân
 Phú lục
 Phú lục 2
 Cổ bản 1
 Cổ bản 2
 Hòa tấu Long ngâm
 Phẩm tuyết
 Tứ đại cảnh
 Tứ đại cảnh 2 Tiếng Hương bình
 Hòa tấu Tứ đại cảnh
CÁC VIDEOCLIP MỚI NHẤT
Thập thủ Liên hoàn: Phẩm Tuyết, Nguyên Tiêu, Hồ Quảng, Liên Hoàn Bình Bán, Tây Mai, Kim Tiền – Xuân Phong- Long Hổ -Tẩu Mã – Kim Vàng- NSUT Khánh Vân – Hồng Tuyết
Cổ Bản – Thanh Tâm
Lưu Thủy – Kim Vàng
Lộng Điệp – Kim Vàng
Phẩm Tuyết – Hiền Lương
Nguyên Tiêu – Thu Hiền
Kim Tiền – Hiền Lương
Nam Ai – Thanh Tâm (không gian diễn xướng 1)
Nam Ai – Diệu Liên (không gian diễn xướng 2)

Nam Bình – Thanh Tâm(không gian diễn xướng 1)

Nam Bình – Diệu Liên (không gian diễn xướng 2)
Quả Phụ – Kim Liên
Hòa Tấu dàn nhạc Long Ngâm
Nam Xuân – Diệu Liên
Tứ Đai Cảnh-Hồng Tuyết (không gian diễn xướng 1)
Tứ Đai Cảnh – Diệu Liên (không gian diễn xướng 2)
Tứ Đai Cảnh – Thanh Tâm(không gian diễn xướng 3)
Phú Lục – Thu Hiền
Tương Tư Khúc – NSƯT. Kiều Oanh(không gian diễn xướng 1)
Tương Tư Khúc – Ý Linh (không gian diễn xướng 2)
Hành Vân- Thanh Hương
Hành Vân – Ý Linh
Long Ngâm – NSƯT. Khánh Vân
Cổ Bản (dựng) – Kim Liên(Không gian diễn xướng 1)
Cổ Bản (dựng) – Ý Linh (không gian diễn xướng 2)
Cổ Bản (dựng) – Kim Liên(Không gian diễn xướng 3)
Hò Mái Nhì Qua Nam Ai Nam Bình – Thanh Tâm
Hò Mái Nhì Qua Tứ Đại Cảnh – NSƯT. Thu Hằng
Vọng Phu – Kim Vàng
Bốn Cửa Quyền – NSƯT. Khánh Vân
Tử Vi – NSƯT. Kiều Oanh
 Mái nhì qua Nam ai

Audio

 Mái nhì xuống Nam Bình
 Mái nhì qua Nam Bình 2
 Hoài xuân qua Hành vân
 Nam Ai
 Nam Bình
 Tứ đại cảnh
 Lưu thủy
 Cổ bản
 Phú lục
 Phẩm tiết
 Tương tư khúc
 Nam xuân
 Ngũ đối thượng
 Long ngâm
 Quả Phụ
 Hòa tấu thính phòng
CA TRÙ
HÁT XẨM
Cổ truyền dân gian
Cổ truyền chuyên nghiệp
Các loại dàn nhạc cổ truyền Việt Nam
Các loại nhạc cụ dân tộc
Dân ca dân nhạc các dân tộc miền núi phía Bắc
Dân ca dân nhạc các dân tộc khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên
Tham khảo thêm website Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca Huế tại www.cahue.vnhttp://nhaccotruyen.vn/main/CotruyenChuyennghiep/Cahue/Cahue.htm

THÁI HÙNG : Tìm hiểu thêm vài nét bộ môn ca nhạc Huế


Tìm hiểu thêm vài nét bộ môn ca nhạc Huế

Xứ Thuận Hoá, trong lịch sử là mảnh đất không rộng,người không đông, nhưng lại có phóng cảnh quyến rũ, trữ tình, với đầy đủ sông, núi, biển, rừng. Đặc biệt là dòng sông Hương, như mái tóc thề nhẹ nhàng, uyển chuyển của người con gái Huế nắm vắt ngang kinh thành và đã trở thành địa danh tuợng trưng cho vùng Thuận Hoá – Phú Xuân.×Ads By minibar

Bên cạnh cảnh đẹp ấy, giọng nói của con người Huế vừa như giọng ca êm dịu mà nghe ta có cảm giác chia sẻ với sự bay tỏ tâm tình của trái tim hoan lạc (Đào Trọng Từ) Thiên nhiên, đất nước, con người đã ảnh hưỏng đến tâm lý của dân Huế, một điều kiện khách quan mà khi nghiên cứu lịch sử ca Huế ta không thể không nói đến.Tất cả các bài bản ca Huế đã ra đời trong một thời kỳ lịch sử đầy biến động.

Tìm hiểu thêm vài nét bộ môn ca nhạc HuếAds By minibarDòng Hương trở thành địa danh tuợng trưng cho vùng Thuận Hoá – Phú Xuân. Nguồn: Flickr.com

Những biến chuyển của lịch sử đã tạo nên một luồng di dân về miền Nam từ thế kỷ 11 cho dến các chúa Nguyễn thế kỷ thứu 16.Điều đó đã ảnh hưởng đén tâm lý của những người ly hương cũng như những người thích phiêu lưu và những người nông dân.Vì vậy nền Văn học nghệ thuật thời kỳ này đã phản ảnh một phần của lịch sử.Tầng lớp nhân dân bị cướp đất, bị buộc tham gia vào những cuộc chiến bất tận, các tâm trạng chung là nối sầu nhớ nhà, nhớ quê hương của những chiến sĩ và nỗi cô đơn đau khổ vì chia ly, trông đợi của phụ nữ…Mặt khác,sự giao thoa của các nến văn hoá Việt – Chàm – Việt – Ấn.Việt –Hoa đã làm cho ca nhạc Huế thêm phong phú.Ca nhạc Huế diễn tả tâm trạng của những ngày đầu tiên khi tiếp cận với vùng đất Thuận Hoá,cho nên các điệu nhạc của hệ thống Nam của ca Huế đều âu sầu, bi ai,, âu sầu vì những cái đã mất đi , không biết cái gì đến, bên cạnh đó lại có những bài bản vui , sôi động.×Ads By minibar

Qua quá trình mở mang , phát triển đất nước, các chúa và nhà Nguyễn đóng đô ở Thuận Hoá.Nơi đây từ một vùng đất hoang vu đả trở thành khu vực kinh tế phát triển của đất nước.

Triều đình đã cho thành lập những đội nhạc Ngự đã thực hiện nhạc triều, các nhạc công cũng là những người rất giỏi đàn, biết sử dụng nhiều nhạc cụ dân tộc, ngoài công việc trong triều họ thường được những người trong hoàng phái quan chức mời đến để dạy đàn. Các nhạc sĩ dã đưa vào “ Trung cung chi nhạc “ để sáng tác nhạc và lời ca.Ví dụ bài Long ngâm ( Khúc ngâm của con rồng ) có từ nguồn gốc từ thế kỷ thứ 14.Theo tài liệu của Giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê trong La Musique Việt Nam 1962 nói rằng : “ Ngày 16/9 năm Canh Tuất, năm thứ 18 niên hiệu Long Hưng 1319, khi người ta sắp đưa linh Cữu của Phụ hoàng Trần Nhân tông ra Long hưng ( Nam Định , dân chúng đã đổ dồn về cửa cung để xem ) đến hồi không thể đưa linh Cữu ra được.Nhà vua cho gọi Trịnh Trọng Từ đến và Trịnh Trọng Từ đã tập họp binh lính lại dạy họ hát khúc Long Ngâm …khi khúc Long Ngâm khởi lên, mọi người dân ra ngoài dễ dàng “ Trong ca Huế hiện nay cũng có bài Long Ngâm “Nhưng so với bài Long Ngâm trước, nhạc khúc hơi khác hẳn.

Có thể có ý kiến khác nhau về mốc thời gian xuất hiện các bài bản ca nhạc Huế.Nhưng chúng tôi xin nêu một mốc thời gian mà nhièu nhà nghiên cứu đã thống nhất.Đó là ca Huế định hình được hệ thống bài bản như hiện nay chúng ta biết.
Đó là từ đầu thế kỷ 19 và phát triển vào sau thế kỷ 19.Như vậy ca Huế đã xuất hiện từ nơi lầu son , gác tía, lúc đầu nhằm phục vụ,làm thú tiêu khiển cho Triều đình nhà Nguyễn, đồng thời nó đã lan toả ra khắp nơi trong quần chúng nhân dân, không phải chỉ có ở cung đình mà ngay cả cô lái đò trên sông cũng có thể ngâm vịnh hát hò trên sông nước bao la.

Tóm lại, nền nghệ thuật ca Huế ra đời từ hai dòng âm nhạc dân gian và bác học, vừa mang yếu tố chủ quan,vừa mang yếu tố khách quan, qua tiến trình đi lên của lịch sử, nèn nghệ thuật ca Huế cũng không ngừng biến đổi, sáng tạo,phù hợp với yêu cầu người nghe,người học, người dạy.

Bằng phương pháp sáng tác diễn xướng , ca Huế đã đến với chúng ta với những nhạc khúc hết sc trữ tình và sâu lắng, khiến cho những ai ở Húe cũng cảm thông thương Huế và xa Huế cũng nhớ Huế,khác với nền âm nhạc mang tính cổ truyền của các vùng khác, gồm những điệu hát đơn giản, có thể không cần các nhạc cụ kèm theo, nét nổi bật ca Huế là trữ tình, sâu lắng, tinh tế và đa dạng.

Trong quan niệm hiện đại,ca Huế đã tổng hợp những nhạc điệu cổ truyền vào điệu hát trữ tình,kết hợp giữa dòng văn hoá bác học với dòng văn hoá dân gian, tạo nên một loại âm nhạc thính phòng “ mà người am hiểu đều ưa thích.Vì vậy, trong nội dung tư tưởng cũng như trong cách biểu diễn phong phú của nó, ca Huế được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận tính bác học của nó.

Theo Thái Hùng (TRT)

http://hues.vn/tim-hieu-them-vai-net-bo-mon-ca-nhac-hue/

THÁI LỘC : Nghe hay mà bỗng chạnh lòng, CA HUẾ, VIETNAM


Nghe hay mà bỗng chạnh lòng

15/08/2013 06:12 (GMT + 7)
 

 
TT – “Ðoạn ni phải ca, luyến láy như ri nè!”. “Chỗ ni thì cần thêm hờ hơ… mới phải”. “Bài bản nớ do cụ Ưng Bình đặt lời, sau đó có mấy bác sửa chữa”… Nghệ nhân ca Huế Minh Mẫn và Thanh Hương thường góp ý sau mỗi bài bản do các ca sĩ, nhạc công trình diễn.

Nghệ nhân Minh Mẫn (88 tuổi, ngồi ghế trái) và Thanh Hương (84 tuổi, ngồi ghế phải) như hai “bộ từ điển sống” trong một buổi sinh hoạt Câu lạc bộ ca Huế – Ảnh: THÁI LỘC

 

Ở những bài bản mới các cụ thường ca mẫu, trước khi chỉ bảo cho các nhạc công về nhịp, điệu và âm giai để đệm đàn. Giọng bà Minh Mẫn, ở tuổi 88, dù đã yếu vì bị thương ở khớp xương đùi, nhưng còn quá chuẩn mực, giòn giã và lên rất cao, luyến láy tài tình…

Ðó là buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ ca Huế vừa mở lại ở tư gia nhà nghiên cứu, nhà giáo Bửu Ý (số 9 Phạm Ngũ Lão, TP Huế) vào chiều thứ bảy hằng tuần, sau một thời gian gián đoạn. Câu lạc bộ ca Huế ở đây có gần 20 nghệ sĩ, gồm cả ba thế hệ. Trẻ nhất có tay đàn tranh Thanh Vân tuổi chưa đến 30. Lớn hơn có giọng ca Kim Hồng (đoạt nhiều huy chương vàng toàn quốc), Kim Quy, Diệu Huê, Diệu Bình (ca và ngâm thơ) và các nghệ sĩ Khắc Du (đàn bầu), Tiến Cang (đàn nhị)…

Ngoài ra còn có “cầm thủ” Ngọc Hùng (đàn tì bà) tuổi trên 50 đang là giảng viên Học viện Âm nhạc Huế. Ðặc biệt là sự có mặt của hai “báu vật nhân văn sống” là nghệ nhân ca xướng Minh Mẫn và Thanh Hương (ca và hò). Ngoài những người khách thân quen hoặc nghe danh tìm đến, họ có một thính giả đặc biệt dự không thiếu một buổi nào, đồng thời là người tổ chức, một phần tài trợ…, đó là nhà nghiên cứu Bửu Ý. Họ gặp nhau mỗi tuần để cùng được hát, được nghe những bài bản ca Huế “xịn”. Sự góp mặt của hai cây đại thụ trở thành hai “bộ từ điển sống” để thế hệ trẻ hơn học tập, “tra cứu” những ngón nghề.

Từng có nhiều vị khách đến Huế, sau khi thất vọng với ca Huế trên sông Hương, chờ đến chiều thứ bảy đến dự buổi ca Huế thính phòng tại đây. Và họ thật sự thỏa mãn, cho dù thính phòng này không chỉ có mục đích biểu diễn phục vụ. Hay nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Ðắc Xuân: “Muốn hiểu thế nào là ca Huế qua thời gian thì hãy đến nhà Bửu Ý”…

Có lẽ cần nhắc đến mấy tháng gián đoạn sinh hoạt trong sự tiếc rẻ của nhiều người, kể cả những người trong cuộc. Nhà nghiên cứu Bửu Ý cho biết trước khi tạm ngưng, hoạt động của câu lạc bộ có sự tài trợ của một tổ chức nước ngoài, gồm cả việc đưa các nghệ nhân dạy ca và đàn cho một trung tâm mồ côi ở Xuân Phú, Huế. Thế nhưng vì lý do riêng mà sự hỗ trợ này không còn. Lớp học phải đóng cửa. Các buổi sinh hoạt đành tạm ngưng hoạt động. Nhà nghiên cứu Bửu Ý cho biết lý do mở lại vì các thành viên câu lạc bộ, nhất là những nghệ sĩ lớn tuổi, thấy buồn quá, họ có nhu cầu đến đây để được nghe, được ca và được truyền thụ. Ðó cũng là tâm sự của nghệ nhân Minh Mẫn: “Ði trước thì mình có trách nhiệm dìu dắt thế hệ sau chớ. Phải ca để mấy em nghe mà bắt chước, nếu không thì nghề mình mất đi, tiếc lắm!”.

Ðây là câu lạc bộ ca Huế duy nhất ở Huế, tồn tại đã hơn 15 năm. Với sự mở cửa trở lại, các nghệ sĩ ca Huế các thế hệ tiếp tục được tụ hội hằng tuần trong cùng mong muốn loại nhạc vừa dân gian vừa bác học này tiếp tục duy trì. Những thính giả khó tính tiếp tục được thỏa mãn vì được thưởng thức những bài bản “xịn” khi tìm đến đây. Song ai biết sự tình sẽ không khỏi chạnh lòng khi nghe sự chia sẻ của nhà nghiên cứu Bửu Ý: “Trước đây có tài trợ, các nghệ sĩ sinh hoạt có thù lao hằng tháng, cho dù mang tính tượng trưng là chính. Nhưng giờ đã không còn. Ðặc biệt, hai nghệ nhân lớn tuổi nhất là Minh Mẫn và Thanh Hương cho đến nay vẫn chưa được hưởng một chế độ đãi ngộ gì. Tôi đang cố tìm nguồn để duy trì nhưng không biết sẽ ra sao nữa!”…

 

 

Ca Huế trên sông Hương “tê liệt” 3 ngày

Ngày 14-8, ông Nguyễn Tấn Thưởng – giám đốc Trung tâm Quản lý và tổ chức biểu diễn ca Huế (TP Huế) – cho biết phải tạm ngừng bán vé phục vụ ca Huế trong ba đêm, kể từ tối 13-8 với lý do: 51 chiếc thuyền đôi và hàng chục thuyền đơn phục vụ ca Huế trên sông Hương tạm chuyển sang cho thuê bởi khách tham gia lễ hội điện Huệ Nam (Hòn Chén, từ ngày 13 đến 15-8, tức từ mồng 7 đến 9-7 âm lịch). Tình trạng trên làm hoạt động ca Huế trên sông Hương gần như tê liệt. Tất cả khách đoàn từ tám người trở lên đều không được phục vụ. Do đó, các hãng lữ hành cho biết nhiều du khách phàn nàn vì ca Huế là một trong những dịch vụ du lịch về đêm hiếm hoi của du lịch Huế.

Trong chiều 14-8, chỉ có tám chiếc thuyền đơn (chở tám khách/chiếc) hoạt động tại bến. Tuy nhiên, phần lớn chủ thuyền đòi giá vận chuyển cao gấp đôi trở lên so với ngày thường (400.000-500.000 đồng chuyến/90 phút, trong khi giá quy định là 200.000 đồng/chuyến). Ông Thưởng cho biết không có cách gì quản lý tình trạng “bắt chẹt” này vì trung tâm không có chức năng.

 

Bến Tòa Khâm đậu thuyền ca Huế chỉ vài chiếc thuyền đơn chiều 14-8, trong khi ngày thường lên đến cả trăm chiếc- Ảnh: THÁI LỘC

 

 

THÁI LỘC

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/563869/nghe-hay-ma-bong-chanh-long.html