Festival Huế 2014


Festival Huế 2014
Diễn ra trong 9 ngày (từ 12-20/4), Festival Huế lần thứ 8 sẽ bao gồm các cuộc triển lãm, trưng bày; nghệ thuật thả Diều Huế; thư pháp; các hoạt động nghệ thuật sắp đặt; nghệ thuật âm nhạc – mỹ thuật đường phố; hội thảo khoa học, Festival khoa học; hội chợ thương mại quốc tế; liên hoan ẩm thực quốc tế; lễ hội thiếu nhi; hoạt động thể dục thể thao…

Ngoài ra, trong thời gian diễn ra Festival Huế 2014 sẽ đồng thời diễn ra hội nghị Bộ Trưởng Văn hóa các nước ASEAN + 3 tại Huế, theo đề nghị của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Việt Nam.  (Tin của đài VOV từ VN) .


Festival Huế 2014 với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển” – sự kiện văn hóa mang tầm quốc gia, và thế giới diễn ra từ ngày 12-20/4/2014 tại thành phố Huế. Sự kiện thu hút sự tham gia của 44 đoàn nghệ thuật đến từ 37 quốc gia trên thế giới.

Về kinh phí, riêng Công ty TNHH Bia Huế (Huda) là nhà tài trợ kim cương cho Festival Huế 2014 với khoản kinh phí 3 tỷ đồng. Huda cũng là nhà tài trợ đầu tiên đồng hành với sự kiện “Festival Huế” từ năm 2000 cho đến nay.

 

Màu tím được chọn làm màu chính cho sân khấu được trang điểm bởi nhiều trang hoàng cung đình.

 


Những trang trí cung đình tô điểm thêm cho sân khấu nổi bật bên cạnh bảy đèn led sau mỗi cửa thành liên tục chiếu hình ảnh của mọi miền trong nước.

Đoàn Nga.
Đoàn Nhật Bản.
Đoàn Hàn Quốc.
Đoàn Úc.
Màn pháo hoa do ông Pierre Alain Hubert thực hiện.
Khán đài.
Bên trái quảng trường Ngọ Môn.
 
 
Cái còn lại . . . mất vui.
 

Festival Huế 2014: 45 đoàn nghệ thuật quốc tế tham dự, VIETNAM


Festival Huế 2014: 45 đoàn nghệ thuật quốc tế tham dự

Thứ bảy, 04/01/2014, 01:23 (GMT+7)

(SGGP). – Ngày 3-1, Ban tổ chức Festival Huế 2014 tổ chức họp báo về Festival Huế 2014. Với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển”, Festival Huế lần thứ 8 diễn ra từ ngày 12 đến ngày 20-4-2014 là hoạt động văn hóa đặc biệt trong khuôn khổ diễn đàn giao lưu văn hóa Đông Á – Mỹ Latinh do Bộ Ngoại giao Việt Nam đề xướng.

Hiện có 45 đoàn nghệ thuật quốc tế đến từ 35 quốc gia, đại diện 5 châu lục trên thế giới chính thức đăng ký tham gia biểu diễn tại Festival Huế 2014. Đây là kỳ Festival Huế có số đoàn nghệ thuật và quốc gia tham dự nhiều nhất từ trước đến nay (tăng 8 quốc gia so với Festival Huế 2012 và 33 quốc gia so với kỳ Festival Huế đầu tiên tổ chức vào năm 2000). Các đoàn nghệ thuật quốc tế sẽ mang đến Festival Huế 2014 nhiều thể loại nghệ thuật đa dạng.

Trong đó, lần đầu tiên có sự góp mặt của nhiều đoàn nghệ thuật đẳng cấp ở các festival thế giới như: Ban nhạc Sururu Na Roda (Braxin), đoàn nghệ thuật trống Bati-Holic (Nhật Bản), đoàn múa dân gian Asayel (Palestine)… Đặc biệt, điều kiện kinh tế trong nước và thế giới gặp nhiều khó khăn nhưng đến thời điểm này, Trung tâm Festival Huế đã ký kết được hơn 20 tỷ đồng tiền tài trợ cho Festival Huế 2014. Đây cũng là số tiền lớn nhất từ khi tổ chức Festival Huế đến nay.

Đoàn nghệ thuật trống Bati-Holic (Nhật Bản) lần đầu tiên đến Huế biểu diễn.

VĂN THẮNG

BÙI TRỌNG HIỀN : FESTIVAL HUẾ 2008 –NHÌN TỪ GÓC ĐỘ DI SẢN ÂM, VIETNAM 2008 NHẠC


FESTIVAL HUẾ 2008 –NHÌN TỪ GÓC ĐỘ DI SẢN ÂM NHẠC

Với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển”, festival Huế 2008 đã được kỳ vọng với rất nhiều sự mong đợi của dư luận. Theo báo giới quảng bá, các nhà tổ chức tuyên bố, đây là festival đầu tiên quy tụ được nhiều đoàn nghệ thuật nước ngoài nhất. Tới giờ “G”, ban tổ chức thông báo đã có tới 22 nước đăng ký tham gia các tiết mục với nhiều sắc màu văn hóa nghệ thuật. Rồi đây được xem là festival phục dựng nhiều lễ hội nhất, được đầu tư kinh phí lớn nhất… Với nhiều cái “nhất” như vậy, xem ra mục tiêu “hoành tráng nhất” là ước nguyện rõ ràng của nhà tổ chức. Năm 2008 cũng vừa tròn dịp kỷ niệm 15 năm ngày quần thể di tích cố đô Huế (11/12/1993) và 5 năm ngày Nhã nhạc cung đình Huế (7/11/2003) được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Như vậy, vị thế và vai trò củafestival Huế 2008 lại càng được đề cao hơn bao giờ. Nhiều vị quan chức không ngần ngại khẳng định, trong festival lần này, mục tiêu tôn vinh giá trị của di sản văn hóa dân tộc được đặt lên hàng đầu. Rồi cái ước vọng “khẳng định vị thế, đẳng cấp mang tầm quốc tế của festival Huế” khiến dư luận không khỏi khấp khởi mừng vui, thấp thỏm ngóng chờ ngày khai cuộc.

 

 Image

 

Dưới cái nóng như thiêu của cố đô Huế, cuối cùng giờ phút mong đợi cũng đã đến. Thế nhưng đêm khai mạc đã để lại nhiều dư luận trái chiều khác nhau. Người thì nói chương trình thật hoành tráng, rực rỡ sắc màu vui mắt. Kẻ thì than vãn về tính đơn điệu của các tiết mục nội địa –sự pha trộn ca múa nhạc “hoành tráng”, vốn đã quá nhàm chán trong các kỳ lễ hội quốc gia hàng chục năm qua. Trong đó, người ta luôn cố “gửi gắm” đủ phong vị “truyền thống- hiện đại, dân tộc- quốc tế”… Rồi mọi giá trị nghệ thuật dân tộc luôn được “cải biên, cải tiến, phát triển” cho “mới”, cho “hiện đại”, thể hiện cái gọi là “hội nhập và phát triển”.

 

Image 

 

Ngồi trên khán đài, tôi có nói đùa với một anh bạn làm ở Bộ Ngoại giao rằng thế nào cũng được xem tiết mục các diễn viên đóng giả trai gái H’Mông cầm ô, vác khèn nhảy múa kiểu ba-lê, rồi sẽ pha thêm tí múa Nga hay Ấn Độ… Quả nhiên trúng phóc! Một anh bạn Mỹ ngồi bên (Chuyên viên của quỹ FORD) còn quay sang tôi, chỉ lên sân khấu cười hóm hỉnh với vốn tiếng Việt rành rọt: “Hiphop kìa, hiphop kìa..!” Có lẽ đấy là sự “hội nhập, phát triển, hiện đại” mà người ta muốn hướng tới chăng?!

 

 Image

 

Trong chương trình đêm khai mạc, có thể tạm so sánh thế này, tiết mục của các nước bạn thì giản dị và khá thuần phác, thực sự tạo ấn tượng, luôn nhận được sự hưởng ứng của khán giả. Chính điều đó đã tạo nên sự tương phản rõ ràng, các tiết mục của bạn in đậm dấu ấn văn hóa của họ, giàu chất dân gian hơn của ta. Trong lúc đó, các tiết mục của ta thì cầu kỳ và luôn huy động số đông. Cái nào cũng na ná giống nhau kiểu “nộm” ca +múa +nhạc “hoành tráng”, với quá nhiều ý tưởng đan xen pha trộn “đủ mùi” như đã phân tích. Múa luôn “yểm trợ” cho hát, nên hiệu quả tổng thể đương nhiên đơn điệu. Đây có lẽ làthói quen đã quá phổ biến mỗi khi dàn dựng một chương trình có tầm cỡ lớn như festival Huế của các đạo diễn Việt Nam.

 

 Image

 

Thế mới biết đông người chưa chắc đã hay! Điều tệ hại nhất, trong đêm khai mạc, những người làm chuyên môn sẽ dễ dàng nhận ra thực trạng ca sĩ hát “nhép” (playback- thu âm trước rồi phát ra loa), nhạc công chơi “nhép” trong các tiết mục “hoành tráng” của Việt Nam. Tiết mục “nhép” đàn đá cải tiến song tấu với tù và Tuy An (Nhóm Sao biển- Phú Yên), tuy thu thanh trước nhưng do một số thanh đá chênh âm rất rõ nên hiệu quả âm nhạc đương nhiên hài hước. Thật khó hiểu tại sao người ta vẫn cứ để nguyên thế mà dùng? Chưa hết, trong phần nhạc thu sẵn của các tiết mục đoàn Việt Nam đêm khai mạc, một phần không nhỏ trong số đó lại được thể hiện bằng cây organ điện tử, “bao sân” -thế chỗ cho một dàn nhạc thực thụ. Ngay cả nhạc cụ có âm sắc độc đáo dễ nhận dạng nhất như cây kèn bóp cũng được giả bằng đàn organ. Bởi vậy, về mặt tổng thể, hiệu quả nghệ thuật ở đây là khá phản cảm đối với những người am hiểu âm nhạc. Trong khi đó, các đoàn nghệ thuật của bạn như Pháp, Bỉ, Hàn Quốc, Nhật Bản thì chơi nhạc “sống” đàng hoàng. Có người nói đùa rằng giá nghệ sĩ các nước bạn cũng… chơi “nhép”, hát “nhép” luôn thảy cho đám chúng tôi đỡ xấu hổ!!! Có lẽ điều này phù hợp với kết quả điều tra của các bạn nhóm phỏng vấn bộ phận thiết kế âm thanh cho các sân khấu của festival. Họ cho biết, nhân viên âm thanh phản ánh rằng trong khi các đoàn nước ngoài đòi hỏi rất kỹ lưỡng, khắt khe về thiết bị âm thanh cho các đêm diễn (ví dụ số lượng micro và sự căn chỉnh âm thanh trước giờ diễn) thì các đoàn nghệ thuật của Việt Nam lại không đòi hỏi nhiều như vậy(!) Có lẽ nhiều đoàn Việt Nam không cần cầu kỳ do việc trình diễn “nhép” chăng?

 

 

 Image

Rời lễ khai mạc với nhiều sự ngán ngẩm, chúng tôi tiếp tục tiến vào Đại nội nhập cuộc với màn siêu trình diễn mang tên “Đêm hoàng cung”. Bỏ qua các tiết mục sắp đặt như đánh cờ tướng, đốt pháo bông, thả thơ, đèn chiếu, uống trà, ăn chè Huế… dọc đường vào sâu trong Đại nội, chúng tôi tập trung quan sát Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại được UNESCO công nhận năm 2003- Nhã nhạc cung đình Huế.

 

 

 Image

Tham gia “Đêm hoàng cung” có 2 dàn nhạc của Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế. Cảm giác đầu tiên của tôi là giật mình! Sau 5 năm được UNESCO công nhận, hiện hình trong festival lần này lại vẫn là dàn Nhã nhạc cải biên với sự tăng cường số lượng mỗi nhạc cụ. Đây vốn là sự “phát triển” theo kiểu tổ -bộ của dàn nhạc giao hưởng. Có tới 3 đàn nguyệt, 2 đàn tam, 3 đàn tỳ bà… cùng diễn tấu, trong khi dàn Nhã nhạc nguyên bản chỉ được biên chế mỗi thứ 1 cây. Đặc biệt dàn Nhã nhạc cải biên ở đây dùng tới 3 đàn tranh, 2 đàn bầu cùng hỗn tấu. Đây là các nhạc cụ vốn không hề được sử dụng trong Nhã nhạc cung đình Huế. Ngoài ra, sự cải biên còn thể hiện ở thành phần nhạc công nữ– là điều không hề có ở Nhã nhạc cổ truyền. Tuy nhiên, so với dàn giao hưởng Nhã nhạc cải biên mấy năm trước, cũng may người ta đã bỏ cây đàn nguyệt “đại”, cây tam thập lục cùng ông nhạc trưởng đánh nhịp nên cũng đỡ chướng mắt! Cải biên, cải tiến Nhã nhạc là thói quen trong nhiều năm qua, như một ước nguyện “hoành tráng hóa”, không thể xóa bỏ(?) Nên nhớ, nhã nhạc cũng đình Huế vừa tròn 5 năm công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Việc trưng diễn biên chế dàn Nhã nhạc cải biên nói trên tất sẽ gây hiểu lầm, ngộ nhận trong khán giả, du khách. Trong nhiều năm qua kể từ khi Nhã nhạc được UNESCO công nhận, cơ cấu dàn Nhã nhạc cải biên được dùng khá thường xuyên(!) Thỉnh thoảng phải tiếp giới nghiên cứu, người ta mới dùng dàn nhạc nguyên bản. Trong đêm diễn, nhiều nghệ sĩ tỏ ra không mấy hào hứng khi chơi thứ di sản âm nhạc lừng danh của xứ Huế. Có người rỉ tai tôi rằng mãi đến vừa rồi, các nghệ sĩ mới được lĩnh tiền thù lao nghệ thuật của… festival 2006, mà cũng chỉ được có 100 lẻ mấy nghìn Việt Nam đồng. Thế mới thông cảm phần nào cho các nghệ sĩ!

 

 

 Image

Nhìn chung, chất lượng nghệ thuật ở đây không có gì đặc biệt. Theo sự sắp xếp, có bài chơi sống, có bài lại chơi “nhép”. Bên cạnh các bài bản Nhã nhạc, các em còn chơi cả chầu văn Huế, rồi làm nhạc nền cho các diễn viên đóng giả vua -quan -hoàng hậu đi ra đi vào… Phía khán giả, dường như không mấy ai thích thú chiêm ngưỡng thứ kiệt tác Di sản của nhân loại. Sau tiết mục vua- quan- hoàng hậu đăng đàn, thướt tha đi đứng khá vui mắt, phần lớn khán giả bỏ đi chơi chỗ khác. Tôi có hỏi các nhạc công sao không chơi đủ liên khúc 10 Bản Ngự, các em cười gượng mà rằng: “Anh không thấy người ta bỏ về hết rồi à!?

 

 Image

 

Có lẽ các tiết mục của Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế là một trong số ít những chương trình biểu diễn nghệ thuật nằm trong thành phần “di sản”- một mục tiêu mà ban tổ chức festival Huế đã đề ra lần này. Thử điểm qua biểu mục các chương trình biểu diễn nghệ thuật khác, tính sơ sơ tỷ lệ, sẽ thấy ngay “hàm lượng” di sản âm nhạc dân tộc mà người ta cho xuất hiện trong festival Huế 2008 là rất thấp. Bộ mặt toàn cảnh chương trình biểu diễn đêm khai mạc là sự “lộ diện” ban đầu. Cả chương trình, ngoài mấy đoạn cổ nhạc được phát làm nền cho múa, cộng thêm tí Hò mái nhì mở đầu cho ca khúc kết thúc đêm diễn, di sản âm nhạc dân tộc hầu như không có chỗ đứng. Ngoài ra, nhìn trên tổng thể, xem ra bộ mặt âm nhạc cổ truyền Việt Nam ở festival lần này chủ yếu nhấn mạnh vào di sản xứ Huế, thiếu vắng nhiều giá trị đặc trưng khác của dân tộc. Đặc biệt là sự vắng mặt của nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên- Kiệt tác âm nhạc thứ 2 được UNESCO công nhận sau Nhã nhạc cung đình Huế.

Trong festival Huế 2008, có lẽ Lễ tế đàn Nam Giao, Lế tế đàn Xã Tắc, Lễ thi TS võ, Lễ Đăng quang của vua Quang Trung được coi là các tiết mục “đinh”- xác lập “thành phần di sản văn hóa” có tính “tổng hợp”? Đây thực chất là các nghi lễ mang tính phục dựng, như một sản phẩm văn hóa trình diễn phục vụ du khách. Phần còn lại trong festival, hẳn được coi là sự “hội nhập và phát triển”(?) Việc tăng số lượng các đoàn nghệ thuật nước ngoài, được khuyếch trương rầm rộ trước ngày khai mạc là điều dễ nhận thấy của nhà tổ chức. Cái sự “lần đầu tiên quy tụ nhiều đoàn nghệ thuật đến từ 22 nước” xem ra là “kỳ tích hoành tráng” của festival Huế 2008.

Tối 4/6, lúc 19g40, nhóm chúng tôi tiếp tục đến với chương trình Âm sắc Việt tại cung Diên Thọ. Trên đường vào, tiện thể ghé qua sân khấu Tây Thái Hòa. Ở đây, một sàn diễn khá chắc chắn được dựng lên giành riêng cho ban nhạc jazz Kimo &Kimotion đến từ nước Mỹ. Nhóm này lại mời thêm mấy nhạc công tơ-rưng, đàn bầu, violon và sello của Việt Nam tham gia chơi cùng một số bài, chắc để giúp cho tinh thần “hội nhập quốc tế” của festival Huế được thêm phần sâu nặng(!) Xem qua các thao tác chuẩn bị trước giờ diễn, mới thấy rõ nhóm Kimo &Kimotion thực sự là những nghệ sĩ chuyên nghiệp chính hiệu. Họ thử các bước phối hợp, căn chỉnh âm thanh từng nhạc cụ rất cầu kỳ với một kỹ sư âm thanh riêng được mời từ tp.Hồ Chí Minh.

 Image

 

 

Rời Tây Thái Hòa, chúng tôi tiến sâu vào cung Diên Thọ. Âm sắc Việt có lẽ là chương trình biểu diễn hiếm hoi được cấu trúc thuần túy nhạc cổ truyền nguyên bản trong festival Huế 2008. Chương trình bao gồm Ca trù, Ca Huế và Cải Lương, coi như sự đại diện cho 3 miền cổ nhạc Bắc -Trung -Nam, được sắp xếp trong một không gian diễn xướng huyền ảo của cung Diên Thọ. Đại diện cho nghệ thuật Ca trù là nhóm Thái Hà của gia đình nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi đến từ Hà Nội với các tiết mục: Hát Nói, Hát Giai –Hát Ru và Tỳ Bà Hành.

 

 

 Image

 Image

 

Nghệ thuật Ca Huế góp mặt với 2 danh ca nổi tiếng là Thanh Tâm và Khánh Vân với các tiết mục: Cổ Bản Dựng (Khánh Vân), Cổ Bản Khách (Thanh Tâm), Tứ Đại Cảnh (Khánh Vân), Hò Mái Nhì- Nam Bình (Thanh Tâm). Dàn nhạc đệm cho các chị có các anh Trần Thảo và Nguyễn Đình Vân- là 2 nghệ nhân có hạng đã được ghi danh trong hồ sơ Nhã nhạc đệ trình UNESCO năm 2002. Bởi vậy, chất lượng nghệ thuật của Ca trù và Ca Huế trong chương trình Âm sắc Việt thật ấn tượng.

 Image

Image

 

 

 

 

Tiết mục Cải lương do 2 nghệ sĩ Lê Tứ và Phượng Hằng đến từ tp.Hồ Chí Minh với trích đoạn “Tình hận thâm cung”. Về mặt chất lượng âm nhạc thì không có vấn đề gì cần bàn bởi họ đều là những nghệ sĩ chuyên nghiệp của một nhà hát Cải lương. Nhưng điều đáng buồn là trong một chương trình cổ nhạc hiếm hoi đến vậy, họ đã hát “nhép”, thu nhạc và các bài ca, lời thoại trước rồi mở máy MiniDisc!

 

 

 Image

Đương nhiên khán giả không thể nhận ra bởi họ cũng cầm micro và mấp máy môi miệng khá ăn khớp. Trò chuyện với tôi sau buổi diễn, các em cho biết vì “điều kiện không cho phép” nên không thể mang theo dàn nhạc đến festival, đành phải thu nhạc trước rồi hát theo khi diễn. Song họ đã nói dối, đối với loại âm nhạc đầy chất ngẫu hứng như Cải lương, chuyện hát khớp với nhạc thu thanh trước trong cả một trích đoạn kịch dài hơi là điều không thể. Là người từng lăn lộn, gắn bó nhiều năm với nhạc Tài tử -Cải lương Nam Bộ, tôi không khỏi chạnh lòng với thể loại âm nhạc đầy chất ngẫu hứng này. Thật đáng buồn!

Nhìn chung, các chương trình nghệ thuật biểu diễn trong tối 4/6 đều được Ban tổ chức sắp xếp người dẫn chương trình đàng hoàng, có chỗ còn kèm theo cả phiên dịch cho khách nước ngoài. Riêng chương trình cổ nhạc dân tộc ở cung Diên Thọ thì không được như vậy. Ở đây, các nghệ nhân, nghệ sĩ Ca trù, Ca Huế và Cải Lương đều tự chia nhau ra mà… “âm thầm” diễn xướng, không có người giới thiệu, dẫn giải. Ngoại trừ tôi là người làm nghề nghiên cứu, còn thì hầu như không ai biết rõ cái gì đang diễn ra trên sân khấu.

 

 Image

 

Trước giờ biểu diễn, một vị trong ban tổ chức tới gặp các nghệ nhân ở hành lang. Anh ta nhắc đi nhắc lại là các nghệ sĩ chỉ được biểu diễn trong đúng 1 tiếng đồng hồ, liệu mà chia nhau ra cho hợp lý(?) Tôi hỏi nguyên nhân thì được trả lời là: “Anh thông cảm! Sau đây có chương trình của đoàn Pháp!” Như thế, mỗi thể loại Ca trù, Ca Huế và Cải Lương chỉ được vỏn vẹn khoảng 20 phút. Kết thúc chương trình, không ai tuyên bố lời “hạ màn”, bất đắc dĩ, tôi đành “nhờ” chính nam diễn viên Cải lương nói lời tạm biệt khán giả!

 

 Image

 

So với các điểm diễn khác, khách xem ở cung Diên Thọ đương nhiên rất thưa thớt. Nếu tính từ cổng vào Ngọ Môn, cung Diên Thọ vốn nằm ở khu tận cùng phía Tây Bắc của Đại Nội, phải chăng đó là lý do vắng khách? Hỏi dò những vị khách có mặt, mới biết hầu hết họ đều tình cờ ghé vào điểm diễn này chứ không hề biết trước nội dung Âm sắc Việt. Nhìn trên tờ rơi do Ban tổ chức cung cấp, cũng không thấy nói Âm sắc Việt là chương trình gì. Rõ ràng các tiết mục cổ nhạc nơi đây không hề được giới thiệu, quảng bá cho du khách. Thực ra, bản thân tôi sở dĩ biết được “gan ruột” của chương trình là vì tự dò hỏi các nghệ nhân Huế từ mấy hôm trước. Trong đám khán giả hiếm hoi, có mấy chị nhà báo đến từ tp Hồ Chí Minh. Ai cũng thốt lên rằng đây là chương trình đáng xem nhất đối với họ, và may mà họ “tình cờ ghé vào đây!”. Chương trình kết thúc chóng váng, nhiều người tỏ ra nuối tiếc vì thời lượng quá ngắn ngủi, mỗi thể loại chỉ hát có vài ba bài. Cầm lòng vậy, duyên phận cổ nhạc chỉ được sắp đặt đến thế!

Thử nhẩm tính, mỗi bộ môn cổ nhạc đại diện cho 3 miền đất nước được khống chế khoảng 20 phút trong chương trình Âm sắc Việt. Trong khi cùng thời điểm đó, hàng loạt các thể loại nhạc “mới”, nghệ thuật “mới” khác đều chiếm trọn cả 1 chương trình, mà phần lớn được quảng bá, bố trí sắp đặt với sự ưu ái cao. Hài hước hơn cả khi anh bạn tôi so sánh “thời lượng 20 phút” của Ca Huế, Ca trù, Cải lương với tiết mục múa bụng của nữ nghệ sĩ Berrak Yedek đến từ Thổ Nhĩ Kỳ ở sân khấu phía Đông cung An Định- được dự kiến chiếm trọn cả 1 tiếng đồng hồ. Đó liệu có phải là việc ưu tiên cho cái sự “hội nhập và phát triển”? Không biết du khách nước ngoài- đối tượng quan trọng của festival sẽ thích nghe các giá trị di sản âm nhạc Việt Nam hơn hay thích nghe jazz, pop, blues … của họ hơn???

 

 Image

 

Rời khỏi cung Diên Thọ, tiếp tục hành trình, chúng tôi rảo bước sang cung Trường Sanh xem chương trình “Cung đàn xưa”, vì trước đó không rõ đây là chương trình gì. Đến nơi mới biết “Cung đàn xưa” là sân diễn của nhạc tiền chiến. Do sự cố mất điện nên “Cung đàn xưa” buộc phải lui giờ khai diễn lại lúc 21g thay vì 20g như dự kiến. Vì thế chúng tôi mới có cơ may quan sát. Lúc bước vào không gian Trường Sanh thì vừa vặn tới tiết mục của ca sĩ Cao Minh với dàn nhạc gồm một đàn organ và 1 cây ghitare thùng. Khán giả mê nhạc tiền chiến ở đây chỉ lác đác vài nhóm, ngồi lọt thỏm trong cả một khoảng sân rộng lớn, trống huếch trống hoác. Không có gì đặc biệt, chúng tôi quay sang Điện Kiến Trung.

 Image

 

 

Cũng do mất điện giống như bên cung Trường Sanh, chương trình của đoàn nghệ thuật Hoa Sen (Quảng Tây- Trung Quốc) buộc phải lui lại 1 tiếng. Thế nên chúng tôi cũng kịp xem mấy tiết mục cuối cùng.

 

 Image

 

Nhìn chung, các tiết mục ở đây thuộc dạng tổng hợp kiểu tạp kỹ bao gồm ca- múa- nhạc- ảo thuật… Xem ra văn nghệ Trung Quốc thời này cũng “thập cẩm” giống như các đoàn ca múa nhạc của ta vậy. Ví dụ các diễn viên đoàn bạn cũng đóng giả người thiểu số rồi giới thiệu như một tiết mục dân gian “xịn”- do các diễn viên thiểu số “xịn” biểu diễn. Sao mà Tàu giống Ta thế không biết? Ai học ai đây nhỉ?

 

 Image

 

Kết thúc chương trình của đoàn nghệ thuật Hoa Sen, đến lượt đoàn nghệ thuật Bông Sen đến từ tp.Hồ Chí Minh. Mở màn, cô MC dẫn chương trình long trọng giới thiệu các vị chỉ đạo nghệ thuật của Bông Sen, nhấn mạnh rằng tất cả đều tốt nghiệp tại Trung Quốc! Họ chính là những người tạo dựng chương trình của Bông Sen ở festival lần này. Giờ thì rõ là vì sao Ta giống Tàu rồi! Đoàn Bông Sen mở màn bằng điệu múa nón Việt Nam quê hương tôi, với bài nhạc nền cùng tên của nhạc sĩ Đỗ Nhuận. Tiết mục này vốn đã quá quen thuộc với các sân khấu chuyên nghiệp cũng như… nghiệp dư cả nước! Được một lúc thì mất điện đánh phụp, thế là xong! Tôi liếc đồng hồ, đúng 21g43.

 

 Image

 

           Đợi một lúc, không hy vọng có điện trở lại, chúng tôi chuyển qua Đại cung môn ở mặt tiền khu trung tâm Đại nội. Các tiết mục của đoàn ca múa Kalasin (Thái Lan) được sắp xếp biểu diễn ở đây. Có lẽ đây là chương trình được Ban tổ chức ưu tiên nhất với hệ thống các phóng viên truyền hình tác nghiệp đông đảo. Các diễn viên đoàn Thái Lan thật may mắn khi đám khán giả vây quanh đông đúc (có lẽ vì chương trình được truyền hình trực tiếp chăng?). Thấy rõ, các bạn Thái Lan hạnh phúc rạng rỡ ra mặt khi lao động nghệ thuật của mình được nhiều người hưởng ứng đến vậy. Nhìn chung, các tiết mục của Kalasin cũng có thể xếp vào dạng âm nhạc dân tộc cải biên “xập xình” với 2 cây ghita điện kiểu Tây được đẽo gọt hoa văn uốn lượn giả dạng đàn dân tộc Thái Lan. Chúng giống hệt kiểu đàn Tứ đại cải tiến hay Lạc cầm của Việt Nam. Xem ra, “cơn gió xập xình” cải biên nhạc dân tộc ở Việt Nam đã tràn sang Thái Lan? So sánh tổng thể các chương trình trong đêm diễn với mấy tiết mục cổ nhạc Việt Nam ở Cung Diên Thọ, chợt thấy chạnh lòng tủi tủi, và cảm giác đó cứ lẩn quất trong tôi khi rời bước khỏi khu hoàng thành lúc đêm khuya.

 Image

 

 

Cũng trong ngày 4/6, Lễ tế đàn Nam Giao được tiến hành đồng thời với các chương trình nghệ thuật trong Đại nội. Dù không mục sở thị, nhưng tôi biết chắc rằng nhiều thành phần âm nhạc nghi lễ quan trọng của Lễ tế Nam Giao cổ truyền sẽ không thể tái hiện, như hệ thống Nhạc Chương hay dàn Biên chung, Biên khánh… Bởi các giá trị âm nhạc đó đã thất truyền từ lâu rồi. Theo GS Tô Ngọc Thanh, nếu Lễ tế Nam Giao không có nhạc Chương (ý nghĩa lời ca vũ trụ, trời đất giao hòa) và dàn biên chung, biên khánh thì không thể thành tế Nam Giao. Điều đó có nghĩa âm nhạc dùng trong Tế Nam Giao tất yếu ở dạng phục dựng kiểu chắp vá, không nguyên bản. Các nhạc công của dàn nhạc Trung tâm bảo tồn di tích cho biết, trong chương trình diễn lại tế Nam Giao, buổi sáng, khi rước “vua” xuất cung, dàn tiểu nhạc chơi bài Long Ngâm, dàn đại nhạc chơi bài Đăng đàn cung. Trong lễ tế buổi tối, tiểu nhạc vẫn chơi Long Ngâm, có thêm múa hát Bát Dật (tiểu nhạc đảm nhiệm). Còn dàn nhạc Thài (một sự pha trộn tiểu nhạc và đại nhạc: 1 trống chiến, 1 tam âm la, 1 mõ, 1 nguyệt, 1 nhị, 1 sao, 4 người hát) sẽ chơi bài nhạc Thài tế Nam Giao. Đây là một bài bản mới được phục dựng, nhìn chung còn có nhiều nghi vấn về độ tin cậy chính xác(?)

Cùng ngày, tại đền Huyền Trân Công Chúa đã diễn ra xuất diễn đầu tiên của nhóm ca trù Tràng An (Hà Nội) với tiết mục múa Bài Bông và một số bài ca trù. Đây cũng có thể coi là một thành tố di sản trong festival Huế 2008. Được biết, nhóm Tràng An sẽ chỉ trình diễn 3 đợt ở các nơi công cộng trong chương trình phục vụ du khách miễn phí.

Sáng ngày mùng 5/6- ngày kết thúc tua du lịch thứ nhất của festival, nghe nói buổi tối sẽ có chương trình biểu diễn của Nhà hát tuồng Đào Tấn(?) Nhưng ngay từ trước ngày khai mạc, dù chúng tôi đã cố dò hỏi Ban tổ chức nhưng cũng không thể biết được chương trình biểu mục cụ thể của nhà hát Tuồng. Nhìn chung, với hầu hết các tiết mục nghệ thuật dân tộc (cả cổ truyền và cải biên), Ban tổ chức không hề nắm rõ nội dung chương trình của các nhóm, các đoàn nghệ thuật.

 

 Image

 

Đặc biệt, nghe nói tối 5/6, trên lịch trình “Huyền thoại sông Hương” sẽ có ca Huế và Nhã nhạc, không biết thực hư chất lượng các di sản âm nhạc sẽ thế nào? Giá vé 400.000đ/người trên “thuyền rồng” và 1.000.000đ/ người trên “thuyền cung đình” là quá sức với đám khán giả như chúng tôi, ngay việc vào xem các chương trình “bình dân” hơn cũng đã là cố gắng lắm rồi! Được biết GS.TSKH Tô Ngọc Thanh cũng là khách mời danh dự của chương trình này, tôi đành nhờ ông quan sát rồi mô tả lại để có thể nắm bắt về mặt đại thể của “Huyền thoại sông Hương”. Về sau ông cho biết, ngay khi đoàn thuyền chở khách rời bến đã xảy ra sự cố, “thuyền cung đình” (giành cho khách hạng nhất) do không tính trước trọng tải khi khách lên thuyền nên đã mắc cạn, các thuyền rồng (chở khách hạng hai) buộc phải rời bến trước và vừa đi vừa đợi“thuyền cung đình”. Theo dự kiến kịch bản, lịch trình của “Huyền thoại sông Hương” sẽ tái hiện toàn cảnh sinh hoạt nghi lễ tín ngưỡng, lao động sản xuất của các cư dân 2 bờ sông Hương. Theo đó, du khách sẽ được đắm mình trong một không gian xưa thấm đẫm di sản văn hóa nghệ thuật cổ truyền thời cung đình thịnh trị. Tuyến đi kéo dài 15km từ bến thuyền lăng Minh Mạng đến Nghinh Lương Đình trước Phú Vân Lâu. 18 điểm diễn xướng ven sông với sự huy động khoảng 1000 người tham gia cuộc “tái hiện hoành tráng” mong ước. Thế nhưng điều đó đã không thành hiện thực, do khoảng cách quá xa nên toàn bộ du khách trên đoàn thuyền không nhìn thấy gì và tất nhiên cũng không… nghe thấy gì ở các lễ hội tổ chức 2 bên sông chào đón đoàn thuyền đi qua. GS Tô Ngọc Thanh cho biết, các đại biểu ngồi trên thuyền hài hước nói rằng: “Đúng là… huyền thoại sông Hương, chẳng thấy cái gì cả!”. Đến điểm cuối cùng- Nghinh Lương Đình, đoàn thuyền đỗ quanh một sân khấu nổi để nghe ca múa nhạc tổng hợp, tổng cộng 11 tiết mục, trong đó có ca Huế, múa Lục cúng hoa đăng và màn múa Lân –Sư- Rồng. Nhưng do khoảng cách quá xa giữa sân khấu với vị trí neo thuyền của du khách nên đương nhiên, hậu quả là dễ đoán. Không những không nhìn rõ các tiết mục, mà ngay cả âm thanh phát ra qua hệ thống phóng thanh cũng đã bị không gian rộng lớn của dòng sông phá vỡ, tiếng được tiếng mất. Tất nhiên, đây là lỗi của người tư vấn sắp đặt về mặt kỹ thuật, họ đã không lường trước hết sự ảnh hưởng của mặt sông rộng lớn (luôn rung động) tới hiệu quả tổng thể của âm thanh. Bởi vậy, chưa bàn đến chất lượng nghệ thuật, chỉ xét về mục tiêu tôn vinh di sản của chương trình này thì có thể nói hiệu quả của nó đã không thành công như mong đợi, nếu không nói là đáng thất vọng so với nguồn lực kinh phí đầu tư.

 

 

 Image

Trong ngày 7/6 nghe nói có Nhà hát ca kịch Huế biểu diễn. Như thế, chương trình biểu diễn này không được xếp trong tua thứ nhất, chỉ bắt đầu ở tua thứ 2. Bản thân tôi khi đó đã rời Huế, mọi thông tin có thể nắm bắt đều thông qua các thành viên trong nhóm nghiên cứu trụ lại, quan sát và ghi âm. Tuy vậy, chỉ qua băng âm thanh thu các tiết mục biểu diễn của Nhà hát ca kịch Huế, đã có thể khẳng định đây là một chương trình chẳng có gì liên quan đến ca kịch Huế. Nghệ thuật ở đây thuần chất ca múa nhạc dân tộc cải biên với các yếu tố “hiện đại”- vốn là “đặc sản” được sinh ra từ dòng nhạc viện quốc gia. Đương nhiên không thể coi đó là di sản âm nhạc!

 

Huế mùa Hạ 2008

Bùi Trọng Hiền