PHẠM ANH : CHIÊNG BUAR BÍ ẨN


Chiêng Buar bí ẩn

 

Người Xê Đăng nhánh Sơđră ở xã Ngọc Réo, H.Đăk Hà (Kon Tum) có một bộ chiêng Buar “độc nhất vô nhị”. Bộ chiêng này cứ vài năm thì mang ra đánh một lần, nhưng có khi đến 4-5 năm, đồng bào nơi đây mới đưa chiêng này ra đánh tại lễ hội lớn nhất của dân tộc mình, rồi cất kỹ.

 Lá chiêng Buar của bà Y Jyang ở làng Kon Rôn Lá chiêng Buar của bà Y Jyang ở làng Kon Rôn – Ảnh: Phạm Anh
“Cho sờ, không cho đánh”
Dẫn khách đến một ngôi nhà mái ngói ở giữa làng Kon Rôn, xã Ngọc Réo, H.Đăk Hà, anh U Rớp, cán bộ phụ trách văn hóa – xã hội của xã giới thiệu: “Đây là nhà của già Y Jyang, còn giữ một lá chiêng gọi là y kor. Mình vào hỏi, nếu chủ nhà cho phép mới mang nó ra được, nhưng phải để ở trong nhà, không được đưa ra ngoài sân”. Chừng 5 phút, bà Y Jyang (70 tuổi) từ trên sàn nhà đi ra, tay cầm chiếc chiêng và dùi đánh. Chiếc chiêng này đường kính chừng 0,3 m, không có núm, cầm trên tay thấy nằng nặng. Khi tôi định cầm dùi đánh chiêng thì bà Y Jyang liền lên tiếng: “Cho sờ thôi, không cho đánh đâu!”. Hỏi ra mới hay, vì “nể nang” nhà báo lắm nên bà mới mang chiêng ra cho mục sở thị, chụp hình, sờ mó, còn ngày thường, cha mẹ cất chiêng chỗ nào, con cái chỉ biết thôi, không dám tự lấy chiêng ra. U Rớp rỉ tai tôi: “Ngay cả chủ lá chiêng này cũng không dám tự đánh, bởi sẽ bị làng phạt rất nặng. Lúc nãy lấy chiêng ra cũng phải khấn xin chiêng đó”.
Cách nhà bà Y Jyang chừng 500 m, vợ chồng U Dộr và Y Uâ (cả 2 cùng 56 tuổi) cũng đang giữ lá chiêng gọi là y thiêng. Trưa hôm ấy đến nhà này, tôi cùng U Rớp phải đợi rất lâu, vợ chồng họ mới đưa chiếc chiêng quý cho xem vì phải làm “thủ tục” xin chiêng. Bề ngoài nó cũng giống chiêng của bà Y Jyang nhưng mang tên khác. Bà Y Uâ kể, nhà có 5 anh em, bà là con út. Khi ba mẹ mất đi, chưa kịp giao chiêng quý cho ai mà Y Uâ đang ở với ba, mẹ nên được giữ chiêng này từ năm 17 tuổi. Theo phong tục đồng bào Sơđră, chiêng này chỉ giao cho con trai, gái trong nhà, còn dâu và rể thì không được giữ nó, và việc giao chiêng cũng rất cầu kỳ, trong đó có vài điều bí ẩn khó hiểu.
U Rớp nói cha của anh vốn là già làng uy tín ở đây kể lại rằng, bộ chiêng thiêng Buar được đồng bào của anh xem là báu vật. Bộ chiêng này vốn có 3 chiếc, ngày xưa phải mua lại từ 5-10 con trâu, nhưng không phải làng nào cũng may mắn có được. Đến bây giờ, khắp cộng đồng người Sơđră chỉ có làng Kon Rôn còn 2 chiếc mà thôi. Muốn đánh chiêng này, ngay cả chủ lá chiêng chỉ được đánh “lễ” trong lễ tỉa lúa mới, “nghĩa là trước khi khai lễ, mang chiêng ra nhưng chỉ đánh vài tiếng rồi cất kỹ”.
Người trong làng, trong xã muốn thấy và đánh được chiêng này thì phải đợi đến lễ hội Ting Pêng (lễ bắn trâu), lễ hội lớn nhất của người Sơđră. Đây là lễ hội xuất phát từ quan niệm trả nợ thần linh, mới mang chiêng Buar ra đánh. Già U Thông (77 tuổi) ở làng Kon Rôn cho biết: lễ hội này cúng trâu, dê, lợn và gà. Trước khi đánh chiêng khai lễ hội, dân làng phải lấy máu của tất cả các vật cúng Yàng rồi bôi lên bộ chiêng này, khấn vái chiêng hãy “ăn” đi, hãy mang lòng thành khẩn của dân làng “nói” với Yàng, phù hộ cho dân làng khỏe mạnh, không đau ốm bệnh tật, mùa màng tốt tươi. “Có khi mỗi năm tổ chức một lần, nhưng có khi đến 4-5 năm mới có lễ Ting Pêng, người làng mới thấy được bộ chiêng Buar”, già U Thông nói.
Bí ẩn cách chọn người giữ chiêng
Buổi chiều ở làng Kon Rôn, lá rừng nhuộm sẫm đường làng cũng là lúc men rượu ghè chuếnh choáng. Chuyện phong tục và cách truyền người giữ chiêng Buar được già U Thông say sưa kể lại. “Trước đây, chỗ cất chiêng chỉ có đàn ông được bước vào, còn đám đàn bà thì cấm tuyệt đối. Việc truyền chiêng cũng chỉ truyền cho con trai thôi, con gái và người ngoài, kể cả trong dòng tộc cũng không được đâu. Bây giờ phong tục thay đổi rồi, khác xưa ở chỗ chiêng cũng truyền được cho con gái”, mắt già U Thông nhìn thấu vào bóng rừng đêm, kể chuyện như nói với chính mình. Rằng, người cha trong nhà không phải muốn truyền cho đứa con nào trong nhà cũng được, “chỉ có Yàng cho ai thì người đến được giữ”.
Già U Thông giới thiệu cách truyền chiêng Già U Thông giới thiệu cách truyền chiêng – Ảnh: Phạm Anh
Quan niệm của người Sơđră cho rằng, chiêng Buar luôn có “linh hồn”. Vì vậy chọn ai giữ chiêng thì phải tuân thủ theo phong tục. Theo đó, cách mà đồng bào Sơđră thường sử dụng là đi vào rừng tìm cây lá thuốc (giống như cây nghệ, cũng là một cây thiêng), đào lấy củ to bằng ngón tay cái mang về và dùng dao (cũng là dao thiêng) chẻ đôi củ thuốc ra. Ngày chọn người giữ chiêng, người cha kêu các con trai lại ngồi giữa sàn nhà, rồi mang củ thuốc ra đi đến trước mặt từng đứa con trai khấn vái. Sau đó người cha thả củ thuốc xuống bàn tay hay sàn chiếu (như cách xin keo của người Kinh), nếu 2 miếng của củ thuốc một sấp, một ngửa rơi vào đứa con trai nào và được cả 3 lần liên tục thì người đó được chọn giữ chiêng Buar.
Tuy nhiên, cách chọn người giữ chiêng nói trên chưa được xem là bí ẩn, cách đo sải tay mới lạ. Ấy là những đứa con trai trong gia đình phải đo sải tay trên nhánh cây “danh” từ mút đầu hai ngón tay giữa. Đo xong thì lấy sợi dây buộc ở đầu mút tầm của 2 ngón tay trên cây này. Sau đó, đo 3 lần, nếu ai đo đúng như thế thì được giữ chiêng. U Thông bảo, cũng đo tại chỗ, không ai dám kéo ra hay sụt vào sợi dây buộc ở hai đầu mút, nhưng có nhiều người đo lại 2-3 lần vẫn không trùng như cũ. Hay như cách chọn người giữ chiêng bằng gang tay cũng thế. Người cha dùng gang tay của mình gang từ mút vai bên phải (hoặc trái) sang đầu mút ngón tay giữa cánh tay trái (hoặc phải) bên kia 3 lần. Nếu cả 3 lần gang đều trùng nhau, không dư ra dù nửa lóng tay thì được chọn. Đồng bào Sơđră quan niệm đó là điều mà Yàng chọn, không cãi lại được.

Phạm Anh

http://www.thanhnien.com.vn/doi-song/nhip-song-dia-phuong/chieng-buar-bi-an-602088.html

>> UNESCO công nhận Khu dự trữ sinh quyển thế giới Lang Biang
>> Di sản Việt Nam tụ hội tại TP.HCM
>> Báu vật sống Tây nguyên – Kỳ 2: Người đưa cồng chiêng xuất ngoại
>> Xây dựng thương hiệu du lịch cho Buôn Ma Thuột

NAM VIÊN : Âm vang núi mẹ đại ngàn


Âm vang núi mẹ đại ngàn

Thứ tư, 30/04/2014, 23:54 (GMT+7)

(SGGP).- Trong 2 ngày 29 và 30-4, tại núi Langbian (huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng) đã diễn ra lễ hội văn hóa cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng 2014 chủ đề “Âm vang núi mẹ đại ngàn” với sự tham gia của 500 nghệ nhân người K’Ho, Mạ, Churu và M’Nông.

Nghi thức rước hồn chiêng.

Lễ hội có nhiều chương trình mang đậm chất văn hóa các dân tộc bản địa như tái hiện nghi lễ rước hồn chiêng, lễ hội “Mừng lúa mới”, diễn tấu cồng chiêng, tìm hiểu nguồn gốc và nhận diện bài chiêng. Trong khuôn khổ lễ hội còn có các trò chơi dân gian và đua ngựa khá thú vị trên đỉnh Langbian. Dịp này, tỉnh Lâm Đồng đã công bố quyết định công nhận 26 nghệ nhân cồng chiêng, nâng số nghệ nhân cồng chiêng được công nhận lên hơn 100 người.

Tin, ảnh: NAM VIÊN

http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2014/4/347979/

TRẦN VĨNH : Không gian văn hóa cồng chiêng sau tám năm trở thành Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại


Không gian văn hóa cồng chiêng sau tám năm trở thành Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại
 
Chủ nhật, 10/11/2013 – 08:11 PM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định    
 
 
Biểu diễn cồng chiêng trong lễ hội Tây Nguyên.
 
 
Biểu diễn cồng chiêng trong lễ hội Tây Nguyên.
 

Đã tròn tám năm kể từ khi Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại ngày 25-11-2005. Tám năm là khoảng thời gian không quá ít để có thể nói về diện mạo mới, sắc thái mới như kỳ vọng của các nhà quản lý văn hóa. Bên cạnh những kết quả ban đầu, cũng đã nảy sinh không ít vấn đề cần phải được quan tâm trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa cồng chiêng trong giai đoạn hiện nay.

 

Những tín hiệu đáng mừng

Từ năm 2006, các tỉnh Tây Nguyên đều đã có chủ trương xây dựng các đề án, dự án, chương trình về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng của tỉnh mình. Các tỉnh Đác Lắc, Đác Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum đã đưa đề án về bảo tồn, phát huy văn hóa cồng chiêng thông qua kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh và trở thành nghị quyết của tỉnh, đồng thời huy động khá nhiều nguồn lực tham gia, triển khai thực hiện các giải pháp cụ thể và thiết thực trong từng giai đoạn để bảo tồn, phát huy giá trị của văn hóa cồng chiêng. Các tỉnh Tây Nguyên đã tập trung triển khai công tác điều tra, thống kê toàn bộ cồng chiêng hiện có của các dân tộc bản địa sinh sống lâu đời trên địa bàn, đồng thời tiến hành phân loại cụ thể về chủng loại và số lượng các bộ cồng chiêng của từng dân tộc thiểu số để thực hiện việc bảo tồn và xây dựng kế hoạch phát huy giá trị trong đời sống văn hóa của đồng bào. Cũng từ năm 2006 đến nay, hàng loạt những hoạt động văn hóa, nghệ thuật dân gian có quy mô lớn mang tầm quốc gia và khu vực đã được tổ chức như: Liên hoan văn hóa Cồng chiêng quốc tế, Liên hoan văn hóa Cồng chiêng khu vực Tây Nguyên – miền trung, Liên hoan văn hóa Cồng chiêng cấp tỉnh trong khu vực… Ngoài ra, còn rất nhiều các loại hình liên hoan cồng chiêng, ngày hội văn hóa dân gian quy mô cấp huyện, cấp xã, cụm xã…

do các tỉnh Tây Nguyên tổ chức ở địa phương trong suốt tám năm qua.

Điều đáng mừng là trong số nghệ nhân diễn tấu cồng chiêng hiện nay, có đến hai phần ba đang ở độ tuổi thanh niên và có không ít những thiếu niên tuổi 13, 14. Đã có những dàn cồng chiêng mà “Nhạc trưởng” chỉ huy và cả dàn là những thanh niên còn rất trẻ! Họ thông thạo giai điệu tiết tấu, phương pháp diễn tấu hòa âm của cả dàn cồng chiêng 15-21 lá. Họ điều hành cả đội tập luyện theo phương thức truyền khẩu các bài chiêng dân gian một cách rất chững chạc và hiệu quả, bên cạnh sự hỗ trợ giúp đỡ của những người già.

Đấy chính là sức sống tươi trẻ và sự trường tồn của văn hóa cồng chiêng, một khi được tạo lập đầy đủ môi trường, điều kiện phát huy và có sự trân trọng giá trị đích thực trong đời sống tinh thần của đồng bào.

Thực tiễn sôi động trong sinh hoạt văn hóa cồng chiêng trong những năm 2006-2012 cho thấy sự phong phú đa dạng của các chủng loại cồng chiêng, của nghệ thuật diễn tấu hết sức độc đáo và sức sống của văn hóa cồng chiêng trong đời sống văn hóa tinh thần và tâm linh của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

Đắm mình trong không gian văn hóa dân gian truyền thống ấy mới thấy vai trò chủ đạo không thể thiếu của văn hóa cồng chiêng. Từ những nghệ nhân già, đầu bạc trắng đến những thiếu niên mới chỉ 13-14 tuổi, song đã rất chững chạc diễn tấu những lá cồng, lá chiêng một cách thành thục. Có bộ thì âm điệu trầm hùng, đĩnh đạc như là một sự giới thiệu về đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ, có bộ thì âm điệu lại réo rắt, nỉ non với những giai điệu, tiết tấu hòa quyện như những lời tự sự kể về những truyền thuyết, những câu chuyện về những dòng sông, con suối, cánh rừng, mùa màng, về đất và người Tây Nguyên… hết sức trữ tình, bằng ngôn ngữ âm thanh vô cùng độc đáo, chỉ riêng có ở nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng.

Kiểm chứng từ thực tiễn nêu trên để khẳng định một kết quả rất đáng phấn khởi sau khi được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, đó là sự chuyển biến trong nhận thức của đồng bào các dân tộc thiểu số – chủ nhân của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – thể hiện khá rõ trong đời sống cộng đồng. Sinh hoạt văn hóa cồng chiêng trong nhà Rông, trong cộng đồng dân cư, trong đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào đang dần dần quay trở lại. Ở các khu dân cư, cồng chiêng đang trở về vị trí chủ đạo vốn có của nó trong các sinh hoạt văn hóa dân gian của đồng bào. Khá nhiều thanh, thiếu niên ở các làng bản vốn bị hút hồn và mê mải với các loại nhạc cụ điện tử, nay đã có chiều hướng quay lại với nhạc cụ dân tộc cổ truyền, đặc biệt là cồng chiêng. Hiện, đang xuất hiện nhiều “lớp” truyền dạy đánh cồng chiêng bằng nhiều hình thức từ những người lớn tuổi cho đến lứa thanh, thiếu niên trong các làng, bản và đã có không ít các đội cồng chiêng thiếu niên diễn tấu khá bài bản những bài chiêng nghi lễ cổ truyền. Bởi vậy, văn hóa cồng chiêng có “đất” sống và được bảo tồn sống trong sinh hoạt cộng đồng, phát huy được giá trị cả về vật thể và phi vật thể. Cũng vì thế, nạn “chảy máu” cồng chiêng đã giảm hẳn trong thời gian vừa qua. Rất nhiều địa phương, nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số đang tìm kiếm để mua lại những bộ cồng chiêng cũ của dân tộc mình, hoặc sửa chữa lại những bộ bị hư hỏng để sử dụng trong sinh hoạt văn hóa dân gian.

Những vấn đề cần quan tâm

Không gian văn hóa cồng chiêng bao gồm ba tiêu chí cơ bản là: Tính cộng đồng, cộng cảm; sự gắn kết với thiên nhiên, với kết cấu vật chất văn hóa cư trú làng-nhà Rông-nhà sàn; Lễ thức, nghi lễ truyền thống. Tách rời ba tiêu chí ấy, văn hóa cồng chiêng chưa phải là chính nó. Thực tiễn những năm qua chưa thể hiện được nhiều về vấn đề mấu chốt này, văn hóa cồng chiêng được sân khấu hóa, môi trường diễn xướng chủ yếu nặng về trình diễn, quảng bá. Ở một góc độ nào đấy có thiên hướng lệch về mục đích, trở thành một nghệ thuật biểu diễn sân khấu, có đạo diễn, dàn dựng một cách áp đặt… Cũng bởi vậy, hầu hết những bài chiêng được thể hiện ở những góc độ này chỉ là những bài chiêng bình thường, đơn giản mà đồng bào thường gọi là những bài chiêng “hội” (phục vụ sinh hoạt văn hóa đơn thuần mang tính vui chơi). Còn những bài chiêng nghi lễ với những bài bản nghiêm ngặt, được coi là quan trọng nhất gắn với yếu tố “thiêng” trong tâm linh của đồng bào, là những bài chiêng cổ, thể hiện bản sắc truyền thống của từng dân tộc, được quan niệm là phần “hồn” của cồng chiêng, thường được diễn tấu trong các nghi lễ, lễ thức dân gian, lễ hội cổ truyền mà đồng bào gọi là chiêng “lễ” thì hầu như không được đồng bào sử dụng trong những sân khấu biểu diễn như vừa qua. Nếu chỉ còn những bài bản chiêng “hội” mà không còn những bài bản chiêng “lễ”, thì văn hóa cồng chiêng thật sự hoang vắng thần linh, và như thế thì chẳng khác gì một con người chỉ có xác mà không có phần hồn.

Bảo tồn và phát huy các giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cần có cái nhìn sâu sắc hơn nữa từ phía các nhà quản lý văn hóa các cấp, cần phải lắng nghe ý kiến của đồng bào xem họ nói như thế nào về cách thức bảo tồn và phát huy? Bởi họ là chủ nhân Không gian văn hóa cồng chiêng, chỉ có họ mới thật sự biết cách và cũng chỉ có chính họ mới bảo tồn sống được văn hóa cồng chiêng chứ không phải là hiện vật trong bảo tàng. Để từ đó có những định hướng đúng đắn, những cách làm, bước đi phù hợp và thiết thực cho mục tiêu bảo tồn, kế thừa và phát huy được giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng – Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong những năm tới.

 

 
TRẦN VĨNH

VĨNH PHÚC : Sự độc đáo và khác biệt của âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên so với cồng chiêng các nước trong khu vực Đông Nam Á


Sự độc đáo và khác biệt của âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên so với cồng chiêng các nước trong khu vực Đông Nam Á

Vietsciences – Vĩnh Phúc               26/01/2010

 

 

 

 

 

 

Những bài cùng tác giả

Tham luận tại Hội thảo Quốc tế: “Sự thay đổi đời sống kinh tế, xã hội và bảo tồn văn hoá cồng chiêng ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á” do Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tổ chức tại Festival Cồng chiêng quốc tế 2009.

 

Mở

Văn hóa cổ truyền của các tộc người ở Tây Nguyên, cũng như các tộc ít người khác trong cộng đồng các dân tộc Việc Nam, như lời cảnh báo của GSTS Tô Ngọc Thanh: vốn được sinh ra trong điều kiện của nền văn minh nông nghiệp lạc hậu và của xã hội chậm phát triển, đang bị thử thách gay gắt trước những yêu cầu của sự phát triển của xã hội hiện đại, mà trước hết là xu hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa và toàn cầu hóa mọi mặt đời sống của con người. Vì vậy, nếu không quan tâm đến vấn đề văn hóa thì quá trình phát triển cũng đồng thời là quá trình hủy diệt văn hóa. Quá trình này, có một nhà nghiên cứu khác đã diễn giải cụ thể, thực tế và rất hình ảnh: xích lô về làng đã đưa xe kéo tay vào bếp. Máy bơm nhiều mã lực có mặt trên đồng ruộng thì gàu sòng, gàu giai ra đi. Ti vi, phim ảnh lên núi, thì người múa hát dân dã bỏ dần vốn cổ “cây nhà lá vườn” … nói chung, đó là nguyên nhân làm rạn nứt các tập tục cổ truyền.

1. Không gian văn hóa của cồng chiêng

Đứng trước sự phát triển của xã hội hiện đại, những ngôi nhà Rông, nhà Gươl đã bắt đầu hiếm hoi, các tập tục văn hóa cổ truyền chứa đựng trong nó, được sản sinh ra trong nền kinh tế rẫy nương, săn bắt đã dần dần mai một đi trong đời sống “ở đất bằng làm ruộng nước” với thiết chế “điện, đường, trường, trạm”, kinh tế gia đình với khuôn viên VAC như hiện nay.

Cồng chiêng và nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng tồn tại trong không gian văn hóa của nó, cũng chính là phương thức, đặc tính tổng thể nguyên hợp của loại hình văn hóa dân gian. Nói một cách khác, cồng chiêng chỉ được bộc lộ đầy đủ trong các lễ hội truyền thống của cộng đồng tộc người. Âm nhạc cồng chiêng đối với họ là nhịp cầu nối cá thể lại với cộng đồng, nối cộng đồng này với cộng đồng khác, nối con người với tất cả thần linh trong trời đất, cũng có nghĩa là nối con người với thiên nhiên: cây cỏ, sông núi, trời đất… trong ý niệm vạn vật hữu linh của tín ngưỡng sơ khai.

Như vậy, trước sự biến đổi kinh tế – xã hội, sự phát triển của nhận thức cũng như sự hội nhập và tính chất toàn cầu hóa về thông tin, giao lưu văn hóa như hiện nay, các tập tục cổ truyền rạn nứt, các lễ hội truyền thống dần dà mai một… thì cũng đồng nghĩa với việc Không gian văn hóa của cồng chiêng sẽ mất đi.

Cần nói thêm, một số lễ hội truyền thống may mắn được “phục chế”, tái hiện với mục đích bảo tồn + phục vụ du lịch thì những trình thức của lễ hội đều do các người già điều khiển qua sự tái tạo lại bằng trí nhớ; những bài bản và hình thức diễn tấu ở mỗi giai đoạn lễ, cũng do nghệ nhân già nhớ và hướng dẫn; cồng chiêng cũng do người già chế tác, chỉnh âm… Giới trẻ, hầu như vắng mặt trong đời sống tinh thần của quá khứ, và như thế, những sinh hoạt mang tính phong tục, tập quán đặc trưng của tộc người khó mà lưu giữ được vào ký ức văn hóa của họ, như ý kiến cảnh báo của các nhà nghiên cứu: “truyền thống văn hóa của một dân tộc sẽ chấm hết khi thế hệ cuối cùng lưu giữ nó chết đi”… Điều này, đang đúng với thực trạng văn hóa của các dân tộc thiểu số nói chung và cả khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên nói riêng.

2. Âm nhạc của cồng chiêng

– Nghệ thuật của âm nhạc cồng chiêng đã được các nhà nghiên cứu âm nhạc như Gs. Trần Văn Khê, Tô Ngọc Thanh, Tô Vũ, Bùi Trọng Hiền, Đặng Hoành Loan, Lều Kim Thanh, Nguyễn Thuyết Phong… đúc kết, xác định giá trị nghệ thuật cao trên phương diện âm nhạc học, dân tộc nhạc học.

– Sự phát tích, phát triển theo tiến trình lịch sử, sáng tạo cũng như mối quan hệ mật thiết trong đại gia đình nhạc khí các tộc người Tây Nguyên từ chiêng đá (Goong Lú – một loại đàn đá của người Mnông Gar, âm thanh là của đá nhưng tiết tấu, cao độ là của dàn chiêng 3 âm: chiêng Mei, chiêng Suôn, chiêng Kon Pé) đến chiêng đồng và các loại đàn chiêng tre (Đinh goong, Goong kram, Chinh Kok, Cing kram) *…

– Mặc dù mang đặc tính của một loại thể dân gian, nhưng tính khoa học của âm nhạc cồng chiêng về âm thanh như âm chuẩn, thang âm, âm sắc, tổ hợp dàn chiêng (số lượng, chức năng của cồng và chiêng – chiêng núm và chiêng bằng, chiêng Mẹ, chiêng Cha và các chiêng con…) mặc dù có khác nhau giữa các tộc người vì sự cấu tạo, pha màu mang tính đặc thù về thẩm mỹ của từng sắc tộc nhưng đều có sự hòa hợp, hoàn chỉnh. Đáng ngạc nhiên là đôi tai kỳ diệu của những nghệ nhân có trách nhiệm xác định cao độ chuẩn cho hàng âm dàn chiêng, cũng như xác định độ chênh sai về âm thanh của từng chiếc chiêng và kỹ năng chỉnh chiêng cho đúng tiếng để nó không trở thành chiêng chết. Chỉ với một chiếc búa gỗ nhỏ mà có thể điều chỉnh âm chiêng lên cao hay xuống thấp một cách chính xác. Các nhà nghiên cứu thường gọi đùa là người lên dây chiêng.

– Chiêng là tiếng nói của con người kết nối với cộng đồng, kết nối với thần linh, với các Yang (Yang sông, Yang suối, Yang núi …) cho nên tiếng nói của chiêng được các tộc người Tây Nguyên sáng tạo thành nhiều bài chiêng khác nhau. Trong trình thức lễ, mỗi loại dàn chiêng ứng với của cuộc lễ, mỗi bài chiêng ứng với một lễ thức. Trong lễ đâm trâu tạ thần người Ba-na sử dụng dàn chiêng Hoh gồm 11 chiếc cồng núm và chiêng phẳng; trong lễ bỏ mả người Gia-rai sử dụng dàn chiêng Arap (cing arap) gồm 16 chiếc: 9 cồng, 7 chiêng (trong đó cồng, có núm là bộ đệm, chiêng, không núm là bộ giai điệu)… cũng như các bài chiêng khác nhau đánh trong các lễ cúng bến nước, lễ thổi tai, lễ làm nhà Rông mới, lễ ăn cơm mới v.v…

(Cũng vì sự hoàn chỉnh, độc lập của một hình thức âm nhạc dân gian mà các nhà nghiên cứu âm nhạc có lúc đã xác định cồng chiêng đủ khả năng chuyển đổi chức năng, không lệ thuộc vào không gian văn hóa của nó để đến với không gian nghệ thuật có sân khấu, bục diễn… )

3. Nét độc đáo của cồng chiêng Tây Nguyên

Sự độc đáo và khác biệt cơ bản giữa cồng chiêng Tây Nguyên đối với cồng chiêng của các nước trong khu vực Đông Nam Á ngoài sự gắn kết với không gian văn hóa, là sự phong phú trong cơ cấu của các dàn chiêng (riêng người Gia-rai trước đây đã tồn tại 5 dàn cồng chiêng khác nhau: loại dùng trong lễ bỏ mả, loại dùng để uống rượu cần, loại dùng khi có đám rước, loại dùng tế thần lửa và loại dùng để đón người chiến sĩ chiến thắng trở về) và nhất là sự độc đáo, khác biệt trong cách thức diễn tấu.

– Cồng chiêng của các nước Đông Nam Á lục địa: Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma, các nước hải đảo: Indonesia, Philippines, Malaysia với các dàn chiêng Gamelan, Gong Kebyar (Indonesia), Kulingtan (Philippines), Khong wong yai (Thái Lan, Lào), Khong thom (Campuchia), Ky waing (Myanma)… ngoài 1 đến 2 chiếc cồng lớn là treo trên giá (Agong – cặp cồng núm), còn đa phần là cồng có núm nhỏ, mà mỗi cồng có núm được úp trên một hộp bằng đồng – Gs. Trần Văn Khê mô tả như hình cái ô trầu có nắp * được sắp đặt theo một hệ thống cố định trên một giàn tròn bằng mây hoặc giá bằng gỗ. Nhạc công ngồi yên ở giữa, hai tay dùng 2 búa gỗ để gõ cồng. Nói chung, dàn cồng chiêng của họ được cấu tạo tương tự hình thức một cây đàn gõ ra giai điệu. (chỉ trừ dàn cồng Gangsa tại đảo Luson (Philippines) gồm 6 cồng phẳng, cách sắp đặt và diễn tấu lại không khác nhiều người Mnông ở Tây Nguyên). 

 

Dàn cồng chiêng Myanmar tại Festival Cồng chiêng quốc tế 2009 tai Gia Lai

 

– Công chiêng Tây Nguyên Việt Nam thì trái lại, biên chế đa dạng, không cố định, hình thành nhiều loại dàn chiêng khác nhau để phục vụ cho những sinh hoạt, lễ thức khác nhau. Có loại dàn chỉ gồm 2 chiếc (như dàn chiêng Tha) cho đến loại từ 9,11,16 cồng và chiêng. Nhạc công các dàn cồng chiêng các nước Đông Nam Á lục địa một mình với 2 tay đánh bằng dùi gõ cả dàn cồng đến 17, 19 chiếc, còn nhạc công dàn cồng chiêng Tây Nguyên thì mỗi người chỉ đánh một cồng. Mỗi nhạc công giữ một vị trí cao độ và tiết tấu, âm sắc khác nhau, đòi hỏi phải nhớ, phải tập trung tâm trí nắm chắc thời gian, nhịp điệu để gõ đúng phần của mình, vừa phải lắng nghe người khác trong dàn nhạc để tạo nên sự hòa hợp, đồng cảm chung. Vì vậy, để tham gia diễn tấu được một bài chiêng, thì yếu tố “nhạc cảm”, năng khiếu bẩm sinh là vấn đề quan trọng, không phải là ai cũng có thể làm ngay được. Đặc biệt là sự quy định chức năng từng loại cồng trong dàn nhạc: “Chiếc cồng phát ra âm thanh thấp – vốn là âm cơ bản – mang tên “mẹ”. Trong những dàn có 9 cồng chiêng trở lên thì có thêm cồng “cha”, … tiếp theo là các cồng con, cồng cháu… hình thành hệ thống gia đình mang dấu vết chế độ mẫu hệ của người Tây Nguyên. Khi diễn tấu, cồng mẹ và cồng cha được phân công phần trầm làm nền, cồng con và các cồng khác đánh so le trước – sau, nhanh – chậm để tạo ra giai điệu” *.

– Điều khác biệt nữa là nhạc công dàn chiêng Tây Nguyên không ngồi yên tại chỗ để gõ cồng như các nước Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanma… mà luôn di động, (thường là di động xoay quanh một đối tượng được tôn vinh ở vị trí trung tâm như cây nêu… theo chiều ngược kim đồng hồ như chiều bay của cánh chim Lạc trên mặt trống đồng) và đa dạng về động tác (tùy theo sự cảm hứng diễn đạt trong quá trình diễn tấu như khom người, nghiêng mình, cúi mặt…). Cách gõ cồng của Tây Nguyên có hai cách: đánh bằng dùi và đánh bằng cườm tay. Đánh bằng dùi, nếu là dùi mềm cho âm thanh tròn trĩnh, dịu dàng, trầm lắng, nếu là dùi cứng cho âm thanh độ mãnh liệt, sắc nhọn. Đánh bằng cườm tay cho âm thanh cảm giác mờ ảo, xa xăm, huyền bí, hoang sơ. Bàn tay trái phía sau cồng không chỉ để giữ cồng mà cũng tham gia diễn tấu, lúc bịt lúc mở mặt chiêng để tạo tiếng ngắt, tiếng ngân theo từng sắc thái của bài chiêng.

4. Vấn đề đào tạo, truyền nghề trong việc bảo tồn di sản

Cuối năm 2008, Viện NC âm nhạc, Khoa âm nhạc di sản thuộc Học viện âm nhạc Huế có cuộc khảo sát tại Đắc Lắc, Kon Tum và một số buôn của tỉnh Gia Lai. Đoàn đã đến lớp học cồng chiêng của Y thơn A’yun – một già làng của buôn K’rum thuộc xã Cư Bao, huyện Krông Buk, Đắc Lắc mà báo chí đã đưa tin… nhưng chỉ gặp một không gian đìu hiu không nghe tiếng cồng không nhìn thấy chiêng! Lớp học đã không còn tồn tại, chỉ còn một già làng tuổi đã cao không còn minh mẫn. Tuy vậy, khi đến buôn Ea Bông, xã Chư Ê Bur Ban Mê Thuột lại gặp được nghệ nhân Y Thim Bya, 45 tuổi, một nhà sưu tập có khá nhiều bộ cồng chiêng quý Êđê, Gia rai, M’nông, chiêng tre và các loại nhạc khí khác của Tây Nguyên. Đặc biệt ông cũng là thầy giáo của một lớp học tại gia gồm nhiều học viên nam, nữ, ở nhiều độ tuổi khác nhau, nhưng đa số đều trẻ từ các buôn khác nhau đến học. Bỏ qua sự thẩm định về vốn liếng di sản cổ truyền của nghệ nhân, chương trình, bài bản… và dù chỉ do sở thích cá nhân hoặc mục đích khác, nhưng với số lượng học viên đông đảo, được truyền nghề trực tiếp, đáp ứng được nhu cầu học hỏi của tuổi trẻ trong địa phương… thì thiết nghĩ, đây là mô hình truyền nghề rất có hiệu quả trong việc bảo tồn đối với di sản âm nhạc này. Những học viên – nghệ nhân tương lai sẽ được trả về đúng với không gian văn hóa của nó, không vướng bận bởi một lý do, một điều kiện nào, mà tự nhiên như lúc họ đến xin học.

 

Khác với di sản khác như Nhã nhạc, Ca trù (và kể cả Quan họ), thuộc dòng cổ truyền chuyên nghiệp*, đã định hình một hệ thống bài bản, những quy định nghiêm ngặt về tổ chức dàn nhạc cũng như kỹ thuật diễn tấu các nhạc khí… thì hướng đào tạo tập trung theo hệ thống giáo dục hiện nay như đào tạo Trung học, Đại học…còn khá thuận tiện. Cồng chiêng hoàn toàn thuộc dòng cổ truyền dân gian, lại là âm nhạc của các dân tộc thiểu số vùng cao, còn mang nhiều yếu tố tự nhiên, thô phác và nhất là gắn bó rất chặt chẽ với lễ hội, gắn bó với các loại hình dân gian khác như đặc tính nguyên hợp vốn có của nó. Vì vậy, việc xây dựng chương trình giảng dạy theo hệ thống giáo dục là khó và chưa thể thực hiện được, kể cả vấn đề đầu vào, đầu ra…

Học viện âm nhạc Huế có khoa Âm nhạc di sản, nhưng không thể tuyến sinh và đào tạo được như Nhã nhạc, Ca đàn Huế… mà chỉ nên tổ chức đào tạo theo Dự án bảo tồn, là đào tạo tại chổ. Ngoài kinh phí đặc biệt cho giảng viên (là các nghệ nhân), lại phải có chính sách trả kinh phí học cho học viên, vì đầu ra của họ không phải là về các đoàn Nghệ thuật, các cơ quan nhà nước… mà về lại với không gian của cồng chiêng. Chương trình học ngoài các dàn chiêng, bài chiêng là những kiến thức về các hội lễ truyền thống của chính họ, của từng tộc người ở Tây Nguyên.

Kết

Việt Nam ngày càng có thêm nhiều di sản phi vật thể được UNESCO công nhận, mới đây thôi đã thêm Quan họ và Ca trù. Nên chăng Bộ VHTT và DL, Bộ GD&ĐT hiệp thương để có một đặc chế, đặc lệ trong việc đào tạo lực lượng kế thừa cho những di sản ấy để bảo tồn, gìn giữ… như ý kiến Giáo sư Tô Ngọc Thanh bàn về việc đào tạo “nghệ nhân” thay cho “cử nhân” trong Hội thảo Đào tạo âm nhạc di sản khu vực miền Trung – Tây Nguyên tại Học viện âm nhạc Huế ngày 30 tháng 10 vừa qua.

Bùi Ngọc Phúc (Vĩnh Phúc)

 

            ©  http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences.org    Vĩnh Phúc

Trong tôi, Bùi Trọng Hiền như một dàn chiêng


Trong tôi, Bùi Trọng Hiền như một dàn chiêng

Image

Gặp gỡ

Trông lành lành thế mà Hiền ngang lắm, cơ quan khuyến khích, rồi cả bắt đi học tiến sĩ thế nào cũng không chịu. Ở Viện nghiên cứu, cơ quan chuyên môn của Bộ, ai cũng cần gắng phấn đấu trên đường học thuật. Vậy mà Hiền cứ tửng từng tưng, lại còn bảo: Mài đít quần mấy năm trên ghế nhà trường để mà các nghệ nhân chết hết rồi thì nghiên cứu cái gì! Anh dành thời gian lao vào sưu tầm, điền dã nhạc cổ, gặp hết cụ này tới cụ kia, thân thiết với các cụ như con, như cháu. Nhiều cụ quý lắm, cụ Hà Thị Cầu còn nhận Hiền làm con nuôi. Xông xáo vào khắp chốn, tài tử Nam Bộ, ca trù, hát văn, các nhạc cụ truyền thống…, Hiền làm việc như được tận hưởng hạnh phúc. Anh “tuyên bố”, làm việc còn nhằm thoả mãn chính mình, làm việc xong mà không có ai công nhận thì… tôi đốt tôi sưởi.

Ban đầu, Hiền học làm nhạc công, anh tốt nghiệp đàn bầu hệ sơ cấp, rồi Trung cấp Nhạc viện Hà Nội, chuyển qua lí luận bậc Đại học rồi dạy ở trường sáu năm (1990 – 1996). Chuyển về Viện, Hiền vẫn giảng dạy môn Âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam tại khoa Sử Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội. Lần nọ vào lớp mới, học trò nhìn thầy giáo trông chả giống ai, chả đứa nào đứng lên chào. Thầy bảo bê cái ghế xuống cũng không ai làm. Được rồi, Hiền mỉm cười, anh giảng một mạch từ đầu giờ chiều đến hơn 6h tối, không giải lao, kiến thức nhạc cổ ào ào tuôn chảy. Học trò nhìn nhau, mắt tròn mắt dẹt. Về sau khi đã thân mật, chúng bảo: Hôm ấy, trông thầy giống thằng nào ý!
Đại ngàn trong phòng làm việc

Hiền bước tập tễnh vì hồi thanh niên bị tai nạn tàu điện, nhưng anh đi nhanh hơn tôi tưởng, hơn cả đám chúng tôi, vốn quen chạy thể dục hàng sáng. Anh đưa chúng tôi về phòng làm việc và mở máy vi tính… Từ cái “hộp đen” – sản phẩm của công nghệ hiện đại, những âm thiêng của đại ngàn cổ xưa vang xa, tràn ngập… Đâu đây, sự chuyển rung của giông bão, những thành ý nguyện cầu, từng lời thề thốt, những kiêng kỵ trong luật tục buôn làng, những huyền tích trầm sâu trong hơi thở của màn đêm rừng già, tiếng ì ầm xa xa của thác cao và đá núi, tiếng hò reo, tiếng rú trong lễ đâm trâu, tiếng than khóc trong lễ bỏ mả, niềm hân hoan mừng mùa cơm mới, rượu cần nghiêng ngả, ché tuk ché tang va vào nhau lanh canh… Hiền say sưa: Chiếc cồng lớn đen thui như con trâu mộng, núm của nó pha vàng mười. Đánh vào đó, rầm một cái…, âm thanh chảy lãng đãng trong không gian…

Những thang âm dồn dập, hoà quyện, cả giọng nói của Hiền nữa, tôi thấy chính anh cũng biến thành một dàn chiêng trong nắng gió đang tuôn trào dữ dội. Cả một không gian hùng vĩ, cao vời vợi của trời xanh, sâu hút của vực thác, rộng rãi của đất đai và xa xôi, dài lâu của nghìn năm cao nguyên, đang ùa đến không ngừng trong gian phòng bé nhỏ.
Quăng mình theo âm thiêng

Hiền đã theo cồng chiêng giống như người ta nói về những kẻ chót “ăn phải bùa bả” của núi rừng. Ngày đầu mẹ ốm, vợ đang bụng mang dạ chửa, sắp sinh. Hiền từ chối cuộc điền dã hệ trọng – có tính chất quyết định cho việc UNESCO công nhận Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên. Nhưng rồi tháng 5 của 2004, anh lên xe với các đồng nghiệp Viện Văn hoá thông tin, giữa lỉnh kỉnh máy móc để đi sâu vào mùa mưa cao nguyên lết bết bùn. Cứ bước được một đoạn, họ lại phải lấy que gợt đế giày cho nhau. Có khi xe con bị sa lầy, phải nhờ xe tải vào kéo. Một tháng cấp bách và ròng rã, đi và làm việc, từ Bắc tới Nam Tây Nguyên, qua bao nhiêu buôn, sóc, thu âm hàng trăm bài cồng chiêng, quay tư liệu các lễ hội, phỏng vấn, ghi chép tỉ mỉ, ăn nằm ở đậu dưới nhà rông, nhà dài, sẻ san với rừng núi khoáng đạt, với những con cái của đại ngàn: Chu ru, Mạ, Xê đăng Xteng, Jarai Aráp, Mnông Gar, Mnông Buđongnoong, Bana Concơđe, Êđê Kpar, Êđê Bir… Bắt đầu từ Lâm Đồng, sang Đăk lăk, Gia Lai, xuống Kon Tum, Đăk Nông, trở về Đăk lăk, quay lại Đăk Nông, lại Đăk lăk, qua Gia Lai rồi xuống Quy Nhơn về Hà Nội. Một cuộc đi như bước chân vào huyền thoại. Khi trở ra, đoàn cán bộ trông giống “bầy người rừng”, đen đúa và hốc hác.

Hiền kể lại: Nếu vào sâu quá, chúng tôi ngủ lại, còn thì đều cố trở về nhà nghỉ để tắm giặt và ăn uống cho khỏi kiệt sức. Chai Lavi mở ra, nửa ngày đã thiu, nếu không phải toàn người khoẻ, công việc đã bị đình trệ. Vào khi đã gần qua mùa lễ hội, chúng tôi phải nhờ đồng bào dựng lại rất nhiều. Có những hôm thu âm suốt đêm, sáng ra mới biết có nhiều đồng chí công an mặc thường phục gác mấy vòng quanh khu vực. Lại có lần đồng bào mời, bước lên sàn lúc nhập nhoạng, cầm lấy cái bát, chưa kịp ăn tay đã nhờn mỡ… Rồi tinh mơ hôm sau, chẳng bảo nhau, từ đoàn nghiên cứu đến lực lượng an ninh, ai cũng có mặt ngoài suối…

Bừng sáng trong cuộc lao lực

Ra Hà Nội một cái là Hiền giam mình trong phòng kín. Năm tháng ròng không thứ Bảy, không Chủ nhật, hầu như chỉ toàn ăn cơm với mù tạt, mạch máu nổi rần rật như hai cái đũa bên thái dương. Nói chuyện với chúng tôi, tức là sau thời điểm đó một năm, những lúc “cao trào”, Hiền vẫn phải ngừng lại, đưa ngón tay lên giữ… Năm tháng, Hiền làm được cái việc từ trước đến nay chưa ai làm nổi – là nghe, đo đạc thang âm, lập tổng phổ các bài cồng chiêng.

Anh chỉ lên màn hình, ở đó, từng khuông nhạc kéo ngang, những nốt nhạc nhảy nhót đều đặn, và âm thanh vẫn lang thang không ngừng. Bè trầm bò lan man, bè cao thánh thót, bè trung êm nhẹ, bè chính xuyên ngang vững chãi và hoà âm đi mênh mang… Nhiều dàn chiêng được bồi thêm bởi trống trầm hùng, chũm choẹ gai xóc xóc như nắm đinh trong hộp, và có cả những tiếng thét… Căn phòng nóng lên, người nghe muốn đứng dậy để đưa chân theo một chuyển động mơ hồ nhưng mạnh mẽ. Hiền nói: Khoảng cách nghe xa hay gần, người nghe đứng ở “khúc giữa”, phía đầu hay cuối…, đều nhận được hiệu ứng âm thanh khác nhau. Dàn chiêng đi theo đường thẳng, đi vòng tròn hay hình rắn bò…, hiệu ứng đến tai người nghe cũng khác nhau. Đó chính là hiệu ứng âm thanh nổi rất thú vị. Hiền còn giải thích, đại đa số các bài bản đều kết cấu theo mô hình cố định, gọi là những cấu trúc môđun hay cấu kiện đúc sẵn, vì thế mỗi dàn chiêng là một cây đàn lớn mà mỗi người chỉ đảm nhận một nốt, khi biểu diễn, cây đàn cứ trở đi trở lại những nốt đó theo một thứ tự đều đặn mà không ai quên vị trí của mình. Và điều này nữa, chính nó càng làm cho Hiền nhọc, mỗi tộc hay nhóm tộc người lại thể hiện những thang âm khác nhau, các dàn chiêng cũng có số lượng nhiều ít khác nhau, có khi chỉ vài chiếc, có lúc lên tới 16, 17 chiếc… Không còn cách gì khác là phải nghe hết, thử hết. Hỗ trợ cho anh là một chiếc máy đo thang âm mà con trai của GS Trần Văn Khê mến tặng. Nhưng máy thường đọc cả âm bồi của chiêng, gây khó khăn khi xác định âm chính, nên Hiền phải căn cứ trên dây rung và chủ yếu nghe bằng tai. Năm tháng trời, mở máy, nghe, ghi chép, lúc nào cũng nghe, đêm, ngày, bất kỳ lúc nào có thể được, tổng cộng gần 100 cái cồng, chiêng, Hiền bị thông tai, loét dạ dày, đi ngoài ra máu, từ 70 cân to khoẻ, xong việc, Hiền tụt xuống 61. Thân hình cao lớn của anh, khi ấy trông lòng khòng… Ngày 20 tháng 11 của năm 2004, học trò đến cảm thông: “Cồng chiêng ăn thịt thầy!”.

Chạy nước rút

Xong phần việc của Hiền thì tình hình đã cấp bách, hạn gửi bộ hồ sơ sang UNESCO ở Paris đã sát sườn. Anh lại hỗ trợ cùng đồng nghiệp vắt chân lên cổ để soạn, sửa, chỉnh lí tài liệu, phim, ảnh… cho bộ hồ sơ nặng 6 cân kịp lên máy bay sang Pháp. Từ khi bắt đầu lên xe cho đến lúc hoàn thành mọi việc, đến ngày cồng chiêng vinh danh, và có lẽ sau này nữa. Là cả một chặng đường rã rời mà tôi nghĩ, mai kia Bùi Trọng Hiền sẽ viết hồi ký, những trang giấy thấm đẫm nụ cười, nước mắt, buồn vui, lo toan, băn khoăn, sung sướng, và cả phẫn nộ…

Hiền không bao giờ quên được cuộc gặp gỡ Giáo sư Trần Văn Khê ở Hà Nội vào năm 2005. Chiều hôm trước, với tư cách là người đánh giá phản biện bộ hồ sơ và cố vấn cho Hội đồng UNESCO trong việc thẩm định và công nhận Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Giáo sư gọi điện hỏi Bùi Trọng Hiền là ai, và ông muốn gặp, vì hình như… bộ hồ sơ “có vấn đề”. Cả đêm Hiền không ngủ. 10 rưỡi sáng hôm sau, 25 tháng 5, anh có mặt ở khách sạn trên đường Nguyễn Thái Học, gặp cụ, bỗng nhiên anh run. Vốn am hiểu về cồng chiêng nhiều nước khu vực Đông Nam Á, Giáo sư Khê hỏi anh về sự độc đáo của cồng chiêng Tây Nguyên, Hiền trình bày còn ông cụ quay camera. Vô tuyến và các đồ đạc trong phòng được bày ra làm dàn chiêng ví dụ để Hiền diễn giải. Hai bác cháu chỉ nghỉ ít phút ăn trưa. Anh rời khách sạn lúc 5h chiều, trong người như có những đôi chân nhảy múa.

Về sau, Giáo sư Khê nói với báo chí: Hồi tôi đọc hồ sơ cồng chiêng mà chưa đọc phần của Hiền, thì tôi thấy nó có lạ, có hay nhưng không thấm đến nỗi để mình khen một cách rất mạnh dạn. Những nhận xét của Hiền soi sáng cho tôi thấy được những điều độc đáo của hồ sơ cồng chiêng. Và trong thành ý của mình, Giáo sư mong mỏi công trình của Hiền về cồng chiêng Tây Nguyên sẽ được xuất bản sang tiếng Anh, tiếng Pháp, để nhiều người trên thế giới cùng hiểu được sự tuyệt vời của cồng chiêng Tây Nguyên.

Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là di sản phi vật thể và kiệt tác truyền khẩu của nhân loại. Niềm phấn khởi lớn lao đối với văn hoá Việt Nam, mà trước hết là sự vinh danh cho đồng bào Tây Nguyên – những người gìn giữ và lưu truyền hơi thở đại ngàn. Rồi đến những người đã tham gia làm nên thành công của cuộc chạy nước rút. Lễ hội cồng chiêng và đón nhận danh hiệu Di sản phi vật thể và kiệt tác truyền khẩu của nhân loại được tổ chức ở Tây Nguyên vào giữa tháng Ba năm 2006, Hiền sướng đến chảy nước mắt. Nhưng có một nỗi đắng đót mà ít người biết. Đó là hồi đi điền dã, ở Tây Nguyên ra ngày mùng 7, thì sáng mùng 8 vợ Hiền đẻ con trai. Da mũi thằng bé mốc hết cả, mọi người bảo là nó nhớ bố. Được hơn một tuần, vợ anh bế con về bên ngoại. Năm nay tuổi tròn 40, chưa già nhưng lúc được hưởng niềm hạnh phúc làm bố cũng không còn sớm. Hôm chúng tôi gặp, Hiền vẫn lọ mọ ngày đi làm, tối về cơm nước một mình. Không biết bây giờ thế nào rồi…

http://catruthanglong.com/vi/Tin-tuc/trongtoi-bui-trong-hien-nhu-mot-dan-chieng.html

BÙI TRỌNG HIỀN : ĐỒNG VỌNG ÂM THIÊNG ĐẠI NGÀN, VIETNAM 2013


  ĐỒNG VỌNG ÂM THIÊNG ĐẠI NGÀN  

 Image

          Tôi đến làng Mơ Hơra, xã Kông Lơng Khơng, huyện Kbang lần đầu vào hồi đầu th­­­­­áng 6/2004 trong đợt điền dã xây dựng hồ sơ cồng chiêng trình UNESCO. Đây là miền đất được xếp vào loại vùng xâu vùng xa của tỉnh Gia Lai, nơi cư trú tập trung đồng bào Bah Nar với nhiều nhóm khác nhau rải rác khắc các vùng đồi núi điệp trùng. Chuyến công tác ở Mơ Hra lần đó cũng là điểm cuối cùng trước khi kết thúc 1 tháng lăn lộn trên Trường Sơn- Tây Nguyên. Một chuyến điễn dã kéo dài suốt mùa mưa khắc nghiệt đan xen, trộn lẫn cùng nắng gió dữ dội trên cao nguyên. Dù trước đó đã nghe nói về vẻ đẹp hùng tráng của nghệ thuật cồng chiêng Bah Nar, nhưng tôi cũng không khỏi choáng ngợp khi trực tiếp cảm nhận hệ thống những âm thiêng của núi rừng Trường Sơn. Suốt mấy ngày ăn cùng ở cùng đồng bào trong làng, tận mắt chứng kiến lễ Ăn trâu mừng lúa mới sống động, cảm giác hào sảng thật xốn xang lòng người. Dàn cồng chiêng Bah Nar là một trong những biên chế thuộc vào dạng lớn nhất trên Tây Nguyên, có thể lên tới 16 đơn vị cồng chiêng. Nếu tính cả trống cái, trống nhỡ, trống con, chũm chọe cùng sự hòa nhịp của những chùm lục lạc rộn rã, dàn nhạc sẽ đặt tới con số 22 đơn vị thành viên. Trong dàn thanh âm hùng vĩ ấy, người nghe có thể cảm nhận được sự hòa quyện của hiệu ứng đa âm đồ sộ mà tinh tế, kinh điển mà hoang dã, hùng tráng mà sâu lắng trữ tình. Trong những ngày điễn dã ngắn ngủi đó, cả đoàn tranh thủ tập trung ghi chép, thu thanh, thu hình toàn bộ những gì có thể về văn hóa cồng chiêng cùng những giá trị âm nhạc khác trong không gian thiêng. Thời gian gấp gáp, cũng chả có mấy lúc thư nhàn mà giao lưu chơi bời với đồng bào, khoảng cách giao tiếp vẫn còn e dè lắm. Đến chiều ngày cuối cùng, xong việc, ông chủ tịch xã giục chúng tôi rút quân khẩn trương vì trời bắt đầu có dấu hiệu nổi giông. Nếu không ra kịp, lũ về sẽ ngập tràn 3 con suối trên đường đi, cắt đứt tuyến giao thông duy nhất ra quốc lộ. Trong đoàn, tôi là người xếp đồ đạc cuối cùng với mấy chiếc đàn goong, k’ny, đinh đuk lỉnh kỉnh do các nghệ nhân tộc người trao tặng, vừa xong thì xe nổ máy thúc giục lên đường. Chả kịp chạy ra nắm tay tạm biệt đồng bào, tâm trạng cuống quít, tôi đành hướng ra phía nhà rông, bất giác dang tay hú lên 1 tiếng dài thay cho lời từ biệt, lập tức cả đội cồng chiêng cùng lũ làng đồng thanh hú lên vang vọng đáp trả. Khi xe bắt đầu chuyển bánh, những chàng trai vẫn trong trang phục khăn khố nghi lễ, trước đó còn ngại ngùng đứng xa, giờ bất chợt lại đuổi theo xe tiễn biệt. Tôi thò đầu ra vẫy chào, các em kẻ tóm tay, người tháo vội chiếc vòng tre gắn ngù bông trên đầu chụp vội vào đầu tôi. Cảm xúc chợt chan chứa, nghẹn ngào, không thể nào quên giây phút chia tay lưu luyến đó!

 Image

          Tôi cũng may mắn được trở lại Mơ Hơra 2 lần vào tháng 1/2006 và tháng 11/2007 trong những dịp bổ xung tư liệu và làm phim về cồng chiêng Tây Nguyên, đó là những chuyến điền dã ngắn ngày. Đến tháng 11/2012, tôi lại được về Mơ Hra một lần nữa cùng đoàn VTV5 trong chương trình làm phim tài liệu nghệ thuật. Bẵng đi 5 năm xa cách, người xưa cảnh cũ với biết bao kỷ niệm chợt ùa về trong từng đoạn đường mòn, từng con suối, những ngôi nhà sàn xiêu vẹo cũ kỹ. Cuộc sống vẫn vậy, dòng đời cứ cuồn cuộn cuốn đi với biết bao khó khăn nhọc nhằn của một vùng miền núi. Nơi đây, cái đói nghèo, nỗi nhọc nhằn lam lũ dường như đóng băng với nương rẫy, ruộng đồng, với cái nắng cái gió khắc nghiệt. Người Bah Nar làng Mơ Hra cũng chả quan tâm mấy đến cái danh hiệu lớn lao được UNESCO phong tặng. Và, có lẽ cũng chả hiểu gì về cái gọi “chương trình hành động bảo vệ di sản” của quốc gia. Già trẻ trai gái lớn bé vẫn bằng lòng với nắng gió, bám trụ với số phận như tổ tiên của họ từ nghìn đời nay. Thi thoảng, tỉnh gọi, nhà nước cần, lũ làng lại nhóm họp ở nhà rông bàn việc, rồi các nghệ nhân lại xúm xít tập hợp, cơm đùm cơm nắm, cho cồng chiêng vào bao tải kéo nhau lên Pleiku để tham gia trình diễn trong những dịp festival này nọ. Xong việc, ai lại trở về việc nấy với làng với rẫy, bám đất kiếm hạt gạo, cây bắp, củ khoai mì mà sinh tồn. Về làng lần này, gặp một cậu bé chừng 10 tuổi, chợt nhận ra đó là nghệ nhân nhí nổi tiếng với vũ điệu múa trống bốc lửa, từng làm rúng động giới truyền thông cả nước ở festival cồng chiêng Pleiku 2009. Gặng hỏi cu cậu đã xem hình của mình hồi đó chưa? Bé lắc đầu cười hiền lành. Cũng may anh em trong đoàn đi có nhiều Ipad, chúng tôi lên mạng tìm lại đúng bức ảnh năm xưa, cậu chàng ngó qua, cười ré xác nhận rồi chạy mất.

 Image

          Trước khi bấm máy ghi hình, tôi tiến hành kiểm tra bộ cồng chiêng năm xưa. Chợt nhận ra chiếc chêng Chê (chiếc cồng lớn thứ 2) và một vài chiếc ching (chiêng giai điệu) khác trong dàn đã bị sai âm. Thêm nữa, chiếc chêng B’bết Iê (chiếc cồng trong bộ phận hòa âm) cũng bị vỡ từ lâu, nhưng không có cách nào thay thế. Hỏi các nghệ nhân, mới hay việc cồng chiêng sai âm ai cũng biết, nhưng từ lâu rồi làng không có người biết chỉnh âm cồng chiêng, đành chịu vậy! Cũng may, từ nhiều năm nay tôi đã học được kỹ thuật chỉnh âm cồng chiêng, và cũng đã từng thực hành vài lần với nhiều trường hợp khác nhau, trong đó có cả các dàn cồng chiêng tộc người. Không có đồ nghề chuyên dụng, tôi đành mượn tạm những dụng cụ sửa xe có sẵn của cậu lái xe trong đoàn làm phim, cũng dùng được. Sau độ gần một tiếng căn chỉnh, cuối cùng những chiếc cồng chiêng sai âm được trả về đúng cao độ truyền thống, các nghệ nhân và già làng vui lắm! Dù thiếu chiếc cồng hòa âm B’bết Iê, nhưng dàn nhạc vẫn diễn tấu cho chúng tôi ghi hình ổn thỏa. Những âm thanh sống động của núi rừng cùng vũ điệu rực lửa của các nữ vũ công Bah Nar thực sự làm rung chuyển trái tim những chàng trai Hà Nội. Không nín được, cậu kỹ thuật viên của VTV5 bảo tôi rằng: “Em không thể tưởng tượng được khi nghe trực tiếp, cồng chiêng Tây Nguyên lại rạo rực, bốc lửa đến vậy, hay quá anh ơi!”

Image 

          Bên cạnh cồng chiêng, đoàn làm phim cũng tiến hành ghi hình quy trình sản xuất, biểu diễn các nhạc cụ tre nứa như Goong, K’ny, Hihơ, Tơ rưng… cùng các nghệ nhân hát dân ca khác. Đáng buồn là trữ lượng di sản còn lại nơi đây khá ít. Cuộc sống ngày càng biến đổi nhanh chóng, sự xâm thực mạnh mẽ của các yếu tố văn hóa “mới” là điều khó có thể cưỡng lại. Mọi động thái của chương trình hành động bảo vệ không gian văn hóa cồng chiêng vẻ như bất lực. Thanh niên các tộc người ngày một quay lưng lại với vốn liếng cổ nhạc Tây Nguyên. Ở bộ phận nghệ nhân quyết bám trụ giữ nhạc tổ tiên thì đây, những dàn cồng chiêng hư hại, không ai có thể giúp đồng bào chỉnh sửa, thay thế kịp thời. Người hiểu chuyện không hiếm nhưng lực bất tòng tâm, tiền bạc và chính sách vẫn chưa thể với tới những vấn đề cụ thể, những nhu cầu thiết thực cầnđủ trong công cuộc bảo tồn, đành lòng vậy!

 Image

          Chiều ngày cuối cùng ở Mơ Hra, nghệ nhân Đinh Hmưng, một trong những trụ cột của đội cồng chiêng ngỏ ý với tôi rằng ông có một chiếc chêng Lao (cồng Lào) cỡ lớn. Chiếc cồng có tuổi đời vài chục năm, là sở hữu chung của làng nhưng đã bị mất tiếng từ lâu. Giờ nếu lấy lại được tiếng, nó sẽ được dùng thay thế vào vị trí chủ âm (chêng Glụh) trong dàn cồng chiêng của làng. Thế nhưng công việc cứ cuốn đi đến tận lúc trời tối mịt, cả đoàn thấm mệt phải trở ra huyện nghỉ để hôm sau tiếp tục sang địa bàn mới, tôi đành hẹn Đinh Hmưng dịp khác sẽ quay lại. Đêm đó nghĩ lại, trằn trọc không sao ngủ được, ngẫm đời mình không biết bao giờ mới có cơ hội quay lại nơi này. Sáng ra, sau khi tính toán công việc hợp lý, tôi quyết định sau bữa cơm trưa sẽ tách đoàn, một mình quay trở lại Mơ Hra để thực hiện lời hứa với nghệ nhân cho trọn tình trọn nghĩa. Trước khi đi, không quên mượn búa của cậu lái xe và mua thêm lọ RP7 phòng khi cần tẩy rỉ sét kim loại. Xách ba lô cùng các “đồ nghề” vào làng, bắt gặp cả đội cồng chiêng đang mổ con lợn nhỏ khao làng, thêm dăm bảy lít rượu, cũng vừa với số tiền thu lao vốn không nhiều do đài truyền hình chi trả. Người không tham dự cũng được chia vài ba miếng thịt gói trong lá chuối, số còn lại sẽ được bày biện ở nhà rông vào tiệc rượu buổi tối. Thấy tôi quay lại, các nghệ nhân cả mừng! Đội trưởng cồng chiêng Đinh Jrơn liền tập hợp ngay những người có thể giúp việc. Và, chêng Lao được khiêng ra thềm nhà rông. Với trọng lượng khoảng cỡ 7-8kg, chiếc cồng cổ xưa nặng hơn nhiều so với chiếc chêng Glụh đang dùng trong dàn. Việc đầu tiên, tôi nhờ các trai làng đi tìm lá chuối khô, dùng để đánh sạch các lớp ôxy hóa trên bề mặt cồng sau khi xịt đẫm dầu RP7. Sau đó, mới tiến hành “bắt bệnh/ chữa bệnh” cho chiếc cồng. Cũng dễ tới gần 2 tiếng đồng hồ gò đập căn chỉnh, cuối cùng chêng Lao đã có thể vang vọng thanh âm vốn có, cao độ lấy lại vừa vặn bằng đúng chủ âm của bộ cồng chiêng đang dùng. Không thể tả được niềm hạnh phúc của cả người chỉnh âm lẫn những chủ nhân cồng chiêng. Già làng cùng các nghệ nhân nhất quyết bắt tôi phải vào nhà rông uống chén rượu mừng trước khi chia tay. Về chuyện thay thế chiếc cồng vỡ, ở Hà nội tôi vốn quen một cơ sở sản xuất và buôn bán nhạc cụ dân tộc, trong đó có rất nhiều cồng chiêng nguyên bộ hay đơn chiếc. Với số liệu đo đạc cùng phương tiện kỹ thuật hiện đại, hy vọng việc mua chiêng thay thế chính xác là điều có thể thực hiện. Khi chia tay, dù hứa hẹn sẽ giúp đỡ, nhưng thú thực tôi cũng chưa biết tính cách nào để gửi hàng tới tận tay dân làng. Bởi sự bảo quản bưu phẩm cùng quãng đường miền núi xa xôi hẻo lánh là vấn đề khá phức tạp.

 Image

Đội cồng chiêng với chiếc cồng Lào đã lấy lại tiếng

          Trở ra Hà Nội được ít bữa, thật may mắn, nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Tuệ- một chuyên gia về sử thi Tây Nguyên, hiện là Trưởng Phòng nghiệp vụ Sở VHTT&DL Gia Lai gọi điện nói rằng anh sẽ ra Hà Nội công tác, hẹn sẽ mang cồng về cho Mơ Hra. Ngay khi nhận được tin, tôi lập tức liên lạc với cơ sở bán cồng chiêng. Cũng phải mất cả buổi chiều cùng anh chủ cửa hàng đo đạc kích thước, lựa chọn căn chỉnh tần số âm thanh mới lựa được 2 chiếc cồng, một chiếc thay thế, một chiếc bổ sung phù hợp với dàn cồng chiêng Mơ Hra. Yêu cầu đặt ra là những chiếc cồng mới phải vừa đúng với tần số cao độ tương thích, lại vừa có đường kính thích hợp sao cho các cồng thành viên to nhỏ có thể lồng xếp vào nhau vừa vặn theo thứ tự để tiện cho nghệ nhân mang vác di chuyển. Tiện thể, tôi cũng ra hàng sắt, thuê thợ hàn thửa một chiếc búa chỉnh chiêng theo đúng kiểu mẫu phổ biến trên Tây Nguyên để những mong thời gian tới, bà con sẽ có thể học để tự chỉnh âm chiêng cồng. Xong xuôi đâu đấy, tôi gọi điện báo tin cho Đinh Lân- trưởng thôn Mơ Hra để chuẩn bị lên Pleiku nhận hàng.

          Buổi sáng hôm Tuệ về Gia Lai, ước chừng thời gian máy bay hạ cánh, tôi điện thoại về Mơ Hra, Đinh Lân nói đã chờ sẵn từ sáng sớm, sẽ đèo già làng Đinh Jrơn chạy xe máy lên Pleiku nhận hàng ngay. Đúng 2g chiều, Tuệ gọi điện báo tin các nghệ nhân đã có mặt ở Sở và rất xúc động khi nhận quà từ Hà Nội. Sau khi chia vui, tôi cũng không quên dặn anh đừng để mọi người uống rượu mừng quá chén, vì biết họ còn phải trở về trên quãng đường dài đến cỡ 100km từ Pleiku về Mơ Hra… Thấp thỏm chờ đợi, quãng hơn 6g tối, Đinh Lân gọi điện nói anh và già làng đã về đến Mơ Hra an toàn, tôi thở phào nhẹ nhõm! Ngay chiều tối hôm đó, Nguyễn Quang Tuệ đã đăng tải lên mạng xã hội Facebook bức ảnh chụp anh với già làng Đinh Jrơn cùng món quà yêu thương. Nhìn gương mặt hốc hác đường xa của bok Đinh Jrơn, thật không khỏi dâng trào cảm xúc!

 Image

Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Tuệ và nghệ nhân Đinh Jrơn với món quà từ Hà Nội

Cũng đêm khuya hôm đó, thông qua trang mạng Facebook, một bạn phóng viên báo nọ nhắn tin cho tôi đặt bài phỏng vấn gấp. Đại ý hỏi “Anh có thể vui lòng chia sẻ việc làm của mình không? Xuất phát từ ý tưởng nào mà anh làm điều này? Anh đúc mới chiêng tặng đồng bào hay đi tìm mua ở những cửa hàng bán đồ xưa, đồ cổ? Ngoài làng Mơ Hra, anh còn dự định tặng những làng nào khác? Anh có định huy động mọi người quyên góp tiền để mua chiêng (và những nhạc cụ dân tộc khác) để tặng đồng bào không?” Rất trân trọng bạn phóng viên, nhưng thú thực không biết trả lời thế nào, công việc bộn bề mỏi mệt, khó nói! Tôi không phải nhà quản lý, không có quyền hoạch định chính sách văn hóa hay kế hoạch bảo tồn cồng chiêng Tây Nguyên. Tôi chỉ làm phận sự người trò nhỏ, trả lại những tri thức, những âm thiêng của đại ngàn Trường Sơn về với các bậc thầy nghệ nhân Tây Nguyên- những người đã dạy tôi đánh cồng chiêng năm xưa, đã trao cả một kho tàng kiến thức quý giá mà tôi đã đúc kết trong công trình nghiên cứu của mình!

BTH

 

Đã đăng trên Báo Thời nay, số ra ngày 3/1/2013

http://siphubacha.multiply.com/journal/item/117

BÙI TRỌNG HIỀN :NHỚ RƠ CHÂM BLỚT, VIETNAM 2008


NHỚ RƠ CHÂM BLỚT  
Anh là một trong số những nghệ nhân mà những lần gặp gỡ, tôi có thể đếm chi ly, với số ít những kỷ niệm quý giá. Vì anh ở xa lắm, mãi tận trên dãy Trường Sơn Tây Nguyên hùng vĩ, nơi in hằn lối đi hoang dại của những đàn voi rừng, nơi ẩn chứa biết bao huyền thoại từ thủa hồng hoang, với những mái nhà rôông cao vút, những đêm người già hát kể trường ca bên bếp lửa bập bùng… Và, dường như vượt lên tất cả là những dàn cồng chiêng nổi tiếng với tiếng nhạc linh thiêng, lúc trầm mặc, dãi bày, lúc rực lửa hùng tráng trong những lễ ăn trâu mừng lúa mới, trong những lễ bỏ mả linh đình, sợi dây kết nối kỳ diệu giữa con người với thế giới thần linh.

Thứ âm nhạc kỳ vĩ ấy, không phải của riêng ai, mà được thể hiện bằng cả cộng đồng những nghệ nhân tài hoa, những người lưu giữ, truyền đời vốn âm nhạc mà cha ông họ đã sáng tạo tự ngàn đời. Trong số những người đánh cồng chiêng, luôn nổi lên những tài năng hàng đầu. Họ là những người thuộc nhiều bài bản nhất, có khả năng tiết tấu vững vàng nhất để có thể chơi mọi chiếc cồng chiêng thuộc vào loại “hóc hiểm” nhất trong dàn. Và anh- Rơ Châm Blớt là một trong số những nghệ nhân giỏi nhất đại diện cho tộc người Gia Rai Aráp vùng Bắc Tây Nguyên.

Lần đầu tôi gặp anh trong chuyến điền dã lịch sử tháng 5/2004 để thu thập tư liệu xây dựng hồ sơVùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Ngày ấy, đã có những kỷ niệm không thể nào quên. Lúc xe ôtô chúng tôi vừa mới đáp xuống buôn Mrông Yõ- xã Iaka- Chư Păh- Gia Lai, đoàn cồng chiêng Gia Rai của anh đang dạo những khúc mở màn, rạo rực và bốc lửa. Ông trưởng đoàn quay sang tôi hất hàm bảo: “Cậu thấy nhạc cồng chiêng Gia Rai hay chưa?” Thú thực, đây là lần đầu tiên trong đời tôi được mục sở thị một đoàn cồng chiêng Gia Rai sống động, song nghe tiếng nhạc mới lạ đó mà lòng vẫn gờn gợn niềm hoài nghi bản năng nghề nghiệp. Soạn sửa đồ nghề, tôi nhanh chóng bắt tay vào đo đạc từng chiếc trong cái dàn cồng chiêng được xem là lớn nhất Tây Nguyên ấy. Các nghệ nhân xúm quanh giúp tôi làm việc. Sau độ nửa giờ, niềm hoài nghi của tôi đã nhanh chóng “hiện hình”- có lẽ đây là dàn cồng chiêng cải tiến theo hệ thang âm do- re- mi- fa… Tây Phương. Mặt mũi nóng bừng, tôi quay sang phỏng vấn nhanh những nghệ nhân vây quanh, nhưng sau một hồi trao đổi, ngôn ngữ giao tiếp không đủ để giải quyết vấn đề. Nghĩ một lúc, tôi liền chọn vài người trong số họ mà nhìn vẻ bề ngoài có vẻ tin cậy nhất. Và Rơ Châm Blớt là một trong số đó, với nước da nâu sạm nắng gió cao nguyên, một khuôn mặt chân thành, đôn hậu, ánh mắt sáng, Blớt có vẻ đẹp nguyên bản kiểu tộc người bản địa thuần chủng nhất, một thân hình không cao lớn nhưng rất cân đối với những bắp thịt rắn chắc, cuồn cuộn như thừng chão, rất đang nể! Có lẽ cảm giác đó đã không đánh lừa tôi. Sau một hồi tìm cách hỏi vòng vo bằng lối nói chậm rãi, thật đơn giản và dễ hiểu, kiểu như “dàn cồng chiêng của ông bà người Gia Rai mình ngày xưa có giống như cái dàn cồng chiêng này?”; hay “âm thanh, cái tiếng chiêng này nghe có giống, có đúng như các dàn cồng chiêng thời xưa?”… Và, nghi vấn của tôi đã có câu trả lời. Dàn cồng chiêng mà các nghệ nhân đang chơi để dùng làm tư liệu đưa vào hồ sơ UNESCO đúng là dàn cồng chiêng cải tiến, không hiểu sao lại có sự nhầm lẫn này, vì mục tiêu của chuyến điền dã lần này là đệ trình những giá trị cổ truyền nguyên bản.

Thiết nghĩ, tôi mà còn nhận ra cái âm thanh lai Tây ấy thì mấy vị thẩm định bên trời Tây hẳn cũng không kém cạnh gì. Ngay tức khắc, tôi phản ánh với ông trưởng đoàn của mình, nhưng ý kiến của tôi bị gạt phát: “Văn hóa phải phát triển, ông không nên đem quan điểm nghiên cứu của ông ra áp đặt cho đồng bào, người ta… chấp nhận chơi nó là nguyên bản rồi!”. Thấy thế, cực chẳng đã, tôi nhanh chóng tìm hướng giải quyết riêng. Không lẽ vượt biết bao dặm đường, mới có cơ hội vào buôn làng, chẳng lẽ chịu về tay không hay sao? Thế là tôi gọi Rơ Châm Blớt và Rơ Châm Hmút (nghệ nhân chủ trì buổi lễ) ra nói chuyện riêng. Các anh cho biết, bộ cồng chiêng “của ông bà xưa” cất ở trong nhà. Và họ nhanh chóng giúp tôi tiếp cận.

Nó đây, bộ cồng chiêng cổ xưa của người Gia Rai đây rồi, nằm nguyên trọng rọ tre, phủ đầy bụi và mạng nhện. Mừng như bắt được vàng, tôi cùng Blớt, Hmút và các nghệ nhân khác tãi từng chiếc cồng chiêng ra dưới trưa hè nắng gắt, đo đạc ghi chép cẩn thận. Trong bộ này, Blớt giảng giải cho tôi từng chiếc một, đây làcồng Bà (Na chêng) còn được gọi làchêng Lao vì nó được mua lại của người Lào. Tuy kích thước không lớn (đường kính khỏang 65cm) nhưng nó rất nặng, da cồng đen trùi trũi, lòng láng sáp ong bóng lộn, núm như pha vàng ròng sáng bóng… Rồi cứ thế, mạnh ai nấy làm. Những người cùng nhóm nghiên cứu thì theo lệnh ông trưởng đoàn, quay phim buổi lễ với bộ cồng chiêng cải tiến, tôi thì cứ một mình thâu tóm tư liệu vang từ bộ cồng chiêng cổ truyền. Cả ngày trời vất vả đó, “2 phe nghiên cứu” giành giật nghệ nhân của nhau để làm việc. Và, Rơ Châm Blớt là một trong số các nghệ nhân đã giúp tôi rất nhiều. Cũng may, về sau ý kiến của tôi cũng được chấp nhận phần nào. Và khi ra Hà Nội biểu diễn phục vụ hội thảo khoa học xây dựng hồ sơ, người ta đã buộc phải dùng dàn cồng chiêng cổ truyền đó. Nhưng trong chuyến lưu diễn tại Thủ đô lần ấy, Blớt ốm không ra được.

Lần thứ 2 gặp Rơ Châm Blớt là buổi truyền hình trực tiếp của Đài truyền hình kỹ thuật số VTC đón chào năm mới 2006 lúc giao thừa, cũng là dịp ăn mừng sự kiện cồng chiêng vinh danh- được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Lãnh đạo đài VTC đã quyết định “chơi sang”, “vượt mặt” các đài bạn bằng việc mời cả đoàn cồng chiêng Tây Nguyên ra biểu diễn đón chào năm mới. GS.TS Tô Ngọc Thanh và tôi được mời làm cố vấn cho họ, và tôi đã quyết định mời đoàn cồng chiêng của Rơ châm Blớt lên đường. Ngày đó sẽ không thể nào quên, tôi chạy ào đến khách sạn gặp các nghệ nhân, anh em ôm chầm lấy nhau, mừng vui hết cỡ. Chương trình biểu diễn đêm đó thành công mỹ mãn. Lần đầu tiên, cồng chiêng Tây Nguyên được vang vọng trên sóng truyền hình trực tiếp, lại đúng vào phút giao thừa, thật thiêng liêng và sống động, ý nghĩa biết mấy. Dẫn đầu đoàn cồng chiêng là Rơ Châm Hmút đánh trống hùng dũng với các động tác vũ đạo đi kèm thật hấp dẫn. Theo sát anh là Rơ Châm Blớt.

Dường như mỗi lần góp mặt, Blớt luôn đảm nhiệm chiếc Na chêng (chêng Lao) đen bóng- chiếc cồng to nhất, nặng nhất, luôn dẫn đầu đoàn cồng chiêng Gia Rai Aráp. Cách chơi chiếc cồng này của Blớt cũng là cách chơi đặc trưng hình như chỉ thấy có ở nghệ thuật cồng chiêng Gia Rai. Mỗi lần kích âm. Bao giờ Blớt cũng xoay, lắc, giật chiếc cồng để cho âm thanh của nó có thể lan tỏa nhiều chiều trong không gian. Như đã biết, độ vang của cồng chiêng bao giờ cũng vượt trội ở phía mặt trong. Cách đánh xoay, lắc sẽ tạo nên một hiệu quả âm thanh hết sức đặc biệt. Tiếng cồng sẽ lan tỏa ra nhiều hướng trong không gian tùy theo việc người chơi cồng hướng mặt trong về phía nào. Chiếc Na chêng mà Blớt sử dụng, như đã giới thiệu là chiếc cồng đặc biệt nhất mà tôi gặp trên Tây Nguyên. Âm thanh nó trầm hùng với sức biểu cảm thật đặc biệt, lừng lững lan tỏa trong không gian với độ vang xa và độ ngân dài đáng kinh ngạc. Có thể nói, mỗi lần Na Chêng cất tiếng, nó thực sự gây ấn tượng khá mạnh, hơn là hiệu quả âm thanh của một cây ghita bass, được khuyếch đại qua dàn amply vô công suất mà các nhóm nhạc rock thường sử dụng. Trong dàn Cồng chiêng Gia Rai, Na Chêng được xem như kiểu dạng bè trầm một âm, làm tầng nền cho toàn bộ dàn nhạc. Có thể điều đó tương ứng với ý nghĩa cái tên “người bà” (Na) – người chủ gia đình trong chế độ mẫu hệ. Thông thường, người chơi Na Chêng luôn phải là người có thể lực tốt vì nó khá nặng. Và Rơ Châm Blớt chính là người như vậy. Thêm nữa, do các động tác biểu diễn xoay, lắc nên người chơi Na Chêng luôn có phong cách biểu diễn thật đặc biệt, với sự pha trộn những động tác giống với dáng vẻ của một vũ công, mà chiếc cồng đeo bên vai là đạo cụ. Tất cả những điều đó khiến Na Chêng và người chơi nó luôn gây ấn tượng mạnh mẽ nhất khi đoàn cồng chiêng trình diễn chuyển động. Buổi biểu diễn truyền hình trực tiếp phút giao thừa của Blớt và các bạn anh đã gây ấn tượng rất mạnh với khán giả. Nó khiến các nhân viên kỹ thuật, các biên tập của VTC lúc đó dường như quên mất vị trí của mình, cũng nhún nhảy, hú hét hòa vào những âm thanh hùng tráng, kích động vũ điệu.

Sáng ngày hôm sau, ngày 1/1/2006, anh Hà Ngọc Thắng, Trưởng Phòng nghiệp vụ, Sở Văn hóa Thông tin Gia Lai gọi điện cho tôi báo tin đoàn cồng chiêng sẽ biểu diễn vào buổi chiều tại khách sạn Kim Liên- nơi đài VTC thuê cho cả đoàn nghỉ trọ. Hóa ra đêm hôm trước, đám nhân viên ở khách sạn có xem chương trình đón giao thừa của VTC, họ rất sửng sốt và vô cùng thích thú khi lần đầu tiên được nghe nhạc cồng chiêng Tây Nguyên, lại càng khoái hơn khi được biết đó chính là đoàn khách trọ đang lưu trú ở khách sạn của họ. Bởi vậy, các chị làm ở nhà ăn cùng các nhân viên bảo vệ, dọn phòng quyết định mở một tiệc rượu chiêu đãi các nghệ nhân và mời họ đánh cồng chiêng ở sân nhà ăn của khách sạn. Thấy vậy, tôi liền rủ thêm đám sinh viên, nhà quay phim, nhiếp ảnh và cánh phóng viên yêu nhạc cổ truyền đến dự, như Trần Ngọc Hà báo Pháp luật Việt Nam, Nguyễn Mạnh Hà báo Tiền phong và Lê Thoa ở VTC… Cuối giờ chiều, cả bọn kéo đến khách sạn, mấy anh em nẩy sáng kiến, quyết định xin các nghệ nhân đóng khố – nguyên bản trang phục dân tộc, rồi bắt đầu đánh cồng chiêng ngay từ cầu thang nhà nghỉ tầng 2 trở đi, chứ không đến ngay “sân diễn” như dự kiến. Và đó thực sự là buổi buổi trình diễn “nghệ thuật đường phố” với thật nhiều cảm xúc bất ngờ, sửng sốt, kinh ngạc không bút nào tả xiết.

Vừa rời khu nhà nghỉ, đoàn cồng chiêng và chúng tôi vô tình diễu hành qua vài tiệc cưới ở khu nhà bên. Thế là cả tứ bát họ nhà trai nhà gái cùng mấy cặp cô dâu chú rể cùng đổ xô ra xem cồng chiêng. Các nghệ nhân lần lượt diễu hành trình diễn qua các tòa nhà cao tầng của khách sạn, qua hàng dẫy xe ôtô, nhà hàng sang trọng. Đi đến đâu, gây náo nhiệt đến đấy.

Thật là một buổi biểu diễn hy hữu, những tiếng vọng thủa hồng hoang trên Trường Sơn Tây Nguyên hùng vĩ một lần nữa vang vọng giữa lòng thủ đô, nhưng lần này là cuộc “trình diễn đường phố”, như “trêu ghẹo”, như “thách thức” những “vật chứng” của thời đại văn minh công nghiệp.

Tất cả như say, như điên lên với những bản cồng chiêng rực lửa, với những tiết tấu chu kỳ mang tính vũ điệu đặc trưng. Như mọi lần, H’Mút vẫn đánh trống đi trước, còn Blớt vẫn xách Na chêng tiếp bước, dẫn đầu đoàn cồng chiêng nối đuôi nhau.

Nhìn Blớt lom khom xoay người lắc cồng để tiếng nhạc hào hùng của đại ngàn lãng đãng, ùa vào các tòa nhà hiện đại, các nhà hàng sang trọng ven đường, không nhịn được, mấy anh em chúng tôi cùng hú lên những tiếng thét hoang dại cùng các nghệ nhân.

Cuộc trình diễn trụ lại ở sân nhà ăn khách sạn. Quây tròn quanh đoàn cồng chiêng, bàn rượu bày bên cạnh, đám đông nhân viên và chúng tôi vừa nhảy múa theo vũ điệu cồng chiêng, vừa tranh thủ học mót một vài chiếc cồng đơn giản để tham gia chơi cùng nghệ nhân. Tới tối mịt, tới đêm khuya, tất cả đều say mèm, Blớt phải dìu tôi lên phòng nghỉ cùng già làng.

Sau đó khoảng hơn tuần, tôi may mắn lại được gặp Blớt lần nữa. Đó là chuyến điền dã thứ 2 trở lại Gia Lai để lấy thêm tư liệu. Sáng hôm đó, anh Hà Ngọc Thắng lấy ôtô của Sở VHTT đưa tôi đến thẳng nhà H’Mút. Biết tin, già làng và các nghệ nhân nhanh chóng tụ hội, như những người khác, Blớt chạy ào đến ôm chầm lấy tôi trong mừng vui khôn xiết. Trưa hôm đó, tiệc rượu lại bày ra, và tôi lại say mềm, chính anh đã khiêng tôi vào giường nhà H’mút, để tôi ngủ một mạch đến không còn biết giời đất gì nữa.

Gần 4g giờ chiều, tiệc rượu mới tàn, Blớt lúc đó cũng đã lè nhè, mặt đỏ gay vào lay tôi dậy: “Đi thác Công Chúa thôi, tắm với già làng, tắm với mọi người cho zui!” Thế là vùng dậy, vã nước vào mặt cho tỉnh rồi cả đoàn lên đường. Đây là lần đầu tiên tôi được các nghệ nhân Tây Nguyên cho đi chơi. Nhường già làng và phụ nữ đi ôtô, Blớt đèo tôi đi xe máy, hơi rượu vẫn chưa hả toàn phần, đại ca tôi lái xe đánh võng liên tục, vừa đi vừa ngoái lại bảo: “Mình là anh em rồi, thương em lắm, Blớt là anh trai của em Hiền”. Vốn tiếng Kinh của Blớt cũng như của đa số đồng bào nơi đây còn khá hạn chế, tôi thì lại dốt đặc tiếng Gia Rai, vậy mà vẫn đủ để anh em tôi thương nhau bằng cả tấm lòng nhân hậu.

Tắm thác xong, tôi và mấy cán bộ Sở VHTT được Blớt mời về nhà ăn cơm. Cũng như Blớt, cả nhà anh cũng chân thành, thật thà, đôn hậu và hiếu khách. Anh hỏi tôi thích ăn gì, tôi nói: “Ở Hà Nội đang có dịch cúm gà, cho em gà nhà anh với!” Blớt phẩy tay hất hàm: “Ôh, đơn giản thôi, để anh bảo vợ anh và con chó đi bắt gà cho em ăn!” Tôi phá lên cười ngạc nhiên! Quả đúng vậy, chị vợ anh một đầu, còn chú chó tinh khôn chặn đầu vườn bên kia sủa ầm ĩ vây đuổi đàn gà về hướng bà chủ. Tóm được 2 con, chị làm thịt kiểu bản xứ, cầm chân gà quật vào cây hóa kiếp rồi làm thịt chứ không cắt tiết như người Kinh. Bữa cơm thật ấm cúng. Khác với nhiều nhà, Blớt gọi vợ lên ăn cùng chúng tôi, sau khi đã trịnh trọng giới thiệu chị với các vị khách mời. Cơm nước xong, Blớt đèo tôi quay lại nhà H’mút, luôn được coi là nơi hội họp và sinh hoạt của đội cồng chiêng Mrông Yõ- Ia Ka –Chư păh. Tối nay tôi dự kiến sẽ thu thanh và phỏng vấn cả đoàn cồng chiêng. Tới nơi, thấy vắng teo! H’mút cho biết, giờ rất khó tụ tập, vì mọi người đều ăn cơm và uống rượu ở khắp các buôn, rải rác ở nhiều thôn khác nhau, rất khó tìm được vì “thời gian biểu” vui chơi của người nông dân thật tùy hứng. Tôi hoảng hồn, vì biết mình không có nhiều thời gian và điều kiện để ở lại, đành quay sang năn nỉ các anh. Thế là Blớt và H’mút chia nhau tỏa vào đêm tối. Chừng độ gần nửa giờ, mới tìm thêm được độ dăm người nữa, vẫn chưa đủ lực lượng để thu thanh. Như đã biết, dàn cồng chiêng Tây Nguyên cơ cấu theo biên chế dàn nhạc hợp tấu, mỗi người chơi một chiếc. Tính toán thật nhanh, tôi liền huy động, sắp xếp anh Hà Ngọc Thắng, anh lái xe ở Sở và cậu phóng viên đi cùng vào vị trí những chiếc cồng đệm hòa âm – là loại đánh nhịp đồng độ, hầu như ai cũng có thể chơi được. Các nghệ nhân thì chia nhau đảm nhiệm bộ 3 cồng trầm và dàn chiêng đi giai điệu. Vẫn không đủ, thấy vậy, Blớt đứng ra đảm nhiệm diến tấu 2 chiêng cùng lúc. Thế là ổn, tôi bắt đầu tiến hành thu thanh, nhạc cồng chiêng bắt đầu vang lên… Được khoảng 15 phút, từ trong đêm tối, lại có thêm mấy bóng đen xuất hiện lướt đến. Tới khoảng sáng le lói, mới nhận ra đó là các nghệ nhân còn lại. Hóa ra, thay vì đi tìm, chỉ cần đánh cồng chiêng lên là họ sẽ mò tới, tự nhiên như tiếng gọi của nhạc lòng vậy. Rồi chả mấy chốc, đã hội tụ đủ mặt anh tài.

Cả tối thu thanh, khi gặp những bài chiêng không thuộc (phần vì lâu không chơi, phần vì chỉ có một số người nắm vững), đương nhiên, anh Blớt của tôi luôn là người giỏi nhất và chỉ đạo, hướng dẫn những người còn lại điều khiển các chiêng thành viên. Cứ chiêng nào thuộc vào loại khó nhất, không ai chơi được thì lại “đến tay” Blớt. Xem họ dượt bài, mới thấu hiểu thêm rất nhiều điều mà trước đây tôi chưa thể tưởng tượng. Sau khi đã “vơ vét” hết sạch vốn liếng bài bản của họ, tôi quay sang học kỹ thuật chỉnh âm cồng chiêng, vài người trong số họ có khả năng đó. Lần này nói chuyện mới biết, cũng như những nghệ nhân cồng chiêng khác, Rơ Châm Blớt có thể chơi thành thạo tất cả các nhạc cụ khác của người Gia Rai… Ngay trong đêm đó, tôi buộc phải chia tay Blớt và những nghệ nhân Gia Rai thân yêu, mặc dù rất muốn thức thâu đêm cùng họ, nhưng hoàn cảnh công việc không cho phép.

Đằng đẵng cả hơn một năm sau đó, cuộc sống cứ cuốn trôi đi với biết bao điều nhọc nhằn. Hồi tháng 7 năm nay, vào một buổi chiều, tôi nhận được cú điện của anh Nguyễn Hiền- Trưởng phòng VHTT Chư Păh: “Hiền ơi! Nói chuyện với Blớt này!” Mừng rú lên, hóa ra Blớt lên huyện công tác, được anh Hiền cho gọi nhờ điện thoại để hỏi thăm tôi. Hai anh em mừng mừng tủi tủi. Anh nói “vụ mùa năm nay cũng được, nhà anh thu được nhiều thóc lắm, trời đang mưa, cà phê năm nay chắc cũng tốt, đội cồng chiêng mình vẫn khỏe hết, tốt hết, mọi người nhớ em lắm, già làng nhớ em, anh cũng nhớ em”. Tôi nói: “Thì em đây nè, đang nói chuyện với anh nè”, nhưng Blớt bảo tôi “phải vào đây để mọi người nhìn thấy cái mặt em, để uống rượu ghè với anh…!” Tôi không thể ngờ được đấy là lần cuối cùng tôi được nghe thấy giọng nói chân thành, mộc mạc và thật ấn tượng của Blớt.

Cuối tháng 11 vừa qua (2007), tôi lại lên với Trường Sơn Tây Nguyên một lần nữa. Trong chương trình làm phim cồng chiêng với hãng phim TFS, tôi lại được trở về với các nghệ nhân Ia Ka (Chư Păh- Gia Lai). Xe ôtô chạy qua Phòng VHTT huyện làm thủ tục, Trưởng phòng Nguyễn Hiền nói: “Blớt mà biết em về là nó mừng lắm!” Thế nhưng khi xuống tới buôn, vào lại mái nhà xưa, Rơ Châm H’mút buồn rầu báo tin: “BLớt nó bị bệnh nặng rồi, nó đau mấy tháng nay, Blung em nó mới đưa đi bệnh viện Plei Ku hôm qua”. Tôi hoảng hồn hỏi kỹ, nhưng các anh cũng chỉ nói được loáng thoáng, hình như Blớt bị đau gan nặng, mà tôi đoán là ung thư vì nghe nói anh chỉ còn da bọc xương. Cả nhóm làm việc tới quãng 1g trưa thì rút về Plei Ku, tôi thì ở lại tranh thủ học việc với Kơso Wëk, già làng chỉnh chiêng nổi tiếng trong vùng. Một lát, Nguyễn Hiền xuống buôn, hóa ra anh không hề hay tin Blớt lâm bệnh trọng. Anh hẹn sẽ thu xếp đưa tôi vào bệnh viện Plei Ku thăm Blớt, “Thế nào Blớt nó cũng sẽ khóc khi gặp em!” – Nguyễn Hiền khẳng định. Thế rồi những ngày ở Gia Lai cuốn đi như cơn lốc với biết bao công việc gối đầu của đoàn làm phim, tôi không thực hiện được cuộc viếng thăm Blớt như dự kiến. Rồi khi trở ra Hà Nội, vào một buổi tối trung tuần tháng 12 lạnh lẽo, Nguyễn Hiền gọi điện báo tin dữ: “Hiền ơi! Blớt chết rồi, mới hôm qua thôi, mai đưa ma, anh đang ở dưới buôn”, rồi anh chuyển máy cho H’mút và Blung, em trai Blớt. Nhưng rào cản ngôn ngữ khiến chúng tôi chẳng biết nói gì nhiều. H’mút bảo: “Blớt chết rồi, đang ở đây”. Nghẹn ngào trong nước mắt, tôi chỉ có thể nói ngắn gọn: “Em buồn lắm..!” vì biết các anh không thể hiểu hết những gì tôi muốn nói qua điện thoại!

 

Ôi, có thể thốt lên bao nhiêu cái “giá mà” hay “nếu như…”, cảm giác nợ nần với nghiệp cổ nhạc, với các nghệ nhân tài danh hẳn sẽ đeo đẳng suốt đời. Rơ Châm Blớt- người anh Tây Nguyên của tôi đã ra đi quá sớm ở cái tuổi chưa tròn 60 mùa rẫy, cái độ tuổi thực thụ chín rộ của một nghệ nhân cổ nhạc với biết bao năng lực nghệ thuật tiềm ẩn. Dàn cồng chiêng buôn Mrông Yõ rồi đây sẽ phải có người thay thế, nhưng liệu còn được bao nhiêu tài năng như Rơ Châm Blớt- người nghệ nhận Gia Rai Aráp tài hoa, đã được ghi tên trong danh sách của hồ sơ UNESCO?!

_____________________

Bài đã đăng trên Báo Pháp luật Việt Nam -số Tất niên Mậu Tí 2008.

http://siphubacha.multiply.com/journal/item/8

BÙI TRỌNG HIỀN : CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN- MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CƠ BẢN**, VIETNAM 2008


CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN- MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CƠ BẢN**

http://siphubacha.multiply.com/journal/item/62

B.NGHỆ THUẬT DIỄN TẤU

Về nghệ thuật diễn tấu, để hiểu được nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên, trước hết chúng ta cần có một cách nhìn tổng thể.

Thông thường, dàn nhạc được hiểu là sự kết hợp các nhạc cụ với nhiều giai điệu khác nhau, mỗi nhạc cụ đảm nhiệm sự diễn tấu của một đường tuyến. Thứ âm nhạc đó được gọi là hòa tấu. Đây cũng là nguyên tắc chung của đại đa số các dàn nhạc trong mọi nền âm nhạc trên thế giới – có thể coi là cơ cấu dàn nhạc phổ biến.

Thế nhưng ở nghệ thuật cồng chiêng, sự kết hợp của nhiều nhạc cụ về căn bản lại để hợp thành giai điệu. Điều đó có nghĩa mỗi nhạc cụ trong dàn nhạc thực chất chỉ diễn tấu một nhạc âm trong đường tuyến giai điệu. Nói nôm na “mỗi nhạc công ở đây chỉ là một nốt nhạc”. Theo đó, nhiều nhạc cụ ứng với những cao độ khác nhau kết hợp so le theo chiều ngang sẽ cấu thành giai điệu.

Trong nghệ thuật âm nhạc nói chung, sự kết hợp các nhạc cụ kiểu “cồng chiêng” đòi hỏi ở mỗi nhạc công một bản lĩnh tiết tấu thật vững vàng. Nói cách khác, so với cơ cấu dàn nhạc thông thường,kỹ thuật dàn nhạc ở nghệ thuật cồng chiêng đòi hỏi năng lực phối hợp của mỗi nhạc công ở một tầng bậc cao hơn nhiều. Có thể gọi đó làtính diễn tấu tập thể của nghệ thuật cồng chiêng.

Trong nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên, ngoại trừ dàn cồng Klâu Poh người Chu Ru do một người chơi, còn tất cả các dàn cồng chiêng khác đều tổ chức diễn tấu theo cơ cấudàn nhạc. Nếu nhìn tách rời trên tổng phổ, sẽ thấy mỗi chiếc cồng chiêng chỉ diễn tấu một mô hình tiết tấu nhất định. Chúng tôi gọi đó là nghệ thuậtchia tách để liên kếtở tầng bậc cao của các nhạc cụ trong dàn nhạc cồng chiêng. Hơn thế nữa, các cồng chiêng thành viên kết hợp không chỉ để tạo nên một giai điệu duy nhất. Trên thực tế, mỗi dàn cồng chiêng thường cùng lúc tạo ra nhiều giai điệu khác nhau trong diễn tấu. Ví dụ:

Trích đoạn bài TơNơ (dàn cồng chiêng Bahnar Kon Kơđe)

16-2.jpg

Có thể nhìn thấy rõ các tầng giai điệu trong bài bản đan xen ứng đối với nhau bên cạnh một phần đệm hòa âm. Tất cả tạo nên một hiệu quả tổng thể vừa tinh tế, vừa đầy đặn của dàn nhạc. Bởi vậy nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định rằng cồng chiêng Tây Nguyên là sự hòa quyện của cả nghệ thuật âm nhạc chủ điệu và âm nhạc đa điệu.

Về mặt bài bản, mỗi tác phẩm cồng chiêng thực chất được cấu trúc từ một nét giai điệu ngắn hoặc trung bình. Trong hệ thống các tư liệu đã sưu tầm, nét nhạc ngắn nhất chỉ đơn giản là một nhịp, dài hơn thì tương đương với một câu nhạc 4 nhịp 2/4. Một số ít những nét giai điệu dài có thể lên đến 17 nhịp và thậm chí có trường hợp cá biệt hơn 30 nhịp 2/4. Trong diễn biến của bài bản, nét giai điệu đó cùng hệ thống giai điệu phụ họa và phần đệm đồng bộ được lặp đi lặp lại với chu kỳ không giới hạn. Có thể coi mỗi chu kỳ đó như một “cấu kiện đúc sẵn” – một mô hình cố định(module). Như vậy, độ dài của một bài bản trong mỗi lần diễn tấu sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào tình huống văn hóa mà bài cồng chiêng là một thành tố. Và, người chơi muốn dừng lại ở đâu thì “bài bản” cũng kết thúc ở đó. Cũng xin nói thêm, trong tập hợp giai điệu ở mỗi mô hình cố định, khái niệmgiai điệu chính – phụ ở đây là dựa vào cảm giác chủ quan của người nghiên cứu. Đó không phải là một tiên đề được xác định. Rất có thể người khác sẽ quan niệm ngược lại.

Thông thường khi mở đầu một bài cồng chiêng, nhóm 2-3 chiêng đi một bè giai điệu phụ họa với bè chính sẽ chơi trước dẫn dụ nhịp điệu, các nhóm khác nghe theo đó mà bắt dần vào bài. Ví dụ:

Trích đoạn bài TơNơ (dàn cồng chiêng Bahnar Kon Kơđe)

17-1.jpg

Về mặt cơ cấu dàn nhạc, nếu tính đến hiệu quả nghệ thuật, có thể nhìn thấy những cấp độ khác nhau ở các dàn cồng chiêng Tây Nguyên. Ở đây, chắc chắn số lượng nhạc cụ trong mỗi biên chế sẽ ảnh hưởng cơ bản đến hiệu quả âm nhạc. Trong đó, có thể xếp các biên chế 2 chiếc, biên chế 3 chiếc và bài bản của chúng thuộc vào loại đơn giản

Đối các biên chế cồng chiêng từ 6 chiếc trở lên, bao giờ cũng có sự phân chia nhạc cụ thành từng nhóm chức năng. Có thể xếp chúng thuộc vào dạng phức tạp. Ở đây, đa số những biên chế được xếp theo các chức nănggiai điệuphần đệm. Có thể nhận thấy rõ mỗi dàn cồng chiêng làmột giọng điệu xác định với vai trò chức năng cố định của các bậc âm. Do đó, cũng có thể nói rằng giai điệu của hệ thống bài bản thuộc mỗi biên chế đều có màu sắc âm nhạc nhất quán. Nói nôm na là “xanh thì xanh tất mà đỏ thì đỏ tất”, không tìm thấy sự “chuyển giọng” trong mỗi biên chế. Chúng tôi cho rằng chính sự nhất quán này lại là đặc điểm rất độc đáo của nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên. Nó như dấu vết còn lại của một lớp cắt trong tiến trình phát triển âm nhạc ở thời kỳ sơ khai.

Trong mỗi dàn cồng chiêng,âm chính của giọng điệu thường nằm ở chiếc cồng hay chiêng thấp nhất (và cũng là to nhất). Điều đó đã thể hiện phần nào ở ngay chính tên gọi của nó. Đa số các chiêng này đều được gọi làMẹ – như một dấu ấn còn lại của thời kỳ mẫu hệ. Nhìn chung, trong các nhóm chức năng giai điệu và phần đệm, chúng ta sẽ thấy bao giờ cũng tồn tại những giai điệu phụ họa (ít nhất là một bè nền trì tục) có chức năng đối đáp với giai điệu chính. Trong đó, bè nền trì tục bao giờ cũng lập thành từ âm chính với 1 hoặc 2 âm liền kề phía trên trong thang âm tạo thành các giai điệu 2 âm hoặc 3 âm. Ví dụ:

18-1.jpg

Tất nhiên, trong bước đi của nhịp điệu, các bè giai điệu sẽ thường xuyên chập với nhau ở hàng dọc tạo ra các quãng hòa âm hay chồng âm, hợp âm. Điều đó tạo nên hiệu quả như một phần hòa âm tất yếu của bài bản. Ở đây, chúng tôi đó là phầnhòa âm giai điệu. Đối với những dàn cồng chiêng không có nhóm nhạc cụ phụ trách phần hòa âm riêng thìhòa âm giai điệu chính là toàn bộ phần hòa âm của bài bản. Đây là trường hợp của các dàn 6 chiêng chi đấm các tộc người Mạ và M’nông.

Tìm hiểu những dàn chiêng này, chúng ta sẽ nhận ra những điểm tương đồng khá lý thú trong mối quan hệ giữa các bậc âm. Đó là sựđồng dạng về chức năng diễn tấucủa các chiêng ở vị trí tương ứng. Chỉ cần nhìn vào tên gọi của chúng, ta đã cảm nhận được phần nào. Ở đây, nếu đánh số 6 chiếc chiêng theo thứ tự từ thấp lên cao, sẽ thấy chiêng số 1 được gọi là chiêngMẹ, chiêng số 2 được gọi là chiêngBố, 4 chiêng còn lại là 4 đứa Con. Trong các chiêngCon, tùy từng nơi mà người ta phân ra các thứ bậc “con trai”, “con gái” hay “con” nói chung. “Đứa con” liền kề “bố mẹ” thường được coi là “con cả” và “đứa con” cao nhất là “con út”.

19.jpg

BÙI TRỌNG HIỀN : CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN- MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CƠ BẢN*, VIETNAM 2008


CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN- MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CƠ BẢN*

Kính tặng đồng bào các tộc người thiểu số Trường Sơn- Tây Nguyên!

A.PHƯƠNG PHÁP KÍCH ÂM, BIÊN CHẾ VÀ HÀNG ÂM CƠ BẢN

1. Phương pháp kích âm

Có 2 phương pháp kích âm cơ bản là chi dùi gõ (dành cho cả cồng lẫn chiêng) và chi đấm (chỉ dành cho chiêng). Theo thống kê, các dàn chiêng tộc người Mạ, M’nông, dàn chiêng đôi của người Chu Ru và Cơ Ho thuộc chi đấm. Còn tất cả các dàn chiêng khác đều thuộc chi dùi gõ.

Tùy từng nơi, trong lúc diễn tấu, người ta thường sử dụng bàn tay đỡ vào mặt hay thành cồng chiêng để bịt hay mở tiếng nhằm tạo hiệu quả âm ngân vang hay âm ngắt. Tay còn lại kích âm theo cách đấm hoặc gõ dùi. Điểm kích âm của cồng bao giờ cũng là núm lồi. Còn điểm kích âm của chiêng thì đa dạng hơn. Với chi dùi gõ, người ta có thể đánh vào điểm gần hoặc chính tâm chiêng. Còn với chi đấm, điểm kích âm bao giờ cũng nằm ở giữa tính từ tâm ra đến thành chiêng. Nếu đánh ở điểm khác thì tiếng bị xịt. Cũng cần nói thêm rằng dùng dùi thì gõ ở mặt nào cũng được, nhưng đấm thì người ta buộc phải đấm ở mặt ngoài của chiêng để cườm tay không bị chạm và cạnh của thành chiêng. Mặt khác, qua thực nghiệm chúng tôi thấy đấm ở mặt ngoài, tiếng chiêng đẹp hơn.

Trong chi dùi gõ, có thể chia 3 loại dùi:

+Dùi cứng: làm bằng gỗ cứng như ở người Ê Đê. Hiệu quả tiếng vang đanh, cường độ lớn và bên cạnh âm cơ bản có rất nhiều tạp âm (dạng tiếng động).

+Dùi vừa: làm bằng thân cây sắn như ở người Bahnar, Xê Đăng, Gia Rai. Hiệu quả tiếng vang nét, âm cơ bản rõ ràng.

+Dùi mềm: làm bằng gỗ bọc da dái trâu, bò, dê hay vải hoặc cao su, chỉ thấy dùng để đánh cồng. Hiệu quả tiếng vang ấm, âm cơ bản rõ ràng.

Trong chi đấm, người ta dùng một nắm tay đấm vào mặt chiêng. Tay kia dùng bàn tay đỡ vào mặt trong của chiêng. Kỹ thuật này là bắt buộc, đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Với các ngón bịt, mở, xoa, miết bằng cườm tay, ngón tay với nhiều góc độ và lực độ khác nhau, nghệ nhân diễn tấu sẽ tạo ra nhiều sắc thái khác nhau trên cùng một âm. Bởi vậy, nếu chi dùi gõ tạo ra những âm thanh vang to, sắc nét thậm chí hoành tráng hay dữ dội thì chi đấm lại tạo ra những âm thanh huyền ảo, trầm mặc, vẻ như thủ thỉ dãi bày và dễ biểu cảm những sắc thái tinh tế.

Trên thực tế, âm thanh của cồng thuộc vào loại phức tạp nhất trong số các nhạc cụ định âm. Khi được kích âm, bên cạnh âm chính (âm cơ bản) bao giờ cũng vang lên hệ thống những âm phụ: bao gồm những âm đo được và không đo được (dạng tiếng động). Đại thể, những âm bồi bao giờ cũng nằm phía trên âm cơ bản. Còn những âm hiệu ứng cộng hưởng (partiels) nằm cả ở phía trên lẫn phía dưới âm cơ bản. Bởi vậy hiệu quả âm thanh cồng chiêng thật đầy đặn bởi số âm vang thật bao giờ cũng nhiều hơn số âm cơ bản (tương ứng với số lượng cồng chiêng). Để minh họa cụ thể, dưới đây xin đưa các đồ hình âm thanh của cùng một cái chiêng được kích âm bằng 3 cách khác nhau: đấm, gõ bằng dùi mềm và gõ bằng dùi cứng[1].

1-3.jpg

2-3.jpg

3-3.jpg

Có thể thấy rõ khi đấm chiêng, các âm phụ xuất hiện khá cân xứng ở cả trên lẫn dưới âm cơ bản. Còn khi dùng dùi gõ, các âm phụ chỉ chủ yếu xuất hiện phía trên âm cơ bản. Việc đấm hay dùng dùi mềm cho âm cơ bản rõ nét hơn là dùng dùi cứng. Mặt khác, việc kích âm bằng dùi cứng cho số lượng âm phụ nhiều nhất với dải tần rất rộng. Trong đó có vô số những tạp âm dạng tiếng động (không đo được). Do đó âm cơ bản bị lấn át. Qua đó, có thể thấy phương pháp kích âm có quan hệ mật thiết với hiệu quả âm thanh cồng chiêng như thế nào.

Về mặt kỹ thuật, nhìn chung, kỹ thuật sử lý cồng chiêng chi đấm thuộc loại phức tạp hơn nhiều so với kỹ thuật cồng chiêng chi dùi gõ. Đó là điều dễ nhận thấy trong thực tế. Riêng với các dàn chiêng chi đấm của tộc người M’nông, chiếc chiêng thứ 2 tính từ thấp lên cao (chiêngBố) bao giờ người đánh chiêng cũng đeo vòng ở cổ tay đỡ trong lòng chiêng. Khi tay kia đấm chiêng, tay đeo vòng lúc bịt lúc mở. Lúc mở, bàn tay rời khỏi mặt chiêng. Lúc bịt, bàn tay ấp vào mặt chiêng, đồng thời nghệ nhân vẩy cổ tay sao cho chiếc vòng gõ vào mặt chiêng tạo tiếng “cạch” đồng độ làm nhiệm vụ giữ nhịp. Trường hợp không có vòng, nghệ nhân có thể đeo nhẫn thay thế như một vật dụng tương ứng để thực hiện kỹ thuật này.

2. Biên chế và thang âm

Nhìn chung, các biên chế cồng chiêng Tây Nguyên khá phong phú và đa dạng. Căn sứ vào số lượng trong biên chế, nếu không kể các nhạc cụ hỗ trợ là trống và chũm chọe, có thể xếp thành các nhóm như sau:

-Nhóm nhỏ: bao gồm các biên chế 2 chiêng của Chu Ru, Cơ Ho và các biên chế 3 cồng của Chu Ru, Bahnar, Gia Rai, Xê Đăng.

-Nhóm trung bình: bao gồm các biên chế 6 chiếc của M’nông, Mạ, Ê Đê Bih, Ê Đê K’pa và biên chế 7 chiếc của Xê Đăng.

-Nhóm lớn: bao gồm các biên chế 8 chiêng bên cạnh biên chế kết hợp của Bahnar, Gia Rai, Xê Đăng và biên chế 9 chiếc của Ê Đê K’pa.

Bên cạnh đó, sẽ thấy do sự ảnh hưởng của phương pháp kích âm, các dàn chiêng chi đấm luôn có kích thước trung bình để vừa đủ phát huy hiệu quả kích âm. Nếu chiêng to hay bé quá thì đấm không kêu hay sử dụng kỹ thuật bịt mở không hiệu quả hoặc đánh không rõ tiếng. Các bộ chiêng chi đấm mà chúng tôi ghi nhận được đều có đường kính trung bình từ 30 – 46 cm.

Ngược với dàn chiêng chi đấm, các dàn cồng chiêng chi dùi gõ có thể cấu tạo bởi những chiếc cồng chiêng rất to và rất bé. Chiếc to nhất có đường kính lên tới 77 cm và chiếc nhỏ nhất có đường kính khoảng 14 cm. Theo đó, dàn chiêng chi đấm bao giờ cũng có số lượng nhạc cụ giới hạn trong khi các dàn cồng chiêng chi dùi gõ có thể cấu tạo tới 16 – 17 chiếc. Có thể gọi đó là mối quan hệ tương thích giữaphương pháp kích âm,cấu tạo nhạc cụbiên chế dàn nhạc. Tất nhiên, số lượng nhạc cụ ở đây tất sẽ ảnh hưởng cơ bản đến tính chất và hiệu quả của âm nhạc bởi mỗi biên chế đều xác định một số lượng âm tương ứng. Rõ ràng điều đó biểu hiện cả một quan điểm thẩm mỹ nghệ thuật của từng cộng đồng tộc người ở Tây Nguyên.

Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng các dàn cồng chiêng Tây Nguyên đều lấy thang bồi âm tự nhiên làm cơ sở để cấu tạo nên các thang âm của riêng mình.

Về vấn đề đo đạc cao độ, đáng lý ra thang âm các dàn cồng chiêng phải được đo bằng hệ thống máy đo âm thanh hiện đại. Song ở đây do điều kiện kỹ thuật không cho phép nên chúng tôi buộc phải chọn phương pháp đo thủ công trên sợi dây rung. Phương pháp này được thực hiện qua các bước như sau:

+Bước 1: Lên một sợi dây đàn sao cho cao độ của nó bằng đúng cao độ của chiếc cồng (hay chiêng) to – chỉ số độ dài của cả sợi dây đàn được gọi làA.

+Bước 2: Trên sợi dây đàn đó, dùng con chặn rút ngắn chiều dài sợi dây sao cho đoạn còn lại có cao độ bằng đúng cao độ của chiếc cồng (hay chiêng) nhỏ – chỉ số độ dài của đoạn dây rung lúc này được gọi làB.

+Bước 3: Lấy chỉ sốA chia cho chỉ sốB, ta có tỷ số độ dài 2 đoạn dây rung bằng đúng tỷ số tần số của cồng nhỏ trên cồng to – gọi làX.

+Bước 4: Lấy lô-ga-rít củaX chia cho lô-ga-rít của2lũy thừa1/1200, ta có độ lớn của quãng giữa cồng to và cồng nhỏ (tính bằng cents)[2]. Có thể tóm tắt như sau:

4-2.jpg

Phương pháp này trên thực tế có thể cho chúng ta những số liệu khá chính xác. Thế những nó đòi hỏi người thực hiện buộc phải có một tai nghe cực tốt – tức phải có khả năng nghe được sự chênh lệch của cao độ tới mức tối đa với độ dao động chỉ vài cents. Tất nhiên kèm theo đó là các điều kiện tối thiểu như sức khỏe người thực hiện, không gian yên tĩnh lúc đo đạc.v.v.. Ngoài ra, số lần thao tác đo đạc phải được lặp lại nhiều lần nhằm mục đích đạt được độ chính xác cao. Tuy nhiên, do việc đo đạc hoàn toàn phụ thuộc vào giác quan nghe nhìn của người nghiên cứu nên các số liệu thang âm được giới thiệu ở đây xin chỉ coi là tương đối.

Ở đây, do hiệu ứng cộng hưởng mặt phiến và hiệu ứng âm bồi rất phức tạp nên chúng tôi chỉ đưa raâm cơ bản trong hàng âm đối với mỗi chiếc cồng chiêng.

Dưới đây, là các thang âm đo được trong đợt điền dã tháng 5/2004. Các thang âm sẽ được phân loại theo số lượng biên chế. Trong đó, tùy vào đặc điểm riêng của các bậc thang âm trong mỗi dàn cồng chiêng, chúng tôi sẽ xếp chúng thành từng loại để tiện cho việc so sánh. Ngoài ra, để tạo thuận tiện cho những người biết hệ thống ký âm phổ thông, chúng tôi sử dụng hệ thống ký tự Do, Re, Mi… ở phía dưới mỗi thang với sự đối sánh ước lệ.

2.1 Nhóm nhỏ

* Thang âm biên chế 2 chiếc: thấy có ở tộc người Chu Ru và KơHo. Dưới đây là thang âm dàn chiêng đôi (Sariâu) của người Chu Ru (thôn Próh ngò – xã Próh – Đơn Dương – Lâm Đồng).

5-2.jpg

* Thang âm biên chế 3 chiếc:Có 2 loại.

+Loại thứ nhất là biên chế độc lập, không kết hợp với các biên chế khác. Đó là dàn cồng 3 chiếc (Ching Klâu Poh)tộc người Chu Ru (thôn Próh ngò – xã Próh – Đơn Dương – Lâm Đồng) – Âm vực 1159 cents.

6-3.jpg

+Loại thứ hai bao gồm dàn 3 cồng của các tộc người Bahnar, Gia Rai và Xê Đăng. Các dàn cồng này đều được xây dựng trên cơ sở các quãng 5 đúng, 4 đúng và 8 đúng (với độ chuẩn lý tưởng là 702 cents, 498 cents và 1200 cents). Ví dụ dàn cồng 3 chiếc tộc người Bahnar Kon Kơ Đeh (plei Kông Mha – xã Kông Lơng Khơng – huyện Kbang – Gia Lai).

7-3.jpg

Theo GS.TSKH Tô Ngọc Thanh, đồng bào Bahnar gọi biên chế 3 cồng này làChêng Xo Xơh (cồng cổ xưa)[3] – được coi như là biên chế hình thành sớm nhất trong âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên. Trên thực tế, dàn 3 cồng này có thể chơi riêng với trống cái. Tuy nhiên, chúng thường xuyên kết hợp với dàn chiêng biên chế 8 chiếc tạo thành một biên chế lớn hơn. Khi đó dàn 3 cồng thường được bổ xung thêm một số chiếc cồng ở âm khu cao – là những âm tăng cường dạng bồi âm quãng 8 so với 3 cồng cơ bản. Chúng tôi sẽ giới thiệu biên chế đó ở phía dưới.

Cũng qua biên chế 3 cồng này, chúng ta càng thấy rõ vai trònền tảngcủa các quãng 8 đúng, 5 đúng và 4 đúng trong âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên.

2.2 Nhóm trung bình

Đây là các thang âm biên chế 6 chiếc, 7 chiếc.Đây là những biên chế độc lập, không kết hợp với các biên chế khác. Dưới đây xin đưa một vài ví dụ.

+Dàn chiêng tộc người Mạ (boon Bơđăng – thôn 2 – xã Lộc Bắc – Bảo Lâm – Lâm Đồng) – Âm vực 856 cents.

8-2.jpg

+Dàn chiêng 6 chiếc (Chêng Blơi Loi) tộc người M’nông Bu Noong Nong (boon Pơng Xim – Trường Xuân – Đắk Song – Đắk Nông)– Âm vực 1024 cents.

9-2.jpg

+Dàn chiêng 6 chiếc tộc người M’nông Bu Noong P’râng (buôn Tinh – xã Quảng Sơn- xã Đắk Ha – Đắk Nông – Đắk Nông) – Âm vực 1218 cents.

10-2.jpg

2.3 Nhóm lớn

*Thang âm biên chế 8 chiếc và biên chế kết hợp:

Đây là các dàn chiêng 8 chiếc của người Bahnar, Gia Rai, Xê Đăng. Có thể xếp thang âm của chúng vào dạng tương đồng. Trong đó, theo thứ tự từ thấp lên cao, chiếc số 2 và chiếc số 7 có quan hệ một quãng 8 đúng với nhau. Thang âm này có thể tăng cường chiếc thứ 9 – cao hơn chiếc số 4 một quãng 8 đúng. Điều đặc biệt, như đã giới thiệu, biên chế này luôn kết hợp với dàn 3 cồng. Trong đó, chiếc số 2 của dàn 8 chiêng bao giờ cũng cao hơn chiếc cồng trầm nhất hai quãng 8 đúng. Dường như khi sáng tạo ra bộ 8 chiêng, các tộc người này đã có ý định kết hợp ngay từ ban đầu nên sự chồng âm quãng 8 là điều đã được mặc định sẵn. Dưới đây, xin giới thiệu mô hình biên chế kết hợp ở dàn cồng chiêng tộc người Bahnar Kon Kơ Đeh (plei Mơ H’ra – xã Kông Lơng Khơng – huyện Kbang – Gia Lai) – Âm vực khoảng 3772 cents.

-Cồng:

11-2.jpg

Trong 2 chiếc cồng tăng cường, B’bết Iê cao hơn B’bết Tih 1 quãng 8 đúng, B’bết Tinh cao hơn Chê 1 quãng 8 đúng.

-Chiêng:

12-2.jpg

Sự đồng dạng giữa những biên chế kết hợp cồng chiêng thể hiện rõ nhất ở mối quan hệ giữa các bậc thang âm. Trong các dàn 8 chiêng, bao giờ chiếc thứ 2, thứ 5 và thứ 7 cũng hợp thành trục âm quãng 5 đúng, 4 đúng và quãng 8 đúng.

13-2.jpg

Trục âm này lại được “nhấn mạnh” bởi dàn cồng với các quãng đồng âm và các quãng 8 ở âm khu thấp. Điều đó có nghĩa như một thứ tầng nền vững chắc để khẳng định thêm trục điểm tựa của giai điệu. Đây là một trong những thành tố quan trọng quyết định phương thức lập điệu cho biên chế kết hợp này. Với một âm vực lớn nhất trong tất cả các biên chế cồng chiêng, thang âm này biểu cảm rõ tính hòa hợp, tươi sáng và rộng mở của âm nhạc.

* Thang âm biên chế 9 chiếc:

Đây là trường hợp của dàn cồng chiêng 9 chiếc (Ching Shar Knăh) tộc người Êđê K’pah (boon Kmrơng Proong A – xã Êa tu – Buôn Mê Thuột – Đắk Lắk) – Âm vực 1917 cents.

14-2.jpg

15-2.jpg

Trong biên chế này, riêng cồng Mđuh là một hiện tượng đặc biệt. Khi kích âm, người ta úp nó xuống, một đầu cạnh kê lên gối vải, một đầu kê lên đùi nghệ nhân, tay anh này tỳ lên mặt cồng và đánh bịt tiếng. Do vậy tiếng vang thật của chiếc cồng này có hiệu quả giống tiếng trống bịt mặt – tức thực tế nó được sử dụng như một chiếc trống đồng hơn là một chiếc cồng định âm. Có thể vì thế mà trong sự sắp đặt vị trí diễn tấu của Ching Shar Knăh, cồng Mđuh được xếp cạnh chiếc trống cái. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn đo tiếng ngân vang của nó để tìm hiểu.

Tóm lại, các dàn cồng chiêng của từng tộc người Tây Nguyên đều thuộc loại hàng 5 âm hay 6 âm cơ bản. Chúng tôi nhấn mạnh làcơ bản bởi lẽ trên thực tế, ngoài âm cơ bản, mỗi chiếc cồng chiêng thường cho ta nhiều các âm phụ khác. Tuy nhiên, không phải lúc nào người ta cũng nghe thấy chúng rõ ràng. Tùy vào đặc điểm cấu tạo riêng của từng chiếc cồng chiêng và cách kích âm mà các âm phụ lúc ẩn lúc hiện song song với âm cơ bản.

Với những dàn chiêng vang rõ các âm phụ, bên cạnh đường tuyến giai điệu cơ bản bao giờ cũng vang kèm song song một giai điệu tạo bởi những âm bồi phía trên (thường là âm quãng 5 đúng). Đó chính là một trong những nguyên nhân tạo nên màu sắc đầy đặn nhưng lại mờ ảo, huyền hoặc của những dàn chiêng này.

Bên cạnh tính chất các quãng, âm vực của thang âm cũng là một vấn đề. Các dàn chiêng có âm vực hẹp như của M’nông, Mạ… thường có sắc thái tương phản với sự hoành tráng, to lớn của những thang âm có âm vực rộng mở như các dàn cồng chiêng Bahnar, Gia Rai, Xê Đăng, Ê Đê…

Theo khảo sát ban đầu, nhìn chung ở Tây Nguyên,tính thống nhất về mầu sắc thang âm cồng chiêng trong mỗi tộc người là điều dễ nhận thấy. Chẳng hạn nếu ta nghe 2 dàn chiêng Aráp ở Đắk Lắc và ở Gia Lai thì vẫn thấy giống nhau; hay các dàn cồng chiêng của Bahnar ở Kbang và An Khê cũng vậy… Hơn thế nữa, thang âm cồng chiêng Bahnar và Gia Rai lại rất gần gũi. Thế nhưng riêng M’nông thì ngược lại, dường như không tồn tại sự thống nhất thang âm của các dàn chiêng tộc người này. Các bộ chiêng được nghiên cứu đều là các dạng thang âm khác nhau. Chúng ứng với những nhóm M’nông cư trú trên các địa bàn khác nhau. Điều đó có nghĩa mỗi nhóm cư trú đều tự thiết lập một chuẩn mực thẩm mỹ nghệ thuật riêng của họ. Đó là đặc điểm thật độc đáo mà chúng tôi gọi là “rất M’nông”! Mỗi dàn chiêng M’nông là một dạng thang âm riêng. Phải chăng điều đó biểu hiện tính độc lập nghệ thuậttương đối của tộc người M’nông?

(còn nữa)


[1] Xin lưu ý: Chúng tôi sử dụng phần mềm Sound Frequency Analyzer v 1.1 do TS Trần Quang Hải (Muséum National d’Histoire Naturelle – France) cung cấp. Đây là đồ hình âm thanh 2 chiều: cao độ và trường độ. Các âm xuất hiện chạy dài từ trái qua phải. Đơn vị cao độ tính bằng Hz. Âm cơ bản ở ví dụ này là vạch ngang kéo dài, nằm ở vị trí 2 đơn vị (2 vạch) tính từ dưới lên trên cột đo tần số (Hz). Còn những điểm khác là các âm phụ xuất hiện đồng thời. Để hiển thị âm thanh được rõ, chúng tôi phải kích âm liên tục nhằm kéo dài trường độ của chúng.

http://siphubacha.multiply.com/journal/item/14