GIA BÁCH : Vinh danh nghệ nhân dân gian Lâm Tường Vân


Xã hội 07/7/2013 03:00

Vinh danh nghệ nhân dân gian Lâm Tường Vân

Ngày 5.7, Hội đồng xét tặng Giải thưởng Văn học nghệ thuật Phan Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau lần thứ 2 tổ chức lễ vinh danh nghệ nhân dân gian, nghệ sĩ sân khấu Lâm Tường Vân.

Nghệ nhân dân gian, nghệ sĩ sân khấu Lâm Tường Vân sinh năm 1928 tại xã Khánh Lâm, H.U Minh, Cà Mau. Năm 17 tuổi ông tham gia cách mạng và hoạt động suốt 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Ông là một trong những cây đại thụ trong bộ môn nghệ thuật đờn ca tài tử, cải lương của Cà Mau và cả Nam bộ. Từ kịch bản cải lương, bài ca vọng cổ đến những công trình sưu tầm, biên khảo mang tính học thuật, Lâm Tường Vân đều thể hiện được sự say mê, kiến thức uyên bác; góp phần đưa nghệ thuật đờn ca tài tử, cải lương lên một tầm cao mới.

Công trình “Đờn ca tài tử Nam Bộ” của ông được đánh giá là công phu, khoa học và là cuốn sách quý để những người quan tâm tìm tòi, nghiên cứu.

Gia Bách

http://citinews.net/xa-hoi/vinh-danh-nghe-nhan-dan-gian-lam-tuong-van-4OFF7CI/#

NGỌC DIỄM : TĂNG PHÁT VINH – CÂY ĐẠI THỤ CỦA ĐỜN CA TÀI TỬ CÀ MAU


TĂNG PHÁT VINH – CÂY ĐẠI THỤ CỦA ĐỜN CA TÀI TỬ CÀ MAU
30.08.2012 22:16

Đờn ca tài tử là lọai hình nghệ thuật đặc trưng của vùng sông nước Nam bộ, nó xuất hiện đồng thời với những bước chân khai khẩn vùng đất phương Nam. Ở Cà Mau đờn ca tài tử đã hình thành từ đầu thế kỷ 20, đến nay những tài tử thời kỳ đó còn lại chỉ một vài người. Theo khảo sát của Viện Âm nhạc Việt Nam, tại Cà Mau hiện có 4 nghệ nhân là những người có công giữ gìn và đóng góp quan trọng cho loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc. Một trong số đó là nghệ nhân Tăng Phát Vinh hiện cư ngụ tại ấp Cây Trâm xã Định Bình TP Cà Mau. Năm nay ông 85 tuổi nhưng niềm đam mê còn cháy bỏng, ngày ngày ông vẫn so dây nắn phím dạo lại những bản đàn xưa, cung điệu bổng trầm đã theo ông gần một thế kỷ qua.

Ông sinh ra trong một gia đình tá điền, cơm không đủ no, cha mẹ cố gắng cho con đi học nhưng không lo nỗi tờ giấy khai sinh, lúc đó  tương đương 200 giạ lúa mới làm được nên đành ngậm ngùi rời ghế nhà trường. Sợ con sống khổ cha ông quyết định mời thầy về nhà dạy đờn may ra có được cái nghề nuôi sống bản thân, Thầy giáo Minh và Tám Vững đã dạy ông những chữ nhạc đầu tiên lúc ông 14 tuổi và cái nghiệp cầm ca đã “vận” vào ông từ đó.
Nhờ sáng dạ và có năng khiếu, không bao lâu ông đã trở thành tài tử có tiếng tăm, nhưng chiến tranh bao trùm khắp nơi không ai có thể ung dung “đờn ca xướng hát” trong khi đồng bào mình lầm than khốn khổ, ông quyết định tham gia cách mạng vào năm 1946. Trên mỗi chặng đường kháng chiến ông đem lời ca tiếng hát phục vụ đồng bào, cán bộ, chiến sĩ khắp nơi. Tên tuổi người nghệ sĩ tài hoa Tăng Phát Vinh không chỉ nổi danh ở vùng giải phóng mà đồng bào vùng ven cũng rất ngưỡng mộ. Quá trình họat động ông bị địch bắt đến 3 lần. Khi kể lại ông không thể quên một lần suýt bị đày ra Côn Đảo, nhờ có người mách với Trưởng ty cảnh sát ngụy về tay đờn Ba Vinh, thế là ông được chúng đưa tới nơi chúng phục vụ cho sự kiện đón quan chức cấp trên cùng với nhiều nghệ sĩ nổi tiếng khác, nhờ sự điêu luyện của ông mà sau buổi “hội đàn” đó ông đã được bọn chúng tha bổng, ông trở về công tác tiếp tục cho đến ngày hòa bình thống nhất đất nước.
Khi trở về cuộc sống đời thường ông luôn trăn trở vì bộ môn nghệ thuật này chưa tập hợp được để lưu giữ một cách bài bản và đầy đủ những điệu thức, ngón đờn mà truyền nghề cho thế hệ sau. Với những bộn bề của cuộc sống gia đình có tới 11 đứa con, dù phải tất bật để lo kinh tế nhưng không lúc nào ông xao lãng với đờn ca. Nhiều lớp học được thầy Ba Vinh truyền dạy cứ nối tiếp nhau, tiếng lành đồn xa người ngoài tỉnh cũng tìm ông để học, đến hôm nay ông có đến cả trăm học trò, riêng con cháu trong nhà hầu như ai cũng kế thừa được một phần tài năng của ông, đây quả thật là một hiện tượng hiếm có. Thạc sĩ văn hóa Hùynh Khánh có những nhận xét về ông như sau : Bác Tăng Phát Vinh có công rất lớn trong việc sưu tầm, tập hợp những bài bản Đờn ca tài tử Nam Bộ, ngoài việc lưu giữ giá trị nghệ thuật truyền thống cho tỉnh nhà – những tài liệu này rất có ích cho việc hoàn thành hồ sơ theo yêu cầu của Bộ VH Thể Thao-Du lịch đề nghị Unessco công nhận Đờn ca tài tử Nam bộ là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân lọai.
Tấm lòng ông như những giai điệu ngọt ngào của bài Vọng cổ hay khúc Nam Ai réo rắt thiết tha, ông đến với mọi ngừơi bằng sự chân tình, sẵn sàng san sẻ tất cả những gì mình có, nhiều người còn nhớ đã nhận từ ông những bộ quần áo, vài chục đồng bạc và những vật dụng khác thời kỳ bao cấp, đến bây giờ cũng vậy, ông không thể làm ngơ trước người khốn khổ hơn mình. Bác gái, người vợ thủy chung đã cùng ông vượt biết bao gian truân hơn nửa thế kỷ qua luôn ủng hộ và chia sẻ cùng ông, bác nói vui: Tánh ổng rộng rãi, từ xưa đến giờ vẫn vậy nên khi ổng chết chắc hổng còn gì để bỏ vào quan tài quá !
Thời gian gần đây, ông đã làm cho giới nghệ sĩ cải lương và những người hoạt động nghệ thuật ở Cà Mau (CM) hết sức cảm động khi nhận được tập tài liệu viết về Đờn ca tài tử  với gần 500 trang giấy khổ A4 viết tay. Để có được tập sách này ông đã dành 4 năm để ghi chép, sắp xếp, bố cục theo trình tự những bài bản tổ của Đờn ca tài tử.Trước đó hàng chục năm ông đã cất công sưu tầm, cất giữ để bây giờ có được hàng trăm bài ca cổ, tài tử qua các thời kỳ.
85 tuổi ông vẫn minh mẫn, nhớ từng chi tiết khi nói về quá trình hoạt động nghệ thuật âm nhạc truyền thống, nhắc đến những bạn bè chí cốt, đồng cam cộng khổ trong đơn vị chiến đấu, trong lao tù… từ ngữ điệu, cử chỉ ông luôn toát lên tinh thần lạc quan, tự hào về một thời oanh liệt đã qua. Nay ông rất mãn nguyện vì mình đã góp phần cho cuộc kháng chiến của dân tộc không đòi hỏi bất cứ điều gì, cuộc sống thanh đạm, chỉ mong con cháu, học trò của mình phải biết trân trọng nghệ thuật chân chính, làm nghề phải có cái tâm trong sáng.
Dù người khá nổi tiếng nhưng từ trước đến nay ông không hề nhận một đồng thù lao hay học phí  của bất cứ người học trò hay anh em có nhu cầu phục vụ. Những đồng tiền chắt chiu lúc tuổi già ông dùng vào việc phôtô tập tài liệu của mình tặng cho học trò hoặc những người họat động nghệ thuật có nhu cầu khảo cứu. Ông Tăng Phát Vinh là bậc thầy của giới tài tử và cũng là người cha tinh thần của thế hệ nhạc công, nghệ sĩ cải lương ở Cà Mau. Đệ nhị danh cầm nghệ sĩ Trường Giang, cán bộ giảng dạy trường Văn hóa nghệ thuật tỉnh Cà Mau, chia sẻ: Ông Ba (Ba Vinh) là ngừơi rất nhiệt tình với lớp trẻ, sẵn sàng chỉ bảo bất cứ yêu cầu nào của học trò, ông không câu nệ điều gì hết, chúng tôi xem ông như người cha của mình.
Mỗi ngày đi qua, quá khứ  lùi dần chỉ có những giá trị tinh thần cao quý sẽ còn mãi với thời gian. Mới đây Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Việt Nam, Cục Di sản Văn Hóa đề nghị các tỉnh lập hồ sơ khoa học về đơn ca tài tử Nam Bộ. Cà Mau đã tích cực tập hợp, sưu tầm những hiện vật, con người, tài liệu làm chứng cứ bổ sung cho hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Đờn ca tài tử Nam bộ là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Những tài liệu của Bác Ba Vinh đã góp phần quan trọng cho sự kiện này.
Hơn 70 năm buồn vui, sướng khổ, yêu thương… cùng tiếng nhạc, những giai điệu bổng, trầm, cung thương, cung oán… đã nuôi dưỡng một tâm hồn thanh cao của người nghệ sĩ dân gian tài hoa, không mệt mỏi trên con đường nghệ thuật, đã trên cái tuổi “bát tuần” ông vẫn còn say sưa nắn nót cung đàn, gảy lên tiếng lòng hòa quyện cùng nhịp đập của những trái tim dành cho tình yêu nghệ thuật thật ấm áp, nồng say.

NGỌC DIỄM

http://www.vannghesongcuulong.org.vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=9439

NGỌC DIỄM : Nghệ nhân Lâm Tường Vân: Người “giữ lửa” cho đờn ca tài tử Cà Mau


 
Nghệ nhân Lâm Tường Vân: Người “giữ lửa” cho đờn ca tài tử Cà Mau 
Cập nhật ngày: 01/03/2013 18:27:08
 
Hơn 80 tuổi đời, nghệ nhân Lâm Tường Vân vẫn nắn nót phím đàn, dạo lên những cung bậc bổng trầm của các làn điệu tài tử, bởi những cung thương cung oán này đã theo ông hơn 60 năm qua. Ông nguyên là Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Cà Mau, nguyên Trưởng Đoàn Văn công giải phóng tỉnh Cà Mau. Và hiện tại nghệ nhân Lâm Tường Vân vẫn đang “giữ lửa” cho dòng âm nhạc truyền thống đờn ca tài tử ở Cà Mau.Tuổi thơ gian khó

Thời kỳ Pháp thuộc, mỗi làng chỉ có 1 ngôi trường dạy chữ, may mắn ở gần trường nên ông được đi học. Nhưng hết lớp 3 ông nghỉ học vì không có tiền ra quận học, vì trường làng chỉ dạy đến lớp 3. 

Thấy ông ham học, thầy giáo Trần Vạn Sen thương tình biểu ông đổi tên Lâm Văn Muôn (tên khai sinh của ông) thành Lâm Thanh Tâm để dạy thêm cho ông chương trình lớp nhì (tức lớp 4 ngày nay). 

Sau năm đó, ông cũng phải nghỉ học. Hoàn cảnh đẩy đưa ông học thêm toán Tàu với người thầy Hoa kiều rồi học chữ nho. Học gì ông cũng tiếp thu rất tốt nhưng rồi cũng chẳng đi đến đâu khi vận nước còn tăm tối, dân tình lầm than.

 nghenhan (2)

 
 Nghệ nhân Lâm Tường Vân ngày ngày vẫn so dây nắn phím.

Năm 1942, ở ấp Mũi Đước, vàm biển Khánh Hội, huyện U Minh (quê hương ông) – một xóm nghèo xơ xác với hơn chục nóc nhà, có gia đình ông Bảy Kiệm 2 con trai rất mê đờn ca, người cha rước thầy Lê Văn Bường là một nhạc sĩ mù về dạy cho con. 

 

Bơi xuồng qua lại nghe được tiếng đàn kìm réo rắc, lòng nao nao, bồn chồn khó tả, riết rồi không thể vắng được âm thanh đầy mê hoặc đó nên ngày ngày dù có việc hay không, ông Tâm cũng tìm cớ để bơi xuồng qua lại nhà ông Bảy Kiệm. 

Ông tranh thủ thời gian lân la tiếp cận với gia đình ông Kiệm. Hai người con ông Kiệm đồng trang lứa, có cùng sở thích nên rất dễ thông cảm, thầy giáo vừa ý với sự lễ phép lại ham học nên vui vẻ thu nhận mà không tính tiền nong gì cả. Không bao lâu, ông Tâm lướt tay êm ái thuần thục trên những phím đàn.

Bước ngoặt cuộc đời

Tháng 8/1945, cách mạng thành công. Khi ấy cán bộ Việt Minh về ấp 7, xã Khánh Hội tổ chức mít-tinh, thanh niên nô nức lắm. Lúc giới thiệu người lên khán đài, ông và đám thanh niên trong ấp hết sức ngạc nhiên khi thầy mù dạy đờn Lê Văn Bường là người diễn thuyết. 

Thầy rất uyên bác, truyền đạt ý nghĩa về thành công của cuộc Cách mạng Tháng Tám và rất nhiều từ ngữ xa lạ lần đầu tiên nông dân được nghe nói đến như giai cấp vô sản, dân chủ tự do, nhân quyền… 

Bấy giờ ông Tâm và những bạn đờn mới sáng ra về nhận thức ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống Pháp thành công, về lòng yêu nước và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của mọi người không phân biệt dân cày hay trí thức.

Từ buổi nghe diễn thuyết, anh em đờn ca tài tử trong ấp vô cùng phấn khởi, phong trào đờn ca có dịp phát triển, nhiều bài hát mới được phổ biến để mừng cách mạng thành công.

Nhưng không bao lâu, bài vọng cổ bị cấm vì bị cho là uỷ mị, bi thương, yếu đuối…, không phù hợp với phong trào kháng chiến. Chủ trương đó đã làm thất vọng, hụt hẫng những người đam mê tài tử tại địa phương. Đồng thời làm những cán bộ tuyên truyền mất đi vũ khí trong công tác vận động quần chúng, cổ vũ phong trào yêu nước ở nông thôn.

Đến năm 1947, ông đến với ngành công an. Một năm sau ông được bổ nhiệm làm Trưởng Công an xã Tân Lợi (huyện Thới Bình ngày nay), năm đó ông vừa tròn 20 tuổi. Đến năm 25 tuổi, ông giữ chức Trưởng Ban Trinh sát Công an huyện Cà Mau.

Thời điểm này phong trào đờn ca tài tử đã sôi nổi trở lại, bài vọng cổ đã có chỗ đứng trong công chúng. Ty Thông tin cho in và phổ biến những bài vọng cổ  tuyên truyền chủ trương của Chính phủ, ca ngợi lòng yêu nước, chống giặc ngoại xâm… mọi người hồ hởi khi bài vọng cổ được hồi sinh.

Năm 1952, Đảng có chủ trương cải cách ruộng đất, động viên địa chủ hiến đất để chia cho dân cày. Ông được Huyện uỷ Cà Mau phân công theo phái đoàn cải cách đến xã Tân Lộc. 

Tại đây, tận mắt chứng kiến những hình ảnh hết sức xúc động của những lão nông quỳ giữa mảnh ruộng của mình mặt hướng về hướng Bắc lạy tạ Cụ Hồ vì chính thức thoát khỏi kiếp tá điền đeo đẳng nhiều đời, ông trăn trở khôn nguôi và muốn làm một việc gì đó để ghi lại khoảnh khắc thiêng liêng ấy. 

Thế là, bài “Ân tình cách mạng” ra đời. Đây là tác phẩm đầu tay từ khi ông biết chữ nhạc đầu tiên. Bài hát được phổ biến như một lời cổ vũ, động viên lòng yêu nước  lạc quan cách mạng và biết ơn Đảng, biết ơn Hồ Chủ tịch.

Năm 1954, với nhiệm vụ là Phó Công an thị trấn Cà Mau, được phân công bí mật bảo vệ chính quyền, ông vào vai người giúp việc cho một vựa gà, may thay ông chủ vựa là bạn đờn ngày xưa. Tại đây, ông gặp lại nhiều nghệ nhân đờn ca tài tử rất giỏi. Với vỏ bọc này, bao nhiêu công tác hợp pháp ông đều hoàn thành.

Cơ sở hoạt động cách mạng của ta ngày càng vững mạnh, tổ chức giao cho ông chuẩn bị con đường bí mật để bộ đội làm nhiệm vụ và công tác thông tin liên lạc được thuận tiện. 

Đêm đêm, ông tổ chức anh em đờn ca ở thị trấn U Minh lại để “sinh hoạt” và con đường giao liên từ Cà Mau qua Rạch Giá được anh em tài tử “vẹt” rừng hình thành. 

Họ vốn là thợ gác kèo ong nên công việc này không quá khó khăn. Rồi những con đường cho anh em cán bộ thoát hiểm cũng được hình thành nhanh chóng và bí mật. Nhờ thế trong khi bọn Mỹ – Diệm chưa kịp tổ chức xong bộ máy hành chính ở xã thì “gánh hát” của ông đã hoàn thành nhiệm vụ được cấp trên giao.

Năm 1957 ông bị địch bắt tại huyện Cái Nước. Với những gì bị bọn phản bội khai báo ông khó thoát khỏi cực hình. Hai năm trôi qua trong tù, nếm biết bao cực hình, ông chờ đợi ngày được tự do để tiếp tục hoạt động cách mạng. 

Tết năm 1959, ông lên kế hoạch tổ chức văn nghệ vừa đấu tranh vừa đón năm mới trong tù. Nhưng bọn giặc nào có để yên, chúng lập tức giải những  người tham gia văn nghệ đêm giao thừa trong trại giam ra nhà tù Phú Lợi và xếp vào đối tượng  “nguy hiểm”, đến ngày 18/5/1959 chúng đày tất cả ra Côn Đảo.

Ông bị câu lưu ngoài Côn Đảo, do không có án nên năm 1961 chúng trả ông về đất liền. “Như cá gặp nước”, ông tiếp tục công tác ở ngành công an vừa sáng tác nhiều bài ca mới. Những tác phẩm của ông được dàn dựng và biểu diễn khắp nơi trong vùng giải phóng. Năm 1964, Tỉnh uỷ Cà Mau điều ông về Ban Tuyên huấn phụ trách văn nghệ.

Ngân mãi tiếng tơ lòng

Nghiệp duyên đã đưa ông ngày càng gắn bó với nghề, ông lấy nghệ danh Lâm Tường Vân và phụ trách cố vấn tuồng cổ cho Đoàn Văn công II của tỉnh (lúc này tỉnh tách đoàn ra làm 2). Quá trình này ông viết các vở cải lương “Hoàng Phi Hổ quy châu”, “Dưới cờ báo quốc”, bài lẻ gồm “Dưới ánh trăng rằm” ,  “Tâm tình anh giải phóng quân”. 

Thời điểm đó, Đoàn Văn công II của tỉnh hầu hết biểu diễn tác phẩm của ông, được cán bộ, chiến sĩ, đồng bào hết lời khen ngợi. Trong đó vở “Dưới cờ bảo quốc” ông viết từ năm 1965, đến hơn 20 năm sau ngày giải phóng vẫn còn đứng vững trên các sâu khấu các tỉnh.

Đất nước thống nhất, ông tiếp tục sáng tác vở cải lương “Phạm Ngũ lão” cùng hàng chục bài vọng cổ, bài ca tài tử. Năm 1990 ông nghỉ hưu, thời gian này ông biên soạn sách, sưu tầm tư liệu, thành lập câu lạc bộ đờn ca tài tử đầu tiên của tỉnh gồm 12 thành viên. 

Để lưu giữ vốn quí của nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ, ông tự thuê các đài thu thanh 34 bài lớn của các điệu thức để làm chuẩn cho lớp trẻ sau này. 

Công trình nghiên cứu, sưu tầm của ông gồm: 1 tập cổ nhạc in chung với nghệ nhân Đức Xuân, 1 tập ca đờn cải lưởng, 1 tập tài tử ca, 1 tập đờn ca tài tử  tổng hợp, 1 cuốn sách “Cao Văn Lầu với bài Dạ cổ hoài lang”, trên 100 bài ca Bắc,Hạ Nam,Oán và các bài ca cổ, 4 vở cải lương dài 180 phút, 15 vở cải lương 60 phút,…

Ngoài ra, ông còn tham gia giảng dạy ở trường Văn hoá – Nghệ thuật của tỉnh và đào tạo hàng chục nghệ sĩ cải lương, nhạc công cho tỉnh. Hiện nay nhiều học trò của ông đã đạt những thành tích ở từng lĩnh vực như nhạc công, diễn viên sân khấu. 

Đang cất giữ cây nguyệt cầm được sản xuấn từ năm 1940, nghệ nhân Lâm Tường Vân tâm sự, khi ông qua đời sẽ đưa cây đàn quí này vào nhà truyền thống của Đoàn Cải lương Hương Tràm để lưu lại đời sau.

 Nhạc sĩ Lâm Tường Vân là tấm gương sáng về nhân cách, tài năng thể hiện qua các công trình nghiên cứu và công tác đào tạo đội ngũ kế thừa. Ngày nào lời ca tiếng hát của bài vọng cổ và các điệu thức tài tử ở vùng sông nước Cà Mau còn ngân vang, ngày đó mọi người vẫn còn nhớ và tri ân người nghệ sĩ tài hoa, một nghệ nhân đáng kính Lâm Tường Vân./.

Bài và ảnh: Ngọc Diễm