HÀ ĐÌNH NGUYÊN : ‘Báu vật’ đờn ca tài tử


‘Báu vật’ đờn ca tài tử

17/02/2014 03:00

 
Chia sẻ
Chia sẻChia sẻ

UNESCO đã công nhận đờn ca tài tử là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, nhưng để thật sự hiểu và thêm trân quý đờn ca tài tử, Thanh Niên đã gặp gỡ các chuyên gia về âm nhạc dân tộc để tìm hiểu thêm về loại hình nghệ thuật độc đáo này.

 
Đờn ca tài tử luôn sống mãi trong lòng người dân Nam bộ – Ảnh: T.L

GS – nhạc sĩ (NS) Trần Quang Hải (trưởng nam của GS-TS Trần Văn Khê, hiện đang ở Paris, Pháp) và NS Đặng Hoành Loan (Hà Nội) là những người đã có nhiều đóng góp quan trọng để hồ sơ về đờn ca tài tử được UNESCO công nhận.

Image

Nhạc sĩ ĐẶNG HOÀNH LOAN 

Image

GSTS TRẦN QUANG HẢI

“Như cơm ăn nước uống”

NS Đặng Hoành Loan phân tích 6 đặc trưng nổi bật khiến đờn ca tài tử trở thành báu vật. Thứ nhất, đờn ca tài tử là một tập tục không thể thiếu trong sinh hoạt của người dân Nam bộ khoảng 100 năm nay, đối với người dân “như cơm ăn nước uống”. Thứ hai, đây thật sự là loại hình giải trí của người dân Nam bộ, so với tất cả các nghệ thuật cổ truyền VN thì đây là nghệ thuật duy nhất không phụ thuộc vào không gian văn hóa, hoặc các không gian trình diễn theo mùa vụ. “Cứ hứng lên thì chơi, gặp nhau thì chơi, thương nhau thì cũng chơi, và hội hè, ma chay cưới hỏi cũng đều chơi”.

Điểm thứ ba, đó là một lối hòa đàn trác tuyệt, mà ở đấy tính ngẫu hứng được đặt lên trên hết. Và ở trong tính ngẫu hứng ấy, thú vị ở chỗ mỗi lần đánh một bản đàn thì hầu như đó là những cuộc đối thoại bằng âm thanh. Có lẽ đây là một trong những nghệ thuật ngẫu hứng, có thể nói là duy nhất ở VN. Cho nên, người ta thường gọi là “quăng bắt”, tức là làm sao người hòa đàn cùng với mình hiểu được tâm tư tình cảm của mình, để cùng hòa nhập, tung hứng.

Điểm thứ tư rất quan trọng là, đờn ca tài tử đã xác định được cách hoàn thiện “nhạc ngữ” của âm nhạc cổ truyền VN. Trước đó chỉ có ca trù là xác định được, nhưng chưa rành mạch, không rõ ràng, không khúc chiết… Có thể nói, đờn ca tài tử là nghệ thuật đã đúc kết và hoàn thiện được nhạc ngữ cổ truyền của người VN.

 

 
 
Đờn ca tài tử có 20 bản cổ gồm 7 bài Lễ, 6 bài Bắc, 3 bài Nam và 4 bài Oán. Những người biết giỏi phải thuộc trọn vẹn 20 bài này. Tuy nhiên, theo tôi nhận xét hiện nay hầu như không có nghệ nhân nào có thể nhớ được, đờn được toàn vẹn 20 bài đó. Đó là điều cần phải cấp thiết có biện pháp lưu giữ, bằng không sẽ mai một, thất truyền
 
GS-NS Trần Quang Hải
 

 

Điều thứ năm là đã tạo được các “ngón đờn” để thỏa mãn hàng loạt cung bậc tình cảm. Những nghệ sĩ tài tử Nam bộ đã tìm ra được các phương pháp bấm ngón đàn, tạo ra nhiều nhạc ngữ khác nhau, khi vui, khi buồn, khi oán hận… Điều trác tuyệt là ở chỗ này. Có nhiều người nói, “cái hơi” trong đờn ca tài tử đóng vai trò quan trọng. Mà hơi được tạo ra từ các “ngón bấm” (các ngón rung, ngón nhấn, ngón vuốt, rồi ngón mổ…). Đấy là ngón đờn tạo ra các hơi trên thang bậc ngũ cung.

Cuối cùng, đờn ca tài tử vẫn đang được người dân Nam bộ yêu mến, vẫn đang được trao truyền cho nhau, như thuở nào.

Không phân biệt giai cấp, địa vị…

Trong khi đó, GS-NS Trần Quang Hải xác định đờn ca tài tử là một loại nhạc phát xuất từ miền Trung, được hình thành từ cuối thế kỷ 19. Sau khi phong trào Cần Vương tan rã, một số nhạc quan trong triều đình Huế đã lánh nạn vào miền Nam cùng với đoàn lưu dân. Họ đem nhạc lễ, ca Huế truyền dạy trong cư dân bản địa, rồi họp nhau lại đờn ca theo từng nhóm, cốt yếu chỉ để thư giãn sau những giờ lao động… Từ đó, tiếng đờn của miền Trung, hương vị của xứ Quảng đã hòa chung vào phong thái miền Nam. Và từ bản chất phóng khoáng của con người miền Nam mà các bài bản không còn là bản gốc. Người đàn cũng như người ca luôn thêm thắt, tô điểm đôi nét vào đó.

Tuy vậy, để giữ bài nhạc đúng theo cổ truyền, các nghệ sĩ tiền bối đã quy ước phải có “lòng bản” (tức là cái khung của bản đờn). “Lòng bản” này được dùng chung cho tất cả các nhạc cụ khi hòa đờn. Người đờn có thể tùy nghi thêm thắt, luyến láy trong những khoảng trống nhưng nhịp phải rơi đúng vào các cột mốc (chữ đờn). Vì thế, không lần đờn nào lặp lại giống nhau.

GS-NS Trần Quang Hải cho rằng, nếu như ca trù và ca Huế chỉ có một người hát (về đờn thì ca trù có một người đờn, còn ca Huế có bốn, năm cây đờn) thì ở đờn ca tài tử có rất nhiều người hát, người đờn cũng thay đổi khác nhau. Điều quan trọng là, người ca và người đờn luôn xem nhau ngang hàng để rồi là “tri âm, tri kỷ”. Một anh thợ hớt tóc, một anh xích lô hoặc bất cứ ai trong giới người nghèo đều có thể ngồi vào chiếu đờn, đờn chung với những bác sĩ, doanh nhân hay những ông quan lớn. Khi ngồi lại với nhau, họ không còn là những con người với các chức vụ nữa, mà họ chỉ là những bạn đờn của nhau. Ông bác sĩ có thể trở thành học trò của anh xích lô…

“Theo như tôi hiểu, đờn ca tài tử có 20 bản cổ gồm 7 bài Lễ, 6 bài Bắc, 3 bài Nam và 4 bài Oán. Những người biết giỏi phải thuộc trọn vẹn 20 bài này. Tuy nhiên, theo tôi nhận xét hiện nay hầu như không có nghệ nhân nào có thể nhớ được, đờn được toàn vẹn 20 bài đó. Đó là điều cần phải cấp thiết có biện pháp lưu giữ, bằng không sẽ mai một, thất truyền”, GS-NS Trần Quang Hải lo ngại.

 

Phải nghe từng “chữ đờn”GS-NS Trần Quang Hải nhận xét: “Khi đem đờn ca tài tử lên sân khấu thì nghệ thuật này có một vai trò khác, một vị trí khác, không làm cho người nghe thích thú nữa. Vì đời xưa, gọi là hát salon (hát thính phòng), tức hát tài tử, tiếng đờn rất phong phú dễ dàng đi vào lòng người, bởi chỉ đờn cho một nhóm nhỏ khoảng 10 người, 20 người nghe thôi. Bây giờ lên sân khấu, có cả trăm người, ngàn người nghe. Không cần biết là người đó hát hay hay hát dở. Chỉ chờ hát xong là vỗ tay, chứ không phải xuýt xoa, tấm tắc khen như hồi đời xưa, là nghe từng “chữ đờn”, từng câu của người hát, rồi “thấm”, bật ra lời khen. Thành ra có sự đồng cảm giữa giọng hát và tiếng đờn và người nghe, khiến người nghe cũng trở thành những người sành sỏi về âm nhạc”.

 

 

Đờn ca tài tử có 20 bản cổ, gồm 6 bài Bắc: Tây Thi, Cổ bản, Lưu thủy trường, Phú lục chấn, Bình bán chấn, Xuân tình chấn hay Xuân tình điểu ngữ; 3 bài Nam: Nam xuân, Nam ai, Nam đảo hay Đảo ngũ cung; 4 bài Oán: Tứ đại oán, Phụng cầu, Giang nam, Phụng hoàng; 7 bài Lễ: Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Tiểu khúc, Vạn giá.

 

Hà Đình Nguyên

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140216/bau-vat-don-ca-tai-tu.aspx

TRỌNG THÀNH / RFI : ‘‘Đờn ca tài tử’’ : Hồn cốt cổ truyền trước làn sóng hiện đại, 15.01.2014 ngày phát thanh


 ImageNhạc sĩ Đặng Hoành Loan
 
THỨ TƯ 15 THÁNG GIÊNG 2014
‘‘Đờn ca tài tử’’ : Hồn cốt cổ truyền trước làn sóng hiện đại
Một cuộc đờn ca của nghệ thuật tài tử trong đời thường (DR)

Một cuộc đờn ca của nghệ thuật tài tử trong đời thường (DR)

Đầu tháng 12/2013, tại Baku, Azerbaijan, Unesco -Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc – chính thức ghi nhận môn nghệ thuật Đờn ca tài tử của Việt Namlà di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đâu là những điều độc đáo làm nên nghệ thuật âm nhạc tài tử ? Những lo ngại nào ám ảnh người lo lắng cho tương lai của môn nghệ thuật cổ truyền đặc sắc của mảnh đất Nam Bộ ?…

Nhân sự kiện này, chương trình Tạp chí Cộng đồng của RFI xin chuyển đến quý vị tiếng nói của các chuyên gia âm nhạc học dân tộc, những người đã đóng góp phần rất quan trọng để hồ sơ Đờn ca tài tử Nam Bộ được công nhận. Các vị khách mời của tạp chí tuần này là Giáo sư Trần Quang Hải (Paris) và Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan (Hà Nội).

Mấy lý do chính khiến Đờn ca tài tử được ghi nhận

Trước hết là các giải thích của Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan về lý do mà môn Đờn ca tài tử đã nhận được sự trân trọng của các chuyên gia quốc tế.

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan : Trước hết để được thế giới thừa nhận, Đờn ca tài tử là một tập tục không thể thiếu được trong sinh hoạt của người dân Nam Bộ trong khoảng 100 năm nay. Đờn ca tài tử đối với người dân Nam Bộ như cơm ăn nước uống. Trong bất kỳ sinh hoạt nào, từ vui buồn, cho đến tết nhất.

 
Trò chuyện với Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan

 
17/01/2014
 
 

 

Điều thứ hai là nó thật sự là một giải trí cao cấp của người dân Nam Bộ. So với tất cả các nghệ thuật cổ truyền Việt Nam, Đờn ca tài tử là nghệ thuật duy nhất không phụ thuộc vào các không gian văn hóa, hoặc các không gian trình diễn theo mùa vụ. Nó là một nghệ thuật giải trí, chơi bất kỳ lúc nào, chơi bất kỳ ở đâu. Cứ hứng lên thì chơi, gặp nhau thì chơi, thương nhau thì cũng chơi, và hội hè, tiệc tùng thì cũng chơi.

Điểm thứ ba, đó là một lối hòa đàn trác tuyệt, mà ở đấy cái tính ngẫu hứng được đặt lên trên hết. Và ở trong tính ngẫu hứng ấy, nó có tính thú vị là mỗi lần đánh một bản đàn thì hầu như là những cuộc đối thoại bằng âm thanh. Có lẽ đây là một trong những nghệ thuật ngẫu hứng, có thể nói là duy nhất ở Việt Nam. Cho nên, người ta thường gọi là « quăng bắt »…, tức là làm sao cho đối thủ hiểu được tài năng của mình, hiểu được tâm tư tình cảm của mình. Đây là cuộc tao ngộ, mà lại thi thố tài năng bằng nghệ thuật.

Điểm thứ tư rất quan trọng là Đờn ca tài tử đã xác định được cách hoàn thiện « nhạc ngữ » của âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Có lẽ, trước Đờn ca tài tử chỉ có Ca trù là xác định được. Nhưng các xác định của Ca trù không rành mạch, không rõ ràng, không khúc chiết, như xác định về nhạc tính của Đờn ca tài tử. Đờn ca tài tử xác định ra bốn « hơi » : Bắc, Hạ, Nam, Oán. Đây là nghệ thuật đã đúc kết và hoàn thiện được nhạc ngữ cổ truyền của người Việt Nam.

Điều thứ năm là Đờn ca tài tử đã tạo được các « ngón đờn », để thỏa mãn được các cung bậc tình cảm. « Người tài tử » Nam Bộ đã tìm ra được các phương pháp bấm các ngón đàn, để tạo ra các nhạc ngữ khác nhau, khi vui, khi buồn, khi oán hận… Những điều trác tuyệt là ở chỗ này. Có nhiều người nói, cái hơi trong Đờn ca tài tử đóng vai trò quan trọng. Mà hơi là được tạo ra từ các « ngón bấm ». Tức là các ngón rung, ngón nhấn, ngón vuốt, rồi ngón mổ. Đấy là các ngón đờn để tạo ra các hơi trên thang bậc năm âm. Đây là cái vi diệu trong nghệ thuật Đờn ca tài tử.

Đấy là năm điều kiện để thế giới công nhận. Điều kiện thứ sáu là Đờn ca tài tử vẫn đang được người dân Nam Bộ yêu mến, vẫn đang được người dân Nam Bộ trao truyền cho nhau, như thuở nào.

VIDEO VỀ ĐỜN CA TÀI TỬ DO VIỆN ÂM NHẠC VIỆT NAM THỰC HIỆN (HỒ SƠ TRÌNH UNESCO)

 

Sự hòa trộn của nhiều truyền thống và tính « dân chủ » trong sinh hoạt

Giáo sư Trần Quang Hải ôn lại lịch sử của sự ra đời của môn nghệ thuật âm nhạc « cổ truyền », xuất hiện đúng vào thời kỳ đất nước chuyển mình sang kỷ nguyên hiện đại. Giáo sư Trần Quang Hải nhấn mạnh đến tính chất nổi trội của âm nhạc trong môn đờn ca tài tử và ông cũng lưu ý đến tính chất « dân chủ » hy hữu của môn nghệ thuật, nở rộ cùng lúc với sự phát triển của đời sống đô thị tại xứ Nam Kỳ thuộc Pháp…

Giáo sư Trần Quang Hải : Đờn ca tài tử là một loại nhạc phát xuất từ miền Trung, được hình thành từ cuối thế kỷ XIX. Các nhạc sư làm quan cho triều Nguyễn, theo phong trào Cần Vương (sau khi phong trào tan rã – ndr), đi vào trong miền Nam để đem truyền nhạc ca Huế. Trên đường đi, các nhạc sư dừng chân tại Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam… Từ đó tiếng đờn cùng với giọng ca của miền Trung, mới hòa chung với hương vị của xứ Quảng (cũng có người cho rằng nghệ thuật này phát xuất từ cách nay ba, bốn thế kỷ – ndr).

Đến khi tới miền Nam, tiếng đờn của miền Trung được thay đổi tiếp tục một số bài bản, tuy mang cùng một tên. Cái bản chất phóng khoáng của con người miền Nam, nếp sống tại miền Nam, khiến cho các bài bản không y khuôn như bản gốc. Người đàn cũng người ca không muốn giữ nguyên thủy, như thầy đã dạy, mà luôn có đôi nét thêm thắt, thay đổi, tô điểm. Cái đặc tính của dân miền Nam là khi đờn, phải đờn những bài nhạc đúng theo cổ truyền, tức là đờn chân phương, rồi mới thêm thắt những luyến láy, những câu khác, để khiến mỗi lần nghe một lần khác nhau. Cái đó gọi là « đờn ca hoa lá ».

Ca trù và ca Huế, chỉ có một người hát mà thôi. Trong ca trù, có một người đờn. Ca Huế có bốn, năm cây đờn. Trong khi đó, ở trong miền Nam, Đờn ca tài tử có rất nhiều người hát. Người đờn cũng thay đổi khác nhau. Nhưng cái quan trọng là ở miền Nam, người ca và người đờn ngang hàng với nhau. Thành ra, trong hát salon (hát thính phòng), tức hát tài tử, tiếng đờn rất phong phú, đi vào trong lòng của người dân nhiều hơn là cải lương. Vì trong cải lương, đờn chỉ là phụ.

 
Nhóm Đờn ca tài tử tại Hội chợ Marseilles, Pháp (1906) Ảnh: Tư liệu của nhóm dự án Đông Dương

 

Đặc trưng của Đờn ca tài tử là sự dân chủ trong việc gặp gỡ. Một anh thợ hớt tóc hay một anh xích lô, hay bất cứ ai trong giới người nghèo, đều có thể đờn chung với những ông bác sĩ, doanh nhân, hay những ông quan lớn trong thành phố. Khi những người đó ngồi lại để đờn với nhau, thì họ không còn là những con người với các chức vụ nữa, mà họ chỉ là những bạn đờn của nhau. Ông bác sĩ có thể trở thành học trò của anh xích lô. Cái tinh thần dân chủ và tinh thần phóng khoáng của người miền Nam đã tạo thành một truyền thống âm nhạc mà suốt xứ Việt Nam không có nơi nào có.

 

Đờn ca tài tử – Cải lương : cùng gốc nhạc, khác cách dùng

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan : Đờn ca tài tử ra đời trước, hoàn thiện trước, rồi mới đến sự ra đời của cải lương. Có thể nói đờn ca tài tử là gốc rễ, là cội nguồn, để sinh ra sân khấu cải lương. Bởi lẽ sân khấu cải lương lấy trọn vẹn các bản đờn của đờn ca tài tử. Làm thế nào để phân biệt được hai nghệ thuật này ?

Đứng về mặt âm nhạc học, thật khó mà phân biệt. Bởi vì nó cũng là những cung bậc ấy, cũng Oán, cũng Nam xuân, Nam ai, cũng tất cả, cũng Bắc hạ, Nam oán…. Cái khác biệt thứ nhất là người chơi tài tử không bao giờ cắt bản đờn ra thành nhiều mảnh, một luật chơi luôn luôn được tuân thủ : Chơi hết bản hoặc chơi hết lớp. Trong cải lương, tùy theo tình huống và tâm trạng nhân vật, mà người ta có thể hát đến nửa câu thì dứt lại….

Điều thứ hai là trong đờn ca tài tử không bao giờ có “câu nói lối” trước khi vào hát. Đờn ca tài tử bao giờ cũng đờn vào trước, ca vào sau.

Điều thứ ba là đờn ca tài tử hát rất khuôn phép, rất nhịp điệu, không bao giờ phá vỡ… Sang đến sân khấu cải lương, bản đờn ca tài tử hoàn toàn phụ thuộc vào tính cách nhân vật. Cho nên cũng bản Bắc, cũng bản Lưu thủy, bản Kim tiền… nhưng khi vào cải lương, phụ thuộc vào tình huống của nhân vật, trạng thái của nhân vật… thì người ta có thể co giãn nhịp điệu, có thể nhấn mạnh vào câu hát để tạo ra kịch tính trong âm nhạc….

Trong 20 bản cổ của đờn ca tài tử không có bản vọng cổ, nhưng khi tiếp thu bản vọng cổ người ta cũng biến nó theo lối chơi của tài tử, tức là không bao giờ có nói lối. Còn nếu ta nghe bản đờn ca tài tử mà có nói lối, thì người tài tử đó chính là nghệ sĩ cải lương.

Tóm lại, âm nhạc của hai môn là một, nhưng phương thức biểu đạt, trình diễn phụ thuộc vào hai điều khác nhau. Một đằng tập trung vào âm nhạc, một đằng mang âm nhạc phục vụ cho sân khấu, nhân vật và tình huống của nhân vật.

 

Cuộc đối thoại âm thanh và không gian sáng tạo mở

Tại sao Đờn ca tài tử từng được người dân khắp nơi trên mảnh đất miền Nam yêu mến và trân trọng ? Tại sao Đờn ca tài tử lại là mảnh đất sinh sôi cho cải lương, một loại hình nghệ thuật được ưa chuộc nhất mội thời ? Có lẽ điểm đáng chú ý nhất đó là không gian sáng tạo mà môn nghệ thuật này đã mở ra, trên cơ sở quy tụ và chắt lọc nhiều tinh túy trong các dòng âm nhạc cổ truyền. Về điều này, nhà nghiên cứu âm nhạc Đặng Hoành Loan cho biết :

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan : Trước khi anh nhập môn vào nghệ thuật chơi Đờn ca tài tử thì anh phải thuộc những bản nhạc rất quan trọng. Người ta gọi là « lòng bản ». Lòng bản là những bản đờn được viết ra bằng « chữ nhạc ». Chữ nhạc đó được viết theo lối cổ truyền. Cao độ của các chữ nhạc tương đương với các nốt ở nhạc Phương Tây. Lòng bản như một chỗ tựa rất quan trọng để hòa tấu.

Tại sao lại gọi là lòng bản ? Lòng bản là bản đờn mà trong đó người ta chỉ ghi những chữ đờn chính, những câu nhạc, những đoạn nhạc. Còn giữa tất cả những chữ đờn, người ta để những khoảng trống, để làm sao người tài tử, từ chữ đờn thứ nhất sang chữ đờn thứ hai, có một khoảng cách để có thể phát triển ra nhiều chữ đờn khác nhau. Hay nói cách khác, lòng bản là bản nhạc tập trung tất cả những nốt chính, chứ không có những nốt phụ. Những nốt chính ấy tạo nên một bản đờn không sinh động, nhưng rất cần thiết để có thể hòa tấu. Trong lòng bản quy định sự nhịp nhàng, quay định lớp nhạc. Thế thì, nếu anh thăng hoa, thì phải thăng hoa trên quy định của nhịp nhạc, câu nhạc và lớp nhạc. Còn từ lòng bản mà tạo ra được các bản đàn hay đến đâu, trác tuyệt đến đâu, đấy là do tài năng của mỗi người tài tử – dựa vào lòng bản để tạo ra sự hoàn thiện khi ngẫu hứng sáng tạo…

Đờn ca tài tử là sự phối hợp của hai hình thức : Thứ nhất là nhạc đờn, rồi thứ hai mới là nhạc đờn cộng với lời ca. Dường như là hai yếu tố ấy, lúc thì nó độc lập, lúc thì nó hòa vào nhau. Khi hòa ca, thì bản đờn lại trở thành phần đệm cho phần ca, nhưng khi không có ca, thì bản đờn trở thành một bản nhạc độc lập. Đây cũng là một điều vi diệu của âm nhạc của đờn ca tài tử, mà trong âm nhạc Việt Nam không có hình thức nào có thể đạt đến hiệu quả như vậy. Do vậy, khi các tài tử chơi với nhau, để có sự đối thoại về âm thanh là không có ca. Mà người ta hoàn toàn dùng các giai điệu âm nhạc, do sáng tạo ngẫu hứng : Người chơi những ngón rất nhanh, người chơi những nhóm chậm chạp, người đang chơi, người kia dừng lại, dừng lại rồi bắt vào… Dường như đấy là cuộc đối thoại âm thanh, mà cuộc đối thoại âm thanh ấy mới chính là cái vi diệu của đờn ca tài tử.

 

rao… tùy hứng… xuống cùng… song lan… đờn kìm…

Giáo sư Trần Quang Hải : Trong đờn tài tử, lúc nào cũng phải có phần “rao” hết. Rao tức là dạo một hồi để cho người ta thấm nhuần, đi vô trong điệu thức, trong âm giai… Thứ nhất, trong cách rao, người ta có thể đoán được cái tài nghệ của người đờn. Rao mà lảnh lót, “truyền chữ” thật hay, thì ông đó là người đờn giỏi. Khi đờn xong… trước khi bắt đầu, thì người đờn tranh phải làm chữ “á”, tức là kéo dây (tiếng dài)…

Rồi mỗi người vô. Khi vô, mỗi cây đờn có một giai điệu khác nhau. Không phải tất cả bốn năm cây đờn, đều đờn chung một giai điệu. Mỗi một cây đờn có một đặc trưng, có những cách luyến láy, có những kỹ thuật, thành ra khi họ đờn họ hoàn toàn được tự do phóng túng. Nhưng mà có điều, sau khi một câu chấm dứt, tất cả mấy cây đờn đều phải xuống cùng một nốt nhạc, khi thì xuống chữ “”, khi thì xuống chữ “sang”, khi thì xuống chữ “xề”… Phải xuống cùng một lúc, thì mới ăn giơ với nhau, hợp với nhau. Trong khi mà ở đoạn giữa, có người thì chậm chậm một hai chữ, có người bốn năm chữ, có người chơi rất nhanh…

Điều này cho thấy sự tự do, tùy hứng, nhưng mà có điều tùy hứng trong khuôn khổ của âm nhạc. Thành ra, có khi mình nghe mình thấy “ủa, sao ông này đờn chạy loạn, không xuống ?”… Nhưng khi xuống cùng một chữ nhạc, tiếng song lan đánh cái cóc, thì ai nấy cũng mặt mày tươi rói hết. Tiếng song lan là để chấm dứt một câu…. Khi mình ngồi đờn, nghe hai tiếng “cóc”, “cóc” là biết chỉ còn hai nhịp nữa là hết. Người chơi đàn kìm phải làm việc gõ này. Đờn kìm là đờn chánh, giống như là trưởng ban, người điều khiển.

Những người khác đờn sau thì đờn, nhưng phải theo anh đờn kìm. Đờn kìm đúng tiêu chuẩn phải là : Đờn chân phương, mà có hoa lá một chút. Còn mấy người kia cứ hoa lá, chạy sao thì chạy, đờn một cách phóng túng tự do. Có điều phải đi về cùng một lúc với nhau, hẹn với nhau.

 

Bài bản cổ và sự dễ dãi của sân khấu hiện đại

Đờn ca tài tử được công nhận là di sản nhân loại mang lại niềm vui, tất nhiên, nhưng bên cạnh đó là những lo âu. Là một người tha thiết với việc bảo tồn các nghệ thuật âm nhạc cổ truyền của dân tộc, Giáo sư Trần Quang Hải rất bị ám ảnh bởi xu hướng mai một của vốn cổ và sự xa lánh của công chúng đương đại đối với những gì thuộc về di sản, hoặc chỉ thích thú với những gì mang tính « thời thượng ». Ông tâm sự :

Giáo sư Trần Quang Hải : Theo như tôi hiểu, có 20 bài bản cổ, gồm có 7 bài Lễ, 6 bài Bắc, 3 bài Nam và 4 bài Oán. Những người biết đờn và giỏi đờn phải thuộc 20 bài này. Đến hiện nay, tôi thấy số người đờn tài tử, gần như không còn ai có thể nhớ được, đờn được toàn vẹn 20 bài đó.

 
Trò chuyện với Giáo sư Trần Quang Hải

 
17/01/2014
 
 

 

Khi đem Đờn ca tài tử lên sân khấu, thì nghệ thuật này có một vai trò khác, một vị trí khác, không làm cho người nghe thích thú nữa. Vì đời xưa, gọi là đờn salon, tức là chỉ đờn cho một nhóm nhỏ khoảng 10 người, 20 người nghe thôi. Bây giờ lên sân khấu, có cả trăm người, ngàn người nghe. Họ chỉ chờ xuống 6 câu vọng cổ là vỗ tay. Không cần biết là người đó hát hay hay hát dở. Chỉ chờ hát xong là vỗ tay, chứ không phải là tấm tắc khen, như hồi đời xưa, nghe từng « chữ đờn », từng câu của người hát đưa vào, thành ra có sự hài hòa giữa giọng hát và tiếng đờn. Làm cho người nghe trở thành người sành sỏi về âm nhạc.

Chuyển hóa nhạc cụ phương Tây : Sáng tạo hay học đòi ?

Một điểm độc đáo của Đờn ca tài tử – một trong những môn nghệ thuật cổ truyền cuối cùng của xã hội Việt Nam – là đã sử dụng được một số nhạc cụ vốn thuộc về một nền văn minh âm nhạc hết sức khác biệt. Cây đàn guitar « phím lõm » đặc biệt của Nam Bộ là một sản phẩm ra đời trong giai đoạn sáng tạo đỉnh cao của Đờn ca tài tử. Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan cho chúng ta biết thêm :

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan : Đây cũng là một điều mà Đờn ca tài tử đã làm được, mà tôi cho rằng đây là sáng tạo rất lớn, tức là tiếp thu âm nhạc nước ngoài, tiếp thu nhạc cụ nước ngoài, mà Việt Nam hóa đi. Trước tiên để cho đàn guitar Tây Ban Nha có thể đáp ứng được nhu cầu chơi Đờn ca tài tử, thì các tài tử đã phải khoét lõm các phím xuống. Khoét lõm phím xuống thì mới nhấn nhá ngón được. Nhưng khoét lõm chưa đủ, để thỏa mãn việc hòa nhập vào môn nghệ thuật này, người ta lên dây theo nhiều cung bậc khác nhau, mà những cung bậc đấy không phải là cung bậc của đàn guitar Tây Ban Nha nữa, mà là các dây đấy là của đàn tài tử. Ví dụ, dây Sài Gòn thì lên thế nào, dây Rạch Giá thì thế nào ?… Ở đây còn có sự sáng tạo thứ hai, đó là sự sắp xếp lại các cao độ của cây guitar Espagnol thành cây đàn phím lõm. Cùng với đàn Tây Ban Nha còn có đàn violon, người ta không để dây son, rê, la, mí như dây phương Tây, mà người ta chuyển lại các dây ấy theo các cung bậc của Đờn ca tài tử. Và tùy bài người ta lên các dây khác nhau. Bây giờ có thể nói là guitar phím lõm đã trở thành người bạn đồng hành của người tài tử. Bất kỳ cuộc hòa đàm nào cũng không thể vắng mặt cây đàn này.

Ra đời và phát triển trong giai đoạn xã hội miền Nam bước vào kỷ nguyên hiện đại, những bước đi của môn nghệ thuật đờn ca tài tử gắn liền với việc du nhập các phương tiện kỹ thuật âm nhạc mới. Dõi theo những thay đổi này trong suốt hàng chục năm qua, Giáo sư Trần Quang Hải có thái độ không thiện cảm với việc sử dụng nhiều phương tiện kỹ thuật, đã xuất hiện ngay từ những năm 1960 của thế kỷ trước, đe dọa tước đi cái thâm trầm độc đáo của nghệ thuật ca nhạc tài tử.

Giáo sư Trần Quang Hải : Về việc đưa các nhạc cụ Tây Phương vào trong dàn nhạc Đờn ca tài tử, chúng ta được biết rằng, từ sau Thế chiến thứ nhất chấm dứt, có sự xuất hiện của một vài cây đàn. Thứ nhất là đờn măng-đô –lin, gọi là măng cầm. Đờn này chỉ đờn được những bài vui, những điệu Bắc. Tới đó, có người đưa vào một cây đờn khác, chế biến từ đờn măng-đô-lin, gọi là đờn octavina, lớn hơn cây măng-đô-lin một chút. Từ đó mới thấy được cây guitar Tây ban cầm. Họ thấy cây đờn này cũng được. Khi họ nhấn những bài buồn không được, thì họ mới nghĩ ra cách khoét lõm… để có thể nhấn được các điệu buồn đặc trưng, điệu Nam, Nam Ai, Nam Xuân, Ngũ cung đảo hay Tứ đại oán… hay là sau này dùng trong bài Vọng cổ…

Khi đờn nghe « nhức xương »…

Lúc đó, chưa có việc để điện vào. Sau này, từ thập niên 1950, họ mới gắn điện vào. Tiếp sau đó, có các nhạc cụ như trong nhạc rock, rất tiện lợi, đờn dễ dàng. Có điện, có những tiếng oaoa… những kỹ thuật đặc biệt cho cây đờn guitar. Những năm 1960, có xuất hiện cây đờn guitar Hạ uy cầm (Haiwai), nghe cũng lả lướt lắm. Nhưng âm thanh ở đây là của cây đờn điện chứ không phải tự nhiên. Rồi lần lần guitar Tây ban cầm bằng điện thay thế cho cây đờn kìm (đờn nguyệt). Guitar điện tiếng chạy lả lướt, đánh rất mau. Điều này cho thấy người ta, nhất là giới trẻ, chú trọng nhiều về tốc độ hơn. Đờn thiệt mau, đờn cho hoa lá, đờn để gây ấn tượng với người nghe. Ba cây đờn Tây ban cầm, violon và Hạ uy di gia nhập vào dàn nhạc Đờn ca tài tử. Nhưng có điều, cái đó dùng nhiều cho đờn trên sân khấu hay cho nhạc cải lương. Chứ dàn nhạc cổ truyền, chỉ có đờn kìm, đờn tranh (thập lục), tiêu, đờn độc huyền (đàn bầu). Đó là những cây đờn căn bản của dàn nhạc ca tài tử.

Chúng ta có thể thấy rõ bây giờ người trẻ thích đờn guitar hơn là đờn kìm, vì cái đó phù hợp với tuổi của họ, họ thích nghe những tiếng âm thanh rộn rã, lớn, chạy thiệt mau… trong khi đó, những ông già đờn trong dàn nhạc salon, đờn những chữ nhấn vuốt theo cái điệu trong tâm hồn của họ. Những tiếng đờn đó, người nghe nói : « Trời ơi, ông ấy đờn nghe nhức xương ! » Tức là nhấn làm sao mình thấy rộn trong người. Còn cái cách kia là chạy thiệt mau, để gây ấn tượng : « Đờn hay quá, đờn mau quá ! ». Có điều này không làm cho mình xúc động bằng những người ở thế hệ trước, tiếng đờn rất nhẹ nhàng, đi vào lòng người nghe…

RFI xin chân thành cảm ơn Giáo sư Trần Quang Hải và Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan đã dành thời gian cho chương trình. Xin mời quý thính giả nghe thêm toàn bộ phần trò chuyện với các vị khách mời qua hai hộp âm thanh kèm theo.

Các tin bài liên quan

Bạch Huệ : Đệ nhất nữ danh ca tài tử Nam Bộ

Bài học từ buổi ra mắt Hội Cải Lương Về Nguồn

Hà Thị Cầu – Truyền nhân cuối cùng của nghệ thuật Hát xẩm?

Vua Vọng Cổ Út Trà Ôn, giọng ca vang lộng sinh khí

Văn hóa cổ truyền : Làm sao đến được với công chúng ?

Ca trù trước ngã ba đường: Phục sinh hay mai một

Vẻ đẹp của Quan Họ cổ truyền xứ Kinh Bắc

Hát Xoan : sự hồi sinh của một môn nghệ thuật giao duyên

 

Đờn ca tài tử có chinh phục được công chúng ?

Xung quanh vấn đề bảo tồn di sản Đờn ca tài tử, có nhiều ý kiến khác biệt. Có người quan tâm rất lo cho tương lai của truyền thống nghệ thuật này, nhưng có người lại cho rằng hiện tại Đờn ca tài tử vẫn đang có nhiều sức sống.

Giáo sư Trần Quang Hải : Vấn đề chánh để bảo tồn được vốn cổ, là làm sao phải có các cuộc hội thảo, tất cả những nhạc sư chịu khó ngồi lại cùng nhau một bàn, trao đổi một cách thành thật, không bị mặc cảm, không tự cao, tự đại. Khi đó mới tìm được cách để truyền lại được di sản cho thế hệ hậu sinh. Bởi vì muốn duy trì một truyền thống, thì không phải chỉ Unesco tôn vinh, mà chính những người trong xứ phải tự giác để bảo vệ vốn cổ đó, bằng cách khuyến khích người trẻ học hỏi, qua những lớp dạy ở nhà trường cũng như ở các trường âm nhạc (…).

Người mà tôi thấy là xứng đáng nhất trong giới nghệ nhân, nhạc sĩ đờn là nhạc sư (Nguyễn) Vĩnh Bảo. Năm nay, nhạc sư 97 tuổi rồi. Ông là người đã gặp cả hàng trăm nhạc sĩ. Ông đã tự thú rằng trong việc học hỏi, ông học ở tất cả mọi người. Mỗi người có một đặc điểm mà ông hấp thụ và ông đem vào trong âm nhạc. Nhất là ông là người đờn tranh rất giỏi, đờn kìm cũng thật giỏi (…)

Người thứ hai là nhạc sư Ba Tu (Trương Văn Tự). Ông ấy là người còn sót lại, sau khi các nhạc sư tiền bối, như nhạc sư Sáu Tửng, nhạc sư Bảy Hàm, nhạc sư Chín Trích, nhạc sư Ba Dư… ra đi. Ông là người quán thông được 20 bài tổ…

Việc Unesco công nhận Đờn ca tài tử, không phải vì vậy mà chúng ta tự mãn, biến đổi nó theo mục đích để thu hút khách du lịch, rồi đem lên sân khấu làm thành những tiết mục đi xa với truyền thống.

Nên tổ chức các cuộc đờn ca salon (thính phòng), mỗi lần gặp gỡ lại là lúc học các bài bản mới (những bài căn bản), rồi từ đó chúng ta phát triển thêm. Như thế mới bảo đảm được Đờn ca tài tử duy trì được lâu dài, nếu không sẽ bị mất đi với thời gian. Đây không chỉ là trách nhiệm của giới nghệ sĩ mà thôi, mà đây còn là những việc làm của chính phủ và những người lãnh đạo có thẩm quyền. Mục tiêu không phải là để đào tạo các ca sĩ tương lai, mà là để giúp trẻ em Việt Nam ý thức được sự phong phú của ca nhạc cổ truyền. Làm sao đánh thức được sự đam mê trong giới trẻ quay về với vốn cổ. Đó là cả một chương trình làm việc rất lâu dài. Tôi cũng mong rằng ở trong xứ có người đứng lên kêu gọi và hỗ trợ cho chương trình này. (…)

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan : Đờn và ca tài tử, “pure” (thuần túy) tài tử, thì thực sự là ít. Đấy là cái nỗi lo khiến người ta thấy rằng có thể có sự pha trộn. Cùng với thực tế này, thì nghệ sĩ đờn cải lương rất nhiều và họ tham gia vào chơi tài tử rất mạnh mẽ. Điều đấy đương nhiên nó sẽ đem đến sự giao thoa, mà rất nhiều bậc nhạc sư thì không ưng ý. (Tuy nhiên), điều đó sẽ phải xẩy ra, và cứ phải xẩy ra.

Hiện nay, có rất nhiều tài tử bậc thầy đang tìm mọi cách để tìm cách trao truyền nghệ thuật của mình một cách chân chính nhất, một cách đúng đắn nhất cho cộng đồng. Tôi thấy họ đang làm cái việc ấy rất tốt. Năm 2012, khi chấm thi ở đồng bằng sông Cửu Long, tôi thấy các câu lạc bộ Đờn ca tài tử đến tham dự đã đàn rất “tài tử”. Thực ra sau khi được Unesco công nhận, tôi thấy việc chơi nguyên dạng theo lối tài tử đang được phát triển. Nỗi lo (về sự mai một hay vốn cổ bị sai lệch – ndr) cũng có một phần, nhưng chỉ là lo xa, vì tôi thấy (nguy cơ) đó không phải là điều làm tổn thất nghệ thuật này.

Vừa rồi, chúng tôi tổ chức cuộc họp 21 tỉnh thành phố để soát xét lại, thống nhất lại 20 bản cổ, để duy trì nghệ thuật này. Chúng tôi thấy tất cả các tài tử đều thống nhất rằng hiện nay đờn ca tài tử vẫn là đờn ca tài tử, chứ chưa có gì biến dạng, cũng không có gì lệch lạc. Còn đương nhiên, trong cái biến động xã hội, sự hấp dẫn của cải lương và việc nhiều người chơi cải lương, thì đương nhiên nó cũng có lai tạp giữa tài tử và cải lương. Và chỉ có cải lương, thì mới sinh ra cái tiếp thu âm nhạc mới gọi là tân cổ giao duyên, còn với tài tử thì không có chuyện đó xẩy ra.

Hiện nay tại Việt Nam, theo quan sát của tôi, khoảng 10.000 người chơi Đờn ca tài tử, từ các bậc thầy cho đến những người chỉ biết chơi dăm ba bản. Tôi thấy người ta chơi “rất tài tử”, người ta vẫn giữ được cái cốt lõi, cái linh hồn của tài tử, tức là chơi “rất âm nhạc”. Đây là điều mà tôi cho rằng rất quan trọng đối với việc bảo tồn.

Cũng về vấn đề này, không những không lo ngại cho tương lai của Đờn ca tài tử, Nhạc sĩ Huỳnh Văn Khải, Trường khoa Âm nhạc dân tộc, Nhạc viện TP.HCM, cho rằng : « cần phải phát triển loại hình này mà “không ngại” cạnh tranh với đủ các thể loại nhạc khác đang thịnh hành. Cần có đội ngũ nhạc sĩ, nghệ sĩ sáng tác những bài Đờn ca tài tử phù hợp với cuộc sống hiện nay (…) » (Bài “Không trường học nào dạy được đờn ca tài tử“). «Đờn ca tài tử ở ngã ba đường » (Le đờn ca tài tử à la croisée des chemins) là hàng tít trên tờ Le Courrier du Vietnam (21-12-2013).

VOV MEDIA – Vang mãi khúc Môn Đình (Hát Xoan) , VIETNAM 2011


Mise en ligne le 18 avril 2011

Hát Xoan là loại hình dân ca đặc sắc của người dân Phú Thọ, còn có tên gọi Khúc Môn Đình vì thường được biểu diễn ở đình làng mỗi dịp Tết đến, Xuân về.

Thank to : http://youtube.com/vietnamofficial
Copyright :

Báo điện tử Đài TNVN – 45 Bà Triệu, Hà Nội

Điện thoại: 84-4-39344231

Fax: 84-4-39344230

Email: toasoan@vovnews.vn

Đặng Hoành Loan. Đờn ca tài tử – âm nhạc “cổ truyền muộn” của cư dân Nam Bộ , VIETNAM 2012


Đặng Hoành Loan. Đờn ca tài tử – âm nhạc “cổ truyền muộn” của cư dân Nam Bộ

Thứ sáu, 04 Tháng 5 2012 14:55 Nguyễn Thị Tuyết Ngân
Email In

ĐỜN CA TÀI TỬ – ÂM NHẠC “CỔ TRUYỀN MUỘN”
CỦA CƯ DÂN NAM BỘ

Đặng Hoành Loan

Ngày nay, mặc dù bị chi phối mạnh bởi sự hội nhập văn hóa, văn hóa, công nghệ và kinh tế toàn cầu, nhân dân Nam bộ vẫn trân trọng, yêu mến và duy trì lối chơi  Đờn ca tài tử trong đời sống thường nhật.

Đờn Ca tài tử, âm nhạc “cổ truyền muộn” của cư dân Nam bộ xứng đáng được xếp vào hàng Di sản văn hóa phi vật thể quý giá của Việt Nam.

XUẤT XỨ

Thế kỷ thứ XIX những người dân Việt ở Nam bộ đã có hai hình thức nghệ thuật có tính chuyên nghiệp đó là Tuồng và Nhạc lễ. Tuồng là sân khấu diễn tích, âm nhạc lấy trống, kèn làm nòng cốt, Nhạc lễ là ban nhạc chơi nhạc phục vụ hành lễ tín ngưỡng, lấy nhạc cụ dây kéo và bộ gõ làm nòng cốt. Từ nhu cầu chơi nhạc, các nhạc công họat động trong hai hình thức nghệ thuật này, cùng với những nông phu yêu nhạc dựa vào âm nhạc của hai hình thức nghệ thuật trên để sáng tạo ra phong trào “đờn cây” (tức hòa đờn không có bộ gõ) để thoả mãn nhu cầu chơi nhạc trong những lúc nông nhàn, trong những ngày rảnh rỗi. Phong trào đờn cây nhanh chóng lan tỏa khắp các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam bộ. Câu ca dao “Đồng Nai có bốn rồng vàng/ Lộc họa, Lễ phú, Sang đàn, Nghĩa thi” đã minh chứng cho sự phát triển nhạc đàn của Nam bộ trong thời kỳ này (khoảng năm 1800).

Đến cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, nhiều nhạc quan và nhạc công của các ban nhạc triều đình nhà Nguyễn vào Nam theo phong trào Cần vương. Họ là những người sớm biết kết hợp âm hưởng nhạc Nam bộ với nhạc Huế để sáng tác ra những bản nhạc Tài tử và mở các lớp dạy đờn khắp khắp hai miền Đông, Tây Nam bộ.  Đó là nhạc sư: Nguyễn Quang Đại (tức Ba Đợi) (1880) ở Long An. Ông đã có nhiều năm nghiên cứu, chỉnh sửa các bản đờn cổ, sáng tác các bản mới, rồi “tập hợp thống nhất được những ban, nhóm đờn ca của hai vùng Đông-Tây Nam bộ, dựng nên dòng nhạc Tài tử”[1]. Cùng thời với ông còn có các nhạc sư Trần Quang Diệm (1853 -1927) ở Mỹ Tho, là nội tổ của GS. Trần Văn Khê. Lê Bình An (?) là cha của nhạc sư Lê Tài Khị (1862-1924) ở Bạc Liêu, Kinh lịch Trần Quang Quờn ở Miền Tây, thầy Tam, thầy Dũng, cha con ông Nguyễn Liêng Phong, Nguyễn Tùng Bá và hai vị quan chức khoa cử Phan Hiền Đạo, Tôn Thọ Tường học nhạc ở Huế là những người có công sáng tác bài bản, truyền dạy đờn ca tài tử khắp Nam bộ. Như vậy, từ phong trào đờn cây nhờ có các nhạc sư từ kinh đô Huế vào đã tạo ra sự biến đổi về chất để âm nhạc đờn cây trở thành hình thức âm nhạc cổ truyền  mới: Đờn ca tài tử.

NGHỆ THUẬT

a) Đàn tài tử

Để chơi đờn ca tài tử, người ta phải theo học các nhạc sư một thời gian rất dài, thường phải mất hai đến ba năm mới thông thạo các bản đờn, các kỹ thuật chơi đờn như: rung, nhấn rung, nhấn mổ, nhấn mượn hơi, mổ đơn, mổ kép, mổ kềm dây; các cách đổ hột, rung cung của đờn dây cung kéo; các cách chầy, hưởng, mổ bấm, bịt, day, chớp, búng, phi, rải của đờn tỳ bà. Nhờ vào các ngón kỹ thuật này, người chơi mới chơi được các điệu và hơi trong bài nhạc tài tử.

Đến nay, nhạc mục tài tử đã lên tới vài trăm bản. Trong vài trăm bản đó, giới nhà nghề nhạc tài tử đã gút lại được 20 bản nhạc tiêu biểu và gọi là 20 bản tổ. 20 bản tổ gồm các bản: Lưu Thủy Trường, Phú lục Chấn, Bình Bán chấn, Cổ bản trường, Xuân tình chấn, Tây Thi trường, Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long Đăng, Long Ngâm, Vạn giá, Tiểu khúc, Nam Xuân, Nam ai, Đảo ngũ cung, Tứ đại oán, Phụng hoàng, Giang Nam – Cửu khúc, Phụng cầu.

Khi chơi 20 bản tổ cũng như chơi những bản đờn tài tử khác, người chơi được phép ngẫu hứng sáng tạo, để sáng tác ngay khi trình diễn những nét giai điệu mới mẻ trên cơ sở nhịp, câu, lớp, điệu (giọng), hơi, đã được quy định bởi lòng bản.

Lòng bản là những âm cơ bản (âm chính) của âm giai và tiết tấu của mỗi câu nhạc, lớp nhạc. Mỗi câu nhạc có số khuôn nhịp cố dịnh, thường có hai loại câu: câu  nhịp tư  và câu nhịp tám. Câu nhịp tư có 4 nhịp 4/4, câu nhịp tám có 8 nhịp 4/4. Lòng bản được tạo thành trên cơ sở các thang âm Bắc (hơi Bắc, hơi Hạ), thang âm Nam (hơi Xuân, hơi Ai, hơi Đảo) và thang âm Oán (hơi Oán). “Hơi được xác định bởi 4 yếu tố: Thang âm, Âm tựa, Chữ đàn và nét nhạc đặc trưng”[2].

Tất cả các nhạc sĩ chơi nhạc tài tử phải thuộc thấu đáo lòng bản của từng bản nhạc tài tử. Có vậy khi hòa đờn họ mới nhanh chóng thoát khỏi sự giàng buộc của lòng bản để thăng hoa trong “sáng tác” các câu đờn, chữ đờn mà vẫn bảo đảm sự toàn vẹn bản hòa tấu nhạc tài tử.

Dàn nhạc hòa tấu nhạc tài tử truyền thống thường có có nhạc cụ: đờn kìm, đờn tranh, đờn tỳ bà, đờn cò, đờn bầu và ống tiêu. Khoảng nửa cuối thế kỷ XX có thêm  hai nhạc cụ phương Tây là guitare và violon tham gia vào dàn nhạc tài tử. Để hai nhạc cụ này tương thích với nhạc đàn tài tử  người ta đã cải tiến bằng cách khoét phím đàn guitare lõm xuống, gọi là guitare phím lõm và thay đổi cách lên dây của cả hai cây đờn.

Cách lên dây buông  guitare phím lõm:

– Dây Xề bóp:                 Xòn – Đô – Xon – Rê

– Dây Sài Gòn:               (Rề) – Xòn – Rê – Xon – Rế

– Dây Rạch Giá:             (Rề) – Xòn – Rê – la – mí

– Dây Tứ Nguyệt:            (Rề)- Là – Rê- La – Rế

– Dây Lai:                      (Xòn)- Rề – Xòn – Rê- La- Rế

– Dây Ngân Giang 1:     Xòn – Rê – Xon – Xi-Ré

– Dây Ngân Giang 2:     Rề – Là – Rê – Fa (thăng)-La

– Dây bán Ngân Giang: Rề – Xòn – Rê -Si- Rế

Cách lên dây buông violon:

– Dây Xề buông:             Xòn – Rê – Xon – Rế

– Dây Xề bóp:                 Xòn – Đô – Xon – Rế[3]

b) Ca tài tử.

Trên cơ sở các bản nhạc tài tử, người ta viết lời ca để các ca sĩ hát. Lời ca ra đời đã nhanh chóng trở thành công cụ đắc lực phát huy giá trị nghệ thuật và chức năng giáo dục của Đờn ca Tài tử đối với công chúng – một công chúng dân ca vốn có truyền thống tiếp nhận nội dung âm nhạc thông qua lời hát.

Không bao lâu sau, các ca sĩ trình diễn nhạc tài tử có lời đã thay đổi lối ngồi ca (ca “salon”) bằng cách ca có diễn điệu bộ gọi là “Ca ra bộ”. Ban nhạc tài tử biểu diễn Ca ra bộ được biết đến sớm nhất là ban nhạc tài tử ở Mỹ Tho của ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) với cô Ba Đắc, người ca sĩ diễn ba vai Bùi Kiệm, Bùi Ông và Kiều Nguyệt Nga trong bài ca Tứ đại oán tại hội chợ đấu xảo ở Paris vào năm 1910. Ca ra bộ ra đời là tiền đề cho việc hình thành sân khấu Cải lương Nam bộ. Đến năm 1017, vở diễn Lục Vân Tiên của soạn giả Trương Duy Toản được trình diễn ở Sa đéc. Nhiều người coi đây là vở Cải lương đầu tiên. Vở Cải lương đã đánh dấu sự ra đời loại hình sân khấu truyền thống thứ ba của Việt Nam sau sân khấu Tuồng và sân khấu Chèo. Nhờ vào biểu mục nhạc tài tử phong phú, nhờ vào những giọng ca tài tử điêu luyện, sân khấu Cải lương đã nhanh chóng phát triển và trở thành sân khấu ăn khách nhất trong các loại hình nghệ thuật biểu diễn ở Nam bộ suốt thế kỷ XX. Ngược lại, sân khấu Cải lương cũng là tác nhân tích cực làm cho nhạc tài tử lan tỏa tới mọi lớp người từ thành thị đến nông thôn Nam bộ.

Nói đến sân khấu Cải lương, không thể không nhắc tới một bản nhạc có tính chất sự kiện, đó là bản Vọng cổ. Tiền thân bản Vọng cổ là bản Dạ cổ hoài lang do nhạc sĩ Sáu Lầu (Cao Văn Lầu) biên soạn năm 1918 ở Bạc Liêu. Hơn một năm, từ sân chơi Đờn ca tài tử, bản Dạ cổ hoài lang bước lên sân khấu Cải lương. Kể từ đấy, nhờ vào những sáng tạo của nhiều danh ca, danh cầm, khắp Nam bộ, bản Dạ cổ hoài lang đã dần lột xác để biến thành bản Vọng cổ. Vọng cổ ra đời là một sự kiện âm nhạc lớn làm thay đổi diện mạo âm nhạc của sân khấu cải lương. Dần dà, bản Vọng cổ cũng được giới chơi nhạc tài tử yêu mến và trở thành bản nhạc không thể thiếu trong mỗi cuộc đờn ca.

c) Hòa đờn ca tài tử

Như đã trình bầy, những người chơi Đờn ca tài tử phải thuộc làu lòng bản các bản đàn. Khi chơi, họ được phép tự do sáng tạo ngẫu hứng thêm bớt các âm, biến hóa tiết tấu, thay đổi cường độ, tạo chỗ ngưng nghỉ để cho ra một bè đàn có tính cách rêng, kỹ thuật riêng của người nhạc sĩ chơi Đờn ca tài tử. Và cứ như vậy, nếu có 4 người hòa tấu 4 đàn khác nhau trên cùng một lòng bản họ sẽ cho ra 4 giai điệu có tánh cách khác nhau nhưng lại hợp thành “một tác phẩm hoàn hảo”. Lối hòa đàn của Đờn ca tài tử được các nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam gọi là lối “hòa tấu biến hóa lòng bản”. FGS-Nhạc sĩ Hoàng Đạm cho rằng “ “Biến hóa lòng bản” là một trong nhiều cách viết âm nhạc khác nhau, mà từ lâu danh từ âm nhạc thế giới đã gọi là hétérophonie (hétéro là dị dạng, biến hóa khác nhau; phonie là âm điệu, giai điệu…Trung Quốc gọi cách viết này là “chi thanh” hoặc “phức điệu chi thanh”[4].

Trước khi vào bản đờn chính, người chơi đờn tài tử phải chơi câu rao. Câu rao là câu nhạc khởi đầu, rất ngẫu hứng của người chơi đờn. Câu Rao không có nhịp phách cố định, không có lòng bản như bản đờn, người chơi câu rao dựa trên cơ sở  điệu và hơi của nhạc tài tử mà sáng tác. Câu rao “chẳng những tạo một bầu không khí phù hợp với bản đờn, vui tươi cho bản Bắc, nghiêm trang cho bản Nhạc, êm ả cho bản Xuân, buồn dịu cho bản Ai, mà còn là một dịp để nhạc công thử dây đờn như người chơi kỵ mã thử ngựa, và lúc đó người nhạc công có thể phô tài của mình hay tuỳ hứng sáng tác những khúc mới lạ”[5].

NHỮNG NGƯỜI CHƠI ĐỜN CA TÀI TỬ

Trước kia những người chơi Đờn ca tài tử là những nhạc sĩ tài tử, họ không sống bằng nghề đàn hát. Họ chơi đờn một mình hoặc hòa đờn với nhau chỉ nhằm mục đích tiêu khiển khi nhàn rỗi. Khi chơi họ phải chọn những người bạn tri âm, tri kỷ, hiểu nhau từ cuộc sống đến nghệ thuật; hiểu nhau từ ngón đờn, chữ đờn đến tài năng nghệ thuật. Bởi với họ, lối chơi nhạc tài tử là đánh lên những âm thanh từ “tâm thức” để tạo ra một bản nhạc của “tâm thế”. Vì vậy chơi nhạc tài tử chính là chơi “tâm tấu”, chơi nhạc bằng cả lòng mình. Để có được điều đó, việc chọn bạn đờn và nơi để chơi đờn là điều vô cùng quan trọng.

Về sau, khi phong trào chơi Đờn ca tài tử lan rộng, quần chúng có nhu cầu thưởng thức, nhiều nhạc sĩ bậc thầy đã đứng ra thành lập các “ban nhạc tài tử” để đi trình diễn các nơi. “Ban nhạc tài tử” ra đời đã tạo ra lối chơi nhạc tài tử khác với lối chơi tiêu khiển trước đấy. Đó là lối biểu diễn nhạc tài tử trên bục diễn trước khán giả. Người ta còn biết “Vào năm 1915 Nguyễn Tống Triều và ban nhạc tài tử ở Mỹ Tho lên trình diễn ở nhà hàng Cửu Long Giang bên cạnh chợ Sài Gòn. Đây là lần đầu tiên nhạc tài tử lên sân khấu chuyên nghiệp ở Sài Gòn”[6]

Song song với việc thành lập các ban nhạc tài tử, sân khấu Cải lương ra đời đã sản sinh ra nhiều nhạc sư, nhiều danh cầm chơi nhạc tài tử lừng danh. Họ là những người hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp, họ luôn luôn phải khổ luyện, phải sáng tạo, phải làm mới ngón đờn, chữ đờn của mình trong từng đêm diễn. Sự khổ luyện, sự sáng tạo nghệ thuật ấy đã biến họ thành những người điêu luyện trong trình diễn và nhạy bén trong sáng tạo các ngón đờn, chữ đờn mới, bổ sung, làm phong phú nghệ thuật Đờn ca tài tử.

Những người chơi ngẫu hứng, những ban nhạc chơi trên bục diễn, những nhạc công Cải lương chơi đờn tài tử đã đem lại cho loại hình âm nhạc này sự đa dạng về phong cách diễn tấu, đa dang âm sắc dàn nhạc và đa dạng khán thính giả nghe Đờn ca tài tử.

NHỮNG CĂN CỨ ĐỂ XÁC ĐỊNH ĐỜN CA TÀI TỬ  LÀ NHẠC CỔ TRUYỀN

So tuổi đời với nhiều hình thức âm nhac cụ kỵ ở Việt Nam như Hát Xoan, Ca trù, Hát văn, Ca Huế, Hát Xẩm… thì Đờn ca tài tử chỉ dám nhận mình là cháu chắt, bởi nó mới ra đời ngót nghét một trăm năm, đồng tuổi với âm nhạc mới Việt Nam (nhạc tiếp thu của phương Tây từ đầu thế kỷ XX). Mặc dầu là vậy, nhạc tài tử vẫn được người Việt Nam xếp vào kho tàng di sản  âm nhạc cổ truyền của mình.

– Căn cứ thứ nhất, bài bản nhạc tài tử vẫn giữ nguyên lối cấu trúc âm nhạc cổ truyền Việt Nam –  lối cấu trúc lòng bản.

– Căn cứ thứ hai, nhạc tài tử vẫn giữ nguyên vẹn các dạng thang âm, các quãng cao độ trong các dạng thang âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

– Căn cứ thứ ba, các nhạc sĩ chơi nhạc tài tử bằng các cây đờn kìm, đờn tỳ, đờn tranh, đờn bầu, đờn nhị. Đây là các cây đờn cổ truyền Việt Nam. Nhờ vậy các nhạc sĩ tài tử đã tiếp nối, phát triển, sáng tạo ra nhiều cách nhấn nhá chữ đờn mới để tạo thành âm hưởng nhạc tài tử Nam bộ.

– Căn cứ thứ tư, các nhạc sư dạy đờn tài tử vẫn giữ nguyên cách dạy truyền ngón, truyền khẩu có dựa trên những bài bản được ghi bằng chữ nhạc cổ truyền trên ký tự quốc ngữ.

Ngày nay, mặc dù bị chi phối mạnh bởi sự hội nhập văn hóa, văn hóa, công nghệ và kinh tế toàn cầu, nhưng nhân dân Nam bộ vẫn trân trọng, yêu mến và duy trì lối chơi  Đờn ca tài tử trong đời sống thường nhật.

Đờn Ca tài tử, âm nhạc “cổ truyền muộn” của cư dân Nam bộ xứng đáng được xếp vào hàng Di sản văn hóa phi vật thể quý giá của Việt Nam.

 

Tài liệu tham khảo

 [1] Trần Thanh Bình: Đờn ca Tài tử – tiếng tự tình dân tộc, Thông báo Khoa học, số 13/2004, Viện Âm nhạc

 [2] Vũ Nhật Thăng: Một cách hiểu về Điệu và Hơi trong nhạc Cải Lương – Tài tử. Tạp chí Âm nhạc, số  3.1993

 [3] GS. Tô Vũ. Âm nhạc Việt Nam truyền thống và hiện đại, tr. 124. Viện Âm nhạc – 2002

 [4] FGS. Hoàng Đạm, Hòa tấu biến hóa Lòng bản âm nhạc cổ truyền người Việt. Viện Âm nhạc – 2003

 [5] Trần Văn Khê. Vài cái hay cái dở trong nhạc Việt (Lối ca Huế và đàn tài tử). Tạp chí Bách Khoa, số 320. 1969.

[6] Nguyễn Thị Minh Ngọc, Đỗ Hương: Sân khấu Cải lương, tr. 86.  Nxb. Văn hóa Sài Gòn – 2007.

Nguồn: http://vnmusic.com.vn

http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-nam-bo/2208-dang-hoanh-loan-don-ca-tai-tu-am-nhac-co-truyen-muon-cua-cu-dan-nam-bo.html

Bài phỏng vấn nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, VIETNAM 2009


Bài phỏng vấn nhạc sĩ Đặng Hoành Loan

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan (người chịu trách nhiệm khoa học trong việc lập hồ sơ) sau cuộc điền dã kéo dài 9 tháng qua 15 tỉnh, thành trong cả nước để thu thập tư liệu về ca trù đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi sau.
* Chúng ta dựa vào cơ sở nào để khôi phục nghệ thuật ca trù cổ, thưa nhạc sĩ?
– Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan: Trước khi bắt đầu tiến hành lập hồ sơ quốc gia về ca trù, bản thân tôi đã có nhiều năm nghiên cứu về loại hình nghệ thuật này và đã tập hợp được khoảng 3.000 trang tư liệu về ca trù.
Bên cạnh số tư liệu này, chúng tôi còn tìm thấy tại các địa phương khá nhiều các di tích, văn bia liên quan tới ca trù của các giáo phường xưa để lại.
Hơn nữa, chúng tôi tìm được gần 20 nghệ nhân ca trù cao tuổi như nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc, Phó Thị Kim Đức ở Hà Tây, Nguyễn Thị Kim, Ngô Đức Bình ở Thanh Hóa, Nguyễn Phú Đẹ ở Hải Dương…
Họ đã cung cấp cho chúng tôi những kiến thức rất sâu sắc về nghệ thuật ca trù. Cơ sở để khôi phục nghệ thuật ca trù cổ của chúng ta rất vững chắc. Mặt khác, trong 10 năm nay, rất nhiều địa phương đã tự mình gióng lên ý thức khôi phục, gìn giữ loại hình nghệ thuật này bằng nhiều hành động cụ thể. Ví dụ như ở Quảng Bình, một nghệ nhân 94 tuổi tên là Thướu đã giúp xây dựng CLB Ca trù Quảng Trạch từ 1999, hiện rất phát triển. Hay ở Đông Môn, Hải Phòng cũng vậy.
* Trong quá trình điền dã về ca trù, điều gì khiến nhạc sĩ cảm thấy bất ngờ nhất về nghệ thuật này?
– Bất ngờ nhất là sức ảnh hưởng, bao trùm của hát ca trù lên đời sống văn hóa của người dân nhiều địa phương khi xưa.
Ở làng Đẻn, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa hiện nay vẫn còn thờ một đào nương, tận bây giờ vẫn còn giữ được bộ xiêm y của đào nương này khi bà rời cung đình về truyền nghề hát cho làng này.
Hay ở làng Gạo, Nam Định có câu chuyện rất hay: Vào thời Lý làng này có đình nhưng để cho dân có chỗ xem hát, người ta đã xây dựng một cái đình gọi là đình Đũm, bằng cách cuốn rơm vào trong cột tre lắp thành đình cho dân nghe hát thờ. Ở Bắc Ninh thì có tới 10 đình làng thờ Doãn Công và Đào Nương vợ ông. Hàng loạt các di tích, văn bia có liên quan đến ca trù có thể tìm thấy ở rất nhiều làng xã trong cả nước.
* Theo nhạc sĩ, điều gì đã khiến ca trù có được sự ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu sắc đó?
– Nghệ thuật ca trù hoàn toàn khác với các nghệ thuật khác là nó có sự truyền đời từ đời này sang đời khác theo tổ chức, theo dòng họ.
Ca trù đã được các triều đại phong kiến cho nó một tổ chức chặt chẽ là các ty giáo phường.
Mỗi ty giáo phường được chia nhỏ ra thành những giáo phường, mỗi phường là một dòng họ. Vì thế di tích dòng họ cũng gắn với di tích về ca trù. Chỉ riêng việc theo dòng họ, nối đời này qua đời khác đã khiến ca trù gắn với tính thiêng, với tâm linh của dòng họ.
loại, thưa* Về mặt nghệ thuật, đâu là điểm độc đáo nhất để ca trù xứng đáng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, thưa nhạc sĩ?
– Trước hết phải kể đến nghệ thuật vừa ca hát vừa đánh phách của đào nương. Đây là một nét hết sức độc đáo vì giữa đánh phách và hát có sự đối kỵ nhau về tiết tấu. Bên cạnh đó là cây đàn đáy.
Đàn đáy là nhạc cụ duy nhất trên thế giới chỉ tham gia vào một nghệ thuật. Cây đàn này lại có những phương thức diễn tấu rất cao với các ngón đánh kỹ thuật. Nó cũng là cây đàn duy nhất mà người ta chỉ dùng nửa cần làm phím, cấu tạo đặc biệt này nhằm mục đích tạo ra một âm trầm trong bè.
Tiếp đến là sự đối kỵ về âm sắc giữa đàn và giọng hát. Tiếng hát thì cao vút, thanh mảnh còn đàn thì trầm. Sự đối kỵ này đã thể hiện ý thức về âm nhạc rất cao.
Và không thể không nhắc đến trống chầu. Đây là nhạc cụ không phải của nhạc công mà là do người thưởng thức cầm đánh với một vai trò hết sức quan trọng là thưởng phạt, khen chê và hướng dẫn cho người nghe. Nó đòi hỏi người chơi phải am hiểu văn thơ và am hiểu âm nhạc, tức là đòi hỏi một khán giả cao cấp.
* Nhạc sĩ đánh giá như thế nào về ca trù cổ hiện nay?
– Đương nhiên, không thể so sánh Thúy Hòa với các nghệ nhân trong các giáo phường thuở xưa còn lại như cụ Nguyễn Thị Chúc, Phó Thị Kim Đức, Nguyễn Thị Kim… Những nghệ nhân tài hoa như vậy còn rất ít, nhiều cụ đã không thể hát được nữa.
Qua sưu tầm và lắp ghép những mảnh ký ức của các nghệ nhân thì chúng ta mới chỉ tập hợp được gần 30 làn điệu trên tổng số 47 làn điệu của ca trù. Các nghệ nhân và dòng tộc ca trù đều đang có ý thức giữ gìn nó và vẫn có những ca nương trẻ hát rất hay.

Theo Văn hóa- Nhân dân

http://catruthanglong.com/vi/Tin-tuc/bai-phong-van-nhacsi-danghoanhloan.html

TRỌNG THÀNH RADIO RFI: Hà Thị Cầu – Truyền nhân cuối cùng của nghệ thuật Hát xẩm? (phỏng vấn Trần Quang Hải, Đặng Hoành Loan, Mai Tuyết Hoa, Bùi Trọng Hiền) 15 tháng 3, 2013


Thứ sáu 15 Tháng Ba 2013
Hà Thị Cầu – Truyền nhân cuối cùng của nghệ thuật Hát xẩm?
Nghệ nhân Hà Thị Cầu

DR

Nghệ nhân Hà Thị Cầu vừa ra đi ở tuổi ngoài 90. Giới những người yêu quí nghệ thuật cổ truyền Việt Nam thương và tiếc một đỉnh cao. Nhiều tiếng nói khẳng định : « Người hát xẩm cuối cùng đã về trời ». Sự ra đi của Hà Thị Cầu liệu có phải là dấu chấm cáo chung Hát xẩm, môn nghệ thuật một thời là món ăn tinh thần quen thuộc của đông đảo người bình dân Việt Nam ?

Hát xẩm, môn nghệ thuật từng đặc biệt nở rộ tại miền bắc Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX, đã không có đất sống trong chế độ mới. Nhưng những gì thấm sâu vào máu thịt của người nghệ sĩ đích thực không thể nào biến mất. Trong cuộc đời gần một thế kỷ của mình, nhất là hai mươi năm cuối đời, Hà Thị Cầu đã liên tục truyền đến cho các thế hệ đi sau những gì tinh túy nhất trong môn nghệ thuật của đầu thế kỷ trước.

Tạp chí Văn hóa của RFI tuần này xin chuyển tới quý thính giả tiếng nói của một số nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, từng gắn bó với nghệ nhân Hà Thị Cầu hay đặc biệt quan tâm đến di sản của bà.

Khách mời của tạp chí là nhà dân tộc nhạc học Trần Quang Hải (Paris), nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan và nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền từ Hà Nội.

Vượt lên đau khổ : Thần lực của một giọng hát

Mở đầu tạp chí là tiếng nói của nhà nghiên cứu Trần Quang Hải :

Nhà nghiên cứu Trần Quang Hải

15/03/2013

RFI : Xin ông cho biết cảm nhận và suy nghĩ của ông trước sự ra đi của nghệ nhân Hà Thị Cầu.

Trần Quang Hải : Bà ấy mất đi là xứ Việt Nam mất đi một gia tài rất lớn, về văn chương, văn học dân gian, là cái văn học dính liền với những người « dân gian », những người nghèo nhất. trong xã hội. Tôi thấy rằng, muốn hát xẩm cho thật hay, phải sống rất nhiều, phải lăn lộn vào trong cuộc đời, phải có nhiều kinh nghiệm, phải có nhiều đau khổ và chính là cái đau khổ đó mới tạo ra một cái thần lực ở trong giọng hát của mình.

RFI : Ông có thể cho biết, vì sao ông lại biết đến môn nghệ thuật hát xẩm và những kỷ niệm của ông với nghệ nhân Hà Thị Cầu.

Trần Quang Hải : Khi tôi đi về Việt Nam lần đầu tiên, thì tôi có nghe nói ở Hà Nội có một điệu hát xẩm, thì tôi có đi gặp anh Thao Giang, phó giám đốc Trung tâm về nhạc dân gian Việt Nam. Anh ấy nói với tôi là đương muốn trùng tu hát xẩm trở lại, sau khi bị mất đi trên 50 năm. Khi đó, Thao Giang mới cho tôi nghe một số làn điệu đặc biệt, trong đó có một vài bài do bà Hà Thị Cầu hát. Tôi hỏi, ai mà có giọng quá đặc biệt như vậy.

Tôi gặp một bà cụ, cái cặp mắt rất là sắc sảo và cái giọng nói rất là vang, vang mạnh lắm và tiếng đờn nghe não ruột luôn. Tôi nhắm mắt mà nghe, thì tôi thấy rằng, rõ ràng là người này đã sống rất nhiều và đã có một đời sống rất là gian truân, nhưng mà có điều, vẫn lướt lên để sống, chấp nhận cái cuộc sống của mình, chứ không có đòi hỏi gì nhiều hết. Thành ra cái tiếng đờn và giọng hát, nó đi quyện vào nhau. Tôi rất lấy làm sung sướng được nghe bà ấy hát. Lần đầu tiên bà ấy hát cho tôi nghe bài « Thập ân ». Thì tôi nhớ hoài cái bài Thập ân này. Nó nói lên cái lòng hiếu thảo của người con.

Từ đó về sau này, tôi không có dịp gặp được bà ấy nữa. Có điều tôi theo dõi tất cả những sinh hoạt của bà, qua báo chí, qua đài truyền hình… Tôi biết rằng năm 2008 bà ấy được lãnh giải thưởng Đào Tấn, là một giải thưởng rất là quan trọng cho những người đã phụng sự âm nhạc dân tộc và nghệ thuật cổ truyền.

Trong 10 năm chót của cuộc đời bà ấy, có rất nhiều học trò đã đến học với bà ấy. Anh Thao Giang cũng đã quay nhiều phim cho đài truyền hình về sinh hoạt của bà ấy và có phim « Xẩm Đỏ », được đạo diễn Lương Đình Dũng quay cách nay 2 năm.

Tôi xem bà ấy cũng như tất cả những diva, hay những người nghệ sĩ lớn, hay những ca sĩ lớn của xứ Việt Nam hay ngay như trên thế giới, ngang hàng với bà Quách Thị Hồ. Bà ấy có một giọng hát rất là đặc biệt, là đại diện cho một truyền thống âm nhạc đang sắp mai một đi (…).

Di sản lớn, tiếp thu rất nhỏ

Theo như tôi nghĩ, sự ra đi của bà Hà Thị Cầu sẽ để lại sự mất mát rất lớn trong truyền thống hát xẩm. Không có một cơ quan nghiên cứu để làm một cuộc điền dã, đi thâu thập bà ấy, theo phương pháp dân tộc nhạc học. Các điền dã ít có làm hoặc chỉ làm một cách chung chung để thâu một số bài bản cho một số người trẻ học thôi, chứ không có đi thâu một cách tận tường, thâu hết – một việc cần làm để duy trì truyền thống hát xẩm với người cuối cùng còn lại của truyền thống này.

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan là người đã thực hiện từ sớm việc thu thanh nghệ nhân Hà Thị Cầu. Sau đây ông chia sẻ một số ấn tượng về tài năng Hà Thị Cầu và thực trạng của việc kế thừa.

Nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan

15/03/2013

Đặng Hoành Loan : Bà ấy là một tài năng xẩm, với giọng hát tuyệt vời, với những rung cảm dường như nó từ máu, từ trong huyết mạch của bà ấy, cho nên khi bà ấy cất lên giọng hát là nó cuốn hút người ta ngay. Tôi được làm việc với bà ấy và thu thanh toàn bộ những vốn liếng của bà ấy vào những năm 1990. Nếu bây giờ đem đối chiếu lại với cái việc bà truyền lại cho lớp trẻ hiện nay, thì chắc chỉ được 1/10 thôi.

Đấy là vốn liếng bài bản. Còn vốn liếng nghệ thuật, tức là cái trình diễn nghệ thuật của bà ấy, thì phải nói rằng là lớp trẻ chưa tiếp cận được. Bởi vì bà có một tài năng mà không phải nghệ sĩ nào cũng có. Một người vừa đàn, vừa hát, một người vừa đánh trống, vừa hát. Một người tự mình có thể đánh hai ba trống một lúc, thì đấy là điều hiếm thấy. Đồng thời bà ấy lại là một nghệ sĩ, một người hát xẩm, đúng là xẩm, tức là sự ngẫu hứng những bài hát, thì bà ấy là người ngẫu hứng vô cùng tài ba. Và có nhiều bài hát bà để lại những dấu ấn rất sâu, như « Yên Mô quê mình », là bài viết về quê hương Yên Mô của bà ấy.

Có lẽ đây là người cuối cùng ra đi cùng với tài sản xẩm, không còn bao giờ có thể thấy nó hiện hữu được nữa. Và nếu nói một cách theo chủ quan của những người… thì cũng có thể nói là cũng còn lại một chút ít, của lớp trẻ tiếp thu được dăm ba bài.

Cũng như nhà dân tộc nhạc học Trần Quang Hải, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan nhận thấy, nghệ nhân Hà Thị Cầu đã ra đi, và cùng với bà là cả một « gia tài » hết sức lớn lao đã một đi không trở lại, lớp nghệ sĩ trẻ mới chỉ thâu nhận được những điều ít ỏi từ người nghệ sĩ lớn.

Nỗ lực nối lại một truyền thống nửa thế kỷ đứt đoạn

Như chúng ta biết, môn hát xẩm như một phương tiện kiếm sống của những người mù trên các không gian ngoài đường phố đã không còn tồn tại từ hàng chục năm nay. Trong thời gian ít năm trở lại đây, tại Hà Nội bắt đầu phát triển một số nhóm biểu diễn do các nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu chủ trì với mục tiêu phục dựng lại những bài hát và làn điệu xẩm thời xưa.

Trung tâm phát triển nghệ thuật âm nhạc, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, kể từ năm 2008, đã tổ chức Lễ giỗ Tổ nghề hát xẩm (vào ngày 22/2 âm lịch) sau nửa thế kỷ gián đoạn, nhằm nối lại với truyền thống này.

Chúng tôi xin chuyển đến quý vị tiếng nói của nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa, một trong những giọng hát và tay đàn quen thuộc với nhiều người yêu thích xẩm. Chị Mai Tuyết Hoa là một trong các trụ cột của sân khấu xẩm được tổ chức vào thứ bảy hàng tuần trước cửa chợ Đồng Xuân (Hà Nội). Sau đây nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa chia sẻ những kỷ niệm và ấn tượng in dấu trong tâm hồn chị trong thời gian được theo học nghệ nhân Hà Thị Cầu.

Nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa

15/03/2013

Mai Tuyết Hoa : Tôi biết bà qua giọng hát, qua những cái băng tư liệu của Viện nghiên cứu âm nhạc Việt Nam sưu tầm. Nghe băng, nghe đĩa của cụ và tôi đã bắt chước cái giọng hát của cụ, cũng như tiếng đàn của cụ. Cái điều ấn tượng nhất với tôi là cái phong cách của cụ, cũng như tính cách của cụ, rất là gần gũi, dí dỏm và rất là hài hước.

Riêng đối với nghệ thuật hát xẩm, thì phải nói, nó rất là phong phú. Phong phú ở bài bản, phong phú ở làn điệu, có buồn, có vui. Nói chung, thì nghệ thuật hát xẩm diễn tả được tất cả những tâm trạng của con người. Và cái điều khó nhất, chính là làm sao mà mình hát gần gũi nhất, dí dỏm nhất và lôi cuốn người nghe nhất. Và cho dù là, cho đến bây giờ, tôi đã học đến hơn mười năm, nhưng mà cái điều mà nghệ nhân Hà Thị Cầu làm được, cuốn hút được người nghe, thì tôi nghĩ vẫn còn rất là xa, bởi vì tôi cũng chỉ có thể học được một chút gì đó của cụ thôi, còn để đạt đến đỉnh điểm như cụ, thì tôi nghĩ điều đó khó ai có thể làm được.

Hát cho mình, hát cho mọi người

Đặc biệt là nghệ thuật hát xẩm, thì nó không như những loại hình nghệ thuật khác, nó khác quan họ, nó khác ca trù, nó rất là dân dã, rất là bình dân. Bình dân ở đây là nó rất gần gũi với mọi người. Ở mọi tầng lớp đều có thể thưởng thức nghệ thuật hát xẩm, vì nó dễ nghe, dễ hiểu. Nghệ thuật hát xẩm chính là cái mà người hát xẩm hát cho mình và cho mọi người.

RFI : Hát cho mình và hát cho mọi người là như thế nào, xin chị diễn tả thêm.

Mai Tuyết Hoa : Người hát xẩm hát thế nào để cho người nghe cảm thấy rằng là, cái điều này nó lay động lòng người lắm, nó miêu tả được nhân tình thế thái, thời sự chiến cuộc. Hoặc là ví dụ như, một người rất thích người hát xẩm hát cho một nỗi niềm gì đấy của mình, ví dụ như anh đang thích một cô này, mà chưa nói được ra lời, thì nhờ người hát xẩm hát cho là tôi đang rất là thích cô đấy, cô có đồng ý đến với tôi hay không ? Người hát xẩm hát cho cuộc đời mình và hát hộ người kia. Người kia cảm thấy rằng là anh hát xẩm này anh ấy có ích, anh ấy giúp được cô kia cô ấy hiểu được ý nghĩa của anh í, thì anh í động lòng, anh í để vào chậu thau đồng một chút ít tiền vào chậu thau đồng, gọi là thưởng cho người hát xẩm. Chứ người hát xẩm không đi xin, đó là điều tôi muốn nói với tất cả mọi người là như vậy.

Kết thúc chương trình hôm nay, chúng tôi xin mời quý vị nghe tiếng nói của nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, người được nghệ nhân Hà Thị Cầu nhận làm con nuôi. Ông cũng là người từ gần 20 năm nay liên tục nỗ lực để hiểu xẩm, với hy vọng truyền đến công chúng những bí ẩn của môn nghệ thuật này.

Bùi Trọng Hiền : Tôi được nghe giọng của bà lần đầu tiên là vào năm 1979-1980, thời đó trên làn sóng phát thanh của đài tiếng nói Việt Nam, phát một bài hát xẩm, gọi là « Theo Đảng trọn đời », là do bà đặt lời, vừa đàn, vừa hát. Đấy là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi được nghe. Hồi đó còn nhỏ lắm, thì thấy đó là một giọng hát rất hay. Nội dung của bài ca ấy nói về những người con đi tha phương cầu thực, tìm miếng ăn để sống, trong thời ly loạn của chiến tranh.

Sau này, khi lớn lên, học nhạc cổ rồi trở thành một người làm nghiên cứu, thì cái lần tôi được tiếp xúc chính thức với bà là năm 1992, trong những cuộc liên hoan ở Hà Nội, thì được gặp bà. Thì đến năm 1994, tôi mới có dịp được về Ninh Bình, để thăm bà. Từ đó, bà nhận tôi làm con nuôi, và tôi nhận bà làm mẹ đỡ đầu. Cứ có cơ hội, thì tôi lại xách máy và phi xe máy 120 cây về Ninh Bình nhà bà, và tranh thủ học hỏi và ghi chép tất cả, và thu âm toàn bộ những gì tinh hoa nhất, mà bà có.

Cái phóng khoáng và giang hồ của xẩm

Thông qua bà, tôi hiểu được xẩm của thời xưa, bởi vì bà là người cuối cùng hát xẩm. Thông qua những lời kể của bà, rồi những ngón đàn tiếng ca của bà, rồi tất cả những kỹ thuật, về phách, sênh, đàn nhị, về cách đặt lời của bà, cũng như tất cả những gì kỳ vĩ nhất của nghệ thuật xẩm của những người hát rong, vốn là những người hỏng mắt, cứ theo đó mà tuôn trào qua những lời kể, và tôi đã ngấm rất nhiều và thực sự bà là một người thầy rất lớn của tôi.

Suốt từ đó, cho đến khi bà còn khỏe, trong rất nhiều năm, cứ có dịp nào về là tôi lại xách máy quay lại thu âm. Một bài của bà, tôi thu không biết bao nhiêu lần, và mỗi lần bà lại đàn hát ra một dị bản khác nhau. Các bạn cũng biết là nghệ thuật xẩm cũng như rất nhiều thể loại nghệ thuật cổ truyền khác của Việt Nam là nghệ thuật ngẫu hứng. Mỗi làn điệu của một « lòng bản », trên cái lòng bản đó, người ta trình diễn các dị bản rất khác nhau. Đó là độ « giang hồ » của xẩm.

Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền

15/03/2013

RFI : Thưa anh, nghệ thuật xẩm của rất nhiều làn điệu. Làn điệu nào có thể nói là đặc trưng cho nghệ thuật hát xấm và bản thân nghệ nhân Hà Thị Cầu là đỉnh cao trong những làn điệu đó.

Bùi Trọng Hiền : Từ một hình thức hát rong của những người hỏng mắt, xẩm đã sáng tạo những làn điệu của riêng mình, mà không một thể loại nào có. Tôi lấy ví dụ như điệu xẩm Huê tình chẳng hạn. Đấy là một điệu xẩm rất nổi tiếng. Nổi tiếng đến mức mà các ngành cổ nhạc bạn, ví dụ như chèo và ca trù đã du nhập làn điệu đấy vào trong kho tàng âm nhạc của mình.

Chúng ta biết rằng xẩm ngày xưa hát ở đường phố, hát ở bến nước, sân đình, hát ở bến đò, hát ở góc chợ. Cái nhu cầu của xẩm là hát ở những nơi đông người để kiếm sống. Thế cho nên, một bài ca xẩm thường không thể là bài ngắn gọn và nó thường là những làn điệu để chuyển tải những bài thơ rất dài. Để làm sao, người ta đi chợ, người ta nghe được đoạn đầu, thậm chí người ta nghe được bất cứ đoạn nào trong lời ca đó, người ta cũng nắm bắt được làn điệu đó, và người ta cảm thấy thích thú. Vì thế, cái tính gọi là tính trường thiên, tính kể truyện của xẩm rất là rõ ràng.

Người kể truyện trong sân khấu cuộc đời

Một đặc điểm nữa là nội dung của xẩm phải rất đặc biệt. Đặc biệt để làm sao trong đám đông ấy, giữa những tiếng ồn ào của chợ búa, của bến đò, của đường phố, người ta phải nghe nó đập vào ấn tượng, vào tai, vào mắt cái người đi đường, để người ta dừng lại, người ta thưởng tiền cho người hát xẩm. Thì với cái đặc điểm hát rong, nay đây mai đó, thì bản chất cái nghề nghiệp đó, cái cách thức diễn xướng, lấy đường phối, lấy bầu trời, lấy khung cảnh xã hội làm sân khấu, gọi là « sân khấu cuộc đời » của mình, thì hát xẩm đã tự hình thành nên những tính cách nghệ thuật rất riêng.

Bà biết hầu hết tất cả các làn điệu xẩm cổ truyền. Ở bà có cái đặc biệt là bà không biết chữ, như những người nghệ sĩ xẩm thời xưa thôi, nhưng chỉ có điều cái trữ lượng lời ca và làn điệu trong bà, nó như là một cái ăn sâu vào trong máu rồi, bởi vì bà hát từ năm 8 tuổi, 10 tuổi, nó in cả cuộc đời và một lúc nào đấy là nó bật ra, thì bà lại hát trường thiên cả một đoạn rất dài. Thế cho nên, khó có thể nói là bà hát cái gì hay nhất, bởi vì đối với tôi, bu tôi hát cái gì cũng hay. Bà sử dụng thành thạo tất cả các nhạc cụ sênh, phách, trống mảnh, nhị và việc diễn tấu đa năng, vài nhạc cụ một lúc như thế, vừa hát, vừa đàn, là một điểm rất đặc trưng của xẩm. Đối với tôi, thì bu hát làn điệu nào cũng ngọt ngào và hết sức kinh điển.

RFI : Một trong những cái nét mà anh vừa nhấn mạnh, là cái sự phóng khoáng trong diễn xuất của người hát xẩm và đặc biệt là nghệ nhân Hà Thị Cầu, đúng không ạ ?

Bùi Trọng Hiền : Bản chất của mỗi làn điệu xẩm là mang tính dị bản rất lớn, mỗi người thể hiện một cách khác nhau và thậm chí cùng một người mỗi lần hát một cách khác nhau, nhưng nó lại có một lòng bản riêng của từng làn điệu (Hát minh họa hai câu trong bài Thập ân với các biến tấu khác nhau : « Mẹ mới có thai, kể từ một ân, thì con ơi, mẹ mới có thai. Âm dương nhị khí nào ai biết gì »).

Một tuyến giai điệu có thể hát dựng lên, hoặc hát luồn xuống là tùy theo các cảm hứng của người ta lúc ấy. Nhưng cái điểm vào đầu và điểm kết thúc phải xác định được theo điệu thức của làn điệu đó và cái khung lòng bản của làn điệu đó, ứng với lời thơ lục bát, thì nó sẽ ra được làn điệu Thập ân. Và đấy chính là độ giang hồ, hoang dã của xẩm, khiến cho cái độ phóng khoáng và mỗi người sẽ thể hiện vào đó một dấu ấn của riêng mình.

RFI : Thưa anh, xẩm được coi là nghệ thuật của những người có cuộc sống rất khổ ải. Điều này có đúng không và nếu đúng, thì được thể hiện như thế nào qua giọng hát của bà Hà Thị Cầu ?

Bùi Trọng Hiền : Có điều rất lạ là cuộc sống của những người xẩm ngày xưa được xếp vào ở tầng đáy của xã hội, bởi vì họ là những người bị hỏng mắt, thì âm nhạc trở thành cứu cánh của những người hỏng mắt, và vì thế họ tìm đến xẩm. Thì đấy là cái đầu tiên ta thấy.

Nhưng điều đặc biệt của hát xẩm, chúng ta tưởng tượng là, nếu như để kiếm sống, mà chỉ hát những khúc hát bi ai không, thì sẽ rất khó, cho nên là, anh muốn người ta nghe và người ta cho anh tiền, thì thường anh phải tìm đến những chủ đề đừng có quá buồn, quá bi lụy. Tôi cho rằng chính đặc điểm xã hội đấy, từ nhu cầu của đám đông đấy, nó dẫn đến trong xẩm là âm nhạc tươi sáng rất nhiều. Những cái điệu buồn rất ít, mà cái buồn chỉ là cái buồn man mác. Cái buồn nó không bi lụy, ai oán đến mức bi sầu, cảm thấy không lối thoát. Còn lại đa số là các làn điệu vui, tươi sáng.

Xẩm đủ bản lĩnh để hát về thời sự

Chúng ta biết rằng, trong xã hội có những thói hư tật xấu gì mà người ta muốn đả kích, thì xẩm rất nhanh nhạy, biến tất cả những câu chuyện ấy thành một bài thơ dài và bắt đầu hát. Tất nhiên là trong đám đông ở chợ, khi mà nghe thấy hát về một hiện tượng có tính thời sự như thế, thì lập tức người ta sẽ dừng lại nghe và người ta rất vui, vì đánh trúng vào thị hiếu của người ta mà. Chẳng hạn như có cô gái không chồng mà chửa, hay một cô gái lấy Tây đen, hay là có một ông nhà giàu keo kiệt, chẳng hạn, thì xẩm lập tức ứng biến ngay thành bài ca. Chúng ta biết trong thời chống Pháp, thì cuộc khởi nghĩa của Đội Cấn thất bại trên Thái Nguyên, thì khi đó ai là người dám nói ? Thời đó không có báo chí nhiều như bây giờ và những thông tin ấy tất cả đều thông qua xẩm hết. Và lập tức xẩm ở Hà Nội có một bài vè rất dài, gọi là « vè Đội Cấn ». Và cả trăm câu thơ đó, người xẩm đã sáng tạo ra và hát những nội dung có tính hết sức thời sự và đánh đúng vào tinh thần yêu nước, vào cái câu chuyện vừa mới nóng hổi. Và xẩm đủ bản lĩnh để hát những điều đó.

RFI : Anh nói đến một điều rất thú vị và quan trọng. Thế ở nghệ nhân Hà Thị Cầu, thì tính thời sự và cập nhật này được thể hiện như thế nào ?

Bùi Trọng Hiền : Trong những bài hát rất nổi tiếng của bà như « Dâu lười » và « Rể lười », chẳng hạn. Chúng ta biết là trong xã hội, chuyện trong một làng xóm, một vùng nào đó, chuyện gọi là dâu lười và rể lười là rất phổ biến. Chỉ có điều, không ai có thể đem công khai ra nói được. Bỗng nhiên, có một người xẩm hát một bài « Dâu lười », rồi sau đó người ta cứ tự vận vào, chắc là nói đến ông nào đó trong xóm nhà mình, hoặc gia đình mình, người ta nghe thấy đã quá. Có thể nói chuyện « Dâu lười » và « Rể lười » là một trong các chủ đề về thời sự rất đặc sắc mà bà còn nhớ lại được. Nó nằm trong kho tàng của xẩm cổ truyền. Về sau này, hầu như là bà rất ít « viết » bài ca mới, ngoài bài « Theo Đảng trọn đời » rất nổi tiếng, vào thời gian Việt Nam chống lại quân Trung Quốc xâm lược năm 1979. Còn phần lớn kho tàng bà hát thì phần lớn là xẩm cổ truyền, lời cổ truyền hết.

RFI : Nghệ nhân Hà Thị Cầu được coi là người hát xẩm cuối cùng, bà đã ra đi, vậy tương lai của môn nghệ thuật này sẽ ra sao ?

Bùi Trọng Hiền : Những làn điệu xẩm vẫn còn lại. Còn lại trong các băng đĩa của các nhà nghiên cứu, còn lại trong một số nghệ sĩ đã học được một vài làn điệu, nhưng một nghệ sĩ xẩm đúng nghĩa của nó, một nghệ sĩ xẩm đích thực, thì đã chấm dứt cuộc sống. Cho nên, sự ra đi của bà cũng đặt dấu chấm hết cho nghệ thuật hát xẩm nói chung. Bà Hà Thị Cầu là người cuối cùng.

RFI xin chân thành cảm ơn nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa, các nhà nghiên cứu Trần Quang Hải, Đặng Hoành Loan và Bùi Trọng Hiền đã dành thời gian cho tạp chí

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20130315-ha-thi-cau-%E2%80%93-truyen-nhan-cuoi-cung-cua-nghe-thuat-hat-xam

KIỀU TRINH : Lễ hội truyền thống: Từ sai văn hóa đến bi kịch văn hóa Quan họ này đành thành… quan họ khác! (Bài 1), VIETNAM 2011


Lễ hội truyền thống: Từ sai văn hóa đến bi kịch văn hóa

Quan họ này đành thành… quan họ khác! (Bài 1)

Thứ Hai, 28/02/2011 07:10 |

 

Lễ hội truyền thống:

Từ sai văn hóa đến bi kịch văn hóa

Có lẽ chưa năm nào, hoa Xuân chưa rụng dưới chân giày mà những lễ hội Xuân lại “tan nát” thành “thảm họa” như năm nay.

 

Hội Gióng. Ảnh: Nhật Anh

Trong một đánh giá về trình diễn dân gian Việt Nam, trong đó có hội mùa Xuân, hội mùa Thu, GS Tô Ngọc Thanh viết: “Đã được thiêng hóa, trong bản chất của mình, mọi hành động hội đều mang tính biểu tượng và chứa đựng “năng lượng thiêng” ở mức cao nhất mà nhân dân có thể sáng tạo và gửi gắm”. Chẳng hạn, GS Thanh cho rằng, một cuộc hát đối đáp nam nữ trong hội cần được hiểu như một biểu tượng có tính chất ma thuật của sự kết hợp giao hòa đực cái. Tương tự, việc cướp và đẩy quả cầu sơn đỏ vào một cái hố tròn cũng có ý nghĩa âm dương nào đó. Do đó, trò diễn này không thể coi là một môn thể thao đơn thuần! Bởi vậy, việc không hiểu, áp dụng sai nguyên lý văn hóa, những biểu tượng thiêng sẽ dẫn đến “bi kịch văn hóa” (chữ dùng của GS Ngô Đức Thịnh, nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa dân gian) là tầm thường hóa các hội truyền thống, tệ hơn, là bao nhiêu thứ… hóa khác làm biến dạng cả một báu vật văn hóa ngàn năm của dân tộc.

Hãy cùng chuyên đề số này nhìn lại một số hội Xuân “đình đám” để xem chúng đã bị tổ chức sai nguyên lý văn hóa đến đâu.

Tổ chức chuyên đề: NGUYỄN KIỀU TRINH

(TT&VH Cuối tuần) – Nhiều năm nay, câu chuyện quan họ hát mộc hay hát tăng âm mãi vẫn chưa thể có đáp số. Năm nay, năm đầu tiên ban tổ chức hội Lim quyết định “thí điểm” để quan họ hát mộc. Thế nhưng chỉ thí điểm được một ngày thì “âm mưu” phục hồi hát quan họ theo đúng truyền thống đã hoàn toàn phá sản! Hóa ra vấn đề “giải cứu” hội Lim không chỉ nằm ở cái micro hay bộ tăng âm…

>>> Chuyên đề:  Từ sai văn hóa đến bi kịch văn hóa

Âm thanh thời đại… “tổ bố”

Chuyện “quan…uan…uan họ… ọ…ọ” với tiếng vang dài loằng ngoằng không còn lạ lẫm với những người tới xem quan họ đồi Lim. Mỗi lán quan họ lại có một bộ loa đài đi kèm. Nhưng rất nhiều người lại tưởng đó là sự hiện đại. “Báo chí viết hay nhầm lẫn phương tiện khuếch đại là hiện đại”, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền chua chát. “Âm thanh là lĩnh vực hết sức chuyên nghiệp. Nên dùng không khéo thì phương tiện khuếch đại thành phản cảm”, ông Hiền phân tích. “Mà tâm lý nhiều người lại muốn mở hết cỡ. Thế nên tất nhiên ai dại đứng gần loa thì rách màng nhĩ. Lại muốn mở để cho người ở xa cũng nghe được, nhiều nhóm cùng mở thì đương nhiên thành cái chợ âm thanh hỗn loạn. Người chỉnh nhạc ư? Làm gì có ai có nghề ở nơi ấy, cứ vặn to, cho tiếng vang oang oang là họ sướng rồi. Nên hậu quả âm thanh thường kinh dị như karaoke là vậy”.

PGS.TS Đặng Hoành Loan, nguyên Phó Viện trưởng Viện Âm nhạc gọi những âm thanh hỗn độn tại hội Lim là “âm thanh thời đại”. Âm thanh này được ông phân tách bao gồm tiếng nhạc, tiếng hát, tiếng vang của hai âm thanh trên, tiếng rao hàng, quảng cáo, tiếng người đi hội. Nhưng kinh khủng nhất với ông là việc một bước thấy loa, đến đâu cũng loa.

Có điều cả hai nhà nghiên cứu đều công nhận không thể tránh khỏi phải dùng phương tiện khuếch âm với không gian đồi Lim nêm chặt từng ấy người trảy hội. Nêm chặt bởi nhà tổ chức dồn bọn quan họ vào các lều cạnh nhau. Và thực tế thì dồn bọn quan họ vào một nút như vậy vốn sai truyền thống, dẫn đến phá vỡ không gian quan họ.

 

Một canh hát do CLB Quan họ Đặng Xá tổ chức. Ảnh: Quang Hưng
 
“Xưa nghe nói các nhóm lượn lờ trên đồi giao đãi tự nhiên chứ không lập lều cố định biểu diễn cho khách xem và chi tiền thưởng. Quan họ xưa chỉ hát chơi với nhau, ai thích xem thì tự lân la mà dòm”, ông Hiền cho biết. Còn ông Loan lại mơ màng nhớ ngày đầu đến hội cách đây mấy chục năm khi đồi Lim còn vắng tanh. Thời ấy, ông cũng như bao người bây giờ, khao khát diện kiến tiếng hát quan họ, diện kiến lối chơi quan họ. Nhưng “thời oanh liệt nay còn đâu”. “Lúc đó, các liền anh liền chị chỉ chơi lối chơi nhỏ chứ không chơi cái “tổ bố” như bây giờ. Chỉ dăm ba bọn quan họ chơi trên đồi. Còn quan họ quảng đại thế này thì chả ai đủ sức mà nắn nót”, ông cám cảnh.

Nhưng không chơi cái “tổ bố” cũng không xong bởi người người ùn về không kiểm soát nổi. “Như ngày xưa thì người cách xa đến 10 cây số còn khó đến. Còn phương tiện giao thông như bây giờ thì người ở rất xa cũng đổ xô về. Đổ về và phá hết không gian hội xưa”, ông Loan nói.

Ông Loan cũng cho biết, với số người đổ về nhiều như vậy, phủ kín không gian ngoài trời rộng như hội Lim, để trang âm thật tiếng sao cho tiếng đàn nào ra đàn ấy thì đến Bộ VH-TT&DL còn chưa có nói gì đến ban tổ chức lễ hội ở một tỉnh. Mới đây để tổ chức một sự kiện trong không gian tương tự, ông Loan cho biết riêng chỉ thuê một chiếc micro thôi cũng đã mất đến 23 nghìn đô-la Mỹ cho một ngày. Tất nhiên, theo ông, muốn cao siêu thế thì không thể làm được, nhưng cũng vì chỉnh âm cho không gian rộng thế là khó lắm nên “quan họ này đành thành quan họ khác”.

Giải đông để giữ văn hóa làng

“Tôi nghĩ hội Lim từ lâu đã biến thành ngày hội du lịch, không còn là hội làng nữa”, PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học nhận định. “Chính vì thế, tác dụng thực sự của hội Lim rất ít. Chính vì thế, người ta đến rất đông nhưng rồi khi ra về chẳng mấy hứng thú. Cách làm như thế cũng không tôn trọng và phát triển, khuyến khích văn hóa địa phương, văn hóa của các làng – đơn vị cơ bản của nông thôn. Khuyến khích văn hóa địa phương mới là điều quan trọng chứ không phải chạy theo chuyện đông người”.

“Xu hướng nâng cấp hội làng lên thành văn hóa cấp tỉnh là một chiều hướng hủy hoại văn hóa. Mà xu hướng nâng cấp lễ hội của ta giờ gần như phong trào. Hội Lim vốn là hội làng, của làng Lim thế rồi chúng ta nâng cấp di sản đấy thành hội Lim là hội của cả tỉnh. Hậu quả là, tập trung tất mọi người vào một không gian chỉ phù hợp với hội làng, làm nó chật như nêm. Trong khi đó còn bao nhiêu làng xung quanh hát quan họ. Và người hát quan họ đâu chỉ hát vào hội Lim. Ở những làng quanh đó, người ta vẫn hát quan họ, hát vào những thời điểm, những dịp khác nhau”.

Cũng có thể thấy bản thân việc nâng cấp, du lịch hóa không hề đem đến hiệu quả, nâng cao giá trị văn hóa cho hội Lim. Dễ thấy nhất là việc không gian truyền thống như đã nói ở trên bị phá vỡ bởi cách tổ chức của chúng ta. Cần phải có sự đánh giá nghiêm túc và rút ra những bài học về hội Lim và cách tổ chức hội.

“Cách tuyên truyền, quảng bá của chúng ta về các lễ hội như hội Lim cũng còn nhiều vấn đề”, ông Huy khảng khái. “Các phương tiện truyền thông chỉ tập trung nói về một vài ngày hội. Vì thế, cả miền Bắc đến hội Xuân, khách chỉ tập trung ở vài ba nơi đếm trên đầu ngón tay. Nào hội Lim, nào Bái Đính, chùa Hương, đền Trần… Trong khi đó, biết bao nhiêu chùa chiền có giá trị như chùa Tây Phương, chùa Đậu, đình Chu Quyến thì lại vắng khách”.

“Ngành văn hóa – du lịch phải chịu trách nhiệm về chiến lược tuyên truyền này – tuyên truyền quá tập trung mà không làm cho người ta thấy cái hay, cái đẹp của nhiều di sản, nhiều ngôi chùa khác nhau, nhiều ngày hội khác nhau, nhiều hoạt động khác nhau. Dễ nhìn thấy nhất là cho đến giờ dưới sự chỉ đạo của ngành văn hóa, chúng ta chưa hề có một bản đồ ngày hội nào với những giá trị riêng của chúng. Ai muốn xem hội ở đâu, chỗ nào quả là khó trong khi ở các nước chỗ nào cũng có bản đồ di sản”, ông Huy phân tích.

 

“Hãy bảo tồn quan họ trong một làng, khôi phục lại sinh thái văn hóa cho nó. Cách xa đó 5 cây số thì mời khách xuống xe đi bộ vào làng để nghe quan họ chúng tôi hát. Khi đó chẳng cần gì phải hát mi- cro. Một làng giữ được thì những làng khác sẽ giữ theo”

PGS.TS.Đặng Hoành Loan

Cùng ý kiến với ông Huy về việc nâng niu, phát triển không gian văn hóa làng, ông Loan cho rằng: “Cơ cấu nông thôn đã bị phá kinh khủng. Văn hóa làng cũng trong luồng xoáy ấy. Nếu muốn cứu hội Lim, cứu văn hóa nông thôn chỉ có cách chính Bộ VH-TT&DL phải xắn tay lên, bởi chỉ có đầu tư nhà nước mới cứu được các không gian văn hóa nông thôn. Không thể cứ để mặc người dân tự hành động được”.

Với hội Lim, ông Loan đề xuất: “Hãy bảo tồn quan họ trong một làng, khôi phục lại sinh thái văn hóa cho nó. Cách xa đó 5 cây số thì mời khách xuống xe đi bộ vào làng để nghe quan họ chúng tôi hát. Khi đó chẳng cần gì phải hát micro. Một làng giữ được thì những làng khác sẽ giữ theo. Tâm tính làng trong cộng đồng quan họ vẫn còn đậm lắm. Khi chúng tôi tổ chức canh hát cổ, trong một làng nọ chỉ có hai cô đi hát thôi mà níu kéo xin vé cứ rối cả làng lên”.

Ông Bùi Trọng Hiền, người từng tham gia phục hồi canh hát quan họ Đặng Xá mà ông cũng chỉ dám gọi là “giả cổ” lo lắng không hiểu Bộ VH-TT&DL có mấy mặn mà với ý tưởng phục hồi lại tục kết nghĩa tại các làng quan họ hay không. Canh hát này vẫn đang được những nhà nghiên cứu, những người chơi quan họ có hiểu biết tìm về.

Về lo lắng này của ông Hiền, ông Loan nhấn mạnh: “Bộ VH-TT&DL nên vào cuộc là chuyện đã rõ. Cái khó của bộ là thiếu những chuyên gia thực sự. Cho nên tôi nghĩ Bộ nên mạnh dạn thuê chuyên gia, và đã thuê rồi thì nên đồng tình với ý kiến chuyên môn của họ”.

Bài 2: Đến hội Gióng mà cũng diễn!

Kiều Trinh

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/quan-ho-nay-danh-thanh-quan-ho-khac-bai-1-n20110226134230817.htm

TRỌNG THÀNH / RFI : Văn hóa cổ truyền : Làm sao đến được với công chúng ? (phỏng vấn GS Trần Quang Hải, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, nghệ nhân Nguyễn Thị Thềm, nghệ nhân anh Hai Hiển


 

Xuất bản ở RFI (http://www.viet.rfi.fr)


Văn hóa cổ truyền : Làm sao đến được với công chúng ?

By Trọng Thành

Đăng ngày 2013-03-06 03:00

Wed, 2013-03-06 02:00

1

 

Hiện tượng trình diễn đồng ca quan họ bị nhiều chỉ trích tại Việt Nam. Kỷ lục đồng ca với sự tham gia của hơn 3.500 người, tháng 2/2012, tại hội Lim, Bắc Ninh (DR)

Năm 2013 được chọn làm năm văn hóa Pháp – Việt. Trong năm này, sẽ có nhiều chương trình giới thiệu các hoạt động văn hóa nghệ thuật cổ truyền Việt Nam tại Pháp. Trong bối cảnh các di sản nghệ thuật cổ được tôn vinh, cùng lúc với các hoạt động biểu diễn nghệ thuật mang màu sắc cố truyền có xu hướng lan rộng, có nhiều câu hỏi đặt ra là : Nghệ thuật như thế nào xứng đáng được coi là bảo lưu di sản ?

Nên quảng bá các nghệ thuật truyền thống như thế nào với bạn bè quốc tế ? Và nếu có thể cách tân, thì cách tân như thế nào ?

Từ những năm gần đây, đặc biệt sau khi một số loại hình nghệ thuật cổ truyền Việt Nam như quan họ, nhã nhạc cung đình, cồng chiêng Tây Nguyên… được Unesco tôn vinh làm di sản phi vật thể của nhân loại, việc giới thiệu quảng bá với công chúng Pháp và công chúng phương Tây nói chung ngày càng được chú ý.

Tạp chí Cộng đồng của RFI tuần này đặc biệt giới thiệu với quý vị về văn hóa quan họ, như một ví dụ cho các cách nhìn khác nhau xung quanh vấn đề gìn giữ, phát huy và cách tân các di sản nghệ thuật cổ truyền. Quan họ là một di sản có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội Việt Nam, nhất là tại xứ Kinh Bắc, và được Unesco thừa nhận là di sản nhân loại năm 2009, tiếp theo nhã nhạc cung đình Huế và không gian cồng chiêng Tây Nguyên.

Trước hết, mời quý vị theo dõi phần phỏng vấn với nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học Trần Quang Hải (Paris). Để quảng bá tốt các môn nghệ thuật cổ truyền Việt Nam, theo giáo sư Trần Quang Hải, cần phải giới thiệu những gì trung Image

RFI : Xin ông cho một số điều lưu ý để quảng bá tốt nghệ thuật cổ truyền Việt Nam ra bên ngoài.

Ông Trần Quang Hải : Điều thứ nhất là muốn đi quảng bá, thì phải tuyển lựa những nghệ nhân có trình độ cao, và làm đúng theo truyền thống. Đừng có nên, vì cái thị hiếu, muốn vui lòng người Âu Châu, mà pha trộn những khía cạnh gọi là « giao lưu văn hóa », thì sẽ đi đến chỗ làm cho người Pháp sẽ thất vọng. Tại vì, họ muốn tìm hiểu những cái gì gọi là nguyên xi và trung thực với truyền thống, hơn là để làm vui nhộn, theo những hình ảnh múa, theo kiểu vũ đạo, để đệm cho những bài hát.

Theo như tôi thấy, ở Việt Nam bây giờ, có xu hướng những bài hát dân gian, những bài hát dân tộc gọi là « canh tân hóa », thêm vào những tiết mục, thêm vào những điệu hòa âm, phối khí, vũ đạo đệm vào mất đi tính chất nguyên xi của một truyền thống nào đó. Thành ra cái đó rất uổng. Nếu chúng ta hiểu biết được cái đòi hỏi của người Tây phương, thì chúng ta sẽ làm những chương trình đúng theo tiêu chuẩn. Tại vì tôi thấy rằng, các xứ khác, giống như xứ Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc, khi họ đi sang Tây phương, họ trình diễn các tiết mục đúng theo truyền thống, chứ không phải có những màu sắc, màu mè, hay làm cho chương trình nó được hoành tráng.

Nghệ thuật của chúng ta không phải là nghệ thuật sử dụng đa âm, tức là polyphonie, hay là các điệu màu mè, mà chúng ta cần làm những loại nhạc đơn điệu, tức là monodie, chú trọng đặc biệt đến khía cạnh gọi là dịu dàng, tha thiết, và đặc biệt là lồng vào trong loại nhạc ngũ cung và những truyền thống mà chúng ta phải phát triển nhiều hơn.

RFI : Xin ông cho biết một thí dụ cụ thể.

Ông Trần Quang Hải : Ví dụ như trong điệu hát quan họ. Ở xứ Việt Nam, quan họ có ba loại. Thứ nhất là quan họ chay, tức là quan họ làng, hát ở trong làng và hát theo đúng truyền thống, có lễ kết nghĩa, tục ngủ bọn, và hát những kỹ thuật gọi là « vang, rền, nền, nảy ». Phải chú ý, phải học nhiều năm, chứ không phải học vài bài, theo như tôi được nghe ở xứ Việt Nam bây giờ. Thứ hai là có quan họ đoàn, tức là những bài dân ca quan họ, đã được đổi đi một chút, tức là theo điệu thanh nhạc. Cái đó có thể là mới mẻ đối với người Việt Nam. Cũng như hội Lim – một hội rất lớn về quan họ vào dịp Tết, nhưng có điều bây giờ ở Việt Nam lại đưa ra cách gọi là « hát du thuyền ». Tức là người quan họ, ngồi trên thuyền, dùng máy vi âm, hát to lên, rồi đi dọc theo bờ sông, rồi đưa cái nón lá ra, để hứng tiền người ta thảy vào trong đó. Cái đó là hình thức đi xin tiền, giống như hát xẩm ngày xưa, thì cái đó là đi sai đường lối. Hay là, hát thật nhiều giọng với nhau, thì hoàn toàn sai. Vì quan họ là chỉ hát, một cặp nữ đối với một cặp nam. Thành ra, vấn đề chúng ta phải phát triển là làm sao hát không có đệm nhạc, hát mà không có làm rùm beng, mà làm sao cho thấy cái kỹ thuật hát nó đi đến cái chỗ rất đặc biệt, mà bên Châu Âu này không có. Đó là cái mà tôi thấy rằng mình nên thận trọng khi đi biểu diễn ở xứ ngoài.

Cái vốn cổ phải giữ làm căn bản

Mình tự hào về cái vốn cổ của mình, thì mình phải làm sao giữ cho được đúng theo truyền thống, thì tôi thấy là hay nhất, chứ không có gì phải thay đổi hay biến chế, đặng cho nó hợp với thị hiếu của đại đa số quần chúng.

Cái vốn cổ của mình, mình giữ cái đó đi, làm căn bản. Ngoài ra, có những sự phát triển, thì mình để cho phát triển. Cái căn bản mình phải giữ hoài, thì từ đó nó mới đẻ ra nhiều chuyện khác nữa. Chứ bây giờ, mình lo mình phát triển mà quên đi cái nguồn gốc, cái vốn cổ, thì dần dần sẽ mất đi, sẽ không còn là vốn cổ nữa.

Tôi muốn lưu ý rằng, khi muốn đưa một đoàn hát, hay đoàn nghệ thuật sang ngoại quốc, thì chúng ta phải ý thức rằng, làm sao đưa nghệ nhân nào có trình độ cao, và hát đúng theo truyền thống, chứ đừng đưa những người trẻ đẹp, mặc quần áo cho thiệt đẹp, đi lên sân khấu để trình diễn. Đối với mình, cái vấn đề nghệ thuật là căn bản, chứ không phải là màu sắc. Làm sao những nghệ nhân (đi quảng bá) phải là những người có căn bản vững chắc, có thể, khi trình diễn ở hải ngoại, đáp ứng được những cái gì mà người Tây phương chờ đợi, tức là sự trung thực với truyền thống.

Di sản xưa và quan họ hôm nay

Ở trong nước, cũng cùng mối lo ngại với ông Trần Quang Hải, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền (trong bài phỏng vấn « Cần phục hồi nguyên gốc quan họ cổ [1] ») nhấn mạnh đến việc « di sản quan họ đã thực sự mai một từ những năm 60 của thế kỷ trước », mặc dù di sản này vừa được Unesco nhìn nhận. Theo ông Bùi Trọng Hiền, «Thực chất, giá trị của di sản còn lại (…) chỉ là làn điệu âm nhạc và kho tàng lời ca quan họ cổ, còn những phong tục tập quán, những sinh hoạt văn hóa bao chứa trong đó thì không còn nữa », ông khuyến cáo cần tìm cách phục hồi lại di sản này.

Bên cạnh đó cũng có quan điểm rất khác, như của nhà nghiên cứu Trần Minh Chính (trong bài phỏng vấn « Một ‘‘cuộc chiến’’ về văn hóa trong nội bộ vùng Quan họ [2] »), thì cho rằng : Cần phải thừa kế tối đa các tinh túy của di sản, nhưng điều cốt yếu nhất là tạo dựng được « nền văn hóa quan họ của ngày hôm nay ». Theo ông Trần Minh Chính, « con người quan họ, nhất là lớp trẻ, bắt đầu lúng túng với cảnh ‘‘bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước…’’ ».

Những nghệ nhân – người lưu truyền các « di sản sống » – suy nghĩ như thế nào về văn hóa quan họ ngày hôm nay ? Sau đây là một số chia sẻ của chị hai Thềm (Bắc Ninh), một nghệ nhân nổi tiếng xứ Kinh Bắc :

Image

Chị Hai Nguyễn Thị Thềm và GS Trần Quang Hải

Chị hai Thềm : Thật ra trong lối chơi quan họ, phải là những người nào rất tâm huyết mới theo được lối chơi này. Bởi vì, chơi quan họ ngày xưa, người ta ý tứ khiêm nhường, mà người ta lịch sự, tinh tế lắm. Ví dụ như, đi hát cả một buổi tối ở « nhà chứa », thì nam ngồi một bên, một bên nữ ngồi, cái ngọn đèn dầu ở giữa, thì có khi hát cả tối có khi không nhìn thấy mặt nhau. Đấy là những cái tinh tế và những cái rất là khác biệt với những loại hình ca hát khác. Ví dụ như ngày xưa, chơi thì đúng thực là chơi tàn canh, rạng sáng. Hát suốt đêm đến rạng sáng, rồi nghỉ, rồi lại hát tiếp. Nhưng mà đấy là theo như thời ngày xưa, còn theo như bây giờ, thì cũng không hát được như thế, vì xã hội bây giờ, cái công việc nó cũng không cho phép mình được chơi bời như thế. Ví dụ trong khuôn khổ hạn hẹp một đêm thôi. Ví dụ như ngày xưa các cụ chơi, các cụ giữ lề, giữ lối, các anh hai, chị hai, chơi với nhau gọi là tình tứ, tình cảm lắm, yêu vụng, nhớ thầm, chứ không như bây giờ, họ đi chơi bời với nhau, có khi đi tới hôn nhân, nhưng ngày xưa các cụ chơi kết chạ các cụ không như thế đâu.

Bây giờ, chúng tôi ở đây, cốt lõi là mình phải gìn giữ những gì cổ, nhưng đồng thời vẫn dạy cho các em những cái phát triển lên, là nó phải lồng nhạc vào, để nó biểu diễn trên sân khấu, ví dụ như ở trong tỉnh, mở những cái cuộc liên hoan tiếng hát của các em bé chẳng hạn, thì mình phải đưa lên sân khấu, mình phải lồng nhạc. Các em mà cho ngồi hát ê a, như tôi và các cụ, thì các em cũng chưa hát được. Cho nên bây giờ cũng khuyến khích các em phải học quan họ nhiều, thì mình phải có các bài hát của lứa tuổi thiếu nhi hoặc mình sáng tác thêm những lời mới, đưa các em để tham gia sân khấu biểu diễn liên hoan.

Còn đồng thời mình vẫn dạy thêm các em những cái gì của vốn liếng cổ của mình, mình vẫn cứ giữ.

Càng thêm bạn, càng muốn phát huy lối chơi cổ

Tiếp theo đây là tiếng nói của anh hai Hiển (Bắc Ninh), một liền anh được lớn lên trong một gia đình nhiều đời theo quan họ :

Anh hai Hiển : Tôi được đắm mình trong dòng sữa dân ca. Thứ nhất là tôi học lối chơi quan họ, sau là tôi học hát quan họ. Từ đó, tôi đã có sự tâm huyết rồi. Cứ mùa trảy hội, là tôi đi các làng tôi trảy hội, du xuân. Từ đó tôi được kết bạn rất nhiều, các quý vị từ các tỉnh, thành đến với tôi. Tôi có cảm nhận là cuộc đời tôi cứ mỗi năm tôi lại vui thêm lên, nhân rộng lên, do là tôi được đi ra ngoài, tôi biết ứng xử quan họ, tôi cũng biết cách hát quan họ với du khách. Từ đó du khách thân thiện với mình hơn. Cứ lệ làng là các du khách đều hứa hẹn, hẹn hò sẽ về quê hương của chúng tôi. Thứ nhất là để biết cảnh hội, thứ hai là để tìm hiểu cái nét văn hóa ẩm thực nơi đây.

Tôi cũng rất tự hào là xung quanh hàng xóm, hoặc dân làng cứ ca ngợi là tôi được đi ra ngoài lắm bạn bè về, cũng chẳng phải học cùng, chẳng phải họ hàng gì cả, mà cứ ngày hội là đông chật ních hết cả nhà. Nhưng mà người ta chỉ biết là tôi chơi rộng và quan hệ thôi, nhưng mọi người cũng chưa biết cái sâu sắc của người chơi quan họ như thế nào. Cứ một năm đi trẩy hội là tăng thêm bạn bè lên, rồi các du khách từ xa đến nhiều hơn, từ đó tôi nghĩ là mình càng phải phát huy, làm sao càng phải tìm hiểu, phát huy được cái lối chơi càng nhiều hơn nữa.

Vì đi ra ngoài, tôi ít gặp được các bậc tiền bối có cái lề lối chơi như ngày xưa. Bây giờ các bậc tiền bối hầu như đã mất rồi. Những bậc từ 80 trở lên còn rất ít. Được gặp thì tôi cũng hay hỏi, hay lân la tìm hiểu các cụ ngày xưa chơi quan họ như thế nào, những lời văn nào hay hay, thì mình lại tiếp thu. Tôi tâm huyết là giữ được những lời văn như thế, để truyền cho thế hệ sau. Người ta bảo là « ăn nửa miếng, cười nửa nụ, mà hụ cũng chỉ nửa chén thôi ». Bây giờ mà chúng tôi ra ngoài mà nghe được những câu như thế là hiếm lắm. Chúng tôi được nghe và chúng tôi rất thích những lời ấy, và chúng tôi lúc nào cũng để vào trong tâm đắc của chúng tôi. Chúng tôi ra ngoài thỉnh thoảng chúng tôi cũng dùng để chúng tôi nói chuyện, dãi bày các bạn bè. (…)

Dịch vụ quan họ thời hiện đại

Các tỉnh cũng có những ngày lễ, ngày hội, người ta nhờ về xây dựng cho một buổi tối vui liên hoan văn nghệ cho dân làng, hoặc chương trình chúc thọ, người ta cũng muốn nghe những làn điệu dân ca quan họ, rồi đám cưới, rồi tân gia, nhà mới, khách sạn… Nói chung họ đều sử dụng dòng nhạc dân ca này. Thì chúng tôi gặp chương trình nào, thì chúng tôi dàn dựng theo đề nghị của khách hàng.

RFI : Còn cái lối chơi quan họ, thì nó có thể hiện qua các chương trình này không ?

Anh hai Hiển : Không. Nếu lối chơi quan họ cổ mà mang ra các tỉnh bạn, thì họ không hiểu, họ chưa hiểu, thì mình cảm giác như là bị « cô đọng lại ». Cái lối chơi cổ tôi chỉ mong gìn giữ được ở vùng quê Kinh Bắc thôi. Thời hiện đại này, mình… những bài cổ thì họ có hiểu đâu, mà không hiểu, thì mình mang ra cũng bằng thừa thôi, cho nên nó khác nhau là như thế. Thời hiện đại mình chỉ mang những lời ca mới, cũng theo điệu quan họ, nhưng lời mới là nhiều.

Thật sự là thế này. Bây giờ là thời hiện đại, chúng tôi đi chơi xuân, « làm chương trình », chúng tôi cũng phải có chút hoa hồng mới làm được. Thứ hai là chúng tôi cũng phải bảo đảm cuộc sống gia đình, có đúng không ? Tất nhiên là thời hiện đại, « vấn đề nào » có tiền là bọn tôi làm.

Lề lối xưa mộc mạc, nhưng mà ngấm

Nhưng mà tôi rất thích và mong muốn giữ được lề lối chơi quan họ ngày xưa, để giữ và phát huy được lối chơi cổ : Ăn quan họ, nói quan họ, rồi cười quan họ… đủ kiểu mới gọi là chơi quan họ. Chứ không phải (chỉ) là biết hát quan họ, mà đã vào chơi. Mình nghĩ là làm sao giữ được các lề lối, lấy những ngôn ngữ, lời văn, ý hay ngày xưa, tuy rằng rất mộc mạc, nhưng mà chứa đựng được rất chi là nhiều cái tình trong cái lời nói đó. Thì mới có cái ngấm.

Còn hiện đại bây giờ, theo nhạc, theo mix. Do cái trào lưu, thì cái dòng dân ca quan họ này rất phát triển và lan tỏa, cho nên là, nếu như không có nhạc, không có mix, thì ra không gian rộng, thì cũng không tỏa được hết.

Tôi mong các quý vị bên ấy, làm sao có cái thông điệp tôn vinh, có những cái tạo điều kiện, về vùng quê Kinh Bắc. Hát quan họ thì đã đành rồi, nhưng xây dựng được cái lối chơi quan họ mới là cái điểm nhấn. Tại sao bây giờ chúng tôi đi, kể cả các du khách mời chúng tôi đến các nhà hàng, khách sạn, chúng tôi cũng phải nói những lời của các cụ ngày xưa, có khi các du khách cũng chưa được nghe bao giờ.

Thật ra là, nếu (thế hệ) chúng tôi mà không (tiếp nối) nữa, thì may ra chỉ có ngọn, còn gốc không biết ở đâu, trôi đến đâu. Tôi chỉ lo là do điều kiện, do xã hội nó đưa đẩy, do họ không để ý nữa, thì… Mong phải có những gì để giữ gìn, phát huy, bảo tồn… cho thế hệ sau này mới còn cái gốc. Lo là thế thôi, nhưng chúng tôi vẫn còn ở đây, thì cái lối chơi vẫn có, vẫn còn.

Làng Diềm với làng Hoài Thị (Sim), kết nghĩa với nhau hàng mấy trăm năm rồi, là có lối chơi vẫn như thế. Tức là cứ đến mùa là quan họ bên này lại mời quan họ bên kia, và ngược lại, tức là ngày tục lệ, ngày đám của hai làng, thì vẫn mời nhau, thì đến vẫn lề lối, vẫn vào nhà chứa, vẫn hát lề lối. Còn một số bậc tiền bối vẫn đến chào nhau, nói bằng quan họ, ăn cũng bằng quan họ. Tôi nghĩ là, nếu ở khu vực Kinh Bắc này, chỉ còn hai làng này là còn thôi. Các bậc tiền bối hết rồi, thì tôi nghĩ chỉ còn mỗi bà Sang, bà Thềm, là giữ được, vì các bà ấy rất ngấm rồi. Cho đến chúng tôi bây giờ cũng là ngấm. Hiểu biết lề lối và ứng xử quan họ, quan trọng là ứng xử và biết để kết bạn như thế nào.

Cách tân nghệ thuật truyền thống : mâu thuẫn giữa nhà nghiên cứu và nhà quản lý

Image

Khép lại chương trình là tiếng nói của nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan từ Hà Nội. Ông Đặng Hoành Loan giới thiệu hai quan điểm đối lập nhau về vấn đề tiếp nối truyền thống quan họ, cũng như nhiều môn nghệ thuật cổ truyền khác, tại Việt Nam. Không phải nghệ thuật cổ truyền nào cũng sẵn sàng cho việc cách tân. Trong thời gian gần đây, có nhiều thử nghiệm cách tân di sản nghệ thuật cổ truyền đến từ chính bản thân những người lưu truyền di sản, đặc biệt trong một số môn nghệ thuật mang tính tín ngưỡng như : hát văn, hát then…

Ông Đặng Hoành Loan : Cách nhìn của tôi cũng tương đối thống nhất với một số học giả ở Việt Nam hiện nay, thế nhưng nó lại không thống nhất lắm với các nhà quản lý văn hóa, đặc biệt những nhà gọi là « văn hóa quần chúng ». Thực hiện cái « văn hóa quần chúng » hiện nay, thì có hai ý kiến khác nhau. Cái ý kiến thứ nhất, nói rằng là phải giữ nó trong không gian văn hóa truyền thống, và tất cả các sinh hoạt của nó là phải theo phương thức truyền thống. Thì cái đó nó căn cứ theo yêu cầu của Unesco là, cái hiện tượng văn hóa ấy nó phải là tập tục sinh hoạt có từ thời xưa và được bảo tồn trong đời sống cộng đồng cho đến ngày nay, vì thế gọi là nó có « gốc gác » và nó có tính truyền thống của nó. Cái thứ hai nữa là, cùng với tính truyền thống đấy, (vấn đề là) con người Việt Nam hiện nay còn yêu thích nó không và thích sinh hoạt theo lối đó không, thì cái hồ sơ quốc gia phải trả lời rất minh bạch. Thì đấy là cái quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam, mà tôi cho rằng rất chính xác. Năm ngoái, có một cuộc hát quan họ với sự tham gia của hàng nghìn người, thì người ta cho rằng đấy là « phi truyền thống » và làm mất đi cái tính nghệ thuật, tính âm nhạc của chính bản thân quan họ.

Thế nhưng các nhà văn hóa quần chúng hiện nay, thì họ cho rằng bây giờ phải làm như thế, thì mới đưa được âm nhạc cổ truyền, nghệ thuật cổ truyền vào đời sống con người hiện đại. Mà muốn đưa được vào đời sống con người hiện đại, thì họ cho rằng phải cách tân. Cách tân tức là cho nó đông người lên, cho nó sinh hoạt với đầy đủ các thiết bị hiện đại. Thứ hai là phải tạo cho nó những sân khấu lớn để nó có thể được trình diễn trên đó. Hiện nay hai việc đó vẫn cứ tồn tại và vẫn có những ý kiến trái ngược. Hiện nay đây là một mắc mớ khó giải quyết ở Việt Nam.

Đối với nghệ nhân, người ta rất thích trở lại cái không gian truyền thống, mà người ta hát nhỏ nhẹ trong nhà, trong các sinh hoạt nhỏ, vì nó vẫn thể hiện được toàn bộ cái tình cảm, cái nội tâm của họ đối với nhau. Vì thực sự ra, chúng ta biết, quan họ sinh ra để hát trong tất cả các tập tục giao tiếp, tình cảm con người ở Kinh Bắc, chứ nó không phải là một trình diễn nghệ thuật, với người thưởng thức và người ca hát. Hiện nay, chính cái điều mà các nhà nghiên cứu không tán thành lắm, tức là quan họ biến thành nghệ thuật trình diễn. Có nhiều ý kiến cho rằng như thế nó không đúng với truyền thống mà bản thân nó có từ xưa đến nay.

Riêng ý kiến của tôi, thì tôi cho rằng, người dân, nghệ nhân dân gian người ta muốn giữ lại tất cả những gì mà họ biết được từ xưa đến giờ. Họ rất thích trong việc họ gìn giữ, biểu diễn những nghệ thuật đấy đúng như thời xưa. Cho nên, phần lớn khi chúng tôi tổ chức gặp gỡ các nghệ nhân, thì các cụ nói, bây giờ làm mới nó đi, thì không biết để làm gì ? Vì nếu mới, so với mới hiện nay, thì không mới được, còn so với cái cũ, thì không cũ được. Thì như thế là, nó nằm ở lưng chừng. Đấy là ý kiến của nghệ nhân.

Chúng ta biết rằng, năm nay các cụ quan họ rất thích tự hát với nhau, để tìm đời sống tinh thần thưở xưa mà nó còn tồn tại lại trong tâm hồn của họ. Thì tôi cho là giữa nghệ nhân, giữa các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý hiện nay đang chưa có được một cái nhìn thống nhất, toàn diện về cổ truyền và cách tân, chính xác là như thế.

Hát văn, hát then : Nghệ nhân tự cách tân để thu hút công chúng

RFI : Vậy trong các môn nghệ thuật cổ truyền khác ở Việt Nam có sự cách tân hay không ?

Ông Đặng Hoành Loan : Những nghệ thuật « tâm linh » (tín ngưỡng) như là hát văn, hát then… thì lại được bảo lưu rất là tốt. Thì người ta lại không cách tân mấy, thì chính là tự các nghệ nhân, những người hành nghề, người ta cách tân, chúng ta thấy hiện tượng tự cách tân rất lớn. Các nghệ thuật ấy, thì bên ngoài không cách tân nó được, nhưng tự nó thay đổi nó, thì thay đổi được. Thí dụ như, hát văn bây giờ, người ta đưa nhạc cụ mới vào, tức là đưa cả đàn organ vào. Nghệ nhân người ta đưa vào thôi, chẳng ai bảo người ta cả. Người ta đưa thêm những bài hát mới vào. Như thế tức là người ta tự vận động, không ai yêu cầu họ cả. Họ tự vận động với mục đích kéo những người yêu thích cái nghệ thuật ấy (và tín ngưỡng ấy) đến gần nghệ thuật ấy hơn, họ làm cho hấp dẫn hơn. Có nhiều nhóm hát văn đã tạo ra nhiều điệu hát, nhiều âm nhạc khác nhau.

Tôi cho rằng, để cho nghệ nhân họ tự thay đổi, thì hay hơn tác động (từ bên ngoài), vì thường tác động, thì nó biến đổi theo chiều hướng khác. Để cho các nghệ nhân làm, thì tốt hơn là « chúng ta » tác động và tổ chức, vì thường nó sai lệch đi nhiều.

RFI xin chân thành cảm ơn anh Ngô Đức Hiển, chị Nguyễn Thị Thềm, các nhà nghiên cứu Trần Quang Hải và Đặng Hoành Loan đã dành thời gian cho tạp chí

Các bài liên quan

Vẻ đẹp của Quan Họ cổ truyền xứ Kinh Bắc [3]

Ca trù trước ngã ba đường: Phục sinh hay mai một [4]

Lãng du cùng bài vọng cổ “Cô bán đèn hoa giấy” [5]

Điều kỳ diệu của bài vọng cổ [6]

hiên cứu Trần Quang Hải và Đặng Hoành Loan đã dành thời gian cho tạp chí

Nhà nghiên cứu Trần Quang Hải

 

06/03/2013

 

Nghe (02:59)

 

 

 

Kỹ thuật hát nẩy hạt độc đáo của quan họ

RFI : Ông có nói đến kỹ thuật nẩy hạt, thì rất ít có ở các cư dân khác trên thế giới, có đúng không ?

Ông Trần Quang Hải : Đặc trưng của quan họ là kỹ thuật nẩy hạt, tiếng hát ngân lên như là nức nở, tức là nó ngắt đi từng tiếng, từng tiếng. Cái đó là một điều đặc biệt chỉ có ở trong quan họ và ca trù, là có kỹ thuật đó. Tức là mình hát làm sao nó lên giọng mũi, hát bằng giọng mũi, phải ngậm trong miệng, chứ không thoát ra (hát minh họa). Chứ không phải là mình làm cái vibrato (hát minh họa). Cái đó là sai, tức là hát theo kiểu Tây phương, hát theo kiểu bel canto, ngân vang, hay là hát theo kiểu thanh nhạc, được luyện trong các âm nhạc viện. Đó là dùng kỹ thuật sai. Làm như vậy, gọi là đẹp hơn, thì chưa chắc gì đẹp hơn. Tại vì trong giọng nói của tiếng Việt Nam, giọng rất cao, mà khi hát lên, thì lên bằng giọng mũi. Trong ngôn ngữ mình, nó đầy những cái tiếng lên giọng mũi, thành ra quan trọng là phải hát giọng mũi, chứ không phải hát bằng giọng ngực.

RFI : Có lần ông cho biết, ở tại một xứ châu Á, cũng có lối hát nẩy hạt này, thì nó giống và khác như thế nào so với nẩy hạt trong quan họ và ca trù ?

Ông Trần Quang Hải : Ở bên xứ Yakutia ở Tây Bá Lợi Á – Syberia, có một loại hát tức là tayuk, khi hát tiếng ngân dài ra (hát minh họa). Hát tayuk của người Yakutia, thì tiếng ngắt kéo dài hơn, mà giọng nó thoát ra bằng giọng ngực, còn mình tiếng ngắt nó lên giọng mũi, đó là một kỹ thuật khác.
 

 

TRỌNG THÀNH / RFI :Văn hóa cổ truyền : Làm sao để đến được với công chúng ? (phỏng vấn GS Trần Quang Hải, NS Đặng Hoành Loan), 6 tháng 3, 2013


Thứ tư 06 Tháng Ba 2013
Văn hóa cổ truyền : Làm sao để đến được với công chúng ?
Hiện tượng trình diễn đồng ca quan họ bị nhiều chỉ trích tại Việt Nam. Kỷ lục đồng ca với sự tham gia của hơn 3.500 người, tháng 2/2012, tại hội Lim, Bắc Ninh (DR)

Hiện tượng trình diễn đồng ca quan họ bị nhiều chỉ trích tại Việt Nam. Kỷ lục đồng ca với sự tham gia của hơn 3.500 người, tháng 2/2012, tại hội Lim, Bắc Ninh (DR)

Năm 2013 được chọn làm năm văn hóa Pháp – Việt. Trong năm này, sẽ có nhiều chương trình giới thiệu các hoạt động văn hóa nghệ thuật cổ truyền Việt Nam tại Pháp. Trong bối cảnh các di sản nghệ thuật cổ được tôn vinh, cùng lúc với các hoạt động biểu diễn nghệ thuật mang màu sắc cố truyền có xu hướng lan rộng, có nhiều câu hỏi đặt ra là : Nghệ thuật như thế nào xứng đáng được coi là bảo lưu di sản ? Nên quảng bá các nghệ thuật truyền thống như thế nào với bạn bè quốc tế ? Và nếu có thể cách tân, thì cách tân như thế nào ?

Từ những năm gần đây, đặc biệt sau khi một số loại hình nghệ thuật cổ truyền Việt Nam như quan họ, nhã nhạc cung đình, cồng chiêng Tây Nguyên… được Unesco tôn vinh làm di sản phi vật thể của nhân loại, việc giới thiệu quảng bá với công chúng Pháp và công chúng phương Tây nói chung ngày càng được chú ý.

Tạp chí Cộng đồng của RFI tuần này đặc biệt giới thiệu với quý vị về văn hóa quan họ, như một ví dụ cho các cách nhìn khác nhau xung quanh vấn đề gìn giữ, phát huy và cách tân các di sản nghệ thuật cổ truyền. Quan họ là một di sản có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội Việt Nam, nhất là tại xứ Kinh Bắc, và được Unesco thừa nhận là di sản nhân loại năm 2009, tiếp theo nhã nhạc cung đình Huế và không gian cồng chiêng Tây Nguyên.

Trước hết, mời quý vị theo dõi phần phỏng vấn với nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học Trần Quang Hải. Để quảng bá tốt các môn nghệ thuật cổ truyền Việt Nam, theo giáo sư Trần Quang Hải, cần phải giới thiệu những gì trung thực nhất với truyền thống.

Trung thực với truyền thống : Điều công chúng phương Tây mong đợi

RFI : Xin ông cho một số điều lưu ý để quảng bá tốt nghệ thuật cổ truyền Việt Nam ra bên ngoài.

Ông Trần Quang Hải : Điều thứ nhất là muốn đi quảng bá, thì phải tuyển lựa những nghệ nhân có trình độ cao, và làm đúng theo truyền thống. Đừng có nên, vì cái thị hiếu, muốn vui lòng người Âu Châu, mà pha trộn những khía cạnh gọi là « giao lưu văn hóa », thì sẽ đi đến chỗ làm cho người Pháp sẽ thất vọng. Tại vì, họ muốn tìm hiểu những cái gì gọi là nguyên xi và trung thực với truyền thống, hơn là để làm vui nhộn, theo những hình ảnh múa, theo kiểu vũ đạo, để đệm cho những bài hát.

Ông Trần Quang Hải

06/03/2013

Theo như tôi thấy, ở Việt Nam bây giờ, có xu hướng những bài hát dân gian, những bài hát dân tộc gọi là « canh tân hóa », thêm vào những tiết mục, thêm vào những điệu hòa âm, phối khí, vũ đạo đệm vào mất đi tính chất nguyên xi của một truyền thống nào đó. Thành ra cái đó rất uổng. Nếu chúng ta hiểu biết được cái đòi hỏi của người Tây phương, thì chúng ta sẽ làm những chương trình đúng theo tiêu chuẩn. Tại vì tôi thấy rằng, các xứ khác, giống như xứ Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc, khi họ đi sang Tây phương, họ trình diễn các tiết mục đúng theo truyền thống, chứ không phải có những màu sắc, màu mè, hay làm cho chương trình nó được hoành tráng.

Nghệ thuật của chúng ta không phải là nghệ thuật sử dụng đa âm, tức là polyphonie, hay là các điệu màu mè, mà chúng ta cần làm những loại nhạc đơn điệu, tức là monodie, chú trọng đặc biệt đến khía cạnh gọi là dịu dàng, tha thiết, và đặc biệt là lồng vào trong loại nhạc ngũ cung và những truyền thống mà chúng ta phải phát triển nhiều hơn.

RFI : Xin ông cho biết một thí dụ cụ thể.

Ông Trần Quang Hải : Ví dụ như trong điệu hát quan họ. Ở xứ Việt Nam, quan họ có ba loại. Thứ nhất là quan họ chay, tức là quan họ làng, hát ở trong làng và hát theo đúng truyền thống, có lễ kết nghĩa, tục ngủ bọn, và hát những kỹ thuật gọi là « vang, rền, nền, nảy ». Phải chú ý, phải học nhiều năm, chứ không phải học vài bài, theo như tôi được nghe ở xứ Việt Nam bây giờ. Thứ hai là có quan họ đoàn, tức là những bài dân ca quan họ, đã được đổi đi một chút, tức là theo điệu thanh nhạc. Cái đó có thể là mới mẻ đối với người Việt Nam. Cũng như hội Lim – một hội rất lớn về quan họ vào dịp Tết, nhưng có điều bây giờ ở Việt Nam lại đưa ra cách gọi là « hát du thuyền ». Tức là người quan họ, ngồi trên thuyền, dùng máy vi âm, hát to lên, rồi đi dọc theo bờ sông, rồi đưa cái nón lá ra, để hứng tiền người ta thảy vào trong đó. Cái đó là hình thức đi xin tiền, giống như hát xẩm ngày xưa, thì cái đó là đi sai đường lối. Hay là, hát thật nhiều giọng với nhau, thì hoàn toàn sai. Vì quan họ là chỉ hát, một cặp nữ đối với một cặp nam. Thành ra, vấn đề chúng ta phải phát triển là làm sao hát không có đệm nhạc, hát mà không có làm rùm beng, mà làm sao cho thấy cái kỹ thuật hát nó đi đến cái chỗ rất đặc biệt, mà bên Châu Âu này không có. Đó là cái mà tôi thấy rằng mình nên thận trọng khi đi biểu diễn ở xứ ngoài.

Cái vốn cổ phải giữ làm căn bản

Mình tự hào về cái vốn cổ của mình, thì mình phải làm sao giữ cho được đúng theo truyền thống, thì tôi thấy là hay nhất, chứ không có gì phải thay đổi hay biến chế, đặng cho nó hợp với thị hiếu của đại đa số quần chúng.

Cái vốn cổ của mình, mình giữ cái đó đi, làm căn bản. Ngoài ra, có những sự phát triển, thì mình để cho phát triển. Cái căn bản mình phải giữ hoài, thì từ đó nó mới đẻ ra nhiều chuyện khác nữa. Chứ bây giờ, mình lo mình phát triển mà quên đi cái nguồn gốc, cái vốn cổ, thì dần dần sẽ mất đi, sẽ không còn là vốn cổ nữa.

Tôi muốn lưu ý rằng, khi muốn đưa một đoàn hát, hay đoàn nghệ thuật sang ngoại quốc, thì chúng ta phải ý thức rằng, làm sao đưa nghệ nhân nào có trình độ cao, và hát đúng theo truyền thống, chứ đừng đưa những người trẻ đẹp, mặc quần áo cho thiệt đẹp, đi lên sân khấu để trình diễn. Đối với mình, cái vấn đề nghệ thuật là căn bản, chứ không phải là màu sắc. Làm sao những nghệ nhân (đi quảng bá) phải là những người có căn bản vững chắc, có thể, khi trình diễn ở hải ngoại, đáp ứng được những cái gì mà người Tây phương chờ đợi, tức là sự trung thực với truyền thống.

Di sản xưa và quan họ hôm nay

Ở trong nước, cũng cùng mối lo ngại với ông Trần Quang Hải, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiển nhấn mạnh đến việc « di sản quan họ đã thực sự mai một từ những năm 60 của thế kỷ trước », mặc dù di sản này vừa được Unesco nhìn nhận. Bên cạnh đó cũng có quan điểm, như của nhà nghiên cứu Trần Minh Chính, thì cho rằng : Cần phải thừa kế tối đa các tinh túy của di sản, nhưng điều cốt yếu nhất là tạo dựng được « nền văn hóa quan họ của ngày hôm nay ». Theo ông Trần Minh Chính, « con người quan họ, nhất là lớp trẻ, bắt đầu lúng túng với cảnh ‘‘bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước…’’ ».

Những nghệ nhân – người lưu truyền các « di sản sống » – suy nghĩ như thế nào về văn hóa quan họ ngày hôm nay ? Sau đây là một số chia sẻ của chị hai Thềm (Bắc Ninh), một nghệ nhân nổi tiếng xứ Kinh Bắc :

Chị Nguyễn Thị Thềm

06/03/2013

Chị hai Thềm : Thật ra trong lối chơi quan họ, phải là những người nào rất tâm huyết mới theo được lối chơi này. Bởi vì, chơi quan họ ngày xưa, người ta ý tứ khiêm nhường, mà người ta lịch sự, tinh tế lắm. Ví dụ như, đi hát cả một buổi tối ở « nhà chứa », thì nam ngồi một bên, một bên nữ ngồi, cái ngọn đèn dầu ở giữa, thì có khi hát cả tối có khi không nhìn thấy mặt nhau. Đấy là những cái tinh tế và những cái rất là khác biệt với những loại hình ca hát khác. Ví dụ như ngày xưa, chơi thì đúng thực là chơi tàn canh, rạng sáng. Hát suốt đêm đến rạng sáng, rồi nghỉ, rồi lại hát tiếp. Nhưng mà đấy là theo như thời ngày xưa, còn theo như bây giờ, thì cũng không hát được như thế, vì xã hội bây giờ, cái công việc nó cũng không cho phép mình được chơi bời như thế. Ví dụ trong khuôn khổ hạn hẹp một đêm thôi. Ví dụ như ngày xưa các cụ chơi, các cụ giữ lề, giữ lối, các anh hai, chị hai, chơi với nhau gọi là tình tứ, tình cảm lắm, yêu vụng, nhớ thầm, chứ không như bây giờ, họ đi chơi bời với nhau, có khi đi tới hôn nhân, nhưng ngày xưa các cụ chơi kết chạ các cụ không như thế đâu.

Bây giờ, chúng tôi ở đây, cốt lõi là mình phải gìn giữ những gì cổ, nhưng đồng thời vẫn dạy cho các em những cái phát triển lên, là nó phải lồng nhạc vào, để nó biểu diễn trên sân khấu, ví dụ như ở trong tỉnh, mở những cái cuộc liên hoan tiếng hát của các em bé chẳng hạn, thì mình phải đưa lên sân khấu, mình phải lồng nhạc. Các em mà cho ngồi hát ê a, như tôi và các cụ, thì các em cũng chưa hát được. Cho nên bây giờ cũng khuyến khích các em phải học quan họ nhiều, thì mình phải có các bài hát của lứa tuổi thiếu nhi hoặc mình sáng tác thêm những lời mới, đưa các em để tham gia sân khấu biểu diễn liên hoan.

Còn đồng thời mình vẫn dạy thêm các em những cái gì của vốn liếng cổ của mình, mình vẫn cứ giữ.

Càng thêm bạn, càng thấy cần phát huy lối chơi cổ

Tiếp theo đây là tiếng nói của anh hai Hiển (Bắc Ninh), một liền anh được lớn lên trong một gia đình nhiều đời theo quan họ :

Anh hai Hiển : Tôi được đắm mình trong dòng sữa dân ca. Thứ nhất là tôi học lối chơi quan họ, sau là tôi học hát quan họ. Từ đó, tôi đã có sự tâm huyết rồi. Cứ mùa trảy hội, là tôi đi các làng tôi trảy hội, du xuân. Từ đó tôi được kết bạn rất nhiều, các quý vị từ các tỉnh, thành đến với tôi. Tôi có cảm nhận là cuộc đời tôi cứ mỗi năm tôi lại vui thêm lên, nhân rộng lên, do là tôi được đi ra ngoài, tôi biết ứng xử quan họ, tôi cũng biết cách hát quan họ với du khách. Từ đó du khách thân thiện với mình hơn. Cứ lệ làng là các du khách đều hứa hẹn, hẹn hò sẽ về quê hương của chúng tôi. Thứ nhất là để biết cảnh hội, thứ hai là để tìm hiểu cái nét văn hóa ẩm thực nơi đây.

Ông Ngô Công Hiển

06/03/2013

Tôi cũng rất tự hào là xung quanh hàng xóm, hoặc dân làng cứ ca ngợi là tôi được đi ra ngoài lắm bạn bè về, cũng chẳng phải học cùng, chẳng phải họ hàng gì cả, mà cứ ngày hội là đông chật ních hết cả nhà. Nhưng mà người ta chỉ biết là tôi chơi rộng và quan hệ thôi, nhưng mọi người cũng chưa biết cái sâu sắc của người chơi quan họ như thế nào. Cứ một năm đi trẩy hội là tăng thêm bạn bè lên, rồi các du khách từ xa đến nhiều hơn, từ đó tôi nghĩ là mình càng phải phát huy, làm sao càng phải tìm hiểu, phát huy được cái lối chơi càng nhiều hơn nữa.

Vì đi ra ngoài, tôi ít gặp được các bậc tiền bối có cái lề lối chơi như ngày xưa. Bây giờ các bậc tiền bối hầu như đã mất rồi. Những bậc từ 80 trở lên còn rất ít. Được gặp thì tôi cũng hay hỏi, hay lân la tìm hiểu các cụ ngày xưa chơi quan họ như thế nào, những lời văn nào hay hay, thì mình lại tiếp thu. Tôi tâm huyết là giữ được những lời văn như thế, để truyền cho thế hệ sau.

Dịch vụ quan họ trong thời hiện đại

Các tỉnh cũng có những ngày lễ, ngày hội, người ta nhờ về xây dựng cho một buổi tối vui liên hoan văn nghệ cho dân làng, hoặc chương trình chúc thọ, người ta cũng muốn nghe những làn điệu dân ca quan họ, rồi đám cưới, rồi tân gia, nhà mới, khách sạn… Nói chung họ đều sử dụng dòng nhạc dân ca này. Thì chúng tôi gặp chương trình nào, thì chúng tôi dàn dựng theo đề nghị của khách hàng.

RFI : Còn cái lối chơi quan họ, thì nó có thể hiện qua các chương trình này không ?

Anh hai Hiển : Không. Nếu lối chơi quan họ cổ mà mang ra các tỉnh bạn, thì họ không hiểu, họ chưa hiểu, thì mình cảm giác như là bị « cô đọng lại ». Cái lối chơi cổ tôi chỉ mong gìn giữ được ở vùng quê Kinh Bắc thôi. Thời hiện đại này, mình… những bài cổ thì họ có hiểu đâu, mà không hiểu, thì mình mang ra cũng bằng thừa thôi, cho nên nó khác nhau là như thế. Thời hiện đại mình chỉ mang những lời ca mới, cũng theo điệu quan họ, nhưng lời mới là nhiều.

Thật sự là thế này. Bây giờ là thời hiện đại, chúng tôi đi chơi xuân, « làm chương trình », chúng tôi cũng phải có chút hoa hồng mới làm được. Thứ hai là chúng tôi cũng phải bảo đảm cuộc sống gia đình, có đúng không ? Tất nhiên là thời hiện đại, « vấn đề nào » có tiền là bọn tôi làm.

Lề lối xưa mộc mạc, nhưng mà ngấm

Nhưng mà tôi rất thích và mong muốn giữ được lề lối chơi quan họ ngày xưa, để giữ và phát huy được lối chơi cổ : Ăn quan họ, nói quan họ, rồi cười quan họ… đủ kiểu mới gọi là chơi quan họ. Chứ không phải (chỉ) là biết hát quan họ, mà đã vào chơi. Mình nghĩ là làm sao giữ được các lề lối, lấy những ngôn ngữ, lời văn, ý hay ngày xưa, tuy rằng rất mộc mạc, nhưng mà chứa đựng được rất chi là nhiều cái tình trong cái lời nói đó. Thì mới có cái ngấm.

Còn hiện đại bây giờ, theo nhạc, theo mix. Do cái trào lưu, thì cái dòng dân ca quan họ này rất phát triển và lan tỏa, cho nên là, nếu như không có nhạc, không có mix, thì ra không gian rộng, thì cũng không tỏa được hết.

Tôi mong các quý vị bên ấy, làm sao có cái thông điệp tôn vinh, có những cái tạo điều kiện, về vùng quê Kinh Bắc. Hát quan họ thì đã đành rồi, nhưng xây dựng được cái lối chơi quan họ mới là cái điểm nhấn. Tại sao bây giờ chúng tôi đi, kể cả các du khách mời chúng tôi đến các nhà hàng, khách sạn, chúng tôi cũng phải nói những lời của các cụ ngày xưa, có khi các du khách cũng chưa được nghe bao giờ.

Thật ra là, nếu (thế hệ) chúng tôi mà không (tiếp nối) nữa, thì may ra chỉ có ngọn, còn gốc không biết ở đâu, trôi đến đâu. Tôi chỉ lo là do điều kiện, do xã hội nó đưa đẩy, do họ không để ý nữa, thì… Mong phải có những gì để giữ gìn, phát huy, bảo tồn… cho thế hệ sau này mới còn cái gốc. Lo là thế thôi, nhưng chúng tôi vẫn còn ở đây, thì cái lối chơi vẫn có, vẫn còn.

Cách tân nghệ thuật truyền thống : mâu thuẫn giữa nhà nghiên cứu và nhà quản lý

Khép lại chương trình là tiếng nói của nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan từ Hà Nội. Ông Đặng Hoàng Loan giới thiệu hai quan điểm đối lập nhau về vấn đề tiếp nối truyền thống quan họ, cũng như nhiều môn nghệ thuật cổ truyền khác, tại Việt Nam. Không phải nghệ thuật cổ truyền nào cũng sẵn sàng cho việc cách tân. Trong thời gian gần đây, có nhiều thử nghiệm cách tân di sản nghệ thuật cổ truyền đến từ chính bản thân những người lưu truyền di sản, đặc biệt trong một số môn nghệ thuật mang tính tín ngưỡng như : hát văn, hát then…

Ông Đặng Hoành Loan : Cách nhìn của tôi cũng tương đối thống nhất với một số học giả ở Việt Nam hiện nay, thế nhưng nó lại không thống nhất lắm với các nhà quản lý văn hóa, đặc biệt những nhà gọi là « văn hóa quần chúng ». Thực hiện cái « văn hóa quần chúng » hiện nay, thì có hai ý kiến khác nhau. Cái ý kiến thứ nhất, nói rằng là phải giữ nó trong không gian văn hóa truyền thống, và tất cả các sinh hoạt của nó là phải theo phương thức truyền thống. Thì cái đó nó căn cứ theo yêu cầu của Unesco là, cái hiện tượng văn hóa ấy nó phải là tập tục sinh hoạt có từ thời xưa và được bảo tồn trong đời sống cộng đồng cho đến ngày nay, vì thế gọi là nó có « gốc gác » và nó có tính truyền thống của nó. Cái thứ hai nữa là, cùng với tính truyền thống đấy, (vấn đề là) con người Việt Nam hiện nay còn yêu thích nó không và thích sinh hoạt theo lối đó không, thì cái hồ sơ quốc gia phải trả lời rất minh bạch. Thì đấy là cái quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam, mà tôi cho rằng rất chính xác. Năm ngoái, có một cuộc hát quan họ với sự tham gia của hàng nghìn người, thì người ta cho rằng đấy là « phi truyền thống » và làm mất đi cái tính nghệ thuật, tính âm nhạc của chính bản thân quan họ.

Ông Đặng Hoàng Loan

06/03/2013

Thế nhưng các nhà văn hóa quần chúng hiện nay, thì họ cho rằng bây giờ phải làm như thế, thì mới đưa được âm nhạc cổ truyền, nghệ thuật cổ truyền vào đời sống con người hiện đại. Mà muốn đưa được vào đời sống con người hiện đại, thì họ cho rằng phải cách tân. Cách tân tức là cho nó đông người lên, cho nó sinh hoạt với đầy đủ các thiết bị hiện đại. Thứ hai là phải tạo cho nó những sân khấu lớn để nó có thể được trình diễn trên đó. Hiện nay hai việc đó vẫn cứ tồn tại và vẫn có những ý kiến trái ngược. Hiện nay đây là một mắc mớ khó giải quyết ở Việt Nam.

Đối với nghệ nhân, người ta rất thích trở lại cái không gian truyền thống, mà người ta hát nhỏ nhẹ trong nhà, trong các sinh hoạt nhỏ, vì nó vẫn thể hiện được toàn bộ cái tình cảm, cái nội tâm của họ đối với nhau. Vì thực sự ra, chúng ta biết, quan họ sinh ra để hát trong tất cả các tập tục giao tiếp, tình cảm con người ở Kinh Bắc, chứ nó không phải là một trình diễn nghệ thuật, với người thưởng thức và người ca hát. Hiện nay, chính cái điều mà các nhà nghiên cứu không tán thành lắm, tức là quan họ biến thành nghệ thuật trình diễn. Có nhiều ý kiến cho rằng như thế nó không đúng với truyền thống mà bản thân nó có từ xưa đến nay.

Riêng ý kiến của tôi, thì tôi cho rằng, người dân, nghệ nhân dân gian người ta muốn giữ lại tất cả những gì mà họ biết được từ xưa đến giờ. Họ rất thích trong việc họ gìn giữ, biểu diễn những nghệ thuật đấy đúng như thời xưa. Cho nên, phần lớn khi chúng tôi tổ chức gặp gỡ các nghệ nhân, thì các cụ nói, bây giờ làm mới nó đi, thì không biết để làm gì ? Vì nếu mới, so với mới hiện nay, thì không mới được, còn so với cái cũ, thì không cũ được. Thì như thế là, nó nằm ở lưng chừng. Đấy là ý kiến của nghệ nhân.

Chúng ta biết rằng, năm nay các cụ quan họ rất thích tự hát với nhau, để tìm đời sống tinh thần thưở xưa mà nó còn tồn tại lại trong tâm hồn của họ. Thì tôi cho là giữa nghệ nhân, giữa các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý hiện nay đang chưa có được một cái nhìn thống nhất, toàn diện về cổ truyền và cách tân, chính xác là như thế.

Hát văn, hát then : Nghệ nhân tự cách tân để thu hút công chúng

RFI : Vậy trong các môn nghệ thuật cổ truyền khác ở Việt Nam có sự cách tân hay không ?

Ông Đặng Hoành Loan : Những nghệ thuật « tâm linh » (tín ngưỡng) như là hát văn, hát then… thì lại được bảo lưu rất là tốt. Thì người ta lại không cách tân mấy, thì chính là tự các nghệ nhân, những người hành nghề, người ta cách tân, chúng ta thấy hiện tượng tự cách tân rất lớn. Các nghệ thuật ấy, thì bên ngoài không cách tân nó được, nhưng tự nó thay đổi nó, thì thay đổi được. Thí dụ như, hát văn bây giờ, người ta đưa nhạc cụ mới vào, tức là đưa cả đàn organ vào. Nghệ nhân người ta đưa vào thôi, chẳng ai bảo người ta cả. Người ta đưa thêm những bài hát mới vào. Như thế tức là người ta tự vận động, không ai yêu cầu họ cả. Họ tự vận động với mục đích kéo những người yêu thích cái nghệ thuật ấy (và tín ngưỡng ấy) đến gần nghệ thuật ấy hơn, họ làm cho hấp dẫn hơn. Có nhiều nhóm hát văn đã tạo ra nhiều điệu hát, nhiều âm nhạc khác nhau.

Tôi cho rằng, để cho nghệ nhân họ tự thay đổi, thì hay hơn tác động (từ bên ngoài), vì thường tác động, thì nó biến đổi theo chiều hướng khác. Để cho các nghệ nhân làm, thì tốt hơn là « chúng ta » tác động và tổ chức, vì thường nó sai lệch đi nhiều.

RFI xin chân thành cảm ơn anh Ngô Đức Hiển, chị Nguyễn Thị Thềm, các nhà nghiên cứu Trần Quang Hải và Đặng Hoành Loan đã dành thời gian cho tạp chí