Tag Archives: dạ cổ hoài lang

TRẦN QUANG HẢI : Thử tìm hiểu nguồn gốc bản Dạ cổ hoài lang và sự diễn biến của bản này cho tới ngày nay qua cuộc phỏng vấn nhạc sư VĨNH BẢO


Thử tìm hiểu nguồn gốc bản Dạ cổ hoài lang và sự diễn biến của bản này  cho tới ngày nay  qua cuộc phỏng vấn nhạc sư VĨNH BẢO

Trần Quang Hải

 

 130815164031_vinh_bao_traditional_vietnamese_musician_640x360_bbc_nocreditchan-dung-vinh-bao

Nhạc sư Vĩnh Bảo

Nhân dịp đại hội liên hoan đờn ca tài tử lần thứ nhứt được tổ chức tại Bạc Liêu từ 24 tới 29 tháng 4, 2014, cùng với sự tôn vinh bộ môn đờn ca tài tử được UNESCO nhìn nhận trong danh sảch  di sản văn hóa phi vật   của nhân loại vào ngày 5 tháng 12, 2013, và đặc biệt là bài « dạ cổ hoài lang » do nhạc sĩ Cao Văn Lầu tự Sáu Lầu đã sáng tác bài này vào năm 1919 tại Bạc Liêu. Một số người cho ông Sáu Lầu là « Vua vọng cổ ». Tôi muốn biết rõ cội nguồn của sự sáng tác bài « Dạ cổ hoài lang » được sinh ra trong trường hợp nào , và muốn làm sáng tỏ một số nghi vấn trong đầu tôi là một người nghiên cứu nhạc dân tộc.  

Tôi được may mắn là được nhạc sư Vĩnh Bảo truyền dạy lý thuyết cổ nhạc miền Nam qua nhiều cuộc đàm thoại viễn liên và qua hệ thống mạng SKYPE từ nhiều năm qua , tôi đã lĩnh hội một số kiến thức về sự phong phú của cổ nhạc miền Nam , được gọi là « đờn ca tài tử » và thấm nhuần sự tinh vi của 20 bài tổ qua 4 điệu Bắc, Lễ, Nam, Oán do nhạc sư Vĩnh Bảo minh họa với tiếng đờn tranh và đờn kìm .

Để hiểu rõ tường tận hơn , tôi mới gọi điện thoại cho nhạc sư Vĩnh Bảo để minh giải những điều thắc mắc trong đầu tôi về bài « dạ cổ hoài lang » .  Rất may cho tôi là nhạc sư Vĩnh Bảo không bị bận và sẵn sáng tiếp tôi và bằng lòng cho tôi phỏng vấn .

Sau đây là nội dung của cuộc phỏng vấn .

Trần Quang Hải (TQH) : Kính chào Bác . Con rất  may mắn có được cơ hội hầu chuyện cùng Bác để hiểu rõ thêm về bài « dạ cổ hoài lang » ra đời 95 năm nay . Trước khi con đặt câu hỏi về bài « dạ cổ hoài lang », con muốn được biết qua một chút ít về Bác và gia đình của Bác để tìm hiểu nguyên do nào đưa Bác vào con đường âm nhạc dân tộc .

Nhạc sư Vĩnh Bảo (VB) : Chào con Hải . Con muốn biết vì sao Bác hấp thụ nhạc cổ truyền thì Bác sẽ kể tóm tắt như sau . Bác sanh ngày 19 tháng 9, năm 1918 tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc. Ba của Bác là ông Nguyễn Hàm Ninh sanh năm 1877, và má của Bác tên Nguyễn thị Cận, sanh năm 1885. Ba Bác là địa chủ, rất đam mê nhạc và thơ phú . Ông thường mời mấy ông thầy đờn về ở luôn trong nhà để học đờn . Nhờ có khiếu trời ban, ông rất điêu luyện và nắm vững cơ bản của cổ nhạc và nhạc lễ miền Nam qua tiếng đờn của đờn kìm, đờn tranh và đờn cò . Gia đình Bác gồm có 7 anh em (4 trai và 3 gái), ai cũng mang trong người dòng máu đam mê âm nhạc của cha . Anh Hai Bác chơi đờn kìm và đờn tranh những bản cổ nhạc . Nhưng ngón đờn khô khan . Anh Ba Bác đờn kìm , đờn xến và đờn mandoline . Ngón đòn vừa tươi mướt, vừa mùi mẩn, đua cho nhiều nhạc sư thời bấy giờ trong ấy có nhạc sư Huỳnh văn Sâm (Sáu Tửng ), tay đờn kìm rất tên tuổi nể phục. Anh Bảy Bác đờn kìm, đờn tranh và đờn cỏ. Ngón đờn rất tươi và mùi mẩn, nhưng do lười biếng, bản đờn nào cũng thuộc man mán, và khi đờn là dựa người cùng đờn với mình . Hai chị và cô em gái Bác cũng chơi đờn theo kiểu qua loa . Các anh chị Bác và Bác đều tây học . Chơi đờn là môn giải trí. Riêng Bác thì âm nhạc gắn liền với cuộc sống sâu kín của Bác, nên Bác ôm chầm lấy nó từ khi lên năm cho tới bây giờ là 97 tuôỉ và vẫn chưa chịu ngừng . (nhạc sư Vĩnh Bảo cười )

TQH : Úi cha ! Như vậy là Bác đã có hơn 90 tuổi nghề với cổ nhạc miền Nam ! Quả thật hiếm có . Bác đúng là « cây đại thu » của cổ nhạc miền Nam ! Bác biết đờn bản « dạ cổ hoài lang » lúc nào  vậy thưa Bác ?

VB : Bác biết đờn từ năm lên 5. Tới 7 tuổi (năm 1925) Bác được thầy Sáu Ký , ở làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh dạy Bác đờn kìm hai bản « dạ cổ hoài lang » và « hành vân » qua lối truyền ngón truyền khẩu. Thầy dạy sao Bác đờn vậy. Ở tuổi con nít , Bác không tò mò tọc mạch hỏi và cũng không nghe ông nói ông học hai bản này của ai, học với ai hay theo bài viết ra . Trong quyển « cầm ca tân điệu » do ông Lê văn Tiếng tự Cư Thiện ở Tân An xuất bản năm 1926 (nhà in Joseph Nguyễn văn Viết) trong ấy có bản « dạ cổ hoài lang » lẫn bản « hành vân » nhưng cũng không thấy ghi ai là người sáng tác .

TQH : Con lấy làm lạ là ngày chào đời của bản « dạ cổ hoài lang » của ông Sáu Lầu không thống nhứt . Có người viết là bài đó chào đời  năm 1918. Rồi có người cho là bài « dạ cổ hoài lang » được sáng tác vào  năm 1919 (theo lời hai người con của ông Sáu Lầu là Cao Kiến Thiết và Cao Văn Hoài) . Mà cũng có người cho rằng bài này viết xong năm 1920 . Bác nghĩ sao về bản « dạ cổ hoài lang » ? Tác giả có phải là ông Sáu Lầu hay không ? và những giả thuyết ly kỳ hóa để thêu dệt sự chào đời của bản này ?

VB : Bác thấy chỉ có năm sáng tác bản này mà còn không thống nhứt thì làm sao có thể tin vào những chuyện bao quanh sự hình thàng bản « dạ cổ hoài lang ». Không có tư liệu bằng văn bản, bút tích hay tiếng đàn nào của ông Cao Văn Lầu (sáng tác được ghi với ký âm theo quốc ngữ Hò , xự, xang, xê, cống  hay theo kiểu ký âm Trung hoa) được lưu lai để chứng minh một cách thuyết phục rằng ông Sáu Lầu là người sáng tác ra bản « dạ cổ hoài lang ». Tuy nhiên phần đông nhạc sĩ đã nhìn nhận và không thấy có phản biện . Riêng Bác, Bác cũng biểu đồng tình, xem ông là người có công sanh ra nó, nhưng có sanh mà không có dưỡng . Việc nuôi dưỡng nó thành nhơn chi mỹ, nghĩa là phát triển nó ra « vọng cổ nhịp tư, nhịp tám , nhịp mười sáu ,và 6 câu nhịp 32 là do sự tận dụng tài năng , với tim óc của nhiều nhạc sĩ , nhạc sư ẩn danh từ nhiều năm qua, đưa cho nhiều người, dù khó tính cũng tìm nghe và học.  Để tỏ lòng tri ân ông Cao Văn Lầu, một số người tôn vinh ông là « Vua Vọng Cổ ». Ông Cao Văn Lầu vốn người chất phác hiền hòa, có thễ sẽ không vui gì trước cái tôn vinh tâng bốc quá đáng này và vô tình tạo ra sự hiểu lầm đáng tiếc .

TQH : Con có đọc là bài « dạ cổ hoài lang » chịu ảnh hưởng của hai bài « hành vân » và « xuân nữ » . Bác nghĩ sao về khía cạnh này ?

VB : « dạ cổ hoài lang » thường đờn cập với bản « hành vân » mà không với bản khác , chẳng hạn như Lưu thủy, Bình bán hay Kim Tiền .Bác cho con thấy sự giống nhau giữa hai bản này . Cả hai bài đều có 20 câu . Qua 20 câu của bài « dạ cổ hoài lang » , những câu 2,3,4, 9, 10, 14, 16, 19 và 20 của bài « hành vân »   đều được thấy trong bài « dạ cổ hoài lang » (tổng cộng 16 câu bài « hành vân » dùng cho 20 câu bài « dạ cổ hoài lang »). Lúc đầu bài « dạ cổ hoài lang » lên dây Bắc , đờn có âm hưởng Huế như bài « hành vân » . Mãi tới năm 1924, mới sữa lại đờn với chữ Xang rung nhẹ (chữ xang già , và cống non) tạo thành đờn hơi ai thay vì dây Bắc là sol la do re mi , trở thành sol si do re mi man mác hơi ai .

 DẠ  CỔ  HOÀI  LANG    những câu giống HÀNH VÂN

 1      Hò   là   xg   hò  xg  xê   CỐNG  xê         câu 4                              

 2     Liêu  xề  liêu  cổng      cống  xê  xg

                                       liêu

3     Hò     liêu  cống   xê  xg                                9                                                

4     Xề  xg     là   hò     __

5     Xề   là  liêu  xáng  ú   liêu    cống  xệ

6     Liêu  xáng  xàng   xề   liêu  liểu     liêu     14  

                                                           ú

7     Hò  là  xg  hò  xg  xê  cống                                       4

8     Xê  cống  xừ  xg  xê  xự  xg                             3

9     Hò     cống  xê  xg  xự                                             10       

10   Xừ .  xg   xừ  xg  xê  xừ  xg                                        19        

11   Xừ .  xg  xừ  cống  xê  xang                                 2

12   Xề  xg    là  hò    __            

13   Cống  xê  xang  tồn  là  xg  xê  cống        20       

14    Xê  cống  xừ  xg  xê  xừ  xg   xang                       3

15   Liêu  xề  liêu  cộng      cống  xê   xg                    16

                                     liêu                                   

16   Liêu  xáng  xàng  xề  liêu  liểu     liêu             14                                                                      

                                                                     ú

17   Là   xự  xang . cống xê xang                                2     

18   Xê  xg  xự  xang  hò  xự  xang                                    3

19   Liêu    liêu  cống       cống  xê  xg                       16

                                    liêu    

20    Liêu  xáng  xàng  xề  liêu  liểu     liêu.             14

                                                           ú        

 Để cho dễ nhận diện sự giống nhau giữa hai bài “dạ cổ hoài lang” và “hành vân”, Bác ghi tóm tắt như sau :

Dạ cổ hoài lang                     giông giống Hành vân

Câu 1                                              câu 4

Câu 2

Câu 3                                              câu 9

Câu 4

Câu 5

Câu 6                                               câu 14

Câu 7                                                câu 4

Câu 8                                                câu 3

Câu 9                                                câu 10

Câu 10                                              câu 19

Câu 11                                               câu 2

Câu 12

Câu 13                                             câu 20

Câu 14                                             câu 3

Câu 15                                             câu 16

Câu 16                                             câu 14

Câu 17                                              câu 2

Câu 18                                             câu 3

Câu 19                                             câu 16

Câu 20                                            câu 14

Năm 1924, « dạ cổ hoài lang » mở ra nhịp tư, gọi là « vọng cổ hoài lang » với 20 câu, mỗi câu 4 nhịp. Song lang gõ ngay nhịp 2 và 3, còn nhịp tư là câu chầu. Tới năm 1934, từ bản nhịp tư mở ra nhịp tám gọi là « vọng cổ » (bỏ hai chữ «hoài lang » ; vẫn giữ 20 câu mỗi câu 8 nhịp. Song lang gõ nhịp 4 và 6. Còn nhịp 7 và 8 là câu chầu. Tới năm 1937, bản nhịp 8 mở ra nhịp 16, gọi là « vọng cổ » cũng giữ  20 câu mỗi câu 16 nhịp . Song lang gõ ngay nhịp 8 và 12. Bốn nhịp 13,14,15, và 16 là câu chầu . Khoảng năm 1955, bản nhịp 16 mở ra nhịp 32, thu lại còn 6 câu, mỗi câu 32 nhịp . Theo nguyên tắc,song lang gõ ngay nhịp 16 và 24 (còn 8 nhịp : nhịp 25 tới 32 là câu chầu). Nhưng các nhạc sĩ nhứt trí sửa lại. Song lang gõ ngay nhịp 24 và 32 (còn 8 nhịp của câu chầu đua qua làm đầu câu 2). Không có vọng cổ nhịp 64 như người ta thường tưởng hay nói .

TQH : Không biết Bác có thường đờn bản “dạ cổ hoài lang” không ? Con có nghe Bác minh hoạ bài này khi đờn có âm hưởng huế và một kiểu khác man mác điệu ai .

VB : Riêng Bác thì Bác thường xuyên đờn bài “dạ cổ hoài lang”, tìm cách đánh bóng , trang trí theo cách riêng của Bác như con đã nghe . Bác cảm thấy thích bản này . Bài “dạ cổ hoài lang” nếu có viết ra bản thì chỉ thấy có tên nốt đờn, còn trang trí như rung, mổ, nhấn, luyến láy thì không có, rất là mộc mạc. Thời điểm năm 1925 là lúc Bác học bản này, Bác thấy ít nhạc sĩ đờn , và nếu có thì mỗi người mỗi trang trí khác nhau .

TQH : Thưa Bác, Bác cho con biết vai trò trang trí (ornementation) trong nhạc truyền thống Việt Nam và đặc biệt trong bản Dạ cổ hoài lang ?

VB : À, khía cạnh này vô cùng quan trọng. Đối với nhạc truyền thống, cái tinh thần của bản nằm trong cái trang trì nốt như RUNG, MỔ, NHẤN, LUYẾN LÁY . Nếu không cái trang trí đó thì bản đờn chỉ có cái XÁC mà không có HỒN. Cách chép bản Dạ Cổ Hoài Lang là theo Hò, Xự, Xang, Xê, Cống tạm dịch là Sol La Do Ré Mi. Những nốt này không nói lên cái buồn của tác giả bị cha mẹ buộc lấy vợ lẻ nối dõi tông đường . Chỉ lời ca mới nói lên được điều này . Điểm thú vị nữa là lúc bản Dạ Cổ Hoài Lang ra đời, đờn kìm sử dụng dây Bắc với thang âm HÒ Xự Xang Xê Cống (sol la do re mi) và trang trí nốt đờn theo điệu Bắc (Mode Bắc) nghĩa là những nốt HÒ, XANG, XÊ (Sol Do Ré) Mổ. Còn XỰ, CỐNG (La Mi) thì RUNG và đờn cặp với bản Hành Vân Huế chỉ nói lên cái vui . Vài năm sau đó Dạ Cổ Hoài Lang được chuyển qua hơi BUỒN. Đờn tranh lên dây theo thang âm Hò Xư Xang Xê Cống (Sol Si Do Ré Mi), còn đờn kìm thì vẫn sử dụng dây Bắc, nhưng nốt Xự (La) phải nâng lên môt cung thành Xư (Si) và các nốt Liều, Xang (Sol Do) RUNG còn Xự Xê Cống (La Ré Mi ) MỔ

TQH : Nhạc đờn tài tử có phải là loại nhạc điệu (musique modale) hay không , thưa Bác ?

VB: Như con biết, nhạc đờn tài tử thuộc nhạc điệu (musique modale). ĐIỆU gồm cấu trúc (structure) của câu đờn, thang âm của dây đờn (échelle musicale) bản nào dây nấy, tốc độ (tempo). Về HƠI (có người gọi là GIỌNG) (air, nuance)y hệt như những giọng lên xuống (tons) của tiếng Việt – ma, má , mà, mạ, mả , mã . HƠI nằm trong trang trí nốt đờn như Rung, mổ, nhấn, luyến láy (ornements). Tương tơ như hội họa (peinture), nó mang lại màu sắc, cái đẹp, cái màu sắc cho bản đờn. Bản đờn không có màu sắc thì bản đờn đó nghe khô khan . Vấn đề trang trí nốt đờn cho mỗi bản đờn đều được hệ thống hóa (système répertorié) mà con đã thấy ớ các bản ký âm của Bác do Bác sáng chế ra . Phương pháp này giúp cho người học bài bản nắm vững màu sắc của bài bản tùy theo dây Bắc, Lễ, Nam, Oán .

TQH : Ai là người hát vọng cổ nhịp  8 nổi tiếng và vọng cổ nhịp 16 ?

VB : Vào thời điểm Vọng cổ nhịp 8, có nhiều tay ca như anh Ba Tuất (Sa Đéc), Tám Thưa, Năm Bé (Nha Mân), Sáu Hướng, Tám Kỉnh (Cao Lãnh) giọng ấm, ca rất ngọt và mùi, nhưng toàn là ca những vọng cổ với lời ca trữ tình hay nặng về sữ . Còn Vọng cổ nhịp 8 mà anh Lư Hòa Nghĩa ca (anh Hòa đệm đờn Ghita-mando lõm phím 4 dây), bài ca do anh Lê Kim Hải (Sáu Hải ở Bạc Liêu) soạn, đặt tên là ” Vì tiền lỗi đạo”, lời ca mở đầu là “văng vẳng tiếng chuông chùa” do hãng dĩa nhựa ASIA thu vào năm 1936. Dĩa này bán rất chạy, một phần do anh Lư Hòa Nghĩa ca mùi, phần khác là do lời ca đượm màu tu hành , lại thêm dĩa hát xuất hiện vào thời điểm người ta hay đi chùa lễ Phật. Chuyện này y hệt trường hợp gánh hát cải lương Tân Thinh, đêm nào cũng chật rạp là nhờ biết tâm lý khán giả, hát toàn tuồng nói về Phật : như Phật Thích Ca ra đời, Phật Thích Ca đắc đạo …. Các gánh hát khác vắng người xem bởi hát tuồng sử, tuồng tây.

TQH : Ông Trần Phước Thuận ở Bạc Liêu có viết  câu « nên dùng hai chữ Vọng cổ để đặt tên cho các bài đã được canh tân này ». Bác nghĩ sao về việc dùng chữ « canh tân » ?

VB : Vọng cổ là bản phát triển từ Dạ cổ hoài lang . Gọi « canh tân » là sai . Từ « canh tân » là giữ nguyên xi « dạ cổ hoài lang » rồi tô điểm hoa lá khác với « dạ cổ hoài lang » nguyên thủy . Ví dụ trường hợp 1. Dạ cổ hoài lang đờn theo Bắc, hao hao hơi Huế (đờn kìm sử dụng dây Bắc , thang âm hò, xự, xang, xê, cống  hay sol la do ré mi. 2. Đàn chuyển sang man mác hơi ai , vẫn thang âm hò , xự, xang, xê, cống (sol la do ré mi) nhưng rung nhẹ nốt xang . 3. Đàn hơi ai, thang âm hò, xư, xang, xê, cống (sol si do re mi) xang già rung .

TQH : Con mới xem qua hai chương trình truyền hình về “viên ngọc quý của đờn ca tài tử” . Bài “dạ cổ hoài lang” được cho là “tuyệt tác” . Bác nghĩ sao về điểm này ?

VB : Thời điểm “dạ cổ hoài lang” ra đời , các nhạc sĩ đờn cổ nhạc xem nó như những bài hành vân, lưu thủy, bình bán vắn, kim tiền , và cũng ít ai đờn bản “dạ cổ hoài lang” trong các buổi sinh hoạt đờn ca tài tử. Nó chỉ tạo sự chú ý đôi chút cho người nghe lẫn người đờn. Tập thể nhạc sĩ ẩn danh, với tài năng , tim óc, làm việc riêng rẻ, phát triển nó ra thành “vọng cổ hoài lang” nhịp tư, rồi “vọng cổ” nhịp tám. Nhưng được ưa chuộng nhứt là từ khi nó trở thành “vọng cổ” nhịp 16 và 6 câu vọng cổ nhịp 32.

TQH : Con cám ơn Bác đã bỏ nhiều thì giờ trả lời những câu hỏi của con . « Dạ cổ hoài lang » ra đời cách nay gần 100 năm , trở thành một hiện tượng âm nhạc hiếm có ở Việt Nam . Từ một sáng tác cá nhân đã trở thành sáng tác của tập thể, khai sinh ra cả một loại hình mới : sáu câu vọng cổ .

VB : Con nói đúng . Theo Bác , việc tôn vinh là phải tôn vinh tập thể cho tất cả những nhạc sĩ nhạc sư đã đóng góp một cách âm thầm để nâng cao giá trị của bài « vọng cổ » thoát thai từ bài « dạ cổ hoài lang ». Ngày nay ở bất cứ buổi sinh hoạt nào cũng đều có bản « vọng cổ » (6 câu chỉ còn hát có hai , ba hoặc bốn câu) . Bài « dạ cổ hoài lang » ít ai hát vì chỉ hát với một lời ca cố định . Còn bài « vọng cổ », đúng hơn là một bài theo điệu vọng cổ bao trùm nhiều đề tài rộng lớn , và nhạc sĩ có dịp đờn phóng khoáng hoa lá theo trình độ tài năng . Bài « Vọng cổ » là viên ngọc quý trong đờn ca tài tử . Cái tôn vinh quá mức này gián tiếp khuyến khích những nhạc sĩ nhẹ dạ chểnh mảng trong việc rèn luyện trau dồi 20 bản tổ. Rồi một ngày nào đó, mục đờn ca tài tử sẽ bị thu hẹp lại còn có môt bản tổ là « vọng cổ ». Đây nè, Bác thử so sánh cho con thấy giữa bản Vọng cổ và những bản điệu Nam, Oán trong 20 bản tổ . Vọng cổ ví như trà Huế, musique moderne, vỏ dừa . Các bản điệu Nam , Oán như trà tàu , musique classique, trầm hương . Trà Huế , dùng tô uống, uống vô tháy đã khát liền . Trà tàu, uống bằng chung nhỏ, uống vô đã khát ngầm, cái hậu nhân nhận còn đọng lại trong cổ . Musique moderne phát lên, nghe cảm thấy hấp dẫn liền, nghe nhiều lần đâm ra chán, hạp với thính giả bình thường (auditeurs profanes). Musique classique, cao siêu, càng nghe càng thấm thía, rất kén người nghe. 100 người nghe nhạc classique, có bao nhiêu ngưởi hiểu ? Vỏ dừa đốt lên khói bay ngập nhà, làm cay mắt . Trầm hương, một miếng bằng lóng tay, đốt lên nghe thơm cả nhà .

TQH : Con thương chúc Bác luôn vui khỏe, tiếp tục truyền dạy cho tất cả những ai muốn tìm hiểu chân giá trị của nghệ thuật đờn ca tài tử . Thương chúc Bác ngủ ngon .

vinh-bao-tqh-12-2007

 Trần Quang Hải và nhạc sư Vĩnh Bảo