Khám phá Việt Nam Chuyện cổ tích đàn bầu song sinh


Khám phá Việt Nam Chuyện cổ tích đàn bầu song sinh

Ajoutée le 4 août 2015

Khám phá Việt Nam Chuyện cổ tích đàn bầu song sinh
Có lẽ từ thuở khai sinh, bầu đàn được làm từ đầu của trái bầu. Ở vùng núi cao Tây Bắc, người Thái có cây đàn tính tẩu làm từ phần phình to của trái bầu già đã được phơi khô thành gỗ cứng. Theo tiếng Thái thì tính là đàn, tẩu là quả bầu, tính tẩu cũng có nghĩa là đàn bầu.

Các nghệ sĩ ĐÀN BẦU trình diễn và gặp gỡ – Hà nội 12-2014


Ajoutée le 28 mars 2015

truyền hình H1 ( trích đoạn ) , các nghệ sĩ ưu tú : KIM ANH , LỆ QUYÊN , PHAN KIM THÀNH ,TOÀN THẮNG , HOÀNG XUÂN BINH ,HOÀNG ANH TÚ , BÙI LỆ CHI , BICH NGA , CAO MAI NHI , NGỌC BÍCH ,THANH HƯƠNG , LÊ VĂN HOẠT, BÍCH HUỆ , MAI VĂN HIÊN , MAI THỦY, HOANG TRUNG , TRƯỜNG GIANG , NGUYỄN QUANG LỢI …

Những Bản Nhạc Hòa Tấu Đàn Bầu Hay Nhất Của NSND Thanh Tâm, VIETNAM


Ajoutée le 17 mars 2014
Những Bản Nhạc Hòa Tấu Đàn Bầu Hay Nhất Của NSND Thanh Tâm
1. Se Chỉ Luồn Kim
2. Suối Mơ
3. Lý Thương Nhau
4. Con Thuyền Không Bến
5. Lý Tứ Đại
6. Dáng Đứng Bến Tre
7. Giận Mà Thương
8. Lên Ngàn
9. Đi Cấy
10. Đêm Đông
11. Cây Trúc Sinh
12. Giọt Mưa Thu
13. Lý Ngựa Ô
14. Lý Chiều Chiều
15. Mưa Trên Phố Huế

Nghệ sĩ Nhân dân Xuân Hoạch: Đừng lo hội nhập sẽ mất bản sắc, VIETNAM 2010


Nghệ sĩ Nhân dân Xuân Hoạch: Đừng lo hội nhập sẽ mất bản sắc

KTĐT – 17 tháng trước

Nghe si Nhan dan Xuan Hoach: Dung lo hoi nhap se mat ban sac

KTĐT – Là một trong ba nghệ sĩ của Việt Nam được tổ chức World Masters (WMOC) công nhận là nghệ nhân thế giới, cả đời nghệ sĩ Xuân Hoạch đã trăn trở với di sản văn nghệ của ông cha. Nhưng tâm huyết nhiều để rồi đắng cay cũng lắm.

 

Ông đã dốc nỗi lòng mình về sự thiếu hụt của văn nghệ dân gian trong đời sống đương đại.

Bỏ lối truyền dạy xưa học kỹ thuật Tây

– Điều gì khiến thứ nghệ thuật dân gian trầm lắng như ca trù, đàn bầu, đàn đáy, xẩm… ngấm trong người ông để ông dồn tâm huyết suốt mấy chục như vậy?

Tôi sinh ra ở Thái Bình, nơi có những chiếu chèo nổi tiếng. Ngay từ nhỏ, từng câu ca của chèo đã chảy trong thanh quản, tiếng đàn đáy, đàn nguyệt, đàn bầu trở nên quen thuộc từ đời cha ông. Để có được những tiếng đàn vang nẩy, tôi được ông bà, cha mẹ nắn từng điệu nhạc, bẻ từng khúc ca. Năm 1966, tôi đậu vào Khoa nhạc cụ truyền thống (nay là khoa Âm nhạc truyền thống), Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, học đàn nguyệt dưới sự chỉ dẫn của NGND Xuân Khải, học đàn đáy từ cố nghệ nhân Đinh Khắc Ban. Hình thức giảng dạy của các thầy cho sinh viên chúng tôi ngày ấy hoàn toàn bằng phương pháp truyền khẩu, giống như phương pháp của các cụ ta ngày xưa. Chính nhờ phương pháp ấy, tôi đã yêu ca trù, đàn bầu, đàn đáy rồi xẩm…

– Hiện nay, truyền khẩu không còn hình thức giảng dạy được ưa chuộng. Phương pháp đào tạo của các trường dạy nhạc ở Việt Nam là lấy kỹ thuật của phương Tây áp dụng vào dân gian, đó có phải là phương án tốt?

Cái nôi của giáo dục âm nhạc Việt Nam là Học viện Âm nhạc Quốc gia cũng không còn duy trì hình thức dạy truyền khẩu, mà học theo kiểu chép sách sau đó hát theo nốt nhạc. Áp dụng phương pháp học nhạc của phương Tây sẽ có kỹ thuật tốt nhưng nghệ thuật cứ nhàn nhạt, bản sắc dân tộc mất đi nhiều. Lớp trẻ hát dân gian cứng như… bêtông. Bài hát được cất lên chỉ là bộ khung, chưa có thịt và da. Không phải ngày xưa các cụ không có phương tiện ghi chép nên chọn cách học theo kiểu bắt tay chỉ ngón, mà phương pháp đó được đúc kết từ nhiều đời. Học truyền khẩu đánh đàn sẽ có cảm xúc, câu hát sẽ mượt mà, truyền cảm và người học tìm được tình yêu với nghệ thuật dân gian.

– Theo ông, phương pháp đào tạo âm nhạc không truyền dạy được tình yêu đối với văn nghệ dân gian, nên thế hệ trẻ không còn mặn mà với nó?

Bây giờ, lớp trẻ theo học nghệ thuật dân gian không nhiều. Những năm 60 của thế kỷ trước, khoa Âm nhạc truyền thống của Nhạc viện Hà Nội lúc nào cũng đông nhất, tuyển đầu vào cao điểm nhất. Nay thì ngược lại, số lượng tuyển giảm đã đành, lạikhông còn khả năng tuyển đủ. Người ta không lựa chọn vì vừa không có tình yêu, học ra trường không đủ sống.

Duy trì trong tình trạng “thắt lưng buộc bụng”

– Một thời gian dài, Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Việt Nam đã tụ họp được một vài nghệ sĩ tâm huyết (NSND Văn Ty, NSND Xuân Hoạch, NSƯT Thanh Ngoan…) với văn nghệ dân gian truyền dạy theo phương thức truyền khẩu. Tuy nhiên, hiện nay hoạt động này đã trở nên im ắng?

Hầu hết các nghệ sĩ kể trên đã rút khỏi dự án khôi phục và truyền dạy miễn phí văn nghệ dân gian của Trung tâm. Nếu nói là không hiệu quả cũng không đúng, vì qua các lớp học đó chúng tôi đã tạo ra thế hệ kế cận biểu diễn chiếu xẩm ở chợ Đồng Xuân. Tuy nhiên, khi lớp học mở ra, số lượng đăng ký có hạn nên hạn chế chất lượng đầu vào. Đó là chưa kể, điều kiện dạy học quá khó khăn. Nghệ sĩ vừa lo dạy học vừa lo đảm trách công việc nặng nề ở đơn vị nơi công tác. Lớp học ngày ấy được tổ chức ngay tại sân đình Hào Nam, diễn ra đều đều dưới gốc cây cổ thụ của sân đình. Trụ sở của Trung tâm lúc ở ngôi nhà nhỏ nằm trên ngõ đường Hào Nam, lúc lại về đình Hào Nam. Ở đâu thuê rẻ hoặc được tài trợ miễn phí là lựa chọn chuyển trụ sở. Anh Văn Ty, chị Thanh Ngoan hay tôi vừa tham gia giảng dạy vừa tham gia biểu diễn. Tiền bồi dưỡng cho chúng tôi tất tần tật khoảng 500 – 600.000 đồng/tháng, chúng tôi tự nguyện quyên góp vào quỹ của Trung tâm để tái phục vụ các hoạt động điền giã tìm lại di sản. Trung tâm hoạt động không nhận được mấy sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng, mặc dù trực thuộc Hội Âm nhạc Việt Nam. Vừa qua, Trung tâm có dự án ký kết với Đại học Huế tổ chức truyền dạy văn nghệ dân gian theo phương pháp truyền khẩu cho sinh viên chuyên ngành nhạc và cũng ở trong tình trạng “thắt lưng buộc bụng”. Vì lo lắng văn nghệ dân gian bị mai một, nên suốt 4 – 5 năm chúng tôi cố gắng theo đuổi dự án. Nhưng nghệ sĩ chúng tôi đều đã có tuổi khó duy trì dự án ở tình trạng đó.

– Nếu phương pháp giảng dạy đúng, nghệ sĩ được sự hỗ trợ từ nhiều phía, dòng văn nghệ dân gian sẽ sống được?

Nếu biết cách dạy, văn nghệ dân gian sẽ ngấm và sẽ không có thứ âm nhạc nào thay thế được. Tôi chỉ đơn cử, đứa cháu 9 tuổi của nghệ nhân ca trù Kim Đức, trước khi học ca trù, mê mẩn hip hop, rap và cả những ca khúc nhạc nhẹ trữ tình lãng mạn. Nhưng bà đã níu chân cô bé gìn giữ ca trù, bằng sự tận tình, kiên trì dạy bảo từng nhịp phách, uốn từng câu ca. Đến giờ, thứ âm nhạc ngày xưa cô mê mẩn lại trở thành nhạt nhẽo sau mỗi lần nghe. Rồi sau những lần biểu diễn chiếu xẩm ở chợ Đồng Xuân, khi còn ở Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Việt Nam, mỗi năm chúng tôi cũng đã chiêu sinh được hơn 20 chục người theo học lớp học hát xẩm miễn phí. Theo đuổi lớp học đó có cả những cụ già hơn 80 tuổi, có em bé lên 10 và cả những cô cậu thanh niên mười tám đôi mươi.

– Ông có lo ngại trước tình trạng mất cân bằng giữa âm nhạc truyền thống và âm nhạc lai căng hiện nay?

Đến lúc nào đó công chúng sẽ quay lại với nghệ thuật dân gian. Bây giờ, nhiều thanh niên đã chán hip hop, lọ mọ ra chợ Đồng Xuân để xem xẩm. Cuộc sống năng động, họ sẽ chạy theo cái gì gọi là nhanh, là công nghệ, nhưng mọi ồn ào nào rồi cũng lắng xuống. Thực tế chứng minh, sau khi giải phóng miền Nam, nhạc miền Nam ào ạt khắp các đường phố, ngõ phố, xóm làng, nhưng cũng chỉ được một thời gian. Hội nhập luôn luôn là tốt, đừng lo hội nhập sẽ mất bản sắc.

– Cảm ơn ông!

http://www.baomoi.com/Nghe-si-Nhan-dan-Xuan-Hoach-Dung-lo-hoi-nhap-se-mat-ban-sac/71/7335802.epi

HỒNG NỤ : NSND Xuân Hoạch cả đời gắn bó với đàn bầu, VIETNAM 2009


NSND Xuân Hoạch cả đời gắn bó với đàn bầu

(NHN)Trong đời sống âm nhạc hiện nay, cây đàn bầu mộc được chế tác theo đúng cây kiểu đàn cổ truyền vốn đã vắng bóng nhiều năm đã và đang xuất hiện trở lại. NSND Xuân Hoạch, người đã có công gìn giữ báu vật cổ truyền của dân tộc có cuộc trò chuyện với phóng viên Báo điện tử Người Hà Nội.

– Xin chào NSND Xuân Hoạch, cơ duyên nào đã đưa ông đến với âm nhạc truyền thống?

Tôi sinh ra trong gia đình có truyền thống về hát chèo. Các anh, chị đều là diễn viên chèo của làng, ngấm những làn điệu hát chèo từ nhỏ. Khi 8 tuổi tôi đã tham gia vào tốp nhạc. Cây đàn tôi được học đầu tiên là Nhị. Sau hai năm học, tôi đã biểu diễn được các làn điệu trên chiếu chèo truyền thống của địa phương.

Được biết, ngoài Nhị ông còn chơi được nhiều lọai nhạc cụ khác như đàn nguyệt, đàn đáy và đàn bầu. Đặc biệt hơn, ông đang sở hữu những cây đàn bầu mộc có một không hai, ông đã làm thế nào để khôi phục lại cây đàn này?

Tôi đã được xem và nghe những nghệ nhân như cụ Thân Đức Chinh, cụ Trùm Nguyên vừa chơi nhị – hồ, bầu vừa hát xẩm. Khi cụ Thân Đức Chinh chơi đàn bầu và hát, chân trái gõ song loan, chân phải gõ cái trống con còn tay gảy đàn, bản thân cụ là người khiếm thị, khâm phục tài năng của cụ, tôi muốn khôi phục lại và giữ gìn bản sắc đậm đà nhất của cây đàn.

Để có một cây đàn ưng ý, ông có bí quyết gì trong việc chọn chất liệu?

Tôi đã từng làm một cây đàn mộc bằng ống tre, rất đẹp nhưng vẫn chưa ưng ý.  Ý định nung nấu làm bằng được cây đàn theo đúng nguyên mẫu truyền thống là trăn trở rất lâu và cuối cùng tôi cũng tìm được chất liệu đó là lõi gỗ thông. Theo tôi đây là 1 chất liệu khá tốt để tạo cho tiếng đàn được vang hơn.

– Vậy cây đàn bầu mộc này khác với cây đàn bầu thường ở điểm nào?

Bản thân cây đàn giữ được dáng cổ là vì tôi đã tạo dáng theo bức ảnh mà người Pháp để lại. Hộp cộng hưởng cũng bằng gỗ và cần đàn rất dài để tạo được âm thanh vang, ngân, to đồng thời thoải mái hơn khi chơi đàn. Điều đó nó đã khác so với cây đàn mà hiện nay chúng ta đang sử dụng trong các trường âm nhạc.

Hình dáng cây đàn được trang trí rất cầu kỳ, vậy họa tiết trên cây đàn có ý nghĩa thế nào?

Trên cây đàn là bộ tứ bình Tùng – Cúc – Trúc – Sen, để tạo ra cái dáng trên cây đàn, tôi điểm một vài bông cúc, một vài lá trúc, cành tùng. Đáng lẽ ra tôi dùng bông mai nhưng vì ấn tượng với hồ sen ở đình Hào Nam nên tôi đã làm bông sen và bông sen này chính là đài để nâng tượng phật nghìn tay nghìn mắt. Tôi cũng đã tạo dáng để quay lại hình dáng cổ là cần đàn cao. Quan trọng nhất là gỗ và tre, một vài điểm nhấn là những lá đồng rất nhỏ.

 – Ông đã cảm thấy mãn nguyện về cây đàn mà mình đã chế tác?

Tôi rất hài lòng về cây đàn này, chỉ có một điều là chưa được phổ cập nhiều cho lớp trẻ. Tôi rất muốn cây đàn bầu mộc này gần gũi với lớp trẻ, để giúp họ hiểu nhiều hơn về âm nhạc dân tộc.

 – NSND Xuân Hoạch còn có biệt tài miệng hát, tay đàn và chân gõ phách, nhịp. Ông đã mất bao nhiêu thời gian khổ luyện để làm được điều đó?

Để có được tiếng đàn như ngày hôm nay tôi đã mất hai năm vừa làm đàn, vừa tập gõ bằng chân và cũng may trời phú cho tôi có được cái độ phân tâm để làm tốt nhiều vai trò trong cùng một lúc.

Trong lúc hát và đàn thì bộ gõ có tầm quan trọng như thế nào khi kết hợp với cây đàn?

Bộ gõ là phần vô cùng quan trọng vì nó truyền tải cái tinh thần của tác phẩm và các làn điệu tới người nghe.

Ông đã khôi phục lại thành công cây đàn bầu mộc và kết hợp hình thức biểu diễn như thế nào?

Tôi đã chế tác được cây đàn theo đúng nguyên bản, kết hợp với đôi chân vừa giữ nhịp, vừa phụ họa những tiết tấu khá phức tạp. Như một làn điệu chèo “Đường trường phải chiều”, thì tiết tấu của một chân là tiếng trống đế và tiếng thanh la còn một chân là tiếng mõ. Nếu như nhắm mắt lại ta tưởng rằng có người gõ riêng một bộ gõ. Vì thế, tôi đã nghiên cứu và phát triển thành công hình thức biểu diễn này cho cả những làn điệu xẩm.

Tôi luôn tâm niệm cả cuộc đời gắn bó với loại hình âm nhạc mà mình theo đuổi. Trong biểu diễn, tôi kết hợp vào rất nhiều làn điệu xẩm như: xẩm tàu điện, huê tình, chênh bong, thập ân, sa mạc, trống quân, bồng mạc và các làn điệu chèo.

Là một nghệ sĩ của Nhà hát ca múa nhạc Quốc gia Việt Nam, vừa tham gia ở TT.ANVN thì thời gian nào ông dành cho việc chế tác?

Tất cả những thời gian nghỉ ngơi tôi dành tâm huyết để chế tác ra những cây đàn.                                                                                          

Hồng Nụ

Published on 09/09,2009

30.05.2009 01:30

http://buinu.vnweblogs.com/post/15059/182848