Tag Archives: đào tấn

HUỲNH VĂN MỸ : Ông quan viết tuồng


ĐÀO TẤN – ÔNG QUAN “KỊCH TÁC GIA” – KỲ 2:

​Ông quan viết tuồng

31/03/2015 10:30 GMT+7

TT – Soạn tuồng là loại hình sáng tác đòi hỏi tác giả không chỉ có tài năng mà còn phải đầu tư rất nhiều thời gian, công sức cho tác phẩm của mình. 

Nguyên tác vở tuồng Trầm hương các của Đào Tấn có bút tích của bà Chi Tiên – thứ nữ cụ Đào Tấn – duyệt định (bản gốc hiện lưu tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định) – Ảnh: H.V.M.

Vậy mà Đào Tấn nhiều lúc vừa lo việc quan lại vừa sáng tác tuồng, chỉnh sửa tuồng cũ, đã để lại một di sản tuồng đồ sộ. Quả như lời nhiều người nói: “Với Đào Tấn làm quan là xác, viết tuồng mới là hồn phách của ông”…

Phụng mệnh vua sáng tác

Xem tấm biển viết chữ Hương thảo thất (nhà cỏ thơm) mà Đào Tấn treo trước mái nhà tranh nơi quê nhà Vinh Thạnh khi ông về hưu (1904), rồi đọc đây đó những câu thơ ông viết: Tràng An từ giã ra về/Trong mơ dắt nhạc thái hòa cùng đi, hay: Cười mình nếu sống đầy trăm tuổi/Chỉ thích đề ngâm khắp dưới trời mới thấy chuyện làm quan không phải là điều chí cốt của Đào Tấn.

Phải đem văn chương, mà chủ yếu là tuồng tích, là nghệ thuật hát bội để góp phần “phù thế giáo”, di dưỡng tâm khí con người mới chính là lý tưởng, là sở nguyện của Đào Tấn.

“Đào Tấn quả là có duyên với kịch nghệ hát bội” – nhà nghiên cứu Đặng Quý Địch nhận xét.

Cái duyên ấy, theo ông Địch, là khi được bổ dụng (1871 – bốn năm sau khi đậu cử nhân) Đào Tấn đã gặp được vua Tự Đức – vị vua nổi tiếng hay chữ, giỏi thơ văn lại yêu thích tuồng – chọn làm chức hiệu thư (biên chép, sửa chữa thư tịch) ở ngay tại triều.

Thấy văn tài của Đào Tấn, chỉ một năm sau nhà vua đã giao cho ông viết ba vở tuồng Đảng khấu, Bình địch và Tam bảo thái giám thủ bửu.

Được viết theo chỉ dụ của nhà vua để diễn ở cung đình, những vở tuồng này phần nào thể hiện mong muốn của nhà vua là dẹp được quân Pháp (Bình địch), trừ xong đám giặc khách cùng các cuộc dấy loạn của nông dân (Đảng khấu) và mở được mối giao hảo với bên ngoài để có thế lực đối địch với người Pháp mà vẫn giữ được khí chất của riêng nước mình (Thủ bửu).

Soạn được ba vở tuồng này để công diễn trên sân khấu cung đình Duyệt Thị Đường – vốn có từ thời vua Minh Mạng – sao cho vừa ý ông vua giỏi văn chương, sành nghệ thuật hát bội như Tự Đức quả là không dễ.

Thấy tài năng viết tuồng xuất sắc của Đào Tấn, sau hai năm để ông rời kinh nhậm chức tri phủ Quảng Trạch (tỉnh Quảng Bình), năm 1876 “vị vua mê tuồng” Tự Đức lại triệu ông về nội các để… tiếp tục viết tuồng.

Nhà nghiên cứu Đặng Quý Địch cho rằng điều đáng nói trong lần phụng chỉ sáng tác này là Đào Tấn đã không dựa theo tích truyện có trước mà tự mình tạo ra cốt truyện để viết tuồng.

Cũng như ba vở tuồng ông phụng chỉ sáng tác lần đầu, Tứ quốc lai vương (sứ thần bốn nước đến triều kiến nhà vua), Quần phương hiến thụy (đám vật quý đưa điềm tốt) mỗi tuồng cũng đều có ba hồi, mỗi hồi diễn trọn đêm từ đầu hôm đến gần sáng.

Còn bộ tuồng vĩ đại Vạn bửu trình tường lại dài đến 108 hồi, trong đó Đào Tấn soạn 68 hồi, từ hồi thứ 41 đến hồi thứ 108! “Soạn ba bộ tuồng này Đào Tấn đã mất hết bốn năm.

Nếu ở Quần phương hiến thụy Đào Tấn dùng tên các loài hoa thì ở Vạn bửu trình tường ông lại dùng tên các vị thuốc bắc để đặt tên cho các nhân vật, trong đó có sự phù hợp về tính cách của nhân vật với loài hoa, vị thuốc mà nhân vật đó mang tên. Tài vậy đó!” – ông Địch dẫn giải.

Mộ Đào Tấn ở sườn núi Huỳnh Mai (xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước), cách làng Vinh Thạnh chừng hai cây số về hướng đông – Ảnh: H.V.M.

Vừa việc quan, vừa viết tuồng

Viết tuồng và viết tuồng. Với Đào Tấn viết tuồng là cái nghiệp ông tự thân nhận lấy với tất cả đam mê, yêu thích.

Dường như để bù lấp cho khoảng thời gian hai năm làm quan đầu phủ Thừa Thiên cùng những năm từ quan về quê ở ẩn vì triều chính rối ren (sau khi vua Tự Đức mất, 1883), khi được bổ làm tổng đốc An Tịnh (Nghệ An, Hà Tĩnh) – 1889, nhà viết tuồng Đào Tấn đã làm việc song hành cùng với ông quan tổng đốc Đào Tấn để lấy lại thời gian đã mất với tuồng!

Vùng đất mới trấn nhậm vốn xa kinh thành, dân tình khó khổ, rối ren, phải lo chấn chỉnh nhiều việc, công vụ bận rộn nhưng Đào Tấn vẫn cố dành thời gian cho tuồng.

Trước hết, ông bắt tay chỉnh lý Sơn hậu – một vở tuồng được coi là di sản quý của hát bội nước ta, được tôn gọi là “tuồng thầy”, là loại tuồng kinh điển mà không một nghệ sĩ hát bội nào không trải qua các vai diễn từ tuồng này mà thành tài.

Tuy vậy do lưu truyền lâu đời, nhiều đoạn của Sơn hậu bị lệch nên Đào Tấn đã phải chỉnh sửa, thậm chí viết lại.

Vẫn chưa hết nỗi canh cánh về những pho “tuồng thầy” đây đó còn chỗ sai lệch, tuềnh toàng do “tam sao thất bổn”, Đào Tấn lại tiếp tục chỉnh sửa các pho tuồng Tam nữ đồ vương, Đào Phi Phụng.

Với Tam nữ đồ vương, Đào Tấn đã chỉnh sửa mạnh tay hồi hai của pho tuồng có ba hồi này thành vở tuồng mới với tên Khuê các anh hùng.

Với pho tuồng bốn hồi Đào Phi Phụng, ngòi bút chỉnh lý của Đào Tấn đậm nét nhất ở hồi 4, trở nên là “vở diễn ăn khách của nhiều thế hệ hát bội ở Bình Định bởi chuyện tình éo le đến cùng cực của hai nhân vật Đào Phi Phụng – Liễu Nguyệt Tâm”, theo lời nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn.

Điểm lại niên biểu sáng tác (và chỉnh lý) tuồng của Đào Tấn, điều nổi bật từ ông quan viết tuồng này là “duyên nợ tuồng” của tác giả với nơi tại nhiệm của mình. Kinh đô Huế và Nghệ An chính là hai nơi mà Đào Tấn đã sáng tác toàn bộ các vở tuồng của mình (trừ Tân Dã đồn).

Nhẹ bớt việc quan nhờ đã quen thuộc dân tình, lại không còn phải viết tuồng theo mệnh vua, việc chỉnh lý một số “tuồng thầy” cũng đã xong, từ đây cây bút tuồng trên tay ông quan tổng đốc An Tịnh bắt đầu cho những sáng tạo mới của mình.

Trừ Diễn võ đình – vở tuồng hai hồi được Đào Tấn viết vào những năm cuối khi làm tổng đốc An Tịnh lần nhất (1889-1893), bốn vở tuồng Cổ thành, Trầm hương các, Hộ sinh đàn (mỗi tuồng đều một hồi), Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan (ba hồi) đều được Đào Tấn viết trong thời gian ông làm tổng đốc An Tịnh lần thứ hai (1898-1902).

Sơ lược niên biểu làm quan của đào tấn

1867 đỗ cử nhân, năm 1871 được bổ làm hiệu thư tại triều. 1874 làm tri phủ Quảng Trạch (Quảng Bình). 1876 làm thừa chỉ tại nội các (triều đình).

1882 làm phủ doãn phủ Thừa Thiên. 1883 từ quan về quê ở ẩn ở chùa Ông Núi trên núi Linh Phong. 1887 được triệu dụng lại, làm phủ doãn Thừa Thiên, rồi làm thị lang bộ Hộ, làm giảng quan (dạy vua Đồng Khánh học).

1888 làm tham tri bộ Hộ. 1889-1893 làm tổng đốc An Tịnh. 1894 làm thượng thư bộ Công. 1896 làm thượng thư bộ Binh. 1897 làm thượng thư bộ Hình.

1898 làm tổng đốc Nam Ngãi (Quảng Nam, Quảng Ngãi). Mùa thu 1898 làm tổng đốc An Tịnh lần thứ hai. 1902 thượng thư bộ Công. 1904 rời chức thượng thư bộ Công về hưu tại quê nhà.

Ông mất đầu thu năm 1907, an táng tại sườn núi Huỳnh Mai – dãy núi có nhiều cây mai vàng tự mọc. ông từng để lại thơ khi đến núi này chọn nơi yên giấc:… Núi Mai rồi giữ xương mai nhé/ Ước được hoa mai hóa mộng hồn.

__________

Kỳ tới: Mở trường dạy hát bội

HUỲNH VĂN MỸ

HUỲNH VĂN MỸ : Đào Tấn – ông quan kịch tác gia: Người học trò xuất sắc


Đào Tấn – ông quan kịch tác gia: Người học trò xuất sắc

30/03/2015 11:22 GMT+7

TT – Có một ông quan để lại hàng trăm bài thơ, bài từ hay, trên chục vở tuồng hát bội đặc sắc. Đó là Đào Tấn (1845-1907).

Chân dung Đào Tấn – Ảnh: B.A.V.H. (N.Đ.X. st)

Chuyện những vị quan thời trước làm thơ, viết văn lưu hậu thế không hiếm bởi họ hầu hết là những bậc khoa bảng. Nhưng chuyện một ông quan để lại hàng trăm bài thơ, bài từ hay, trên chục vở tuồng hát bội đặc sắc thì chỉ có Đào Tấn (1845-1907).

Vị đại quan này còn là nhà đạo diễn, là vị thầy mở trường nuôi dạy diễn viên, đã truyền lưu những bài bản kinh điển cho nghệ thuật hát bội còn mãi đến nay.

Nhân 170 năm ngày sinh Đào Tấn, chúng ta cùng nhìn lại chặng đường nghệ thuật của nhà soạn tuồng có một không hai này…

Không có trò giỏi nếu thiếu thầy hay. Nhưng thầy hay thì dễ tìm mà trò giỏi thì rất khó kiếm. Nói về nhà soạn tuồng Đào Tấn, nhiều nhà nghiên cứu thường nhắc lại câu nói trên của người xưa để nhấn mạnh việc Đào Tấn và vị thầy dạy chữ, dạy viết tuồng cho ông đã “cùng may mắn gặp được nhau” để rồi “trò Tấn” vừa thành danh trên đường khoa cử vừa trở thành soạn tuồng kiệt xuất…

Di ảnh Đào Tấn (phải) được thờ tại nhà ông Đào Tụng Phi – Ảnh: H.V.M.

Vở tuồng đầu tiên

Làng Vinh Thạnh (xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định) – quê nhà của Đào Tấn – áp cuối phía đông nam châu thổ sông Côn, được che chắn bởi vòng cung rừng núi từ phía tây và tây nam cho đến phía đông và đông bắc dù chỉ cách quốc lộ 1A chừng ba cây số về phía tây và cách biển hơn mươi cây số về phía đông.

Cổng làng Vinh Thạnh được dân làng quen gọi là lý môn, được xây năm 1918, vẫn còn nguyên, chính là biểu trưng của “làng Vinh Thạnh của Đào Tấn”.

Ông Đào Tụng Phi, 81 tuổi, cháu gọi Đào Tấn là ông cố, kể về việc dựng lý môn: “Năm 1904 cụ nghỉ hưu chức thượng thư bộ Công.

Năm 1905, cụ dời mộ mẹ cụ từ Huế về quê. Nhân dịp này các quan triều vào thấy cổng làng Vinh Thạnh lợp tranh nên trình xin triều đình ân cấp tiền cho cụ làm cổng xây, mái vòm. Cụ không muốn đụng đến công quỹ nên từ chối.

Mãi đến sau ngày cụ mất, nhớ lại việc cũ, năm 1918 bộ Công truy cấp kinh phí cho Vinh Thạnh làm cổng làng để tưởng nhớ cụ. Lúc này con trai cụ là bố chánh Đào Nhữ Tuyên đành phải nhận, đứng coi làm cái cổng này đó…”.

Lớp người lớn tuổi ở Vĩnh Thạnh và các làng lân cận gần như ai cũng biết về gốc nguồn của “ông quan viết tuồng” Đào Tấn, biết nhà soạn tuồng lừng danh này đã học viết tuồng từ vị thầy nào.

Nhằm góp phần nói lên độ sâu dày của “đất tuồng” Bình Định – nơi mở ra mạch nguồn sáng tạo của nhà soạn tuồng Đào Tấn, năm 2011 nhà nghiên cứu nghệ thuật hát bội Vũ Ngọc Liễn đã cho ra tác phẩm Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu – ông đồ nghệ sĩ, trong đó kể chuyện Đào Tấn vừa học chữ vừa học soạn tuồng từ vị tú tài Nho học – ông đồ nghệ sĩ này.

Thật ấn tượng, vị đại quan – nhà thơ – nhà soạn tuồng Đào Tấn được sinh ở vạn Gò Bồi, là nơi mà 70 năm sau nhà thơ Xuân Diệu cất tiếng chào đời.

Gò Bồi (xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước) là nơi song thân Đào Tấn dời đến ở tạm để làm thuốc đông y, buôn bán và làm ruộng mưu sinh, cách làng Vinh Thạnh của tổ tiên mình chừng mươi cây số về phía đông bắc.

Cảnh trí hữu tình của thị tứ bên sông, lời ca điệu múa của những đoàn hát bội trong làng, những bài giảng về kinh sách, về tuồng tích của vị thầy được coi là “tứ kiệt” về văn chương của đất Bình Định đã làm cậu học trò sáng trí lại có thiên hướng về nghệ thuật Đào Tấn sớm phát lộ được tài năng.

“Cụ Nguyễn Diêu thật thỏa lòng khi có được người học trò như Đào Tấn để truyền cho văn chương, tuồng tích. Làm thầy mà được thấy người học trò trẻ của mình soạn được tuồng, rồi đến khi ứng thí lại được vinh quy bái tổ thì quả là sung sướng!” – nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đã viết.

Ông muốn chỉ việc Đào Tấn viết vở tuồng đầu tay Tân Dã đồn lúc 19 tuổi và chiếm bảng cử nhân năm 22 tuổi.

Cổng làng Vinh Thạnh ở xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, do bộ Công cấp kinh phí xây để tưởng nhớ cụ Đào Tấn – Ảnh: H.V.M.

Sửa tuồng thầy

Tú tài Nguyễn Diêu là vị thầy đồ có tiếng của Bình Định. Theo nhà thơ Quách Tấn ghi lại, vì mối duyên đầu gặp điều nghiệt ngã nên Nguyễn Diêu đã “gãy gánh” chuyện lều chõng cho mong ước đại khoa. Nhưng dù chỉ đậu tú tài ông vẫn nổi danh hay chữ, nhất là tài soạn tuồng hát bội.

Học trò Tú Diêu đông và quý trọng thầy đến mức sau khi ông mất đã chung tiền mua được năm mẫu ruộng hạng nhất gần mộ ông (ở làng Kỳ Sơn, cũng thuộc huyện Tuy Phước) để làm hương hỏa (cúng giỗ) cho ông. Tuy vậy chỉ có Đào Tấn là học trò xuất sắc.

Đào Tấn rất mực kính yêu thầy – vị thầy không chỉ dạy cho ông chữ nghĩa, kinh sách mà cả tuồng tích, nghệ thuật. Trên dặm dài sáng tác và hoạt động nghệ thuật của mình, Đào Tấn luôn tôn gọi cụ Tú Diêu là “nghiệp sư” của mình.

Tấm lòng quý kính thầy đã được Đào Tấn lưu lại trong một bài thơ đầy cảm động “Tháng 7, đi viếng mộ Nguyễn tiên sinh – thầy dạy nghề (nghiệp sư) ở Nhơn Ân”:

Thu quyện quanh mồ, thu nửa núi/Nhớ thầy nhớ ngọn gió xuân xưa/Đất trời nghiêng ngửa sao về muộn/ Luống phụ thầy ta những dặn dò (Đỗ Văn Hỷ dịch).

Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn, có lẽ Đào Tấn viếng mộ thầy vào thời ông bỏ quan về quê ẩn dật ở chùa Linh Phong lúc loạn triều với sự cố “bốn tháng ba vua” 1883-1885.

Nước nhà bị ngoại xâm, triều chính rối ren, với tâm sự ngổn ngang, chán ngán, lại thương thầy không còn, lời thơ ông như tiếng thổn thức bên mộ vị ân sư!

Quý trọng thầy vậy đó, nhưng trong nghệ thuật tuồng Đào Tấn đã không ngại sửa kịch bản của thầy. Chuyện Đào Tấn “sửa tuồng thầy” có lẽ là một trong những giai thoại hấp dẫn về Đào Tấn mà nhiều người Bình Định được biết.

Ấy là sau khi thầy Nguyễn Diêu qua đời, khi đọc lại vở tuồng Ngũ hổ bình Liêu (còn gọi Ngũ hổ bình Tây) – một vở tuồng hay, rất phổ biến của Nguyễn Diêu, ông thấy ở đoạn “Địch Thanh qua ải” có một chi tiết thầy Diêu xử lý chưa được thấu đạt.

Đó là khi công chúa Trại Ba (của nước Đơn) ra lệnh đóng chặt cửa thành không cho chồng là nguyên soái Địch Thanh qua ải (vì Địch Thanh trốn vợ mà đi).

Khi được Địch Thanh phân giải lý do, công chúa cảm hiểu được nên đã để Địch Thanh được qua ải. Nhưng công chúa lại không truyền lệnh mở cửa (sau khi đã ra lệnh đóng chặt) làm sao Địch Thanh có thể đi được?

Để tình tiết của đoạn tuồng được thấu tình đạt lý, phải sửa lại tuồng thầy. Để đúng đạo tôn sư, trước khi chỉnh sửa Đào Tấn đã cho giết một con heo làm lễ vật mang đến nhà thờ thầy Nguyễn Diêu ở làng Kỳ Sơn vái lạy trình thầy sự việc “mở cửa thành cho Địch Thanh qua ải”.

Ông nối tiếp đoạn tuồng của thầy bằng lời ra lệnh của công chúa Trại Ba: “Cáp Man! Truyền Cáp Man mở ải! Đặng cho ta đưa Nguyên soái lên đàng…”.

Tiếp theo ông thêm vào một đoạn giao đáp ngắn của đôi vợ chồng trước lúc chia tay với ân tình thống thiết rồi dùng lại hai câu hát nam của thầy ở cuối đoạn này: Dứt tình một khúc dương quan/Tây Liêu anh tới, Đơn bang em về!

Nhà soạn tuồng Đào Tấn chi li, cẩn trọng trong hoạt động sáng tác kịch bản như thế đó.

____________

Kỳ tới: Ông quan viết tuồng

HUỲNH VĂN MỸ