Tag Archives: đờn ca tài tử nam bộ

NT: Đờn ca tài tử Nam Bộ từ thuở sơ khai, VIETNAM


Đờn ca tài tử Nam Bộ từ thuở sơ khai

Thứ Tư, ngày 12/2/2014 – 13:36

(PLO) – Nếu miền Bắc nổi tiếng với chèo, miền Trung nổi tiếng với bài chòi, hát bội, hò, ví dặm… thì miền Nam nổi tiếng với đờn ca tài tử.

Chính những cung điệu giàu chất trữ tình làm day dứt, da diết lòng người sông nước và đi vào văn hóa rất đặc trưng miền Tây đã trở nên nổi tiếng khắp thế giới. Ngày 11-2, UNESCO đã trao bằng vinh danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại là một minh chứng cho điều đó.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại lễ vinh danh đờn ca tài tử tối 11/2.

Người được xem là ông tổ của đờn ca tài tử là nhạc sĩ Cao Văn Lầu nổi tiếng vớiDạ cổ hoài lang. Bản nhạc này đã có 100 năm tuổi.


 Nhạc sĩ Cao Văn Lầu

Nghe Dạ Cổ Hoài Lang qua tiếng hát NSND Ngọc Giàu

Đờn ca tài tử Nam Bộ  di sản văn hóa phi vật thể thứ 8 của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa đại diện của nhân loại và được bảo vệ ở cấp độ quốc tế, thể hiện sự trân trọng và ngưỡng mộ của cộng đồng quốc tế đối với loại hình nghệ thuật độc đáo này của Việt Nam.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, thì Đờn ca tài tử Nam bộ là một dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã hình thành và phát triển từ cuối thế kỉ 19, bắt nguồn từ nhạc lễ,Nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ. Đờn ca tài tử là nghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân, thanh niên nam nữ nông thôn Nam Bộ hát ca sau những giờ lao động. Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100 năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm 4 loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt), sau này, có cách tân bằng cách thay thế độc huyền cầm bằng cây guitar phím lõm. Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau. Họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã nên thường không câu nệ về trang phục.

Ngày 05/12/2013, tại phiên họp Uỷ ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra tại thành phốBaku, nước Cộng hoà Azerbaijan, Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội trao bằng vinh danh cho đại diện các tỉnh thành quê hương của đờn ca tài tử Nam bộ. Ảnh: VNE

Nguồn gốc

Loại âm nhạc này đúng ra là một loại nhạc thính phòng thường trình diễn trong phạm vi không gian tương đối nhỏ như trong gia đình, tại đám cưới, đám giỗ, sinh nhật, trong các lễ hội, sau khi thu hoạch mùa vụ, thường được biểu diễn vào những đêm trăng sáng ở xóm làng.

Nguồn gốc của nhạc tài tử là ca Huế, pha lẫn âm nhạc từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi. Loại nhạc này mang đậm tính cách giải trí vui chơi chứ không thuộc loại nhạc lễ.

Phạm vi di sản

Nghệ thuật Đờn ca tài tử hiện đang được phát triển ở 21 tỉnh, thành phố phía Nam Việt Nam là: An Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bến Tre, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Nai, Đồng Tháp, Hậu Giang, TP Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Long An, Ninh Thuận, Sóc Trăng, Tây Ninh, Tiền Giang, Trà Vinh và Vĩnh Long. Trong đó, Bạc Liêu, Bình Dương, Tiền Giang và TP. Hồ Chí Minh là những tỉnh, thành phố có nhiều người hát đờn ca tài tử nhất.

Trình diễn

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Khê và Nghệ sĩ Hải Phượng ngẫu hứng với đàn tranh và đàn kìm


Ban nhạc tường dùng năm nhạc cụ, thường gọi là ban ngũ tuyệt gồm đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn kìm, đàn cò, và đàn tam. Phụ họa thêm là tiếng sáo thường là sáo bảy lỗ.

Các nghệ sỹ đờn ca tài tử Nam bộ biểu diễn tại lễ vinh danh và nhận bằng của UNESCO. Ảnh: VNE

Về trang phục, những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau nên thường chỉ mặc các loại thường phục khi tham gia trình diễn. Khi nào diễn ở đình, miếu hoặc trên sân khấu họ mới mặc các trang phục biểu diễn.

Những năm gần đây nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch nên các nhóm nhạc tài tử hợp lại với nhau thành các câu lạc bộ đờn ca tài tử mang tính bán chuyên nghiệp. Bên cạnh nghề nghiệp chính, họ phục vụ văn nghệ khi có yêu cầu.

Một số người nói rằng từ nghiệp dư có nghĩa là tài tử. Trong thực tế, từ này có nghĩa là tài năng và ngụ ý rằng những người này không có hiệu quả hoạt động của đời sống âm nhạc của họ, chỉ để cho vui hoặc những người khác. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là họ không phải là chuyên gia. Ngược lại, để trở thành một nghệ sĩ trong ý nghĩa xác thực nhất của từ này, họ phải thực hành trong một thời gian dài.

Tình anh bán chiếu của soạn giả Viễn Châu, với giọng ca của NSND Út Trà Ôn:

Đối với hình thức âm nhạc, vai trò của các ca sĩ và nhạc sĩ đều bình đẳng. Ca trù hát và người ca (bài hát truyền thống từ miền Bắc và miền Trung) là phụ nữ, trong khi đờn ca tài tử bao gồm các ca sĩ nam nữ và họ có vai trò bình đẳng.

Đờn ca tài tử sử dụng dụng cụ như đàn cò, đàn nguyệt, đàn tranh, song lan (nhạc cụ bằng gỗ để gõ nhịp) hoặc cả Ghita lõm.Loại hình âm nhạc không chỉ ở các lễ hội và các bên mà còn trong thời gian sau thu hoạch. Ngoài ra, nó có thể được chơi trong bóng mát của cây, con thuyền hoặc trong đêm trăng sáng.

NT 

http://plo.vn/thoi-su/don-ca-tai-tu-nam-bo-tu-thuo-so-khai-447991.html

TRẦN THANH PHONG : Nơi vinh danh đờn ca tài tử Nam bộ


Nơi vinh danh đờn ca tài tử Nam bộ

n tứBìn

Không chỉ là một trong những cái nôi của đờn ca tài tử (ĐCTT), Bạc Liêu còn tự hào khi có hẳn một di tích lịch sử văn hóa quốc gia để bảo tồn loại hình nghệ thuật độc đáo này. Đó là Khu lưu niệm nghệ thuật ĐCTT Nam bộ và nghệ nhân Cao Văn Lầu.

Tri ân bậc tiền nhân

Nơi vinh danh đờn ca tài tử Nam bộ

Khu lưu niệm nghệ thuật ĐCTT Nam bộ và nghệ nhân Cao Văn Lầu – Ảnh T.T.P

Được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh từ năm 1997, đến năm 2013, Khu lưu niệm nghệ thuật ĐCTT Nam bộ và nghệ nhân Cao Văn Lầu được trùng tu và mở rộng với diện tích 12.500 m2, tổng mức đầu tư hơn 70 tỉ đồng. Công trình gồm các hạng mục: đài phun nước nghệ thuật, đài nguyệt cầm; tượng bán thân nhạc sĩ Cao Văn Lầu; nhà trưng bày tài liệu, hiện vật, hình ảnh các nhạc sĩ; vườn tượng các loại nhạc cụ dân tộc; nhà trưng bày nghệ thuật ĐCTT Nam bộ và sân khấu cải lương; sân khấu biểu diễn ĐCTT…

Đặt chân đến Khu lưu niệm, du khách sẽ ấn tượng với bản chuẩn Dạ cổ hoài lang – “bản nhạc lòng” bất hủ đã thăng hoa trở thành bản vọng cổ – được lồng khung với chữ khắc bằng vàng cùng với bức tượng bán thân của người nghệ nhân tài hoa sáng tạo ra nó được đặt trang trọng trong khu vực đặc biệt trưng bày về ĐCTT, cải lương nhằm thể hiện sự tri ân sâu sắc đối với cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Bên cạnh đó, còn có những hạng mục, công trình giúp người thưởng lãm có cái nhìn khá đầy đủ về cuộc đời, sự nghiệp của nhạc sĩ Cao Văn Lầu, về nghệ thuật ĐCTT Nam bộ như vườn tượng các loại nhạc cụ dân tộc được chạm khắc bằng đá xanh Thanh Hóa, ở vị trí trung tâm có 4 nhạc cụ tứ tuyệt trong ĐCTT (đờn tranh, đờn kìm, đờn cò và đờn bầu).

Không gian đậm chất tài tử

Trong khuôn viên Khu lưu niệm, tại tượng đài ống tre, lối vào chính phía trên của nhà hành chính là cầu thang lên khu vực có biểu tượng cây đờn kìm và hình ảnh nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Cây đờn kìm được cách điệu từ đốt tre và xung quanh phần đài ống tre khắc họa 20 bản tổ của ĐCTT: 3 bản Nam, 6 bản Bắc, 4 bản Oán và 7 bản lớn. Đặc biệt, các bậc thang trên đài ống tre dẫn lên khu đặt lư hương để mọi người hành lễ, tưởng niệm được bố trí theo các bậc số: 2, 4, 6, 8, 16, 32 và 64 – tượng trưng cho cung bậc, nhịp phách của ca cổ, cải lương tương ứng với từng nghệ nhân sáng tác. Đó là nhịp 2 của Cao Văn Lầu, nhịp 4 của Trịnh Thiên Tư, nhịp 8 của Lư Hòa Nghĩa, nhịp 16 của Mộng Vân, nhịp 32 của Trần Tấn Hưng và nhịp 64 của Lý Khi. Nơi đây quả thật là một không gian hữu tình đậm chất tài tử!

Còn nhiều nét hấp dẫn khác mà chỉ khi được đặt chân vào Khu lưu niệm, mọi người mới có thể cảm nhận hết “hơi thở”, không gian sống động của nghệ thuật ĐCTT được tái hiện lại. Thật đúng với chủ đề mà Festival ĐCTT quốc gia lần thứ nhất đã chọn, Bạc Liêu không chỉ có những con người nghĩa tình, hiếu khách, lịch thiệp, mà còn có cả những công trình văn hóa – nghệ thuật đậm chất “Tình người, tình đất phương Nam”. Khu lưu niệm này là điểm du lịchttp://www.thanhnien.com.vn/pages/20140429/noi-vinh-danh-don-ca-tai-tu-nam-bo.aspxh đặc biệt của Bạc Liêu.

Mới đây, tại buổi khánh thành, bà Nguyễn Thị Ái Nam, Phó chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Tổ chức Festival ĐCTT quốc gia, cho rằng Khu lưu niệm nghệ thuật ĐCTT Nam bộ và nghệ nhân Cao Văn Lầu sẽ như một bảo tàng chuyên đề về ĐCTT Nam bộ, về cải lương, vọng cổ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Mục đích của việc làm này để ghi nhớ, vinh danh công ơn của những bậc tiền nhân đã dày công làm cho đất Nam bộ, đất Bạc Liêu thêm nhân văn và chan chứa tình người. Dịp này, Bộ VH-TT-DL đã trao quyết định xếp hạng Khu lưu niệm là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Trần Thanh Phong -Tiến Trình 2: Khu vườn tượng các loại nhạc cụ dân tộc (ảnh: T.T.P)

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140429/noi-vinh-danh-don-ca-tai-tu-nam-bo.aspx

 

 

Theo THOANGSAIGON.COM : Đờn ca tài tử Nam Bộ


Đờn ca tài tử Nam Bộ

Thứ Năm, 13/03/2014 07:14
 
Ở Nam Bộ, kể cả dân gốc gác tại chỗ hoặc những người từ xứ xa “tới đây thì ở lại đây” đều nằm lòng câu tán dương khi nghe đờn ca tài tử vọng cổ sáu câu: Ca xuống xề nghe “ngọt” quá! Đờn nghe “mùi” quá! Hai tính từ biểu cảm mang đặc thù Nam Bộ này được chuyển hóa từ trạng thái vị giác sang trạng thái thính giác ở cấp độ cao, nói lên sự khoái cảm đến say mê, cái “đã” của người thưởng thức, cái tài nghệ của nghệ sĩ và chỉ xuất hiện khoảng 80 năm nay, tức sau khi bài Dạ Cổ Hoài Lang (nay là Vọng cổ) – bài nòng cốt trong 20 bàiTổ của đờn ca tài tử ca nhạc Cải lương: Nhạc sĩ tài hoa Cao Văn Lầu sáng tác bài Dạ Cổ Hoài Lang tại quê hương Bạc Liêu (1919) – lan nhanh ra ở Nam Bộ, nay phổ biến cả nước. Nghệ sĩ nhân dân Út Trà Ôn được tôn vinh là “Đệ nhất danh ca miền Nam”, “Vua vọng cổ” nổi danh từ nửa thế kỷ nay từ bài Vọng cổ.
 
 
Tại sao người ta mê Vọng cổ, Cải lương? Về lịch sử, vào khoảng năm 1885, khi Vua Hàm Nghi xuất bôn, một nhạc quan của triều đình Huế là Nguyễn Quang Đại (Nam Bộ gọi là Ba Đợi) vào Nam Kỳ ở vùng Đa Kao, Sài Gòn, rồi xuống miệt Cần Đước, Cần Giuộc (tỉnh Chợ Lớn) rồi lại trở lên sống và qua đời tại Hộ 16 (quận 8, TP.HCM) ngày nay. Ông dạy, phổ biến nhạc lễ, nhạc tài tử, có cải biên, các thế hệ học trò của ông rất đông ở nhiều nơi, nhiều người nổi danh như: Sáu Thới (thầy giáo của Giáo Thinh), Năm Xem (ông ngoại nhạc sĩ Hai Biểu), Ba Đồng (Chợ Lớn), Út Lăng (Bình Dương), lớp sau đó: Tư Huyện, Bảy Hàm, Tư Tụi, Văn Vĩ, Sáu Thoàn…
 
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, ở Nam Bộ đã hình thành 2 nhóm ca nhạc tài tử và tranh đua với nhau về nghệ thuật, ra sức cải tiến, nâng cao sáng tác thêm nhiều bài bản mới bổ sung vào. Trưởng nhóm miền Tây là ông Trần Quan Quờn (Ký Quờn), trưởng nhóm miền Đông là ông Ba Đợi (Nguyễn Quang Đại). Ông Ba Đợi có công lớn, đã cùng các văn nhân và học trò giỏi ra sức nghiên cứu, cải biên các bài bản gốc của ca nhạc Cung đình Huế, bằng cách giản dị hóa lối ấn nhịp (nhịp hội, nhịp ngoại, nhịp lơi) song vẫn tôn trọng lòng bản, để tạo một nhịp điệu hòa hợp với ngôn ngữ, phong cách của dân Nam Bộ, dễ thâm nhập vào quần chúng. Ông Ba Đợi thường nhắc nhở học trò:”Lễ phải có Nghi. Nhạc phải có Hòa. Tiếng đàn phải đủ trầm, bổng, nhặt, khoan”.
 
Nếu nhạc lễ Cung đình biểu trưng cho nền văn minh, văn hóa Phú Xuân, thi ca nhạc tài tử, cải lương biểu hiện cho văn minh, văn hóa Nam Bộ. Các nhà nghiên cứu: Sơn Nam, giáo sư Huỳnh Minh Đức, nhạc sĩ Vũy Chỗ, luật sư nhạc sĩ Tấn Nhì… đều cho rằng nhạc tài tử Nam Bộ dựa theo học thuyết âm – dương ngũ hành với ngũ cung: Giốc: Hò (Mộc), Chủy: Xự (Hỏa), Cung: Xang (Thổ), dựa trên nền tảng lễ nghĩa, đạo đức phương Đông mang trong mình cái gốc luân lý, mục tiêu đào tạo cung cách làm người. Nó vừa mang nét trang trọng cung kính của nhạc lễ vừa dịu êm ngọt ngào dễ hòa vào tâm hồn những con người vừa định cư ở vùng đất mới mà lòng không nguôi thương nhớ quê cũ làng xưa. Nó phù hợp vì rất đa dạng đáp ứng được mọi khía cạnh tình cảm con người, hoàn cảnh cuộc đời. Có đủ 4 điệu: Bắc, Hạ, Nam, Oán, 4 hơi: Xuân, Ai, Đào, Ngự, chia ra 3 Nam, 6 Bắc, 4 Oán, 7 Bài (Ngự)… Vẫn bản nhạc đó, người ta chỉ cần thay lời mới là sát hợp trong mọi hoàn cảnh: quan, hôn, tang, tế, biệt ly, thất tình, thất sủng… nên rất đắc dụng, nên tồn tại và phát triển hàng thế kỷ nay và sẽ lưu truyền mãi mãi. Vì nó là tiếng lòng.
 
Mục đích của các bạn đờn ca tài tử là phục vụ vô tư cho các lễ hội, đình ám, đám cưới, đám giỗ, buổi tiễn đưa tân binh, đơn vị bộ đội lên đường đánh giặc… không vụ lợi, không cần thù lao, gọi là “giúp vui”, mang tính cộng đồng sâu sắc, bình đẳng giữa mọi người. Ai biết đờn thì đờn, biết ca thì ca, một bài cũng được, thậm chí đờn ca có lỡ “rớt” nhịp cũng chẳng ai chê cười mà còn động viên cố gắng. Những người không biết đờn ca, đủ cả trẻ già trai gái, cả người đi đường thích thì tham gia, cũng tự nhiên đến ngồi nghe với thái độ chăm chú thưởng thức càng động viên các tài tử ca đờn càng hay hơn, nếu lâu lâu có bánh trái, trà lá bồi dưỡng cho ban tài tử càng tốt. Ban tài tử nào, ở ấp, xã nào cũng có đông đảo khán, thính giả trung thành. Cuộc chơi không hạn định giờ giấc. Đến khuya, khi mọi người cảm thẩy thỏa mãn thì chia tay ra về, hẹn lại vào buổi tối hôm sau.
 
Cứ như vậy thành lệ. Không ai bảo ai, hàng ngày làm lụng vất vả trên đồng ruộng, hoặc có chuyện đi xa, đến chiều phải tranh thủ về để kịp có mặt tham gia hoặc thưởng thức buổi đờn ca tài tử. Năm này tháng nọ cũng lặp lại những bài bản cũ – lâu lâu mới có lời ca mới – nhưng người đờn lẫn người nghe vẫn không ai thấy chán, mà trái lại họ như bị ghiền (nghiện) không có không được. Thỉnh thoảng, để “thay đổi không khí” vài người giỏi chữ nghĩa, nắm vững bài bản vừa sáng tác vừa ca, gọi là “Văn sống” rất được hoan nghênh. Nhiều nam, nữ thanh niên sáng dạ nghe riết thuộc lời, thuộc giọng, được vào ca, được truyền nghề. Ông Trượng – Tiên Bửu, Bùi Kiệm – Nguyệt Nga, Lan – Điệp, Tôn Tẫn giả điên… là những bài vỡ lòng. Mỗi người tự giác rèn luyện tiếng đờn, lời ca cho thêm trau chuốt ngọt ngào.
 
Ở Cần Giuộc, xóm ấp nào cũng có ban đờn ca tài tử, nòng cốt từ những người giỏi đờn ca tập hợp lớp trẻ làm thầy truyền nghề trực tiếp. Khi có lực lượng đờn ca khá, ai cũng muốn thi thố tài năng bằng cách mở rộng giao lưu với ban nhạc các ấp, xã khác. Bí quyết chắc thắng là phải vững nhịp mới tránh được “nhịp lọt” khỏi bị rớt khi gặp đối thủ có bản lĩnh đờn nhử, đờn phá. Ở Cần Đước có Sáu Nữa nổi tiếng đờn nhịp lọt.
 
Thú chơi đờn ca tài tử còn vì phong cảnh hữu tình, gợi cảm, gần với thiên nhiên. Ngoài số cuộc chơi ở các lễ hội đình đám ngồi bộ ván trải chiều bông nghiêm trang, phần nhiều các ban ca nhạc tài tử thích chơi giữa cảnh trời trăng mây nước. Có thể dưới bóng mát gốc me, gốc xoài, gió lộng, trên gò đất cao cạnh ao làng được bao bọc bốn bề là đồng lúa xanh tươi, vàng rực. Hay trên chiếc thuyền trôi xuôi êm ả theo dòng nước lồng lộng trăng rằm, nên thơ tĩnh mịch, tiếng lá dừa nước hai bên bờ rì rào dịu êm như nền nhạc đệm làm tăng vẻ hữu tình cho buổi đờn ca tài tử trên sông.
 
Hò ơi!… Gió đưa con buồn ngủ lên bờ, Mùng ai có trống (xin) cho ngủ nhờ một đêm!
 
Câu hò huê tình nhẹ nhàng có ý trêu chọc bâng quơ của chàng thanh niên nào đó thường cũng là câu mở đầu đánh giá cho bài ca Văn Thiên Tường, Trường Tương Tư, hay vọng cổ Tình anh bán chiếu… Tiếng đời, lời ca ngân nga hòa quyện vào làn gió lan tỏa mãi trên mặt sông đầy.
 
Ở nông thôn Nam Bộ, việc biết đờn ca tài tử như là lẽ đương nhiên. Trên đường đi câu, đi cấy gặt lúa, nhất là khi chèo xuồng một mình trên sông rộng, hay chống xuồng ba lá thanh thoát giữa rừng rậm U Minh hoặc trong mênh mông đồng nước Tháp Mười, không ai giấu nổi tình cảm trắc ẩn riêng tư. Những bài ca vọng cổ nằm lòng, bài ruột sẽ được trào dâng, thậm chí có bài nội dung không dính dáng gì với hoàn cảnh thực tại vẫn ca “chay” (không có đệm đờn) vẫn phóng khoáng lời ca có sức truyền cảm lạ lùng. Không có ai nghe thì ca cho “mình ên” nghe cho đã. Vì “nghệ sĩ” trước tiên là người thưởng thức sản phẩm của chính mình.
 
“Nhìn trời hiu quạnh rừng đêm sương gió lạnh; hướng quê nhà lòng thêm chạnh nỗi niềm riêng”… Sầu vương biên ải, nói lên tâm trạng người chiến binh đồn trú nơi biên cương nhớ quê nhà. “Hận sông Gianh” rất được thường dùng khi đất nước còn nỗi đau chia cắt hai miền Nam – Bắc. Lãng mạn cách mạng không gì qua bài “Dệt chặng đường xuân” ca ngợi anh chị giao liên lạc quan trong gian khổ hy sinh, ngày đêm như con thoi khắp sông rạch, đồng bưng của khu Tây Nam Bộ kiên cường hết lòng đánh giặc. Thời đánh Mỹ, nhiều cán bộ, chiến sĩ Giải phóng quân súng đạn oằn vai trên đường hành quân ra trận vẫn mở radio bỏ túi nghe 6 câu vọng cổ “Long An xanh màu lá mạ” trong cảnh bom đạn Mỹ tàn phá quê hương, “Bài ca Trường Sơn” nỗi lòng người con An Giang Nam Bộ đang đứng trên đỉnh Trường Sơn thương nhớ về Bảy Núi quê nhà mà khắc ghi mối căm thù, tự động viên mình, động viên đồng đội quyết chiến quyết thắng.
 
Lời ca của bản Vọng cổ cũng được trau chuốt, súc tích trữ tình như thơ. Cô giao liên đưa “chiến sĩ qua sông Sài Gòn như chở trăng mây trời” sang sông. Chị du kích “sau đợt chống càn, bầu sữa căng, về nhà cho con bú không quên hái bông sen hồng mọc lên trong hố bom đìa” giành tặng con yêu. Anh hùng đến độ lạ thường. Coi việc đánh giặc như nhổ cỏ bắt sâu hàng ngày ở vườn cà, ruộng lúa… Vọng cổ tài tình như vậy, chính trị, triết lý, đạo lý nhân bản sâu sắc thời đại.
 
Bởi vậy, không chỉ giới công, nông, binh mà cả giới trí thức gần thế kỷ nay ở Nam Bộ rất yêu thích và tham gia học đời ca tài tử, cải lương. Những học trò nổi danh của thầy Ba Đợi, thầy Sáu Lầu có nhiều thầy thông, thầy ký, đốc học, hương chức hội tề. Vì đờn ca tài tử vừa bình dân, vừa cao cấp, vừa gần gũi, vừa thâm sâu, lời ca quyện chặt tiếng đờn, tiếng nâng bổ lời ca mang theo cả tâm hồn nghệ sĩ, người thưởng thức. Tôi đã được nghe các ban, các CLB đờn ca tài tử của các huyện, thị ở Long An, CLB đờn ca tài tử thị xã Cà Mau, CLB đờn ca tài tử Cao Văn Lầu – thị xã Bạc Liêu… cây đờn ghi ta điện phím lõm có xôm tụ, nhưng không thay được các cây đờn: Cò, Kìm, Tranh, Sến cổ truyền vẫn luôn là chủ đạo.
 
 
Giáo sư Trần Văn Khê đã có nhận xét rất chính xác: “… chân phương hoa lá trong bài vọng cổ đã được áp dụng một cách thần tình. Hoa chẳng những đẹp mà còn thơm. Lá chẳng những xanh mà còn tươi. Thành ra bản Vọng cổ có cái tươi mát, cái đẹp đẽ, có cái phong phú, cái dồi dào mà sức sống, sức đóng góp của tất cả những người nghệ sĩ, từ đứa con của bác Sáu Lầu sáng tạo, nuôi dưỡng cho nó lớn lên mạnh mẽ, nó đẹp đẽ…” Đó chính là ma lực, sức hấp dẫn, làm say mê lòng người, ai biết qua rồi khó lòng bỏ được. Vì nó là bản sắc văn hóa Nam Bộ, văn hóa Việt Nam./.
 
Theo Thoangsaigon.com

Nhạc sư VĨNH BẢO : Nhạc tài tử nam bộ


NHẠC TÀI TỬ NAM BỘ.

(Ghi nhanh của Vĩnh-Bảo)

vinh bao

 

Ai ai cũng nhìn nhận việc Bảo tồn, phát triển, kế thừa Di sản quý báu Ông Cha ta đã sáng tạo, thể nghiệm, lưu lại cho chúng ta là nhu cầu tất yếu . Nhưng việc làm này không đơn giản như một số người ngoại đạo lầm tưởng .

Giáo dục âm nhạc truyền thống qua cái thấy của tôi như sau đây trong hiện nay đưa cho tôi nhiều trăn trở .

Nội cái việc làm sao cho giới trẻ ngày nay thấy được cái hay, cái đẹp của nó để cùng học hỏi, góp sức giữ gìn nó là một cái khó trước sư du nhập ồ ạt của nhạc nước ngoài .

Người nhạc sĩ nhạc tài tử nam bộ có thể ví như con của nhiều cha . Bản đàn chưa thống nhứt . Cách ghi chép bản mỗi ông mỗi kiểu. Cách giảng dạy mỗi ông mỗi khác. Học trò của ông thầy A sang học với ông thầy B, tự mình bắt buộc phải bỏ hết hay một phần những gì đã học với ông thầy A. Không như bên nhạc Tây phương , chuyển đổi thầy từ ông thầy A sang ông thầy B không ảnh hưởng gì nhiều đến những gì đã học với ông thầy A bởi ông thầy A và ông thầy B, hai ông phương pháp giảng dạy na ná như nhau .

Nhạc Tài Tử vẫn có mọc lên nhiều « lò » từ thành thị đến thôn quê, nhưng lối dạy và học rất là « tài tử », nghĩa là phần đông ông thầy của các lò này không có giáo án hẳn hòi, thời khóa biểu, người học được tự do đến nhà ông thầy để học. Ông thầy rảnh thì dạy, bận việc thì dời lại ngày giờ khác. Nhiều thầy không dạy từ dễ đến khó, mà là dạy theo yêu cầu của người học.

Rất nhiều việc cần phải được mổ xẻ . Tôi nghĩ các nhạc sư nhạc sĩ nên ngồi lại với nhau để thống nhứt với nhau trong việc làm này .

Vĩnh Bảo

 

 

GS Trần Văn Khê nói về bảo tồn, phát triển đờn ca tài tử


GS Trần Văn Khê nói về bảo tồn, phát triển đờn ca tài tử

08:15 SA, 03/02/2014

(Chinhphu.vn) – Sau khi được UNESCO nhìn nhận là một Di sản phi vật thể đại diện nhân loại, đờn ca tài tử không thể phát triển theo chiều hướng hiện nay. Các nghệ nhân, nhứt là những người cao niên phải được chánh quyền, các cơ quan hữu trách… chăm sóc để đem hết hiểu biết của mình truyền lại cho giới trẻ, các nghệ nhân phải được tôn vinh như một di sản quí.
 
GS.TS Trần Văn Khê

Nhạc tài tử được phát triển mạnh ở miền Nam một phần là nhờ có khá nhiều lò dạy được mở ra ở khắp lục tỉnh và Sài Gòn. 

Vào thập kỷ 40 và 50 thế kỷ trước, các lò dạy mới bắt đầu phổ biến, nhất là tại Sài Gòn, do các nghệ sĩ từ tỉnh lên phụ trách. Những lò nổi tiếng thời bấy giờ như các lò của nghệ sĩ Chín Phàng (từ Long An), Hai Đậu (từ Tiểu Cần, Trà Vinh), Năm Lòng và Năm Được (từ Cần Giuộc). 

Các lò lớn nhất, nhiều uy tín, và đào tạo nhiều danh ca, danh cầm nhất có thể kể đến là lò Văn Giỏi và Tấn Đạt. Các nghệ nhân nổi tiếng như Sáu Thới, Năm Xem, Ba Đồng, Út Lăng, Tư Huyện, Tư Tụi, Sáu Thoàn, Văn Vĩ, Mười Đờn, Năm Vinh, Ba Trung, Sáu Xiếu và Nguyễn Văn Thinh cũng có nhiều đóng góp cho việc phát triển nàỵ

Trong những năm gần đây, chính quyền địa phương các tỉnh và huyện ở miền Nam đã cố gắng khôi phục lại các lớp dạy đờn ca tài tử cũng như tổ chức các liên hoan đờn ca tài tử cấp tỉnh hoặc liên tỉnh. Ở hải ngoại cũng đã và đang có nhiều cố gắng khôi phục lại thể loại nhạc thính phòng này của Việt Nam; nhưng hầu hết vẫn còn rời rạc và thiếu sự bảo trợ về mặt tổ chức cũng như tài chánh …

Do chịu ảnh hưởng của sự du nhập nhạc Tây phương, các phương tiện thông tin hiện đại và một số nhận thức sai lạc của người dân về đờn ca tài tử nên thể loại nhạc thính phòng đặc sắc của Việt Nam này đang mất lần tính chính thống. Nhiều nơi đã thay đổi không gian thính phòng của đờn ca tài tử để diễn viên hòa nhạc và hòa ca trong không gian sân khấu – nơi mà người nghe và người diễn bị tách biệt. Nhiều chương trình nặng phần trình diễn, chú trọng nhiều đến phần ca hơn là hòa đàn. Thậm chí người ca hoặc người đàn còn học thuộc lòng các bài bản ký âm theo phương Tây một cách chi tiết; và do đó làm mất đi tính ứng tác, tính ngẫu hứng đặc trưng của nghệ thuật đờn ca tài tử truyền thống.

Mặc dầu về mặt thang âm điệu thức giữa âm nhạc cải lương và âm nhạc của đờn ca tài tử không có ranh giới rõ rệt, nhưng với cùng một làn điệu, cùng một bản đàn, lối ca và hòa tấu nhạc tài tử có một số khác biệt với lối ca và hòa tấu nhạc trên sân khấu cải lương. Do không bị hạn chế vào việc diễn xuất và kịch bản sân khấu, người nghệ sĩ của nhạc tài tử có nhiều thuận lợi hơn trong việc ứng tác và chơi ngẫu hứng.

Xuất phát từ việc nhận thức được tầm quan trọng của nhạc đờn ca tài tử trong nền âm nhạc truyền thống Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung, ngày nay đã có khá nhiều nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học ở trong và ngoài nước đang tìm cách sưu tầm và hệ thống hóa các bài bản của nhạc tài tử, nghiên cứu thang âm điệu thức, phương pháp ký âm … Một số nhạc sĩ cũng đang tìm cách sáng tác thêm các bài bản mới để góp phần vào số lượng bài bản đang thịnh hành hiện nay.

Từ lâu, Nhạc viện Hà Nội – Huế và TP.HCM đều có dạy âm nhạc truyền thống cả 3 miền theo phong cách ký âm phương Tây. Các sinh viên tuy biết qua âm nhạc cả 3 miền nhưng với cách dạy bài bản theo đô rê mithì sinh viên chỉ biết được nét nhạc chính xác, nhưng khi gặp gỡ nghệ nhân đờn ca tài tử thì không biết cách phối khí tập thể tại chỗ và ngẫu hứng trong lúc biểu diễn.

Do đó, sinh viên Nhạc viện muốn sinh hoạt trong xã hội đều phải tìm nghệ nhân học riêng. Trong lúc nước nhà còn chìm trong khói lửa, bao nhiêu nghị lực đều để vào việc chống ngoại xâm, văn hoá bị chìm trong bóng tối, sau ba chục năm chiến tranh, số thanh niên biết đờn ca tài tử càng ít. Khi hoà bình lập lại các Sở Văn hoá Thông tin tuần tự tổ chức lại việc học đờn ca tài tử và nhiều nơi đã bắt đầu thành lập những câu lạc bộ, trong đó thành viên có dịp học đờn ca và biểu diễn.

Lâu dần, số câu lạc bộ tăng lên, những dàn đờn ca tài tử tập họp những người mộ điệu nhưng khi biểu diễn thì lại quá chú trọng về việc đờn đúng hơi đúng nhịp nhưng mỗi người tự đờn bè của mình mà không có tinh thần chơi đờn tài tử như xưa, không còn những câu buông, câu bắt, vào nhịp ra nhịp … người đờn chung trong một dàn nhạc như đối thoại với nhau mà tất cả ngồi đờn nét mặt nghiêm túc, để lúc dứt bản nhận được tràng pháo tay và đôi khi một phong bì, như vậy thì đờn tài tử trong giai đoạn phát triển gần đây đã mất chất tài tử mà biến thành một tiết mục biểu diễn trên sân khấu hoặc trong các đài phát thanh truyền hình thì đờn ca tài tử đã bị sân khấu hoá.

Các công ty du lịch cũng tạo ra những dàn nhạc tài tử để phục vụ du khách, phần lớn là người nước ngoài. Trong vòng 15 phút làm sao có thể biểu diễn đờn tài tử cho ra hồn, cho xuất thần được ? Khách đến nghe cũng không phải người đồng điệu, chỉ là một người xa lạ khám phá một lối nhạc mà họ chưa nghe bao giờ với một tính tò mò tìm hiểu thì việc tổ chức rất nhiều dàn nhạc như vậy chỉ nhắm vào số lượng, còn chất lượng càng kém đi rất nhiều.

Tôi cùng thông cảm hoàn cảnh khó khăn của những người chơi đờn ca tài tử. Trong xã hội ngày nay trước hết cũng phải lo cơm ăn áo mặc rồi mới tới việc phụng sự nghệ thuật.

Sau khi được UNESCO nhìn nhận là một Di sản phi vật thể đại diện nhân loại, đờn ca tài tử không thể phát triển theo chiều hướng hiện nay. Các nghệ nhân, nhứt là những người cao niên phải được chánh quyền, các cơ quan hữu trách … chăm sóc để đem hết hiểu biết của mình truyền lại cho giới trẻ, các nghệ nhân phải được tôn vinh như một di sản quí. Người nghệ nhân tận tuỵ với âm nhạc truyền thống ở Nhựt được huy hiệu “Quốc Gia Chi Bảo”, ở Ấn Độ được vinh danh “Padma Shri” và hưởng lộc đến cuối đời. Trong nước ta cũng có những danh hiệu “Nghệ sĩ Nhân dân”, “Nghệ sĩ Ưu tú”… nhưng còn ít nghệ nhân dân gian được phong những danh hiệu đó.

Hội Văn nghệ dân gian hằng năm có phát bằng “Nghệ nhân Dân gian” cho những nghệ nhân tận tuỵ với nghề, chứ không thể giúp nghệ nhân sanh sống nhờ tài nghệ của mình, thường thì các nghệ nhân phải kiếm một nghề khác để sống, việc dạy nhạc dân tộc không đủ để trang trải các chi phí trong cuộc sống.

Nên phổ biến đờn ca tài tử không phải chỉ trong những cuộc lễ hội mà có thể tổ chức những buổi đờn ca tài tử có giải thích cho học sinh các trường tiểu học, trung học. Các phương tiện truyền thông nên dành một số thời gian thuận lợi để giới thiệu đờn ca tài tử. Báo chí cũng nên có một trang dành riêng cho sự trao đổi giữa nghệ nhân, nghệ sĩ và người hâm mộ đờn ca tài tử.

Các xưởng đóng đờn ngoài việc tạo ra những nhạc khí cao cấp vừa đẹp vừa có âm điệu tốt, nên tạo ra những nhạc khí trung bình với mức giá phải chăng để người mới vào nghề hoặc những học sinh mới tập sự có thể mua được.

Những doanh nghiệp lớn có thể tổ chức hàng năm những cuộc liên hoan đờn ca tài tử để các câu lạc bộ từ nhiều tỉnh gặp nhau, trao đổi kinh nghiệm. Dân chúng có dịp thưởng thức tài nghệ của nhiều nhạc sĩ và coi đó là một phương tiện giải trí có tính cách văn hoá.

Công việc giữ gìn và phổ biến đờn ca tài tử không phải chỉ riêng những người chuyên môn, mà mọi người, nhứt là chánh quyền nên chung tay, tạo mọi điều kiện thuận lợi và dân chúng cũng nên hưởng ứng bằng cách tham dự những buổi sinh hoạt đó.

GS.TS Trần Văn Khê

http://baodientu.chinhphu.vn/Van-hoa-The-thao/GS-Tran-Van-Khe-noi-ve-bao-ton-phat-trien-don-ca-tai-tu/192122.vgp

NGUYỄN VŨ THÀNH ĐẠT : Đờn ca tài tử – dấu ấn đất phương Nam


24/01/2014 11:15 GMT+7EmailPrintLike0  

  

Đờn ca tài tử – dấu ấn đất phương Nam

Từ lâu, nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ đã ăn sâu vào đời sống văn hóa và tinh thần của người dân đất phương Nam. Ngày 5/12/2013, nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam chính thức được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Và đây cũng là lần đầu tiên, một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống ở Nam Bộ được công nhận là di sản thế giới.
«
    
         Nghệ thuật đờn ca tài tử đạt đủ các tiêu chí để trở thành Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại do UNESCO đề ra, đó là: Tầm ảnh hưởng văn hóa rộng lớn, giá trị nghệ thuật độc đáo, không nhầm lẫn với bất cứ loại hình âm nhạc nào khác và quan trọng nhất là nó có sức sống mãnh liệt, hiện vẫn đang phát triển mạnh mẽ tại các tỉnh thành Nam Bộ.
»
Khám phá điệu dân ca đất phương Nam
Nhắc đến đờn ca tài tử, người ta thường nghĩ ngay đến loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc, được xem như một thứ “đặc sản” riêng có của người Nam Bộ. Người dân đất phương Nam có thể chơi đờn ca tài tử ở bất cứ nơi đâu, vào bất cứ thời điểm nào và đặc biệt là ai cũng có thể chơi, không phân biệt giàu sang, gái trai hay già trẻ. Chính vì vậy đờn ca tài tử có thể xuất hiện trong những bữa trà dư tửu hậu, trong những đêm trăng thanh gió mát ở các miệt vườn, trên những con thuyền trôi lững lờ dưới dòng kênh xanh, hay những dịp cúng tế, cưới hỏi, ma chay, gỗ chạp…Theo các nhà nghiên cứu, đờn ca tài tử xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, có nguồn gốc từ Nhã nhạc cung đình Huế, và sớm trở thành loại hình âm nhạc dân gian truyền thống mang đậm sắc thái âm nhạc bình dân của miền sông nước Nam Bộ. 

Chữ “tài tử” trong đờn ca tài tử dùng để chỉ người nghệ nhân giỏi về cổ nhạc, có biệt tài về đàn và ca, chứ không có nghĩa là “nghiệp dư”. Điều này còn có nghĩa, các “tài tử” không dùng nghệ thuật của mình để làm kế sinh nhai mà chỉ chơi khi vui hay lúc ngẫu hứng, nếu không hứng thì thôi, không ai có thể bỏ tiền ra mua được tiếng đàn của họ. Tuy vậy, trình độ của các “tài tử” đúng nghĩa lại không hề thấp khi họ phải trải qua thời gian luyện tập rất công phu và luôn tạo cho mình một phong cách riêng. Nghệ thuật đờn ca tài tử không có trang phục biểu diễn riêng, các “tài tử” thường cũng không câu nệ về trang phục, chỉ khi tham gia trình diễn ở đình, miếu hoặc trên sân khấu họ mới chú ý tới ăn mặc sao cho phù hợp với không gian trình diễn là được. 
 


Du khách thưởng thức biểu diễn đờn ca tài tử Nam Bộ ở ngôi nhà cổ Cai Cường
(xã Bình Hòa Phước, huyện Long Hồ, Vĩnh Long). Ảnh: Nguyễn Luân

Một buổi biểu diễn đờn ca tài tử phục vụ du khách trong không gian vườn cây ăn trái ở tỉnh Bạc Liêu. Ảnh: Lê Minh


Một buổi biểu diễn đờn ca tài tử tại Lễ hội Văn hóa người Hoa ở Tp. Hồ Chí Minh. Ảnh: Lê Minh


Các loại nhạc cụ dùng trong biểu diễn đờn ca tài tử như:
(từ trái qua) đàn guitale, đàn đáy, đàn tỳ bà, đàn sến 3 dây, đàn gáo, đàn cò, đàn nguyệt,  đàn tranh. Ảnh: Lê Minh

Theo GS Trần Văn Khê, người đã dành trọn đời để giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam nói chung và đờn ca tài tử Nam Bộ nói riêng với thế giới, đầu thế kỷ XX nghệ thuật đờn ca tài tử phát triển rất mạnh, nhanh chóng lan tỏa khắp xứ Nam Kỳ lục tỉnh. Đặc biệt, lúc bấy giờ nhờ có sự giao lưu và thi đua giữa các nhóm tài tử nên không chỉ kỹ thuật đờn, ca được nâng cao mà việc ghi chép, hệ thống hoá các bản nhạc cổ cũng ngày càng được hoàn thiện. Thời bấy giờ, làng đờn ca tài tử Nam Bộ nổi lên rất nhiều tên tuổi lớn, tiêu biểu như các nghệ nhân: Nguyễn Quang Đại (tức Ba Đợi) ở Long An, Trần Quang Quờn (Ký Quờn) ở Vĩnh Long, Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền ở Cần Thơ, Lê Tài Khí (tức Nhạc Khị) và nhà sư Nguyệt Chiếu ở Bạc Liêu… Những người này đã có công lớn trong việc thúc đẩy nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ phát triển rực rỡ trong nửa đầu thế kỷ XX.Nhạc khí chính trong đờn ca tài tử là đàn kìm (đàn nguyệt), đàn cò, đàn tranh và đàn bầu, tục gọi là “tứ tuyệt”. Vào khoảng năm 1930 có thêm cây đàn guitare phím lõm, violon, guitare hawaii. Bên cạnh đó còn có song lan (còn gọi là song loan) dùng để đánh nhịp. Theo truyền thống, ít khi nhạc công độc tấu mà thường song tấu đàn kìm và đàn tranh với tiếng “thổ” pha tiếng “kim”, hoặc tam tấu (kìm, tranh, cò), đôi khi có ống sáo thổi ngang hay ống tiêu thổi dọc. Khi biểu diễn, phần hay nhất của đờn ca tài tử là phần rao của tài tử đàn và nói lối của tài tử ca để lên dây đàn và gợi cảm hứng cho bạn diễn, tạo không khí cho dàn tấu. Ngoài ra, do biểu diễn ngẫu hứng, các tài tử ca thường cải biên đi theo cách riêng sau khi dựa trên bản nhạc gốc truyền thống. Chính những điều này đã tạo nên nét mới lạ và sức hấp dẫn đối với người nghe khi thưởng thức đờn ca tài tử.

Tuy có nhiều bài bản khác nhau nhưng về tổng thể, đờn ca tài tử có 20 bài tổ được gọi là “nhị thập huyền tổ bản” cho 4 hơi điệu, bao gồm: 6 bài Bắc (diễn tả sự vui tươi, phóng khoáng), 7 bài Hạ (dùng trong tế lễ, có tính trang nghiêm), 3 bài Nam (diễn tả sự an nhàn, thanh thoát) và 4 bài Oán (diễn tả những cảnh sầu não, đau buồn, chia ly). Sau này còn phát triển thêm 8 bài Ngự, 10 bài Liên hoàn cùng rất nhiều dị bản và các bản mới do các nhạc sư, nghệ sĩ tài năng sáng tác. 

Trải qua hơn một thế kỷ, đờn ca tài tử vẫn tồn tại và phát triển vững bền, trở thành một món ăn tinh thần thường nhật, và cũng là “đặc sản” của người Nam Bộ dùng để đãi du khách khi về với miền sông nước phương Nam. 

Sức sống mãnh liệt của đờn ca tài tử
Khác với nhiều loại hình dân ca, nghệ thuật đờn ca tài tử có một sức sống mãnh liệt. Không chỉ người trong nước mà cả du khách nước ngoài khi đến Việt Nam cũng rất thích thưởng thích bộ môn nghệ thuật này bởi tính dân dã, gần gũi, mùi mẫn và độc đáo của nó.

GS Trần Văn Khê cho biết, năm 1963, ông đã nhờ nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba thu một đĩa đờn ca tài tử để giới thiệu với UNESCO. Năm 1972, ông gửi tiếp cho UNESCO một đĩa thu âm đờn ca tài tử thứ hai do chính mình và nhạc sư Vĩnh Bảo cùng trình tấu. Ngoài ra, cơ quan truyền thông Cocora Radio France của Pháp cũng đã mời GS Trần Văn Khê, nhạc sư Vĩnh Bảo (năm 1972) và nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng (năm 1994) ghi âm hai đĩa đờn ca tài tử khác và cả hai đĩa này đều nằm trong danh sách đĩa nhạc bán chạy nhất nước Pháp, được nhận giải Phê bình âm nhạc trong năm phát hành. 

Chúng tôi tìm về Bạc Liêu, địa phương có phong trào đờn ca tài tử phát triển rất mạnh ở Nam Bộ và cũng là quê hương của soạn giả Cao Văn Lầu, tác giả của bản “Dạ cổ hoài lang”, một di sản mang tính biểu tượng của làng đờn ca tài tử tỉnh Bạc Liêu.
 


Nhạc hội đờn ca tài tử Tp. Hồ Chí Minh 2011 đã thu hút 126 tài tử
đến từ các CLB đờn ca tài tử tại Tp.HCM và nhiều tỉnh Nam Bộ về tham gia tranh tài và biểu diễn. Ảnh: Lê Minh

Các nghệ sĩ Hoàng Long – Thanh Thảo (Trung tâm văn hóa huyện Củ Chi, Tp. Hồ Chí Minh)
biểu diễn một trích đoạn tại Nhạc hội đờn ca tài tử Tp. Hồ Chí Minh 2011. Ảnh: Lê Minh


GS. Trần Văn Khê giao lưu với khán giả yêu đờn ca tài tử tại Tp. Hồ Chí Minh. Ảnh: Lê Minh


Các tài tử biểu diễn tại Nhạc hội đờn ca tài tử Tp. Hồ Chí Minh 2011. Ảnh: Lê Minh



Các nghệ sĩ đờn ca tài tử thắp hương tưởng nhớ cố soạn giả Cao Văn Lầu
tại Khu lưu niệm nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ và soạn giả Cao Văn Lầu. Ảnh: Lê Minh

Một góc Khu lưu niệm nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ và soạn giả Cao Văn Lầu. Ảnh: Lê Minh


Du khách tham quan Khu lưu niệm nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ và soạn giả Cao Văn Lầu. Ảnh: Lê Minh


Lớp học đờn ca tài tử tại khoa Kịch hát dân tộc Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Tp. Hồ Chí Minh. Ảnh: Lê Minh

«     “Festival Đờn ca tài tử Việt Nam – Bạc Liêu lần thứ I/2014 là một sự kiện văn hóa lớn mang tầm quốc gia và có tính quốc tế, nhằm tôn vinh và giữ gìn cũng như phát huy giá trị nghệ thuật đờn ca tài tử, đồng thời đây là dịp để quảng bá hình ảnh, con người Bạc Liêu đến bạn bè trong nước và thế giới”.

(Ông Nguyễn Chí Thiện,
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bạc Liêu)


»

Ở Bạc Liêu, mỗi ấp, mỗi khóm, mỗi xã, mỗi phường, đến thành phố đều có câu lạc bộ đờn ca tài tử. Hiện toàn tỉnh có 227 câu lạc bộ đờn ca tài tử, với tổng số 2.143 thành viên: 475 tài tử đờn và 1.668 tài tử ca. Trong đó 55 câu lạc bộ được Nhà nước hỗ trợ trang thiết bị, dụng cụ sinh hoạt. Các câu lạc bộ luôn sinh hoạt định kỳ. Ngoài ra, hàng năm tỉnh Bạc Liêu còn tổ chức Liên hoan đờn ca tài tử nên các câu lạc bộ càng có thêm cơ hội được giao lưu biểu diễn, nâng cao trình độ chuyên môn.

Ngoài ra, hơn 10 năm nay, hàng năm, ba tỉnh Bạc Liêu – Sóc Trăng – Cà Mau cùng với một số tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ cũng thường xuyên tổ chức giao lưu, giúp cho phong trào đờn ca tài tử ở Nam Bộ có điều kiện được phát triển mạnh. 

Anh Nguyễn Quốc Minh, Giám đốc Trung tâm, kiêm Trưởng Phòng Văn hóa Tp. Bạc Liêu cho biết, lớp tập huấn cộng đồng “Hát bài Dạ cổ hoài lang (bản chuẩn) và ca vọng cổ” do Trung tâm Văn hóa Tp. Bạc Liêu tổ chức hiện thu hút rất đông học viên. Lớp học có đủ mọi lứa tuổi, có những cụ đã hơn 80 tuổi và cũng có những em mới 14, 15 tuổi… 

Em Lê Thị Thu Thảo (14 tuổi, phường Nhà Mát) tâm sự: “Em rất thích đờn ca tài tử vì từ nhỏ đã được nghe ba mẹ, cậu dì ca trong mỗi dịp sinh hoạt trong gia đình, hay những lần đi đám tiệc. Em học để biết cách lấy hơi, giữ nhịp, để lúc ca em cũng thấy tự tin hơn”.

Với những thành tựu và truyền thống đáng tự hào về quá trình phát triển đờn ca tài tử, Bạc Liêu đã được Chính phủ chọn làm nơi đăng cai Festival đờn ca tài tử Việt Nam lần đầu tiên. Liên hoan sẽ diễn ra vào tháng Tư năm 2014 với chủ đề “Đờn ca tài tử – Tiếng lòng người phương Nam”. 

Để chuẩn bị cho sự kiện này, ngoài việc tiếp tục thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy phong trào đờn ca tài tử, Bạc Liêu đã tiến hành xây dựng và tu sửa 26 công trình trọng điểm, điển hình như: Khu lưu niệm nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu; Trung tâm Triển lãm Văn hóa – Nghệ thuật và Nhà hát Cao Văn Lầu; Quảng trường Hùng Vương… 

Theo kết quả thống kê mới nhất, phong trào đờn ca tài tử hiện đã phát triển đến 21 tỉnh thành trên cả nước, với 2.258 câu lạc bộ và 13.800 người tham gia, người trẻ nhất 6 tuổi, già nhất 99 tuổi. 

Bên cạnh phong trào đờn ca tài tử đang phát triển sôi nổi ở khắp các tỉnh, thành Nam Bộ, việc nghiên cứu và đào tạo nghệ thuật đờn ca tài tử theo hướng chuyên nghiệp, bài bản cũng đang được quan tâm, đầu tư mạnh mẽ. Và Tp. Hồ Chí Minh chính là trung tâm đào tạo và nghiên cứu đờn ca tài tử lớn nhất của cả nước. Tại đây, hiện có hai đơn vị có thể đào tạo ra những nghệ sĩ đờn ca chuyên tài tử chuyên nghiệp là Khoa Âm nhạc dân tộc của Nhạc Viện Tp. Hồ Chí Minh và Khoa Kịch hát dân tộc của trường Đại học Sân khấu Điện ảnh. Ngoài ra còn có nhiều lớp đờn ca tài tử do các Nhà văn hóa ở thành phố, quận, huyện và của các nghệ nhân mở ra để dạy cho những người yêu thích bộ môn nghệ thuật này. 

Có thể nói, đờn ca tài tử chính là “hồn cốt” trong di sản văn hóa Nam Bộ. Nó không chỉ là loại hình nghệ thuật thể hiện đậm nét văn hóa, cũng như tính cách giản dị, gần gũi, phóng khoáng và giàu tình cảm của người dân đất phương Nam, mà còn cho thấy đây là một loại hình nghệ thuật có khả năng lôi cuốn và gắn kết cộng đồng rất cao, nhờ đó mà nó luôn có một sức sống mãnh liệt, trường tồn với đời sống văn hóa của dân tộc./.

Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt – Ảnh: Lê Minh, Nguyễn Luân

Sự gắn kết cộng đồng trong NT đờn ca tài tử Nam Bộ: Đờn ca, hòa đờn, hòa ca…


Văn hóa / Văn hóa nghệ thuật /


Sự gắn kết cộng đồng trong NT đờn ca tài tử Nam Bộ: Đờn ca, hòa đờn, hòa ca…

18/09/2013 08:34:19

 

Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ (thường gọi là đờn ca tài tử) đã được hình thành trên vùng đất Bạc Liêu cách nay hơn một trăm năm. Hay nói đúng hơn là âm nhạc tài tử ra đời đã gắn liền với quá trình khẩn hoang, lập ấp đến xây dựng thiết chế làng, xã của vùng đất Bạc Liêu.

Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định: Đờn ca tài tử Nam Bộ là kết quả của sự hội tụ dòng chảy âm nhạc từ nhiều vùng, miền khác nhau của Nam Bộ… Chính từ nguồn gốc của sự hình thành phong trào đơn ca tài tử Nam Bộ đã biểu hiện rõ đặc trưng của văn hóa cộng đồng ngay trong loại hình nghệ thuật này. Có thể nói, vùng đất Nam Bộ nói chung, Bạc Liêu nói riêng, ở đâu có đình làng thì ở đó có nhạc lễ và nơi đâu có dân cư sinh sống là nơi đó có sinh hoạt đờn ca tài tử…

 

 

Nghệ nhân Bạch Huệ ca bản Dạ cổ Hoài lang tại hội thảo “90 năm bản Dạ cổ Hoài lang”

Như vậy, tính cộng đồng được thể hiện ngay từ các cụm từ nói về đờn ca tài tử Nam Bộ như: đờn ca, hòa đờn, hòa ca… Hai chữ đờn ca không thể tách rời nhau. Có đờn thì mới có ca, ca thì phải có đờn, ca mà không có đờn thì không thể ca được.

Hòa đờn được thể hiện từ ban nhạc, mà ban nhạc thì phải có ít nhất từ hai loại nhạc cụ khác nhau trở lên thì mới gọi là hòa đờn. Còn hòa ca thì có cả ban nhạc và ít nhất phải có một người ca thì mới biểu diễn được tiết mục hòa ca…

Bởi vì đờn ca tài tử chính là sự kết tinh của quá trình phát triển nhạc lễ Nam Bộ, do đó trong suốt quá trình hình thành và phát triển, đờn ca tài tử luôn gắn liền với tính cách của từng cộng đồng dân cư khác nhau, trong đó thể hiện rõ nhất là giọng ca và phong cách biểu diễn…

Hai chữ đờn ca không thể tách rời nhau. Có đờn thì mới có ca, ca thì phải có đờn, ca mà không có đờn thì không thể ca được. Hòa đờn được thể hiện từ ban nhạc, mà ban nhạc thì phải có ít nhất từ hai loại nhạc cụ khác nhau trở lên thì mới gọi là hòa đờn. Còn hòa ca thì có cả ban nhạc và ít nhất phải có một người ca thì mới biểu diễn được tiết mục hòa ca…

Đờn ca tài tử còn là sự gắn kết chặt chẽ giữa các thế hệ nghệ nhân đờn và ca một cách nhân bản. Đầu tiên là ông Nguyễn Quang Đại ở Long An; ông Trần Quang Quờn ở Vĩnh Long; ông Nguyễn Trọng Quyền ở Cần Thơ; ông Lê Tài Khí (còn gọi là Nhạc Khị) ở Bạc Liêu… là những người đã có công khai sáng loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ. Trong đó, Nhạc Khị là người có công rất lớn đối với đờn ca tài tử Nam Bộ trong việc canh tân, hiệu đính 20 bản tổ để 20 bản tổ trở thành hạt nhân trong dòng âm nhạc tài tử Nam Bộ ngày nay. Vì vậy mà nhiều thế hệ nghệ nhân, nghệ sĩ tôn ông là Hậu Tổ.

Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ còn là sự kế thừa mang tính truyền thống. Khi nói đến nghệ sĩ, nghệ nhân đờn ca tài tử Bạc Liêu trước đây phải nói đến Hai Thơm, Năm Nhỏ, Sáu Lầu, Năm Nghĩa, Mộng Vân, Bảy Cao… đã một thời làm ngây ngất lòng người bởi những ngón đờn điêu luyện, lối ca phá đờn, lướt nhịp, mùi mẫn, ngọt ngào…

 

Ban nhạc tài tử Nam Bộ

Hiện nay, khi nói đến đờn ca tài tử Nam Bộ ở Bạc Liêu thì chúng ta nhớ đến Ba Thành ở huyện Hòa Bình; Mộng Thu, Hoài Phương ở TP Bạc Liêu; Minh Sang, Văn Tư ở huyện Đông Hải; Ba Toại, Tư Loan, Thanh Sử ở huyện Phước Long; Minh Luận, Hoàng Dũng ở huyện Giá Rai… và nhiều tài tử đờn, tài tử ca trẻ khác được trưởng thành từ phong trào đờn ca tài tử ở cơ sở.

Nghệ thuật đờn ca tài tử Bạc Liêu được hình thành ở mỗi gia đình trước khi trở thành phong trào đờn ca tài tử của địa phương. Gia đình Minh Luận ở huyện Giá Rai; gia đình Thanh Xuân ở TP Bạc Liêu… có từ 3 đến 4 thế hệ nghệ nhân tham gia đờn ca tài tử.

Thời xưa, trong xóm nào có người biết đờn, biết ca thì một thời gian sau cả xóm đều biết đờn, biết ca và mê đờn ca tài tử. Người dạy đờn ca theo phương thức truyền nghề truyền thống. Thế hệ trước dạy thế hệ sau, không hề tính công nhưng đều gọi người dạy là thầy.

Liên hoan Đờn ca tài tử Nam Bộ 3 tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng do mỗi tỉnh luân phiên đăng cai tổ chức hằng năm, đặc biệt là được sự chấp thuận của Chính phủ, Bộ VHTTDL, tỉnh Bạc Liêu vinh dự đăng cai tổ chức Festival nghệ thuật Đờn ca tài tử Việt Nam – Bạc Liêu năm 2014 đã minh chứng cho sự gắn kết các tỉnh Nam Bộ trong quá trình xây dựng và phát triển đời sống tinh thần cho nhân dân ở mỗi địa phương.

Như vậy, đờn ca tài tử Nam Bộ là do nhiều người, nhiều vùng và nhiều thế hệ tạo nên chứkhông của riêng ai, do đó, kế thừa và phát huy truyền thống là yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát triển nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ. Đồng thời phong trào đờn ca tài tử Nam Bộ luôn gắn liền với quá trình phát triển kinh tế- xã hội của mỗi địa phương, nó luôn đổi mới phương thức hoạt động để thích ứng với điều kiện mới, chính vì vậy, nó không mất đi mà sẽ mãi mãi phát triển từ giá trị truyền thống sẵn có, bởi đờn ca tài tử Nam Bộ chính là thành tố của văn hóa và luôn luôn trở thành đặc trưng của văn hóa cộng đồng.

Nguồn: (Báo Văn hóa

http://www.kiengiangvn.vn/portal/index.php?pageid=3939&topicid=48&pagenum=1

ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ


Đờn Ca Tài Tử Nam Bộ

 ( Sưu Tầm )


Ở Nam Bộ, kể cả dân gốc gác tại chỗ hoặc những người từ xứ xa “tới đây thì ở lại đây” đều nằm lòng câu tán dương khi nghe đờn ca tài tử vọng cổ sáu câu: Ca xuống xề nghe “ngọt” quá! Đờn nghe “muồi” quá! Hai tính từ biểu cảm mang đặc thù Nam Bộ này được chuyển hóa từ trạng thái vị giác sang trạng thái thính giác ở cấp độ cao, nói lên sự khoái cảm đến say mê, cái “đã” của người thưởng thức, cái tài nghệ của nghệ sĩ và chỉ xuất hiện khoảng 80 năm nay, tức sau khi bài Dạ Cổ Hoài Lang (nay là Vọng cổ) – bài nòng cốt trong 20 bàiTổ của đờn ca tài tử ca nhạc Cải lương: Nhạc sĩ tài hòa Cao Văn Lầu sáng tác bài Dạ Cổ Hoài Lang tại quê hương Bạc Liêu (1919) – lan nhanh ra ở Nam Bộ, nay phổ biến cả nước. Nghệ sĩ nhân dân út Trà Ôn được tôn vinh là “Đệ nhất danh ca miền Nam”, “Vua vọng cổ” nổi danh từ nửa thế kỷ nay từ bài Vọng cổ. 
Tại sao người ta mê Vọng cổ, Cải lương? Về lịch sử, vào khoảng năm 1885, khi Vua Hàm Nghi xuất bôn, một nhạc quan của triều đình Huế là Nguyễn Quang Đại (Nam Bộ gọi là Ba Đợi) vào Nam Kỳ ở vùng Đa Kao, Sài Gòn, rồi xuống miệt Cần Đước, Cần Giuộc (tỉnh Chợ Lớn) rồi lại trở lên sống và qua đời tại Hộ 16 (quận 8, TP.HCM) ngày nay. Ôn dạy, phổ biến nhạc lễ, nhạc tài tử, có cải biên. Các thế hệ học trò của ông rất đông ở nhiều nơi, nhiều người nổi danh như: Sáu Thới (thầy giáo của Giáo Thinh), Năm Xem (ông ngoại nhạc sĩ Hai Biểu), Ba Đồng (Chợ Lớn), út Lăng (Bình Dương), lớp sau đó: Tư Huyện, Bảy Hàm, Tự Tụi, Văn Vĩ, Sáu Thoàn… 

Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, ở Nam Bộ đã hình thành 2 nhóm ca nhạc tài tử và tranh đua với nhau về nghệ thuật, ra sức cải tiến, nâng cao sáng tác thêm nhiều bài bản mới bổ sung vào. Trưởng nhóm miền Tây là ông Trần Quan Quờn (Ký Quờn), trưởng nhóm miền Đông là ông Ba Đợi (Nguyễn Quang Đại). Ông Ba Đợi có công lớn, đã cùng các văn nhân và học trò giỏi ra sức nghiên cứu, cải biên các bài bản gốc của ca nhạc Cung đình huế, bằng cách giản dị hóa lối ấn nhịp (nhịp hội, nhịp ngoại, nhịp lơi) song vẫn tôn trọng lòng bản, để tạo một nhịp điệu hòa hợp với ngôn ngữ, phong cách của dân Nam Bộ, dễ thâm nhập vào quần chúng. Ông Ba Đợi thường nhắc nhở học trò:”Lễ phải có Nghi. Nhạc phải có Hòa. Tiếng đàn phải đủ trầm, bổng, nhặt, khoan”. 

Nếu nhạc lễ Cung đình biểu trưng cho nền văn minh, văn hóa Phú Xuân, thi ca nhạc tài tử, cải lương biểu hiện cho văn minh, văn hóa Nam Bộ. Các nhà nghiên cứu: Sơn Nam, Giáo sư Huỳnh Minh Đức, nhạc sĩ Vũy Chỗ, luật sư nhạc sĩ Tấn Nhì… đều cho rằng nhạc tài tử Nam Bộ dựa theo học thuyến Âm – Dương ngũ hành với ngũ cung: Giốc: Hò (Mộc), Chủy: Xự (Hỏa), Cung: Xang (Thổ), dựa trên nền tảng lễ nghĩa, đạo đức phương Đông mang trong mình cái gốc luân lý, mục tiêu đào tạo cung cách làm người. Nó vừa mang nét trang trọng cung kính của nhạc lễ vừa dịu êm ngọt ngào dễ hòa vào tâm hồn những con người vừa định cư ở vùng đất mới mà lòng không nguôi thương nhớ quê cũ làng xưa. Nó phù hợp vì rất đa dạng đáp ứng được mọi khía cạnh tình cảm con người, hoàn cảnh cuộc đời. Có đủ 4 điệu: Bắc, Hạ, Nam, Oán, 4 hơi: Xuân, Ai, Đào, Ngự, chia ra 3 Nam, 6 Bắc, 4 Oán, 7 Bài (Ngự)… Vẫn bản nhạc đó, người ta chỉ cần thay lời mới là sát hợp trong mọi hoàn cảnh: quan, hôn, tang, tế, biệt ly, thất tình, thất sủng… nên rất đắc dụng, nên tồn tại và phát triển hàng thế kỷ nay và sẽ lưu truyền mãi mãi. Vì nó là tiếng lòng. 

Mục đích của các bạn đờn ca tài tử là phục vụ vô tư cho các lễ hội, đình ám, đám cưới, đám giỗ, buổi tiễn đưa tân binh, đơn vị bộ đội lên đường đánh giặc… không vụ lợi, không cần thù lao, gọi là “giúp vui”, mang tính cộng đồng sâu sắc, bình đẳng giữa mọi người. Ai biết đờn thì đờn, biết ca thì ca, một bài cũng được, thậm chí đờn ca có lỡ “rớt” nhịp cũng chẳng ai chê cười mà còn động viên cố gắng. Những người không biết đờn ca, đủ cả trẻ già trai gái, cả người đi đường thích thì tham gia, cũng tự nhiên đến ngồi nghe với thái độ chăm chú thưởng thức càng động viên các tài tử ca đời càng hay hơn, nếu lâu lâu có bánh trái, trà lá bồi dưỡng cho ban tài tử càng tốt. Ban tài tử nào, ở ấp, xã nào cũng có đông đảo khán, thính giả trung thành. Cuộc chơi không hạn định giờ giấc. Đến khuya, khi mọi người cảm thẩy thỏa mãn thì chia tay ra về, hẹn lại vào buổi tối hôm sau. 

Cứ như vậy thành lệ. Không ai bảo ai, hàng ngày làm lụng vất vả trên đồng ruộng, hoặc có chuyện đi xa, đến chiều phải tranh thủ về để kịp có mặt tham gia hoặc thưởng thức buổi đờn ca tài tử. Năm này tháng nọ cũng lặp lại những bài bản củ – lâu lâu mới có lời ca mới – nhưng người đờn lẫn người nghe vẫn không ai thấy chán, mà trái lại họ như bị ghiền (nghiện) không có không được. Thỉnh thoảng, để “thay đổi không khí” vài người giỏi chữ nghĩa, nắm vững bài bản vừa sáng tác vừa ca, gọi là “Văn sống” rất được hoan nghênh. Nhiều nam, nữ thanh niên sáng dạ nghe riết thuộc lời, thuộc giọng, được vào ca, được truyền nghề. Ông Trượng – Tiên Bửu, Bùi Kiệm – Nguyệt Nga, Lan – Điệp, Tôn Tẫn giả điên… là những bài vỡ lòng. Mỗi người tự giác rèn luyện tiếng đờn, lời ca cho thêm trau chuốt ngọt ngào. 

ở Cần Giuộc, xóm ấp nào cũng có ban đờn ca tài tử, nòng cốt từ những người giỏi đờn ca tập hợp lớp trẻ làm thầy truyền nghề trực tiếp. Khi có lực lượng đờn ca khá, ai cũng muốn thi thố tài năng bằng cách mở rộn giao lưu với ban nhạc các ấp, xã khác. Bí quyết chắc thắng là phải vững nhịp mới tránh được “nhịp lọt” khỏi bị rớt khi gặp đối thủ có bản lĩnh đờn nhử, đờn phá. ở Cần Đước có Sáu Nữa nổi tiếng đờn nhịp lọt. 

Thú chơi đờn ca tài tử còn vì phong cảnh hữu tình, gợi cảm, gần với thiên nhiên. Ngoài số cuộc chơi ở các lễ hội đình đám ngồi bộ ván trải chiều bông nghiêm trang, phần nhiều các ban ca nhạc tài tử thích chơi giữa cảnh trời trăng mây nước. Có thể dưới bóng mát gốc me, gốc xoài, gió lộng, trên gò đất cao cạnh ao làng được bao bọc bốn bề là đồng lúa xanh tươi, vàng rực. Hay trên chiếc thuyền trôi xuôi êm ả theo dòng nước lồng lộng trăng rằm, nên thơ tĩnh mịch, tiếng lá dừa nước hai bên bờ rì rào dịu êm như nền nhạc đệm làm tăng vẻ hữu tình cho buổi đờn ca tài tử trên sông. 

Hò ơi!… Gió đưa con buồn ngủ lên bờ, Mùng ai có trống (xin) cho ngủ nhờ một đêm! 

Câu hò huê tình nhẹ nhàng có ý trêu chọc bâng quơ của chàng thanh niên nào đó thường cũng là câu mở đầu đánh giá cho bài ca Văn Thiên Đường, Trường Tương Tư, hay vọng cổ Tình anh bán chiếu… Tiếng đời, lời ca ngân nga hòa quyện vào làn gió lan tỏa mãi trên mặt sông đầy. 

ở nông thôn Nam Bộ, việc biết đờn ca tài tử như là lẽ đương nhiên. Trên đường đi càu, đi cấy gặt lúa, nhất là khi chèo xuồng một mình trên sông rộng, hay chống cuồng ba lá thanh thoát giữa rừng rậm U Minh hoặc trong mênh mông đồng nước Tháp Mười, không ai giấu nổi tình cảm trắc ẩn riêng tư. Những bài ca vọng cổ nằm lòng, bài ruột sẽ được trào dâng, thậm chí có bài nội dung không dính dáng gì với hoàn cảnh thực tại vẫn ca “chay” (không có đệm đờn) vẫn phóng khoáng lời ca có sức truyền cảm lạ lùng. Không có ai nghe thì ca cho “mình ên” nghe cho đã. Vì “nghệ sĩ” trước tiên là người thưởng thức sản phẩm của chính mình. 

[…….] 

Bởi vậy, không chỉ giới công, nông, binh mà cả giới trí thức gần thế kỷ nay ở Nam Bộ rất yêu thích và tham gia học đời ca tài tử, cải lương. Những học trò nổi danh của thầy Ba Đợi, thầy Sáu Lầu có nhiều thầy thông, thầy ký, đốc học, hương chức hội tề. Vì đờn ca tài tử vừa bình dân, vừa cao cấp, vừa gần gũi, vừa thâm sâu, lời ca nguyện chặt tiếng đờn, tiếng nâng bổ lời ca mang theo cả tâm hồn nghệ sĩ, người thưởng thức. Tôi đã được nghe các ban, các CLB đờn ca tài tử của các huyện, thị ở Long An, CLB đờn ca tài tử thị xã Cà Mau, CLB đờn ca tài tử Cao Văn Lầu – thị xã Bạc Liêu… cây đờn ghi ta điện phím lõm có xôm tụ, nhưng không thay được các cây đờn: Cò, Kìm, Tranh, Sến cổ truyền vẫn luôn là chủ đạo. 

Giáo sư Trần Văn Khê đã có nhận xét rất chính xác: “… chân phương hoa lá trong bài vọng cổ đã được áp dụng một cách thần tình. Hoa chẳng những đẹp mà còn thơm. Lá chẳng những xanh mà còn tươi. Thành ra bản Vọng cổ có cái tươi máy, cái đẹp đẽ, có cái phong phú, cái dồn dào mà sức sống, sức đóng góp của tất cả những người nghệ sĩ, từ đứa con của bác Sáu Lầu sáng tạo, nuôi dưỡng cho nó lớn lên mạnh mẽ, nó đẹp đẽ…” Đó chính là ma lực, sức hấp dẫn, làm say mê lòng người, ai biết qua rồi khó lòng bỏ được. Vì nó là bản sắc văn hóa Nam Bộ, văn hóa Việt Nam. 

(Thể thao Văn hoá số 33, 23/4/1999) 

http://www.dactrung.com/Bai-bv-170-don_Ca_Tai_Tu_Nam_Bo.aspx

This blog is focused on Trân Quang Hai