TRỌNG THÀNH – phóng viên RFI : Ví-Giặm xứ Nghệ được UNESCO vinh danh, phát thanh ngày 3 tháng 12, 2014


TẠP CHÍ XÃ HỘI

Ví-Giặm xứ Nghệ được UNESCO vinh danh

 

Phát ngày Thứ tư, ngày 03 tháng mười hai năm 2014
Ví-Giặm xứ Nghệ được UNESCO vinh danh
 

Ví-Giặm : hai dân ca ở Nghệ An và Hà Tĩnh – DR

Trọng Thành/RFI

Tối 27/11/2014, trong cuộc họp tại Paris, Pháp, Ủy ban UNESCO đã chính thức công nhận dân ca Ví – Giặm xứ Nghệ là “di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”, cùng với 34 di sản khác của thế giới. Trong bối cảnh các hoạt động kinh tế nông nghiệp truyền thống – môi trường làm nên sức sống của Ví-Giặm cổ truyền -, ngày càng mai một, nếu không muốn nói là gần như biến mất ở nhiều nơi, hai loại hình dân ca xứ Nghệ đã tìm thấy đất sống trong các sinh hoạt cộng đồng mới. 

Ví-Giặm là di sản văn hóa phi vật thể thứ 9 của Việt Nam được vinh danh, tiếp theo Đờn ca tài tử, Tục thờ Hùng vương Phú Thọ, Hát Xoan Phú Thọ, Hội Gióng Hà Nội, Ca trù, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Nhã nhạc cung đình Huế và Cồng chiêng Tây Nguyên.

Ví-Giặm là hai lối hát dân dã không nhạc đệm được các cộng đồng dân cư ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo và truyền thụ trong các hoạt động sản xuất và sinh hoạt truyền thống. Tên gọi của các làn điệu Ví-Giặm cổ truyền gắn với các hoạt động như : ví phường vải, phường võng, phường nón, phường củi, ví trèo non, ví đò đưa, ví ghẹo, ví mục đồng, giặm ru, giặm kể, giặm xẩm… Hai lối hát nói trên tuy có một số đặc điểm khác nhau, nhưng do từ một số thập niên gần đây thường xuyên được hát đan xen với nhau, nên cũng thường được ghép chung với tên gọi dân ca Ví-Giặm hay Ví-Dặm.

Trong bối cảnh các hoạt động kinh tế nông nghiệp truyền thống ngày càng mai một, môi trường làm nên sức sống của Ví-Giặm cổ truyền, với các thể thức và quy cách, trước đây bị thu hẹp hết sức rõ rệt, nếu không muốn nói là gần như biến mất, hai loại hình dân ca xứ Nghệ đã tìm thấy đất sống trong các sinh hoạt cộng đồng mới, đặc biệt là các câu lạc bộ, các nhóm nghiệp dư, không nhiều thì ít thường được chính quyền khuyến khích.

Giống như đa số các loại hình dân ca cổ truyền, trừ ca trù trong một thời gian dài, Ví-Giặm được chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sau này khuyến khích phát triển, các làn điệu dân ca Ví-Giặm được giới nghệ sĩ khai thác để phát triển nhiều sáng tác âm nhạc mới mang hơi thở dân ca, chinh phục được trái tim của đông đảo công chúng, trước hết là người dân xứ Nghệ.

Lời ca Ví-Giặm nhìn chung thường dễ hiểu, các làn điệu thường đơn giản, được đông đảo người dân thuộc các lứa tuổi thưởng thức và ứng tác. Khác với Ví-Giặm cổ truyền, ngày càng có nhiều người hát dân ca với sự hỗ trợ của nhạc đệm truyền thống hay hiện đại. Ví-Giặm dưới hai hình thức, cổ truyền và cải biên, được thực hành tại 75 nhóm dân ca, với khoảng 1.500 thành viên, trong đó có hơn 800 nghệ nhân, theo một cuộc điều tra vào năm 2012. Tuy nhiên, số người ít nhiều có hát Ví-Giặm ắt hẳn nhiều hơn con số chính thức nói trên.

Nhân dịp Ví-Giặm xứ Nghệ được UNESCO vinh danh, nhận lời mời của Tạp chí Xã hội của RFI, Giáo sư Dân tộc nhạc học Trần Quang Hải (Paris), cùng Nhạc sĩ Thanh Lưu và Nghệ nhân Phan Thế Phiệt (Nghệ An) có đôi lời chia sẻ với quý vị thính giả về những cảm nghĩ riêng trước sự kiện này, cũng như một số hiểu biết căn bản về các di sản văn hóa của một vùng đất có một vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam và văn hóa Việt Nam.

Trước hết mới quý vị nghe chia sẻ của Giáo sư Trần Quang Hải, người từng tham gia hỗ trợ hồ sơ Ví-Giặm xứ Nghệ trình UNESCO.

cropped-tqh.jpg

GS Trần Quang Hải

Tôi có dịp đi về Việt Nam hai năm liên tiếp, tham gia vào chuẩn bị hồ sơ của hát ví dặm Nghệ Tĩnh. Tôi thấy rằng, có sự chuẩn bị rất chu đáo. Có sự đóng góp của tất cả những câu lạc bộ của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Đồng thời Gs Nguyễn Chí Bền dầy công thu góp tất cả những tài liệu lại và làm đúng theo tôn chỉ của UNESCO. Thành ra họ thấy rằng sức sống của hát Ví-Giặm đã được hồi sinh và hy vọng rằng trong tương lai sẽ được tiếp nối và sẽ được quảng bá rộng rãi hơn.”

Từ xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, nghệ nhân Phan Tất Thành, một người gắn bó từ hàng chục năm nay với dân ca xứ Nghệ cho biết cảm tưởng của ông trước sự kiện này.

Nghệ nhân Phan Thế Phiệt (Nghệ An) 03/12/2014 nghe

Ví là gì ? Giặm là gì ?

phan thế phiệt nghệ nhân ví giặm

Nghệ nhân Phan Thế Phiệt

Nhạc sĩ Thanh Lưu, nguyên Trưởng đoàn Dân ca Nghệ An, người dầy công sưu tầm dân ca xứ Nghệ và được coi là một “người đặt nền móng cho kịch hát dân ca xứ Nghệ” nhận xét về tính phổ cập của Ví-Giặm (so sánh Ví-Giặm với Quan họ Bắc Ninh của ông có thể gây bàn thảo – ndr).

nsutThanhLuu

Nhạc sĩ Thanh Lưu

Ví-Giặm nó có tính phổ cập. Như Quan họ chẳng hạn chỉ có 49 làng Quan họ, và trong những làng ấy, chỉ có một số liền anh, liền chị hát. Và người ta cũng chủ yếu hát ở Hội Lim thôi. Còn Ví-Giặm là hát ở tất cả mọi không gian, mọi thời gian, và già trẻ, trai gái ai cũng có thể hát được. Cái nữa là ta thấy Ví-Giặm có tính biểu cảm đa dùng, tức là một điều Ví-Giặm chẳng hạn chuyển tải được rất nhiều sắc thái tình cảm. Đề cập tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống”.

Nhạc sĩ Thanh Lưu giúp chúng ta phân biệt Ví và Giặm khác nhau như thế nào, và đặc trưng của các làn điệu Ví-Giặm, qua một số giải thích và minh họa. 

Nhạc sĩ Thanh Lưu (Vinh) 03/12/2014 nghe

Nghệ nhân Phan Tất Thành cho biết thêm về giai đoạn những năm 1970-1980, trong thời gian hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tạm thời sát nhập làm một, nhiều hoạt động truyền bá phát triển, khiến trong một thời gian rất ngắn hát Giặm vốn chỉ phổ biến ở Hà Tĩnh có cơ hội phổ biến mạnh sang Nghệ An.

Từ thời các nhà nho đến dân ca “câu lạc bộ”

Ví-Giặm là sản phẩm của một vùng đất nơi sinh ra nhiều danh nhân thời văn minh Nho giáo. Theo cố Giáo sư Ninh Viết Giao (xem bài “Về ba loại hình dân ca Hò, Ví, Giặm“), người đã dành cả cuộc đời để sưu tầm dân ca xứ Nghệ, trong đó đặc biệt phải kể đến hát ví phường vải, được coi là một đỉnh cao của dân ca Ví một thời. Theo ông, thi hào Nguyễn Du, nhà thơ Nguyễn Huy Tự, ông hoàng ca trù Nguyễn Công Trứ, chí sĩ Phan Bội Châu đã từng “tắm gội” trong nền dân ca quê nhà. “Phải nói hát ví, hát giặm có giá trị như thế nào mời hấp dẫn, mới lôi cuốn các danh sĩ, chí sĩ, nho sĩ tham gia” để rồi “thầm lặng giúp đỡ họ” “sáng tạo nên những tác phẩm bất hủ”. Dòng sông lịch sử không ngừng chuyển động. Ví-Giặm ngày nay có còn giữ được như xưa ? Nhạc sĩ Thanh Lưu kể lại trải nghiệm của ông về những việc đã làm để chuyển giao Ví-Giặm cho thế hệ trẻ :

Trong cuộc hát phường vải, có người ‘bẻ’, có người hỏi, có người đáp, và trong đó có thể có những nhà nho có tên tuổi. Những trí giả này đặt ra những câu đối, câu đáp mang tính rất thâm thúy, làm cho tính bác học trong Ví-Giặm cũng rất sâu sắc. Bây giờ thì khác, môi trường không như ngày xưa nữa. Bây giờ có ai đi quay xa, dệt vải, ai đi tuốt lúa, bây giờ máy móc cả rồi. Mà chúng tôi muốn làm thế nào để bảo tồn cái đó, thì một mặt mình phải đi sưu tập ở các làng quê, rồi các cụ nghệ nhân hát cho mình ghi lại, phục chế lại những cảnh đó thôi, chứ còn những cảnh tự nhiên như ngày xưa bây giờ là không có. Nhưng còn một hình thức khác, đó là các câu lạc bộ phường xã, câu lạc bộ hát dân ca, người ta sử dụng những bài bản cũ. Mặt khác nữa, để phản ánh được hiện thực mới, thì người ta lại lấy cái làn điệu cũ, biên soạn nội dung mới vào, để phản ánh cuộc sống đương đại. Cái hình thức câu lạc bộ không chỉ hát trong thôn xóm, mà cứ định kỳ như thế, có các cuộc liên hoan cấp cơ sở, từ phường xã cho đến cấp tỉnh. Như thế, các câu lạc bộ ở các phường xã cũng đua nhau tham gia các hội diễn, các cuộc liên hoan ấy…. Rồi ở trong trường học chúng tôi cũng phổ cập cho học sinh phổ thông, tập huấn cho tất cả các giáo viên phổ thông trong toàn tỉnh. Song đó rồi, các nhà giáo lại phổ biến cho học sinh của mình trong toàn tỉnh, rồi định kỳ tổ chức cuộc thi cho toàn trường…. Rồi chúng tôi dạy trên sóng phát thanh truyền hình. Rồi còn có việc in các tập nhạc dân ca, in các băng đĩa để trao truyền. Đấy là tôi không nói chuyện sâu khấu hóa. Sân khấu hóa là một chuyện khác”.

Ví là ngâm vịnh, ví von, nhưng đồng thời trong các sinh hoạt cổ truyền Ví cũng là lối hát dân ca hướng đến sự giao hòa : Ví là Với, bên nam hát cùng bên nữ. Hát Ví còn có nghĩa là hát Vói, một bên ở đường, ngoài ngõ “hát vói” vào sân, người ở ruộng này “hát vói” sang ruộng kia, người đi đường “hát vói” với người dưới ruộng… Vói là dùng lời hát để giao tiếp trong một không gian rộng. Giáo sư Trần Quang Hải quan sát thấy một hiện tượng mới trong thực hành hát Ví-Giặm hiện nay :

Tôi có dịp đi xem, thì thấy có những lớp giảng dạy, khuyến khích tất cả những em tập ra những màn hát đối đáp, những người trẻ hai mấy ba chục tuổi, đối lại với bên kia cũng mười mấy hai chục tuổi. Tập họ như thế, rồi họ tự nhiên thấy chuyện đó nó đặc biệt hơn, rồi nó linh động hơn là hát tân nhạc. Thì theo tôi nghĩ đó là một trong những khía cạnh có thể duy trì được truyền thống hát Ví-Giặm ở tại hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.”

Ví-Giặm cũng thể hiện được những kịch tính ghê gớm

Về phần mình, Nghệ nhân Phan Thế Phiệt nhấn mạnh đến sự thu hẹp của không gian dân ca cổ truyền, đổi lại là ảnh hưởng gia tăng của dân ca sân khấu hóa :

Cái không gian Ví-Giặm giao lưu bây giờ có thu hẹp lại. Và bây giờ rầm rộ hơn cả là biểu diễn. Biểu diễn sân khấu làng nào thôn nào cũng có. Nó cũng là một cách đưa đời sống vào dân ca Ví-Giặm…. Theo tôi nghĩ đó cũng là thích hợp, chứ không thể giữ nguyên xi được như hồi trước được đâu.

Trước kia, hát là trao đổi nghề nghiệp tâm tình thế thôi. Nhưng bây giờ, dân ca Nghệ An được lên sân khấu, nó có sức truyền tải, nó (trở thành) có sức chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong xã hội, ví dụ như những ‘tệ nạn xã hội’, như nghiện hút, tham ô, lợi dụng chức quyền, cuộc đấu tranh nẩy lửa giữa cái thiện, cái ác. Dân ca Nghệ Tĩnh vẫn có được những làn điệu, sử dụng được để thể hiện những cung bậc tình cảm như thế. Ví dụ thì có nhiều, như vở ‘Cô gái sông Lam’ (tác phẩm chèo do Nguyễn Trung Phong sáng tác, được chuyển thể sang Ví-Giặm). Nó là vở diễn sân khấu dài hơi, rất phức tạp, kịch tính ghê gớm, nhưng sang dân ca Nghệ Tĩnh vẫn có sức thể hiện được một cuộc đấu tranh giữa cường quyền áp bức, giữa đế quốc, phong kiến, và hoạt động cách mạng rất cam go. Thế mà vẫn truyền tải được”.

RFI : Thưa ông, đấy là chuyện của thời cách đây đã hơn nửa thế kỷ. Còn về những nội dung mà ông nói nhưng gần đây hơn thì có không ?

Gần đây thì rất nhiều… Các tệ nạn ma túy, mãi dâm nó đều thể hiện được cả. Rồi cuộc đấu tranh trong bà con thôn xóm để đi lên xây dựng ‘Nông thôn mới’. Cuộc đấu tranh ngay từ trong gia đình, trong cộng đồng. Xây dựng Nông thôn mới có việc hiến đất cũng rất là cam go…. là xương máu của bà con từ bao đời để lại, bây giờ lại hiến đất cho xã, để mở đường cho rộng, cho làng xóm khang trang. Đó cũng là cuộc đấu tranh rất là nan giải đối với người nông dân. Dân ca Nghệ Tĩnh vẫn cứ lên sân khấu, có rất nhiều vở lên sâu khấu. Gia đình có vở ‘Gian nan một lời hứa’, về chống ma túy có ‘Khoảnh khắc của một đời’, rồi lên án chất độc da cam, có vở  ‘Nhân chứng sống’…”

« Giận mà thương » : khi sáng tác hóa thành di sản

Một số những nhạc sĩ trong một thời gian nào đó đã đi vào nghiên cứu và thấy có những làn điệu. Thí dụ như có bài nổi tiếng bây giờ ai cũng hát. ‘Giận mà thương’’ trở thành làn điệu được hát nhiều. Ngoài ra những lời mới dựa trên cái làn điệu đó được phổ biến khắp nơi rồi. Tôi đã nghe được gần như mười mấy bài tương tự. Nghe lên, mình có thể biết được, định rõ được đó là giai điệu ấy...”

Vừa rồi là nhận xét của Giáo sư Trần Quang Hải về làn điệu « Giận mà thương », một trong những làn điệu phổ biến nhất của dân ca Ví-Giặm, không chỉ trong xứ Nghệ, mà trên toàn quốc. Trong thời gian gần đây, ngày càng phổ biến các thông tin về làn điệu vốn được coi là dân ca cổ truyền, thực ra do một nhà biên kịch, ông Nguyễn Trung Phong sáng tác – trên cơ sở cải biên các làn điệu Ví và Giặm cổ truyền -, trong vở kịch dân ca mang tên « Khi ban đội đi vắng » (năm 1967). « Giận mà thương » hay « Ví giận thương » sau này còn được nhiều nghệ sĩ lấy cảm hứng để sáng tác các ca khúc, như Đỗ Nhuận với bài « Trồng cây lại nhớ đến Người », sau khi lãnh đạo Việt Nam, ông Hồ Chí Minh qua đời, hay Đỗ Quý Doãn/ Trần Hoàn với bài « Giữa Mạc tư khoa nghe câu hò xứ Nghệ » (năm 1981).

Hai mặt của sự tôn vinh

Trong hơn nửa thế kỷ qua, dân ca Ví-Giặm Nghệ Tĩnh đã biến đổi rất nhiều. Có nhà nghiên cứu ghi nhận hai thay đổi rất lớn của hát Ví-Giặm, từ lối hát trao duyên trong các phường nghề chuyển sang lối hát chơi của các nghệ nhân, nghệ sĩ dân gian, rồi tiến đến sự hình thành của một sân khấu hay kịch dân ca Ví-Giặm (xin tham khảo bài nghiên cứu “Những bước chuyển đổi trong dân ca Ví-Dặm” của nhạc sĩ Đặng Hoành Loan). Trong bài viết trên, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan cảnh báo việc đẩy tính kịch trong sân khấu Ví-Dặm lên khiến “điệu hát Ví-Dặm sân khấu không còn giữ tính hồn nhiên trong ca hát, phóng khoáng trong lối chơi của dân ca Ví-Dặm“.

Tác động của sân khấu Ví-Giặm, cũng như các hình thức sinh hoạt Ví-Giặm mang tính Nhà nước – hoặc ít, hoặc nhiều – đến các sinh hoạt dân ca Ví-Giặm được lưu truyền trong cộng đồng như thế nào hiện là một thực tế còn ít được chú ý. Hiện tượng “Giận mà thương”, thường được xem như làn điệu cổ, nhưng thực ra là làn điệu cải biên (được đánh giá là rất thành công), mà gần đây được nói đến nhiều, chỉ là bề nổi của một hiện thực vô cùng phong phú.

Không ít người lo ngại, cũng như trong nhiều lĩnh vực văn hóa, tín ngưỡng khác tại Việt Nam, phong trào tôn vinh di sản dường như mang tính hai mặt. Một mặt, nó cho phép nâng niu trân trọng hơn đối với những gì có giá trị đích thực, nhưng mặt khác, nó cũng có thể dung dưỡng cho sự áp đặt một cách nhìn duy nhất đối với quá khứ, một xu hướng Nhà nước hóa văn nghệ, về lâu dài làm thui chột những sáng tạo đích thực.

Tạp chí Xã hội của RFI xin chân thành cảm ơn Giáo sư Trần Quang Hải, Nhạc sĩ Thanh Lưu và Nghệ nhân Phan Thế Phiệt

Tin bài liên quan

Vua Tao Đàn Thanh Hải

Tinh túy nhạc cổ truyền Việt Nam tại Paris

Hội Về Nguồn đưa đờn ca tài tử đến Paris

‘‘Đờn ca tài tử’’ : Hồn cốt cổ truyền trước làn sóng hiện đại

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20141203-unesco-vinh-danh-vi-giam-xu-nghe/

Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là Di sản văn hóa phi vật thể nhân loại, 27 tháng 11, 2014


Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là Di sản văn hóa phi vật thể nhân loại

(TTXVN/Vietnam+) lúc : 28/11/14 08:26

Đoàn Việt Nam vỗ tay chào mừng chiến thắng sau tiếng gõ búa của Chủ tịch hội nghị chính thức vinh danh dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh. (Ảnh: Bích Hà/Vietnam+)

Vào lúc 17 giờ 10 ngày 27/11 giờ Paris (tức 23 giờ 10 cùng ngày giờ Hà Nội), dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Quyết định trên được công bố trong khuôn khổ kỳ họp thứ chín của Ủy ban Liên chính phủ Công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể tổ chức.

Thay mặt Hội đồng thẩm định thuộc Ủy ban Liên chính phủ Công ước UNESCO, Phó Chủ tịch Ủy ban Liên chính phủ đọc báo cáo thẩm định cho biết, hồ sơ trình UNESCO vinh danh dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được trình bày rõ ràng và thuyết phục. Hồ sơ cho thấy loại hình dân ca này được phổ biến và thực hành trong một cộng đồng dân cư rộng lớn, phân bố tại nhiều vùng miền của Bắc Trung Bộ.

Trong hồ sơ đề nghị, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã cung cấp cho Hội đồng thẩm định thông tin đầy đủ và thống nhất về một loại hình dân ca đề cao và tôn vinh các giá trị đạo đức, được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Các thành viên của Hội đồng nhất trí đánh giá cao nội dung và giá trị tinh thần của dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh và đề nghị ghi danh dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Sau tiếng gõ búa của Chủ tịch Ủy ban Liên chính phủ, ông José Manuel Rodriguez Cuadros chính thức thông qua nghị quyết, toàn thể hội trường UNESCO đã đứng lên chúc mừng đoàn Việt Nam.

Phát biểu nhân dịp này, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đặng Thị Bích Liên cho rằng đây là một quyết định có ý nghĩa to lớn đối với Việt Nam khi một loại hình dân ca ở các làng quê hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, gắn bó với sinh hoạt hàng ngày của người dân như làm ruộng, làm nón, chèo thuyền, kéo lưới, ru con… được UNESCO vinh danh.

Thứ trưởng cũng cho biết dân ca Ví, Giặm chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Nghệ Tĩnh, thể hiện bản sắc văn hóa của người dân địa phương, luôn luôn được các thế hệ kế thừa và phát huy trong cuộc sống. Hát Ví, Giặm là để chia sẻ, đối thoại, giao lưu, mối quan tâm chung của cộng đồng, thông qua đó, cộng đồng gắn kết bền chặt.

Thứ trưởng cũng khẳng định Việt Nam nhận thức rõ rằng từ nay dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã trở thành tài sản văn hóa của nhân loại, Việt Nam cam kết thực hiện chương trình hành động nhằm bảo tồn sức sống của loại hình dân ca này và triển khai những chính sách nhằm tôn vinh các nghệ nhân để thực hành, trao truyền và giáo dục thế hệ trẻ, sao cho di sản mãi trường tồn, xứng đáng là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Quan điểm trên cũng được đại diện lãnh đạo hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh chia sẻ vào thời khắc lịch sử. Ông Nguyễn Thiện, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh và bà Đinh Thị Lệ Thanh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An, đều bày tỏ sự xúc động và niềm tự hào vì dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh đã góp phần làm phong phú và đa dạng di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Đại diện lãnh đạo hai tỉnh cũng nhận thức được trách nhiệm nặng nề cũng như sự cần thiết xây dựng kế hoạch cụ thể để tiếp tục bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản, đặc biệt là đẩy mạnh việc tuyên truyền quảng bá để người dân cũng như chính quyền các cấp nhận thức sâu sắc hơn về các giá trị của di sản nhằm phát huy các giá trị đó, để dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh mãi mãi trường tồn và góp phần tích cực vào việc phát triển bản sắc văn hóa cũng như sự phát triển bền vững của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.

Về phần mình, nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Quang Hải cho biết ông rất tự hào vì sau quan họ, hát xoan và đờn ca tài tử, dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO ghi danh. Theo ông, dân ca Ví, Giặm có ca từ bằng thơ dân gian, là hình thức hát đối đáp đi liền với sinh hoạt hàng ngày như hát trên sông La, hát chèo thuyền… Lời hát bộc lộ được thể chất thi phú của Việt Nam, tức là thơ lục bát hoặc song thất lục bát. Nhiều tiết tấu của dân ca Ví, Giặm toát lên nhạc ngữ, có thể điệu phong phú dựa trên các thang âm ngũ cung, tứ cung đã cho thấy sự phong phú của các thể loại dân ca Việt Nam.

Cũng tại kỳ họp thứ chín, Ủy ban Liên chính phủ Công ước UNESCO đã công nhận 34 Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại trên tổng số 46 hồ sơ đề cử.

Bên cạnh dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, UNESCO cũng đã công nhận nghệ thuật biểu diễn trống và múa nhào lộn Nongak (Hàn Quốc), nghệ thuật làm giấy có vân đá Ebrui (Thổ Nhĩ Kỳ), nghệ thuật pha trò Askiya (Uzbekistan), truyền thống tắm xông hơi Voru (Estonia), nghệ thuật ngâm thơ Al-Zajal (Liban)… Như vậy, cho đến nay, 314 loại hình nghệ thuật đã được vinh danh trên toàn thế giới cho hạng mục này./.

http://www.vietnamplus.vn/dan-ca-vi-giam-nghe-tinh-la-di-san-van-hoa-phi-vat-the-nhan-loai/293637.vnp

THÙY VÂN : VOV.VN – UNESCO đã chính thức công nhận di sản Ví, Giặm của Việt Nam vào Danh sách di sản đại diện của nhân loại.


VOV.VN – UNESCO đã chính thức công nhận di sản Ví, Giặm của Việt Nam vào Danh sách di sản đại diện của nhân loại.

Với tiếng gõ búa quyết định của Chủ tịch Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 của UNESCO, di sản Ví, Giặm của Việt Nam chính thức được ghi vào Danh sách di sản đại diên của nhân loại. Việt Nam chính thức có di sản văn hóa phi vật thể thứ 9 được thế giới vinh danh.
Tiếp sau phần trình bày của đại diện Ban thẩm định hồ sơ đánh giá cao các giá trị của di sản Ví, Giặm của Việt nam, Chủ tịch Ủy ban Liên chính phủ của Công ước về di sản văn hóa phi vật thể 2003 của UNESCO đã chính thức gõ búa đánh dấu sự công nhận của tổ chức văn hóa lớn nhất thế giới đối với hồ sơ của chúng ta.
Đoàn Việt Nam tự hào trong giây phút thiêng liêng

Trong phần nhận xét về hồ sơ dân ca Ví, Giặm của Việt nam, đại diện Ban thẩm định hồ sơ nhấn mạnh: Di sản đáp ứng các yêu cầu UNESCO đặt ra; di sản có sức sống và sức lan tỏa mạnh mẽ, có những giá trị phổ biến trong cộng đồng Việt, được thực hiện trong nhiều hoạt động của đời sống như trồng lúa, dệt vải, hát ru con… Do đó, ban thẩm định hồ sơ thống nhất kiến nghị Ủy ban Liên chính phủ công nhận Dân ca Ví, Giặm là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.Ngay sau báo cáo của hội đồng xét duyệt, đại biểu Marc Jacobs của Bỉ – 1 trong 24 nước thành viên Ủy ban Liên chính phủ của Công ước 2003 đã có phát biểu, nhấn mạnh hồ sơ của Việt Nam rất đặc biệt với nhiều giá trị quan trọng, đặc biệt và rất xứng đáng được vinh danh.

Thứ trưởng Bộ VHTT&DL Đặng Thị Bích Liên phát biểu về quyết định của Ủy ban Liên chính phủ

Phát biểu trước toàn thể kỳ họp, bà Đặng Thị Bích Liên – Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam nhấn mạnh: “Quyết định tại Kỳ họp thứ 9 của Uỷ ban liên chính phủ Công ước 2003 của UNESCO công nhận Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với dân tộc Việt Nam về một loại hình dân ca được thực hành ở các làng quê, gắn bó với mọi việc của con người trong đời sống thường ngày”.Trả lời phóng viên Đài TNVN thường trú tại Pháp, Thứ trưởng Đặng Thị Bích Liên nói: “”Đây là một quyết định quan trong với hai tỉnh nói riêng, với Việt Nam nói chung. Nhận thức được Dân ca Ví, Giặm là di sản đại diện của nhân loại, là tài sản của nhân loại, Việt Nam cam kết thực hiện tốt các quy định công ước để bảo tồn di sản”.

Ông Nguyễn Thiện, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh trả lời phỏng vấn.

Với việc UNESCO chính thức ghi danh Dân ca Ví, Giặm vào danh sách di sản đại diện của nhân loại, loại hình nghệ thuật này sẽ có những cơ hội to lớn để phát triển và lan tỏa sâu rộng hơn. Danh sách di sản đại diện của nhân loại là danh hiệu cao quý mà UNESCO trao tặng cho các di sản văn hóa phi vật thể mang những giá trị đạt tầm cỡ toàn cầu.Ông Nguyễn Thiện – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh bày tỏ niềm vui và tự hào đồng thời khẳng định tỉnh sẽ có chiến lược bảo tồn, phát huy và đặc biệt là truyền dạy cho các thế hệ trẻ để gìn giữ Dân ca Ví, Giặm – nay đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

“Đây là niềm vinh dự và tự hào chúng tôi sẽ có chiến lược và các kế hoạch với các nội dung cụ thể để phát huy thế mạnh của di sản, đặc biệt đẩy mạnh tuyên truyền để mọi người hiểu hơn về giá trị của di sản và tổ chức sưu tầm nghiên cứu, truyền dạy qua các sinh hoạt cộng đồng, đồng thời tổ chức các liên hoan Ví Giặm các cấp, ban hành chính sách với các nghệ nhân, các câu lạc bộ, chính quyền các cấp phải đầu tư kinh phí cùng với xã hội hóa để Dân ca Ví Giặm mãi mãi trường tồn”, ông Nguyễn Thiện nói.

Giáo sư Trần Quang Hải

Việc UNESCO vinh danh Dân ca Ví, Giặm còn là niềm tự hào khôn xiết đối với những kiều bào đang sinh sống ở nước ngoài.Giáo sư Trần Quang Hải, chuyên gia về âm nhạc truyền thống Việt Nam, người đã sát cánh cùng các cơ quan của Việt Nam trong việc xây dựng và đệ trình hồ sơ Dân ca Ví, Giặm xúc động cho biết: “Tôi rất sung sướng khi UNESCO công nhận thêm một loại hình âm nhạc của Việt Nam là di sản của nhân loạiĐây là niềm vinh dự và tự hào của dân tộc Việt Nam, chúng ta có được một loại hình được UNESCO công nhận. Lời hát bộc lộ được những thể thiên phú của Việt Nam là lục bát, song thất lục bát, hay ngũ ngôn. Hát Ví, hát vói, hát với, vừa hát vừa Giặm, có nhiều tiết tấu, thoát ra một cấu trúc thể hiện sự phong phú dựa trên những thang âm ngũ cung, tứ cung rất đặc biệt của âm nhạc truyền thống của Việt Nam”.

Theo nhiều chuyên gia về di sản, dân ca Ví, Giặm có sức sống mãnh liệt và là niềm tự hào của từng người dân xứ Nghệ, ca từ của dân ca Ví, Giặm cũng đời thường và dung dị, do đó, công tác bảo tồn sẽ không gặp nhiều thách thức như các loại hình nghệ thuật đài các và đòi hỏi sự tinh tế và cầu kỳ trong biểu diễn. Mặc dù vậy, cũng có một số khó khăn đối với Dân ca Ví, Giặm như phải làm sao để vừa quảng bá, sân khấu hóa được di sản nhưng không đời thường hóa nó và phải làm sao để Dân ca Ví, Giặm – vốn gắn bó chặt chẽ với phương ngữ xứ Nghệ – có thể lan tỏa ra bên ngoài, được hiểu và yêu thích bởi các cộng đồng khác./.

Thùy Vân/VOV – Paris

NGUYỄN DUY : Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh chính thức được UNESCO công nhận


Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh chính thức được UNESCO công nhận

Dân trí Sau phiên họp lần thứ 9 của Uỷ ban liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể của UNESCO diễn ra tại Paris (Pháp) – Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.
 >>         UNESCO xem xét hồ sơ dân ca, ví giặm của Việt Nam

Thứ trưởng Đặng Thị Bích Liên phát biểu về quyết định của Ủy ban Liên chính phủ. (Ảnh: VOV)
Thứ trưởng Đặng Thị Bích Liên phát biểu về quyết định của Ủy ban Liên chính phủ. (Ảnh: VOV)

Theo thông tin mới nhất từ bà Đinh Thị Lệ Thanh UVBTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An – người có mặt tại Paris cho biết, vào hồi 23h10 hôm qua 27/11 (theo giờ Việt Nam), phiên họp lần thứ 9 Uỷ ban liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể của Unesco diễn ra tại Paris – thủ đô Cộng hoà Pháp đã chính thức vinh danh Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh của Việt Nam là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.

Theo bà Thanh, việc ghi danh Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh của Việt Nam vào Danh sách di sản văn hóa Đại diện của nhân loại góp phần thúc đẩy việc trao đổi giữa các cộng đồng, nghệ sĩ và các nhà nghiên cứu; nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể trong phạm vi địa phương, quốc gia và quốc tế.

Dân ca, ví dặm Nghệ Tĩnh chính thức được UNESCO công nhận
Bà Đinh Thị Lệ Thanh (áo đỏ) – PCT UBND tỉnh Nghệ An có mặt tại các phiên họp và bà rất vui mừng khi Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại (Ảnh: Lệ Thanh).

Các biện pháp bảo vệ nhằm mục đích hỗ trợ cộng đồng trong việc trao truyền và phương pháp giảng dạy truyền miệng cũng như trong chương trình giáo dục chính thức sẽ được thực hiện với sự tham gia tích cực của các học viên, các chuyên gia, các tổ chức chuyên ngành và với sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước.

Hồ sơ đề cử Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được xây dựng với sự tham gia của các thành viên cộng đồng, chính quyền địa phương, các tổ chức chuyên ngành và các chuyên gia, các thành viên cộng đồng tự nguyện đề cử và cùng cam kết bảo vệ.

Dân ca, ví dặm Nghệ Tĩnh chính thức được UNESCO công nhận
Đoàn Việt Nam vui mừng khi Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại (Ảnh: Lê Thanh Phong).

Di sản Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã được Viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam kiểm kê từ năm 2012 với sự tham gia và đóng góp của cộng đồng. Năm 2012, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quyết định đưa Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.

Việc Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh của Việt Nam được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã chứng tỏ sức sống của văn hoá truyền thống Việt Nam trong dòng chảy hội nhập vào văn hoá thế giới; là cơ hội quảng bá rộng rãi di sản này đến cộng đồng quốc tế.

Từ đó, đúc kết được những phương pháp tiếp cận phù hợp và những biện pháp thiết thực để triển khai, bảo tồn và phát huy giá trị Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh xứng với những giá trị nhân văn và nghệ thuật độc đáo riêng.

Phát biểu trước toàn thể kỳ họp trong niềm hân hoan vui mừng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa thể thao và du lịch Việt nam bà Đặng Thị Bích Liên nhấn mạnh: “Quyết định tại Kỳ họp thứ 9 của Uỷ ban liên chính phủ Công ước 2003 của UNESCO công nhận Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với dân tộc Việt Nam về một loại hình dân ca được thực hành ở các làng quê, gắn bó với mọi việc của con người trong đời sống thường ngày”.Trả lời PV Đài TNVN, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ông Nguyễn Thiện bày tỏ niềm vui và tự hào đồng thời khẳng định tỉnh sẽ có chiến lược bảo tồn, phát huy và đặc biệt là truyền dạy cho các thế hệ trẻ để gìn giữ Dân ca Ví, Giặm nay đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh Nguyễn Thiện
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh Nguyễn Thiện

Ông Nguyễn Thiện nói: “Đây là niềm vinh dự và tự hào chúng tôi sẽ có chiến lược và các kế hoạch với các nội dung cụ thể để phát huy thế mạnh của di sản, đặc biệt đẩy mạnh tuyên truyền để mọi người hiểu hơn về giá trị của di sản và tổ chức sưu tầm nghiên cứu, truyền dạy qua các sinh hoạt cộng đồng, đồng thời tổ chức các liên hoan Ví Giặm các cấp, ban hành chính sách với các nghệ nhân, các câu lạc bộ, chính quyền các cấp phải đầu tư kinh phí cùng với xã hội hóa để Dân ca Ví, Giặm mãi mãi trường tồn”.

Theo VOV.vn

Nguyễn Duy

http://dantri.com.vn/su-kien/dan-ca-vi-giam-nghe-tinh-chinh-thuc-duoc-unesco-cong-nhan-1000780.htm

Vì sao dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh thành di sản nhân loại? UNESCO 2014


Vì sao dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh thành di sản nhân loại?

– Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh vừa được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại trong phiên họp đêm 27/11 tại Paris, Pháp.

ví, giặm, hà tĩnh
Đoàn Việt Nam vui mừng khi UNESCO công nhận Ví, Giặm là di sản thế giới.
Ví, Giặm là hai lối hát dân ca không nhạc đệm được cộng đồng người Nghệ Tĩnh sáng tạo ra từ hàng trăm năm nay. Ví, Giặm được thực hành trong lao động và đời sống thường nhật: lúc ru con, khi làm ruộng, chèo thuyền, lúc dệt vải, xay lúa. Vì vậy, các lối hát cũng được gọi tên theo các hoạt động như Ví phường vải, Ví đò đưa, Ví phường nón, Giặm ru, Giặm kể, Giặm khuyên… Dân ca Ví, Giặm chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Nghệ Tĩnh và là phương tiện nghệ thuật để biểu đạt tư tưởng, tình cảm, tăng cường giao lưu, gắn kết cộng đồng.

ví, giặm, hà tĩnh
Các liên hoan dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ liên tục được tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tổ chức.

Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam kiểm kê với sự tham gia và đóng góp của cộng đồng; được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào 2012. Việc Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO vinh danh cho thấy thế giới đánh giá cao loại hình âm nhạc đặc biệt này, đồng thời sẽ giúp cho cộng đồng và chính quyền địa phương có trách nhiệm hơn trong việc gìn giữ, truyền dạy, khuyến khích thế hệ trẻ tích cực học tập và tham gia trình diễn, nhằm bảo tồn và phát huy một cách bền vững di sản văn hóa phi vật thể này.

Cùng nghe 1 số bài Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh để hiểu vì sao loại hình này lại trở thành di sản thế giới

Dân ca Xứ Nghệ (Mời trầu) – Theo điệu Dặm Đức Sơn do NSƯT Hồng Lựu

Ví Ghẹo


Giận mà thương

V.H
Nguồn clip: nghean.gov.vn

http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/209296/vi-sao-dan-ca-vi–giam-nghe-tinh-thanh-di-san-nhan-loai-.html

Tìm hiểu về đờn ca tài tử: di sản văn hóa nhân loại


Tìm hiểu về đờn ca tài tử: di sản văn hóa nhân loại

Ngày 5 tháng 12 năm 2013, UNESCO đã chính thức công nhận đờn ca tài tử là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhân dịp này Trippy.vn xin được trích giới thiệu bài viết về Đơn ca tài tử.

don ca tai tu

Quá trình ra đời đờn ca tài tử: Theo chân cha ông đi mở cõi
GS.TS Trần Văn Khê cho biết đến nay vẫn chưa có tài liệu nào khẳng định về niên đại cụ thể của nghệ thuật Đờn ca tài tử. Dựa theo các nhà nghiên cứu, các nghệ nhân thì Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Lúc này ở Nam bộ đã hình thành 2 nhóm ca nhạc tài tử và tranh đua với nhau về nghệ thuật, ra sức cải tiến, nâng cao sáng tác thêm nhiều bài bản mới bổ sung vào. Trưởng nhóm miền Tây là ông Trần Quan Quờn (Ký Quờn), trưởng nhóm miền Đông là ông Nguyễn Quang Đại. Nguyễn Quang Đại là nhạc quan của triều đình Huế, vì bất mãn cảnh phải phục vụ giặc Lang Sa xâm lược, đã bỏ kinh thành vào Nam sau khi hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi (khoảng thập niên 1870). Ông trôi dạt đến vùng đất Chợ Đào (nơi có gạo Nàng Thơm Chợ Đào, xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An), mở lớp dạy đờn ca. Ông là người Quảng Nam, con thứ ba trong gia đình, theo cách gọi của dân Nam bộ là Ba Đại, nhưng nói trại theo tiếng Quảng Nam là Ba Đợi. Tại Chợ Đào, ông Ba Đợi thu nhận những học trò có máu mê đờn ca để truyền dạy những bài bản cung đình. Nhạc lễ cung đình trang trọng, hoành tráng đã trở nên dân dã, gần gũi trong môi trường của vùng đất mới khẩn hoang. Từ Cần Đước, nhạc tài tử được khơi nguồn từ ông Ba Đợi đã nhanh chóng giao thoa cùng các dòng nhạc lễ khác ở Nam Bộ, hình thành nên bộ môn nghệ thuật Đờn ca tài tử nam bộ từng phát triển rực rỡ trong nửa đầu thế kỷ 20.
Trước đó, ông Ba Đợi và những nhạc quan của triều Nguyễn trên đường vào Nam đã dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam; từ đó Ca Huế mang theo chút âm hưởng xứ Quảng.
Vào đến miền Nam, Đờn ca tài tử không còn giữ nguyên chất Ca Huế mà thay đổi rất nhiều để thích nghi theo thị hiếu, thẩm mỹ phù hợp với nếp sống mới. Những con người tháo vát, đầy sáng tạo, tuy đã tìm thấy một cuộc sống an lành khi đến với vùng đất màu mỡ, nhưng do lòng luôn thương nhớ cội nguồn nên trong các điệu, các hơi của Đờn ca tài tử thường thích những điệu có phảng phất nỗi u buồn. Trong khi phong cách miền Trung vẫn giữ theo truyền thống một cách chặt chẽ thì ở miền Nam lại phóng khoáng và bay bướm, nét nhạc cũng như tiết tấu thay đổi tuỳ lúc, tuỳ người. Ông Ba Đợi thường nhắc nhở học trò: “Lễ phải có Nghi. Nhạc phải có Hoà. Tiếng đàn phải đủ trầm, bổng, nhặt, khoan”.
Mặc dù nghệ thuật Đờn ca tài tử có lịch sử hình thành muộn hơn so với nghệ thuật Tuồng, Chèo, Quan họ hay Ca trù …nhưng điều đáng quan tâm là loại hình nghệ thuật này đã chứa đựng đầy đủ, mang đậm các giá trị văn hoá Việt với những đặc trưng đa dạng, độc đáo; vừa mang tính chuyên nghiệp vừa đậm chất dân dã, tài tử.

Nhạc khí trong Đờn ca tài tử:
Nhạc khí chính là đàn kìm (đàn nguyệt) và đàn tranh (thập lục). Theo truyền thống, ít khi nhạc công độc tấu mà thường song tấu đàn kìm và đàn tranh với tiếng “thổ” pha tiếng “kim”, hoặc tam tấu (kìm, tranh, cò), đôi khi có ống sáo thổi ngang hay ống tiêu thổi dọc. Và đặc biệt là song lang (nghĩa là hai thanh tre già – có người gọi là song loan) để đánh nhịp. Ngoài ra còn có các nhạc khí khác như đàn sến, đàn gáo, đàn độc huyền (đàn bầu), đàn tỳ bà nhưng ít thông dụng.
Từ khoảng năm 1930 có thêm những nhạc khí phương Tây như vi-ô-lông, măng-đô-luyn khoét phím, ghi-ta măng đô, ghi-ta Hạ-uy-di, ghi-ta Tây Ban Nha được chỉnh lại, thường gọi là ghi-ta phím lõm, để có thể “nói” trung thực, chính xác ngôn ngữ âm nhạc truyền thống Việt Nam.
Trong Đờn ca tài tử thường có 2 cách lên dây đàn chính: dây bắc (đàn những bản hơi Bắc, hơi Quảng, hơi Nhạc) và dây nam (đàn những bản hơi Xuân, hơi Ai, hơi Đảo), thường khi còn có thêm dây Oán và dây Vọng cổ; mỗi nhạc khí lại có cách lên dây đặc biệt. Dàn nhạc rất được chú trọng trong Đờn ca tài tử, người nghe để ý vào tiếng đàn nhấn “có gân”, cách sắp chữ, sắp câu duyên dáng, cách xuống câu đến “xang, hò, xề…” ngọt ngào; cách đàn “câu thòng, câu nhồi, câu lợi” bay bướm. Nhưng tiếng ca cũng không kém phần quan trọng.
Bài “Dạ cổ hoài lang” của Cao Văn Lầu ra đời cuối thập niên 1910, đã phát triển rực rỡ trong những thập niên sau đó để trở thành bài vọng cổ lừng danh. Tiếng nhạc du dương và lời ca bình dị rất hợp với người Nam bộ; hình ảnh người chinh phụ ở đây đã hoà nhập thực sự vào cuộc đời thường, phản ánh đúng tâm trạng yếu đuối của người phụ nữ khi xa chồng, nhất là trong những hoàn cảnh bắt buộc phải chia duyên rẽ thuý. Có lẽ chính cái “tính thường” này đã làm rung cảm người nghe.

Những nét đặc thù của nghệ thuật Đờn ca tài tử
– Rao: Trước khi vào bản thuộc hơi nào, nhạc công Đờn ca tài tử luôn có câu rao theo hơi đó, một mặt dẫn thính giả đi vào làn điệu, vào hơi để nghe bản đàn, đồng thời cũng là nghe thử cây đàn có phím nào lệch hay dây đàn cứng quá hoặc mềm quá không, để lúc biểu diễn tiếng nhạc được hoàn chỉnh hơn.
Khác hẳn với những bài “dạo” của miền Trung luôn có nét nhạc cố định, câu “rao” theo truyền thống miền Nam phóng túng hơn nhiều. Mỗi người thầy có một cách rao, lúc đầu người học đàn theo cách của thầy, nhưng khi đạt đến mức nghệ thuật khá cao thì được phép sáng tạo những câu rao của riêng mình. “Rao” thể hiện toàn bộ khả năng ứng tấu và cả cá tính của người nhạc sĩ tài tử. Câu “rao” không chỉ là lời mở đầu cho bài bản mà có khi còn chứa đựng cả cung bậc của tình cảm: hỷ, nộ, ái, ố, bi, ai…Qua câu “rao”, thính giả sành điệu có thể nhận thức được tính tình của người đàn. Hoặc với những nhạc sư lão luyện có thể chỉ với vài câu “rao”, người ngoài nhạc giới Tài tử, người chưa từng biết về Đờn ca tài tử Nam bộ cũng có thể hiểu được, cảm thông và thưởng thức trọn vẹn phong cách Đờn ca tài tử, hiểu biết về “người Tài tử”.
– Chữ nhạc: Mỗi chữ nhạc không có cao độ tuyệt đối, chỉ có cao độ tương đối, cũng không có cao độ nhất định mà có thể là một chữ đàn “non” hay “già”. Nhiều chữ nhạc trong bản đàn được tô điểm bằng cách nhấn nhá, rung, mổ. Bàn tay mặt tạo ra những “thanh” có cao độ, cường độ, màu âm, nhưng đó mới là cái “xác” của âm nhạc, phải nhờ bàn tay trái rung, nhấn để tạo nên cái “hồn” làm nên giá trị đích thực của nghệ thuật.
– Những cách tô điểm đặc thù: Thường thì trong các loại nhạc tô điểm là điều không bắt buộc, nhưng trong nhạc tài tử, chính những cách tô điểm đặc thù, nhất là cách đàn chữ “xang”, tạo nên cái bản sắc, cái giá trị tinh tế của Đờn ca tài tử. GS Trần Văn Khê đã ví von: “Một chữ nhạc mà nhạc sĩ không tô điểm cái riêng của mình như một đêm không trăng sao”… Trong thang âm hơi Bắc, những chữ xự – cống phải rung, hò – xang – xê mổ. Trong thang âm hơi Quảng thì ngược lại, xự – cống phải mổ, hò – xang – xê rung. Để đàn hơi Xuân, cách tô điểm chữ xang là quan trọng nhất, đi từ xang vuốt lên xê, có thể lên gần chữ cống non (thường trong nghề gọi là xế), trở về xang. Để đàn hơi Ai, chữ xang rung lúc đầu, vuốt nhẹ lên hơi xê mà không trở về xang. Do đó, trong nghệ thuật Đờn ca tài tử có 4 cách đàn chữ xang thật đúng mới thể hiện các hơi một cách rõ ràng: hơi Bắc vui vẻ, hơi Quảng rộn ràng, liến thoắng, hơi Xuân êm đềm thanh thản, hơi Ai, hơi Oán buồn thảm.
– Cấu trúc âm thanh: Đờn ca tài tử có cấu trúc “động và mở” thay vì “tịnh mà đóng” như phương Tây.
– Phát triển và vận hành giai điệu: Khi hoà đàn, người đờn ca tài tử không bao giờ lặp lại y khuôn “lòng bản” như thầy đã dạy mà phải dựa theo quan điểm thẩm mỹ “học chân phương, đàn hoa lá”. Đặc biệt cách phát triển và vận hành giai điệu trong Đờn ca tài tử tuân theo những nguyên tắc của dịch lý, một triết lý sống trong xã hội người Việt nói riêng và người vùng Đông Nam Á nói chung. Theo đó thì con người và sự vật luôn thay đổi không ngừng, nhưng sự thay đổi đó không làm ta biến dạng vì có những yếu tố bất dịch không thể thay đổi được, nghĩa là có “biến dịch” mà cũng có “bất dịch”.
Cũng vậy, trong đàn tài tử thì “nét nhạc, chữ nhấn, chữ chuyền” của mỗi câu trong bài bản có thể thay đổi tuỳ trường phái hay người đàn, nhưng “lòng bản” không thể thay đổi, do vậy người đàn có thêm chữ chuyền, có đổi nhịp nội ra nhịp ngoại thì người nghe vẫn nhận ra bản đàn.
Ngoài ra lại còn có giao dịch: Khi có sự gặp gỡ của hai yếu tố thì phải thay đổi để không đi đến xung đột. Hoà đàn tài tử cũng vậy: nếu tỳ bà hoà với đàn kìm, vì cả hai có màu âm gần giống nhau nên thường thì đàn kìm chơi nhịp nội trong khi tỳ bà đàn nhịp ngoại để có sự hoà hợp.
– Bài bản: Theo thường Đờn ca tài tử có 20 bài tổ, tuy không phải người Đờn ca tài tử nào cũng thuộc đầy đủ hay khi hòa đàn cũng không bắt buộc phải chơi hết 20 bài, nhưng các nghệ sĩ đều phải biết tên các bài đó bao gồm:
6 bài Bắc: Tây Thi, Cổ bản, Lưu thuỷ trường, Phú lục chấn, Bình bán chấn, Xuân tình chấn hay Xuân tình điểu ngữ.
3 bài Nam: Nam xuân, Nam ai, Nam đảo hay đảo ngũ cung.
4 bài Oán: Tứ đại oán, Phụng cầu, Giang nam, Phụng hoàng.
7 bài lớn (có khi gọi là 7 bài hơi nhạc hoặc 7 bài cò): Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Tiểu khúc, Vạn giá.
Ngoài ra có rất nhiều bài bản khác được dùng, trong đó vọng cổ 32 nhịp là thông dụng nhất. Trong một chương trình hoà nhạc Đờn ca tài tử lúc nào cũng có bài vọng cổ.
Ngày xưa buổi hoà nhạc bắt đầu bằng những bản đàn, bài ca điệu Bắc, hơi Bắc vui tươi; tiếp theo chuyển sang hơi Quảng, hơi nhạc, hơi Hạ; rồi qua điệu Nam, hơi xuân, hơi Ai,qua Đảo ngũ cung. Phần cuối bao giờ cũng chuyển sang hơi Oán, Ai oán và Vọng cổ là những điệu buồn vẫn được người nghe chuộng hơn những bài vui.

Theo Cinet

http://blog.trippy.vn/tim-hieu-ve-don-ca-tai-tu-di-san-van-hoa-nhan-loai-221.html

Chính thức công nhận Đờn ca tài tử Nam Bộ là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại


Chính thức công nhận Đờn ca tài tử Nam Bộ là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại

Posted on 06/12 

Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam đã chính thức được UNESCO vinh danh tại Danh sách Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.

 

Vào hồi 15 giờ 47 phút (theo giờ Việt Nam) ngày 05/12/2013, Phiên họp Uỷ ban liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra tại thành phố Baku, nước Cộng hoà Azerbaijan đã khẳng định, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam đã đáp ứng được các tiêu chí và chính thức công nhận Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.

Đờn ca tài tử chính thức được công nhận là Di sản văn hóa nhân loại.

Cụ thể, Nghệ thuật Đờn ca tài tử đã đáp ứng được các tiêu chí: Được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giáo dục chính thức và không chính thức tại khắp 21 tỉnh phía Nam, Đờn ca tài tử liên tục được tái tạo thông qua trao đổi văn hóa với các dân tộc khác nhau, thể hiện sự hoà hợp và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc; Việc ghi danh Đờn ca tài tử Nam Bộ vào Danh sách Đại diện có thể thúc đẩy việc trao đổi giữa các cộng đồng, nghệ sĩ và các nhà nghiên cứu; nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật trong phạm vi địa phương, quốc gia và quốc tế; Các biện pháp bảo vệ nhằm mục đích hỗ trợ cộng đồng trong việc trao truyền và phương pháp giảng dạy truyền miệng cũng như trong chương trình giáo dục chính thức sẽ được thực hiện với sự tham gia tích cực của các học viên, các chuyên gia, các tổ chức chuyên ngành và với sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước; Hồ sơ đề cử được xây dựng với sự tham gia của các thành viên cộng đồng, chính quyền địa phương, các tổ chức chuyên ngành và các chuyên gia, các thành viên cộng đồng tự nguyện đề cử và cùng cam kết bảo vệ; Di sản đã được Viện Âm nhạc Việt Nam kiểm kê từ năm 2010 với sự tham gia và đóng góp của cộng đồng; năm 2012 được Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quyết định đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.

Việc Đờn ca tài tử Nam Bộ được UNESCO công nhận đã cho thấy thế giới đánh giá rất cao loại hình âm nhạc “biến hoá lòng bản” ở miền Nam của Việt Nam và cũng chứng tỏ sức sống của văn hoá truyền thống Việt Nam trong dòng chảy hội nhập vào văn hoá thế giới.

Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ, là nghệ thuật của đàn và ca, do thanh niên nam nữ nông thôn Nam Bộ hát ca sau những giờ lao động. Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100 năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm các loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt), sau này, có cách tân bằng cách thay thế độc huyền cầm bằng cây guitar phím lõm. Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm, cùng nhau chia sẻ thú vui tao nhã.

T.H (Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)

– See more at: http://www.tranvankhe.vn/2013/12/06/chinh-th%E1%BB%A9c-cong-nh%E1%BA%ADn-d%E1%BB%9Dn-ca-tai-t%E1%BB%AD-nam-b%E1%BB%99-la-di-s%E1%BA%A3n-van-hoa-phi-v%E1%BA%ADt-th%E1%BB%83-d%E1%BA%A1i-di%E1%BB%87n-c%E1%BB%A7a-nhan-lo%E1%BA%A1i/#sthash.8PzdmEEV.dpuf

http://www.tranvankhe.vn/2013/12/06/chinh-th%E1%BB%A9c-cong-nh%E1%BA%ADn-d%E1%BB%9Dn-ca-tai-t%E1%BB%AD-nam-b%E1%BB%99-la-di-s%E1%BA%A3n-van-hoa-phi-v%E1%BA%ADt-th%E1%BB%83-d%E1%BA%A1i-di%E1%BB%87n-c%E1%BB%A7a-nhan-lo%E1%BA%A1i/

HIỀN HÒA : Đờn ca tài tử: được công nhận di sản rồi, thì sao?


Ngày 06.12.2013, 07:29 (GMT+7)
 

Đờn ca tài tử: được công nhận di sản rồi, thì sao?

SGTT.VN – Đúng như Sài Gòn Tiếp Thị dự đoán từ vài tháng trước, hồ sơ đờn ca tài tử đã được UNESCO công nhận di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại vào chiều ngày 5.12 (giờ Việt Nam). Tuy nhiên, câu hỏi được đặt ra ngay lúc nhiều niềm vui này lại là: được công nhận rồi, thì sao?

 

 

Khác với các di sản mà sức sống trong nhân dân đang bị thu hẹp nhanh chóng và nghiêm trọng, đờn ca tài tử (với tất cả biến tướng của nó) vẫn còn “sống khoẻ” tại miền Nam, đặc biệt Tây Nam bộ.

Năm 2011, để chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO, viện Âm nhạc khảo sát đờn ca tài tử tại 21 tỉnh/ thành Nam bộ, kết quả có 2.258 câu lạc bộ với khoảng 13.800 thành viên. Riêng TP.HCM vẫn còn đến 118 câu lạc bộ, với hơn 1.000 thành viên. So với điều tra của bộ Văn hoá – thể thao và du lịch năm 2010 với kết quả có 2.019 câu lạc bộ, 22.643 thành viên, thì số câu lạc bộ có tăng, mà thành viên thì giảm mạnh.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Bạch (từ thập niên 1980) thì: “Nhạc tài tử tách ra khỏi nhạc lễ và từ đấy hai dòng nhạc song song tồn tại: nhạc lễ chuyên về cúng tế nên ngày càng héo hon, già cỗi; nhạc tài tử đi vào quần chúng nhân dân nên không ngừng được sáng tạo và bồi bổ”. Thậm chí có vài nghiên cứu khác về lịch sử đờn ca tài tử cho thấy: “Trẻ con chưa học chữ đã học đờn, học ca gần như là chuyện… hiển nhiên”.

Về bài bản, cũng theo Nguyễn Ngọc Bạch, đờn ca tài tử có mấy khía cạnh đặc trưng: luật sáng tác đã theo các cấu trúc tương đối hoàn chỉnh về giai điệu và khúc thức; ký âm và hoà thanh, đã có bản nhạc riêng cho từng nhạc cụ, tuy sự ghi chép không khoa học lắm; nội dung thể hiện được nhiều sắc thái tình cảm đời thường; lời ca là điểm mới so với nhạc lễ. Đem thanh nhạc vào khí nhạc là một bước phát triển quan trọng của nhạc tài tử.

Nhiều nhà nghiên cứu uy tín khác đã kết luận về tính bài bản của đờn ca tài tử, nó không hề là thứ ngẫu hứng, chơi vui thuần tuý như nhiều suy luận. Ngoài 20 bản tổ có từ cuối thế kỷ 19, nhạc sư Nguyễn Văn Thịnh (ông giáo Thịnh) còn kết tập thêm 72 bài cổ nhạc Nam bộ vào giữa thế kỷ 20. Từ hơn 90 bài này mà kết hợp để phân ra thì rất linh hoạt, đa dạng.

Từ các lý do trên cho thấy tự thân đờn ca tài tử đã có sức sống trong dân và tính bài bản, vậy thì sau khi được công nhận, liệu diện mạo của nó có thay đổi? Hay hỏi cụ thể hơn, nó có giúp gia tăng thành viên tài tử và chuẩn hoá hơn về bài bản, học thuật? Chứ chỉ đơn thuần tìm kiếm một danh hiệu quốc tế, mà thực tế không có nhiều thay đổi, thì cũng như bao di sản khác, đường đi vào bảo tàng hoặc “nghĩa địa” văn hoá chỉ là gần hoặc xa mà thôi.

Bởi nói như nghệ nhân dân gian Bạch Huệ lúc sinh thời thì dù ngày càng có nhiều liên hoan hay festival về đờn ca tài tử (cuối năm 2011 có đến bốn liên hoan lớn) cũng khó thay đổi thực tế: “Việc đưa đờn ca tài tử thành di sản phi vật thể để mọi người quan tâm hơn và có phương hướng bảo vệ là rất tốt. Tuy nhiên cần phải lựa chọn cho kỹ đâu mới là đúng gốc tài tử. Hiện nay các câu lạc bộ đờn ca tài tử rất nhiều nhưng chỉ toàn chơi bài bản cải lương, nghệ nhân cũng không ít nhưng mấy ai thuộc được 20 bài tổ, phong cách chơi cũng đã biến tướng nhiều, không còn giữ được đúng chất tài tử nữa”.

HIỀN HOÀ

http://sgtt.vn/Van-hoa/185773/Don-ca-tai-tu-duoc-cong-nhan-di-san-roi-thi-sao.html

 

 
Đờn ca tài tử Nam bộ xưa. Ảnh: tư liệu