Tag Archives: cải lương

THIÊN HƯƠNG : Nghệ sĩ Vũ Minh Vương và những năm khốn khó cuối đời


Nghệ sĩ Vũ Minh Vương và những năm khốn khó cuối đời

07/03/2014 18:35

 

(TNO) Từng là kép chính của nhiều đoàn cải lương nổi tiếng vào cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990 nhưng những năm cuối đời, nghệ sĩ Vũ Minh Vương lại lâm vào cảnh khốn khó, sống nhờ vào lòng hảo tâm của mọi người.

>> Nghệ sĩ Vũ Minh Vương qua đời
>> Chuyện cổ tích Vũ Minh Vương


Lễ viếng nghệ sĩ Vũ Minh Vương diễn ra tại Viện dưỡng lão nghệ sĩ (quận 8, TP.HCM) – Ảnh: Thiên Hương

Nhiều lần giành giật sự sống từ tay thần chết

Mang trong mình nhiều căn bệnh như bệnh gan, tim mạch, tiểu đường, cao huyết áp, đau bao tử…, những năm cuối đời của nghệ sĩ cải lương Vũ Minh Vương hầu như gắn liền với chiếc giường bệnh với bao lần vào sinh ra tử.

Chị Ngọc Oanh (người vợ sau của nghệ sĩ Vũ Minh Vương) kể lại, vào năm 2005, chị và người thân từng một phen rụng rời chân tay khi bác sĩ lắc đầu trước căn bệnh gan, tiểu đường thời kỳ cuối của anh. Thế nhưng, “nhờ trời thương”, nghệ sĩ Vũ Minh Vương đã vượt qua được một cách thần kỳ.  

Dẫu vậy, bệnh tật vẫn liên tiếp hành hạ người nghệ sĩ tài hoa. Cách đây vài năm, trong một lần đi diễn bằng xe máy, anh đã gặp tai nạn dẫn đến dập bán cầu trái, tích tụ máu bầm trong não, rơi vào trạng thái hôn mê phải nằm điều trị dài ngày tại Bệnh viện 115 (TP.HCM).

 
 
Dù không làm việc hay tiếp xúc nhiều với anh Vũ Minh Vương nhưng gia cảnh khó khăn của anh ấy, anh em trong nghề đều biết. Cách đây khoảng 10 ngày, khi nghe tin anh ấy nhập viện trong tình cảnh khó khăn, chúng tôi từng góp tiền để giúp anh ấy. Không ngờ anh ấy lại ra đi nhanh như vậy…  
 
NSƯT Minh Vương
 

Từ sau đợt điều trị này, sức khỏe của anh suy yếu và phải nằm dưỡng bệnh ở nhà. Đến tháng 6.2013, một lần nữa, anh lại nhập viện trong nguy kịch với các triệu chứng ói ra máu và khó thở.

 

“Lúc đó trong người không một đồng dính túi, gia cảnh lại đơn chiếc, tôi phải nhờ hàng xóm cùng đưa anh vào bệnh viện cấp cứu. Cũng may, có những người hàng xóm tốt bụng cho mượn một số tiền để giúp anh điều trị qua cơn nguy khốn”, chị Oanh kể.

Tuy nhiên, do không đủ tiền nằm viện, vài ba ngày sau, chị Oanh đành ngậm ngùi đưa anh về điều trị tại nhà…

Người vợ tận tụy 

Là nguồn thu nhập chính trong gia đình nên từ khi anh Vũ Minh Vương suy yếu, mọi gánh nặng đều trút lên vai người phụ nữ trẻ. Từ chuyện sinh hoạt cá nhân của anh cho đến việc xoay sở kiếm tiền thuốc thang, cơm cháo mỗi ngày đều do một tay chị Oanh lo liệu.

Gắn bó với nhau từ năm 1997, kém chồng gần 25 tuổi, người ta bảo “chồng già vợ trẻ là tiên” nhưng đời chị hầu như dành trọn thời gian để chăm sóc chồng. Những lần bác sĩ lắc đầu, bó tay nhưng chị vẫn nhất quyết không chịu đầu hàng, cố giữ lại anh trên cõi đời.

Trong câu chuyện với Thanh Niên Online, chị luôn nhắc đến người chồng với vẻ trìu mến: “Anh ấy lúc nào cũng tốt với tôi. Tình cảm bao nhiêu năm không đổi. Đó là lý do vì sao khi anh ấy bệnh, tôi vẫn luôn bên cạnh ảnh”.

Nói đến đây, chị lại không cầm được nước mắt: “Thôi thà anh ấy cứ nằm đấy để tôi được chăm sóc, để có anh bên cạnh…”.

Anh Giỏi, người làm việc tại Viện dưỡng lão nghệ sĩ (quận 8, TP.HCM), nói: “Anh Vương được một cái là đến cuối đời có một người vợ tuyệt vời, sẵn sàng hi sinh tuổi xuân chăm sóc anh ấy suốt 5 – 6 năm nay”. 

 


Vợ của nghệ sĩ Vũ Minh Vương chia sẻ về người chồng của mình – Ảnh: Thiên Hương

 

Sống trọn với nghề

Nghệ sĩ Vũ Minh Vương tên thật là Nguyễn Văn Hoàng, sinh năm 1955, tại Tân Châu, An Giang. Anh từng là kép chính trong nhiều đoàn cải lương nổi tiếng như đoàn Văn Công, Thanh Nga, Trúc Giang…, từng hát cặp cùng các nữ nghệ sĩ Lệ Thủy, Mỹ Châu… và được khán giả yêu mến qua các vai diễn trong những vở như Thạch Sanh – Lý Thông, Lưu Bình – Dương Lễ…

Khi sân khấu cải lương khó khăn, anh chuyển sang làm bầu các chương trình ca nhạc và hát tân cổ. Một dạo, anh cùng vợ mở quán theo kiểu “hát với nhau”, một mặt để kiếm sống, một mặt để duy trì đam mê ca hát và tạo sân chơi cho anh em yêu thích ca hát, cải lương. Nhưng rồi, chuyện làm ăn thất bại, nợ nần chồng chất khiến gia đình rơi vào cảnh túng thiếu.

Anh Quang Phú, anh em kết nghĩa của nghệ sĩ Vũ Minh Vương, cho biết những năm sau này, dù sức khỏe yếu nhưng nghệ sĩ Vũ Minh Vương vẫn gắng gượng đi hát cho đỡ nhớ nghề và kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Anh chủ yếu hát đám tiệc nên thu nhập khá bấp bênh, có tháng chỉ kiếm được vài trăm ngàn. Hai vợ chồng cứ thế mà sống nương tựa vào nhau trong cảnh ở thuê, ở mướn suốt 10 năm trời.

“Mấy lần gặp nhau, anh ấy cứ thở dài cầu cho tổ đãi để có thể lấy lại được hơi mà đi ca hát phục vụ mọi người”, anh Quang Phú chia sẻ.

Khi sắp lâm chung, nghệ sĩ Vũ Minh Vương vẫn thều thào nói rằng: “Anh muốn khỏe lại, muốn được đi hát vì nhớ anh em nghệ sĩ”.

Nguyện vọng của người nghệ sĩ này là được nằm lại cùng các anh em nghệ sĩ trong Chùa Nghệ Sĩ (quận Gò Vấp, TP.HCM) nên gia đình đã quyết định hỏa táng, sau đó mang tro cốt vào chùa.

Thiên Hương

>> Bất ngờ với cải lương
>> Nở rộ cải lương phòng trà
>> Violin “giao duyên” với cải lương giữa phố
>> 100 nghệ sĩ Việt Nam trong bài hát cải lương
>> Nhiều hoạt động kỷ niệm 95 năm nghệ thuật cải lương
>> Xem “Đêm trước ngày hoàng đạo”: Khi cải lương đẹp đến bất ngờ!

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140307/nghe-si-vu-minh-vuong-va-nhung-nam-khon-kho-cuoi-doi.aspx

VÂN TRƯỜNG : Mỹ Tho – Tiếng đờn câu hát trăm năm – Kỳ 4: Bạch công tử và cô đào Phùng Há


Mỹ Tho – Tiếng đờn câu hát trăm năm – Kỳ 4:

Bạch công tử và cô đào Phùng Há

08/03/2014 12:40 (GMT + 7)
 
 
TT – Gần cùng thời với gánh hát Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho còn có gánh hát Huỳnh Kỳ của Bạch công tử cũng đình đám ngang nhau. Bạch công tử cũng cất một rạp hát cho riêng mình ngay bên cạnh nhà ông ở tại P.3, TP Mỹ Tho bây giờ.

>> Kỳ 1: Ban nhạc tài tử Mỹ Tho đi Tây
>> Kỳ 2: Rạp Thầy Năm Tú và vở diễn đầu tiên
>> Kỳ 3: Bạch công tử và cô đào Phùng Há

 

Sở dĩ gánh hát Huỳnh Kỳ gây tiếng vang là vì có dàn diễn viên hùng hậu, đi lưu diễn khắp nơi bằng thuyền máy chứ không phải thuyền chèo như các gánh hát khác. Ngoài ra, gánh hát này còn thu hút mọi người bởi sự hiện diện của cặp vợ chồng rất nổi tiếng thời bấy giờ: Bạch công tử và cô đào Phùng Há.

Công tử nhà giàu mê cải lương

Bạch công tử tên thật là Lê Công Phước (sinh năm 1897), là con ông đốc phủ Lê Công Sũng ở Mỹ Tho. Nhà giàu nên Phước được cho đi du học tại Pháp bảy năm và nhập quốc tịch Pháp, lấy tên là Phước George. Thời ấy ở miền Tây có hai công tử giàu có, nức tiếng ăn chơi là công tử Bạc Liêu (Hắc công tử) và công tử Mỹ Tho chính là Phước George (Bạch công tử).

Ông Vương Hồng Sển kể trong hồi ký của mình thế này: một năm nọ ở chợ Sóc Trăng xảy ra cuộc đụng độ giữa hai công tử, một người đen là Hắc công tử ở Bạc Liêu, một người là Bạch công tử ở Mỹ Tho nổi tiếng đào hoa, ăn chơi hào phóng. Khi buổi hát đã về khuya, Hắc công tử lấy ví thuốc ra hút. Loay hoay thế nào mà tờ giấy con công 5 đồng bạc lúc ấy từ trong túi rơi xuống đất nên phải sờ soạng, mò mẫm dưới đất tìm như lão thợ may đánh mất kim. Bạch công tử thấy mắc cỡ giùm nên hỏi:

– Toa (Toi – tiếng Pháp có nghĩa là anh, mày…) làm gì kỳ cục vậy?

– Moa (Moi – tiếng Pháp có nghĩa là tôi, tao…) kiếm tờ giấy con công. Đ.M. mới rớt xuống đây là mất tiêu như có ma giấu.

– Nè, để moa cho mượn cây đuốc.

Nói rồi Bạch công tử lấy tờ giấy Vingt (20 đồng bạc) đốt lên soi sáng cho Hắc công tử tìm tờ 5 đồng bạc.

Sau khi thầy Năm Tú mở gánh hát cải lương, vùng đất Mỹ Tho cũng rộ lên phong trào lập gánh hát. Bạch công tử cũng rất mê cải lương và quen nhiều đào, kép ở xứ này nên cùng với ông Nguyễn Ngọc Cương lập gánh hát Phước Cương năm 1926. Thế nhưng chỉ khoảng một năm thì Bạch công tử tách ra thành lập gánh hát Huỳnh Kỳ và cưới cô đào nổi danh lúc bấy giờ là Phùng Há làm vợ (bà Phùng Há tên thật là Trương Phụng Hảo, sinh năm 1911 và mất năm 2009). Sau đó Bạch công tử đầu tư tiền của xây dựng rạp hát Huỳnh Kỳ vào năm 1928 và sắm bốn chiếc thuyền lớn chạy bằng máy được trang bị đầy đủ để đi lưu diễn khắp nơi. Gánh hát Huỳnh Kỳ của vợ chồng Bạch công tử-Phùng Há nổi danh không thua gì gánh hát Thầy Năm Tú lúc bấy giờ vì quy tụ lực lượng đào, kép đình đám như Phùng Há, Ba Vân, Tám Du, Năm Phỉ…

GS-TS Trần Văn Khê cho biết thêm thời ấy chỉ có duy nhất gánh hát Huỳnh Kỳ đi lưu diễn bằng ghe máy, dùng cờ vàng làm hiệu. Chiếc đi đầu dành riêng cho chủ gánh có lầu, giống như một du thuyền hay dinh thự trên bờ với nhiều phòng đầy đủ tiện nghi như: phòng ngủ, phòng ăn, phòng giải trí. Ba chiếc sau dành riêng cho đào-kép hát và chở đạo cụ. Để tạo khí thế, mỗi lần thuyền rời bến Bạch công tử cho đốt pháo vang dội rồi cả ba chiếc ghe hụ còi inh ỏi. Bạch công tử bắn chỉ thiên một phát súng lục, ra lệnh khởi hành. Khi đến nơi diễn thì Bạch công tử cho kéo cờ lên, bắn ba phát súng, đào kép cùng ca bài Đoàn ca viết về đoàn Huỳnh Kỳ. Gánh hát này đi đến đâu gây tiếng vang đến đó, khán giả tới xem rất đông. Bạch công tử còn thuê võ sĩ quyền anh người Philippines theo bảo vệ đoàn cùng với các thân hữu là võ sĩ người Việt.

 

Hết tiền thì bán đất để hát tiếp

Một trong số ít người còn sống hiện nay biết khá rõ về cuộc đời của bà Phùng Há chính là người cháu gọi bà bằng ngoại-bà Nguyễn Thị Bích Hoa (52 tuổi, thường gọi là Thủy) đang sống ở chùa Nghệ sĩ tại Gò Vấp, TP.HCM. Bà Hoa kể rằng từ nhỏ bà đã theo phụ giúp bà Phùng Há nên biết và được nghe kể lại nhiều chuyện từ rất xưa. Bà Hoa cũng là người ghi chép lý lịch và các sự kiện liên quan đến bà Phùng Há khi bà còn sống.

Bà Hoa kể cho chúng tôi nghe khá nhiều chi tiết về gánh hát Huỳnh Kỳ và mối tình ngắn ngủi của Bạch công tử – Phùng Há. Tài sản mà bà Hoa cất rất kỹ và nâng niu như báu vật mấy chục năm nay chính là album hình thời trẻ của ngoại Phùng Há. Chỉ tay vào bức ảnh cô gái trẻ đẹp mặc áo dài có ghi chú “Phùng Há 17 tuổi – gánh Huỳnh Kỳ”, bà Hoa nói rằng bà Phùng Há làm vợ Bạch công tử khi chỉ mới 16-17 tuổi. Trước đó, năm 15-16 tuổi bà Phùng Há đã làm vợ của nghệ sĩ Tư Chơi nhưng chia tay sau đó không lâu.

Tuy nhiên mối lương duyên Bạch công tử-Phùng Há chỉ kéo dài được bảy năm. Hai người sinh hai con nhưng cả hai đều chết khi chỉ được vài tháng tuổi. “Ngoại kể lại là khi sống với Bạch công tử bà rất hạnh phúc, được xem như bà hoàng lúc bấy giờ. Có điều Bạch công tử nổi tiếng đào hoa, ăn chơi xả láng nên nhiều lúc ngoại cũng buồn. Ngoại là người rất mê hát, được Bạch công tử bỏ tiền lập gánh hát rồi đi diễn khắp nơi nên dù buồn ngoại cũng không phiền hà chồng bởi bà quan niệm về hạnh phúc rất giản đơn là được hát cải lương phục vụ khán giả là vui rồi” – bà Hoa kể.

Vở cải lương ra mắt của gánh hát Huỳnh Kỳ là Giọt máu chung tình do thầy tuồng Nguyễn Công Mạnh dựng. Trong vở này, Phùng Há đóng vai Bạch Thu Hà, Năm Thiên đóng vai Võ Đông Sơ. Ngoài ra, gánh hát Huỳnh Kỳ còn diễn nhiều vở gây tiếng vang là: Trần Hưng Đạo bình Nguyên, Người đàn bà không tên, Kim Tinh nương xuất thế, Tình chung tình…

Ghe hát của đoàn Huỳnh Kỳ đi các tỉnh miền Tây thường chọn các sân đình lớn để dựng sân khấu, bán vé, biểu diễn. Mỗi nơi như vậy gánh hát thường ở lại hát liên tục 7-10 ngày vì mỗi lần dựng và tháo dỡ sân khấu rất cực nhọc. Phùng Há chỉ mê ca hát, không quan tâm chuyện làm ăn của gánh hát Huỳnh Kỳ. Bạch công tử cũng không quan tâm mà giao cho người quản lý. Nhiều lúc bán vé ế, gánh hát khó khăn thì Bạch công tử về Mỹ Tho bán đất. Cách bán đất của Bạch công tử cũng không giống ai vì bán lần một “mớ” chứ không đo đạc gì hết. Nếu người mua đất than thở thiệt thòi thì Bạch công tử cho thêm một “mớ” nữa như bán rau ở chợ vậy.

Ngoài ra, theo thạc sĩ Lê Ái Siêm, Bạch công tử luôn mang theo một đội bóng để thi đấu giao lưu với địa phương nơi gánh hát Huỳnh Kỳ tới. Ban ngày đội Huỳnh Kỳ đấu với đội bóng địa phương. Dù thắng hay thua Bạch công tử cũng chiêu đãi tiệc và mời xem hát cải lương buổi tối. Vì vậy buổi diễn nào cũng rất đông người xem. Một bằng chứng khác cho thấy gánh hát Huỳnh Kỳ có khán giả rất đông là hồi ký Nổi trôi trong ánh đèn màu của nghệ sĩ Bảy Nhiêu. Trong hồi ký này ghi: “Đến 3 giờ chiều thì vé các hạng của gánh Huỳnh Kỳ đều hết. Nhiều người thất vọng đón buổi tối để mua cho được vé đêm mai”.

Cũng theo bà Nguyễn Thị Bích Hoa, lúc sinh thời bà Phùng Há hay nhắc nhiều đến Bạch công tử dù hai người chia tay nhau từ lâu. Bà bảo thời ấy người ta còn gọi Bạch công tử là “công tử Uy” (oui, tiếng Pháp có nghĩa là đồng ý). “Bạn bè đến nhà chơi, thấy bộ salon đẹp nên ngỏ ý xin, Bạch công tử lập tức nói: “Uy, toa cứ lấy về xài đi!”. Rồi bất cứ thứ gì trong nhà, thậm chí đang mang trên người mà bạn bè xin ông cũng trả lời ngay “Uy”. Cũng vì xem trọng bạn bè, ăn chơi xả láng, phóng khoáng như vậy nên chẳng mấy chốc tài sản, của cải của Bạch công tử “đội nón ra đi” hết và trở thành người trắng tay. Khoảng năm 1930, hầu hết gánh hát cải lương ở VN rơi vào khó khăn. Gánh hát Huỳnh Kỳ của đại công tử Bạch công tử cũng không ngoại lệ.

Đến năm 1935 Bạch công tử cho phục hồi gánh hát Huỳnh Kỳ nhưng không còn gây tiếng vang nữa. Một thời gian ngắn sau gánh hát này tan rã và mối tình trai tài gái sắc Bạch công tử – Phùng Há cũng kết thúc. Sau khi chia tay Phùng Há, Bạch công tử tiếp tục ăn chơi đến mức phải sống nhờ bạn bè. Ông được Nguyễn Hoàng Phi (con trai Huyện Chung) ở Chợ Gạo, Tiền Giang đưa về cưu mang, chăm sóc. Khoảng năm 1950 Bạch công tử qua đời. Còn Phùng Há sau khi chia tay Bạch công tử đã được gánh hát Trần Đắc của ông Trần Đắc Nghĩa ở Cần Thơ mời về làm đào cho gánh hát này.

VÂN TRƯỜNG

_____________________

Kỳ tới: Thầy Năm Châu

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/596991/bach-cong-tu-va-co-dao-phung-ha.html#ad-image-0

VÂN TRƯỜNG : Mỹ Tho – Tiếng đờn câu hát trăm năm – Kỳ 3: Gánh hát toàn là phụ nữ


Mỹ Tho – Tiếng đờn câu hát trăm năm – Kỳ 3:

Gánh hát toàn là phụ nữ

07/03/2014 09:35 (GMT + 7)
 
 
TT – Đó là gánh hát có tên Đồng Nữ Ban ra đời năm 1927 do bà Trần Ngọc Diện (còn gọi là cô Ba Diện, 1884-1944) sáng lập và làm chủ. Bà Ba Diện là cô ruột của GS.TS Trần Văn Khê. Điểm đặc biệt là gánh hát này được thành lập và hoạt động dưới sự lãnh đạo Tỉnh bộ VN thanh niên cách mạng đồng chí hội Mỹ Tho.

Gánh hát Đồng Nữ Ban – Ảnh: Tư Liệu

>> Kỳ 1: Ban nhạc tài tử Mỹ Tho đi Tây
>> Kỳ 2: Rạp Thầy Năm Tú và vở diễn đầu tiên

 

Mặc dù chỉ tồn tại hai năm nhưng đã gây khiếp sợ cho thực dân Pháp nên chúng buộc phải thẳng tay đàn áp, bắt bớ.

Hát cải lương để làm cách mạng

Ông Trần Văn Khê kể khi gánh hát Đồng Nữ Ban được thành lập thì ông đã 5-6 tuổi. Lúc đó ông cũng khá rành rẽ về nhạc tài tử bởi gia đình ông từ ông nội đến cha, mẹ, cô của ông ai cũng am tường âm nhạc và nổi tiếng thời bấy giờ. Khi gánh hát ra đời thì công chúng mới “chưng hửng” vì diễn viên toàn phụ nữ và không có ai là đào kép rành nghề. Đặc biệt hơn là lập ra không phải với mục đích mưu sinh mà để làm cách mạng, giúp khơi dậy tấm lòng yêu nước của người Việt qua tuồng tích. Một gánh cải lương có kỷ luật như trường nội trú, đòi hỏi diễn viên không phải chỉ biết hát mà còn phải có văn hóa. Sau khi trang trải tất cả chi phí, tiền lời dùng để giúp những nhà cách mạng

Nhiều tài liệu ghi tên bà Ba Diện là Viện. Thế nhưng ông Khê quả quyết tên đúng của cô ông phải là Diện. Bà Ba Diện là một nhạc sĩ, nghệ sĩ đa tài. Tiếng đàn của bà rất độc đáo, điêu luyện nhất là ngón đàn tì bà và đàn tranh nên được nhiều người mến mộ. Bà có chồng là con một ông phán mê nhạc ở Mỹ Tho, hơn năm sau có con nhưng chỉ nuôi được ba tháng thì mất. Không lâu sau chồng bà cũng mất nên gia đình chồng cho bà trở về quê Vĩnh Kim. Vì buồn nên bà lên Sài Gòn dạy nữ công gia chánh ở Trường Áo Tím nữ học đường (nay là Trường Nguyễn Thị Minh Khai). Tại đây bà tiếp xúc với nhiều sách báo tiến bộ của các nhà yêu nước nên sớm giác ngộ tư tưởng của các nhà cách mạng đấu tranh chống thực dân Pháp. Năm 1926 bà Ba Diện đưa học sinh đi dự đám tang cụ Phan Chu Trinh nên bị nhà trường đuổi việc. Trở về quê, bà được gặp và giúp đỡ ông Nguyễn An Ninh khi ông tới Vĩnh Kim hoạt động cách mạng. Cuối năm 1927, Tỉnh bộ VN thanh niên cách mạng đồng chí hội Mỹ Tho được thành lập. Sau đó chi bộ Vĩnh Kim cũng ra đời và chỉ đạo thành lập gánh hát Đồng Nữ Ban để làm cách mạng.

Theo hồi ký của bà Trần Thị Ới (diễn viên của gánh hát) viết ngày 23-3-1976 được lưu giữ ở Bảo tàng tỉnh Tiền Giang, gánh hát Đồng Nữ Ban ra đời nhằm nhiều mục đích chứ không đơn thuần là hát. Đó là nơi tập hợp, vận động quần chúng đấu tranh công khai và hợp pháp trên sân khấu chống lại chế độ thực dân Pháp. Đó cũng là nơi biểu thị tinh thần bất khuất của nữ giới, phụ nữ có tài không kém đàn ông, nam nữ bình quyền và bình đẳng đúng như câu: “Hai vai gánh nặng sơn hà, Làm cho rỡ mặt đàn bà VN”. Gánh hát có khoảng 30 chị em tuổi từ 17-21 (cá biệt bà Hà Thị Lan gia nhập đoàn khi mới 13 tuổi và sau này trở thành một cán bộ lãnh đạo ở huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long).

Nữ đóng vai nam mà khán giả không biết

Ông Trần Văn Khê kể: tại gánh hát Đồng Nữ Ban, các diễn viên được đào tạo về nghề nghiệp, nhưng bắt buộc phải học văn hóa như những học sinh trường trung học. Ngoài ra còn học võ thật sự với một người thầy võ Bình Định để diễn các vai có múa võ, đi quyền. Thời khóa biểu tập luyện và sinh hoạt rất chặt chẽ trong cả tuần. Các diễn viên phải tuân theo kỷ luật được đặt ra như trong nhà thì mặc áo bà ba nhưng khi ra đường (đến rạp hát, đi chợ) phải mặc áo dài tím như nữ sinh Trường Áo Tím nơi bà Ba Diện từng dạy. Tóc chị em diễn viên phải bỏ xõa và kẹp sau lưng. Diễn viên sống chung với nhau và theo thời khóa biểu như những học sinh nội trú: ăn, ngủ, học văn hóa, ca, múa, võ thuật…

Bà Trần Thị Ới được giao nhiệm vụ quản lý gánh hát nên nhớ rõ sự phân vai trong vở Giọt lệ chung tình – vở ra mắt của đoàn. Chị Nhuận đóng vai Võ Đông Sơ, chị Hà Thị Lan đóng vai Triệu Dõng, chị Lợi đóng vai Bạch Thu Hà, chị Trần Thị Tước đóng vai hề đồng. Sau khoảng sáu tháng tập luyện tại Vĩnh Kim, giữa năm 1928 gánh hát Đồng Nữ Ban ra mắt vở tuồng đầu tiên tại cầu Bà Lung, xã Vĩnh Kim được người dân hoan nghênh nhiệt liệt. Chỉ trong một đêm gánh hát thu được 270 đồng, một số tiền rất lớn thời điểm đó. Điều làm cho khán giả lúc đó cảm phục là các vai kép trong vở tuồng đều do diễn viên nữ đóng nhưng người ngoài không hề biết vì diễn rất hay, rất giống đàn ông. “Nhiều người không tin nên tò mò vạch phòng hóa trang hoặc đón ở cửa để nhìn tận mặt xem các vai kép vừa trên sân khấu bước xuống là đàn ông hay phụ nữ”-bà Ới kể.

Theo quy định của chính quyền thực dân, mở đầu trước khi vào tuồng phải có một lớp đầu tất cả đào kép đứng trên sân khấu ca bài La Madelon. Khi vãn tuồng phải ca phần điệp khúc của bài La Marseillaise (Quốc ca Pháp). Thế nhưng thầy tuồng Nguyễn Tri Khương (ông Trần Văn Khê gọi ông Khương là cậu) đặt ra những câu mang đậm tư tưởng dân tộc như: dân ta phải giúp cho ta, máu nóng quyết rưới vì nước. Và thay vì hát điệp khúc bài La Marseillaise, bà Ba Diện và ông Khương đồng ý thay bằng bài Long Hổ hội.

Ngăn cản Đồng Nữ Ban

Khi chúng tôi may mắn tìm được những trang giấy đã ố vàng ghi lại lời của bà Trần Thị Ới thì thấy rõ hơn trí thông minh và uy tín của bà Ba Diện cũng như nỗ lực rất lớn của chị em diễn viên thời ấy.

Trong lần ra mắt thứ hai của gánh hát Đồng Nữ Ban ở xã Bình Trưng (Mỹ Tho), địch cho côn đồ lấy đá đổ lên đường không cho đoàn di chuyển, buổi tối thì giả làm ma nhát chị em diễn viên rồi giật tiền của đoàn. Mặc dù vậy gánh hát vẫn biểu diễn thành công và thu được tới 300 đồng tiền bán vé. Lần thứ ba gánh hát Đồng Nữ Ban ra mắt là tại rạp Thầy Năm Tú – Mỹ Tho, bị côn đồ xông vào phòng hóa trang chọc ghẹo và đe dọa. Rồi khi gánh hát Đồng Nữ Ban sang tỉnh Bến Tre biểu diễn lại bị phá hoại một cách táo tợn hơn trước. Bà Ới kể: Khi ghe chở gánh hát vừa cập bến, địch cho côn đồ cởi truồng giả đi tắm sông lảng vảng trước mũi ghe của chị em và buông lời trêu ghẹo khiến chị em sợ phải chui vào ghe đóng cửa lại. Tối, bọn côn đồ ném đá vào rạp hát và cướp tiền bán vé. Bà Ba Diện phải đến gặp tên quận trưởng yêu cầu can thiệp vì nếu để như vậy thì “mất lịch sự và luật pháp bị coi thường”. Cuối cùng đêm diễn cũng diễn ra thành công.

Khi gánh hát Đồng Nữ Ban về Bến Cát (Thủ Dầu Một) thì chúng không cho dọn đồ lên rạp. Bọn mã tà, mật thám bắt bớ không cho bán vé. Khi đoàn cố đưa đồ lên rạp chuẩn bị diễn thì chúng thẳng tay ngăn cản. Bà Ba Diện phải chạy về Sài Gòn cầu cứu. Bác Tôn Đức Thắng cử bốn ôtô chở trí thức tiến bộ như bác sĩ Nhã, Diệp Văn Kỳ… và một số mật thám cảm tình với cách mạng đến tận nơi can thiệp, bảo vệ gánh hát diễn xong mới về Sài Gòn.

Nhưng bước ngoặt quan trọng khiến gánh hát Đồng Nữ Ban phải giải tán năm 1929 là việc Hòe và Lưu bị địch bắt giam với lý do gánh hát Đồng Nữ Ban làm chính trị, tuyên truyền sách động quần chúng phá rối trật tự trị an. Lúc này tổ chức phải cho gánh hát ngưng hoạt động và cho diễn viên phân tán để đề phòng bị địch bắt. Ngoài ra thời điểm này bác Tôn Đức Thắng đi Trung Quốc để dự đại hội hợp nhất ba tổ chức Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương do Nguyễn Ái Quốc chủ trì nên chỉ đạo giải tán gánh hát Đồng Nữ Ban. Bà Ba Diện trở về quê Vĩnh Kim sinh sống, góp công nuôi dạy các anh em Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch, Trần Thị Ngọc Sương ăn học thành tài. Bà mất tháng 8-1944, thọ 60 tuổi.

 

 

Theo tài liệu lịch sử Đảng bộ huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, bà Hà Thị Lan (1915-1992) sinh tại xã Vĩnh Kim trong một gia đình nông dân nghèo, không được học hành. Bà được cha mẹ đồng ý cho tham gia gánh hát cải lương Đồng Nữ Ban khi mới 13 tuổi. Sau khi gánh hát giải tán, bà Lan tiếp tục tham gia phong trào Nam kỳ khởi nghĩa. Năm 25 tuổi, bà được bầu làm bí thư Quận ủy Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long chịu trách nhiệm lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam kỳ thành công ở địa phương. Vì lý do an toàn khi hoạt động cách mạng, bà đổi tên thành Nguyễn Thị Hồng. Bà từng bị địch bắt tra khảo dã man nhưng vẫn giữ khí tiết của người cộng sản. Bà từ trần vào ngày 2-3-1992. Để ghi nhớ công lao của bà, Đảng bộ và nhân dân Vũng Liêm đã đặt tên trường mầm non thị trấn mang tên bà: Trường Mầm non Nguyễn Thị Hồng.

 

VÂN TRƯỜNG

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/596763/ganh-hat-toan-la-phu-nu.html

VÂN TRƯỜNG : Mỹ Tho – Tiếng đờn câu hát trăm năm – Kỳ 2 Rạp Thầy Năm Tú và vở diễn đầu tiên


Mỹ Tho – Tiếng đờn câu hát trăm năm – Kỳ 2

Rạp Thầy Năm Tú và vở diễn đầu tiên

06/03/2014 10:12 (GMT + 7)
 
 
TT – Rạp hát cải lương đầu tiên ở VN chính là rạp Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho. Rạp Thầy Năm Tú hiện nay vẫn còn được gìn giữ ngay trung tâm TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang với tên gọi mới là rạp Tiền Giang.

>> Ban nhạc tài tử Mỹ Tho đi Tây

 

Rạp Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho, sau này trở thành hí viện Vĩnh Lợi và hiện nay là rạp Tiền Giang – Ảnh tư liệu

 

Và cũng chính tại rạp hát này, công chúng lục tỉnh Nam kỳ đã được xem vở cải lương đầu tiên vào tối 15-3-1918.

Vở cải lương đầu tiên

Trong quá trình tìm hiểu về lịch sử cải lương VN, chúng tôi đọc được một số tài liệu ghi vở cải lương đầu tiên của VN trình diễn tại rạp Thầy Năm Tú có tên là Lục Vân Tiên, lại có tài liệu nói là vở Kim Vân Kiều. Ngay cả quyển Tiền Giang với nghệ thuật sân khấu cải lương mới xuất bản năm 2013 của tác giả Lê Ái Siêm ở trang 58 cũng ghi: “Đêm 15-3-1918 là đêm lễ hội tưng bừng của Mỹ Tho, vở cải lương Lục Vân Tiên được công diễn. Ghe thuyền của dân lục tỉnh đặc kín sông Bảo Định. Thiên hạ đen nghẹt, xô đẩy giành nhau mua vé.

TS Võ Thị Yến (Trường ĐH Sân khấu – điện ảnh TP.HCM) nói rằng đề tài luận văn tiến sĩ của bà mới bảo vệ thành công là về lịch sử cải lương nên đã nghiên cứu rất sâu, rất kỹ. TS Yến khẳng định vở cải lương đầu tiên ra mắt ngày 15-3-1918 là chính xác. Còn đêm đó diễn vở gì thì TS Yến cho rằng: “Tuồng hát Kim Vân Kiều của Trương Duy Toản được chọn làm tuồng khai trương gánh hát Thầy Năm Tú”. Thạc sĩ Nguyễn Thành Lợi (Trường CĐSP trung ương TP.HCM) nói cụ thể hơn: “Ngày 15-3-1918, ông Lê Văn Thận sang gánh hát cho ông Châu Văn Tú, gọi là gánh hát Thầy Năm Tú Mỹ Tho và diễn vở Kim Vân Kiều của Trương Duy Toản tại rạp Cinéma Théâtre – tức rạp Thầy Năm Tú”. Đồng tình với quan điểm này, nhạc sĩ Tấn Nhì bổ sung: “Tuồng hát Kim Vân Kiều được chọn làm tuồng khai trương đúng vào ngày sinh nhật của chủ nhân gánh hát Thầy Năm Tú Mỹ Tho là ngày 15-3-1918 tại rạp hát mang tên ông”.

Vậy vở Lục Vân Tiên diễn vào thời điểm nào? TS Võ Thị Yến cho biết vở này cũng do Trương Duy Toản dựng và diễn vào năm 1917 tại đoàn hát của André Thận, trước khi ông dựng vở Kim Vân Kiều.

Thầy André Thận ở Sa Đéc được xem là người có công trong việc phát triển loại hình ca tài tử mới là ca ra bộ, rồi cũng đi tiên phong trong việc tổ chức dựng vở tuồng mang hơi hướng cải lương sau này. Tuy nhiên do quản lý kém và ăn chơi quá trớn nên phải bán gánh hát cho thầy Năm Tú ở Mỹ Tho. Khi thầy Năm Tú tiếp nhận gánh hát đã tuyển thêm một số đào, kép mới và chuộc luôn các vở tuồng của thầy André Thận; mướn thợ vẽ tranh theo lối trang trí rạp hát ở Sài Gòn; may thêm nhiều trang phục biểu diễn cho đào, kép; đồng thời mời ông Trương Duy Toản về làm thầy tuồng cho gánh hát của mình. “Trương Duy Toản là soạn giả hữu danh đầu tiên của sân khấu cải lương trong thời kỳ thứ nhất (1917-1922) và là tác giả của các vở: Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều, Trang Châu mộng hồ điệp, Lưu Yến Ngọc cứu cha đại hiếu… Ông cũng là người sáng tác vở tuồng ca ra bộ đầu tiên có tên Bùi Kiệm – Nguyệt Nga, được xem là người khởi công xây dựng một sân khấu mới” – TS Yến nói.

 

Thầy Năm Tú – Ảnh tư liệu

 

Thầy Năm Tú và đĩa hát Pathé Phono

TS Mai Mỹ Duyên nói rằng xưa nay các tài liệu về lịch sử cải lương đề cập đến thầy Năm Tú không nhiều, chủ yếu là lướt qua vì “người ta tìm hiểu sâu về đào, kép chứ ít có ai ghi chép về các bầu gánh”. Cũng vì vậy mà tài liệu từ trước đến nay đều không có thông tin gì về năm sinh, năm mất của thầy Năm Tú. Thậm chí nhiều tài liệu chỉ lướt qua vài dòng rồi chuyển đề tài sang nói về đào, kép nổi danh lúc đó như Năm Phỉ, Bảy Nam…

Tại hội thảo về cải lương ngày 18-1 ở Tiền Giang, TS Võ Thị Yến nói về ông chủ gánh hát cải lương đầu tiên thế này: “Thầy Năm Tú lập gánh hát chơi chứ không chú trọng nhiều về mặt kinh doanh và sống với anh em nghệ sĩ rất tốt. Ông sắm cho gánh một chiếc ghe rất lớn, đào kép có thể ăn ở, tập tuồng ngay trong ghe. Năm 1922 ông đem gánh hát lên Sài Gòn biểu diễn tại Chợ Lớn. Ông còn có sáng kiến giới thiệu đào kép (tableau vivant) bằng cách cho đào kép ra chào khán giả trước khi biểu diễn”. Thầy Năm Tú cũng có quan điểm về nghệ danh của đào kép rất đơn giản rằng kép hát, đào hát cũng là người sống trong giang hồ, nên lấy quy củ giang hồ mà đặt tên. Để cái thứ trong gia đình trước cái tên là xong. Vì thế ông cũng tự đặt cho mình cái tên rất gần gũi là thầy Năm Tú.

Khi trò chuyện với GS.TS Trần Văn Khê, chúng tôi được biết ông là đồng hương của thầy Năm Tú, tức ở làng Vĩnh Kim, Mỹ Tho. GS Khê cho biết thêm thầy Năm Tú tên thật là Châu Văn Tú, có người gọi là Pierre Tú vì ông có quốc tịch Pháp, có vợ là cô Tám Hảo (em ruột cô Năm Thoàn là đào hát của gánh hát thầy Năm Tú). Ông là người hào hoa phong nhã, cũng là người Việt đầu tiên mua chiếc xe hơi tại nước Việt. Sau mấy năm nhờ có rạp hát và bán đĩa hát hái ra tiền nên sinh tật xài lớn. Sử sách không ghi rõ lý do gì nhưng thấy làm ăn ngày càng sa sút, đến nỗi phải bán rạp hát cho người khác.

“Mặc dù thầy Năm Tú không phải là kép hát nhưng có công xây dựng một rạp hát đầy đủ phương tiện, là một cơ ngơi xứng đáng cho những buổi diễn lớn. Ông lại có công gắn liền tên gánh hát của mình vào đĩa hát Pathé Phono và đã phổ biến lối hát cải lương đến những nơi hẻo lánh; đồng thời tạo điều kiện cho những đào, kép giỏi có chỗ hành nghề, xây dựng tên tuổi. Các nghệ sĩ lừng danh như Tám Danh, Ba Du, Năm Châu… đều coi thầy Năm Tú như một ân nhân, giúp họ bước chân vào nghề và tiến bộ trong nghệ thuật cải lương” – ông Khê nói.

Nhà văn Bình Nguyên Lộc nói thêm về đĩa hát thầy Năm Tú: “Lẽ dĩ nhiên là tuồng hát và ban hát của thầy Năm Tú được vô đĩa hết. Đĩa hát nào cũng khởi sự bằng câu “Alô! Bạn hát cải lương của thầy Năm Tú tại Mỹ Tho, ca cho Hãng Pathé Phono nghe chơi”. Nhớ bạn hát chứ không phải ban hát, có dấu nặng dưới chữ a, bạn có lẽ do bọn mà ra. Văn chương thật kỳ lạ. Tại sao không hát cho thính giả toàn quốc nghe mà chỉ hát cho Hãng Pathé Phono nghe? Và văn chương tuồng tích thì… À thôi, xin không phê bình, cứ trích thử một câu để hồn ma của Hãng Pathé Phono thưởng thức chơi: “Than ôi! Cầu ván chung chinh (chông chênh) nhịp bước, còn cái giải Bích Nguyên lai láng giọt sương”. Văn chương mùi mẫn như vậy nên các bà các cô nghe thì mủi lòng rơi lệ hết ráo, vì hay quá xá. Thế là máy hát bán chạy như tôm tươi. Dần dần các đĩa thầy Năm Tú ở Mỹ Tho được đưa vào thôn ổ vài cái câu khơi mào kỳ khôi ấy được từ thành thị đến thôn quê thuộc làu và đọc lên chơi cho vui miệng”.

Chuyện về đĩa hát thầy Năm Tú ở Mỹ Tho thời kỳ đó trở nên rất nổi tiếng khắp ba miền Bắc – Trung – Nam. Nhiều người Sài Gòn xem thầy Năm Tú như là một nhân vật, một sự kiện đặc biệt, đến mức khi hỏi về vật dụng khác cũng đề cập đến ông. Chẳng hạn: “Cái cà vạt của anh chắc đã sắm vào thời thầy Năm Tú phải không?”. Còn cách quảng cáo quê mùa của Thầy Năm Tú trên đĩa hát kiểu như: “Alô! Bạn hát cải lương của thầy Năm Tú ở tại Mỹ Tho, ca cho Hãng Pathé Phono nghe chơi! Tuồng Kỳ duyên tao ngộ. Alô! Tăng… tắng… tằng…tăng/ Than thở than, đất rộng ông trời dài/ Ra vô, lụy ứa châu mày”, thì ông được xem là tổ sư của ngành tiếp thị. Đó là việc ông có dụng ý bắt hãng đĩa này phải trực tiếp quảng cáo cho gánh hát của ông, nhờ vậy mà đâu đâu cũng biết tiếng gánh hát Thầy Năm Tú. Nhà thơ, nhà nghiên cứu Hoài Anh còn cho hay thời đó các nghệ sĩ của gánh hát Thầy Năm Tú được Hãng đĩa Pathé Phono mời thu đĩa đầu tiên.

Tuy nhiên về sau do thiếu vốn làm ăn nên gánh hát Thầy Năm Tú đã tan rã vào năm 1928. Việc sản xuất đĩa cũng bị dừng không lâu sau đó.

VÂN TRƯỜNG

 

 

Đúng như GS.TS Trần Văn Khê nói, sau sự kiện rạp hát cải lương ra đời và nghệ thuật cải lương được công chúng đón nhận nồng nhiệt thì thầy Năm Tú đã nghĩ ra cách khuếch trương tên tuổi của rạp hát mình; đồng thời truyền bá cải lương đi xa hơn. Khi đại diện Hãng đĩa hát Pathé Phono đến rạp Thầy Năm Tú xem cải lương thì họ rất hài lòng nên đồng ý ký hợp đồng với thầy Năm Tú sản xuất đĩa cải lương. Máy hát thầy Năm Tú có đặc trưng riêng là mang nhãn hiệu Con Chó; đĩa hát thì hiệu Con Gà Trống Đỏ. Đĩa hát có hai loại: phát tiếng Hoa cho người Hoa nghe và loại thứ hai phát tiếng Việt cho người VN. Do đĩa có dung lượng thấp nên mỗi tuồng cải lương phải in từ 6-12 đĩa. Lúc bấy giờ nhờ có máy hát đĩa nên nhiều người dân thuộc làu làu các bài ca mà các tài tử ca ở các gánh hát.

 http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/596594/rap-thay-nam-tu-va-vo-dien-dau-tien.html

_____________________

Kỳ tới: Gánh hát toàn nữ

THẾ HẠNH : Ngày xuân mạn đàm “Dây Rạch Giá” ở đất Kiên Giang


 
 Vẻ đẹp phương Nam

Ngày xuân mạn đàm “Dây Rạch Giá” ở đất Kiên Giang

 
Đờn ca tài tử (ĐCTT) là hoạt động văn hóa dân gian đặc trưng của vùng đất sông nước miệt vườn, trở thành cốt cách của người Nam Bộ xưa nay. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian này vẫn tồn tại và phát triển, gắn bó mật thiết trong đời sống tinh thần con người đất phương Nam. Hòa cùng nhịp sống sôi động, thời kỳ hội nhập, trong những năm qua, phong trào ĐCTT ở Kiên Giang đã và đang có nhiều hoạt động tích cực, góp phần xây dựng và phát huy nền văn hóa dân tộc.
“Dây Rạch Giá” vang bóng một thời:

Năm 1930 đến năm 1935 bài vọng cổ nhịp tư hoàn thiện và thịnh hành được phổ biến rộng rãi, nhiều vở cải lương được các thầy tuồng đưa vào tuồng tích của mình. Nhiều nghệ sĩ đã nổi tiếng qua bài vọng cổ nhịp tư. Thời gian đó, tại thị xã Rạch Giá có ông giáo Tiên, làm nghề dạy học lâu năm rất thích đờn ca hát xướng. Ông có cây đờn octavina (một loại đàn nhỏ, lên dây như cây măng-đô-lin, nhưng hình dáng của nó giống như cây đàn guitare). Ông giáo Tiên dùng cây octavina hòa tấu cùng mấy cây đàn cổ như tranh, bầu, kìm, cò… chơi nhạc vọng cổ. Một buổi chiều kia, trên bến sông Kiên, trước đông đảo bạn bè nghệ nhân tài tử ở Rạch Giá, ông giáo Tiên đứng lên xin độc tấu bản vọng cổ nhịp tư bằng cây đờn sở trường của mình. Tiếng đờn vừa dứt, những tràng pháo tay tán thưởng vang lên.

Khi cây đàn guitare từ Tây Ban Nha du nhập vào Việt Nam, không lâu sau được giũa phím thành cây đàn guitare phím lõm để chơi bản vọng cổ thì nhiều kiểu so dây cũng ra đời như: “dây Bạc Liêu”, “dây Long An”, “dây Sài Gòn”, “dây Ngân Giang” (Bảo Chánh), “dây Xề”, “day Lai”… hoặc gọi thẳng tên người cải biên ra cách so dây như: “dây Văn Vĩ”, “Văn Giỏi”, “Hoàng Thành”… Đặc biệt, có một kiểu so dây từ cây đàn octavina được đặt là “Dây Rạch Giá”.

 

Nghệ sĩ Hoàng Nghiệp ca tại CLB Phù Sa – Kiên Giang

Khoảng năm 1962, 1963, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ở Tây Nam bộ, nhiều cuộc liên hoan văn nghệ ở cơ quan trong rừng sâu hoặc ngoài địa phương, người ta vẫn so dây đờn theo kiểu “dây Rạch Giá”. Ký ức tuổi trẻ của tôi nghe tiếng đàn ấy mùi mẫn thâm trầm. Mỗi chữ đờn nghe chơn chất, mộc mạc, dịu hiền như cô gái vùng biển mặn mà.

Thời gian trên, ở Rạch Giá có ông Sáu Oanh biết đờn ca tài tử, có tay nghề thợ mộc rất khéo. Sau khi nghiên cứu tìm tòi, ông bèn đóng thử cây đàn Tây Ban Cầm phím lõm. Cây đàn đầu tay đạt kết quả rất đáng mừng, tất nhiên cũng còn vài điểm chưa hài lòng. Bạn bè trong giới chơi tài tử lâu năm, có nhiều kinh nghiệm, tấm tắc khen cây đàn vừa đóng của ông Sáu Oanh. Thế là ông Sáu chuyên đóng đàn guitare, bán cho giới ưa thích chơi tài tử. Không bao lâu sau, tiệm đóng đờn “Sơn Ca” tọa lạc ở cua quẹo Cây Cồng, gần cầu Quay (An Hòa), nay là khu phố 2, phường An Hòa, TP.Rạch Giá đã thành danh. Tiệm đóng đờn “Sơn Ca” còn đóng cả đờn kìm (Nguyệt).

Ông Sáu Oanh là bạn chơi đờn ca tài tử lâu nay rất thân với ông Tám Luông (Dương Văn Luông). Biết cây đàn kìm của ông Tám Luông đang chơi là do ông tự làm lại bộ phím bằng gốc cây tre gai rất cứng nhưng lâu ngày lại không lún. Bộ phím bằng gốc tre gai lên nước, chỉ đen ngời, bóng loáng rất đẹp. Ông Sáu Oanh liền bàn bạc với ông Tám Luông, thỏa thuận: Ông Sáu Oanh đóng xong cây đờn kìm thì ông Tám Luông tiện phím và gắn vào cần. Cây đờn kìm được sản xuất ở tiệm “Sơn Ca” có điểm đặc biệt là mặt thùng trước toàn làm bằng gỗ ngô đồng, mặt thùng sau, vành và cần đờn toàn bằng cây trắc, trong thùng có gắn chuông, khi nhấn phím mạnh kêu reng reng.

Cả cây đờn kìm và cây đàn guitare của tiệm “Sơn Ca” lúc bấy giờ kêu cả thùng và kêu cả dây nên người chơi đờn rất thích đến mua ở tiệm này. Tiếng tăm của tiệm đờn “Sơn Ca” không chỉ nổi tiếng ở tỉnh Rạch Giá mà khắp các tỉnh thành trong khu vực. Trên cây đờn guitare phím lõm đã có rất nhiều nhạc sĩ biến hóa thành công nhiều kiểu lên dây, nhưng phải nói dây Rạch Giá là một thành công lớn của ông giáo Tiên và tiệm đóng đờn “Sơn Ca” của ông Sáu Oanh đã cung cấp nhạc cụ chơi tài tử cho giới mộ điệu cầm ca lúc bấy giờ. Hiện nay “dây Rạch Giá” và tiệm đờn “Sơn Ca” không còn nhưng giới tài tử khi nhắc tới ai cũng biết.

Tìm giải pháp cho đờn ca tài tử

Sau một thời gian lắng dịu, gần đây phong trào đờn ca tài tử ở Kiên Giang bắt đầu có những tín hiệu đáng mừng. Nhiều nhóm, câu lạc bộ đờn ca tài tử được củng cố, hoạt động trở lại. Ở Rạch Giá có nhóm của anh Nguyễn Hoàng Vũ, Nguyễn Hoàng Thắng, nhóm của anh Võ Trường Đấu, nhóm ở An Hòa, Rạch Sỏi, Vĩnh Hiệp….Ở các huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, Giồng Riềng, Hòn Đất, Kiên Lương, Kiên Hải…..đều có câu lạc bộ hoặc nhóm đờn ca tài tử. Hàng năm, đã có nhiều cuộc thi, giao lưu dành cho ĐCTT từ tỉnh đến huyện. Theo thống kế đến nay trong toàn tỉnh Kiên Giang có trên 157 câu lạc bộ ĐCTT hoạt động rộng khắp trong tỉnh. Ngày 16/11/2010, tại Trung tâm Văn hóa tỉnh, Viện Âm nhạc Việt Nam đã tổ chức tọa đàm “Nghệ thuật đờn ca tài tử”, Nghệ sĩ Xuân Trọn – Trưởng Đoàn Cải Lương Nhân dân Kiên Giang có bài “Dây Rạch Giá ra đời trên đất Kiên Giang”.

 

CLB Phù Sa – Kiên Giang luôn thu hút động người mê ĐCTT đến sinh hoạt.

Hiện nay, Trường Nghiệp Văn hóa tỉnh và Trung tâm Văn hóa tỉnh thường xuyên mở các lớp dạy, sinh hoạt đờn ca tài tử. CLB đờn ca tài tử “Phù Sa – Kiên Giang” do anh Nguyễn Hoàng Vũ, tại số 30 đường Tôn Đức Thắng (Khu lấn biển) phường Vĩnh Lạc, TP Rạch Giá là nơi sinh hoạt hàng đêm, quy tụ anh chị em yêu thích đờn ca tài tử; biểu diễn, giao lưu, phục vụ và trao đổi về chuyên môn.

 

Theo nghệ sĩ Kim Khoa diễn viên Trung tâm Văn hóa tỉnh cho biết: “Mừng Xuân Nhâm Thìn 2012, Mùng 3 Tết Trung tâm Văn hóa tổ chức giao lưu các nghệ nhân và CLB đơn ca tài tử trong tỉnh. Trong thời gian qua, có nhiều khách du lịch đã đề nghị có chương trình ĐCTT vào trong tour du lịch sẽ hấp dẫn hơn với du lịch sông nước. Chính từ những nhu cầu trên mà Trung tâm Văn hóa tỉnh đã có động thái tích cực hơn bằng cách chỉ đạo cho phòng nghiệp vụ tìm phương pháp để có mô hình thích hợp hoạt động. Trung tâm đang có kế hoạch tổ chức định kỳ hàng tháng ở Công viên Nguyễn Trung Trực nhằm duy trì phát triển những người yêu mến bộ môn ĐCTT. Mỗi đêm ban tài tử sẽ biểu diễn một chương trình có chủ đề, có dàn dựng chu đáo để cho du khách được thưởng thức một chương trình nghệ thuật nghiêm túc, tạo được cảm xúc và gây được ấn tượng với du khách khi đến với Kiên Giang”.

Hy vọng đây sẽ là động lực tích cực để phát triển bộ môn ĐCTT ở Kiên Giang làm cho Dây đờn Rạch Giá sống lại một thời không bị lãng quên nhất là khi nghệ thuật ĐCTT đang trên hành trình được UNESCO công nhận đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

 Thế Hạnh

MINH THƠ : “Dây Rạch Giá” và tiệm đóng đờn Sơn Ca ở Kiên Giang


“Dây Rạch Giá” và tiệm đóng đờn Sơn Ca ở Kiên Giang
Thứ bảy, 09/07/2011 20 giờ 47 GMT+0
 

Câu lạc bộ Đờn ca tài tử Tây Đô trình diễn.

Nếu không có bản vọng cổ, thì sẽ không có dây đờn Rạch Giá, gọi tắt là “Dây Rạch Giá”. Đó là tên gọi một số cách so dây trên cây đàn guitare phím lõm người ta đặt ra: “dây Xề”, “dây Sài Gòn”, “dây Tứ nguyệt”, “dây Ngân Giang”… Xin ngược dòng lịch sử xem lại sự phát triển của bài vọng cổ từ bản Dạ cổ Hoài Lang, để tìm hiểu về “dây Rạch Giá”.

 

Đêm rằm (15) tháng 8 năm 1919, tại làng Vĩnh Hương, tổng Thạnh Hòa, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường 2, thị xã Bạc Liêu), ông Cao Văn Lầu đã công bố bản Dạ cổ Hoài lang trước đông đảo nhạc sĩ, nghệ nhân và những người mến mộ tài tử ở Bạc Liêu.

Không lâu sau bài Dạ cổ Hoài lang được đổi tên và tăng nhịp.

Việc đổi tên Dạ cổ Hoài Lang thành Vọng cổ hoài lang phải nói đến công lao góp ý của ông thầy Thống (tức Trần Xuân Thơ). Từ nhịp đôi nguyên thủy, ông Trần Xuân Thơ góp ý, ông Cao Văn Lầu tăng nhịp lên từ khoảng năm 1925. Từ năm 1926 đến 1935, ông Huỳnh Thủy Trung (Tư Chơi) viết lời ca vọng cổ nhịp tư đầu tiên là bài: “Tiếng nhạn kêu sương”, lời ca rằng: “Nhạn đành kêu sương nơi biển bắc (câu 1). Én cam khóc phận dưới trời nam (câu 2)”… Các soạn giả sân khấu cải lương đã sử dụng khá thành công bài vọng cổ nhịp tư trong các vở tuồng của mình.

Năm 1936 đến 1945, bài vọng cổ nhịp tư được tăng lên nhịp tám. Người đi đầu trong việc tăng nhịp này là ông Lưu Hoài Nghĩa, nổi danh với bài “Văng vẳng tiếng chuông chùa”.

Năm 1946 đến 1954 bài vọng cổ nhịp tám tăng lên nhịp mười sáu. Người thành danh nhất trong bài vọng cổ nhịp 16 là Út Trà Ôn, ông đã đưa điệu nói thơ Vân Tiên, ngâm tao đàn và những câu hò vào trong bài vọng cổ “Tôn Tẩn giả điên” ở câu 11, 12 và câu 13.

Từ năm 1995, bản vọng cổ nhịp 32 được coi là tiêu chuẩn hiện nay, mặc dù cũng đã xuất hiện bản 64 hoặc 128 nhịp.

* * *

Năm 1930 đến năm 1935 bài vọng cổ nhịp tư hoàn thiện và thịnh hành được phổ biến rộng rãi, nhiều vở cải lương được các thầy tuồng đưa vào tuồng tích của mình. Nhiều nghệ sĩ đã nổi tiếng qua bài vọng cổ nhịp tư.

Thời gian đó, tại thị xã Rạch Giá có ông giáo Tiên, làm nghề dạy học lâu năm rất thích đờn ca hát xướng. Ông có cây đờn octavina (một loại đàn nhỏ, lên dây như cây măng-đô-lin, nhưng hình dáng của nó giống như cây đàn guitare). Ông giáo Tiên dùng cây octavina hòa tấu cùng mấy cây đàn cổ như tranh, bầu, kìm, cò… chơi nhạc vọng cổ.

Một buổi chiều kia, trên bến sông Kiên, trước đông đảo bạn bè nghệ nhân tài tử ở Rạch Giá, ông giáo Tiên đứng lên xin độc tấu bản vọng cổ nhịp tư bằng cây đờn sở trường của mình. Tiếng đờn vừa dứt, những tràng pháo tay tán thưởng rộ lên.

Khi cây đàn guitare từ Tây Ban Nha du nhập vào Việt Nam, không lâu sau được giũa phím thành cây đàn guitare phím lõm để chơi bản vọng cổ thì nhiều kiểu so dây cũng ra đời như: “dây Bạc Liêu”, “dây Long An”, “dây Sài Gòn”, “dây Ngân Giang” (Bảo Chánh), “dây Xề”, “day Lai”… hoặc gọi thẳng tên người cải biên ra cách so dây như: “dây Văn Vĩ”, “Văn Giỏi”, “Hoàng Thành”… Đặc biệt, có một kiểu so dây từ cây đàn octavina được đặt là “Dây Rạch Giá”.

Khoảng năm 1962, 1963, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ở Tây Nam bộ, nhiều cuộc liên hoan văn nghệ ở cơ quan trong rừng sâu hoặc ngoài địa phương, người ta vẫn so dây đờn theo kiểu “dây Rạch Giá”. Ký ức tuổi trẻ của tôi nghe tiếng đàn ấy mùi mẫn thâm trầm. Mỗi chữ đờn nghe chơn chất, mộc mạc, dịu hiền như cô gái vùng biển mặn mà.

* * *

Thời gian trên, ở Rạch Giá có ông Sáu Oanh biết đờn ca tài tử, có tay nghề thợ mộc rất khéo. Sau khi nghiên cứu tìm tòi, ông bèn đóng thử cây đàn Tây Ban Cầm phím lõm. Cây đàn đầu tay đạt kết quả rất đáng mừng, tất nhiên cũng còn vài điểm chưa hài lòng. Bạn bè trong giới chơi tài tử lâu năm, có nhiều kinh nghiệm, tấm tắc khen cây đàn vừa đóng của ông Sáu Oanh. Thế là ông Sáu chuyên đóng đàn guitare, bán cho giới ưa thích chơi tài tử. Không bao lâu sau, tiệm đóng đờn “Sơn Ca” tọa lạc ở cua quẹo Cây Cồng, gần cầu Quây (hồi đó chỗ cua quẹo có cây cồng rất to), nay là khu phố 2, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá đã thành danh. Tiệm đóng đờn “Sơn Ca” còn đóng cả đờn kìm (Nguyệt).

Ông Sáu Oanh là bạn chơi đờn ca tài tử lâu nay rất thân với ông Tám Luông (Dương Văn Luông). Biết cây đàn kìm của ông Tám Luông đang chơi là do ông tự làm lại bộ phím bằng gốc cây tre gai, vừa cứng, nhưng lâu ngày lại không lún. Bộ phím bằng gốc tre gai lên nước, chỉ đen ngời, bóng loáng rất đẹp. Ông Sáu Oanh liền bàn bạc với ông Tám Luông, thỏa thuận: Ông Sáu Oanh đóng xong cây đờn kìm thì ông Tám Luông tiện phím và gắn vào cần.

Cây đờn kìm được sản xuất ở tiệm “Sơn Ca” có điểm đặc biệt là mặt thùng trước toàn làm bằng gỗ ngô đồng, mặt thùng sau, vành và cần đờn toàn bằng cây trắc, trong thùng có gắn chuông, khi nhấn phím mạnh kêu reng reng.

Cả cây đờn kìm và cây đàn guitare của tiệm “Sơn Ca” lúc bấy giờ kêu cả thùng và kêu cả dây nên người chơi đờn rất thích đến mua ở tiệm này. Tiếng tăm của tiệm đờn “Sơn Ca” không chỉ nổi tiếng ở tỉnh Rạch Giá mà khắp Sài Gòn, lục tỉnh.

Trên cây đờn guitare phím lõm đã có rất nhiều nhạc sĩ biến hóa thành công nhiều kiểu lên dây, nhưng phải nói dây Rạch Giá là một thành công lớn của ông giáo Tiên và tiệm đóng đờn “Sơn Ca” của ông Sáu Oanh đã cung cấp nhạc cụ chơi tài tử cho giới mộ điệu cầm ca khắp Sài Gòn lục tỉnh lúc bấy giờ.

Buồn thay, hiện nay “dây Rạch Giá” dường như không còn dư âm trên đất Kiên Giang.

Bài, ảnh: MINH THƠ

http://baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=302&p=&id=83362

TRUNG NGHĨA : Dựng Tiếng trống Mê Linh vì quá thương kính “bà nội 3”


Dựng Tiếng trống Mê Linh vì quá thương kính “bà nội 3”

20/02/2014 09:46 (GMT + 7)
 
 
TT – 26 tuổi, đi diễn kịch từ năm 14 tuổi và tập tành làm bầu sô văn nghệ năm 20 tuổi, diễn viên Gia Bảo giờ đây đứng trước một thử thách lớn lao: tổ chức lại hai tuồng cải lương kinh điển Tiếng trống Mê Linhvà Bên cầu dệt lụa.

Hai tuồng cải lương kinh điển Tiếng trống Mê Linh và Bên cầu dệt lụa diễn ra tại NH Bến Thành từ 1-3.

Gia Bảo nói: “Vì tôi quá thương kính “bà nội 3″ của mình!” (Bảo là cháu nội nghệ sĩ Bảo Quốc – em ruột của cố nghệ sĩ Thanh Nga – nên trong gia tộc con cháu thường gọi Thanh Nga là “bà nội 3”).

Thuận lợi nhiều – bởi mọi người dường như ai cũng yêu mến đoàn Thanh Minh vàng son một thuở, những tên tuổi dòng họ như bà bầu Thơ, Thanh Nga, Bảo Quốc, Hữu Châu… nên 99% nghệ sĩ đều nhận lời mời tham gia biểu diễn. Ngay cả nghệ sĩ Thanh Tú sức khỏe kém cũng ráng quay clip hình chia sẻ. Khó khăn cũng không ít, từ kinh phí tổ chức (khoảng 1,2 tỉ đồng – là tất cả số tiền mà Gia Bảo để dành được từ đi diễn suốt nhiều năm qua) đến việc… nín thở chờ đợi từ hầu bao công chúng có nặng tình với cải lương để mua vé hay không.

Rất may là mười ngày trước suất diễn đầu tiên mở màn, Gia Bảo đã rung kính cận, tươi cười nói: “Hai suất đầu gần sạch vé, hai suất sau bà con mua hết nửa rạp rồi anh ạ”.

Bảo nói bây giờ điều mọi người lo nhất là làm sao chất lượng nghệ thuật phải thật xuất sắc để không phụ tình khán giả. Ban đầu Bảo không diễn vai nào vì nghĩ mình cần tập trung vai trò tổ chức. Song khi ông nội (Bảo Quốc) truyền đạt “cả nhà nên tham gia vì kỷ niệm, vì thế hệ sau phải biết kế thừa những vai diễn thì nhân vật và vở diễn đó mới sống hoài với khán giả” thì Bảo cũng tập tuồng – với vai lính hầu!

Ngay cả bác của Bảo – NSƯT Hữu Châu và chú Hà Linh sau vai diễn chính của họ cũng sẵn sàng đóng thêm vai lính hầu mà không nề hà “tên tuổi” gì cả. “Mọi người muốn trả hiếu cho dòng họ và tình yêu son sắt với đoàn Thanh Minh Thanh Nga… Mà khi yêu thật sự người ta luôn thấy mình nhỏ bé!” – Bảo nói.

Ngoài phòng vé, khán giả ùn ùn đến mua. Cải lương như được trở mình sau những năm im ắng. Có khán giả mua vé và nói: “Cải lương không thể nào chết đâu, trong lòng mỗi người Nam bộ đều có dòng máu cải lương”. Có thể vì nhiều năm nay không có những vở thật hay, không có dịp tái hợp từ những tài năng lớn, nhưng khi cá đã gặp nước rồi thì vượt vũ môn.

“Có thể sau bốn suất đầu tiên ở TP.HCM, các suất tiếp theo sẽ lưu diễn miền Trung, miền Bắc” – Gia Bảo hi vọng về một “chút tình gửi lại nhân gian”.

TRUNG NGHĨA

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/594599/dung-tieng-trong-me-linh-vi-qua-thuong-kinh-ba-noi-3.html

Từ gánh hát Đồng Nữ Ban đến cải lương hôm nay


Từ gánh hát Đồng Nữ Ban đến cải lương hôm nay

Posted on 26/01 by 

Như tin đã đưa, ngày 18.1, UBND tỉnh Tiền Giang đã tổ chức chuỗi các sự kiện kỉ niệm nghệ thuật ĐCTT Nam Bộ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; Sự hình thành và phát triển nghệ thuật cải lương của Nam Bộ.

 

Nhiều hoạt động đã diễn ra: Triển lãm và Tọa đàm khoa học “Tiền Giang với nghệ thuật cải lương” và đêm sân khấu hóa với nhiều trích đoạn và hoạt cảnh tiêu biểu phác họa lại quá trình hình thành gần một thế kỉ của sân khấu cải lương…

NSƯT Bảo Quốc (vai Hội đồng Thăng) và NSND Bạch Tuyết (vai cô Lựu) trong vở Đời cô Lựu – Ảnh: H.K

Khẳng định cái nôi cải lương Nam Bộ

Tọa đàm “Tiền Giang với nghệ thuật sân khấu cải lương” đã thu hút sự tham gia của hơn 100 đại biểu là các nhà nghiên cứu, các nghệ sĩ, soạn giả, thầy đờn… của Tiền Giang, TP.HCM và nhiều tỉnh ĐBSCL về tham dự như GS.TS Trần Văn Khê, NSND Bạch Tuyết, NSND Kim Cương…

15 tham luận tại tọa đàm đều làm sáng rõ và khẳng định thêm Tiền Giang là cái nôi của cải lương Nam Bộ. Từ khi rạp cải lương đầu tiên xuất hiện tại Mỹ Tho từ năm 1918 và vở cải lương đầu tiên, nơi ra đời đĩa hát cải lương đầu tiên, đóng góp nhiều nghệ sĩ nổi tiếng… đến nay đã gần một thế kỉ trôi qua. Sự phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật cải lương không thể không nhắc đến sự lớn mạnh từ phong trào ĐCTT.

Ông Trần Thanh Đức – Phó Chủ tịch UBND Tiền Giang cho rằng: “Các “nhạc sư” đầy tâm huyết dạy những ngón nghề về nhạc lễ, rồi sau đó là nhạc tài tử cho lớp trẻ ở Mỹ Tho thời bấy giờ, trong đó nổi lên tên tuổi Phan Hiển Đạo, Tôn Thọ Tường, Trần Quang Thọ, Trần Quang Diệm, Trần Văn Chiều (Bảy Triều) là ông cố, ông nội và cha của GS.TS Trần Văn Khê; Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) cùng nhiều nhạc sĩ, ca sĩ khác tạo ra một loại nhạc mới là nhạc tài tử, phát triển loại nhạc này để hình thành ĐCTT có ca ra bộ, tiền thân của sân khấu cải lương”.

GS.TS Trần Văn Khê đã trình bày sự hình thành của sân khấu cải lương đầu tiên từ gánh hát của thầy Năm Tú, gánh Huỳnh Kỳ…, đặc biệt là sự ra đời của gánh hát Đồng Nữ Ban. GS nhấn mạnh đến giai đoạn hình thành gánh hát Đồng Nữ Ban để khẳng định sự phát triển mạnh mẽ của các gánh hát ở Tiền Giang.

Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên khẳng định rằng: “Mỹ Tho là nơi TS Phan Hiển Đạo đã truyền dạy nhạc Huế cho các môn sinh của mình, hai dòng họ Trần – Nguyễn của làng Vĩnh Kim Đông tỏa sáng trong nghệ thuật cầm ca, nơi cô Ba Đắc khởi xướng lối ca có lời đối đáp bằng những giọng khác nhau… Tất cả cho thấy một truyền thống văn hóa được xác lập. Đó là bằng chứng không thể phủ nhận Mỹ Tho là nơi xướng xuất ra nghệ thuật ĐCTT và sân khấu cải lương”…

Sân khấu cải lương và nỗi niềm…

Hội trường Ấp Bắc và Bến tàu Du lịch tỉnh Tiền Giang đông kín khán giả bởi chương trình nghệ thuật sân khấu hóa “Tiền Giang – cái nôi của nghệ thuật cải lương” đêm 18.1.

Trên sân khấu, từng hoạt cảnh tái hiện toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của cải lương Nam Bộ. Từ thuở khai hoang mở cõi, nhạc cung đình Huế đã được truyền dạy tại Nam Bộ là yếu tố cho sự hình thành ĐCTT. Từ ĐCTT dẫn đến sự ra đời của ca ra bộ, điển hình thời bấy giờ là bản Tứ Đại Oán “Bùi Kiệm – Nguyệt Nga”.

Ca ra bộ lại là tiền đề cho sự phát triển thành sân khấu cải lương. Một lần nữa những ca cổ, trích đoạn trong “Nghêu sò ốc hến”; “Đời cô Lựu”; “Tô Ánh Nguyệt”, “Cờ nghĩa giồng Sơn Quy” qua diễn xuất của các NSƯT Minh Vương, NSND Bạch Tuyết, Thanh Điền, Thanh Kim Huệ, Đào Vũ Thanh, Cẩm Tiên, Nhơn Hậu… vẫn khiến người xem xúc động, khóc cười với nhân vật.

Nhiều câu hỏi đặt ra, vì sao những tác phẩm này đến tận bây giờ khi xem lại, khán giả vẫn ngậm ngùi, xúc động và tán thưởng? Nhìn thẳng vào thực tế, nhiều người làm nghề cho rằng, kịch bản chính là vấn đề. NSND Bạch Tuyết cho rằng: “Kịch bản cải lương hiện nay vẫn luôn là nỗi khắc khoải của những người làm nghề. Không có kịch bản hay mà phần lớn chuyển từ kịch nói. Trước đây các đoàn hát đều có thầy tuồng, viết “đo ni đóng giày” tạo nên những tên tuổi cho nhiều nghệ sĩ có bản sắc riêng. Ngày nay thiếu đi đội ngũ biên kịch am hiểu, chuyên sâu về các bản cải lương. Đó là lí do các đoàn tận dụng các kịch bản kịch nói để chuyển thể…”.

(Theo Báo Văn hóa)

– See more at: http://www.tranvankhe.vn/2014/01/26/t%e1%bb%ab-ganh-hat-d%e1%bb%93ng-n%e1%bb%af-ban-d%e1%ba%bfn-c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng-hom-nay/#sthash.mxSHvyGE.dpuf

http://www.tranvankhe.vn/2014/01/26/t%E1%BB%AB-ganh-hat-d%E1%BB%93ng-n%E1%BB%AF-ban-d%E1%BA%BFn-c%E1%BA%A3i-l%C6%B0%C6%A1ng-hom-nay/

CHƯƠNG TRÌNH TÀI TỬ CẢI LƯƠNG BẠC LIÊU năm 2013 www.thbl.vn (Truyền hình Bạc Liêu)


CHƯƠNG TRÌNH TÀI TỬ CẢI LƯƠNG BẠC LIÊU năm 2013  www.thbl.vn (Truyền hình Bạc Liêu)

1. Chương trình tài tử cải lương Bạc Liêu, tập 1

http://thbl.vn/?p=17451

2. Chương trình tài tử cải lương Bạc Liêu, tập 2

http://thbl.vn/?p=17825

3. Chương trình tài tử cải lương Bạc Liêu, tập 3

http://thbl.vn/?p=18486

4. Chương trình tài tử cải lương Bạc Liêu, tập 4

http://thbl.vn/?p=19174

5. Chương trình tài tử cải lương Bạc Liêu, tập 5

http://thbl.vn/?p=19526

6. Chương trình tài tử cải lương Bạc Liêu, tập 6

http://thbl.vn/?p=20184

7. Chương trình tài tử cải lương Bạc Liêu, tập 7

http://thbl.vn/?p=20689

8. Chương trình tài tử cải lương Bạc Liêu, tập 8

http://thbl.vn/?p=21563

10. Chương trình tài tử cải lương Bạc Liêu, tập 10

http://thbl.vn/?p=12662

11.Chương trình tài tử cải lương Bạc Liêu, tập 11

http://thbl.vn/?p=13354

Image